Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Xứ Nẫu, Người Nẫu’ Category

Chào 2012

Năm 2012 đã đến trước thềm nhà, . trong thời khắc đặc biệt này xunau.org xin gửi lời chào thân ái và sự biết ơn chân thành đến bạn đọc bốn phương và quí thân hữu đã hết lòng ủng hộ cho sự phát triển của website Xứ Nẫu trong thời gian vừa qua.

Thay mặt ban biên tập xunau.org ,chúng tôi xin chân thành kính chúc quí vị và gia đình một năm mới  Hạnh phúc- An khang -Thịnh vượng.

Thân kính

 

Read Full Post »

 

Tỉnh Bình Định vừa đề nghị Bộ VH-TT&DL xem xét, trình các cấp có thẩm quyền đề nghị UNESC0 công nhận “Không gian văn hóa bài chòi Bình Định là kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể (DSVHPVT) của nhân loại”. Đây là điều không dễ vì để được như thế bài chòi Bình Định phải hướng đến mục tiêu rất cao.

 
Hội đánh bài chòi cổ dân gian ở Bình Định là nét độc đáo của bài chòi Bình Định đã được phục dựng.

 

Theo Giáo sư Trần Văn Khê, người đã có nhiều kinh nghiệm làm cố vấn thì việc lập hồ sơ đề cử DSVHPVT thế giới phải đáp ứng 4 điều kiện. Thứ nhất là bộ môn nghệ thuật được đề cử phải có bề dày lịch sử được giới thiệu bằng văn bản, căn cứ trên những bằng chứng, văn kiện sử liệu hay hiện vật. Thứ hai là bề sâu nghệ thuật của bộ môn, nét độc đáo so với các loại hình nghệ thuật trên thế giới. Thứ ba là tuy bộ môn nghệ thuật đó hay nhưng có nguy cơ tàn lụi, bị bỏ quên do kinh tế, thị hiếu, sinh hoạt thay đổi. Thứ tư là cần có sự quan tâm đồng bộ từ chính quyền đến nghệ nhân và quần chúng, muốn bảo tồn loại hình nghệ thuật này.

Do phải hội đủ nhiều điều kiện nên việc đề nghị vinh danh theo một khái niệm rất rộng lớn như “Không gian văn hóa bài chòi Bình Định” rất khó làm rõ một cách cụ thể, khoa học như yêu cầu. Thay vào đó, nên chăng cần cô đọng lại một nét độc đáo đặc trưng tiêu biểu nhất của bài chòi Bình Định để đề cử. Việc làm rõ bề dày và bề sâu lịch sử của bài chòi Bình Định một cách khoa học cũng là điều không đơn giản. Bởi nhìn nhận một cách khách quan, bài chòi Bình Định trong nhiều năm qua chỉ thực sự tập trung cho sân khấu ca kịch bài chòi, với sự hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo tồn và phát huy của Đoàn Ca kịch Bài chòi Bình Định. Còn cội nguồn của không gian văn hóa bài chòi Bình Định vẫn chưa nhận được nhiều sự quan tâm mà mới chỉ có một số hoạt động đáng chú ý như thành lập CLB Bài chòi cổ dân gian Bình Định (năm 1998), phục dựng Hội đánh bài chòi cổ dân gian ở Bình Định (năm 2011) của Sở VH-TT&DL. Các tác phẩm nghiên cứu về bài chòi Bình Định cũng nhiều, nhưng bài bản và quy mô của một công trình khoa học cấp tỉnh thì cũng mới chỉ có đề tài khoa học “Sưu tầm, nghiên cứu, phục hồi bài chòi dân gian cổ truyền Bình Định” của cố NSƯT Phan Ngạn.

Một trong những yếu tố quan trọng nhất để tạo ra sự độc đáo riêng cho không gian văn hóa bài chòi Bình Định là phải khẳng định nghệ thuật bài chòi được ra đời từ mảnh đất Bình Định. Cho đến nay, sự khẳng định này chỉ mới dừng lại ở ý kiến còn ở dạng chung chung của một số nhà nghiên cứu (hầu hết đều là người Bình Định), chứ chưa có một công trình nghiên cứu khoa học cụ thể nào để chứng minh. Bài chòi có mặt ở nhiều tỉnh, thành khu vực Nam Trung Bộ, một số nhà nghiên cứu cũng đã khẳng định bài chòi ở một vài địa phương trong khu vực cũng có bề dày và bề sâu… Do đó, đề cử không gian văn hóa bài chòi Bình Định là kiệt tác DSVHPVT của nhân loại chắc chắn sẽ gặp nhiều ý kiến phản biện.

Việc đề nghị tôn vinh bài chòi Bình Định ở tầm thế giới là một tín hiệu ban đầu đáng mừng cho sự bảo tồn và phát huy loại hình nghệ thuật này. Thế nhưng, đây là một con đường rất dài, cần phải nghiên cứu tìm ra hướng đi cụ thể, khoa học thì mới có thể hi vọng đến đích…

Tại Việt Nam hiện có 6 DSVHPVT thế giới đã được công nhận: Hát xoan là DSVHPVT cần được bảo vệ khẩn cấp (công nhận năm 2011). Hội Gióng tại đền Sóc và đền Phù Đổng ở Hà Nội là DSVHPVT đại diện của nhân loại (năm 2010). Ca trù là DSVHPVT cần được bảo vệ khẩn cấp (năm 2009). Dân ca Quan họ là DSVHPVT đại diện của nhân loại (năm 2009). Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên là kiệt tác truyền khẩu và DSVHPVT thế giới (năm 2005), DSVHPVT đại diện của nhân loại (năm 2008). Nhã nhạc cung đình Huế là DSVHPVT thế giới (năm 2003), DSVHPVT đại diện của nhân loại (năm 2008).
  • Hoài Thu (baobinhdinh)

Read Full Post »

Thôn Lộ Diêu ở xã Hoài Mỹ, huyện Hoài Nhơn (Bình Định) nằm ẩn mình sau ba vách núi cao, cả làng nhìn từ trên đèo giống như vết chân người khổng lồ đạp từ biển vào. Không chỉ có cảnh đẹp hữu tình như cuộc “hôn phối” của núi và biển, Lộ Diêu còn sở hữu một món ăn hiếm có, một lần ăn là nhớ đời. Đó là mắm nhum.

1. Cuộc “hôn phối” của núi và biển khiến phong cảnh Lộ Diêu đẹp. Khách du lịch đến Lộ Diêu để cắm trại, tắm biển vì vậy ngày càng đông đúc. Họ ví von nơi này là “thung lũng tình yêu”.  
 
Muốn đến được Lộ Diêu phải qua đèo. Ngọn đèo cũng có tên Lộ Diêu. Dẫu nằm ven biển nhưng đèo dốc này cao cheo leo đến lạ kỳ. Lúc nhỏ, mỗi dịp về quê, dắt chiếc xe đạp lên đèo theo con đường mòn ngoằn ngoèo mà chỉ cần sơ sểnh một chút là xe sẽ tuột lại phía sau. Mắt chẳng dám nhìn xuống hốc núi sâu hun hút. Nếu chẳng may có bị trượt té khi qua đèo cũng là chuyện thường. Bây giờ đèo đã được san ủi mở rộng, đổ bê tông nên dốc có thấp hơn, nhưng khó mà quên được cảm giác choáng ngợp, sờ sợ mỗi khi qua lại Lộ Diêu.
 
 
Anh Đỗ Văn Thanh (áo xanh) và cháu trai đang lặn bắt nhum dưới cái nắng oi bức.
 
Gành đá nhô ra biển kỳ vĩ hoang sơ nằm dưới chân đèo là chốn nương náu của loài nhum đặc sản để người dân nơi này lặn bắt mưu sinh mỗi ngày. Anh Đỗ Văn Thanh (47 tuổi) là một tay lặn nhum giỏi nhất vùng đồng ý cho tôi tháp tùng cùng đi ra gành để bắt nhum. “Qua ngọn núi này sẽ đến gành. Ở đó nhum nhiều lắm”, anh Thanh vừa nói vừa chỉ tay về phía ngọn núi cheo leo án ngữ trước mặt. Dường như bao năm chinh phục gành đá đã quen, đôi chân người đàn ông có biệt tài “sát” nhum này luôn thoăn thoắt sải bước. Cố lắm tôi vẫn không tài nào theo kịp. Theo anh đến vã mồ hôi cuối cùng tôi cũng được thấy tận mắt, sờ tận tay con nhum, thứ mà bấy lâu tôi chỉ biết qua lời đồn đại.
 
 
Phần có màu vàng của con nhum được lấy để muối thành mắm hoặc có thể chế biến thành những món ăn có hương vị rất hấp dẫn.
 
2. Một số nơi gọi nhum là con cầu gai. Căn cứ vào hình dạng, người dân Lộ Diêu gọi là con nhím biển cho dễ hình dung. Nhum sống bám vào các hốc đá. Khi thủy triều lên, những tảng đá và cả nhum bị lấp dưới mặt nước biển. Để bắt được nhum thì phải lặn xuống dưới nước, có nơi sâu tới 10 mét. Khoảng từ 5 giờ chiều trở đi, thủy triều rút, nhum và đá nổi trên mặt nước.
 
Vào những ngày giữa tháng – đợt nước rút thấp nhất, người ta chỉ cần lội ra là có thể bắt nhum. Dụng cụ bắt nhum trang bị cho một người rất đơn giản, chỉ có cái móc nhum, một cái giỏ nhựa và kính lặn. Móc nhum làm bằng sắt, một đầu được uốn cong hình lưỡi câu, có cán cầm rất chắc chắn. “Không thể dùng tay không để bắt nhum nên móc phải chắc như thế mới lấy nó ra khỏi hốc đá được. Khi móc nhum phải móc một lần cho chắc ăn. Nếu lần đầu không tách nó ra khỏi đá thì lần sau không thể lấy con đó được nữa, vì nó biết có động nên hít rất chắc vào đá, có kéo bể thân nó cũng không ra”, anh Thanh chia sẻ kinh nghiệm bắt nhum.
 
 
Muốn ra gành bắt nhum phải vượt qua ngọn núi cheo leo này.
 
Đa phần những người lặn bắt nhum là đàn ông con trai. Chị em phụ nữ thường đảm nhiệm vai trò làm nhum. Hễ khi giỏ nhum đầy, những người đàn ông sẽ bơi mang vào bờ. Trên gành đá, bên cạnh những hố nước đọng do thủy triều xuống, chị em bắt đầu xắn tay vào công việc. Họ dùng một con dao lớn chặt con nhum làm hai. Sau đó dùng một dao nhỏ rửa bỏ miệng và phân, phần ruột còn lại có màu vàng cam được cho vào hũ nhựa. Đây chính là thứ cần lấy của con nhum.
 
Chị Nguyễn Thị Thơm – vợ của anh Thanh vừa làm nhum vừa xởi lởi cho biết: “Nếu gặp đợt nhum chắc (dày ruột) một ngày có thể lấy được gần 20 lít nhum. Nhưng nếu gặp nhum ốp (mỏng ruột) như đợt đầu tháng này thì chỉ lấy được 2 đến 3 lít thôi. Thịt nhum được lấy để muối thành mắm, nhưng nếu để tươi có thể cho thêm ít gia vị rồi đem kho, hoặc có thể xào sơ rồi nấu cháo, ăn rất béo. Mắm nhum Lộ Diêu có mùi vị rất đặc trưng. Giá bán năm nay lên đến 120.000 đồng/lít. Những người mua đa phần mang đi các nơi làm quà đặc sản”. 
 
Ở “thung lũng tình yêu”, đàn ông nhà nào lặn khỏe có thể đi cả ngày, bắt đầu ra gành từ 8 – 9 giờ sáng, còn thông thường thì người ta đi một buổi từ 11 – 12 giờ trưa, đến 7 – 8 giờ tối mới về đến nhà. Bắt nhum chỉ là công việc kiếm thêm, cuộc sống của họ phụ thuộc chính vào nghề nông. “Nếu cha mẹ đi thì mấy đứa con phải có đứa ở nhà chăn bò, hôm nào ra đồng cắt lúa thì cả nhà không đi bắt nhum nữa”, chị Thơm cho biết.
 
Tôi chú ý ở gành đá Lộ Diêu, hầu hết những người đàn ông đi lặn đều có vợ đi cùng. Anh Thanh đùa: “Bà nhà sợ mình bỏ nên đòi đi theo miết”. Tôi hỏi nếu hôm nào các chị ở nhà thì có cô nào theo mấy anh đi làm nhum không? “Ai thèm theo mấy ổng, chỉ có… nhum theo thôi”, giọng một phụ nữ vang lên. Mấy anh chồng đang ngâm mình dưới gành bỗng cười híp mắt rồi lại lặn sâu. Không khí vui vẻ xua tan cái nắng gay gắt của buổi trưa hè.
 
 
Bà Thơm cười híp mắt khi giỏ nhum ông Thanh mang lên lần này đầy và chắc ruột hơn đợt trước.
 
3. Đi cùng vợ chồng anh Thanh ra biển lần này còn có con gái và mấy đứa cháu. Những lúc chưa có nhum để làm, đứa thì tranh thủ đập hàu về nấu canh, đứa tìm bắt cá chình… Có gia đình còn tranh thủ hái ít rong biển về nấu nước uống. Tranh thủ ít phút ngồi nghỉ để chuẩn bị cho lần lặn tiếp, anh Thanh trò chuyện: “Người lặn nhum phải có sức khỏe, hơi dài và phải chịu lạnh giỏi. Anh nào chịu lạnh yếu thì bắt nhum không nhiều”. Anh kể khi lặn dưới biển rất hay bùng tai và nhức đầu, nhiều lúc thấy vài con cá mú ở các hang đá phải lặn vào dùng chĩa để đâm, nhưng gặp những khe khó, sóng đập vào, ai không quen là bị hất tạt vào đá và kẹp chết ngay.
 
Gặp mùa nước cạn thì không sao nhưng vào những tháng cuối năm sóng to, nước lớn thì lặn bắt nhum luôn đối mặt với hiểm nguy rình rập. Dân trong nghề đều là những người đàn ông khỏe mạnh, bơi giỏi mà lắm lúc cũng không tránh được rủi ro. Anh Thành và anh Cả là hai nạn nhân mới nhất của nghề lặn bắt nhum, khi trong một lần hành nghề trên gành vào trước Tết Nguyên đán vừa qua đã bị sóng lớn đánh, đập vào hốc đá dẫn đến tử vong.
 
Sinh nghề tử nghiệp là thế. Không hẳn ai cũng may mắn tránh được sóng gió vô tình nhưng biển vẫn mãi luôn là một phần cuộc sống của những người bất chấp hiểm nguy lặn bắt nhum ở thung lũng tình yêu.
Nhum ở Lộ Diêu cũng có nhiều loại: nhum giang, nhum sò, nhum gai, nhum bắn… nhưng nhiều nhất là nhum gai. Nhum sò có gai ngắn, mỏng, có nhiều màu sắc; nhum giang nhìn giống nhum gai nhưng màu đỏ tím; riêng nhum bắn thì nó có thể bắn gai vào đối phương nếu chạm vào nó. Những người trong nghề lặn bắt cho biết thịt nhum gai vẫn béo và ngon nhất.
Theo TTO
 

Read Full Post »

Đây là một hòn đảo nhỏ nằm ngay trước mặt xã bán đảo Nhơn Hải (TP Quy Nhơn), quanh năm che chắn sóng gió cho làng biển hiền hòa này. Từ trung tâm TP Quy Nhơn, chạy xe máy hoặc ô tô qua cầu Thị Nại, băng qua Khu kinh tế Nhơn Hội, dọc theo vịnh Mai Hương rồi qua một đoạn đường đèo vài km là đến xã bán đảo Nhơn Hải với thời gian dưới 30 phút. Từ đây, thêm khoảng 10 phút đò ngang qua eo biển nhỏ là đến Hòn Khô.

 

Khu vực bơi lặn biển ngắm san hô ở Hòn Khô.

Nơi đây có bãi tắm mini với bãi cát trắng mịn, nước biển trong xanh màu ngọc bích, những con sóng nhỏ mơn man… cho du khách thỏa sức vẫy vùng trên sóng nước. Du khách cũng có thể leo núi vượt qua những ghềnh đá đủ mọi hình thù để sang phía đông bắc đảo ngắm đại dương mênh mông. Ở phía “đuôi” của Hòn Khô là một vùng rạn san hô nguyên sinh được bảo vệ khá chu đáo với nhiều loại san hô rực rỡ sắc màu; từng đàn cá nhỏ nhởn nhơ bơi lượn. Hãy mặc áo phao, mang kính lặn và ngậm ống thở (thiết bị lặn đơn giản), từ trên thuyền lao mình xuống nước, bơi nhè nhẹ và úp mặt xuống làn nước biển trong vắt để thưởng thức vẻ đẹp thủy cung đầy huyền ảo.

 

Hòn Khô nhìn từ làng biển Nhơn Hải.

Ở bãi cát nhỏ khoảng giữa Hòn Khô là khu vực bảo tồn rùa biển với bãi đẻ của rùa. Nếu khám phá Hòn Khô vào ban đêm, gặp may mắn du khách sẽ tận mắt chứng kiến được cảnh “vượt cạn” của các nàng rùa biển. Đến Hòn Khô, du khách còn có thể câu cá để làm một bữa tiệc cá nướng ngay trên đảo, hoặc ghé lại tham quan các bè nuôi tôm hùm, nuôi cá, ốc… trên biển. Đặc biệt, Hòn Khô là một “hoang đảo” không có dân cư sinh sống, nên du khách có một khoảng trời biển riêng biệt để vui chơi, thư giãn…

 

Thuyền đưa du khách từ Nhơn Hải ra Hòn Khô.

 

Du khách vui đùa trên sóng nước Hòn Khô.

 

Khu vực bãi đẻ của rùa biển.

 

Sau khi tắm biển, bơi lặn biển ngắm san hô, được thưởng thức một bữa tiệc hải sản ngay tại Hòn Khô quả thật thú vị.

Du khách muốn tham quan Hòn Khô một cách bài bản, có thể mua tour trọn gói của Công ty Du lịch Miền Trung. Địa chỉ liên hệ: 214A – Nguyễn Thị Minh Khai-TP Quy Nhơn. ĐT: (056) 3946666 – 0914737888.

Nguồn baobinhdinh

  • Bài và ảnh: MAI ANH

Read Full Post »


Lời giới thiệu

BÀN TAY ẤY VẪN THANH XUÂN

Vẫn là câu chuyện về tình yêu và cái chết.

Vẫn là câu chuyện khổ đau và hạnh phúc

Vẫn là câu chuyện hỗn loạn và bình an.

Nhưng Bàn tay nhỏ dưới mưa vẫn mang một phong vị đặc thù.

Người đàn bà tên là Gấm tìm kiếm sức mạnh để sống và để chết trong một phối cảnh đáng sợ: trái đất đang chết dần.

Con người tham lam

Và trái đất cạn kiệt.

Thiên nhiên, bà mẹ của phong nhiêu, từ nhiều năm qua đã sống lây lất đoạn trường giữa một nền văn minh điên loạn.

Nhiên liệu sống liên tục bị đốt cháy một cách phí phạm và vô ích trong cuộc đời hối hả cuồng quay.

Người đàn bà khát sống ấy đã chết trên một cõi đất hoàng hôn hấp hối:

“Nhìn nét thanh thản và mãn nguyện trên khuôn mặt Gấm tôi hiểu là người tôi yêu đã chết, nhưng không phải vì ung thư. Cô ấy chết vì ngộp thở khi bay đến đỉnh cao và hạnh phúc. Tình yêu và sợ hãi mất mát đã gặm nhấm buồng phổi, nó đốt cháy nhiên liệu sống và triệt tiêu toàn bộ năng lượng sinh học của nàng.

Thế giới bừng lên rồi chìm trong màn đêm đen kịt, chỉ có một tia sáng duy nhất là từ trái tim tôi, cháy bùng như ngọn đuốc, bay vút lên trời, quán chiếu vũ trụ này trong một niềm đau vô cùng vô tận.

Cái phong vị nồng thắm của tác phẩm nằm trong những nghịch lý mà nó muốn hóa giải: sống – chết, khổ – lạc, sáng – tối, mất – còn, ngã – tha, cũ – mới, tự nhiên – văn minh, vô thường, vĩnh cửu,…

Chọn điều này sẽ phải bỏ điều kia, và như vậy khác nào đánh mất cả hai?”

Nhân vật và người kể chuyện muốn vượt qua vô vàn tình huống phân biệt đó để trải nghiệm cái nhất như hoan lạc, một tư tưởng nhuốm màu sắc Phật giáo, đặc biệt phảng phất hương vị Kinh Duy Ma.

 

Bàn tay nhỏ dưới mưa là một tác phẩm đương đại, pha lẫn tiểu thuyết và tiểu luận, trữ tình văn xuôi và ký sự báo chí. Lằn ranh giữa những thể loại ấy dường như bị xóa nhòa, như một chiếc cầu trong mưa trong một bức tranh ấn tượng.

Dù vậy, ta vẫn nhìn thấy “bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả, một bàn tay vẫy gọi của tình yêu?

Tác giả Trương Văn Dân không còn trẻ, nhưng bàn tay ấy vẫn thanh xuân.

Để viết những dòng văn đầy xao xuyến, đầy nhục cảm, đầy tâm linh, đầy kích động mà cũng đầy bình an.

Nhà Văn Nhật Chiêu

Bàn tay nhỏ dưới mưa

Trích đoạn 2        Ám ảnh

Tóm tắc: Sau một thời gian chung sống cực kỳ hạnh phúc thì “tôi chợt hiểu  rằng hạnh phúc không phải là thứ mà ai cũng được quyền sở hữu. Có hay không, đó là ý muốn của thần linh. Chỉ có các thần  thánh mới có thể tạo nên điều hoàn hảo; còn con người, dù tài hoa cách mấy cũng không được phép.” Và sự tồn tại tình yêu tuyệt vời của tôi và anh là một sự xúc phạm. Mà một khi đã xúc phạm đến thần linh thì trước sau cũng bị trừng phạt.”

Khi người đàn ông đi công tác, bị tai nạn và phải nhập viện ở xa. Và cũng trong thời gian này Gấm lại phát hiện mình bị ung thư.

Đây là trích đoạn về nỗi ám ảnh và cơn ác mộng của Gấm:

 

 “….Tôi chả tâm sự với ai về những gì đang xảy đến với mình. Bởi cái làm tôi đau thì chỉ mình tôi cảm thấy đau. Điều làm tôi lo lắng chỉ mình tôi lo lắng. Trong nỗi đau này chắc chẳng ai hiểu được tôi mà có lẽ tôi cũng chẳng hiểu được ai. Tôi nghĩ mọi an ủi xã giao vô thưởng vô phạt của bạn bè đều vô ích. Nó chỉ làm mình tủi thân. Vả lại, do tính cao ngạo, tôi hoàn toàn không muốn biến thành đối tượng cho sự thương hại của bất kỳ ai.

Nhưng còn anh? Tôi cũng chưa nói gì với anh về căn bệnh!

Tôi sẽ phải làm gì đây? Nói cho anh biết sự thật hay âm thầm trốn chạy? Tôi sẽ phải làm gì? Thế nào là chọn lựa “đúng” trong lúc này?Tôi không biết. Băn khoăn, tôi thường hay đến bên cửa sổ, ngơ ngẩn nhìn người qua lại. Mỗi con người đều có  vẻ vội vã, hấp tấp đến, vội vàng đi. Tôi nhìn họ,  một chút hờn ghen  trỗi dậy vì tất cả đều biết mình sẽ đi đâu, còn tôi chẳng biết mình sẽ làm gì.

Chẳng có ai nói cho tôi biết.    ”

………

 

“…Trời gần sáng nhưng người tôi ê ẩm, không dậy nổi. Đột nhiên tôi nghe có  tiếng động nhỏ trên sàn. Tiếng động như cào nhẹ, tôi nhìn thấy những vết màu đen, to bằng ngón chân cái, như những trái táo tàu nằm rục rịch trên sàn. Ban đầu ít, thưa thớt. Thoắt cái,  táo từ trần nhà rớt xuống. Mỗi lúc mỗi nhiều. Lăn. Di chuyển. Chậm chạp. Bỗng một trái chạy lướt qua, bất ngờ hiện thành một con gián. Rồi một con đen đúa khác chạy theo, con thứ  ba, thứ tư…những bước chân nhỏ xíu thoăn thoắt chạy. Vài con đứng giương râu nhìn quanh quất. Có một con chạy lạc, bò lên tấm chăn đang đắp trên vùng ngực. Tôi hốt hoảng, muốn hất nó nhưng  cánh tay cứng đờ, không vung lên nổi.

            Thế rồi nhiều con gián khác, mười, hai mươi… hằng trăm con đổ ra từ mọi phía. Chúng leo lên giường, bò lên tủ, chạy trên  thảm, tràn ngập khắp  căn phòng. Thoắt một cái, chúng hiện diện khắp nơi…có con còn dám chui vào chăn. Tôi lạnh mình, hai tay bấu chặt mép chăn, ép người sát nệm. Nhưng cảm giác rùng rợn của những que chân bò lướt trên da, bò lên bò xuống dọc theo cơ thể vẫn không chấm dứt.Tôi giãy dụa, ngồi bật dậy, tung mền, huơ tay cố hất …nhưng  hai bàn tay lạc lõng, quơ vào khoảng không.

Hoảng, tôi hét lên và muốn nhảy xuống đất, nhưng đôi chân cứng ngắt, không đỡ nổi thân mình. Có một sức lực vô hình giữ lại khiến không cựa quậy.

Tôi thu mình, nửa nằm  nửa ngồi. Lưng dựa vào thành giường.

Chết ngất.

Những con gián vẫn hùng hổ chạy. Tôi chỉ nhớ là cảnh đó diễn ra rất lâu. Không dứt.

Cuối cùng tôi ngã lăn ra.

Mất hẳn mọi ý niệm về thời gian.

Rồi tôi tỉnh lại thấy mình nằm dưới đất. Đau đớn. Khắp người ê ẩm. Một nỗi khiếp sợ vẫn bám lấy. Toàn thân tôi mệt mỏi một cách tuyệt vọng.Tôi cảm thấy như gã thần chết đang sờ mó trên thân thể mình. Trong đời người sao lại có thể cảm thấy cái chết đến gần mình đến thế. Tôi nghe được hơi thở của gã. Một thứ mùi khét lẹt như nhựa cháy.

Căn buồng mất ánh sáng, tối lờ mờ.

Màn đêm đắng nghét.

Có một bàn tay vừa chạm lên người tôi.

Tôi hét lên….

 Kinh hoàng.

Lúc mở mắt thì thấy anh ngồi trong phòng đang ve vuốt lấy đầu tôi.

            Thế là người đàn ông quan trọng nhất thế giới này đã trở về!

            Xương thịt của tôi mà định mệnh đã từng muốn cắt lìa!

 

Anh đặt một bàn tay lên trán tôi. Hơi ấm của bàn tay chồng lên nỗi lạc lõng, lo âu. Anh giữ lại thật lâu và cho tôi cái cảm giác là tôi sẽ không còn bơ vơ nữa. Anh áp đầu tôi vào ngực anh rồi thì thầm: “Em vừa  mới đi qua địa ngục phải không?”

 

Read Full Post »

Tạp Bút

Trần Minh Nguyệt

 

 

            NHÀ THƠ LỚN XUÂN DIỆU – người con thân yêu của xứ Vạn Gò Bồi, Tùng Giàn –  Phước Hòa, Tuy Phước đã vĩnh biệt chùng ta thấm thoát đã 26 năm ! 26 lần tôi được dịp về đây – nơi căn nhà lưu dấu kỷ niệm cuộc đời và sự nghiêp thơ ca của Ông – để dâng nén tâm hương tưởng nhớ Ông trong nỗi thương tiếc, ngậm ngùi!

           Gần 70 năm có mặt với đời, và hơn nửa thế kỷ hiến dâng sự sống cho thơ ca – nhà thơ Xuân Diệu đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp nghệ thuật to lớn,  và một niềm tự hào sống mãi với Quê Hương. Với 6 tác phẩm được xuất bản, hơn 470 bài thơ đã được giới thiệu- nhà thơ Xuân Diệu đã quặn lòng qua bao nỗi xúc động, đã thở vào thơ bao nhịp đập của trái tim Yêu Thương hồn nhiên và cuồng nhiệt, và đã nhỏ xuống trang thơ bao dòng nước mắt vì Quê Nhà và Dân Tộc…

           Nhà thơ Hàn MặcTử lúc sinh thời đã gởi tặng cho nhà thơ Xuân Diệu tập thơ đầu tay của ông, với lời ghi tặng như sau: “ Tôi gởi tặng Anh tập thơ của tôi, vì đọc thơ Anh tôi thấy nỗi đau của tôi được xoa dịu nhiều lắm! “. Nhà văn – nhà nghiên cưu văn học Hoài Thanh cũng đã viết về Xuân Diệu gần nửa thế kỷ trước trong tác phẩm “ Thi Nhân Việt Nam “ : “  Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới; nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất của thời đại “ . Gần đây, học giả người Nga – ông Marian Tcasep cũng đã nhận định: “ Xuân Diệu khác với các nhà thơ khác ở chỗ thơ Anh thực tế, duyên dáng và nhạc điệu du dương, thánh thót. Trong thơ Xuân Diệu là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trữ tình và tính công dân cao cả! “.  Nhà thơ Xuân Diệu đã rất xứng đáng được các viện sĩ viện hàn lâm nước cộng hòa dân chủ Đức bầu là “ Viện sĩ thông tấn viện hàn lâm nghệ thuât nước CHDC Đức “ vào năm 1983, và vinh dự nhận lãnh danh hiệu cao qúy nhất của văn học nghệ thuật năm 1996 :  “Huân Chương Hồ Chí Minh”

            Suốt cuộc đời gắn bó với Thơ với bao đổi thay của vận nước – nhà thơ Xuân Diệu vẫn luôn trài lòng hiến dâng cho Tình Yêu, ca ngợi cuộc sống, niềm vui và đam mê sống. Viết về Tình Yêu –  là nhà thơ đã ca ngợi tuổi trẻ, ca ngợi mùa Xuân, ca ngợi thiên nhiên – bởi chính đó là tổ ấm, là cái nôi của Tình Yêu dành cho đời người:

          “… Anh xin làm sóng biếc

                  Hôn mãi cát vàng em

                  Hôn thật khẻ, thật êm

                  Hôn êm đềm – mãi mãi

 

              …Anh không xứng là biễn xanh

                  Nhưng cũng xin làm bể biếc

                   Để hát mãi bên gành

                   Một tình chung không hết “

                                 ( Biển )

 

             Trong bài thơ “Tình Thứ Nhất “, nhà thơ Xuân Diệu đã từng khẳng định:

           “ Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất

              Anh cho em, kèm với một lá thư

               Em không lấy – và tình ta đã mắt

               Tình đã cho không lấy lại bao giờ “

             Và chúng ta hãy lắng lòng nghe nhà thơ tâm sự như lời trần tình thẳm sâu tận đáy lòng mình qua bài “ Vì Sao “ :

            “ …Rồi một ngày mai tôi sẽ đi

                Vì sao? Ai nỡ hỏi làm chi

                Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ qúa

                Chỉ biết yêu thôi – chẳng hiểu gì “

             Nhà thơ Xuân Diệu đã rất hồn nhiên với “ tình đã cho không lấy lại bao giờ “ và quá đổi chân thành trước cuộc sống “ Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì “ . Qua 3 biến đổi trong đời thơ của Xuân Diệu –  nhưng chúng ta vẫn luôn nhìn thấy dòng thơ Ông mãi mãi là nổi khát khao mảnh liệt đến với cuộc sống, luôn hòa nhịp giao cảm với đời – làm nên những trang thơ bất tuyệt sống mãi với Quê Nhà và Tình Người!

            Tấm lòng thiết tha cao khiết ấy đã thể hiện rõ nét trong bài thơ Ông viết sau 30 năm được trở lại Quê Ngoại :

              “  …Ôi biển Qui Nhơn, biển đậm đà

                      Thuyền đi rẽ sóng, sóng viền hoa

                      Cám ơn quê má muôn yêu dấu

                      Vẫn ấp yêu hoài tuổi nhỏ ta “

           Và quê Mẹ Gò Bồi, Tùng Giản, Tuy Phước đã sống mãi trong thơ Ông với tuổi thơ dong ruổi đó đây, với bao kỷ niệm đằm thắm ngọt ngào bên Mẹ không bao giờ quên:

              “ …Buổi chiều trong bếp nấu cơm

                     Má đang lặt rau, lửa nhè nhẹ cháy

                     Một buổi chiều trong vườn sạch lá

                     Đất còn mang dấu chổi quét ban mai “

          Bài thơ “ Đêm Ở Tuy Phước “ là một trong những bài thơ viết về Quê Nhà hay nhất của Ông : Tuổi thơ, kỷ niệm, hòai vọng, ước mơ đã ùa về trong Trái Tim nồng nhiệt thương yêu của Ông như bao đợt sóng thân thương của xứ Van Gò Bồi thuở nào ngày đêm vẫn rì rào mời gọi :

             “ Đêm ngủ ở Tuy Phước là để mà không ngủ

                Những con dế cùng tôi thức suốt năm canh

                Thức những ngôi sao, thức những bóng cành

                Đêm quê hương thương cái hương của đất

            …Ngủ không được bởi gió nồm từ biển lên cứ nhắc

                  “ Trọn mình anh đã nằm giữa lòng tôi

                      Khi má anh sinh ra

                      Anh dã thở hơi nước mắm ngon của vạn Gò Bồi    

                      Nên thơ anh tới giờ vẫn còn đậm đã thấm thía “

              … Đêm ngủ ở Tuy Phước để mà không ngủ

                   Thức với quê hương như vậy đã vừa đâu

                    Xin thơ ta được thức mãi về sau

                    Với Tuy Phước, ngày nào còn đất nước “

             Sau những năm tháng đất nước được hoàn toàn thống nhất – dường như nhà thơ Xuân Diệu đã dành trọn thời gian viết về quê nhà, viết về Miền Nam, để khơi dậy những tình cảm, những kỷ niệm sâu sắc đã từng được ấp ủ, thao thức của mình. Đó là những hình ảnh đã được Ông chắt lọc qua nhiều năm tháng, để chỉ còn lại những gì thực sự là máu thịt, là rung động cho thơ.

            Ông đã tâm sự:

             “  Hãy để cho tôi được giả từ

                 Vẫy chào cõi thực để vào hư

                 Trong hơi thở chót dâng trời đất

                 Cũng vẫn si tình đến ngất ngư “

             Nhà thơ Xuân Diệu của chúng ta đã “ si tình “ đến “ hơi thở chót “ – theo nghĩa, đây là một “ khối tình lớn “ mà suốt đời Ông đã tận tụy hy sinh cho Quê Hương và Dân Tộc!

            Khái quát về cuộc đời và thơ của Xuân Diệu – nhà thơ Thanh Thảo đã viết rất chân tình:

               “ Anh quen sống như người nghèo đi chợ

                   Tính chi li từng phút từng giây

                   Khoèo câu thơ như thuở nhỏ khoèo me

                   Dọc phố hè Quinhơn lắm bui!(…) “

            Sau 26 năm ngày Xuân Diệu đi xa – hôm nay, ngày 18 tháng 12 năm 2011 – Tôi, người may mắn được sinh ra cùng quê hươngTuy Phước – kẻ hậu sinh yêu quý thơ Ông – thành kính tưởng nhớ Ông với đôi vần thơ góp nhặt trong sự nghiệp thi ca đồ sộ của Ông – để tỏ lòng ngưỡng mộ và tri ân, là những thế hệ tiếp bước Ông trên cùng quê hương Tuy Phước thân yêu. để cùng góp phần nhỏ dựng xây cho Quê Nhà ngày càng thêm khởi sắc, và giàu đẹp.

                  Xin kính dâng lên Người chút lòng của người em nhỏ đồng hương nhưng rất nặng tình nhân ngày giỗ thứ 26 của Người :

                   “ Bóng Người dù đã khuất xa

                      Nhưng tình còn mãi, đậm đà ngàn năm

                      Thơ Người là ánh Trăng Rằm

                      Sáng soi khắp nẽo tối tăm cuộc trần

                      Thơ Người “ thức mãi về sau “

                      Tháng năm hồ dễ thay mầu Trái Tim! “

 

 

Tưởng nhớ nhà thơ Xuân Diệu

Nhân ngày giỗ thứ 26

Phước hòa, ngày 18 tháng 12 năm 2011

 

Read Full Post »

Lê Xuân Tiến

Hỏi thăm người đưa cơm, Bùi Thị Xuân biết từ ngày bị bắt đến nay đã sáu tháng song Nguyễn Ánh vẫn chưa cho biết ngày kết thúc. Giống như con mèo vồ chuột. Đã bắt được chuột rồi, nhưng mèo vẫn chưa ăn vội, nó còn muốn đùa giỡn cho đến ngày còn chuột tơi tả. Nghĩ trò đời cũng buồn cười. Trước đây Nguyễn Ánh trốn chui, trốn nhủi chẳng khác nào thân con chuột hèn mọn chỉ tiếc là Tây Sơn chẳng truy đuổi đến tận cùng. Để rồi giờ đây con chuột đã biến thành con mèo. Bắt được vợ chồng Bùi Thị Xuân – Trần Quang Diệu rồi về quê bắt cả ba đứa con nhỏ, chúng không muốn cho họ chết vội. Nếu chết được, đã là hạnh phúc cho họ, chúng vẫn muốn cho họ sống để vần lên vần xuống, đẩy họ vào đau đớn tận cùng. Chúng muốn bù lại những ngày cơ cực chúng trải qua mới hả dạ.

Trại giam Bùi Thị Xuân ở rất xa khu dân cư, nên ít được nghe tiếng người trừ mấy tên quân canh ngục. Ngày đêm cô đô đốc Tây Sơn chỉ nghe tiếng gió rượt đuổi nhau trên mái tranh, trên tàn cây xà cừ ngoài sân. Đôi ba tiếng chim hót rời rạc, tiếng lá rơi rụng rất khẽ.

Phòng giam chỉ là bốn bức tường đá lạnh lẽo hôi mùi ẩm mốc. Một đống rơm góc phòng làm nơi ngủ, một cái thùng gỗ đầy tro để tiểu tiện. Chấm hết. Bùi Thị Xuân không ngại cực khổ, chỉ buồn khi xa chồng, xa ba đứa con thân yêu. Cô biết gia đình cô không đi lại được vì bị xiếng xích nhưng tâm hồn của họ luôn hướng về với nhau qua suy nghĩ. Bùi Thị Xuân thèm da diết tiếng cười, tiếng khóc của lũ trẻ, nhất là đứa con gái út mới lên bảy tuổi. Ngày mới bị bắt, vừa trông thấy mẹ, nó đã la lên “Mẹ ôi cứu con với”. Dù nước mắt chảy ròng vì thương con nhưng cô vẫn nghiêm sắc mặt quát lớn “con nhà tướng không được khiếp nhược”. Mặc dầu con đẻ ra chưa đầy năm, Bùi Thị Xuân đã giao cho họ hàng trông coi để tiếp tục đi chinh chiến song các con rất thương mẹ. Vì vậy nghe tiếng mẹ, con bé vội nín thinh, mặc dù gương mặt đầy nước mắt. Rồi, cô cảm thấy yên tâm, gia đình cô sẽ thực hiện nghĩa vụ cuối cùng với Tây Sơn là tìm đến một cái chết trong danh dự.

Đời của Bùi Đô Đốc đã nhiều lần phải quyết định song đến nay, cô không hối hận với quyết định nào.

Trước hết là đến với Tây Sơn. Là con gái, học võ từ thuở nhỏ, lại sinh ra lớn lên trên đất Tây Sơn, không còn lựa chọn nào khác là về dưới trướng Nguyễn Nhạc. Trong hàng ngũ lãnh đạo quân Tây Sơn, người mà Bùi đô đốc kính phục nhất là Nguyễn Huệ. Một con người vượt lên tất cả mọi người ở tài nghệ và nhân cách. Quả thực còn Nguyễn Huệ là Tây Sơn còn, mất Nguyễn Huệ là Tây Sơn như con thuyền bị lủng đáy, chìm dần. Khi Nguyễn Huệ mất rồi, con thuyền Tây Sơn như mất vị thuyền trưởng, không ai chỉ huy nên nội bộ cứ rối ren và rồi đi đến chỗ suy tàn. Có bao nhiêu tướng tài cũng không ngăn cơ đồ bị hủy diệt.

Quyết định thứ hai của Bùi Thị Xuân là ở lại cùng chồng khi được Võ Văn Dũng tháo cũi ở Nghệ An. Lúc đó Trần Quang Diệu thương tích đầy mình, hai chân sưng vù, chẳng cách nào đi được. Bùi Thị Xuân không thể nào dứt tình ra đi, cô đành phải ở lại để bị bắt chung cùng với chồng. Bùi Thị Xuân và Trần Quang Diệu đến với nhau như là có duyên trời định. Hôm đi săn ở rừng núi Kim Sơn, Bùi Thị Xuân bỗng nhìn thấy một người đánh cọp bằng hai tay không. Con cọp to gần bằng con trâu nhảy ngang nhảy dọc, giơ vuốt  cấu xé. Chàng trai vừa lui tới né tránh vừa vung quyền đấm vào đầu, vào mình cọp. Con cọp bị cú đấm đôi lúc loạng choạng nhưng chàng trai cũng bị vết cọp quào rướm máu. Xưa nay mấy ai tay không đánh cọp nên Bùi Thị Xuân rất kính phục. Cô vội vung song kiếm lên hỗ trợ cùng chàng đánh cọp. Chả mấy chốc con cọp bị nhiều vết chém, mất sức lịm xuống đất. Chàng trai đã bồi cú đấm cuối cùng làm nó hộc máu, chết tươi. Trần Quang Diệu vòng tay tạ ơn Bùi Thị Xuân vì đã cứu mạng sống. Cô đã vội gạt tay. Sau đó, cả hai ra mắt Nguyễn Nhạc được thu dụng. Từ sự kính phục lẫn nhau, tình yêu dần đến. Đó là mối tình keo sơn gắn bó, khiến Bùi Thị Xuân không thể xa rời Trần Quang Diệu. Sống cùng sống, chết cùng chết. Đó là tâm nguyện của tình yêu nhà võ.

Dù sống trong nhà ngục u tối nhưng Bùi Thị Xuân vẫn tin vào niềm hy vọng cuối cùng. Đó là lời hứa của Võ Văn Dũng. Sau khi phá cũi nhưng không thể đưa Bùi Thị Xuân đi vì cô muốn ở lại với chồng, Võ Văn Dũng đã gạt lệ, vòng tay lên trời vái ba vái rồi hứa với cô: “Tôi sẽ về Tây Sơn Thượng để khôi phục lại lực lượng theo gương của ngài Thái Đức lúc khởi binh, vài tháng nếu có biến ở Tây Sơn, cô biết rằng cơ đồ của Tây Sơn đang phục nghiệp”. Nhìn thái độ cương quyết của Võ đô đốc, Bùi Thị Xuân tin rằng cơ đồ không mất. Vậy là ngày tháng trong tù, cô vẫn mỏi mòn đợi chờ. Nhưng đã sáu tháng rồi, không có dấu hiệu nổi loạn ở vùng Tây Sơn Thượng. Niềm tin của Bùi Thị Xuân đã hao mòn.

Dòng suy nghĩ của Bùi Thị Xuân đã ngưng lại khi cô nghe tiếng khóa mở lắc cắc. Khuôn mặt của tên cai tù bụng phệ, râu cá chốt hiện ra. Hắn hô to, rồi đứng nghiêm

– Quan thị lang tới

Chẳng mấy chốc hiện ra gương mặt hình vuông râu ba chòm của thị lang bộ hình Trần Trung Tín. Quả là cái tên có ý nghĩa mỉa mai. Tín cùng quê với Bùi Thị Xuân, ban đầu theo Tây Sơn rồi sau theo chúa Nguyễn. Hắn chẳng có tài nhưng theo Tây Sơn cứ muốn được lên chức. Không thỏa nguyện, hắn chạy vào Nam theo Nguyễn Ánh. Nhờ siêng năng, nịnh hót giờ này hắn đương chức thị lang. Vừa thấy Bùi Thị Xuân hắn vội hỏi han

– Chẳng hay bà khoẻ không? – Tuy hỏi nhưng mắt hắn không dám nhìn thẳng vào mắt Bùi Đô Đốc.

Bùi Thị Xuân cười mỉa mai

– Cảm ơn ông, tôi vẫn khỏe như voi

Trông thần sắc của Bùi Thị Xuân chẳng mấy sa sút. Nguyên có một cai ngục có gương mặt gầy guộc đưa cơm cho cô ngày hai buổi đã giúp bữa ăn có thêm chất. Chế độ cơm nước của ngục tù nhà Nguyễn rất hà khắc. Cơm chỉ có cơm hẩm, cá là cá mục, nhiều khi có giòi, rau rác không hề có. Nhưng bữa đầu tiên, dưới lớp cơm hẩm che đậy là lớp cơm trắng tinh thơm ngát. Còn dưới lớp cá mục có vài miếng thịt vùi trong cơm.Vì thế Bùi Thị Xuân vẫn ăn ngon miệng, bảo toàn được sức khỏe. Một hôm vắng lính canh, Bùi Thị Xuân hỏi nhỏ người đưa cơm “Tại sao nhà ngươi tốt với ta”, tên lính đưa cơm nhìn quanh nhìn quất rồi kề sát tai Bùi Thị Xuân “Không giấu gì nữ kiệt, anh tôi bị nữ kiệt bắt trong trận Tây Sơn tái chiếm thành Qui Nhơn. Nữ kiệt đã nhân đức tha tội chết cho anh tôi. Ơn này gia đình tôi nhớ mãi, nay có cơ hội tôi xin đền đáp bằng bữa cơm. Chuyện nhỏ thôi mà nữ kiệt”. Bùi Thị Xuân biết rằng chuyện không nhỏ, Gia Long biết được có thể tên lính bị bay đầu. Té ra, bên này bên kia cũng có kẻ tốt kẻ xấu. Chả bù cho tên lính mập, nó luôn luôn hách dịch, ra oai để cho Bùi Thị Xuân khốn khổ chừng nào, nó vui mừng chừng ấy.

Bùi Thị Xuân nhìn thẳng vào mặt Trần thị lang:

– Nhà ngươi đâu có rảnh rỗi để tới đây chơi. Vậy có việc gì nhà ngươi hãy nói ra cho đỡ mất thời giờ.

Trần thị lang lúng túng:

– Lấy tình đồng hương, tôi xin khuyên bà…

Bùi Thị Xuân trợn mắt:

– Ta rất xấu hổ khi có người đồng hương như ngươi. Ngươi đã bỏ Tây Sơn – quê hương ruột thịt để chạy theo nhà Nguyễn, còn mặt mũi nào nhìn người đồng hương.

– Thôi chuyện đã qua, đường ai nấy đi… tôi chỉ bàn chuyện sắp tới. Chiều nay bà sẽ được gặp đức vua. Sinh mệnh của bà nằm trong cuộc gặp này. Bà liệu mà nói cho thuận tình, thuận lý. Hoàng thượng đã nói với tôi nếu bà quì xuống xin tha tội, bà sẽ cứu được mạng chồng con. Bằng không, bà sẽ chẳng những chết mà chết trong đau đớn. Vậy tội gì mà không nói được một lời để được sống.

Bùi Thị Xuân trợn mắt:

– Nghe lời mầy nói, tao muốn nhổ trong mặt. Vào tới đây gia đình tao chỉ có một con đường là chết. Không thể sống nhục như mầy, đừng nhiều lời!

Nhiều đêm Bùi Thị Xuân suy nghĩ, rồi Nguyễn Ánh cũng đi đến con đường chiêu dụ. Nhưng cô đã đi đến kết luận: sống ô nhục còn đáng sợ hơn cái chết. Tây Sơn còn hơn là cuộc sống của gia đình cô, nó là máu thịt, tình yêu và cả những gì linh thiêng nhất. Tây Sơn suy sụp, đời cô và chồng con cô cũng tự tan rã. Sống nữa để làm gì.

Trần thị lang cứ đứng đó lải nhải để chiêu dụ song hắn nói lời nào, Bùi Thị Xuân đều trả lời “không”. Mặc dù đã điên tiết nhưng khi ra đi hắn vẫn vớt vát:

– Xin bà suy nghĩ thêm trước khi gặp hoàng thượng vào khoảng hai canh giờ nữa

Khi thị lang họ Trần bước đi, đột nhiên Bùi Thị Xuân kêu to:

– Lính mập đâu lại đây ta bảo

Khuôn mặt của hắn xuất hiện. Bùi Thị Xuân biết rằng thằng này ham của đút lót nhưng với Bùi Thị Xuân thì đừng hòng. Nhưng cô biết cách để điều khiển hắn

– Mang gấp cho tao chậu nước, gương, lược

Thằng lính ngạc nhiên, trọ trẹ

– Làm chi rứa?

– Để gương mặt sạch sẽ, đầu tóc gọn gàng mà gặp hoàng thượng của mi

– Không có. Mặt mi thảm hại chừng nào, công tao càng lớn

Bùi Thị Xuân cười lớn:

– Tao chết rồi, sẽ hiện lên bám theo ngươi mà báo thù. Mi sẽ điên loạn rồi thác theo ta thôi

Thằng lính chợt xanh mặt. Hắn vốn sợ ma nên không nói gì lẳng lặng làm theo ý muốn của Bùi Thị Xuân

*

Nguyễn Ánh ngồi chễm chệ trên ngôi cao khi lính giải Bùi Thị Xuân vào điện rồng. Chung quanh chẳng có bóng vị quan lớn nào ngoài viên thị lang bộ hình. Chắc hẳn hắn không để lọt tai các vị quan, những lời chửi bới có thể của Bùi Thị Xuân. Cô đô đốc Tây Sơn vẫn còn bị gông vào cổ, hai chân bị xích. Nguyễn Ánh nhìn cô gái nhỏ bé phía dưới vuốt râu cười thỏa mãn. Phải cho Bùi Thị Xuân biết lúc này ai có quyền. Đâu có còn là sự chạy trốn chui lủi hèn hạ trước kia. Nay đất nước nằm trong tay, hắn muốn gì được nấy. Thật khác xa với thái độ của Nguyễn Huệ trước đây khi gặp kẻ thù là những bậc trượng phu. Huệ tự tay bước xuống cởi trói rồi mời ngồi. Ánh vẫn giữ thái độ ngạo mạn. Nhưng Bùi Thị Xuân cũng không vừa, cô nhìn trừng vào hắn không chớp mắt.

Hắn tự mãn hỏi:

– Ngươi có biết là triều Nguyễn với Tây Sơn ai là chính ai là tà không? Tại sao ngươi phò tá Ngụy Tây.

Bùi Thị Xuân cười mỉa:

– Tây Sơn là chính, nhà Nguyễn là tà. Đất của nhà Lê ngươi cướp lấy rồi xưng vương xưng bá. Tây Sơn là nguyện vọng của nhân dân, một lần đuổi Trịnh rồi trả đất cho nhà Lê, rất tiếc nhà Lê không giữ được đất mà còn cầu viện ngoại bang “cõng rắn cắn gà nhà” nên chủ tướng ta phải tiêu diệt. Nhà Nguyễn là đại thần của nhà Lê tại sao không làm việc đó mà cũng đi cầu viện lung tung. Không có hoàng thượng ta, đất mất, dân làm nô lệ, còn chỗ đâu ngươi xưng hùng, xưng bá. Ta hỏi lại: ai chính, ai tà?

Nguyễn Ánh có vẻ sượng sùng nhưng chuyển sang câu hỏi khác:

– Ta và Nguyễn Huệ ai tài hơn?

Bùi Thị Xuân ung dung đáp:

– Nói về tài ba thì tiên đế ta trắng tay dựng cơ đồ bách chiến bách thắng. Còn nhà ngươi trốn chui, trốn nhủi phải cầu viện ngoại bang. Chỗ hơn kém rõ ràng, như nước giếng so nước sông. Còn nói về đức độ, tiên đế ta lấy nhân nghĩa đối xử với trung thần thất thế, ai được tha cũng cảm phục. Còn nhà ngươi lấy hình phạt khốc liệt đối xử với bậc nghĩa liệt sa cơ, chỗ hơn kém cũng rõ ràng như ban ngày với ban đêm. Nếu tiên đế ta không thừa long sớm thì làm gì có ngươi ngồi đây.

– Ngươi có tài sao không giữ được ngai vàng của Cảnh Thịnh?

– Có thêm một nữ kiệt như ta, dễ gì nhà ngươi đặt được chân lên đất Bắc

Nguyễn Ánh thấy không thể đối đáp với Bùi Thị Xuân bèn dịu giọng:

– Nhà ngươi có muốn xin ân xá không?

– Ta đâu có sợ chết mà chịu hạ mình trước một kẻ tiểu nhân đắc thế?

Nguyễn Ánh nổi giận, gằn từng tiếng:

– Không chịu nhục, ta sẽ làm cho ngươi biết nhục

Nguyễn Ánh thét truyền lệnh mang Bùi Thị Xuân trở về ngục.

*

Lại thêm mười ngày chờ đợi. Dù tha thiết muốn được gặp chồng con trước khi chết nhưng Bùi Thị Xuân không muốn xin một ân huệ nào trước kẻ thù.

Trần Trung Tín lại đến. Lần này khuôn mặt y giả bộ thương tâm:

– Tại sao tôi đã hết lời căn dặn mà bà vẫn cương lên làm cho hoàng thượng nổi giận?

Bùi Thị Xuân cười to:

– Ta muốn cho đức vua nhà ngươi phải run sợ khi đối mặt với một phụ nữ. Hoàng thượng nhà ngươi đã tái mặt, tái mày rồi. Ha ha

Trần thị lang vẫn lải nhải:

– Bà biết hoàng thượng cho bà biết nhục cách nào không?

– Ta chẳng cần biết

– Bà sẽ bị lột truồng đem về quê bà để bêu riếu cho thiên hạ xem, để người phụ nữ nào muốn làm loạn thì lấy bà làm gương

– Cơ thể này do cha mẹ sinh ra, việc gì phải giấu. Đức vua nhà ngươi sẽ hối tiếc khi làm công việc hèn hạ này. Nó chỉ làm cho nhân dân phẫn uất.

Bùi Thị Xuân nói hùng hồn như thế nhưng cô lại nhớ đến Võ Văn Dũng. Chẳng có tin tức gì từ ấy đến nay. Võ Văn Dũng đã chết ở xó rừng nào hay nhân dân không tin ở Tây Sơn nữa. Một khi niềm tin đã mất đi là mất tất cả.

– Bà cũng cần biết là sau cuộc bêu riếu này, cái chết dành cho bà rất thảm khốc. Bà sẽ bị voi dữ dày xéo hoặc bị “điểm thiên đăng” tức là người bà bị quấn lấy vải nhúng sáp nóng rồi cột vào cột sắt giữa trời châm lửa đốt. Da bà sẽ bị lột ra từng mảng, đau thấu tim gan. Rất đau đớn, bà ạ.

– Ta chẳng sợ, cuối cùng cũng chỉ là chết

– Nhưng bà vẫn còn cơ hội cuối cùng là quì xin ân xá

– Ta đã nói rồi, không bao giờ chịu nhục, đừng nhiều lời vô ích – Bùi Thị Xuân thét lên

Trần thị lang vừa đi vừa lẩm bẩm “dại quá, dại quá”

Nguyễn Ánh cứ tưởng Bùi Thị Xuân bị lột truồng cho xe chở về Tuy Viễn, người dân sẽ lũ lượt rủ nhau ra xem như xem hội. Nhưng hoàn toàn ngược lại, nhân dân Tuy Viễn đã bảo nhau vào nhà đóng kín cửa. Người đi đường, kẻ nhóm chợ đều ngoảnh mặt, tránh xa xa. Chiếc xe chở tù nhân Bùi Thị Xuân đi qua, đường phố vắng lặng, hiu hắt, chỉ còn tiếng gió và tiếng lá rơi.

Ngang qua Đập Đá, nơi có làng dệt nổi tiếng. Các cô gái dệt lụa đang chờ sẵn.

Những vuông lụa được tung ra, bay vào xe. Các tên lính ra sức dùng đao để chém. Nhưng các mảnh lụa bị đứt theo gió vẫn bay tấp vào châu thân Bùi Thị Xuân. Phút chốc lụa đã đắp kín thân thể trần truồng.

Những mảnh lụa vẫn tiếp tục bay lên xe. Những mảnh lụa lấp lánh dưới ánh mặt trời.

Read Full Post »

Đến Quy Nhơn bạn hãy một lần ghé thăm Eo Gió để nghe tiếng gió vi vu thổi vào vách đá, luồn qua những hang động và hòa quyện tiếp với sóng dạt dào ngày đêm xô vào bờ.

Để nhìn những phiến đá kỳ vĩ đầy hình thù đang cố dang tay ôm lấy đại dương ngút ngàn; thấp thoáng đàn chim én lượn chao nghiêng trông đẹp đến ngỡ ngàng.

Đường lên Eo Gió

Eo Gió là một eo biển đẹp hình vòng cung thuộc thôn Hưng Lương, xã bán đảo Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Sở dĩ gọi là Eo Gió hay Eo Cửa Gió vì đây là một cửa eo nhỏ mà đứng từ trên cao dễ dàng nhìn thấy hai dải núi đá cong hình vòng cung ôm lấy một góc biển khơi trông tựa như một cái phễu.

Hoang sơ – kỳ vĩ

Những năm trước, để đến với Eo Gió không phải là điều đơn giản, phải đi ghe máy từ bến Hàm Tử vượt biển, nếu không phải băng qua đầm Thị Nại mênh mông rồi lội qua những đồi cát trập trùng, không một bóng nhà mới tới được Eo Gió. Nhưng bây giờ, từ khi cầu vượt biển Thị Nại hoàn thành (năm 2006) thì từ thành phố Quy Nhơn chỉ cần chạy xe 20km băng qua cầu Thị Nại là đến trung tâm xã Nhơn Lý, nơi có thắng cảnh Eo Gió.

Đường đến Eo Gió cũng thật đẹp và hoang sơ. Bạn hào hứng khi mình đang chạy trên cầu vượt biển Thị Nại, cây cầu dài nhất Đông Nam Á (2.500m). Đứng ở đầu cầu, gần như không thể nhìn thấy bên kia cầu bởi sự bao la của đầm Thị Nại, niềm tự hào của miền đất võ đầy nắng và gió. Đứng ở trên cầu, nhìn ngược lại, thành phố Quy Nhơn trông thật yên bình bên biển xanh.

Tiếp tục chạy xe, một cảm giác bồng bềnh khó tả khi gió từ biển thổi mát rượi, ven đường là những đồi cát trắng xóa tràn ra cả mặt đường. Đường dài hun hút, không một mái nhà, chỉ màu trắng của cát hòa lẫn với màu xanh ngắt của mây trời và xanh đậm của những rặng phi lao ven đường. Khung cảnh hoang sơ đến huyền bí.

Tưởng như đã thưởng thức no nê vẻ đẹp đặc trưng vùng biển thì khi leo lên hết con đường mòn mấp mô, chênh vênh để tận mắt mục sở thị Eo Gió, bạn chỉ biết ngỡ ngàng trước cảnh sơn thủy hữu tình; cảm giác mệt mỏi tan biến, thay vào đó ta dần thấy mát lạnh khi những cơn gió biển lọt vào eo xâm chiếm cả khu này.

Eo Gió đẹp bởi những rặng núi đá cao chót vót với đủ hình thù kỳ quái chạy lan ra trùng dương. Núi ôm biển, biển vờn quanh núi, sóng xô vào bờ như đang hát lời ru dạt dào, xa xa thấp thoáng dáng con thuyền, chập chờn đàn chim tung cánh. Từ trên cao quần thể Eo Gió trông đầy gợi cảm mà cũng thật hoang sơ, kỳ vĩ.

Là một trong những thắng cảnh nổi bật nhất Bình Định nhưng Eo Gió hầu như vẫn chưa có bàn tay tác động của con người. Những dịch vụ du lịch không phát triển nên chỉ mất tiền gửi xe ở những hộ dân quanh đó rồi ta tha hồ tự do thưởng ngoạn vẻ đẹp của biển trời bao la và những đường cong tuyệt đẹp của núi đá vẫn còn trinh nguyên, hoang sơ.

Bài hát của đá và gió

Lên đến đỉnh, điều đầu tiên bạn cảm nhận được là những dải núi đá uốn cong như một cái phễu hút gió từ biển rồi chạm vào những vách đá thổi ngược lại lồng lộng cho cảm giác mát lạnh. Ta nghe rõ âm thanh của gió rít bên tai hòa với tiếng sóng vỗ dịu êm, thi vị hơn bạn ngửi thấy cả mùi chát mặn của biển cả.

Eo Gió tựa như một bài hát do đá và gió tạo nên. Những âm thanh du dương của gió rít vào những vách đá, tiếng sóng biển nhè nhẹ dạt dào ngày đêm mãi xô vào bờ, thi thoảng đâu đấy là tiếng xôn xao của đàn chim từ những hang động bay ra. Tất cả tạo thành một bài hát đầy chất thơ, nghe rất êm tai.

Chính đá mới là nhân tố làm nên vẻ đẹp quyến rũ, man dại của Eo Gió. Đá nơi đây lởm chởm từ đỉnh cao vút chạy đến bờ thoai thoải; đi dọc theo chân núi là đến bãi Đá đẻ với rất nhiều đá lớn nhỏ được sóng mài phẳng lì. Sở dĩ gọi là Đá đẻ vì cứ nhặt đi lại thấy đá như “mọc” ra nhiều hơn. Từ Đá đẻ nhìn ra biển là những cụm đá lớn nổi trên mặt nước, đủ hình thù kỳ quái cho bạn thỏa sức tưởng tượng.

Những cụm đá hình thành nên những hòn đảo nhỏ như hòn Mòng, hòn Cỏ, hòn Cân… Mỗi hòn mang một dáng dấp khác, chẳng hạn như hòn Mòng người dân nơi đây coi như con cá sấu vươn mình ra biển cả hay con trâu đang ngụp lặn tắm mát.

Dọc theo những vách núi, ta còn bắt gặp những hang động nhỏ mà thiên nhiên vô tình kiến tạo ra; nào là hình hàm ếch, hình vòm… với những nhũ đá đa dạng màu sắc, gợi cảm. Đứng nơi đây vãn cảnh và chụp vài bức hình quả là tuyệt vời. Thú vị hơn, ở đây còn có giếng tiên, là một con suối nhỏ như dải lụa vắt bên vách núi; nước suối mát ngọt và trong vắt. Còn gì tuyệt hơn hơn sau khi chơi với đá, tắm biển rồi ngâm mình trong giếng tiên thả hồn theo mây gió, hệt như chốn tiên cảnh.

Biển bao la mang theo gió, sóng vỗ vào đá, gió cuốn lấy đá tạo nên nét đẹp Eo Gió, tạo nên một bài hát du dương, êm dịu…

TheoTTO

Read Full Post »

TTCT – Đập Đá (Bình Định) được mệnh danh là đất kinh đô các vương triều cũ, nổi tiếng với thành Đồ Bàn, thành Hoàng Đế…

 

Xe ngựa chở khách đi chợ, mỗi người vài ngàn đồng. Quần quật chở thêm hàng hóa, mỗi ngày thu nhập trung bình 100.000 đồng

Như còn vương lại từ những rêu phong xưa cũ, không biết từ bao giờ, một ngã ba ở thị trấn Đập Đá “chết danh” với cái tên Bến Xe Ngựa. Sáng tinh mơ hay chiều tà, những chuyến xe ngựa chở hàng hóa, người đi chợ, trẻ đến trường gõ lộc cộc trên những con đường làng, trên lối mòn thành cũ. Tiếng nhạc leng keng rung lên giữa làn sương mai, trong màu nắng chiều hôm trên thành Hoàng Đế là âm thanh du khách khó thể nào quên.

Tham quan khu quần thể di tích, văn hóa xưa ở Đập Đá, ngồi trên xe ngựa leng keng không khỏi xốn xang niềm hoài cổ: “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/Nền cũ lâu đài bóng tịch dương” (*).

Trước kia, mỗi ngày Bến Xe Ngựa có hơn cả trăm xe thường xuyên đứng bến, phân tổ chở khách, hàng hóa đi khắp nơi trong khu vực, nhất là người đi chợ tờ mờ sáng. Rồi bị những phương tiện thuận lợi hơn như xe ba gác, xe thồ, taxi thay thế, Bến Xe Ngựa dần vắng bóng xe. Chỉ còn một số xe vẫn gõ nhịp lốc cốc theo tình yêu của chủ nhân. Họ giữ nghề vừa để kiếm sống vừa giữ lại cho mình một niềm đam mê xe ngựa.

Mưu sinh trên xe ngựa bấp bênh, những ngày chợ phiên chạy được vài chuyến chở người dân đi chợ, chở hàng về làng và học sinh kiếm 100.000-200.000 đồng/ngày, ngày thường ít khách, một thời hoàng kim thổ mộ đã dần qua.

Ông Phạm Sáu, 70 tuổi, đã có hơn 50 năm chạy xe ngựa ở đây, trăn trở: “Vì mưu sinh nhiều người đã khóc khi bỏ xe ngựa chuyển sang nghề khác, họ đau buồn lắm. Xe ngựa khác với những xe chở hàng, nó biết yêu thương, gắn bó với chủ. Tôi và một số người bạn ở đây quyết giữ nghề cho đến hết thế hệ này. Chẳng lẽ bến xe ngựa lại không có ngựa?”…

Nguyễn Tiến Lợi, 17 tuổi, người trẻ nhất chạy xe ngựa ở bến này, tâm sự: “Không chỉ chở hàng, đi chợ, xe ngựa bây giờ còn làm được du lịch, quảng bá hình ảnh quê hương nên tôi nghĩ nếu mình biết khai thác thì nghề xe ngựa rất hấp dẫn và có thu nhập tốt”.

 

Xe ngựa “đổ xăng” bằng cỏ, chủ luôn chở theo dưới xe một thùng cỏ để khi nghỉ ngơi ngựa lót dạ. Chân ngựa bao giờ cũng được đóng đế bằng sắt để tạo độ bám khi di chuyển
Khách hàng thân thuộc nhất của xe ngựa là những người đi chợ phiên
Xen lẫn với phương tiện vận tải hiện đại, xe ngựa vẫn giữ một giá trị khó thay thế
Chủ rất yêu quý ngựa, xem ngựa như bạn bè. Để ngựa đẹp hơn, chủ phải tắm rửa, cắt tỉa lông, chăm sóc ngựa hằng ngày
Những chuyến xe ngựa đợi khách ở Bến Xe Ngựa. Xe ngựa cũng được quy định xuất bến theo thứ tự
Nam thanh nữ tú rất thích thú khi đi xe ngựa

TRƯỜNG ĐĂNG

__________

 

Read Full Post »

Nhiều người thường hỏi: “Không biết bánh hỏi có từ lúc nào. Và tại sao người ta lại đặt tên là bánh hỏi ? ”. Theo người Bình Định, bánh hỏi có từ rất lâu đời. Cũng là thứ bánh làm từ bột gạo như nhiều loại bánh truyền thống khác, nhưng thứ bánh hỏi của “ Xứ Nẫu ” vẫn cứ là lạ. Lúc đầu mới làm ra loại bánh lạ nầy, ai thấy cũng… hỏi là thứ bánh gì? Cái tên bánh hỏi có lẽ đã được khai sinh từ đó?! Còn theo nhiều chuyên gia ẩm thực, bánh hỏi chính là “biến thể” của bún tươi, có ở nhiều vùng miền nước ta. Người dân Đất Võ thấy sợi bún lớn nên đã chế biến làm cho sợi bún nhỏ lại. Từ đó tạo ra món bánh hỏi.Nếu so sánh, bánh hỏi và bún có cách chế biến gần giống nhau, cùng chất liệu bột gạo, song làm bánh hỏi công phu và tỷ mỷ hơn. Đại thể, quy trình làm bánh của người Đất Võ , như sau: Gạo vo sạch, ngâm một đêm (khoảng 10-12 giờ). Xong, vớt ra đem xay nhuyễn bằng cối đá (sau này xay bằng máy xay bột). Cho nước bột gạo sền sệt vào chiếc bao vải sạch, để ráo nước. Đem hấp bột vừa đủ chín, nhồi và chia bột thành từng khối chừng nửa ký gọi là “giảo” bột – giống cách làm bánh canh. Tiếp theo, lại đưa vào khuôn, ép thành bánh. Khuôn bánh hỏi ở trên to, đáy khoan những lỗ li ti nhỏ. Bí quyết nghề làm bánh hỏi là nhờ chiếc khuôn. Lỗ khuôn quá nhỏ, bột không chạy qua. Lỗ quá lớn, sợi bánh sẽ lớn như sợi… bún.

Các khối bột đã nhào nặn sẵn, người ta bỏ vào khuôn, dùng một khối gỗ vừa lòng khuôn ép cho bột chảy ra. Bột khá đặc, lỗ lại nhỏ cần sức ép lớn nên người thợ phải dùng đến hệ thống đòn bẩy. Sức ép trên mặt khuôn rất lớn, một người ép một người bắt bánh. Mỗi lần ép đòn bẩy xuống là những vòi bột loăn xoắn tuôn ra ở đáy khuôn. Người thứ hai dùng tay ngắt ra từng đoạn nhỏ, đưa vào nồi hấp cách thủy một lần nữa mới đem ra thị trường tiêu thụ.

Bánh hỏi thời nay

Người dân Đất Võ có câu:
‘’Mưa lâm râm ướt dầm lá hẹ ,
Em thương một người có mẹ không cha ,
Bánh xèo bánh đúc có hành hoa ,
Bánh hỏi thiếu hẹ như ma không kèn…’’.

Lá hẹ ăn với bánh hỏi rất ngon. Hẹ tuy cùng họ với hành, tỏi nhưng lá nhỏ và xanh hơn, hương lá hẹ lại không gắt như lá hành tươi nên rất hợp với bánh hỏi.

Ngoài việc dùng xì dầu làm nước chấm rất ngon, bánh hỏi cũng có thể chấm với nước mắm pha loãng với gia vị là ớt, tỏi, đường, chanh, bột ngọt …

Khi ăn bánh, người Bình Định thường cho thêm chút dầu phộng hoặc dầu dừa đã khử hành chín. Dầu ăn trộn với lá hẹ xắt nhỏ, tẩm lên từng miếng bánh làm cho hương vị bánh hỏi rất lạ, kích thích khẩu vị. Khi ăn chỉ cần một làm chén xì đầu với ớt, tỏi, đường giả nhuyễn, vắt thêm miếng chanh tươi là có ngay món điểm tâm sáng thật tuyệt.

Bánh hỏi đi đôi cháo lòng, đấy là món khoái khẩu của người đất võ. Cháo lòng nấu hơi loãng với huyết heo ninh nhừ, thịt nạc băm nhuyễn, thêm chút gia vị tiêu, hành, bột ngọt cho vừa ăn. Cũng vì cách ăn này mà thỉnh thỏang ở các vùng miền khác của cả nước, quán ăn nào có bán bánh hỏi, thường cũng phục vụ kèm thêm đĩa lòng heo, dạ trường, gan, dạ dày, dồi heo … rất tuyệt.

Người Bình Định khi cúng giổ, cưới hỏi, lễ lạt đều có món bánh hỏi. Các làng nghề làm bánh hỏi truyền thống, ngon nổi tiếng vùng này có ở Quy Nhơn, Tây Sơn, An Nhơn, Tuy Phước … Mỗi ngày, các lò bánh có thể bán ra thị trường hằng trăm kilôgam.

Ở Bình Định, bánh hỏi được bán rất phổ biến. Nhưng ngon nhất là ở khu vực ngã ba Phú Tài ( TP. Quy Nhơn). Có hàng chục quán ăn với món cháo lòng – bánh hỏi, món điểm tâm dễ ăn mà cũng rất hấo dẫn với nhiều du khách phương xa.

Thực đơn bánh hỏi ở Bình Định hiện có khoảng đến… 10 món ; như: bánh hỏi chả giò, bánh hỏi lòng heo, bánh hỏi thịt nướng, bánh hỏi chạo tôm, bánh hỏi tôm càng, bánh hỏi thịt bò nướng, bánh hỏi gà nướng…

Cùng với bánh tráng , bánh ít lá gai, bún song thằn…, món bánh hỏi từ lâu đã trở thành đặc sản riêng của vùng Đất Võ. Một món ăn tuy rất đỗi bình dân nhưng lại có sức quyến rũ lạ kỳ.

Du khách phương xa nếu có dịp đến vùng đất này, cũng nên thử qua một lần cho biết! Kinh nghiệm cho thấy, nhiều người đến đây, thưởng thức món đặc sản này xong thường cũng lại hay thắc mắc: “Bánh hỏi là bánh gì?”.

Hỏi xong rồi lại muốn ăn thêm…

Theo báo Du lịch

 

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »