Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Trương Văn Dân’

Nguyễn Thị Tịnh Thy

Vợ chồng nhà văn Elena Pucillo (giữa) và Trương Văn Dân đang tâm sự về tình yêu và trang viết – Ảnh: L.Điền

Trong làn sóng di dân của nhân loại từ xưa đến nay, người ta thường bỏ nơi nghèo khó để đến xứ giàu sang, bỏ nơi lạc hậu để đến vùng văn minh… Nhưng ở thế kỷ XXI này, có một nữ tiến sĩ người Ý lại đi ngược so với mọi người; chị bỏ nơi giàu sang, văn minh để về với nghèo khó, lạc hậu. Đó là Elena Pucillo Truong. (more…)

Advertisements

Read Full Post »

Ban Mai

 

Elena Pucillo Truong sinh ở Napoli thuộc miền Nam nước Ý, nhưng từ 3 tuổi chị cùng gia đình chuyển sang sống ở thành phố Milano thuộc miền Bắc nước Ý và học đại học tại đây.

 

Milano là thành phố chính của miền Bắc nước Ý, một trong những đô thị phát triển nhất Châu Âu, trung tâm kinh tế, tài chính, thời trang, văn hóa và bóng đá nổi tiếng thế giới, với nhiều người nước ngoài sinh sống, nó được mệnh danh là thành phố quốc tế. (more…)

Read Full Post »

Trương Văn Dân

 Con thương yêu,

Từ hơn tháng nay… mẹ biết có sự hiện diện của con bên trong thân thể mình. Mẹ con mình đã “quen” nhau dù mẹ chưa thực sự thấy hình dáng con như thế nào. Khuôn mặt con ra sao? Chiếc mũi, đôi mắt con thế nào? Đến giờ mẹ chỉ có thể tưởng tượng ra thôi… thế nhưng mẹ vẫn cảm nhận một nhịp đập khẽ khàng như hơi thở trong lòng mẹ, cảm nhận những máy động của con qua giác quan bén nhạy của tình mẫu tử… vì thế cho nên mẹ nghĩ là mẹ con mình đã bắt đầu biết và “hiểu” nhau…  Bây giờ đây mẹ biết là con đang thực hiện những bước chân nhỏ nhoi để bước vào thế giới loài người cùng với nhiều người khác; Có người gần gũi, có kẻ xa xôi nhưng dù muốn dù không con sẽ chia sẻ cùng họ một phần lịch sử làm người.

 Mẹ đang tưởng tượng đến đôi mắt của ba con lúc con mở mắt nhìn đời. Ánh nhìn vui sướng khi thấy con hiện diện. Ba sẽ nắm lấy bàn tay con, nghe con khóc tiếng đầu tiên khi chào đón cuộc đời mà ba mẹ đang đối diện. Nhìn ánh mắt tràn đầy yêu thương đó mẹ còn thấy trong đó có niềm vui nhưng cũng pha lẫn lo âu vì muốn được bảo bọc con về những điều mà lớn lên con phải gánh lấy. (more…)

Read Full Post »

Nút thắt vừa được mở. Chiếc ruy băng màu tím dùng để cột những bức thư mà tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần, lần nào cũng đầy cảm xúc.
Elena Pucillo Truong
(Nguyên tác: Il nastrino viola), Bản dịch của Trương Văn Dân
Tất cả bắt đầu từ mười năm trước, khi tôi rời quê hương để tìm việc làm ở phía bên kia trái đất. Thật chẳng dễ chút nào. Nhưng thời đó đâu có nhiều chọn lựa: Chết hoặc sống bấp bênh với những cơn đói thường trực. Thế là phải nắm bắt cơ hội để có thể đổi đời. Mà nào chỉ là cuộc đời của riêng tôi.
Đi, mà không biết điều gì sẽ xảy ra và thực tế là tôi đã phải trả một giá đắt đỏ. Ngay cả khi tìm được một công việc như rửa chén trong nhà hàng, tôi cũng chẳng bao giờ có thời giờ để suy tính. Chấm dứt công việc đó, tôi tìm được công việc khác – giữ chân bảo vệ ban đêm hay thay thế lão gác dan trong một khách sạn rẻ tiền. Ngày và đêm đều giống nhau, chỉ có trái tim tôi là luôn hướng về một nơi chốn xa vời hơn mười nghìn cây số.
Công việc bận bịu đến nỗi có nhiều lúc tôi chẳng có thời gian ăn uống. Buổi sáng nuốt vội một cái gì, một mẩu bánh mì và một tách cà phê được nhà chủ bao cho sau một đêm làm việc, còn tiền lương thì tôi cố gắng tiết kiệm. Góp được đồng nào là tôi có thể gửi thêm về cho ba mẹ ở bên kia trái đất, hai người già có đôi mắt sáng, và chỉ vì tôi mà họ sống. Suốt đời, họ đã làm việc cật lực và cho tôi rất nhiều yêu thương, cho tôi biết mùi vị của sách vở, nhưng không đủ khả năng để lấp đầy cái khoảng trống nằm trong bao tử lúc nào cũng háu đói. Có lẽ chẳng mấy ai thật sự biết cái đói nó khủng khiếp như thế nào: Cái lưỡi liên tục đưa qua đưa lại trong cái miệng chẳng có gì để nhai và kéo dài hằng giờ như thế mà chẳng có chút hy vọng nào là sẽ có được một chén cơm. Chỉ có trí óc mới có thể giúp ta quên nghĩ đến nó: Ba kể cho tôi nghe về những thế giới xa lạ, những cuộc phiêu lưu, nói về những cánh rừng có cọp và voi đi qua, về những cuộc nhào lộn trong lễ lạc ở các làng mạc xa xôi hay nói về âm nhạc với tiếng trống, chiêng và kèn rộn rã. Đó là những thế giới kỳ ảo, như các hình ảnh màu sắc rực rỡ trong kính vạn hoa, trong đó ánh sáng được nhân lên để làm cho cái góc tăm tối và nghèo nàn mà chúng tôi đang sống trở nên dễ chịu. Đó là lý do mà dù đã ra đi nhưng tôi không thể nào quên được những ánh mắt và bốn bức tường thân thương của gia đình. Tôi làm việc, làm việc. Rồi ban đêm, khi công việc đã thưa đi, cũng có thể viết thư về nhà. Và những điều tôi viết cho họ bây giờ cũng giống như thế giới kỳ ảo mà ba tôi thường kể: Có rất nhiều người giúp đỡ tôi, một công việc nhàn hạ, thoải mái và tôi đang sống một cuộc đời đơn giản chẳng có buồn đau…
Đó là một món quà cho ba mẹ, cũng là sự đền đáp về tất cả những hy sinh mà suốt đời họ đã dành cho tôi.
Sau đó thì những bức thư hồi âm từ xa xôi cũng đến với tôi. Thuở đó đâu được như bây giờ, chỉ cần viết rồi nhấn phím là lát sau có được tin trả lời. Thời đó, những bức thư phải cần vài tháng và trong khi chờ đợi hồi âm tôi thường tưởng tượng ra những điều mà họ sẽ viết.
“Cảm ơn số tiền mà con vừa gửi cho ba má. Nhờ nó mà má con vừa may được một bộ đồ và ba cũng mua được một cái quần mới. Ba má khỏe, con yên tâm. Hãy cố gắng sống bình an và hạnh phúc. Bên này ba má chỉ cần một ít tiền để sống, điều quan trọng là con viết thư liên lạc thường xuyên để ba má khỏi trông. Con biết không, cứ mỗi lần đọc lại những bức thư, ba má cứ tưởng là con vẫn còn hiện diện ở đây với gia đình chứ không xa ngút ngàn như sự thật…”.
Với tôi cũng thế. Tôi cũng thường đọc lại những bức thư nhà rồi cẩn thận xếp lại, cột tất cả bằng một dải ruy băng màu tím. Trong những lúc đó tôi cũng tưởng như mình vẫn còn sống trong gia đình, tôi lật qua lật lại những trang giấy mỏng và nhẹ như giấy quyến nhưng đầy ắp chữ cùng những lời khuyên để trưởng thành, để trở thành một người tử tế. Rồi tôi lớn lên với một nỗi nhớ thương thường trực trong tim.
Làm việc nhiều nên tôi gầy như một que củi, thế nhưng khi nghe ai hỏi, tôi liền trả lời là tại thích chạy bộ để giữ gìn sức khỏe rồi vừa cười vừa lịch sự chào họ.
Thời gian cứ thế trôi qua và tôi bắt đầu nói thạo thứ ngôn ngữ thật xa lạ của những ngày mới đến, nên tôi đọc, đọc tất cả những gì mà tôi tìm được trong khách sạn. Có khi một tờ báo, có lúc một tạp chí khoa học hay một vài quyển sách mà một người khách đãng trí nào đó đã bỏ quên. Rồi một ngày tôi như bị hút bởi một trang sách đầy những con số và đồ thị… rồi chợt hiểu là những phép tính trong toán học chính là một thế giới mà mình thích khám phá. Quyển sách ấy thế là chưa đủ, tôi quyết tìm cách học thêm. Rồi hằng đêm tôi chăm chỉ học, đến nỗi quên cả thời gian đã trôi qua. Có nhiều lần mệt mỏi, thế nhưng chỉ cần đọc lại những bức thư nhà là tôi cảm thấy tinh thần thư thái, có cảm giác mình mạnh mẽ thêm lên.
“Con yêu dấu, lúc này tuy ba má đã già hơn nhưng vẫn còn mạnh khỏe. Lúc này còn có những người hàng xóm thật tốt bụng và tử tế, thỉnh thoảng họ còn đi chợ giúp ba má hay nấu cho những món ăn ngon. Ít ra thì ba má cũng chẳng đơn độc. Nhớ viết thư thường xuyên nhé, như thể con đang tặng ba má một phần đời của con và ba má rất vui vì con hạnh phúc”.
Họ đâu biết hạnh phúc của tôi chính là được ở bên cạnh họ. Nhưng như vậy cũng được thôi. Dù sao thì sự xa cách này cũng có một ý nghĩa. Hoặc chính tôi phải gắn cho nó một ý nghĩa vì mình chẳng thể làm gì khác.
***
Mười năm trôi qua, giờ này thì tôi có thể sống và làm việc ở nơi chốn xa lạ này mà cảm thấy an tâm. Tôi không còn là một chàng thanh niên nữa mà đã là một người đàn ông trưởng thành, tự hào về những điều mình thực hiện. Tôi không còn làm việc ở quán ăn, cũng không còn thức đêm ở một khách sạn ở ngoại ô thành phố. Bây giờ tôi dạy tin học và với vị trí của mình tôi có thể giúp đỡ nhiều sinh viên ngoại quốc đến với đất nước xa lạ này để tìm kiếm một tương lai. Họ chẳng biết nỗi niềm của tôi nhưng tôi thì hiểu sâu sắc cuộc đời cùng những hy sinh mà họ đang gánh chịu. Nhiều em kể với tôi về những cơn đói lúc còn ở trên quê hương xa vời của họ làm tôi như thấy lại bóng mình trong gương, với đôi mắt lạc thần cùng nỗi sợ hãi về tương lai… luôn xuất hiện trong mắt tôi thuở đó.
Những buổi tối rảnh rỗi tôi thường đọc lại những bức thư cuối cùng của ba mẹ vì đã rất lâu rồi tôi không nhận được tin gì của họ. Hằng tháng tôi đều gửi một ít tiền đã dành dụm được, về sau càng ngày càng nhiều thêm, nhưng thư hồi âm của họ càng ngày càng thưa dần. Tôi nghĩ chắc vì tuổi già, mắt kém, nên với họ, viết một bức thư cũng là điều khó nhọc. Và với ý nghĩ đó, tôi càng cố gắng viết cho họ nhiều hơn, hay khi bận rộn chỉ viết được vài hàng nhưng lần nào cũng bỏ kèm thêm một ít tiền. Nhưng tin tức về họ ngày càng mịt mờ. Thế là cuối cùng tôi phải chọn một quyết định, bây giờ thì tôi có thể trở về quê thăm ba mẹ và nhân tiện chào hỏi, cảm ơn những người hàng xóm tốt bụng.
Trong những bức thư cuối cùng hình như cả ba và mẹ đều viết cùng một giọng, nhưng có lẽ lúc này thì họ đã quá già rồi. Đã nhiều lần tôi xin ba mẹ gửi sang một bức hình mới chụp nhưng họ không gửi cho tôi. Hình ảnh họ trong lòng tôi vẫn giống như trong bức hình đen trắng cũ đã mờ, trong đó mẹ trùm khăn trên đầu còn ba thì mặc chiếc quần rộng thùng thình có nhiều mảnh vá. Giữa họ, có tôi, lúc đó còn mặc quần ngắn nên phô ra đôi chân khẳng khiu, còn hai con mắt thì bị một lọn tóc vô duyên phủ lên một cách mất trật tự.
Cầm lấy dải ruy băng màu tím để cột lại những bức thư cũ, lòng tôi rạo rực vì sắp đến ngày khởi hành. Ba mẹ sẽ ngạc nhiên thế nào với chuyến về thăm bất ngờ, không báo trước này?
***
Tôi gõ mạnh lên bàn phím máy tính, như thể trong tay đang cầm cây búa. Tôi muốn đập vỡ, tan tành, mà không sao làm được. Nhưng thật ra tôi cũng chẳng biết mình đang làm gì. Đối với mọi người, tôi vừa trở về từ một cuộc đi chơi, một kỳ nghỉ, thế nhưng những quầng thâm dưới đôi mắt mệt mỏi hiển nhiên đến không thể nào che giấu. Bao nhiêu nước mắt, trời ơi, bao nhiêu tiếng nấc nghẹn tôi vật vã nuốt trọn vào lòng, dù vẻ ngoài vẫn cứ nở một nụ cười gượng gạo.
Trở về thăm nhà sau mười năm xa cách, tôi hiểu ngay lý do của những bức thư thưa thớt từ gia đình. Nhưng làm gì còn một gia đình nữa mà trông mong, chờ đợi!
Chẳng còn ai cả. Ba, mẹ… họ đã chết cách nhau chỉ vài tháng và thi thể được chôn cất trong hai nấm mộ nghèo nàn. Trên đó chỉ có một tấm bia ghi tên, lấm láp bùn đất.
Họ đã chết cách đây năm năm, còn tôi, giờ đứng trước hai nấm mồ lạnh lẽo để nhìn hàng chữ, những con số… “mất ngày…” “từ trần ngày…”. Họ đã quá già và hai trái tim cằn cỗi đã không còn chịu nổi. Còn tôi, có bỏ lại trái tim cạnh đó cũng vẫn còn chưa đủ.
Tôi khóc nức nở cho đến hết những giọt nước mắt cuối cùng.
***
Những giọt nước mắt đầu tiên chảy xuống khi tôi đứng trước căn nhà thời thơ ấu. Vài tấm ngói còn nằm chông chênh trên bốn bức tường rệu rã xiêu vẹo giữa đống cây cỏ um tùm. Tôi gào lên, vô ích: “ Ba, mẹ… ba mẹ đang ở đâu?”. Cuối cùng tôi đọc tấm giấy đã úa vàng bọc trong chiếc bao ni lông rách nát: “Thư từ xin liên hệ ở nhà số 52…”.
Một ông lão đang ngồi hút thuốc bên ngoài căn nhà bên cạnh đã chỉ cho tôi khi tôi hỏi về ba mẹ mình:
– Họ nằm ở đó, trong nghĩa trang ở cuối làng!
Tôi chưa hiểu. Bước đi vài bước rồi quay lại hỏi thăm về căn nhà số 52.
– Đó, căn nhà cao ba tầng đó, là căn số 52.
Mỗi bước chân tôi nặng như treo đá. Tôi đến trước cổng ngôi nhà to lớn và nhấn chuông.
– Ai đó? Chuyện gì vậy?
Đáp lời tôi là một giọng cáu kỉnh và một người đàn bà ra mở cổng, ló đầu ra:
– Anh là ai? Cần gì ?
Tôi chỉ vừa nói tên thì mặt bà ta tái mét. Bà lẩm bẩm vài lời… đáng lý phải báo tin… phải cho ông hay… Một sự ngượng ngập cũng xuất hiện trên nét mặt người chồng, nhưng ông ta im lặng. À, phải rồi, trong những tình huống như thế này thì người đàn bà luôn được đưa ra để phân trần, nhỏ vài giọt nước mắt, và phía đối diện thế nào cũng mủi lòng, hay ít ra không thể phản ứng mạnh.
Giờ thì mọi việc đâu có thể thay đổi! Năm năm đã trôi qua mà họ vẫn không cho tôi hay biết. Thời gian đầu… họ “cũng” định trả lời những bức thư của tôi, nói cho tôi biết sự thật… nhưng sau…
Tôi nhìn ánh mắt lấm lét trên khuôn mặt trơ trẽn của họ, không thể nói được gì. Bà vợ thì bắt đầu nói, nói rất nhiều, như thể để lấp đầy sự yên lặng tráo trở. Cuối cùng tôi mới có thể thốt lên câu hỏi:
– Còn số tiền mà tôi gửi về cho ba mẹ tôi? Nó đâu rồi?
Hai người kín đáo nhìn nhau rồi im lặng nhìn ra xung quanh. Tôi đã hiểu tất cả. Tôi không thể làm gì khác hơn là chạy thật xa khỏi hai hình thể không có trái tim đó.
Tôi gọi một chiếc xe về một khách sạn trong thành phố và vội vã sắp xếp cho chuyến trở về trước thời hạn. Đâu còn lý do gì để ở lại, và cho ai bây giờ?
***
Trở lại với cuộc sống của mình, mỗi ngày tôi vẫn còn ám ảnh. Một cánh cửa dập mạnh, một câu trả lời cáu gắt. Năm năm chồng chất những nỗi đau, hao tốn, nhưng vì nó đời tôi còn có mục đích. Còn bây giờ… Như là tôi chẳng còn lý lẽ gì để tin về những điều mình làm. Mỗi buổi sáng thấy bóng mình trong gương mà như thể đang nhìn một con người khác: Hàm râu mọc dài, má hóp, hai hốc mắt trũng sâu, như không còn ánh sáng. Tôi không còn là tôi nữa. Tôi không còn lịch sử, một cuộc đời ở phía sau lưng. Tệ hơn nữa là tôi cũng chẳng nhìn thấy vì điều gì để sống trong tương lai. Như thể tôi đã bị chôn vùi trong hai huyệt mộ ở quê nhà.
Những ngày đầu, tôi có nghe vài tiếng chuông điện thoại nhưng sau đó thì tất cả im lặng. Tôi đi đi lại lại trong nhà không mục đích, di dời vài vật dụng từ bàn đến tủ sách, cầm trên tay quyển sách, mở một hộc bàn nhưng đóng liền sau đó. Rồi tôi bước qua một căn phòng khác, lặp lại những động tác vừa rồi, di dời, rờ rẫm, mở rồi lại đóng…
Sau một thời gian, a, đây rồi, tôi nhìn thấy đầu của một dải ruy băng màu tím đã bạc màu. Tôi cầm lấy xấp phong bì, mở vội nút thắt làm các bức thư rời ra, lả tả. Tôi nhặt lên một bức hình đã úa màu thời gian, cảm giác như mình đang chạm vào một điều thiêng liêng. Cảm xúc mãnh liệt dâng lên trong tôi khi tôi bắt đầu lật những trang giấy đã úa vàng và tìm thấy trong mỗi hàng chữ một sức mạnh mới.
“Con yêu dấu, cảm ơn con về tất cả những niềm vui dành cho ba má. Nhưng con đừng bận tâm. Mỗi lần đọc những hàng chữ này thì cũng như ba má đang ở bên con. Hãy sống hạnh phúc. Cuộc đời đầy những khó khăn. Ba má lúc nào cũng cầu nguyện cho con, ngõ hầu con có thể sống một cuộc đời tốt đẹp. Hãy bảo trọng nhé, con yêu”.

Elena Pucillo Truong
(Nguyên tác: Il nastrino viola), Bản dịch của Trương Văn Dân

(more…)

Read Full Post »

Cuộc hội ngộ câm

Trương Văn Dân

Âm thanh náo nhiệt và những bài hát vô hồn, nhạt nhẽo như tra tấn người nghe! Người người, từ bạn bè cô dâu chú rể đến bà con quyến thuộc… ai nấy đều tranh nhau micro để bước lên sân khấu, mỗi người mỗi cách, ca hát, lắc lư nhảy múa để thể hiện cái tôi của mình.
Có lẽ đó là cơ hội để họ phô bày “kỹ năng”, giải phóng những ức chế cá nhân thường ngày bị chôn sống giữa đám đông vô danh, lạc lõng trong lòng đô thị.

Minh họa: Tuấn Anh

Hình như đám cưới nào cũng vậy! Tổ chức nơi đâu cũng thế! Công nghệ cào bằng đều có một công thức và quy trình có sẵn; nơi nào cũng giống nhau, đám cưới nào cũng na ná. Nhận được thiệp mời, đến chờ cả tiếng vì ai cũng đến trễ. Nghi thức vội vàng, hấp tấp. Ngôn từ sáo rỗng. Nơi đâu, lần nào sự ồn ào phản cảm vẫn luôn là hằng số. Khai tiệc trễ, thế nhưng sau “giờ thứ 20” thì thức ăn dọn ào ạt, trái cây, tráng miệng liên tục bưng ra, vội vội vàng vàng để đuổi khách phải rời bàn trước 21 giờ.
Gặp lại mấy người bạn cũ sau thời gian dài bặt tin nhau, chúng tôi tay bắt mặt mừng nhưng thời gian và không gian không cho phép nói chuyện được nhiều. Tiếng hò hét, gào rú từ sân khấu cùng những tiếng dzô dzô liên tục áp đảo mọi câu chuyện tâm tình.
Sau khi cố gắng nói vào tai mà vẫn không nghe rõ, chúng tôi đành trao đổi qua nụ cười. Tuấn nói: “Ồn quá. Hôm nào rảnh gặp cà phê đi?”. Thành chụm đầu hai ngón cái và trỏ của bàn tay phải theo hình chữ O đưa ra trước mặt: “OK”. Còn “đại gia” Sơn mặt lầm lì, anh vốn ít nói, cũng mỉm cười “Được quá đi chứ!”. Vậy là vui, bạn bè cũ, lại là đồng hương… chắc hôm đó sẽ có bao điều để nói.
– Nè Trung, tài khoản Facebook của mầy tên gì?
Khi Tuấn hỏi, Thành và Sơn đều có ngay thông tin. Còn tôi thì ú ớ. Lâu nay cũng có nghe nói về Facebook nhưng vẫn chưa dùng. Thấy thái độ lúng túng của tôi, Thành bảo tôi lấy giấy ra ghi rồi giải thích: “Ngày giờ hẹn, địa điểm trao đổi qua “inbox” cho tiện”!
Kể từ khi xuất hiện các mạng xã hội, bạn bè, người quen gặp nhau hình như chẳng còn hỏi thăm địa chỉ hay số điện thoại mà chỉ hỏi “tài khoản Facebook”!
Thực ra thì cũng đúng thôi! Khi chỉ qua cú click chuột mà mọi người có thể liên lạc, thăm hỏi, trao đổi thông tin và ôm trọn thế giới trong tay thì sao phải mất thời gian, công sức đi lại để gặp nhau? Nhanh, gọn. Mà còn miễn phí.
Vậy nên không khó để nhận ra là điện thoại thông minh (smartphone) hiển hiện khắp nơi, nhiều người trong túi có không chỉ một, mà tới hai, ba cái. Duy có thằng “cù lần” “lạc hậu” như tôi, đến giờ mà vẫn còn sử dụng chiếc cùi bắp, chỉ có hai chức năng nghe và gọi.
***
Trên đường đến nơi hẹn, khoảng cách từ nhà không xa nhưng suýt có hai tai nạn. Thì có gì đâu! Trên đường phố, bao nhiêu người vừa chạy xe vừa cúi gằm mặt vào “chiếc hộp điện tử” để đọc và trả lời tin nhắn.
Chưa bao giờ sự xao lãng trở nên toàn diện như hiện nay. Cảnh quen thuộc là tài xế vừa lái xe vừa nghe điện thoại, người đi bộ đeo tai nghe hay vừa chạy xe máy vừa bấm bấm tin nhắn… mọi người cứ tự nhiên làm việc này mà đầu nghĩ đến việc khác.
Lưỡi dao công nghệ thông tin đang cắt lìa con người khỏi không gian xung quanh mình. Nó phá hủy sợi dây liên kết giữa con người với thế giới thực tại. Bao người đang trở thành “nô lệ” vào chiếc smartphone mà không hay biết.
***
Quán cà phê Hội Ngộ là một nơi yên tĩnh, đầy cây xanh và cách xa phố chính. Nhìn quanh quất chưa thấy ai, tôi ngồi đọc báo ở một bàn gần cổng để chờ các bạn.
Vài phút sau Tuấn đến. Anh kéo ghế ngồi đối diện. “Đến lâu chưa?”. Tôi vừa nói “mới đến” thì anh đã cho tay vào túi lôi cái điện thoại di động ra và hỏi cô phục vụ: “Password wifi là gì, em gái?”.
Trong khi chờ cà phê, Tuấn ngồi cúi đầu, ngó chăm chăm vào màn hình điện thoại. Thi thoảng anh ngước lên nhìn tôi: “Xin lỗi nhé! Tao phải trả lời vài tin quan trọng. Mình chờ Thành và Sơn đến rồi nói chuyện luôn thể!”.
Tôi ngồi lật tờ báo mà đầu óc nghĩ ngợi mông lung. Ngày xưa nhà tôi gần nhà Tuấn nên chúng tôi rất thân nhau. Đi học, đi chơi, đạp xe hái hoa, bắt bướm; từ chơi tạt hình đến đá banh, bóng rổ, lúc nào cũng vui vẻ bên nhau và hai đứa thường tán đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Tốt nghiệp đại học, ai cũng đều bận bịu mưu sinh, ít có thời gian gặp gỡ.
Nhìn dáng Tuấn cúi đầu tôi chợt nhớ đến thời học luyện thi, bạn chăm chú cúi đầu trên trang sách. Nhưng bây giờ trang sách được thay bằng một chiếc hộp hình chữ nhật, giống như những hành khách mà tôi thường gặp trên xe buýt, tàu hỏa. Những chuyến xe không còn là cơ hội để gặp gỡ, làm quen; chất xúc tác đến từ sự thân mật, gần gũi hình như đã biến mất. Những người bạn ngồi gần mà tai người nào cũng gắn tai nghe, các cặp tình nhân ngồi tựa đầu âu yếm, nhưng không còn thủ thỉ những lời yêu thương mà dán mắt vào màn hình điện thoại. Bữa điểm tâm, vợ nói chuyện học của con, chồng liếc vào màn hình, hay ngược lại. Đôi khi điện thoại còn là một cái cớ bận rộn để tránh đối thoại.
Tôi chợt nhớ đến câu chuyện của một phụ nữ vừa đọc trên trang đời sống lúc nãy, cô miêu tả chiếc điện thoại thông minh của chồng là “kẻ thứ ba”. Một phụ nữ khác than phiền là cùng nằm trên giường ngủ nhưng vợ và chồng sống trong hai thế giới hoàn toàn khác biệt. Có khi chồng còn “yêu” vội để có thời gian trả lời tin nhắn trên Facebook.
Xã hội hôm nay luôn khó khăn về những quan hệ giữa người với người. Một xã hội đang bị tách rời và không còn khả năng đối thoại với người xung quanh. Chúng ta dường như không còn sống cho những giây phút quan trọng. Chúng ta đang có mặt mà không hiện diện. Ngồi nơi đây mà trao đổi với bạn bè ở Pháp, Đức hay ở Mỹ. Chúng ta lấp lửng với hiện thực, suốt ngày chạy đua với thời gian và chiếc điện thoại trên tay.
Mỗi giây phút trong đời bỗng trở thành một cái cớ để chụp hình, quang cảnh nào vớ vẩn cũng đủ cho một cuộc ghi hình tự sướng (selfie). Chúng ta đánh giá tầm quan trọng của những khoảnh khắc, dựa vào số lần like nhận được trên Facebook.
Chúng ta vô tư chạy, hồn nhiên chụp ảnh… nhưng chẳng ai nhận ra là mình đã và đang đánh mất điều quan trọng nhất còn lại trong đời: sự riêng tư.
Có phải là đoàn tụ gia đình không nếu mọi người ngồi vào bàn ăn mà không ai rời chiếc smartphone của mình? Hay chỉ là gần đó mà vẫn xa cách núi sông.
Rồi thông qua chiếc điện thoại kè kè bên cạnh mỗi người đang mở cửa, cho phép cả thế giới được bước vào trong nhà mình.
Đứa cháu của tôi có lần thú nhận, đi đâu mà quên cái điện thoại là thấy như bị lạc ngoài hoang đảo, bơ vơ, mất phương hướng! Nó còn nói là ăn không ngon, ngủ chẳng yên…
Thấy không khí im lặng khá lâu, Tuấn ngẩng lên, lí nhí xin lỗi. Thấy tôi im lặng, anh mỉm cười giải thích là vì công việc nên đã lệ thuộc vào smartphone lúc nào không hay: “Sáng thức dậy, vật đầu tiên tìm là điện thoại. Tối đi ngủ, vật cuối cùng buông ra cũng là điện thoại. Khi điện thoại hết pin là thấy bứt rứt”.
Tôi ậm ừ cho qua nhưng trong lòng cảm thấy khó chịu. Tôi biết rất nhiều người cảm thấy bất an, thiếu tự tin khi không có điện thoại, thường liếc mắt kiểm tra dù không có bất kỳ thông báo nào.
Các bạn Thành và Sơn vẫn chưa đến. Tôi lật lật vài trang báo nhưng chẳng có gì để đọc. Toàn là tin tai nạn giao thông hay các vụ lừa đảo, bắt bớ vì tham nhũng. Khi gọi vài cuộc điện thoại vớ vẩn cho đỡ sốt ruột thì Sơn đến. Anh cho biết là trên đường đến bị kẹt xe hơn 30 phút. Vừa bắt tay anh vừa hỏi:
– Thành chưa đến sao?
Tôi vừa lắc đầu thì từ túi quần của Sơn phát ra một tiếng “tíc”. Sơn lôi chiếc điện thoại ra, bấm bấm. “Chà, chờ mãi hôm nay mới thấy thông báo đây!”.
Anh hồn nhiên ngồi xuống, dán mắt vào màn hình, xin lỗi phải dành vài phút để trả lời gấp cho khách hàng.
Nắng lúc này đã lên cao. Dưới bóng cây phượng đang nở những chùm hoa đỏ rực, tôi ngồi yên lặng quan sát những giọt nắng xuyên qua lá soi lốm đốm trên mái tóc và khuôn mặt Tuấn, Sơn thành nhiều vùng đen, trắng. Gió lay. Những vùng đen và trắng như ảo và thực chập chờn, lay động, có khi trộn lẫn vào nhau.
Khó thể phủ nhận chiếc điện thoại thông minh giúp con người kết nối với thế giới rộng lớn, liên lạc công việc nhanh chóng nhưng nó cũng khiến con người bị phụ thuộc và ít dành thời gian, quan tâm thực sự cho những người quan trọng trong cuộc sống. Tất cả những đối thoại trực tiếp đều bị thay thế bởi những tin nhắn. Mọi liên kết bằng ngôn ngữ đã bị giảm thiểu. Những người quen, thật và ảo, bày tỏ sự quan tâm bằng những cái “like” trên mạng thay vì nhìn nhau trực tiếp.
Truyền thông. Quảng cáo. Công nghệ. Tất cả đang góp phần dạy dỗ và huấn luyện lớp trẻ lớn lên theo cách tách rời thực tại.
Nhưng cuộc đời có thể bị khép trong một chiếc hộp điện tử? Có thể dửng dưng với hiện thực xung quanh mà do lỗi kết nối, liên kết với những gì ở tận đâu đâu?
Tôi nghĩ thử thách lớn nhất của con người hiện nay là giáo dục để kết nối trở lại!
Đang ngẫm nghĩ thì điện thoại reo. Thành! Anh cho biết đêm qua đi nhậu về, ói mửa rồi vật vã, thức suốt đêm. Sáng nay còn mệt và trên đường đến cà phê với chúng tôi anh lại bị té xe. Không nguy hiểm gì, nhưng quần bị rách gối nên phải chạy về nhà. Trễ rồi, chắc không đến được…
Nghe xong thông báo, Tuấn ngồi nhổm dậy, nhìn đồng hồ: “Ui chao, hơn 10 giờ rồi à?”.
Sơn cũng hỏi: “Trễ vậy sao?”.
Chưa ai kịp nói gì thì Tuấn đề nghị: “Lát tao có cuộc hẹn. Hay bữa khác mình gặp nhau nói chuyện đi!”.
Sơn nói “OK” rồi đứng lên. Tuấn cũng ngồi dậy. Rồi cả ba cùng về.

 

(more…)

Read Full Post »

 

Lê Thị Thanh Xuân

image-large-ban-tay-nho-duoi-mua-tieu-thuyet-truong-van-dan

Ngày đang khép lại. Trăng treo ngoài cửa sổ, chiếu sáng cả một vùng quê hoang vu, đẹp lạ. Và cũng là lúc tôi đọc xong một tiểu thuyết. Gấp sách lại, hơi chút suy tư. Phải chăng tác giả đã nói hộ mình? Thấp thoáng một phần đời của tôi? Nghĩ cũng lạ, có phải là duyên ? Tôi đến với tiểu thuyết này rất tình cờ. Hôm đó đang lang thang trên phây, thoáng thấy tường nhà bạn có treo stt giới thiệu sách, tôi tò mò đọc thấy là lạ, rồi đọc luôn vài đoạn trích, sao mà thích quá. Sau đó inbox tìm kiếm. Chẳng thấy đâu. Chưa bỏ cuộc, hôm sau tôi tức tốc vượt mười tám cây số lục lọi trong các nhà sách vẫn không có. Hôm sau nữa, lại cầu may. Vui mừng vì ở nhà sách Phương Nam chỉ còn mỗi một quyển BÀN TAY NHỎ DƯỚI MƯA của nhà văn Trương Văn Dân. (more…)

Read Full Post »

 

 

Nguyên tác : L’avventura di due sposi  của  Italo Calvino ( Italia)

Trương Văn Dân chuyển ngữ

italo-calvino

 

Italo Calvino (1923-1985) là một trong những nhà văn Ý quan tâm đến nhiều lĩnh vực và có ảnh hưởng đến chính trường, văn học  và văn hoá Ý vào những năm sau chiến tranh.

Sinh năm 1923 tại Santiago de Las Vegas, Cuba: Cha ông là một nhà nông học và mẹ là một nhà sinh vật học. Họ sống và mở một vườn thực vật nhiệt đới tại Cuba nhưng sau một trận bão (1925)  làm đổ nát nhà cửa và khu vườn này, họ quyết định quay về Ý và sống tại thành phố biển San Remo thuộc vùng Liguria, Italia. (more…)

Read Full Post »

Older Posts »