Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười Một, 2011

Một thoáng Quy Nhơn

Nguyên Hùng

Biển Quy Nhơn lần đầu ta đến
Đã thân thương như chính biển quê nhà
Những rặng dừa dáng nghiêng phía biển
Như lòng người hướng phía khơi xa

Đi bên em dọc con đường mới
Biển xô đường cong nửa vầng trăng
Sao đèn chài níu hai đầu núi
Ngoái phía nào cũng thấy lưới giăng

Thành phố biển thanh bình thơ mộng
Đất võ tình người thấm đẫm hồn thơ
Biển nhớ ai miên man tiếng sóng
Ta nhớ ai lúc tỉnh lúc mơ?

Read Full Post »

Nguyễn Tửu

                              Đã đi gần cuối vô thường,

                                                             Bỗng dưng lòng lại vấn vương bụi hồng

                                                      Nương thuyền Bát Nhã Sắc Không

                                                             Vượt qua bể khổ trầm luân phận người!

 

Trong cõi vô thường của chúng sinh

Hoàng hôn tịch diệt lại bình minh

Một vòng sinh tử bao duyên kiếp

Định mệnh chăng? Hay chỉ vô tình?

&

Phú quý công danh chỉ một thời

Cũng là ảo ảnh cả người ơi!

Nước mây biến đổi, triều lên xuống

Mây nước vô thường, mây nước trôi!

&

Hoa nở ban mai tối lại tàn

Đừng buồn em nhé, chớ trách than

Một thời nhan sắc rồi phai nhạt

Em cũng vô thường giữa thế gian!

&

Trong khoảng trăm năm một kiếp người

Có trăng tròn khuyết, nước đầy vơi

Hãy như sen thắm trong hồ biếc

Dù cũng vô thường, sen vẫn tươi!

 

 

Read Full Post »

                 Bùi Đăng Khoa

Theo các nhà nghiên cứu về trí nhớ J. Randal, S. Ferris, D. Krech thì vào khoảng tuổi từ 50 đến 60, con người thường dễ quên và khó có trí nhớ tốt lành. Y học gọi đó là sự suy thoái về trí nhớ liên hệ tới tuổi. Thế mà tôi, bất chấp sự suy thoái này, lại thích viết, nhắc lại những chuyện Quinhơn xưa cũ, chứ để một mai này,lỡ sao quả tạ chiếu trúng đầu, xuôi tay, thẳng gìo, biết có còn nhớ nổi nữa hay không. Kỷ niệm thì đã xa xưa lắm rồi, nó phai mờ dần với thời gian, nó nằm chồng chéo lên nhau, phải thả hồn về những ngày tháng cũ mới từ từ lần ra. Khi nhắc đến tên một địa danh như Gành ráng,Suối tiên, Đầm thị nại, Cầu Đá….chợt thấy những ngày xa xôi cũ như hiện về. Cũng như nghe đến tên cá liệt, cá ngạnh, cá rựa, cá khoai, bún sứa..lại liên tưởng đến những bữa cơm thân mật, những bữa cơm thiếu thốn, những bữa ăn tưng bừng với bạn bè, với những người thân. Miếng ngon Quinhơn không có gì đặc biệt lắm, thì cũng có những hàng qùa cũng chè, cũng bún, cũng phở, cũng cơm, cũng canh, cũng mắm…như tất cả mọi nơi. Miếng ngon, cái ngon làm cho người ta thương mến nước non hơn, thương mến từ cái cây, ngọn cỏ , thương mến từ con cá thương đi, thương từng hủ mắm thương lại, cái ngon làm cho người ta tự bắt buộc phải qúy từ cộng rau thơm, mấy lá tàng ô, cải cúc, bụi ớt …cái ngon làm cho người ta cảm thấy say sưa cuộc sống còn, mỗi thứ nhắc lại cho ta một kỷ niệm, một thời kỳ đã qua đi không trở lại.
Tất cả những miếng ngon đó tạo ra một không khí phong nhã làm cho ta mường tượng đến những buổi họp văn nghệ, anh em cùng nhau thông cảm những bức tranh đẹp, những tình khúc, tình ca, những áng thơ bất hủ…còn hơn thế nữa, những tác phẩm văn nghệ chỉ làm ta thỏa mãn về tinh thần, chớ miếng ngon thì có thể làm cho ta thỏa mãn cả ngũ quan và cho ta thấy có lúc muốn chắt chiu sự sống và cảm thấy là sống, chỉ sống thôi, dù có khổ đi nữa cũng là qúi lắm rồi.
Viết bài này, tôi muốn nhắc lại những món ăn qùa, những món ăn thuờng nhật hay có trong những bữa cơm gia đình, để nhớ lại một thời Quinhơn xưa cũ…Tôi xin sửa một câu quen thuôc sau đây để mở đầu:

Khi ta ở, đất vẫn là đất, khi ta đi, đất bỗng có linh hồn
Sửa là: Khi ta ở Mắm vẫn là mắm, khi ta đi mắm bỗng cò linh hồn.

Quinhơn, những ngày sau tiếp thu, còn nghèo lắm, nghèo xơ xác…Những bữa cơm nhà tôi thường có: hai trứng vịt “luộc lộn đào”, bỏ vào tô nước mắm, vằm ra chấm rau sống. Một thau rau sống, đầy những cánh xà lách non, những lá cải cay tươi, nhừng tàng ô, cúc…thu hoạch trong vườn tự lực. Những lát cà bôm hườm hườm mà mỗi ngày tôi phài gánh nước tưới đã đời mới có. Đói ăn rau, đau uống thuốc, cứ việc rau sống mà chấm nước mắm hột vịt cho no bụng. Đơn giản, qúa đơn giản, nhưng  có muốn gì thêm, cũng chẳng được. Chung quanh tôi, còn có những thằng bạn còn khốn khổ còn nghèo hơn nữa, mỗi sáng phải vác bao bánh mì đi bán:
– Ai ăn bánh mì không? Bánh mì nóng dòn đây! Bánh mì đây!
Tụi nó cố gắng bán cho xong trước 8 gìờ, để còn kịp vào lớp học. Nhà tôi vẫn còn khá giả chán! Buổi sáng, ăn bánh mì nóng, chấm đường, sao mà ngon quá đổi. Xứ tôi không có bơ, không có sữa tươi, chỉ có sũa đặc Ông thọ, sữa hòn núi, sữa con chim. Ở Đức, tôi thấy có bán sữa con gái nữa (Maedchenmilch), thì cũng ngọt, cũng đặc như nhau, nhưng sao tôi chỉ thích cái sữa con chim của hãng Nestlé mà thôi. Lấy sữa chế trên ổ bánh mì nóng, ăn thấy ngon hơn ăn với đường một cấp. Bơ, thì đốt đuốc tìm hết sáu khu phố chẳng ra được một muỗng. Một ngày nào đó, bà cụ tôi không biết mang ở đâu về được một lon bơ mặn, khoảng 1 kg, màu cứt ngựa, chắc của quân đội Pháp (người Mỹ chưa đến) thế là chỉ trong vòng chưa đày 1 tuần, lon bơ cạn queo. Cơm nóng mà vích 1, 2 muỗng bơ vào thì ăn quên cả đời lầm than. Sáng bơ, trưa bơ, chiêu bơ, nửa khuya…cũng bơ ăn với cơm nguội, sao mà nó ngon lạ lùng. Với một sự chiếu cố mãnh liệt như thế, lon bơ nào chịu cho nổi, nó cạn khô. Tuổi đang lớn, cần nhiều chất béo, chất đường. Dân cả nước cũng mê chất béo, mê đường, ăn thịt thì qúa đắt, mua không nổi. Vớ được lon bơ, một hạnh phúc lớn, nhớ cả đời! Chất đường thì dễ kiếm hơn, kẹo động phụng, chè đậu xanh, đậu đỏ, đậu váng, đậu ngự…đường phổi, đường tán nằm ngổn ngang ngoài mấy gánh, trong tiệm chè, chỉ cần rủng rỉnh vài đồng trong túi thì được thoả mãn ngay. Khổ một nổi, trong túi không một xu dính túi, đành sắm cái khèo lèo, khèo keo, khèo me, hái trứng cá…thoà mản tạm nhu cầu. Không gì hạnh phúc hơn,  sau giấc ngủ trưa lần mò tìm đến bóng mát dưới một gốc cây, ông bán bông cỏ đứng chờ. Các bạn còn nhớ bông cỏ chứ? Món giải khát rẻ tiền này, không dính dáng gì đến bông, đến cò hết. Nó chỉ là một ly đá bào, thêm chút xi-rô hoặc xanh (bạc hà), hoăc đỏ  (của phẩm)  trở thành một ly bông cỏ . Uống một cái mát cả miệng, tê cả răng. Nếu bạn chê, bông cỏ thường quá, thì mời bạn dùng một ly hột é vậy. Chẳng đắt hơn. Nước hột é, bỏ vào hai, ba muỗng đường, một vài miếng đá cục, uống mát cả tỳ tạng, tâm can. A, còn anh bán cà rem cây nữa. Cà rem này được hãng nước đá Phàt Hưng hay Hưng phát (?) gì đó ở đường Phan bội Châu (cách tiệm kem Phi Điệp vài chục thước) sản xuất. Cà rem cây có nhiều loại khác nhau. Cây thì màu xanh xanh của màu bạc hà, cây thì màu vàng thoang thoảng hương vị của xoài, cây màu trắng mang hương vị của sũa đặc có đường…được xắp xếp trong một bình tích thủy miệng rộng, cao khoảng nửa thước, có dây quàng để đeo trên vai đi bán. Trời nắng, mút cây cà rem, thấy trời Quinhơn em đi mà chợt mát…Đến hôm nay tôi vẫn chưa hiểu rõ tại sao khán giả la ó um sùm ám chỉ ông trọng tài thiên vị :
–  Ê! trọng tài mút cà rem !
Trước nhà, dưới gốc cây rục rạc không quên gánh đậu hủ của bà Hai, khi bà khéo léo dùng một cái muỗng dẹp, hớt từng mãng đậu hủ, nỏn nà, mịn màng, thơm ngát bỏ vào chén, rồi chế lên trên muỗng nước đường đã thắng với gừng, chầm chậm mà húp để thấy chất đậu lưng lửng trôi xuống dạ dày. Còn gánh chè của bà Lỳ nữa, đôi khi sau giấc ngủ trưa, tôi thường ra ngồi sì sụp một chén chè đậu ván nước, hay một chè đậu ván đặc. Chất ngọt thấm vào tế bào, đưa đần đến não, người cảm thấy tỉnh táo, cơn buồn ngủ tan biến ngay theo từng muỗng chè.  Muốn ăn loại nào cũng có. Thỉnh thoảng, bà ta đổi món, thay vì đậu ván, thì mời khách dủng thử một ly chè đậu đen hay đậu đỏ, đậu trắng hoặc thích xơi thử đậu xanh, đậu ngự chăng? Chè đậu phải nấu nguyên cả vỏ, mới có công hiệu giảm nhiệt (?) Chè đậu xanh nấu ăn cả vỏ  cho nó “nhuận trường”. Mỗi món chè đậu mang mỗi mùi vị khác nhau. Chả lẻ Quinhơn chỉ có ngần ấy chè? Không đâu! Nhiều lắm, nhiều lắm! Chè là món dễ nấu, nếu thèm chè nào, là có chè ngay. Nào là chè bắp, chè đậu xanh đánh, chè bí, chè khoai môn…Bạn đã từng nếm qua thử chè hoa cau? Dễ nấu lắm. Nước đường được thắng cho sôi lăn tăn, khuấy đều vào đó bột năng hoặc bột sắn cho sánh lại, rồi đậu xanh hấp còn nguyên hột thả vào thành những cánh hoa vàng nhỏ lẫn vào giữa màu trắng trong của chè, múc ra chén, để tủ lạnh. Thượng đế ơi, Tiên nữ lạc xuống trần gian, “làm” một chén, quên cả lối về…Còn chè trôi nước nữa. Gạo ngâm qua đêm, xay nhuyễn, nặn tròn, vỏ bánh được trộn lẫn giữa bột năng và bột nếp, để bánh đừng dính qúa, hoặc đừng nhũn qúa. Từng viên bột trắng bọc bên ngoài viên đậu xanh xay nhuyễn, trộn đường, mè…vo tròn, thả từ từ vào nồi nước sôi để cùng nhau chịu cảnh “ba chìm bảy nổi”…Khi bánh chín, được vớt ra thả vào nồi nước lạnh, để thấy màu trắng đục chuyển thành trong trong, lờ mờ ẩn hiện màu vàng vàng của viên đậu xanh bên trong. Bánh được vớt ra, để rồi chan lên từng muỗng đường thắng bằng bột năng sền sệt thơm mùi hoa bưởi và gừng non…Môt chút mè rang rắc lên trên, thêm vào chung quanh những vìên bánh trôi chay không nhân. Ngon lắm bạn ạ! Tôi vẫn còn nhớ có ông người Tàu, đêm đêm, đẩy chiếc xe, gõ hai thanh tre vào nhau đi chào hàng:
– Lục tào xá, chí mà phù đây!
Không tiền, nhìn ông đẩy xe đi ngang, bập bùng ánh đèn khí đá (cạt-buya), rồi khuất dần cuối đường, để lại mùi thơm của Lục tào xá, Chí mà phù thoang thoảng trong không gian… (Lục tào xá là món chè đậu xanh xay nhuyễn, bỏ thêm vỏ quít cho thơm. Chí mà phù là chè mè đen cũng xay nhuyễn).
Ơ hay, tôi có mở tiệm bán chè lúc nào đâu mà bày vẽ việc nấu chè. Đề cập đến chè hơi nhìều. Gìa thì hảo ngọt, nhưng không dám ăn chè thường, sợ lượng cholesterol tăng, sợ sổ eo, to bụng…đành ăn “chè viết” vậy.
Ông bán kẹo kéo, ô hô, ai lại chẳng biết, ông ta nổi tiếng gần bằng ông tám khùng của thành phố. Cây kẹo kéo trắng nõn, dòn rụm, bên trong là đậu phụng rang, giã nhỏ, tôi thích lắm. Để quyến rũ khách hàng mà phần đông là trẻ con. Ông ta bày ra trò quay số, hoặc cắt chỉ. Một sợi chỉ hay dây gai, được buộc vòng qua cây đinh. Ai cắt được (bằng dao) sợi chỉ đồng đều nhau, sẽ được thưởng cây kẹo kéo dài hơn gấp rưỡi độ dài bình thường. Nếu không, thì sẽ nhận cây ngắn hơn. Dù cắt bằng cách nào đi nữa, thì dây cứ vẫn bị so le. Lần nào cũng tiu ngỉu nhận cây kẹo kéo ngắn ngủn!  Đến hôm nay, tôi vẫn chưa cắt được hai sợi dài ngang nhau.
Vào mùa ghẹ, cả Quinhơn tha hồ ăn ghẹ, khoảng 2, 3 giờ chiều là có bà bán ghẹ đã luộc sẵn, đội thúng đi rong chào bán. Ăn ghẹ, nhiều lúc gặp xui trúng ngày trăng lên, thì ghẹ bị ốp! Người ta nói rằng: lúc có trăng, ghẹ mê trăng, lo đùa giỡn với trăng, không chịu ăn, nên ốm cả người mà lúc ốm người thì chỉ còn da bọc xương, không phải, chỉ còn mai bọc thịt nên bị ốp. Chỉ những ngày không trăng mới có ghẹ chắc, vì thế không nên mua ghẹ vào những ngày trăng rằm. “Ghẹ chắc” thì thịt ngọt vô cùng, cái mgọt lẳng lơ khác với cái ngọt của cua, không nên ăn nhiều, có thể bị Tào tháo đuổi. Ghẹ luộc sẵn, đôi lúc bán không được, bị hấp đi, hấp lại nhiều lần, ăn vào thì…xách quần mà chạy. Tôi đã từng bị Tào thào đuổi đến biên giới của ngất ngư rồi. Không phải vì ghẹ đâu nhé, mà vì hột vịt lộn! Những đêm học thi cùng mấy thằng bạn, đến khuya cảm thấy đói bụng, ai đã từng học khuya cũng đều có cái triệu chứng “cảm thấy” này. Tiếng rao:
– Ai ăn hột vịt….lôn…lộn….không?
sao mà đến đúng lúc quá. Thằng Minh nẩy ý kiến:
– Ai ăn được nhiều hột vịt lộn nhất thì khỏi phải trả tiền, tên nào ăn ít nhất phải trả.
Lời đề nghị nghe chí lý, vả lại mình thuộc loại “hạm trưởng” hàng không mẫu hạm, chả sợ gì. Kêu vào !….
Đêm đó, dân bán hột vịt lộn Quinhơn trúng mánh to. Ít nhất cũng 6,7 bà bán hột vịt lộn tề tựu đông đủ trước sân. Thằng Minh bị xếp hạng… bét, chỉ có thể chịu đựng nổi 15, 16 hột. Xí, thế mà đòi cá độ. Tôi hiên ngang với tỉ số 20 hột. Thoát nạn trả tiền. Nhưng…khoảng 1, 2 tiếng sau thì bị Tào tháo đích thân truy đuổi. Thôi thì khỏi phải kể. Trên nôn, dưới mữa…Tào tháo tấn công cả đêm cho đến cả mấy ngày sau, mệt lã người. Bây giờ nghe đến hột vịt lộn vẫn còn sởn tóc gáy! Đêm đêm trên đường phố Quinhơn thường xuất hiện một chiếc xe bán mực khô của một ông người Hoa. Không gì thú vị hơn, nhai một con mực khô cuả ông đã được đẩy qua cái máy cán tay, đẩy qua nhiều lần, con mực tự nhiên nó mỏng, nó dài người ra, nó hấp dẫn hơn mấy cô “ốm như con khô mực” nhiều. Bỏ chút tương ớt lên trên…Cái vị ngọt của mực khô, trộn lẫn cái cay cay của tương ớt. Ngon lắm! Ngon…qúa xá đi.
Mấy tiểu thư hay ăn quà, chắc còn nhớ ông bán thịt bò khô và anh bán cốc? Mấy ông này hay quanh quẩn trước các cửa trường, nhất là ở những trường có nhiều con gái thèm chua, hảo ngọt. Chẳng hạn như Trường Nữ trung học, Trinh Vương, Bồ đề. Chứ thơ thẩn trước cổng trường Cường để chỉ có nước..phá sản! Một nhúm đu đủ bào, rưới lên chút nước dầm chua chua, ngọt ngọt, miếng thịt bò khô mỏng, màu tim tím đỏ, được cắt thành từng miếng, tiếng kéo lắt xắt, đã tạo một sự thôi thúc trrước khi đưa dĩa bò khô lên miệng, rau thơm tương ớt, nhất là tương ớt  không đươc thiếu đâu đấy nhé.
Tha hồ mấy cô vét dĩa đu đủ bào không muốn bỏ phí một sợi, cầm lòng chẳng được, phải gọi thêm vài dĩa nữa mới đã thèm…Một kỷ niệm nhớ mãi không quên về anh bán cốc. Vào những dịp “nhộn nhịp” như có đá banh hoặc biểu tình, hội họp ở sân vận động đều thấy bóng dáng chàng xuất hiện. Thật ra anh ta không chỉ những bán cốc thôi đâu. Trong cái lồng kính gắn trên cái bọt-ba-ga, trong một cái thẩu chứa nước cam thảo vàng vàng, anh còn có thêm vài thứ hấp dẫn khác nữa, tùy theo mùa như thơm, ổi, chùm ruột…Một cái lon sữa bò đầy muối, ớt phải luôn có sẵn, không được thiếu, thiếu thứ này, chẳng khác gì  “dùi đục chấm nước mắm”, chẳng ra cái tích sự gì. Một cái khăn đen thủi, đen thui,máng lên cái ghi-đông xe đạp (chắc cả năm không giặt) để chùi tay. Đang đi đường, chợt buồn miệng, thèm chua, muốn nhai một cái gì dòn dòn. A, phải rồi !Cốc!. Thấy anh bán cốc, đang đứng gọt gọt dưới gốc cây, thế là tôi rà rà, xề tới:
– Cho em cái cốc!
Sau khi gọt xong mấy múi thơm, bỏ vào cái thẩu nước cam thảo, anh ta móc móc, lựa lựa ra một cái cốc (khá mập mạp) rồi bắt đầu gọt vỏ…Khách chờ, đứng nhìn. Đang gọt, chợt anh dừng tay lại, bước xéo sau gốc cây, đứng …”tè” một lát. Khách ngó theo…Làm xong công việc phài làm, anh ta trở lại chiếc xe đạp, lấy cái khăn, chùi tay qua loa rồi thản nhiên “cầm” cái cốc đang gọt dở và tiếp tục…gọt, chẻ, tách ra như hình cái bông, nhúng vào nước cam thảo, xoa muối ớt:
– Nè, 5 đồng!
Khách cảm thấy hơi ghê ghê, nhưng chẳng nghĩ tiếp. Giờ đây, nghĩ lại…rùng mình!
Ở Quinhơn, muốn ăn phở, hơi khó tìm ra một tiêm phở chính gốc. Thức ăn theo người, phở là món phổ thông của người Bắc. Món phở nam tiến đến Saigon, nhưng đến Quinhơn thì hình như bị kẹt lại, vì Quinhơn có ít người Bắc sinh sống. Người Bắc có món phở, người Trung, đặc biệt là Huế có Bún bò gìo heo, người Bình định thích nhai bánh tráng, người Nam ưa hủ tiếu, người Tàu số dzách là mấy món mì. (chẳng hạn như Mì Trường đề, đường Phan đình Phùng, gọi một tô mì sợi, hay mì thánh mì, nhìn mấy cái chà cha quảy, nằm một cách thật vô tình trên bàn, không bao giờ nỡ bỏ qua). Muốn ăn bánh tráng, khỏi phải đi đâu, chỉ cần nhúng, hay nướng rồi nhúng là xong. Vài tiệm hay quán phở ở Quinhơn tôi chỉ còn nhớ vài quán như ở đường Phan bội châu, một quán đối diện với ty Công chánh, một quán ở đường Hoàng Diệu gần nhà thương cũ. Vào khoảng năm 67-68 tuốt trong khu 6 có xuất hiện một quán phở khá nổi tiếng. Khách làng ăn đặt tên là “Phở công binh”, vì quanh đó là căn cứ  của công binh, do vợ của một ông lính công binh mở tiệm, bán kiếm thêm vào đồng lương chết đói của lính. Quán chỉ là cái nhà tôn nghèo nàn, có khoảng 15, 20 chỗ ngồi, không bảng hiệu, nhưng rất tấp nập, náo nhiệt vào mỗi chiều, tối. Xe Jeep nhà binh, xe Land rover (loại xe diệt trừ sốt rét) của mấy ông trưởng ty các ngành trong tỉnh, mấy ông sĩ quan trong quân đội, Honda của thường dân và học sinh đậu chật đường. Ắt hẳn quán này phải có một nghệ thuật gia truyền đem từ Bắc nên mới đông đảo thực khách như thế. Tô phở to lắm, ăn xong một bát là thấy đời đẹp như…phở! Tôi không phải tín đồ của phở, thời đó, thuộc hạng “dễ giặt, dễ ủi” ăn sao cũng được, nên không dám lạm bàn. Chỉ biết, những tín đồ sành phở (đã là tín đồ, thì khó tính) nghe đồn nơi nào có phở ngon là mò đến. Không cứ là phải đến một chỗ sang trọng, trái lại người sang trọng lần mò tới chỗ rất tồi tàn để ăn cho được một hai bát phở, chủ tâm đến cái điểm chính là phở thôi, chứ không quan tâm dến ngọai cảnh làm gì. Sau này, tôi cũng đớp phở khá thường nên biết, điều cần thiết là bánh phở phải mỏng và dẻo, thịt mềm, thỉnh thoảng lại thấy cái cay của gừng, cay cái cay của tiêu, cay cái cay của ớt, thỉnh thoảng lại thấy thơm nhè nhẹ cái thơm của hành, thơm hăng hắc cái thơm của rau thơm, thơm dìu dịu cái thơm của thịt bò tươi và mềm… và nhất là nước dùng phải ngọt, ngọt kiểu chân thật, nghĩa là ngọt vì nhiều xương, ngọt một cánh hiền lành, êm dịu, ngọt một cách thành thực thiên nhiên, không có gì là hóa học của bột ngọt…tẩy mùi vừa vặn, không nồng, mà lại nêm vừa mắm muối, không mặn qúa và không lạt qúa. Đạt được mấy điểm đó tức là phở ăn được rồi đấy. Hãy nghe “Tín đồ phở” tuyên bố:
– Ăn được một bát phở như thế, phải nói rằng có thể lâm li hơn là nghe thấy một câu nói hữu tình của người yêu, cái thú có thể ví như sau một thời gian xa cách, được ngã vào trong vòng tay một người vợ đẹp mà lại đa tình …
Nói về phở mà không nhắc đến mấy quán bún bò Huế thì qủa là một điều thiếu sót. Nấu ăn là một nghệ thuật, điều đó ai cũng biết, cũng bún, cũng thịt, cũng chừng đó công thức nhưng tại sao bún ngưới này ngon mà bún người kia dở, chẳng qua là nghệ thuật nêm nấu cộng với kinh nghiệm. Con bún làm bằng gạo xay có pha ít bột lọc nên con bún trắng hơi trong và săn hơn. Con bún Huế lại to hơn các nơi khác. Có hai loại bún, con bún thường được cuộn thành từng con nhỏ, lúc đói bụng mà chấm nó với nước mắm ớt chanh tỏi thì tuyệt ! Con bún để làm bún bò gìo heo thường lớn hơn. Một tô bún bò hấp dẫn thực khách chính là nhờ chất nước ngon ngọt và thơm. Đặc biệt là nồi bún, một nồi bằng nhôm dẻo rất mỏng, trông giống một chiếc nồi đồng nhưng sâu và rộng miệng hơn. Ăn một tô bún đang bốc khói, những sợi bún trắng trong trôi nổi trong nước bún đỏ đỏ, những miếng móng gìo được nấu mềm nhừ, với một chút màu trắng của những cọng gía và màu xanh của rau húng, húp một ít nước béo đậm đà kèm theo một chút gia vị nước mắm ớt chanh, vô cùng thú vị, vừa cay, vừa nóng, vừa xúyt xoa, vừa nghe vị ngọt của nước bún của thịt, chạy dần vào thực quản. Thực khách khó quên được cái hương vị này. Phải có một lần ăn bún đến chảy nước mắt lúc đó mới cảm thấy hương vị xứ Huế nó thâm trầm như thế nào. Ở Quinhơn tôi chỉ biết có vài quán bún khá nổi tiếng như tiệm bún bò Hương bình ( nằm giữa tiệm kem Phi điệp và hãng sản xuất nước đá Hưng phát). Tiệm Như Ý ở đường Võ tánh, gần bến xe, tuy tiệm bán sinh tố, nước ngọt nhưng trước cửa tiệm, khỏang 5, 6 giờ chiều lại có gánh bún bò gìo heo bày bán trước tiệm. Gọi tô bún, mang vào tiệm mà ăn. Quán bún bò Bà Nghinh ở đường Hai bà Trưng, một quán bún tên gì đó, tôi không còn nhớ rõ, ở đường Tăng bạt Hổ (trước Cô nhi Viện). Có thể còn rất nhiều những qúan bún, những gánh bún bò gìo heo khác nữa, nhưng vì không có bảng hiệu, nên chẳng nhớ nổi.
Nhớ lại mì,phở, bún bò, tôi thấy nên nhắc đến cái món bún riêu cua nữa. Quán bún riêu bác Thuận mà hầu hết ai cũng biết, ở góc đường Tăng bạt Hổ, Cường Để. Không những chỉ có bún riêu thôi đâu nhé, còn có món bánh cuốn, làm ngay tại chỗ, cũng không kém phần hấp dẫn. Khác Phở có vị béo ngậy; ngọt, khác với cháo có vị thanh thanh, man mác, bún riêu có vị ngọt đậm, nước dùng hơi dôn dốt chua, mùi cua đồng thơm ngào ngạt, hơi cay cay, gạch ở mai cua, mới là vị chính tạo nên mùi rất riêng của bún riêu cua. Bún rời được trụng  bằng nước sôi lăn tăn, chan riêu cua ngập bún, ăn nóng cùng ớt bột chiên mỡ, rau diếp , lá kinh giới, tía tô hoặc rau muống chẻ. Sướng cả thần khẩu!.
Không phải ai cũng là người sành ăn, là tín đồ của phở, cùa bún bò gìo heo, của mì thánh…Là tín đồ của đạo ăn qùa thì phải đi viếng…tiệm thường. Nhưng làm cư sĩ ăn tại gia vẫn có thể…tụng ra được những món ăn ngon trong gia đình. Tôi thuộc hạng ăn tại gia…trường trai,  Dù đã sống gần trọn 35 năm ở hải ngoại, tôi vẫn còn thèm ăn mắm. Mắm nào cũng chẳng chê, mắm Châu đốc, mắm thu, mắm thái, mắm nêm, mắm ruột, mắm ruốc, mắm tôm…Người Bắc hay lầm lẫn giữa mắm tôm và mắm ruốc. Gọi ruốc là tôm, gọi tôm là ruốc. Mắm ruốc là làm từ con ruốc ra, ruốc có hình dạng nhỏ, trong, làm ra mắm thì có màu tím. Mắm tôm làm từ con tép ra, màu đỏ, có thêm củ riềng vào. Người Nam gọi là mắm tép, có thể đúng hơn cả. Mắm thu, mắm tôm nổi tiếng ở Quinhơn là quán bà Kỳ (Thanh Hương) ở đường Lê Lợi. gần sát rạp ciné Lê Lợi. Bà Kỳ người Huế, đem cả nghệ thuật nấu ăn xứ Huế vào Quinhơn. Món đặc biệt nào của Huế thực khách đều có thể thưởng thức tại đây, từ bún bò gìo heo, đến cơm hến, cháo lòng, bánh bèo…thôi thì đủ mọi thứ. Tuyệt..vời! Làm sao quên được món “mắm ruột”  ăn với cà dĩa còn xanh, mỗi lần ở nhà làm món này, là tôi …cạy luôn cơm cháy, Mắm ruột là do lấy ruột con cá Ngừ (tôi cứ tưởng tên cá là cá Người, nhưng phát âm theo giọng Bình Định: Người trở thành Ngừ như: Ngừ ta quơi!). Nhưng nó Ngừ thật! Ruột cá sau khi bóc bỏ mật, bỏ mang, được để vào trong tô, rắc múi hột lên, đậy cho kín, chứ ruồi bu là bị hỏng. Để phơi nắng vài ngày cho nó…sình, nói theo người chuyên môn là cho nó chín, nó dậy mùi, xong bắc cái chảo, khử tỏi cho thơm, bỏ ruột vào (lúc đó đã mềm) nhanh tay xào, thêm tí đường, chờ ruột rã, tan trong chảo, lúc đó trở thành một chất đặc sền sệt như tương ngọt (Hoisin) là bắc chảo xuống, ăn nóng. Cà dĩa cắt từng khúc vừa miệng, cứ việc cà quẹt mắm, rồi và cơm cho khá…Có thịt ba rọi luộc nữa thì…ăn mệt nghỉ! ăn quên cả nước…non. Ăn mắm vào buổi tối, khát nước lắm, như uống phải trà Thái đức!
Ở khu Một (bến cảng), có cái lò hấp cá, mỗi lần tới mùa cá nục thì bốc mùi…thơm đáo để. Cá lưới được nhiều quá, ăn tươi không hết, phải hấp mang bán trên vùng cao nguyên, nhất là Dalat. Cá nục nhỏ con hơn và ăn không ngon bằng cá lồ ồ. Cá Ngừ hay cá lồ ồ (là con cùa con cá Ngừ) đem đi nấu mẳn, tức là nấu như canh nhưng mặn mặn hơn chút để chan ăn với bún, hoặc cuốn bánh tráng, rau sống. Đích thị là món đặc biệt của Quinhơn. Nó mặn mà, nó thâm thúy làm sao! Những ngày vào Hạ, bạn còn nhớ có món gì đặc biệt ăn mát ruột không? – Món gỏi cá sống- Vâng, chính nó đấy! Ăn vào lúc tiết trời nóng bức, khỏi chê vào đâu được. Người ta làm gỏi cá bằng cá mai hay cá cơm. Làm cá cơm thì để nguyên con, với cá mai thì lọc lấy phấn thịt hai bên, cá mai làm xong phải để trên thớt gỗ cho thật khô mới lạn lấy thịt, xong rồi vắt chanh vào, để một lúc thì nó tự chín. Đáng chú ý nhất là rau, không phải chỉ một hai thứ rau thơm là xong đâu, phải có càng nhiều loại rau thơm, thì càng ngon, chẳng hạn như rau mùi, tía tô, kinh giới, húng lủi, húng láng, tàng ô, rau cúc, rau răm,lá ổi, lá sung…ngần ấy thứ rau, thứ nọ đỡ cho thứ kia mới hoàn toàn. Riêng nhìn những thứ rau đó không, nằm trong những cái dĩa trắng tinh, ta cũng đủ thích mắt và thấy cái mát rời rợi trong lòng. Nhưng cái mát đó chưa thấm vào đâu với cái mát lúc dĩa cá sống bưng ra để vào giữa cái vườn hoa xanh ngát đó; miếng cá cứ trắng nõn ra, trông mơn mởn như một người đẹp đang thơ thẩn trong vườn Thượng Uyển. Gỏi cá có một cái thú đặc biệt là có nhiều mùi vị cay, đắng, chua, ngọt, hăng hắc, mặn…đủ cả. Thỉnh thoảng lại bùi, cái bùi của đậu phụng, mè và của chất bánh tráng nướng tỏa mùi thơm thoang thoảng…Xúc mỗi miếng cá với miếng bánh tráng mè và với đủ mặt rau. Qủa là một món thanh nhã, đậm đà mà không béo ngậy. Người đẹp trong vườn Thượng Uyển đã biến mất tự lúc nào, mà khách si tình,vẫn còn quyến luyến, ngẩn ngơ…
Đặc biệt ở quinhơn còn có món bún sứa góp phần vào món gỏi cá sống. Sứa có hai loại: một loại sứa chân và loại sứa tròn. Sứa chân ăn ngon hơn, dòn hơn, túng lắm thì xài đỡ sứa tròn. Sứa mua ở chợ mang về, ngâm vài tiếng trước khi ăn cho nó nhả cát, vắt cho thật ráo nước. Một nồi nước lèo nấu bằng xương, bỏ  cà chua vào cho dịu nước, thịt ba rọi, tôm, hành, xào xong đổ vào nước dùng. Bún cho vào tô, rắc sứa lên trên, rau muống chẻ, rau thơm, băp chuối xắt nhỏ, trãi lên mặt với đậu phụng rang giã vừa vừa, chan nuớc lèo súp súp vào…Bạn đã từng ăn qua chưa? Ngon không chỗ chê đấy bạn ạ! Ở Quinhơn có loại cá mó, hình dẹp, màu hồng, đầu màu xanh lơ, loại cá này chắc là loại cá san hô. Cá mó lăn bột, chiên vàng, ăn với nước mắm ớt tỏi. Khỏi chê!. Món chả cá từ con cá rựa, ôi thôi ngon ơi là ngon. Cá rựa mang về, lột da, xong lấy muỗng nạo phần thịt, để sang một bên, đến phần xương thì bằm thật nhuyễn, để sang một bên. Nêm mắm, muối, đường cho vừa ăn, nắn lại thành từng cục như cục Hamburger ở Mc Donald. Chiên lên, làm sốt cà, bỏ tất cả vào, để lửa riu riu cho sốt thấm vào thịt. Tuyệt hảo hạng! Phần thịt, lúc chìên thì có màu trắng, phần xương thì đổi màu nâu nâu. Ăn những cục từ phần thịt là ngon nhất, nhưng chọn những cục này ăn trrước thì bị khỏ đầu. Ăn bún  chả cá chính tông con nòng nọc, thì phải nhắc đến con cá mối (giống như cá thác lác trong Nam). Mùi chả cá không tanh, bùi làm khoan khoái khứu giác ta, trong khi thị giác thì được thỏa thuê với những ngọn rau muống chẻ, xanh mườn mượt, xen với tí rau húng, rau thơm, chén nước mắm ớt, tỏi chanh, đường, dĩa bánh tráng mè nướng, bẻ vụn hoặc những tô bún nghi ngút khói, hay chồng bánh tráng dày đã nhúng nước.
Tôi còn nhớ một món đặc biệt nữa là món nhộng xúc bánh tráng. Hình như muốn ăn nhộng thì phải đợi tới mùa mới có. Nhộng là sâu của con tằm, mấy con sâu lúc nhúc, leo nheo…nhưng đã luộc lên rồi, thì chúng nó ngay đơ…và có màu vàng. Nhộng mua ở chợ đã luộc sẵn, nên nó không còn nhúc nhích nữa, có nhiều chất đạm. Thứ này, xúc với bánh tráng nướng, xúc hết, tay vẫn còn muốn xúc mãi không thôi…Ủa, nó hết rồi à! Sao mà mau qúa vậy? Ở Quinhơn còn có một loại cá nữa là cá Dìa (không phải cá về vì phát âm ). Cá này sống ở vùng nươc lợ. Đầm thị nại là quê hương lý tưởng. Mỗi chiều, đi trên đường Bạch Đằng, rẽ qua Cầu Đá, đứng xem mấy tay câu cá Dìa bằng “mồi quẹt”. (mồi quẹt là gì vậy? khó nói quá! Nó là…chất vàng vàng đó). Loại cá này cũng thích ăn dơ như cá Tra ở trong Nam. Nhưng tôi nghĩ, cá bán ở chợ, được lưới chứ không câu quẹt như dân tài tử đâu. Cá Dìa chiên ngon lắm! Cá lưỡi trâu chiên vàng ăn cũng ngon, chỉ tiếc thịt chúng nó ít qúa, vì dẹp lép. Con cá hố cũng dẹp, còn dẹp hơn cá rựa nữa, nó ốm tong, ốm teo, chỉ có nước đem chiên. Vì cá quá mỏng, nên trong xóm tôi có bà hàng xóm, được đặt tên “bà Phước cá hố”. Con cá bánh đường xuất hiện rất thường dưới dạng đã chiên rồi, nằm trên dĩa nhà tôi. Bữa cơm Việtnam, cũng như những bữa cơm Quinhơn đều không thể thiếu món canh. Trời nóng, ăn đồ chiên xào nuốt không trôi, nhiều lúc chỉ quơ quào chén cơm chan canh, lùa một húp thì xong bữa. Món canh thì hằng hà vô số, muốn canh nào, chế nước cho kha khá thành canh đó. Canh bí, canh bầu, canh rau má, canh khổ qua, canh cá…Tôi muốn nhắc đến canh cá, nhưng canh cá cũng có nhiều loại, tôi khoái nhất là cá liệt nấu canh măng chua, hoặc với thơm, với cá chua, thêm nhiều lá hành vào. Con cá liệt nhỏ bằng ba ngón tay, hình thù giống cá chim hay cá scalare, nhiều xương con lại cứng. Còn có một mỹ danh nữa là cá Long hội. nói lái lại có nghĩa là lôi họng! Dễ bị hóc xương đến lôi cả họng. Nhưng nấu canh với nó thì ngọt vô cùng. Chỉ cần nấu nó lấy nước làm canh, có một vị ngon rất độc đáo. Ngoài cá liệt nấu canh còn có canh cá Ngạnh cũng không kém phần hấp dẫn. Cá Ngạnh sống ở nước lợ, cũng nấu với măng chua, hoặc thơm, rất ngon. Không biết bây giờ ở Quinhơn có còn con cá khoai mà Ngoại tôi hay goị là “cá Phai” hay không?. Thịt cá khoai mềm nhũn như thịt heo kho tàu hai, ba ngày. Nó trắng và trong suốt, thấy cả lòng dạ, nấu với mứt đen, tức rong biển, như một cặp bài trùng, ăn mê tơi !. Cẩn thận gắp, bỏ  vào miệng miếng cá khoai, „chưa nuốt đến môi đã trôi đến cổ“ rồi, nó mềm mại chạy tọt xuống dạ dày, không cần nhai.
Lúc nào húng hắn ho, thì có ngay “món ruột heo xào hẹ”. Ruột già mua về, lấy đũa, lộn mặt trong ra, xát với muối, nêm mắm muối và nghệ rồi xào với hẹ. Mê tơi lắm,lại hết ho dù ho khan, ho khúc khắc hay ho…gà. Ngày nào có món thịt ba chỉ nướng than, thì ngày đó hết cơm trong chớp mắt. Gà, vịt cũng hiếm khi có dịp mới được ăn, có ngày giỗ quảy, mừng run…miệng!
Mỗi món ăn chỉ có một số người thật sự hiểu nó, số người ấy là những người ở địa phương đó, vì nó còn liên quan đến những kỷ niệm. Món ngon Quinhơn còn nhiều nữa chẳng hạn như bún nem nướng, bánh bèo, bánh nậm, bánh xèo…nhưng tôi chỉ muốn nhắc đến những món ăn thường có, thường thấy ở Quinhơn, để biết đâu bạn đọc đến, sẽ khơi lại những kỷ niệm ngày xưa.
Miếng ngon Quinhơn như một lời tâm sự với những người xa xứ. Dù ở một phương trời góc biển nào, tôi hy vọng bạn vẫn mang theo cái hương thơm ngào ngạt quyến luyến cuả quê hương.

Bùi Đăng Khoa
(Germany)

Read Full Post »

Trần Mai Hường
Mẹ ơi con đã trở về đây
Nơi chôn nhau,nơi nửa đời con gắn bó
Nơi tuổi ấu thơ với trò chơi tay không tay có
Bụi duối gốc bàng con trốn giấc ngủ trưa

Con trở về từ nơi mưa nắng hai mùa
Hòn ngọc Viễn Đông – người ta hay gọi
Giữa quê hương con thấy mình có lỗi
Uống nước xứ người giọng khang khác người thân

Mỗi bước con đi mỗi bước thăng trầm
Lăn lộn quê người mưu sinh cơm áo
Đã vấp phải bao cuồng phong dông bão
Bao mặn muối cay gừng đắng chát nhục vinh

Hôm nay con về lại nhà mình
Đi buổi chợ quê mẹ đã tảo tần hôm sớm
Phiên chợ nghèo với quả cà mớ muống
Con lặng người nhớ mẹ đếm từng xu…

Đêm nay trên quê hương đầy ắp tiếng ru
Con thao thức trở trăn không ngủ
Những kỷ niệm cứ ngỡ rằng xưa cũ
Lại ào ạt chảy về tươi mới trong con

Vạt cỏ bờ đê lối nhỏ đường mòn
Lùi nửa kiếp trở lại thời bé dại
Trong tim con bóng mẹ hiền dầu dãi
Đọng mát nỗi niềm mỗi bước con xa.

Read Full Post »

Ba và con gái

Trần Thanh Thiện

Như thường lệ, ông Năm ra khỏi giường từ 4 giờ sáng. Tắm sơ xong , ông bắt đầu tập yoga. Sau đó ông đun nước pha trà và khoảng 6g ,ông vào đánh thức vợ dậy. Hai vợ chồng ngồi nhâm nhi uống trà, vừa trò chuyện vu vơ. Cũng có lúc chẳng có chuyện gì để nói, họ lặng lẽ thưởng thức tách trà buổi sáng,Vừa uống, ông Năm vừa liếc nhìn vợ để đoán xem đêm rồi bà ngủ ngon không. Bà hay mỏi vai và đau lưng nên đêm nào trước khi ngủ ông cũng đấm bóp cho bà bằng dầu tràm để đêm bà ngủ say và không rên rỉ mỗi khi trở mình. Ông còn ít ngủ hơn bà, nhưng ông vẫn khỏe. Ông thường thức dậy từ 2, 3g sáng, cố nằm yên để không làm bà thức giấc.

Xong mấy tuần trà, bà đứng lên chuẩn bị bữa ăn sáng.  Nhìn dáng bà nhỏ loắt choắt liêu xiêu đi xuống bếp, ông thấy thương bà quá. Đã 40 năm là vợ chồng, ông bà hiểu nhau rất rỏ. Bởi vậy họ không trò chuyện với nhau nhiều, vì chỉ cần một cử chỉ, ánh mắt, điệu bộ, nhiều lắm là một câu nói, là họ đã hiểu người kia muốn gì. Lâu lắm rồi họ không nói với nhau những lời yêu thương mặn nồng, không còn những cử chỉ âu yếm, nhưng không phải vì thế mà họ bớt yêu thương nhau. Tất cả đã chắt lọc, cô đặc, kết tinh lại thành những cái nhìn thăm dò, những ánh mắt lo âu, nhắc nhở, những cử chỉ chăm sóc nhẹ nhàng kín đáo, ân cần và lặng lẽ, từ chuyện ăn chuyện ngủ chuyện mặc cho đến những sinh hoạt cá nhân hằng ngày. Tuy vậy nhờ ông có óc hài hước nên nhà cũng không thiếu tiếng cười. Ông bà còn có niềm vui chung là đọc sách, và sách là người bạn chung của hai ông bà.

Đã lớn tuổi nên dù chung chăn chung chiếu nhưng mạnh ai nấy ngủ. Có đêm đang yên giấc, bỗng bà trở mình choàng tay qua ôm ông rồi rúc đầu vào nách ông ngủ tiếp. Ông thức giấc, cảm nhận hơi ấm từ người bà, từ hơi thở đều và nhẹ của bà nhột nhạt bên sườn ông. Ông nằm yên tận hưởng niềm hạnh phúc ngọt ngào mà bà vô tình mang đến cho ông trong vô thức, rồi chẳng mấy chốc ông cũng ngủ tiếp.

Các con của ông bà đều đã có gia đình. Hai anh con trai lớn ở xa. Cô con gái út cũng đã có hai con, ở gần nhà mẹ nên vài ngày cô lại ghé thăm chừng xem hai ông bà có ổn không. Thỉnh thoảng đem đến mớ rau, vài con cá, nói năm điều ba chuyện rồi về. Chủ nhật nào hai đứa cháu ngoại cũng qua chơi, quậy phá tưng bừng ngoài sân ngoài vườn, hái ổi và khế ngọt ăn chán chê. Thỉnh thoảng hai vợ chồng có việc đi đâu lại mang con đến gởi ông bà. Gia đình nhỏ này là niềm vui lớn của ông bà lúc về già. Ao sen trước nhà chừng hai chục mét vuông là niềm mơ ước của lũ trẻ nhưng chúng không bao giờ được phép đến gần.

Mồng một Tết năm nay các con và các cháu nội ngoại tụ họp nhà ông đông đủ làm ông bà rất vui. Vài ly bia làm ông vui hẳn lên và nói nhiều hơn. Bà vẫn ít nói nhưng cười nhiều hơn mọi ngày. Đến tối, căn nhà lại yên tĩnh. Bà vất vả cả ngày nên tối đi nằm sớm, để ông một mình với bình trà nóng. Cảnh gia đình sum họp làm ông nhớ lại thời tuổi trẻ lúc các con ông còn nhỏ. Kỹ niệm xưa mà ông vẫn cố quên đi, tưởng đã vùi sâu qua năm tháng, nay bỗng ùa về..

Thuở ấy ông tốt nghiệp sư phạm cấp tốc, dạy ở trường tiểu học Hòa Duân, một làng quê ven biển Thuận An. Năm năm sau ông yêu một cô giáo người địa phương mới tốt nghiệp và vừa được nhận về trường. Sau khi vợ sinh con đầu lòng, ông bắt đầu học hàm thụ để lấy bằng tú tài II. Và sau một kỳ thi đặc cách của trường trung cấp sư phạm, ông được chuyển về trường trung học thành Nội, Huế. Lúc đó con trai của ông mới ba tuổi, vẫn phải sống với mẹ ở làng quê vì vợ ông chưa thuyên chuyển theo chồng được. Rồi ông bị động viên. Sau khóa học thì ông về đóng quân tận Quảng Ngãi. Lúc đó vợ chồng ông đã có hai con trai. Đã bao lần ông định đưa vợ con vào Quảng Ngãi để vợ chồng con cái sum họp nhưng vợ ông không thể bỏ dạy. Bà cũng đang xin thuyên chuyển theo chồng nhưng chắc còn phải chờ đợi lâu. Vợ chồng ông đành tạm thời sống xa nhau. Biết vợ buồn nên tuần nào ông cũng gởi về những lá thư thật dài, kể về cuộc sống của ông ở nơi xa, không quên kèm theo những lời yêu thương thắm thiết và nỗi nhớ nhà khôn nguôi làm ông mất ăn mất ngủ. Mỗi lần nhận được thư của vợ, ông mừng hơn bắt được vàng. Ngoài những tin tức nóng hổi về  hai đứa con thân yêu mà ông nhớ quay quắt, nàng viết “…em nhớ anh đến phát điên anh ơi! Một mình trên chiếc giường rộng, em nhớ quá chừng vòng tay anh …”.Ông thường mất ngủ sau khi đọc những dòng thư như thế.

Tháng 8 năm đó ông xin nghỉ phép về Huế giỗ Ba ông, tiện thể thăm vợ con. Mới đi xa có 8 tháng mà ông tưởng chừng đã mấy năm. Ông về Hòa Duân thăm vợ con trước rồi sau đó đưa cả nhà lên nhà Mẹ ông ở Huế. Trong lúc vợ ông ở nhà trong lo chuyện bếp núc thì ông lo cắm hoa, xếp dọn bàn thờ, chuẩn bị bàn ghế để đón khách mời.

Tối hôm đó về nhà vợ ông bị nôn và đau bụng. Ông nghĩ bà trúng gió nên cạo gió và xoa dầu như mọi khi. Sáng hôm sau bà vẫn nôn, da tái xanh và rất mệt nên ông vội đưa bà đi khám bịnh. Kết luận của bác sĩ làm ông choáng váng: Bà đã có thai 5-6 tuần. Ông đứng lặng nhìn bà ngỡ ngàng, không tin vào mắt mình. Nhưng giấy trắng mực đen sờ sờ ra đó! Bà chỉ cúi mặt khóc nức nở.

Ông không về nhà cùng với vợ mà một mình đi ra biển. Ông ngồi trên bãi cát, đăm đăm nhìn ra khơi xa. Tít ngoài  kia, nơi bầu trời và mặt biển gặp nhau, ông nhìn thấy vợ ông đang tươi cười khoác tay ông, tay kia cầm bó hoa cưới. Rồi ông thấy nàng trong đêm tân hôn, rạng rỡ, đẹp tuyệt trần trong tấm áo ngủ ngát hương thơm da thịt con gái trinh nguyên, háo hức đợi chờ nhưng đòi ông phải tắt hết đèn ngủ. Đã bao đêm như thế trôi qua ông không nhớ nổi. Rồi ông thấy nàng ngời ngời hạnh phúc bên ông mỗi khi ông về thăm. Nàng dịu dàng, đằm thắm và tận tụy xiết bao những lúc cùng ông chia xẻ những buồn vui sướng khổ trong cuộc sống. Nàng và hai đứa con là lẽ sống của cuộc đời ông bao lâu nay rồi. Ông đã quá quen với ý nghĩ nàng là của riêng ông, không phải trong ý nghĩa chiếm hữu, nhưng ông quen nghĩ rằng nàng là một phần của thân thể ông, của cuộc đời ông, không thể thiếu và không thể tách rời. Bao nhiêu năm tình nghĩa mặn nồng, ông mặc nhiên xem đó là một điều tất yếu. Rồi ông thấy nàng trong vòng tay một người đàn ông khác! Cũng là nàng, cuồng nhiệt, đắm say như khi nàng trong vòng tay ông. Ông nhắm mắt, lắc đầu như muốn xua đi hình ảnh phũ phàng rồi hét lên thật to, thật dài. Như tiếng gầm đau đớn của con hổ bị thương. Như tiếng hú tuyệt vọng của con sói bị trúng đạn. Biển trưa vắng ngắt. Tiếng hét của ông lồng lộng trong gió át cả tiếng sóng biển ầm ào, vang vọng thật xa rồi tan dần trong hư vô. Nhắm mắt lại ông vẫn thấy nàng. Mở mắt ra ông vẫn thấy nàng. Ông ước sao mình có thể ngủ một giấc thật dài để tạm quên đi sự thật đau lòng này. Ông thấy mình thật nhỏ nhoi và tuyệt vọng trước nỗi khổ lớn lao quá sức chịu đựng này. Và ông nằm thiếp đi trên bãi biển dưới nắng và gió.

Một cảm giác lạnh buốt chạy dọc xương sống và hai vai làm ông thức giấc. Vừa bừng tỉnh, ông nhớ ra ngay mọi chuyện và tim ông nhói đau.Trời đã về chiều. Có nhiều người trên bãi biển, tắm hoặc hóng gió. Bụng cồn cào làm ông nhớ ra hôm nay chưa ăn gì. Ông lửng thửng bước đi. Bỗng một ý tưởng lóe sáng trong đầu ông như tia chớp: ông mơ hồ thấy mình cũng có lỗi trong chuyện này. Tại sao ông không tìm mọi cách, bất chấp mọi trở  ngại đưa vợ con vào Quảng Ngãi để vợ chồng sớm tối có nhau và các con ông được sống gần ba. Một cách vô thức, ông vui mừng nhận ra rằng mọi chuyện không phải hoàn toàn do lỗi của vợ ông, rằng việc này còn có thể cứu vãn được, miễn là… Ông thấy lòng nhẹ nhàng hơn. Một chút lạc quan làm ông bước đi nhanh hơn trên đường về nhà. Ăn vội chén cơm do vợ ông lặng lẽ dọn ra, ông đi ra phòng khách, nằm trên divan và ngủ ngay. Chiều hôm sau ông trở về đơn vị. Trước khi đi ông nói mà không nhìn vợ:

_ Đừng có phá bỏ cái thai đi nghe không! Tôi là phật tử đấy! Để tôi còn suy nghĩ đã…

Ông lặng lẽ sắp đặt mọi việc và tháng sau ông xin phép đặc biệt về Hòa Duân đưa cả nhà đi theo ông vào Quảng Ngãi. Nhờ sự giúp đỡ của chỉ huy đơn vị, các con ông sẽ vào ngay trường mẫu giáo. Vợ ông thì đầu niên khóa sau sẽ đi dạy ở trường tiểu học gần chỗ đóng quân. Ông không thư từ cho bà trong thời gian đó, nhưng nhận thư bà 2 cái mỗi tuần. Thì ra anh ta là người Hòa Duân, và là mối tình đầu của bà khi hai người cùng học phổ thông ở trường huyện. Sau đó gia đình anh ta chuyển đi xa và họ mất liên lạc. Bây giờ anh ta về thăm nàng, nhân tiện thăm lại quê cũ. Và chuyện đó đã xảy ra trong một lúc nàng không kiềm chế được mình. Nàng cầu xin ông tha thứ, vì thật ra đã từ rất lâu bà đã quên anh ta và kỹ niệm xưa đã ngủ yên trong ký ức. Và bà khẳng định : “…em chỉ yêu mình anh thôi “

Đã hơn 30 năm trôi qua. Vợ chồng ông đã cùng nhau nuôi dưỡng Lan, từ một đứa bé quặt quẹo nay ốm mai đau, trở thành một thiếu nữ xinh đẹp giống mẹ như tạc. Lan tốt nghiệp Đại học Sư phạm Anh văn, dạy tại trường chuyên Lê Khiết, lấy chồng dạy cùng trường và đã có 2 con. Mấy đứa cháu ngoại được ông bà hết mực yêu thương.

Thời gian như nước chảy qua cầu, và bên dưới dòng nước ấy, Ân, Nghĩa, Tình với những kỹ niệm buồn vui đã lắng đọng lại thành một lớp bùn đặc quánh, mầu mở. Trên lớp bùn đó đã nở ra những đóa sen tỏa hương tinh khiết. Và ngày qua ngày, những cánh hoa vẫn thanh thản bung ra, thanh thản tàn như những năm tháng cuối đời của họ.

Sáng hôm đó, nhắp xong ngụm trà, ông ôn tồn bảo vợ:

_ Bọn mình cũng gần đất xa trời rồi, không biết ra đi lúc nào. Theo tôi thì bà nên cho con gái biết cha đẻ của nó là ai để nó còn kịp báo hiếu trước khi quá muộn.

Vợ ông nói ngay không cần suy nghĩ :

_Thì là ông chứ còn ai vô đây! Ông đã xem nó như con bao năm nay thì nó là con ông chứ con ai nữa.

Ông âu yếm nhìn vợ, cố dấu nụ cười mãn nguyện sau chiếc tách trà còn nóng hổi .

Không biết nên nói gì, ông khẽ tằn hắn rồi đánh trống lảng:

_Sáng nay sen nở nhiều lắm, Bà ra mà xem. Thơm ngát cả sân.

.                            Trần Thanh Thiện

Read Full Post »

Cõi Không

 Văn Công Mỹ

 

Thơ Buồn

Viết vài câu thơ ngắn

Ngỡ tìm chút an nhiên

Đọc lên sao môi đắng

Trong thơ có ưu phiền.

 

Tha  Hương

Đá núi thấm hơi sương

Giữa non ngàn rớt lệ

Mây xám trời tha hương

Cõi người mênh mông quá.

 

Cõi Không

Nm nga mt bên sông


Ngó trờ
i xanh mây trng


Thấ
y gì cõi không


Tiế
ng đi rơi tch lng.

 

 

Cỏ Cú

Nguyện làm thân cỏ cú

Ngóng em về cuối sân

Bởi trong ngày tháng cũ

Đã oằn một bước chân.

 

 

 

 

Read Full Post »

Khoảng trời bình yên

Truyện Ngắn

TRẦN MINH NGUYỆT

 

Có những chuyện không thể nhưng thành ra có thể, có những chuyện khó tin nhất lại trở thành sự thật hiển nhiên hiện hữu như mặt trăng ngày rằm tròn đầy và sáng vằng vặc giữa trời không gợn chút mây vậy. Câu chuyện của tôi sắp kể ra đây bắt đầu vào một ngày hè trời chuyển mưa giông cách đây ba năm ….

Mưa giông ngày hè vốn rất đỏng đảnh, đang nắng gắt bỗng dưng trời sầm lại và đổ mưa xối xả, mưa đột ngột và chấm dứt cũng rất đột ngột. Những hành khách đang lưu thông trên đường thường là tấp vào hai bên tìm chỗ trú mưa dưới mái hiên hay vĩa hè của một ai đó nếu không muốn mình bị ướt nhẹp. Hôm đó tôi đi thư viện về với nhiều sách báo mượn đem vế nhà để đọc trong những thời gian nhàn rỗi, vì vậy tôi vội vã tránh mưa dưới mái hiên của một ngôi nhà bên đường, để khỏi ướt mấy quyển sách đang bỏ nằm trống trải trong giỏ xe. Người thanh niên nhanh chân vào trú mưa trước tôi cứ nhìn tôi chằm chằm khiến tôi cảm thấy rất khó chịu. Tôi lén nhìn lại anh ta – anh hơi thấp, nhỏ và nét mặt không điển trai một chút nào. Nước da  ngăm ngăm đen, gương mặt khắc khổ, mái tóc bù xù và ướt nhẹp vì nước mưa. Nói thật là tôi không có chút thiện cảm nào với người cùng trú mưa ấy, mà còn cảm thấy khó chịu vì sự hiện diện của anh ta lúc nầy. Tôi nép mình vào sát tường, và chăm chú nhìn lại những cuốn sách mà cả buổi chiều tôi vất vả lắm mới moi tìm ra để mượn được. Ba quyển Tam Quốc, và cuối cùng là Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim. Tôi đang mê mải xem chương “ Nước Việt Nam  thời Thượng cổ đại” thì người thanh niên đang đứng bên cạnh tôi nói bâng quơ bắt chuyện. Tôi hơi khó chịu, nhưng cũng thờ ơ – ngập ngừng trả lời…

–         Mưa mùa hè như thế này đáng lẽ mau dứt lắm chứ, sao lại dai dẳng, lai rai hoài, đúng là chán thật!

–         Mưa vì mấy đám đám mây đen kia thôi mà, một lát nữa sẽ hết thôi.

–         Mà cô là nhà sử học à? Sao mượn toàn là sách lịch sử thế?

–         Tôi không học sử, nhưng tôi thích đọc sách về lịch sử thôi.

Dường như biết tôi hơi bực mình vì câu hỏi của mình, nên yên lặng – một lúc, anh ta giả lả: “ Cô có tin không? Tôi cũng rất mê đọc lịch sử đó. Mà nói chung tôi thích đọc sách, loại sách nào cũng thích đọc hết. Việt Nam sử kí tôi đã đọc hai lần rồi, còn Tam Quốc không biết tôi đã đọc bao nhiêu lần nữa…”. Tôi nhìn anh ta thoáng chút nghi ngờ nhưng cũng ngập ngừng đáp lời: “ Tôi cũng xem rồi, nhưng vẫn muốn xem lại. Trong Tam Quốc, anh thích nhất là nhân vật nào? ”. Như bắt đúng sở thích, vẻ mặt của anh ta rạng rỡ hẳn lên, anh hào hứng : “ Ở trong Tam Quốc nhân vật nào cũng đặc biệt cả, mỗi người mỗi tính cách rất hay. Khổng Minh thì thông minh tài trí, Quan công thì hào hiệp, trợng nghĩa, vũ dũng kiêu hùng. Tào Tháo đa nghi, quyết đoán. Mỗi vị tướng chúng ta có thể học được từ họ một đức tính tốt đó cô à …”. Người thanh niên xa lạ kia và tôi trở nên gần gũi hơn từ mấy ông vua quan thời Tam quốc xa lơ xa lắc ấy. Câu chuyện giữa chúng tôi về các nhân vật Tam Quốc cứ kéo dài ra, tưởng như không bao giờ dứt:

–         Cô còn nhớ trận Khổng Minh gảy đàn đuổi Tư Mã Ý không?

–         Nhớ chứ sao không? – Tôi mơ màng nhớ lại, chưa kịp nói – thì anh đã nhiệt tình kể: “ Tư Mã Ý kéo 15 vạn quân đến Tây Thành. Các tướng nghe tin đều khiếp vía. Vì lúc này bên cạnh Khổng Minh chỉ có 2500 quân già yếu và Quan văn mà thôi, đánh cũng chết mà chạy thì chắc chắn sẽ bị bắt. Vậy mà ông ta đủ bình tĩnh truyền cho các tướng rằng nội bao nhiêu tinh kì phải ngả cả xuống. quân sĩ đâu cứ giữ đấy, không được nhốn nháo. Bốn cửa thành cứ việc mở toang.
Tư Mã Ý tiến quân đến thành, thấy Khổng Minh ngồi gảy đàn, miệng cười tươi như hoa, tả có một đồng tử cầm bảo kiếm hữu có một đồng tử cầm phất trần đứng hầu hai bên           .
Ý xem xong lấy làm nghi lắm, liền rút binh về…”

Anh thoáng nhìn lên mặt tôi bằng đôi mắt biết nói :

–         Đúng là tài thật phải không cô? Đánh trận không những dựa vào quân đông thế mạnh mà còn dựa vào kế sách của người làm tướng cầm binh. Phải nói là Khổng Minh trên thông thiên văn, dười tường dịa lý, trận bát quái biến đổi khôn lường của ông bao lần bắt được tướng của Tư Mã Ý.

–         Tôi cũng nghĩ như anh vậy! Tôi mỉm cười – anh đang làm nghề gì mà có thời gian để mê đọc sách dữ vậy?

–         Tôi cũng như cô thôi – anh lại nhìn thật chậm lên mặt tôi – làm một nghề mà chẳng liên quan một chút nào đến sách vở cả.

Anh còn nói nhiều chuyện nữa –  nói về Lạn Tương Như dâng ngọc, tình bằng hữu Bá Nha – Tử Kì, Phụ chính Lý Thường Kiệt, và Trần Hưng Đạo ba lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông… Tôi lắng nghe. thỉnh thoảng chỉ chen vào một vài câu đồng cảm. Trời đã ngừng mưa từ lúc nào rồi mà hai chúng tôi vẫn còn mãi mê nói chuyện như thể là bạn thân lâu ngày mới gặp lại.

Ông bà chủ nhà về đến, chúng tôi giật mình – nhìn ra ngoài trời và cùng cười bẽn lẽn. Vậy là ai đi đường nấy, vội vàng. Tôi không biết anh là ai, ở đâu, tên là gì nữa, nhưng với tôi đó là một khoảnh khắc tuyệt vời như tình cờ bắt gặp một bông hoa dại xinh xắn bên đường.

Mọi gặp gỡ của con người trên đời có lẽ là bởi do nhân duyên nhiệm mầu sắp đặt ? Tôi chỉ biết sau những phút giây tuyệt vời đó một tuần khi tình cờ nghe chương trình quà tặng âm nhạc trên sóng FM có một lời đề nghị tặng nhạc nực cười như sau: “ Tôi tên là Khoa! Tôi muốn gởi tặng một cô gái trú mưa cùng tôi dưới mái hiên ngày nào bài hát: “ Giòng máu Lạc Hồng”. Với lời nhắn là trong cuộc sống hi vọng chúng ta có cơ hội gặp lại nhau”. Tôi nghe bài hát mà thấy lòng bâng khuâng một cảm giác khó tả thành lời.

Gặp gỡ giữa tôi và anh giống như chuyện liêu trai vậy, cứ mỗi lúc rảnh rổi là tôi ghé lên nơi mà chúng tôi cùng trú mưa hôm nào xem anh có quay lại tìm tôi không? Nhưng không một lần nào tôi gặp lại anh nữa cả. Anh đã như chiếc lá giữa dòng, hòa mình vào biển người mênh mông, biết đâu mà tìm? Cánh chim đã vời bay xa…

Lúc trong tôi dường như niềm hi vọng đã lụi tắt thì lại gặp anh – cũng với một tình huống thật bất ngờ. Hôm đó đường kẹt xe, đông nghẹt người, vì đoạn đường phía trước đang thi công. Trong dòng người bị nghẽn lại – tôi thấy anh. Anh đang mặc một bộ đồ màu xám, đội mũ nhựa trắng, đang điều khiển chiếc xe lu cán phẳng mặt đường. Tôi muốn gọi to, muốn vẫy tay gọi anh nhưng không hiểu sao tôi không dám làm điều đó, đành cứ ngồi trên xe mà nhìn anh. Trong khi dòng người, dòng xe cứ vẫn chen chúc nhích dần về phía trước để mau thoát khỏi tình trạng khó chịu này thì tôi đứng khựng lại. Và dường như có một mãnh lực giao cảm siêu hình nào – trong một giây ánh mắt anh bắt gặp ánh mắt nhìn theo của tôi. Anh mỉm cười đưa tay vẫy và gọi to : “ Cô gì ơi? Đợi tôi một lúc, tôi có nhiều chuyện muốn nói với cô …”. Dòng người qua lại nhìn tôi lạ lẫm, ngạc nhiên. Anh quay sang người bên cạnh nói nhỏ gì đó, chiếc xe lu dừng lại, anh nhảy xuống tiến dần lại phía tôi. Vậy là lần thứ hai anh và tôi gặp nhau ở một quán nước bên đường. Anh và tôi cùng nhìn nhau cười. Sau vài câu xã giao thông thường, cuộc trò chuyện giữa chúng tôi trở nên vui vẻ và thân tình hơn rất nhiều. Anh và tôi chuyển cách xưng hô từ lúc nào không biết.

–         Anh đúng là vô tâm thật, lúc đó nói chuyện với em lâu vậy, mà không biết em tên gì, nhà ở đâu? Sau đó anh muốn tìm gặp em nhưng biết đâu mà tìm đây?

–         Em cũng có hơn gì anh đâu? Nhất là sau khi em nghe bài hát anh tặng em trên kênh FM, em mới biết anh tên Khoa, em cũng có ý tìm anh để cảm ơn. Nhưng biết đâu mà tìm…

–         Anh là Trần Ngọc Khoa! Tài xế lái xe lu, anh quê ở Đà Nẵng nhưng vì công việc nên luôn rày đây mai đó em à. Em giờ có thể “ kê khai lí lịch “ của em một chút cho anh biết được không?

–         Em là Huỳnh Ngọc Bảo Trang, là kế toán của công ty gỗ An Lợi.

–         Tên em đẹp quá. Cô kế toán viên xinh đẹp hàng ngày tiếp xúc với những con số, sao mà có sở thích giống anh đến vậy chứ?

–         Sở thích gì hả anh?

–         Là cả hai chúng ta đều thích xem sách cũ, tuồng xưa, và đọc những thứ ít ai đọc thời nay. Chỉ có những ai “ hâm” như anh em mình mới làm chuyện đó thôi em à…

Cả hai anh, em cùng cười rạng rỡ.

Sau đó tôi và Khoa có dịp gặp nhau nhiều hơn. Với tôi Khoa là một kho tàng kiến thức bí ẩn mà tôi không thể nào khám phá hết được. Anh điềm tĩnh và chín chắn, tôi có cảm giác anh lái xe lu lâu năm nên có tính cách đằm đằm như vậy. Đặc biệt anh rất mực quan tâm đến tôi. Bên anh, tôi cảm thấy mình được che chở, được vỗ về, và trái tim tôi trỗi dậy vũ điệu thiên thần khao khát yêu thương. Khoa cũng đáp lại tình tôi nồng ấm, như cơn gió mát dịu buổi sáng đầu xuân trong lành quyến rũ.

Chuyện tình của hai chúng tôi gần như đến hồi nở hoa, kết trái – thì xảy ra một chuyện – cũng thật bất ngờ ( chữ “ ngờ “ không ai hiểu nổi ?), khiến nó tan vỡ như những bóng bóng mưa lạnh lẽo âm thầm ngày nào…

Một hôm lúc tôi đang làm việc ở phòng kế toán, một cô gái khá xinh, ăn mặc model đến tìm tôi, và mời tôi ra quán cà phê bên cạnh công ty. Cô ấy không vòng vo mà nói thẳng với tôi rằng : “ Anh Khoa mà cô đang theo đuổi là chồng sắp cưới của tôi, chúng tôi đã in xong thiệp cưới rồi. Còn chỉ nửa tháng nữa là lễ cưới tiến hành. Tôi xin cô hãy tha cho anh ấy!”.  Nghe xong, tôi không thể tin vào tai mình nữa.  Như có một cái gì đang lảo đảo, quay cuồng trong đầu tôi. Tôi cảm thấy hụt hẩng, choáng váng. Đầu óc lơ lửng, trống rỗng. Tôi cũng muốn nói một lời gì đó để phân trần nhưng cuối cùng chỉ là sự im lặng đáp lại. Giọng cô gái vẫn trầm trầm như rót từng lời bên tai: “ Cô không tin sao? Đây là thiệp cưới, sẵn tôi gặp cô ở đây, xin mời cô đến dự tiệc luôn  cho vui vậy? ”. Tôi cầm tấm thiệp cưới đầy mầu sắc có tên anh và tên của cô ta trên tay, vụt dứng dậy. Không một lời từ biệt – tôi đi như chạy ra khỏi quán. Hôm đó cũng vào một ngày trời mưa, tôi băng qua đường dưới cơn mưa lớn – nước mắt của tôi hòa lẫn với nước mưa đẫm ướt khuôn mặt. Không ai có thể biết là nước mắt tôi hay mưa đã làm cho khuôn mặt trở nên lạnh léo, tái xanh đến vậy. Tôi chợt cảm thấy mình như một con ngốc, con thiêu thân – đã lao theo một cuộc tình mà không dành cho mình, không có sự sống của ngày mai – dù rất ngắn ngủi!

Tôi đã trốn Khoa – tôi không muốn gặp lại anh, con người đã đem tình yêu của tôi ra làm trò đùa từ nhiều tháng qua mà tôi không hề hay biết! Tôi đổi số điện thoại và hàng ngày nhờ đứa em họ làm cùng công ty chở tôi đi. Nó đóng vai người yêu của tôi, vì chỉ làm vậy tôi mới thấy đỡ xấu hổ, đỡ tủi khi chạm mặt anh. Hôm nào cũng vậy, Khoa thường ghé chờ tôi trước cổng công ty, ngày nắng cũng như ngày mưa. Anh chỉ đứng đó và nhìn tôi đang bá vào vai thằng em họ chuyện trò đi khuất rồi mới về. Tôi thấy cứ như vậy, rồi đến một ngày nào đó tôi sẽ xiêu lòng và phạm tội cùng anh mất. Tôi quyết định xin nghỉ việc ở công ty để đi học Thạc Sĩ kinh tế. Thế là tôi vào Sài Gòn và bặt tin nhau từ đó.

Tôi lấy bằng Thạc sĩ kinh tế xong, nhiều công việc lương cao phù hợp với tôi, nhưng tôi không muốn ở lại thành phố ồn ào, náo nhiệt này một chút nào – bởi dường như nỗi buồn đau không thể thích nghi với cành náo nhiệt? Tôi lại khăn gói về quê nhà xin việc. Tôi nhanh chóng xin được việc làm ở công ty du lịch Viễn Đông. Tôi hi vọng cuộc sống của tôi sẽ trôi qua. Mọi nỗi phiền muộn sẽ lắng dịu – êm đềm; vậy mà sáng nay bỗng dưng tôi lại nhận được tin nhắn của Khoa:  Anh bảo anh sẽ chờ tôi ở quán cà phê Vô Thường lúc 5h30 ( vì anh thừa biết công ty của tôi nghỉ việc lúc 5h). nếu tôi không đến, anh sẽ ngồi ở đó đợi suốt đêm.

Trời đang chuyển mùa vào đông. Mới 5 giờ thôi mà không còn thấy mặt trời, tối sầm lại, cộng với mưa rả rich ảm đạm suốt ngày, những ai trên đường đều vội vã về nhà để tìm chút hơi ấm của gia đình. Tôi cũng muốn làm như họ nhưng cứ nghĩ rủi đâu Khoa chờ mình cả đêm thì thật là tội cho anh ấy quá. Tôi băn khoăn : mà anh ta gặp tôi vì việc gì nữa chứ, chắc là anh ta đã có gia đình và có những đứa con xinh xắn rồi cũng nên? Tôi quyết dịnh : Thôi thì cũng gặp lại Khoa một lần, xem anh ta nói gì, với lại không đến được với nhau, thì cũng xem như là bạn bè – không có gì phải lo ? Bạn bè gặp nhau uống ly cà phê có gì quá đáng đâu?. Tôi tự trấn an mình, và lái xe chạy về hướng quán Vô Thường mà đã có đôi lần tôi đã ngồi cùng Khoa suốt buổi sáng chủ nhật…

Quán vắng khách. Khoa ngồi co ro trong một chòi nhỏ tách biệt với mấy gian nhà sàn gỗ của quán. Tôi cảm thấy hơi khó chịu vì thường những chòi nhỏ tách biệt này chỉ dành riêng cho những cặp tình nhân mà thôi. Còn tôi với Khoa giờ chỉ là những người bạn mà thôi. Ngồi ở đó không khéo ai thấy rồi hiểu lầm thì phiền phức. Tôi nghĩ vậy nên đưa tay chào Khoa và chọn một bàn  trên căn nhà sàn ở giữa quán. Khoa đi lại bàn tôi – mỉm cười  : “ Em vẫn cố chấp như ngày nào? Anh đi tìm em mãi đến nay mới tìm được ! Em trốn anh đến khi nào vậy? May mà thằng em họ của em xót thương anh đã nói cho anh biết là lí do tại sao em rời bỏ anh ”. Tôi không nghe anh giải thích mà hỏi : “ Anh với cô ấy sống hạnh phúc chứ? ”. Anh cười – thoáng nhìn tôi: “ Em nói đúng một nửa thôi? Chỉ có cô ấy hạnh phúc thôi, còn anh hôm nay mới tìm thấy em thì làm sao mà hạnh phúc được đây? ”. Tôi mím chặt môi: “ Anh đùa dai quá rồi đó, tôi không thích vậy đâu? Tôi không ngốc như xưa nữa…”. Khoa cười buồn – giọng khẻ khàng: “ Hung dữ quá cô bé, nghe anh giải thích với chứ, lúc trước cũng vì em không cho anh cơ hội nào để giải thích mà chúng ta đã lạc mất nhau, Trong khi em nghĩ anh vẫn sống vui vẻ, em có biết anh buồn lắm không?  Anh không biết vì sao em lại phản bội anh? Sau đó em đi học thạc sĩ, anh lại nghĩ vì em chê anh nghèo, và không có tương lai nên anh đành phải rời xa em để em tiếp tục đi trên con đường mà em đã chọn.”. Tôi tròn mắt ngạc nhiên – nghĩ thầm: “ Sao anh lại nghĩ oan quá nhiều về tôi như vậy chứ? Tôi có nghĩ vậy đâu? Anh lừa dối tôi mà !”. Anh nhìn tôi với đôi mắt khẩn khoản – dường như muốn nói tôi hãy nghe hết những gì mà anh muốn nói, đừng ngắt lời anh. Anh vẫn miên man : “ Mãi gần đây trước khi cô ấy đi lấy chồng mới nói với anh những chuyện cô ấy đã làm với em. Cô ấy là bạn anh, cô ấy rất thích anh, nhưng giữa bọn anh chỉ là tình bạn bè mà thôi.  Cô ấy tự làm thiệp cưới giả em à. Nhưng anh nghĩ đó không phải là lỗi của cô ta, mà là lỗi của em, Em đã không tin anh, tin vào tình yêu của anh dành cho em. Nếu đã yêu nhau thì phải tin tưởng vào nhau chứ, sao chỉ vì một tấm thiệp cưới ngụy tạo mà em vội rời xa anh vậy? ”.  Nghe anh nói mà lòng tôi nhói đau – đúng là lỗi của tôi, mà tôi lại giận, hờn oán trách anh bao năm qua. Tôi không biết nói gì, chỉ biết cúi đầu mà khóc. Khoa đến bên tôi, lấy khăn trong túi ra lau dòng nước mắt và ghé vào tai tôi thì thầm : “ Chúng mình đừng bao giờ để lạc mất nhau nữa em nhé ?. Anh sẽ không để em phải khóc lần nào nữa…”.

Ngoài trời vẫn mưa to, vẫn gió giật – gió mùa đông bắc thổi về rét buốt – nhưng tôi chợt cảm thấy trong sâu thẳm của lòng mình một nỗi ấm áp kỳ diệu, lạ thường đang bừng lên một khung trời bình yên vẫy gọi…

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »