Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Xứ Nẫu, Người Nẫu’ Category

– Ông Đỗ Văn Lan ở thôn Phú Gia, Cát Tường, Phù Cát, Bình Định đem chiếc nón ngựa của mẹ ông đã dùng trong suốt hơn 45 năm cho khách xem.

Chiếc nón đặt trên bàn thờ chỉ cũ chứ không hề hư hỏng, lớp lá lợp nón bóng loáng, ánh màu thời gian. Ông Lan cho biết: “Dùng lá kè mỡ để lợp nón thì càng đi mưa, đi nắng lại càng thêm bền chắc, lạ kỳ là thế”.

Điểm độc đáo của quy trình làm nón ngựa là người thợ không dùng khuôn để dựng nón, do vậy mỗi chiếc nón được làm ra là một sản phẩm độc bản. Có hơn mười công đoạn để làm ra một chiếc nón ngựa trong đó phần dựng khung là công phu nhất.

Chiếc nón có đường kính 0,9m được ông Lan làm để trưng bày cho du khách đến tham quan.
Chiếc nón có đường kính 0,9m được ông Lan làm để trưng bày cho du khách đến tham quan.

Nón ngựa được đan bởi 3 lớp nang chồng lên nhau, bằng những sợi giang chuốt nhỏ như sợi chỉ. Đan lớp nang thứ nhất gọi là đan sườn mê, tạo thành những hình lục giác. Lớp nang thứ hai được đan theo chiều dọc, chạy thẳng từ chóp xuống vành. Lớp nang thứ ba được đan vòng tròn quanh nón. “Người thợ giỏi cũng phải mất hai ngày để dựng một khung nón”, ông Lan khẳng định.

Cả xã Cát Tường hiện có khoảng 400 hộ làm nón nhưng chỉ khoảng 1/3 số này là làm nón ngựa. Một chiếc nón ngựa làm mất một tuần công và mỗi công đoạn do một người đảm nhiệm. Người dựng khung, người thêu, người chằm nón… mỗi công đoạn đều đòi hỏi sự khéo tay, tỉ mỉ và phải rất tài hoa. “Ngày xưa chỉ có người có chức tước hay nhà giàu, phong lưu cưỡi ngựa mới đội nón có chóp bịt bằng bạc chạm trổ công phu nên gọi là nón ngựa”, người già ở Phú Gia đều giải thích như thế.

a
Lá kè mỡ là loại lá đặc biệt để chằm trên nón ngựa.
a
Rất tỉ mỉ, người làm nón ngựa chằm lớp lá lên phần khung nón.
q
Mỗi chiếc nón ngựa có giá bán từ vài trăm đến hàng triệu đồng.
a
a
Chiếc nón ngựa do ông Lan làm theo đơn đặt hàng của khách đúng theo nguyên mẫu chiếc nón ngựa mà quan lại xưa vẫn đội.
a
a
a
Ông Đỗ Văn Lan vẽ lại những chi tiết chạm trên chóp nón bằng bạc cổ để giữ cho thế hệ tương lai.Lê Anh Tuấn

Read Full Post »

SGTT.VN – Khởi thuỷ, làng biển Đề Gi là một khu rừng rậm, trải dài ven biển, từ Gành cho đến Chánh Oai, qua Cát Tiến. Gia phả của dòng họ Nguyễn còn ghi rõ: người lập làng là vị quan đại thần của chúa Trịnh. Vì phạm tội với chúa mà phải trốn vào Nam cùng với những người thân tín. Tới vùng biển này, thấy sau lưng là núi, trước là biển, liền dừng lại lập làng. Sau này, chúa Nguyễn Ánh trên đường bôn tẩu sang Xiêm La (Thái Lan ngày nay), có ghé lại vùng biển này, vô tình đào vài tấc cát ven đầm đã thấy nước ngọt nên mới đặt tên là Đạm Thuỷ, còn trước đó, người dân gọi là đầm Đề Gi.

 
Gỏi cá mai – đặc sản của làng biển Đề Gi. Ảnh: Minh Phúc

Từ Biển Đông, muốn vào đầm Đạm Thuỷ phải qua cửa biển Đề Gi. Sách Đại Nam nhất thống chí có nhắc đến cửa biển này: “… rộng 11 trượng, thuỷ triều lên sâu sáu thước, thuỷ triều xuống sâu bốn thước. Phía tây có đầm Đạm Thuỷ, thuyền buôn thường đỗ ở đây…”

Không chỉ có cá mai

Đề Gi chẳng có nghĩa gì cả và chẳng ai biết cái tên làng ấy có từ bao giờ. Ông Nguyễn Văn Tri, chủ tịch xã Cát Khánh cho biết thêm, ngoài tên Đề Gi, làng biển này còn có một tên khác: JéJi. Cuối thế kỷ 19, người Pháp lập một trạm thu thuế muối đặt tên là JéJi, có lẽ ghi âm từ “Đề Gi” mà ra. Trạm thuế quan này kiểm soát toàn bộ vùng muối Đề Gi. Nước trong đầm Đề Gi mặn chằng nên hạt muối to và trắng. Sau ngày giải phóng, từ chợ Gành xuôi về Ngãi An, hai bên đường chỉ thấy những ruộng muối… Mấy năm sau này, ruộng muối hẹp dần, nhường chỗ cho ao nuôi đặc sản cá mú, cá chua… nhưng theo lời ông Tri, “Đề Gi vẫn là vùng muối lớn nhất tỉnh Bình Định, lớn hơn cả vùng muối Hà Ra, Phú Thứ bên xứ Phù Mỹ. Còn về chất lượng, muối Đề Gi ngon hơn cả muối Sa Huỳnh, Cà Ná…”

Cứ cuối tuần, ông Phan Thanh Tâm (kỹ sư xây dựng) ở thành phố Quy Nhơn về Đề Gi ăn món gỏi cá trỏng. Gần đây, người ghiền gỏi cá lại thích cá mai hơn vì thịt giòn và ngon hơn cá trỏng. Nước chấm đậm đà làm gỏi cá mai ở đây “bốc” hơn. Có ông bạn sành ăn, đã từng ăn gỏi cá mai nhiều nơi, thừa nhận “gỏi cá mai Đề Gi ngon nhất nước. Con cá mai ở đây múp không chịu nổi”. Cá mai được bắt trong đầm Đề Gi mà chẳng cần đi đâu xa. Ước chừng, mỗi ngày, ngư dân đánh khoảng hai tạ cá mai, bán cho quán để làm gỏi. Tuỳ mùa mà giá khác nhau, thường giá từ 50.000 – 70.000đ, lúc khan hiếm bán với giá 100.000đ một ký. Những ngày cuối tuần, làng biển Đề Gi rộn ràng với những chiếc xe hơi từ Phù Cát, Quy Nhơn… về ăn gỏi cá mai với giá 25.000đ/dĩa (khoảng chừng 20 con). Ở Sài Gòn, muốn ăn gỏi cá mai cũng không quá khó. Chỉ cần gọi điện, chủ quán ướp cá trong thùng đá, gập ghềnh trên quốc lộ 1 khoảng 12 tiếng đồng hồ là có cá để ăn.

Muốn đến làng biển Đề Gi, từ Quy Nhơn, chạy dọc theo đường ven biển Nhơn Hội, khoảng 54 cây số. Còn theo quốc lộ 1, tới ngã ba Chợ Gồm, quẹo phải, ngót nghét 70 cây số. Cho đến bây giờ, chẳng ai hiểu vì sao làng biển ấy lại được mang tên Đề Gi khi mà địa danh này là tên gọi chung của cả một vùng đất gồm năm xã của hai huyện Phù Cát và Phù Mỹ (thuộc tỉnh Bình Định). Có lẽ, vì làng nằm ngay cửa biển.

Ở làng biển này còn có những đặc sản, như cá chua, cá bống mú, cá hồng, sò huyết, lịch huyết… Cũng là những loại cá như những miền biển khác nhưng không hiểu sao, chúng lớn lên ở đầm Đề Gi lại ngon, ngọt và thơm hơn. Nhiều thực khách sang trọng nhưng vẫn thích cách ăn “nhà quê”: luộc hay nướng rồi cuốn bánh tráng, rau sống, chấm nước mắm nguyên chất ngai ngái, chêm với rượu đế Đồng Lâm (cách Đề Gi vài cây số)…

Đề Gi còn nổi tiếng với nghề làm nước mắm, cụ Dệt, nay đã 98 tuổi kể rằng, từng đoàn ghe bầu dong buồm chở nước mắm Đề Gi ra Huế tiến cho triều đình nhà Nguyễn. Còn gần đây, cứ đến tết dương lịch, ông Tri phải mua cả trăm lít nước mắm tặng mấy người bạn ở Quy Nhơn vì nước mắm Đề Gi “đã ăn sẽ khó quên”! Cũng là con cá nục, cá cơm, cá lồ ồ, cá hố, cá sơn, cá thu, cá bạc má, cá ngân… nhưng khi làm mắm ở Đề Gi, mắm lại có vị khác, mùi khác. Người dân ở đây tự hào, nước mắm hay con mắm làm ở Đề Gi ngon hơn những vùng khác là nhờ muối Đề Gi mặn hơn muối ở những vùng khác!

 
Cảng cá Đề Gi. Ảnh: Uyên Thu

Muối mặn cho sản vật tuyệt hảo

Các loại mắm Đề Gi, tuỳ theo mùa mà chọn cá. Cá rửa sạch, trộn đều với muối theo công thức “ba cá một muối”. Để chờ ráo “nước máu”, rồi bỏ vào thạp, sau đó bịt kín, ủ từ bốn đến sáu tháng tuỳ theo loại cá. Thời gian ủ càng lâu càng ngon nhưng không quá một năm vì sợ mắm “xẵng” (đắng). Muốn ăn nước mắm đục, dùng vải mùng lược bỏ xác mắm, chỉ còn nước, chắt vào chai. Còn làm nước mắm trong, quậy đều thùng mắm, dùng vải mùng lược xác mắm nhiều lần. Sau đó dang nắng từ năm tới mười ngày, khi nước mắm chuyển sang màu vàng trắng là ăn. Nước mắm trong tinh chế theo kiểu “gia truyền” có mùi ngai ngái, màu sắc chẳng lấy làm sang. Đã nước mắm phải mặn nhưng nước mắm Đề Gi lại “mặn êm”.

Đến bây giờ vẫn chưa thấy ai đứng ra đăng ký thương hiệu cho nước mắm Đề Gi. TS Nguyễn Thanh Bình (ĐH Luật TP.HCM), một người con của làng biển này, trăn trở: “Muốn giữ được uy tín của nước mắm Đề Gi, không thể sản xuất theo kiểu công nghiệp được mà phải sản xuất thủ công. Nhưng sản xuất thủ công thì phải có cách đáp ứng số lượng cho nhu cầu thị trường. Muốn gì cũng phải đăng ký thương hiệu trước”. Hỏi chuyện, ông Tri ước đoán mỗi năm Đề Gi sản xuất chừng vài ngàn lít nước mắm theo “công nghệ cổ truyền” để ăn và để tặng!

Năm 1994, làng biển Đề Gi tan tác vì khai thác titan. Bãi cát cuối làng là nơi chơi đùa của lũ trẻ trong xóm bỗng dưng bị cày xới, lục tung để tìm một thứ bùn đen mà sau này người dân trong làng mới biết đó là titan. Cát bay mù mịt. Những chuyến xe chở titan xé nát con đường cái quan giữa làng. Cuộc sống nhộn nhịp hơn, ồn ào hơn, phá vỡ nhịp sống quen thuộc hàng trăm năm nay của một ngôi làng biển. Năm ngoái, công ty liên doanh khai thác khoáng sản Việt Nam – Malaysia hết hạn khai thác. Để lại những vệt cát nham nhở, những gốc dương xiêu vẹo.

Cách đây ba năm, 200ha của khu khai thác titan đã được quy hoạch để xây dựng trung tâm nhiệt điện Sài Gòn – Nhơn Hậu với công suất thiết kế 2.400MW. Đây là dự án của công ty Tân Tạo (TP.HCM). Theo kế hoạch của nhà đầu tư, năm 2013 sẽ khởi công. Nhìn thấy trong tương lai hiện lên một nhà máy nhả khói đen kịt trong không gian xanh ngắt của trời và biển! Mà cũng có thể sẽ không có điều đó. Lạy trời…

Trọng Hiền

Read Full Post »

Bên cạnh củ kiệu, dưa hành, bánh chưng, thịt kho tàu… thì bánh tráng hay còn gọi là bánh đa là món nhâm nhi không thể thiếu trong mâm cơm của người Việt vào những ngày Tết.

Bánh tráng mè
Món bánh tráng mè là một trong những món ăn đặc sản của vùng đất Quy Nhơn, Bình Định nhìn đơn giản nhưng lại được chế biến hết sức công phu.
Bánh tráng mè trắng
Bánh tráng mè trắng.
Bánh tráng mè đen
Bánh tráng mè đen.
Đầu tiên người ta sẽ ngâm gạo vào nước cho đến khi bẻ được hột gạo làm hai. Sau đó ta sẽ xay gạo thành bột mịn vào mang trộn với nước, bột mì và mè (mè đen hoặc mè trắng) Những chiếc bánh tráng mè sau khi phơi nắng sẽ được nướng vàng bên than hồng. Vị béo của bột gạo, cộng với cái bùi của mè tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt của bánh tráng mè.
Bánh tráng sữa
Bánh tráng sữa
Bánh tráng sữa đặc sản Bến Tre.
Có xuất xứ từ Bến Tre, món bánh tráng sữa được làm chủ yếu từ dừa, bột gạo, pha với bột sắn, nước, đường, mè, đậu xanh, lá dứa, sầu riêng… theo một tỉ lệ hợp lý. Khi tráng bánh người ta trải một tấm khăn trên nồi có nước sôi bên trong. Để ra được bánh tráng sữa vừa mềm, vừa dẻo, vừa thơm, phụ thuộc rất nhiều vào kĩ thuật đổ bánh, động tác đổ phải thật khéo léo, nhanh nhẹn, sau đó rắc mè lên trên. Bánh chín người ta để lên nan tre mỏng và phơi nắng từ 3-5 ngày.
Vị bùi béo của nước cốt dừa, độ mịn, mềm của bột gạo kết hợp cùng bột sắn. Đặc biệt mùi thơm của sầu riêng tạo nên hương vị khó quên của bánh tráng sữa.
Bánh tráng dừa nướng
Bánh tráng dừa nướng
Bánh tráng dừa nướng bên than hồng.
Sau bữa cơm gia đình vào ngày Tết, mọi người sẽ ngồi lại với nhau, cùng trò chuyện và cầu mong những điều tốt đẹp cho năm mới. Bên cạnh bánh mứt, hạt dưa, bánh chưng, bánh tét… thì những chiếc bánh tráng dừa được nướng vàng ươm là món ăn không thể thiếu trong ngày xuân của mỗi gia đình.
Bánh tráng dừa nướng cũng được làm chủ yếu bằng bột gạo, đặc biệt bánh tráng phải có thật nhiều nước cốt dừa và một ít bã dừa tạo nên vị bùi bùi, giòn rụm của bánh tráng.
Bánh tráng cuốn tôm thịt
Ngày Tết bên cạnh những món đầy dầu mỡ, thịt cá, mỗi gia đình thường có thói quen cùng nhau thưởng thức món bánh tráng cuốn tôm thịt, thanh đạm, vừa ngon, lại cực kỳ tốt cho sức khoẻ.
Bánh tráng cuốn tôm thịt
Bánh tráng cuốn tôm thịt và nước mắm tỏi ớt.
Bánh tráng dùng để cuốn tôm thịt là bánh tráng phơi sương, ngon nhất là dùng bánh tráng Trảng Bàng của Tây Ninh, bánh tráng có độ dày vừa phải, khi được cuốn cùng tôm, thịt, chấm cùng nước mắm tỏi ớt hay mắm nêm sẽ tạo nên mùi vị hấp dẫn khó lòng mà cưỡng lại.
Bánh tráng chuối
Miền Tây Nam Bộ nước ta trồng rất nhiều chuối từ chuối già, chuối cau cho đến chuối sim, chuối hột, chuối sim… Chuối là loại trái cây có quanh năm chính vì thế người ta đã nghĩ ra rất nhiều cách chế biến chuối, để có thể để dành ăn thật lâu. Một trong những món ăn hấp dẫn từ chuối chính là bánh tráng chuối.
Bánh tráng chuối
Bánh tráng chuối khi nướng lên vừa dẻo vừa giòn, cắn vào một miếng nghe vị ngọt thanh tao tan dần nơi đầu lưỡi. Món ăn giản dị này vì thế mà được nhiều người ưa thích, từ các chị em phụ nữ, các quý ông và các em nhỏ đều bị món ăn dân dã này cuốn hút.
Bánh tráng xoài
Bánh tráng xoài
Bánh tráng xoài đặc sản Nha Trang.
Đây là đặc sản nổi tiếng của huyện Cam Lâm và một số địa phương thuộc tỉnh Khánh Hoà, Nha Trang. Cũng giống như tên gọi món bánh tráng này được chủ yếu từ xoài chính và kẹo mạch nha.
Đầu tiên xoài được gọt vỏ, xay thành bột mịn, được nấu từ 2-3 giờ, đây là khâu quan trọng nhất quyết định độ ngon, mỏng, mịn của bánh tráng xoài. Sau đó cũng như các loại bánh tráng khác, bánh tráng xoài sẽ được tráng mỏng và mang phơi dưới trời nắng từ 7 đến 9 giờ. Đặc biệt bánh tráng xoài không thể gặp trời mưa nếu không sẽ bị đen, xỉn màu và bánh sẽ bị chua.
Ngày Tết đang đến rất gần, bạn hãy lựa chọn cho mình vài loại bánh tráng “đặc sản” ở các vùng miền để cho mâm cỗ Tết cũng như những món thiết đãi bạn bè trở nên phong phú.
Hiền Thu
Nguồn: MASK Online

Read Full Post »

Hơn 200 năm đã trôi qua, kể từ khi phong trào khởi nghĩa của nông dân Tây Sơn thất bại, trên quê hương người anh hùng áo vải Quang Trung (ở huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) vẫn còn lưu giữ nhiều di tích của cuộc khởi nghĩa này. Sức sống của phong trào nông dân Tây Sơn bền chặt trong lòng người dân qua những câu ca dao như “Cây me cũ, bến Trầu xưa/Không nên tình nghĩa thì cũng đón đưa cho trọn niềm” hay câu “Cây me, giếng nước, sân đình/Ơn sâu, nghĩa nặng, dân mình còn ghi”…

  • Đầu năm cầu an
Ngày 28-11-2011 tại Bảo tàng Quang Trung, Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam đã trao bằng công nhận Cây di sản Việt Nam vinh danh cây me cổ thụ trong khuôn viên bảo tàng. Cây me cổ thụ này đã hơn 250 năm tuổi, có chiều cao 24m, đường kính 1,2m, tán rộng che phủ 600m²

Không chỉ ở huyện Tây Sơn (ngày xưa gọi là Tây Sơn hạ đạo) mà ở các huyện An Khê, KBang của tỉnh Gia Lai (thuộc Tây Sơn thượng đạo), những di tích của phong trào Tây Sơn luôn được người dân gìn giữ, tôn sùng như là những gì thiêng liêng nhất trong đời sống tín ngưỡng của mình.

Nhiều người con của đất Bình Định đi làm ăn ở xa, mỗi khi có dịp về quê đều tranh thủ đến Bảo tàng Quang Trung để cầu an. Hàng năm, vào ngày mùng 4 và mùng 5 Tết Nguyên đán, hàng ngàn người dân các tỉnh Bình Định, Gia Lai, Phú Yên… nô nức kéo về Bảo tàng Quang Trung (ở thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn) trẩy hội mừng chiến thắng Đống Đa.

Tất cả đều thành kính, cúi mình dâng hương trước người anh hùng áo vải trong điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt (trong khuôn viên Bảo tàng Quang Trung), rồi sau đó là những lời thỉnh cầu cho một năm mới bình an, sức khỏe, tài lộc dồi dào…

Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt nằm trên nền nhà của cụ Hồ Phi Phúc – thân sinh của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ – ngày xưa. Ngoài làm ruộng, cụ Phúc làm thêm nghề buôn bán nên gia đình thuộc hàng khá giả, ba anh em nhà Tây Sơn được gửi đến nhà thầy giáo Hiến ở An Thái học cả văn lẫn võ.

Ngôi nhà của ông Hồ Phi Phúc là nơi gắn bó với tuổi thơ của anh em nhà Tây Sơn cho đến khi phất cờ tụ nghĩa. Sau khi phong trào nông dân Tây Sơn thất bại, triều đình nhà Nguyễn thi hành chính sách trả thù tàn bạo, tàn phá tất cả những di tích của tiền triều để lại. Với tấm lòng sùng kính những người anh hùng dân tộc, dân làng đã dựng trên nền nhà cũ của ông Hồ Phi Phúc ngôi đình Kiên Mỹ để tưởng nhớ ba anh em nhà Tây Sơn.

Nhằm tránh sự ngăn cấm của triều Nguyễn lúc bấy giờ, người dân gọi đình này là nơi thờ cúng Thành Hoàng. Hàng năm, vào ngày 5-11 Âm lịch, tức vào dịp lễ Thường tân (tết cơm mới), dân làng cúng giỗ “Ba ngài Tây Sơn” nhưng thường chỉ cúng hương hoa và chỉ “mật cáo” chứ không có văn tế. Lời “mật cáo” được bí mật truyền miệng từ đời người phụng tế này đến người phụng tế khác…

 

Cây me cổ thụ đã hơn 250 tuổi trong khuôn viên Bảo tàng Quang Trung.

Dấu tích vườn nhà Tây Sơn còn lưu giữ đến bây giờ là hình ảnh cây me, giếng nước. Giếng nước nhà Tây Sơn được gọi là “giếng thiêng”. Người dân trong vùng, du khách thập phương khi có bệnh thường đến điện thờ thắp hương khấn vái và xin nước uống với niềm tin rằng sẽ khỏi bệnh. Bến Trường Trầu vốn là một bến buôn bán trầu lớn bên bờ sông Kôn ngày xưa. Trầu và cau từ Tây Sơn thượng đạo được hàng đoàn người (đồng bào thiểu số) gùi sau lưng theo đường bộ hoặc chở bằng một loại thuyền nan nhỏ xuống bến Trường Trầu bán về đổi lấy muối, đồ sắt và các sản phẩm khác.

Tương truyền rằng, trước khi dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Nhạc cũng tham gia buôn bán trầu nên người dân Kiên Mỹ cũng như nhiều vùng xung quanh đến nay vẫn quen gọi Nguyễn Nhạc là anh Hai Trầu (cũng như gọi Nguyễn Huệ là chú Ba Thơm, vì thuở nhỏ ông có tên là Thơm và gọi Nguyễn Lữ là thầy Tư Lữ, vì ông có thời đi tu).

  • Khí phách hùng thiêng

Cây me cổ thụ trong Bảo tàng Quang Trung tương truyền do chính tay cụ Hồ Phi Phúc trồng. Hiện nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ cây me cổ thụ được giao cho anh Đỗ Thanh Minh (36 tuổi, nhân viên của Bảo tàng Quang Trung) chăm sóc.

Theo anh Minh, cây me trong vườn nhà Tây Sơn có sức sống bền bỉ, dáng thế vững chãi trong phong ba bão táp, giống như khí phách của người quân tử. Chăm sóc cây me này chỉ gồm những công việc như: làm cỏ, bón phân 6 tháng một lần; phun thuốc (thuốc trừ sâu, mối, kích thích lá…) 3 tháng một lần; hái bớt trái me non (để cây me không kiệt sức) và hái trái me chín để lấy hạt…

 Việc nhân giống me cổ thụ có quy mô bắt đầu từ tháng 10-2005 do công đoàn của bảo tàng tiến hành. Hơn 500 hạt me giống cổ thụ sau một thời gian ươm đã nảy nở mầm xanh, phát triển một cách nhanh chóng. Nhiều du khách đến thăm bảo tàng đều thích mua đem về nhà trồng, đặc biệt là những du khách từ miền Bắc. Thậm chí có người đã mua một lúc hàng chục cây mang về làm quà cho bè bạn. Sau lần thành công “ngoài sức mong đợi” đó, việc nhân giống cây me cổ thụ được các nhân viên Bảo tàng Quang Trung duy trì cho đến nay.

Năm 2008, nhân dịp Festival Tây Sơn Bình Định lần thứ nhất, hàng ngàn hạt me giống cổ thụ đã được Bảo tàng Quang Trung phân phát cho du khách… Anh Minh tâm sự: “Cây me cổ thụ trong Bảo tàng Quang Trung, ngoài giá trị thẩm mỹ, cảnh quan môi trường còn có ý nghĩa sâu sắc về mặt lịch sử, là một biểu tượng cho sự trường tồn trong lòng dân tộc Việt Nam của phong trào Tây Sơn. Đến nay, trải qua bao thăng trầm của lịch sử dựng nước, giữ nước, cây me cổ thụ vẫn mạnh mẽ sống, hiên ngang vươn cao giữa đất trời, chứng kiến bao đổi thay của đất nước.

Với người dân Bình Định, cây me có giá trị đặc biệt, mang khí phách hùng thiêng của người anh hùng áo vải Quang Trung. Vì vậy, không ít người dân đã đến Bảo tàng Quang Trung tìm giống me cổ thụ đem về trồng ở nhà mình”.

 

Du khách đến thăm giếng nước trong Bảo tàng Quang Trung.

Mỗi khi du khách đến Bảo tàng Quang Trung, đầu tiên là vào điện thờ dâng hương, sau đó ra giếng uống nước và rửa mặt, ngồi nghỉ chân đôi lát dưới cây me cổ thụ rồi vào thăm trưng bày triển lãm, xem biểu diễn võ thuật, trống trận Tây Sơn… và hình ảnh Hoàng đế Quang Trung vẫn luôn hiện hữu: Bước lên đỉnh gò cao, tay trái cầm thanh kiếm, tay phải đưa lên cao rồi hướng về phía trước, cất lời hiệu triệu “Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.

HOÀNG TRỌNG

Read Full Post »

Trường Nghị


Sông Nhị hay Sông Hồng, Sử xưa gọi là Sông Phú Lương. Cầu phao trên sông Nhị ở đây muốn nhắc đến là cái cầu mà thời Tôn sĩ Nghị đem binh Lưỡng Quảng và Vân Quý tiến vào Đại Việt cuối năm Mậu Thân (1788).

Theo tài liệu nghiên cứu của TS Nguyễn Duy Chính (Đại Học Ivrin – CaLifornia), Tôn Sĩ Nghị (1720 – 1796), viên tướng tư lệnh lực lượng viễn chinh của nhà Thanh là người tỉnh Chiết Giang, đỗ Tiến sĩ năm 1761, từng theo Phó Hằng (cha của Phúc Khang An) đánh Miến Điện năm 1769. Hoạn lộ của Tôn sĩ Nghị thăng tiến rất nhanh. Từ một công việc nhỏ lo soạn thảo tấu chương, thư từ, Tôn Sĩ Nghị được thăng Lang Trung Bộ Hộ, rồi Đốc Học Quý châu (1770 – 1774), Bố Chính Quảng Tây, rồi Tuần Phủ Vân Nam (1775). Chẳng bao lâu sau làm Tuần Phủ Quảng Tây rồi đổi sang Tuần Phủ Quảng Đông (1785). Năm sau nhận nhiệm vụ điều động quân lương, khí giới giúp Phúc Khang An bình định được loạn Thiên Địa Hội Lâm Sảng Văn ở Đài Loan nên được thăng hàm Thái Tử Thái Bảo, được vẽ hình trưng bày trong Tử Quang Các.

Sơ lược một chút tiểu sử của Tôn Sĩ Nghị để thấy Càn Long sủng ái, tin cậy Tôn Sĩ Nghị như thế nào khi giao cho trọng trách cầm đầu lực lượng viễn chinh. Binh tướng, quân lương được Càn Long cho tổ chức như thế nào để Tôn sĩ Nghị thực hiện chuyến nam chinh ?

Mượn tiếng cứu giúp vua tôi Lê Chiêu Thống, Tổng Đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị được quyền điều động binh mã không những của Quảng Đông, Quảng Tây, mà còn của 2 tỉnh Vân Nam, Quý Châu, quân nghĩa dũng Điền Châu và thủy quân Phúc Kiến. Dưới trướng của Tôn Sĩ Nghị gồm những tướng lĩnh phần nhiều từng xông pha trận mạc, giỏi chiến trận, dày công trạng. Có người từng có hình trưng bày trong Tử Quang Các như Hứa Thế Hanh. Có người từng xuất thân là Võ Tiến sĩ như Ô Đại Kinh, Lý Hóa Long, Hình Đôn Hành …

Ngày 28 tháng mười năm Mậu Thân (25/11/1788), Tôn Sĩ Nghị chia binh làm 3 đạo vượt biên giới Đại Việt. Cánh quân phía đông qua ngõ Nam Quan tiến xuống Kinh Bắc do Đề Đốc Quảng Tây Hứa Thế Hanh chỉ huy, hai Tổng Binh phụ tá là Tổng Binh Quảng Tây Thượng Duy Thăng với Phó Tướng Khánh Thành, Tổng Binh Quảng Đông Trương Triều Long với Phó Tướng Lý Hóa Long. Cánh quân phía Tây qua ngõ Mã Bạch Quan tiến binh theo đường Tuyên Hóa, Tuyên Quang xuống Sơn Tây do Đề Đốc Vân Nam Ô Đại Kinh chỉ huy, hai phụ tá là Tổng Binh Định Trụ và Tổng Binh Tôn Khởi Giao. Cánh quân ở giữa là Đạo quân nghĩa dũng của Thổ Tri châu Điền Châu là Sầm Nghi Đống thống lĩnh, theo đường Long châu sang Cao Bằng tiến xuống Thái Nguyên. Ngoài 3 đạo binh trên, Tôn sĩ Nghị còn có được một lực lượng hổ trợ khác là quân tướng của Lê Chiêu Thống, dù chẳng có bao nhiêu nhưng sẵn sàng bán mạng cho thiên triều.

Chuẩn bị cho cuộc tiến quân của Tôn sĩ Nghị xuống nam, Thanh triều giao cho Tổng Đốc Vân Nam – Quý Châu là Phúc Khang An chuyên trách việc vận trù quân lương. Đường tiến quân từ Vân Nam, Quảng Tây đến thành Thăng Long, Phúc Khang An cho lập tới 70 đồn quân lương to lớn, kiên cố. Chặng tiến quân từ Nam Quan đến Thăng Long là chặng đường bị Nội Hầu Phan Văn Lân ngăn chặn ở Thị Cầu, khi Tôn Sĩ Nghị đang tổ chức hành quân thì Phúc Khang An cũng đã thiết lập được 18 đồn lương. Xem thế mới thấy qua việc tổ chức cuộc chiến nầy, thâm tâm Càn Long đã có mưu lâu dài nắm lấy Đại Việt.

Thâm tâm, mưu đồ nầy còn hiện rõ trong một chỉ dụ cho Tôn Sĩ Nghị, Càn Long vạch ra chiến lược :

“… Cứ từ từ, không gấp vội. Trước hãy truyền hịch để gây thanh thế, sau cho bọn cựu thần nhà Lê về nước tìm tự quân nhà Lê đưa ra đương đầu đối địch với Nguyễn Huệ. Nếu Huệ bỏ chạy thì cho Lê tự quân đuổi theo, đại quân của ta thì đi tiếp sau, như thế, không khó nhọc mà thành công, đó là thượng sách.

Nếu như người trong nước, một nửa theo về Huệ mà Huệ không chịu rút quân, thì phải chờ thủy quân Mân Quảng (Phúc Kiến, Quảng Đông) vượt biển, đánh vào Thuận, Quảng (Thuận Hóa, Quảng Nam) trước, sau đó lục quân mới tiến công cả hai mặt, đằng trước, đằng sau, Nguyễn Huệ đều bị đánh, tất phải quy phục. Ta nhân đó giữ cả hai. Từ Thuận, Quảng vào Nam thì cắt chia cho Nguyễn Huệ. Từ Hoan Ái (Nghệ An) trở ra Bắc thì phong cho họ Lê. Mà ta thì đóng đại quân ở nước ấy để kiềm chế. Về sau sẽ có cách xử trí khác” (chép theo Đại Nam Chính Biên).

Với chiến lược nầy, Càn Long nuôi Lê Chiêu Thống để dùng Chiêu Thống gây nên can qua, dùng người Việt đánh người Việt. Ai thắng ai bại, Ai chết ai sống mặc ai, việc đưa đại quân của Thanh triều vào nằm giữa lòng Đại Việt vẫn thực hiện được để tính kế lâu dài về sau. Nhưng khi đưa binh đến được Thăng Long một cách dễ dàng, Tôn Sĩ Nghị đã tham công, trùng trình làm hỏng cả, đã chôn vùi binh tướng dưới dòng Phú Lương nghẽn cả sông, thây chất thành đống ở Gò Đống Đa.

Nói Tôn Sĩ Nghị đưa binh đến được Thăng Long một cách dễ dàng, nhưng thực sự Tôn Sĩ Nghị đã tốn nhiều thời gian, gian nan hơn dự định, phải tổn thất một viên tướng ở chiến trận Thị Cầu là Vũ Tông Phạm. Nội Hầu Phan Văn Lân và một nghìn tinh binh của Tây Sơn dàn trận bên bờ nam sông Thị Cầu đã làm chậm bước tiến của cánh quân tướng Hứa Thế Hanh, vừa nắm được tình hình cụ thể quân lực, sức chiến đấu của cánh quân nầy, giúp cho Quang Trung Nguyễn Huệ sau nầy tổ chức công thành đồn Ngọc Hồi rạng ngày mồng 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu (30/1/1789).

Ngày 20 tháng một (mười một) năm Mậu Thân (7/12/1788), quân Thanh vào được thành Thăng Long đã bỏ ngõ. Thủy lục quân Tây Sơn đã rút về nam lập phòng tuyến ở Biện Sơn – Tam Điệp Ninh Bình. Từ đây quân Tây Sơn có được một tháng trời để chuẩn bị cho cuộc chiến. Trong một tháng trời đó, Tôn Sĩ Nghị vào Thăng Long, tổ chức ngay lễ tấn phong cho Lê Chiêu Thống (ngày 22 tháng một Mậu Thân). Vua tôi Chiêu Thống cúi rạp thần phục, quân nhà Thanh được mặc sức vơ vét, nhũng nhiễu.

Tôn Sĩ Nghị hội binh ở Thăng Long, cho đạo quân Vân Quý của Ô Đại Kinh bố trí ở Sơn Tây (phía Tây Thăng Long), đạo quân Điền Châu của Sầm Nghi Đống đồn binh ở Khương Thượng (Tây Nam Thăng Long), đạo quân Lưỡng Quảng đóng ở hai bờ sông Nhị, cho làm cầu phao bắc qua sông để thuận tiện đi lại. Cái chết người là chính ở cái cầu phao nầy.

Xét theo cách bố trí binh lực của Tôn Sĩ Nghị, cánh quân của Đề Đốc Hứa Thế Hanh là cánh quân chủ lực. Hứa Thế Hanh đóng quân ở Ngọc Hồi (Thanh Trì, phía nam Thăng Long chừng 13 – 14 km), phía tiền tiêu còn có đồn Hà Hồi (Thường Tín, cách Ngọc Hồi chừng 6 – 7 km) án ngữ, xa hơn phía nam còn có đồn Gián Khẩu (trấn Sơn Nam) do binh tướng của Lê Chiêu Thống trấn giữ. Cánh quân chủ lực nầy nằm nhô xuống phía nam Thăng Long, trong khi các cánh quân của Ô Đại Kinh và Sầm Nghi Đống lại ở tư thế phòng ngự, ngơi nghỉ theo chủ trương của Tôn Sĩ Nghị là chờ sau mồng 6 tháng giêng mới cùng tiến quân xuống Tam Điệp. Từ chủ trương nầy, cánh quân của Hứa Thế Hanh dàn quân theo chiều dọc mà sau lưng là cây cầu phao bằng tre gỗ, không đủ sức chịu đựng cho cả cánh quân nếu phải triệt thoái khi bị tấn công không kháng cự nổi.

Bẻ gãy cánh quân của Đề Đốc Hứa Thế Hanh là phá vỡ bố trí binh lực của Tôn Sĩ Nghị. Để phá vỡ đồn Ngọc Hồi của Hứa Thế Hanh, Hoàng Đế Quang Trung phải chờ cho Đô Đốc Long tiêu diệt Khương Thượng của Sầm Nghi Đống xong mới từ thế bao vây chuyển sang tấn công Ngọc Hồi. Cánh quân của Thổ Tri châu Sầm Nghi Đống gồm những thổ binh người thiểu số được chiêu mộ dưới tên gọi là quân nghĩa dũng. Không phải là đội quân chính quy, quân số ít, nên lực lượng nầy phải nhờ sự yểm trợ, Tôn Sĩ Nghị bố trí cho nằm giữa 2 cánh quân Lưỡng Quảng và Vân Quý. Cánh quân Khương Thượng của Sầm Nghi Đống dù sao cũng nằm bên sườn của Ngọc Hồi. Tiêu diệt Khương Thượng là cắt đứt lực lượng tiếp cứu cho Ngọc Hồi. Phá vỡ Ngọc Hồi là phía sau sẽ rùng rùng bỏ chạy. Lúc nầy cây cầu phao trên sông Nhị gánh trên mình sự sai lầm của viên tướng viễn chinh Tôn Sĩ Nghị.

Trong 8 điều quân luật mà Tôn Sĩ Nghị ban bố trước khi xuất quân, có một điều liên quan đến phù kiều (cầu phao), theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí :

Điều thứ 6. Đại binh đi đường, nếu gặp khe suối, dòng sông, chỗ nào nước sâu thì phải lấy tre, gỗ bắc !àm cầu phao, để binh mã vượt qua cho tiện, chỗ nào sông hẹp nước nông, thì viên quan coi quân phải dò thử đích xác, rồi cho quân lính nối tiếp nhau như xâu cá mà kéo đi. Lúc xuống nước không được đem bùi nhùi, thuốc súng bạ đâu vứt đấy để bị ẩm ướt.

Hiện nay chưa có một tư liệu nào xác định rõ quy mô cái cầu phao mà Tôn Sĩ Nghị đã cho bắc qua sông Nhị. Nhưng cũng có thể hình dung được cây cầu có thể được tạo tác nên bằng tre nứa, có thể đặt trên những cái thuyền nhỏ nối kết lại với nhau. Dĩ nhiên bằng cấu tạo nào đi nữa, cây cầu cũng không thể nào chịu đựng nổi cả một đoàn quân hỗn độn thưở ấy cùng vượt qua.

Tư liệu, sách sử người nhà Thanh như Thánh Vũ Ký cho rằng chính Tôn Sĩ Nghị khi đã qua được bên kia cầu, đã hạ lệnh cho chặt đứt cầu để tránh quân Tây Sơn truy kích. Cũng giống như vậy, Thanh Sử Cảo còn cho biết thêm Võ Tiến sĩ Lý Hóa Long lọt xuống sông chết đuối khi cầu phao bị đứt. Các Đề Đốc Hứa Thế Hanh, Tổng Binh Thượng Duy Thăng, Trương Triều Long … không qua được, giao chiến, tử trận phía nam cầu. Cây cầu phao trên sông Nhị lại mang thêm dấu tích của kẻ qua cầu rút ván.

Đại bại dưới tài cầm quân của Hoàng Đế Quang Trung, nhờ tướng Khánh Thành bảo vệ chạy về đến Nam Quan, Tôn sĩ Nghị uất ức vạch vào tấm ván gỗ trước sụt sùi của Lê Chiêu Thống :

–   Mối hận nầy không giết được Quang Bình (tên tộc của Quang Trung Hoàng Đế) không thôi (dẫn theo Lê Quý Dật Sử).

Chẳng bao lâu sau Tôn Sĩ Nghị bị triệu về kinh, bị tước cả hồng bảo thạch, song nhãn hoa linh, bị thu hồi cả tước Mưu Dũng Công được ban cho lúc cầm quân nam chinh. Phúc Khang An thay thế làm Tổng Đốc Lưỡng Quảng, Đề Đốc cửu tỉnh binh mã. Nắm trong tay binh mã của chín tỉnh, nhưng Phúc Khang An chủ trương hòa hoãn với Đại Việt. Nhà Thanh bang giao với Hoàng Đế Quang Trung, Lê Chiêu Thống chết trong tủi nhục bên đất Trung Hoa, Tôn Sĩ Nghị không thực hiện được lời thề khắc trên ván.

Tôn Sĩ Nghị thất trận, bị triệu về kinh, tưởng là con đường hoạn lộ không còn hanh thông nữa. Nhưng thật ra về kinh, Tôn Sĩ Nghị được nhận chức Binh Bộ Thượng Thư, sung Quân Cơ Đại Thần. Mùa đông năm đó (1789) triều đình bổ làm Tổng Đốc Tứ Xuyên. Năm 1791 được triệu về kinh làm Lại Bộ Thượng Thư, Hiệp Biện Đại Học Sĩ … sau là Lễ Bộ Thượng Thư, Văn Uyên Các Đại Học Sĩ (1792).

Cầu phao sông Nhị đã vùi chôn tính mạng những chiến tướng dưới trướng của viên tư lệnh vô cảm, qua cầu rút ván. Tưởng là cầu phao sông Nhị vùi chôn luôn sự nghiệp của viên tướng tư lệnh nam chinh. Nhưng Tôn Sĩ Nghị còn có một cây cầu khác để bước qua máu xương của đồng đội. Tôn Sĩ Nghị đã nhờ vào cây cầu thân cận, nhờ vào quyền lực của Hòa Thân (Hòa Khôn) để che lấp những sai trái của mình. Theo đồn đại, Hòa Thân có khuôn mặt hao hao giống một tỳ thiếp của Càn Long, người tỳ thiếp nầy đã qua đời do lỗi của Càn Long. Càn Long ưu ái, nuông chiều Hòa Thân xem như là cách giải tỏa mặc cảm tội lỗi. Nhờ vậy Hòa Thân thao túng, làm loạn chốn quan trường, Càn Long vẫn bỏ qua và luôn nghe lời Hòa Thân. Nhờ mật ngọt của Hòa Thân rót vào tai Càn Long nên hoạn lộ của Tôn Sĩ Nghị vẫn cứ thông đường, sau vẫn cứ có hình vẽ trưng bày trở lại ở Tử Quang Các.

Sau nầy vào năm 1799, vua Gia Khánh nhà Thanh (con vua Càn Long) cho hành quyết sủng thần của cha mình là Hòa Thân với tội danh tham nhũng, lạm dụng chức quyền (Wikipedia). Phe đảng của Hòa Thân, phần Tôn Sĩ Nghị lúc nầy đã mất, nên con của ông bị Gia Khánh phế bỏ tập tước, cho ra khỏi kỳ binh, trở về nguyên tịch. Theo tài liệu của TS Nguyễn Duy Chính, trong lời dụ của Gia Khánh có câu nhận định về Tôn Sĩ Nghị trong cuộc nam chinh : “… có ý tham công, trùng trình cho nên làm hỏng việc, thua trận chạy về. Lời tâu lên phần lớn chỉ là lòe loẹt bề ngoài (sớ tấu đa hữu hư sức) …”

Tôn Sĩ Nghị đã sử dụng cây cầu thân cận để thẳng bước trên đường hoạn lộ, nên Tôn Sĩ Nghị sẵn sàng, không chút chùn chân, dễ dàng bước qua những cây cầu kiểu như Cầu Phao Sông Nhị, dù cho nó làm tổn thất sinh mệnh những người đã chiến đấu bên cạnh mình. Đối với người Việt, Cầu phao sông Nhị cũng đã vùi chôn luôn võ nghiệp, nhân phẩm của Tôn Sĩ Nghị. Vua Càn Long được tiếng là một minh quân, triều Càn Long là một triều đại hưng thịnh của nhà Thanh, nhưng Càn Long không tránh khỏi sai lầm vì yếu lòng, vì những mật ngọt.

Xuân Nhâm Thìn 2012

THAM KHẢO

•     Một Võ Trạng Nguyên Trung Hoa Tử Trận Tại Việt Nam  –  Bài viết của TS Nguyễn Duy Chính
•    Tìm Hiểu Thiên Tài Quân Sự Nguyễn Huệ   –  Nguyễn Lương Bích và Phạm Ngọc Phụng
•    Lê Quý Dật Sử  –  Bùi Dương Lịch
•    Khâm Định Việt Sử  –  Quốc Sử Quán Triều Nguyễn
•    Hoàng Lê Nhất Thống Chí  – Ngô Gia Văn Phái
•    Nhà Tây Sơn  –  Quách Tấn và Quách Giao

Read Full Post »

Tình ca

Ban Mai

Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời
À à ơi! Tiếng ru muôn đời
Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…(1)

Lâu lắm rồi, tình cờ nghe lại bài hát xưa, lòng tôi buồn quay quắt. Giai điệu cũ, gợi trong tôi bao kỷ niệm của một thời thơ ấu. Bài hát làm tôi nhớ những đêm giao thừa của thuở còn để tóc bum bê, nhảy lò cò trước sân cùng tụi bạn hàng xóm.

Những ngày cận Tết, cả nhà dọn dẹp, lau chùi, đánh bóng lư đồng để đón khách và đón anh hai, chị tư tôi đi học xa trở về. Tôi nhớ, tôi hãy còn nhỏ lắm, tôi và em kề được mẹ sai lau các cửa kính rồi rửa bộ tách trà mời khách. Mẹ dặn kỹ bộ trà Nhật dễ bể, mấy đứa nhẹ tay thôi. Vậy mà cũng không xong. Tôi cũng không hiểu vì sao bình trà vỡ toang. Con em mặt xanh lét, sợ mẹ la, nó đỗ thừa cho tôi. Tôi đứng chết trân nhìn con em run như cầy sấy. Mẹ xót của la một trận tơi bời vì tính cẩu thả, tôi giận nó khóc vùi đêm đưa ông Táo về trời.

Áp Tết, chị em tôi xúm ra ngoài ngõ ngồi châu đầu bên nồi bánh tét để nghe anh hai kể chuyện ma. Đêm khuya trời lập xuân se lạnh, đứa nào cũng run lập cập. Nhìn cả dãy phố nhà nào cũng giống nhà tôi. Dọc con đường bập bùng ánh lửa thơm mùi nếp chín, nhấp nhô đầu người. Trẻ con lăng xăng chạy qua chạy lại. Mấy ông bà lão ngồi trên vỉa hè nhai trầu, nói chuyện râm ran.

Năm nào cũng vậy, ba mua một nhành mai lớn cắm giữa phòng khách, chị em tôi xúm xít treo thiệp chúc xuân, anh tôi giăng những vòng đèn nhấp nháy. Mẹ tôi thích chưng hoa cúc đại đóa, hoa hướng dương. Chị tôi lại thích hồng nhung. Còn tôi cũng để một chậu chân chim bé xíu trên bàn học. Bàn thờ Phật phải là hoa sen trắng, bàn thờ ông bà là hoa huệ. Nhà tôi tràn ngập các loài hoa đủ màu.

Chiều ba mươi Tết, sau khi dọn dẹp nhà cửa, chị em tôi tắm gội tẩy trần. Bé út như mèo sợ nước cũng khoái chí ngâm mình trong làn nước ấm. Nồi nước tắm thơm mùi lá chanh, lá bưởi chị tôi mua sẵn ngoài chợ lúc chiều. Như một nghi lễ, ai cũng muốn thân thể mình trong sạch đón năm mới. Những đêm giao thừa, chúng tôi chen lấn trên cái giường đôi khá lớn xem ti vi, chờ giờ khắc thiêng liêng. Ba mẹ chuẩn bị bàn thờ cúng rước ông bà và mâm ngũ quả cúng giữa nhà, cả cái giếng ở góc sân ba cũng bày một mâm cúng hà bá. Mùi nhang trầm lan tỏa khắp nhà. Tôi hỏi ông hà bá mà cũng biết ăn hở ba. Ba la, nói tùm bậy, con nít không nên vô lễ với trên trước. Tôi không hiểu tại sao lại như vậy.

Anh hai tôi có trọng trách đốt pháo, mấy chị em chạy theo anh lên sân thượng, nhìn anh treo những phong pháo nối dài. Tí tửng vỗ tay, sau đó tranh nhau chạy xuống cầu thang, nép mình bên nhau hồi hộp chờ tiếng pháo nổ. Những tràng pháo nổ giòn vang nối tiếp từ nhà này sang nhà khác, mang niềm hân hoan đến cho mọi người. Thỉnh thoảng những cái pháo tống to tổ bố nổ đùng đùng, ù cả tai. Khói pháo mù mịt tràn ngập thành phố. Cu út bao giờ cũng lăng quăng chạy mò xác pháo, tìm xem có cái pháo đẹt nào chưa nổ để nó châm ngòi. Những cái pháo đẹt ấy, chỉ xịt ra một chút lửa, cu cậu đã thích chí la toáng lên rồi. Trong cái se lạnh của năm mới, lòng ai cũng lâng lâng một niềm vui khó tả. Tôi thích dậy sớm sáng mồng một để mặc đồ mới, sắp hàng chờ mẹ lì xì và chờ những lời chúc Tết của ba. “Năm mới thêm một tuổi các con phải ngoan, học giỏi.” Ba tôi luôn giữ nếp nhà. Nhưng nếp nhà của ba, liệu sẽ ra sao khi đàn con khôn lớn, khi xã hội đổi thay?

Tôi còn nhớ, mồng một Tết mẹ thường căn dặn chị em tôi không được chạy qua hàng xóm xông đất, người ta cữ. Có chuyện gì cả năm họ đổ thừa. Xác pháo đỏ thắm tung đầy sân, mẹ cũng chờ xong ba ngày Tết, chúng tôi mới được quét dọn. Sáng sớm mồng một, cả nhà đi chùa lễ Phật, hái lộc đầu xuân, xin xăm, rồi đi chúc tết ông bà.

Tôi còn giữ tấm hình cả nhà chụp chung Tết năm 75 như một báu vật. Ba mẹ tôi đứng giữa mỉm cười hạnh phúc, đàn con xếp lớp đứng theo thứ tự toét miệng cười tươi. Tấm hình đó giữ hộ cho chúng tôi tất cả sự yên lành của một thời niên thiếu.

Rồi thời đại thay đổi. Hoàn cảnh gia đình tôi cũng đổi thay.

Tôi nhớ những năm đầu hòa bình, cuộc sống gia đình tôi chừng như đảo ngược. Ba mẹ tất tả ngược xuôi. Tôi không hiểu gì cả. Ba “không được lưu dụng.” Cũng như cậu, dượng cũng “không được lưu dụng,” dù họ tài hoa. Cậu, dượng về quê cày cuốc kiếm sống. Thơ phú, hội họa gác trên chái nhà. Đêm đêm làm bạn với chiếc radio nghe lén thời sự nước ngoài. Riêng ba tôi vẫn ở lại thành phố, ông nỗ lực tự làm việc theo cách riêng của mình. Những công việc trước đây ba không hề nghĩ đến. Tôi vẫn nhớ tiếng cửa sắt ken két lúc nữa đêm ba lách mình ra khỏi nhà lên rừng mua song mây hay làm thủy lợi, trồng rừng… cho dù mưa hay nắng, cho dù trời lạnh như cắt da. Ba nói ba khổ cực chỉ mong các con học thành người, sau này không ai ăn hiếp. Ba dạy chúng tôi làm người không được sống quỳ. Tôi biết chị em tôi đã may mắn lắm. Mấy đứa bạn tôi, tan tác khắp nơi. Có đứa bỏ học nữa chừng theo nhà đi kinh tế mới, dù ba nó đi cải tạo chưa về. Có đứa thi đậu đại học mấy lần, mà lần nào cũng không được đi học vì lý lịch “quá đen.” Trong lớp, nhìn qua nhìn lại tự dưng thấy thưa dần, tụi nó biến mất trong im lặng.

Đã hết rồi những tiếng cười trong như pha lê của lũ bạn tôi vang vang trên bờ biển vắng. Đã hết rồi những ước mơ ngông cuồng làm nhà du hành vũ trụ, nhà bác học tài ba.

Con người như mầm cây luôn cần không khí và ánh sáng, tự dưng bị chụp kín bốn bề. Mầm cây muốn sống phải vươn ra ngoài ánh sáng cho dù bị bầm dập đau đớn hay bị đứt gãy nữa chừng. Đó là quy luật của cuộc sống không gì ngăn cản được

Sau này tôi mới hiểu vì sao trong giai đoạn đó, ba luôn luôn nói thích ăn cơm cháy.

Nhà đông con, cơm trộn mì vẫn không đủ bữa ăn. Ba luôn nhường nhịn cho con mình ăn trước, và cứ nói ba thích ăn cơm cháy. Mỗi lần nghĩ lại tôi muốn ứa nước mắt. Trước đây ba tôi có bao giờ thích cơm cháy đâu. Nhà có người làm, nhưng mẹ vẫn thích tự lo cơm nước tươm tất cho ba. Tôi nhớ, nhà ưa đãi tiệc, ba thường dẫn đi ăn tiệm cuối tuần. Chưa bao giờ chúng tôi tưởng tượng có ngày phải ăn cơm trộn khoai mì.

Xưa kia, mẹ làm y tá. Ở nhà mở tiệm thuốc Tây bán theo toa bác sĩ. Bây giờ phải lén lút bán thuốc chữa bệnh như đi ăn trộm, sợ công an đến hỏi thăm bất ngờ.

Ba bực bõ nhất quyết không chịu thua. Ba tìm cách mở quầy bán sách cho mẹ trông và cũng có sách cho con mình đọc. Tôi nhớ sách thời đó, toàn là sách của Liên xô gáy cứng giấy trắng in đẹp. Không hiểu tại sao, được vài năm nhà tôi bị kiểm kê không cho bán sách nữa.

Tôi thích đọc Bông Hồng Vàng của Pautôpxki, Cánh Buồm Trắng của Aimatôp, Chiến tranh và Hòa bình của L. Tônxtôi… còn sách của Việt Nam, Hà Nội in giấy vàng xỉn, đen thui, toàn là Chị Út Tịch, anh hùng Nguyễn Văn Trỗi… tụi tôi đọc chán ngắt. Tôi cứ tiếc tủ sách Tuổi Hoa tôi thường đọc ngày trước nào là hoa xanh, hoa đỏ, hoa tím, tạp chí Thiếu Nhi của Nhật Tiến, Tuổi Ngọc của Duyên Anh, với những hình vẽ của họa sĩ Vi Vi mà cả thảy chúng tôi đều yêu thích…rồi truyện tranh Tin Tin, Phan Tân – Sỹ Phú, Lữ Hân – Phi Lục, Lucky Luke, Astérix – Obélix, truyện dịch, tủ sách Tự lực văn đoàn, tủ sách học làm người của Nguyễn Hiến Lê… những quyển sách lý thú một thời tôi say mê, không hiểu sao nhà nước lại tịch thu.

Tôi nhớ những đêm khuya ba ngồi canh chị em tôi học thi, mẹ đem cho chúng tôi từng ly sữa. Nhiều hôm học mệt lười biếng tôi ngủ. Bỗng thức giấc khi thấy ba bỏ mùng, hay đập tôi dậy vì ngủ gục.

Nếp nhà của ba mẹ, chị em tôi luôn cố gìn giữ. Cho dù mỗi người một cuộc đời thăng trầm với nhiều chí hướng.

Ngôi nhà ngày xưa nay không còn nữa, nó đã thuộc về một người chủ khác. Ba tôi cũng đã mất rồi. Nhưng những kỷ niệm của gia đình tôi trong mái nhà xưa mãi là điều thiêng liêng mà chị em tôi vẫn luôn gìn giữ. Tận trong sâu thẳm chúng tôi biết ngôi nhà cũ mãi mãi toả sáng, nó luôn trở về trong giấc mơ tôi.

Tôi nhớ những cánh mai vàng nở sớm, rung chậm rãi trong không gian hiu hắt của đêm, những cánh mai nhỏ xinh xắn vẫn còn vàng lịm trong trí nhớ tuổi thơ tôi.

Tôi nhớ căn nhà bên rẻo biển của mình, những đêm khuya gió thổi rào rạt, hương muối mặn nồng. Tôi nghe rõ tiếng sóng vỗ vào bờ cát, như tiếng ru êm của mẹ vỗ vễ giấc khuya. Tôi nhớ tiếng ghe thuyền đánh cá, tiếng í ới của các ngư dân ra khơi sớm và cả tiếng con thằn lằn tặc lưỡi trên bức vách đầu đêm.

Nhớ ơi là nhớ cầu thang ba làm ngoài trời để đón gió biển, tôi thường ngồi lặng hàng giờ để ngắm mặt trời lên hay ngắm mặt biển dát vàng những đêm trăng sáng.

Có ai trong cuộc đời không một lần ao ước trở về thời bé dại:

Cho tôi lại ngày nào
Trăng lên bằng ngọn cau
Me tôi ngồi khâu áo
Bên cây đèn dầu hao
Cha tôi ngồi xem báo
Phố xá vắng hiu hiu…(2)

Nhưng những ao ước trở về của chúng tôi vượt qua giấc mơ tuổi nhỏ, vượt qua nỗi ham muốn trở về với quá khứ tuổi hoa niên, chỉ giản dị là ước muốn trở về với một xã hội đạo đức, lương thiện, nồng ấm tình người.

Cuộc sống, tôi biết, là những vòng quay, rồi có lúc con người cũng trở về nơi chốn cũ. Có những sự trở về thật tình cờ trong tâm tưởng, bất chợt từ một giai điệu bài hát, một hình ảnh thân quen hay một mùi vị gợi nhớ… giúp ý thức những mất mát của thời đã qua. Cũng có sự trở về như những chuyến hành hương để được tắm trong nỗi buồn vui được mất của kiếp người cùng màu da, ngôn ngữ.

Nhưng, cũng có sự trở về đầy khó khăn, trăn trở trong ước muốn thầm lặng mà quay quắt, cùng nhau xây lại ngôi nhà mà cha ông đã gây dựng. Dù biết chắc con đường phía trước vẫn còn nhiều chông gai, con người vẫn muốn trở về.

Về, để không bội ước.
Về để ước mơ trên chính quê hương mình.

————–
Ghi chú:
1. “Tình ca” – Phạm Duy
2. “Kỷ niệm” –Phạm Duy

Read Full Post »

BS  Đổ Hồng Ngọc

 

Chủ nhật 8.1.2012 (rằm tháng Chạp) tuy đang có việc bận ở bệnh viện, tôi cũng ráng thu xếp chạy đến Sông Trăng nơi xunau.org hẹn hò để chào, để thăm và để chúc mừng các bạn trong buổi họp mặt Mừng Xuân sớm. Tôi đọc được thông báo trên mạng, tuy chưa quen ai biết ai trong nhóm mà lòng cũng thấy nôn nao…
Xunau.org ra mắt chưa lâu mà đã tỏ rõ là một trang web văn chương nghệ thuật chửng chạc, dễ thương, đặc trưng của một vùng miền, vốn là một trong những cái nôi của văn học, ở đó mỗi con người, dòng sông, bãi cát, rặng dừa… đều mang hơi hướm văn chương thi phú của một vùng đất văn học, võ học, vùng đất thiêng- cố kinh của một thời xưa nhan sắc. Tôi nói đặc trưng không phải chỉ vì bài vở được chắt chiu, chọn lọc, minh họa sắc sảo mà còn toát ra một nỗi nồng nàn tha thiết hiếm thấy qua những “còm” (comment) với một sắc thái riêng không lẫn vào đâu được. “Còm” này chồng lên “còm” kia, chuyện chung chuyện riêng nhiều khi chẳng ăn nhập gì với nội dung bài viết, xunau.org bỗng trở thành một nơi cho người ta trải những hẹn hò, những hờn dỗi, yêu thương, trách móc, cợt đùa… Ở đâu tìm được một trang web văn chương mà ngộ nghĩnh đến vậy? Không đao to búa lớn, chỉ những ngọt ngào, chua chát, đắng cay, và những yêu thương, da diết, giận hờn… Cái “văn chương chi sự thốn tâm thiên cổ” có vẻ được “chứng minh” rõ nhất ở đây, bởi nó từ tấm lòng đến với tấm lòng, một thứ “trực chỉ chân tâm”…
Nó có cái giọng riêng, tiếng nói, ngôn ngữ không lẫn, mà trước đây có người đã nhận định rằng là bởi nó nằm giữa Hải Vân và Đèo Cả, tạo nên một vũng trũng cho những tâm tình, nên tiếng nói, ngôn ngữ có cái hồn riêng của nó.

(Hàng trên: Hà Thúc Hùng.Vinh Rùa ,Ngô Quang Hiển,Văn Công Mỹ

Hàng dưới:Trần Dzạ Lử,Đổ Hồng Ngọc,Lương Viết Khiêm,Nguyễn Quy}

.
Tôi lớ ngớ đến Sông Trăng, chưa quen biết ai trong nhóm xunau.org, mong gặp chủ nhân hay “chủ xị” gì đó của buổi họp mặt mừng xuân để chào một tiếng, chúc Tết rồi lui. Một người hãy còn trẻ, khá đẹp trai, dong dỏng cao, dáng gầy, thấy kiểu lớ ngớ của tôi nhã nhặn hỏi: Anh kiếm ai? Kiếm Ngô Quang Hiển. Em là Hiển đây. Còn anh là ai? Anh là…Đỗ Hồng Ngọc. Ôi anh Đỗ Hồng Ngọc hả? Anh Đỗ Nghê hả? Rồi Hiển ôm chầm lấy tôi, siết chặt muốn ngộp thở! Không ngờ anh đến. Mừng quá! Mừng quá! Vào đây. Vào đây. Hiển lôi tôi vào. Anh đến thăm chút đi ngay. Không được. Vào đây. Mấy bạn gặp anh mừng lắm đó.
Vẫn biết anh em trong làng xưa nay chưa lần gặp gỡ mà tình đã thâm, như “ từ muôn kiếp trước”, nhưng tôi vẫn bất ngờ và cảm động. Sông Trăng còn vắng. Chỉ có mấy bạn đến sớm, có lẽ trong ban tổ chức. Đây rồi, có Trần Dzạ Lữ, quen lâu! Rồi biết thêm LươngViết Khiêm, Nguyễn Quy, Ngô Đình Hải, Ngô Thành Hùng, Mai Thanh, Lê Đức Vinh, Văn Công Mỹ và một người từ Đà Lạt xuống từ khuya: Hà Thúc Hùng! Khiêm, giọng Huế trân, nói tôi Huế gốc nhưng là thân hữu của xunau.org, đã đọc anh Đỗ Nghê từ thuở Thư cho bé sơ sinh, một bài thơ quá hay, nhớ mãi!  Nguyễn Quy bảo:  “Em là Tú gàn. Ba mươi năm trước, ẳm con lại anh chữa bệnh nên em gọi anh là “bác sĩ của con tôi” trong cái “còm” bài thơ Rùng mình của anh trên xunau”. Các bạn đều nói đọc Rùng mình thấy rùng mình thiệt! Lê Đức Vinh hóa ra là Vinh Rùa. Vinh rùa là “vua rình” đó anh! Vinh tự giới thiệu. Rồi nói thêm: Trần Dzạ Lữ là người ở trần… đi trong đêm. Dzạ Lữ là đi đêm, mà lại ở trần nữa! Tôi hỏi nhỏ Trần Dzạ Lữ: Lúc rầy sao rồi? Còn dang nắng giữ xe đạp nữa không? Không anh. Lúc này tôi toàn ngồi… phòng lạnh! Nhớ xưa Trần Dzạ Lữ ôm một chồng “Hát dạo bên trời” tìm đến bạn bè. Mai Thanh, người đẹp duy nhất đến sớm, là người đang viết luận văn về tạp chí Bách khoa… Văn Công Mỹ nói  ai hỏi em làm gì, em nói em “bán nước” anh ạ. Văn Công Mỹ chính là chủ quán Sông Trăng mà! Mỹ nói thêm: Em mua một lúc 3 cuốn Nghĩ từ trái tim của anh, một cho mình, một cho bà xã còn một cho thằng con trai chưa đầy 30 tuổi.  Nó còn nhỏ, đọc sao được? Tôi hỏi.  Không, nó còn kêu tụi em sao không dẹp tiệm Sông Trăng này đi để mà lo tu tập đó anh ạ. Văn Công Mỹ gọi phu nhân ra giới thiệu, đây là “cook” chính của Sông Trăng đó anh! Bà chủ nồng nhiệt bắt tay mừng rỡ vì cũng đã quen lâu qua Nghĩ từ trái tim! Nhờ đến sớm, tôi được Hiển tặng ngay cuốn Một thời để thương yêu của Mang Viên Long và tập thơ-nhạc của Bùi Chí Vinh, Nguyễn Hiệp, Nguyễn Lâm. Tuyệt vời!…
Tiếc phải về sớm không được gặp thêm các bạn bè khác đông vui của xunau.org trong ngày họp mặt này. Xin hẹn lại một dịp khác.
Phải nói thêm rằng cái duyên đến với xunau.org của tôi là nhờ bài thơ Rùng mình. Vừa xuất hiện trên xunau.org đã có ngay gần 60 cái “còm” của bè bạn, thật bất ngờ!
Bài thơ lại không do tôi gởi – vì trước đó tôi không biết có xunau.org –  mà do Trương Văn Dân, tác giả “Bàn tay nhỏ dưới mưa” – một người xứ nẫu chính hiệu- chọn và gởi đi. Trương Văn Dân cùng với phu nhân là Elana còn nhiệt tình hứa sẽ “rùng mình” để dịch Rùng mình sang tiếng Ý và tiếng Pháp!
Rồi Trần Dzạ Lữ, rồi Mang Viên Long, Cao Quảng Văn, … những người bạn của “những ngày xưa thân ái” đã “còm” trên xunau.org nói Đỗ Hồng Ngọc… chính là Đỗ Nghê, tác giả của Thư cho bé sơ sinh, Lời Ru, Tâm sự Lạc Long Quân… của tập “Tình Người”, của tuyển sinh viên “Tiếng hát những người đi tới”…gần nửa thế kỷ trước! Lâu nay nhiều người đọc thơ Đỗ Hồng Ngọc, tưởng bác sĩ … mà bày đặt đi làm thơ, nhưng khi biết đó là Đỗ Nghê thì hóa ra “nhà thơ” mà bày đặt đi làm… bác sĩ! Lộ tẩy hết trơn.
Cảm ơn các bạn. Cảm ơn xunau.org! Chúc Năm Mới thân tâm an lạc.

Read Full Post »

Không chỉ là vùng đất có địa danh rồng, Bình Định còn là xứ sở của thành quách, đền đài, chùa tháp cũng gắn liền với tên rồng thiêng.

Bình Định là một vùng đất đặc biệt với phía Đông là biển cả, ba mặt Tây, Nam, Bắc là ba dãy non xanh nối nhau lại thành hình một chiếc ngai rồng vĩ đại. Vì vậy, tôi gọi Bình Định là chốn “nước non rồng”.
Năm Nhâm Thìn này, chúng ta cùng du Xuân về Bình Định với những địa danh, chùa chiền, ngà tháp mang tên con rồng linh thiêng, huyền thoại và đầy thi vị này.
Trước hết, xin mời các bạn về với non nước Hương Sơn phong cảnh hữu tình, lại có nhiều cổ tích. Đây là địa danh với “Ba mặt đồng xanh một mặt sông/ Non Hương đoanh lộn gió hương lồng/ Sườn cây điểm sỏi phơi vằn báo/ Dòng sóng chen mây ảnh vẩy rồng/ Lũy chất trung can hàng đá dựng/ Nền xây thánh đức lớp rêu phong/ Cùng non tháp cổ bền mưa nắng/ Tiếng địch chiều hôm gửi nhớ nhung”.
Quả đúng như lời ca, nơi đây có những tên núi, tên sông khá nổi tiếng mà trong đó có những hòn núi mang thành tố “Long” như hòn Hưng Long (Bình Khê) hay hòn Khánh Long đầy huyền thoại. Người ta ví hòn Khánh Long với hòn Trà Sơn như anh em sinh đôi. Chỉ khác nhau một điểm đó là hòn Trà Sơn có đá mọc ở sườn phía Tây, còn hòn Khánh Long thì hoàn toàn bằng đất sỏi.
Mũi Vi Rồng
Mũi Vi rồng.
Theo truyền thuyết kể lại, ngày xưa, xưa lắm, lúc mà ông Trời, bà Đất hết khăng khít với nhau, ông bay lên cao, bà hạ xuống thấp, bỏ nước non mây ráng bơ vơ. Ông Khổng Lồ lo việc sắp đặt núi non cho có thứ tự. Sau khi sắp xếp xong các dãy núi ở Bình Định, ông lựa hai hòn núi cân đối rồi quay nhanh đi chơi. Nhìn nước nhìn mây, cao hứng quên cả gánh núi trên vai. Đòn gánh chích, đôi gióng nghiêng, đôi núi lăn cù xuống đất. Núi rớt thình lình, Khổng Lồ vừa giật mình vừa mất thăng bằng suýt ngã. Để khỏi ngã, ông liền bầm chặt một chân xuống đất, một chân bước dãng ra trước mặt để chống. Tuy khỏi bị ngã, nhưng bị cụt hứng, ông tức mình bỏ núi lại đó, gánh gióng không đi đến nơi khác. Hai hòn núi bỏ lại đó là hòn Trà Sơn và hòn Khánh Long. Thật là : “Khổng Lồ gánh núi đi chơi/ Gánh nghiêng gióng đổ bỏ rơi hai hòn/ Hóa thành một cặp cừu non/ Chờ ông trở lại mãi còn nằm đây/ Bâng khuâng nhìn nước nhìn mây/ Gió mưa dầu dãi vóc gầy đôi phân/ Cơ trời mở lối thanh vân/ Cừu non trở hóa kỳ lân vẫy vùng”.
Hòn Khánh Long đẹp bởi nơi đây có nước suối chảy quanh năm, có hoa thơm, quả ngọt và sắc lúa chín vàng. Bên cạnh Khánh Long là một hòn Trà Sơn cũng đầy huyền bí. Núi Trà Sơn hợp với ba ngọn thổ sơn khác nằm ở phía Đông, thành một bộ tứ linh: Long, Lân, Quy, Phụng. Đứng ở Trà Sơn ngó về hướng Đông Bắc có hòn Kỳ Đồng cao chưa đầy 100 thước. Hòn Kỳ Đồng nối liên kết với những gò đống dài uốn khúc như hình một con Khủng Long mà các thầy địa lý gọi là con Thanh Long. Dưới chân Kỳ Đồng có bàu nước rộng chừng ba mẫu rất sâu, nước không bao giờ cạn. Đó là Bàu Sấu. Vì có Bàu Sấu nên Kỳ Đồng có danh hiệu là “Thanh Long ẩm thủy”.
Hòn Kỳ Đồng còn gắn với một sự kiện lịch sử bi hùng mà cho đến bây giờ còn phảng phất trong mấy câu thơ: “Không tính làm chi cuộc mất còn/ Nợ trai trả đặng ấy là khôn/ Gió đưa hồn nghĩa gươm ba thước/ Đá tạc lòng trung núi mấy hòn/ Tái ngắt mặt gian xương tợ giá/ Đỏ lòa bìa sách máu là son/ Rồi đây ngọc luật đưa xuân lại/ Một gốc mai gì nảy rậm non”.
Cũng trên dãi đất này còn có hòn Mò O. Hòn Mò O cao khoảng 345 thước, nằm giữa vùng đất An Nhơn và Phù Cát. Mò O tiếp nhận đến hai sơm mạch. Một từ Kỳ Đồng xuống, một từ Chà Rang sang đến thôn Phú Thành (Phù Cát), qua các gò Tân Nghi, Nghĩa Hòa … thì nhập với mạch Kỳ Đồng vào Mò O, thành “Lưỡng Long nhập thủ” nghĩa là hai con rồng vào một cái đầu. Và hòn Mò O là “Đình Tức Long”, tức là con rồng dừng lại để thở rồi chạy xuống 7 hòn núi đất ở Chánh Mẫn (Phù Cát).
Tháp Dương Long
Tháp Dương Long.
Đến với vùng đất Tuy Phước có một hòn núi mang tên “Hàm Long”. Hàm Long không cao cũng không lớn. Hình núi giống như đầu rồng. Trước núi, nơi “miệng rồng” có ngôi chùa thờ Phật gọi là Long Sơn Tự. Núi Hàm Long nằm ôm ngôi chùa Long Sơn Tự đã trở thành một nơi u tĩnh thanh lương. Cách Hàm Long không xa có một ngọn nhúi nhỏ đứng sát mé bể. Đó là hòn Vi Rồng. Vi Rồng thuộc thôn Tân Phụng. Dáng nhỏ và thấp (105 thước) toàn đá và bị xẻ làm đôi, một nửa ở trên cạn, một nửa ở dưới nước, trong giống như chiếc bánh ít xẻ dọc. Dưới chân nửa núi ở dưới nước, nằm ngổn ngang những tấm đá mỏng, hình tròn như vảy cá, người ta gọi đó là “Đá Vảy Rồng”. Về cái tích của “Đá Vảy Rồng” có truyền thuyết cho rằng, hòn Vi Rồng ngày xưa nguyên một khối, hình giống vi cá chép. Đời nhà Đường, Cao Biền sang nước ta, đi tìm nơi thắng địa để ếm. Trông thấy hòn Vi Rồng linh khí kết tụ, bèn chém đứt để trừ hậu họa. Long mạch bị chém đứt, vảy rồng rơi, máu rồng đổ, lâu ngày đọng lại thành son và vảy cứng lại thành đá. Đó là “Đá Vảy Rồng”…
Không chỉ là vùng đất có địa danh rồng, Bình Định còn là xứ sở của thành quách, đền đài, chùa tháp cũng gắn liền với tên rồng thiêng. Một nhà thơ nào đó khi viếng thăm tháp Cánh Tiên ở chốn non rồng này đã thốt lên: “Rồng thiêng tiên cỡi đi đâu ?/ Cánh Tiên để đó dãi dầu nắng mưa/ Cùng non tháp giữ tình xưa/ Trải qua dâu bể vẫn chưa núng lòng/ Đồ Bàn còn núi còn sông/ Còn tiên kết cánh, còn rồng tuôn mây”. Quả thực, đây là vùng đất mà “Cầu Đôi mà tháp cũng đôi/ Dễ chi nhân nghĩa mà rời được nhau/ Vững vàng tháp cổ ai xây/ Bên kia Thủ Thiện bên này Dương Long/ Nước sông trong dò lòng dâu bể/ Tiếng anh hùng tạc để nghìn thu!”.
Không chỉ có Tháp Đôi, nơi đây còn có tháp Long Triều ở thôn Xuân Mỹ, rồi tháp Thủ Thiện và nhất là tháp Dương Long- cách thành phố Quy Nhơ chừng 30 km. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trong các tháp ở Bình Định, tháp Dương Long ít hư hơn hết và cũng đẹp hơn hết. Tháp Dương Long thuộc xã Tây Bình, huyện Tây Sơn, cách Quy Nhơn khoảng 50 km, tháp được xây dựng vào cuối thế kỷ 12. Tháp là một quần thể gồm 3 tháp. Tháp giữa cao 40m, hai tháp 2 bên cao 38m. Phần thân tháp được xây bằng gạch, các góc được ghép bằng những tảng đá lớn và trang trí điêu khắc đều bằng đá. Cửa tháp quay hướng Đông và được nâng lên khá cao khoảng 1,5m và khung cửa là những khối đá lớn. Những chi tiết được trang trí ở đây đều rất lớn, chạm trổ trên sa thạch với những đường nét rõ ràng và còn giữ được lâu. Với nghệ thuật điêu khắc chạm trổ tinh xảo, các đường nét vừa hoành tráng, lộng lẫy, vừa tinh tế mềm mại, các họa tiết trang trí sống động, tháp được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1980. Ngoài tháp Dương Long, nhiều ngôi chùa ở Bình Định cũng mang tên rồng thiêng.
Có thể kể đến ngôi chùa Long Khánh, ngôi chùa nằm ở trung tâm thành phố Qui Nhơn, trên đường Trần Cao Vân. Chùa được xây dựng vào năm 1715, dưới thời vua Lê Dụ Tông, do tổ sư Đức Sơn – người Trung Quốc sáng lập. Lúc bấy giờ chủ yếu là phục vụ cho cộng đồng người Hoa ở quanh vùng. Tính đến nay, chùa Long Khánh đã qua 14 đời trụ trì. Chùa hiện còn lưu giữ một số bảo vật quý như: Chiếc khánh đồng dùng để khai hiệu lệnh, dài 75cm, cao 25,5cm được đúc vào thời điểm khánh thành chùa (1715); Thái Bình Hồng Chung (chuông Hồng Thái) được đúc vào năm 1805, triều vua Gia Long, và tấm dấu biểu trưng Long Khánh Tự được kiến tạo vào năm 1813 thời vua Gia Long. Rồi một ngôi chùa khác mang tên là chùa Sơn Long. Chùa nằm trên địa phận xã Nhơn Bình, thành phố Qui Nhơn. Chùa do Thiền sư Bửu Quang khởi dựng vào cuối thế kỷ 17 có tên là “Thiền Thất Giang Long” ở huyện Tuy Viễn, phủ Tuy Ninh, trấn Bình Định. Chùa tọa lạc trên sườn núi Trường Úc.
Đến năm 1744, chùa được Thiền sư Thanh Thiền cho di chuyển về địa điểm hiện nay sát chân núi, cách cầu Trường Úc 700m về hướng đông và đổi tên là chùa Sơn Long. Tương truyền, dưới chân núi phía sau chùa, xưa kia có một tảng đá rất lớn trông như miệng rồng có hàm trên, hàm dưới với một cái lưỡi nhô ra nên gọi là đá Hàm Long. Nay do sự tàn phá của thời gia nên dấu ấn này không còn nữa. Trong chùa có 15 ngôi mộ tháp lớn nhỏ, có những ngôi mộ vẫn còn giữ nét rêu phong, cũ kỹ của mấy trăm năm về trước, có mộ tháp đã được trùng tu khang trang hơn. Đến Sơn Long, bạn còn được chiêm ngưỡng bức tượng Phật Lồi 7 đầu rồng bằng đá nặng 1,5 tấn, cao 3,1m với hoa văn chạm khắc sau lưng. Bức tượng này được xác định của người Chăm tạc từ thế kỷ thứ 8.
Mùa Xuân năm Nhâm Thìn du Xuân về với Bình Định xứ Nẫu thân thương cùng với những địa danh, chùa tháp mang tên rồng thiêng thì có thú vui nào bằng. Mùa Xuân đang về, lộc biếc chồi non, hoa tươi lá thắm, nào xin mời các bạn lên đường…
CTV Nguyễn Viết Chính
Nguồn: VOV Online

Read Full Post »

Nhân dịp xuân về  ,Ban biên tập xunau.org xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến toàn thể quí bạn đọc và  thân hữu đã  đóng góp bài vở,góp ý phê bình và tham gia trong các hoạt động chung của trang website xunau.org .Nếu không có sự đóng góp to lớn nhiệt thành của quý vị, chắc chắn trang Xứ Nẫu sẽ không vượt qua được những chướng ngại khó khăn và có bước phát triển vượt bậc như hiện nay!
Đầu Xuân Năm Mới xin kính chúc các anh chị cùng toàn thể gia đình Sức khỏe – May mắn– Thành Đạt !  Cầu mong một mùa xuân  an bình,hạnh phúc cho tất cả mọi người chúng ta

Thân kính !

Read Full Post »

Huỳnh Kim Bửu

Tôi xa quê đã lâu, ăn Tết quê người đã bao nhiêu cái Tết, nhưng không quên được Tết quê nhà thuở tôi còn thơ.
Mới đầu tháng Chạp, các chợ Gò Chàm, Đập Đá, Cảnh Hàng…đã nhộn nhịp cảnh mua bán những mặt hàng ngày Tết: Vải vóc, quần áo, gạo nếp, dụng cụ gia đình… Từ ngày 22 trở đi, chợ còn nhóm đêm nữa. Tôi mừng lắm mỗi khi được mẹ dẫn đi chợ Tết. Thế nào tôi cũng vòi vĩnh mẹ mua cho được, khi thì con gà cồ đất, khi thì anh giã gạo bằng gỗ, cái trống rung bịt giấy bóng…Đem về nhà, tôi chơi với những đồ chơi ấy không chán, tôi thúc dậy sớm để gáy con gà cồ đất lúc sáng sớm, rồi đi học. Và còn đem đi khoe với lũ đồng trang lứa trong xóm.
Mấy ngày trước Tết, nhà nào cũng lo trang trí nhà cửa, lau chùi bàn thờ gia tiên, tham gia tổng vệ sinh đường làng ngõ xóm. Các cái hàng rào xanh được cắt ngay ngắn. Nhiều nhà trồng trụ đèn trái ấu, cây nêu cao ở trước sân, dán câu đối Tết ở hai trụ ngõ. Các chợ chỉ bán hoa giấy ngũ sắc cắt thủ công, dán vào cọng thép hoặc thanh tre chuốt mảnh tạo thành cành huệ, cành cúc, cành mai…được nhiều người mua, bảo là về chơi cho bền. Nhiều nhà trồng cúc, thược dược, vạn thọ…hoa nở khoe sắc khoe hương như một báo hiệu Xuân sang,
Mỗi năm, mỗi Tết qua đi, tuổi tôi mỗi lớn khôn. Mỗi lần sắp đến Tết, tôi thấy người ta ra chợ, mua những tấm bức đại tự viết chữ Phước hoặc Thọ hoặc chữ Thái Sơn hoặc Càn Khôn về treo trên bàn thờ ông bà. Các thầy đồ ngồi viết bức thờ khăn đen, áo dài đĩnh đạc, chữ viết như “Phượng múa rồng bay”. Mà khách mua cũng là những người đàn ông thành tâm, lịch sự, bà ba trắng guốc mộc, thưa gởi rất lễ phép với thầy đồ.
Không ít nhà treo tranh Tết mua ở các hiệu tàu trên Bình Định, Đập Đá… Tranh Đông Hồ Húng dừa, Đám cưới chuột, Đàn gà mẹ con… kén người mua. Người ta mua tranh ”Tứ bình” in mộc bản Mai – Lan – Cúc – Trúc, Bát Tiên, Mục Kiền Liên, Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Quốc Toản…Mẹ đi chợ Phú Đa mua về một bộ tranh Phũ Đỗng Thiên Vương đuổi giặc An treo ở phòng khách.  Đi học về thấy tranh, tôi và thằng Út dán mắt vào xem. Thấy thế, đến tối mẹ giảng sự tích Tháng Gióng cho nghe, để tôi nhớ suốt dời.
Tôi cảm thấy hạnh phúc gia đình ở đêm 30 Tết: Gia đình tôi đoàn tụ và cả nhà thức để đón giao thừa. Ba làm cai lục lộ, quanh năm đi làm xa nhà,  chị Hai buôn bán với các cô gái hái chè ở đồn điền chè Bàu Cạn, đến chiều 30 Tết mới lục tục về để cho mẹ trông đợi. Nhà trên, Ba đã thắp đèn nến sáng choang và báo cho chúng tôi giao thừa đã đến. Lòng tôi bồi hồi cảm động vì thấy bao điều thiêng liêng ở phút giây này. Gương mặt của mọi người trong nhà đều tươi vui. Mẹ đi thăm nồi bánh tét còn chị Hai thì ngồi tỉa tót những bánh hoa qủa: Mãn cầu, chanh, ớt…bằng bột nếp nhuộm màu, trông giống như thật. Sáng Mồng một, mẹ dặn mọi người phải tử tế với nhau để cho cả năm gặp toàn chuyện vui. Tôi và thằng Ut, nhỏ nhất nhà, nghe mẹ nói thế, mừng lắm. Chị Hai dẫn tôi và thằng Ut Nhàn ra đường làng, chị bảo là đi xuất hành. Có đông người đi xuất hành như chị em chúng tôi. “Chi cha chi chát khua giày dép” (TTX) và lược là phấn son làm rộn lên âm thanh và sắc màu con đường làng sáng Mồng Một Tết.
Mấy ngày Tết, các đình làng ở trong vùng đều có tổ chức các trò chơi: Đánh bài chòi, đánh đu, đập ấm, bịt mắt bắt dê…Người trong làng ra xem. Chàng trai cô gái làng nọ sang làng kia xem như thể vừa du xuân vừa giao duyên để sau đó đã có bao ”chuyện tình”:
Trai Thuận Thái nhớ gái Kim Tài
Trách con sông Gò Chàm nó chảy, rẽ hai chúng mình.
(Ca dao)
Đình Trung Lý, đình Tân Dân, chùa Ông trong thành Bình Định, Tết nào cũng xổ cổ nhân. Cổ nhân là một trò chơi đòi hỏi kiến thức, là dịp cho mấy thầy đồ ngồi sẵn hè phố bàn ”thai” ăn tiền. Đánh cờ người thì hay tổ chức ở Cảnh Hàng, Háo Lễ… Những nhà có học thức: Thư sinh, hàn sĩ, thầy đồ, tú, cử…thường lấy việc ”khai bút” đầu xuân làm thú tao nhã theo tinh thần:
Chẳng hay ho cũng đỗ Tú tài
Ngày Tết đến cũng một vài câu đối  (Trần Tế Xương)
Đến đêm Rằm tháng Giêng thì mọi người tụ hôi về nhà ông Cử Nhì ở Thuận Thái để ”trình làng” những bài thơ khai bút đó. Thật là một cuộc uống rượu ngâm thơ dưới vầng trăng Nguyên tiêu đầy thi hứng.
Từ mồng Năm trở đi diễn ra nhiều lễ hội ở các đình chùa: Vía Chùa Ông Bình Định 12, chùa Bà Liêm Lợi 17, Tổ nghề dệt Chùa Kén – Phương Danh 21, Thành Hoàng của các làng thì lần lượt mỗi làng một ngày…Các lễ hội có cúng tế, hát bội, náo nức lắm, người xem đến mỏi mắt mà không chán. Đặc biệt, lễ hội Đống Đa, kỷ niệm trận đại thắng của anh hùng dân tộc Quang Trung, ngày mồng Năm Tết, là lớn nhất. Người đi trẩy hội, từ  các nơi đổ về Điện Tây Sơn (Nay là Bảo tàng Vua Quang Trung) như nước chảy.
Đã gọi là ăn Tết, cho nên Tết phải có ăn:
Chẳng phong lưu cũng ba ngày Tết
Keo kiết như ai cũng rượu chè (Trần Tế Xương)
Mấy ngày Tết, khi thì ba mẹ dẫn, khi anh chị cho đi theo, tôi được đi thăm Xuân, mừng tuổi, chúc Tết nhiều nhà trong dòng họ, bà con. Đi đến đâu, tôi cũng được tiền mừng tuổi, ăn bánh trái. Người lớn nói với nhau những câu chúc tụng, ăn uống nhiều rượu thịt.Trong làng, có nhà Phú ông và mấy người Chức việc có phúc lộc, được tá điền, thuộc cấp đi Tết gạo nếp, gà vịt, bánh trái, trà rượu…để chật nhà, ăn Tết to lắm. Tôi nhớ món ngon ngày Tết của quê tôi: nem chua, chả lụa, thịt thưng, thịt bì…Thứ nhất, nhớ bánh tét của mẹ làm. Mới đến ngày đưa ông Táo về Trời, 23 tháng Chạp, mẹ đã lo chọn nếp ngon, đậu xanh đều hột, đặt phần thịt heo đậu tay… Mẹ bảo đâu đó cho sẵn  để đến sáng ngày 30 dậy sơm  gói bánh và nấu cho kịp đến giao thừa thì bánh chín. Bánh tét của mẹ nấu chín rồi, lột lớp lá chuối thấy cây bánh xanh, tét ra mặt miếng bánh mịn, nhân bánh ở giữa, phảng phất mùi thơm ngon. Ăn với thịt bì hay thịt heo phay, dưa kiệu …đều ngon. Có lần ngồi ăn bánh tét với cả nhà, anh Ba đố: Trong trắng ngoài xanh trỉa đỗ trồng hành, thả heo vô chạy. Đố là cái gì? Tôi nghĩ một thoáng, đáp: -Bánh tét. Anh Ba khen tôi thông minh cho tôi vui, chớ câu đố đó dễ ợt. Tôi nhớ mâm cơm ngày Tết, mẹ dọn lên bữa nào cũng tinh tươm: Đủ thứ thịt (kho tàu,thưng, bì) bánh tráng, dưa kiệu, dưa leo, nhiều bữa có nem chả…Ba tôi vừa ăn vừa uống. Ba tôi bảo một năm được uống rượu Bàu Đá mấy ngày Tết, ở quê người nhớ bao món ngon của quê hương.

H.K.B.

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »