Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Trương Văn Dân’

Nút thắt vừa được mở. Chiếc ruy băng màu tím dùng để cột những bức thư mà tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần, lần nào cũng đầy cảm xúc.
Elena Pucillo Truong
(Nguyên tác: Il nastrino viola), Bản dịch của Trương Văn Dân
Tất cả bắt đầu từ mười năm trước, khi tôi rời quê hương để tìm việc làm ở phía bên kia trái đất. Thật chẳng dễ chút nào. Nhưng thời đó đâu có nhiều chọn lựa: Chết hoặc sống bấp bênh với những cơn đói thường trực. Thế là phải nắm bắt cơ hội để có thể đổi đời. Mà nào chỉ là cuộc đời của riêng tôi.
Đi, mà không biết điều gì sẽ xảy ra và thực tế là tôi đã phải trả một giá đắt đỏ. Ngay cả khi tìm được một công việc như rửa chén trong nhà hàng, tôi cũng chẳng bao giờ có thời giờ để suy tính. Chấm dứt công việc đó, tôi tìm được công việc khác – giữ chân bảo vệ ban đêm hay thay thế lão gác dan trong một khách sạn rẻ tiền. Ngày và đêm đều giống nhau, chỉ có trái tim tôi là luôn hướng về một nơi chốn xa vời hơn mười nghìn cây số.
Công việc bận bịu đến nỗi có nhiều lúc tôi chẳng có thời gian ăn uống. Buổi sáng nuốt vội một cái gì, một mẩu bánh mì và một tách cà phê được nhà chủ bao cho sau một đêm làm việc, còn tiền lương thì tôi cố gắng tiết kiệm. Góp được đồng nào là tôi có thể gửi thêm về cho ba mẹ ở bên kia trái đất, hai người già có đôi mắt sáng, và chỉ vì tôi mà họ sống. Suốt đời, họ đã làm việc cật lực và cho tôi rất nhiều yêu thương, cho tôi biết mùi vị của sách vở, nhưng không đủ khả năng để lấp đầy cái khoảng trống nằm trong bao tử lúc nào cũng háu đói. Có lẽ chẳng mấy ai thật sự biết cái đói nó khủng khiếp như thế nào: Cái lưỡi liên tục đưa qua đưa lại trong cái miệng chẳng có gì để nhai và kéo dài hằng giờ như thế mà chẳng có chút hy vọng nào là sẽ có được một chén cơm. Chỉ có trí óc mới có thể giúp ta quên nghĩ đến nó: Ba kể cho tôi nghe về những thế giới xa lạ, những cuộc phiêu lưu, nói về những cánh rừng có cọp và voi đi qua, về những cuộc nhào lộn trong lễ lạc ở các làng mạc xa xôi hay nói về âm nhạc với tiếng trống, chiêng và kèn rộn rã. Đó là những thế giới kỳ ảo, như các hình ảnh màu sắc rực rỡ trong kính vạn hoa, trong đó ánh sáng được nhân lên để làm cho cái góc tăm tối và nghèo nàn mà chúng tôi đang sống trở nên dễ chịu. Đó là lý do mà dù đã ra đi nhưng tôi không thể nào quên được những ánh mắt và bốn bức tường thân thương của gia đình. Tôi làm việc, làm việc. Rồi ban đêm, khi công việc đã thưa đi, cũng có thể viết thư về nhà. Và những điều tôi viết cho họ bây giờ cũng giống như thế giới kỳ ảo mà ba tôi thường kể: Có rất nhiều người giúp đỡ tôi, một công việc nhàn hạ, thoải mái và tôi đang sống một cuộc đời đơn giản chẳng có buồn đau…
Đó là một món quà cho ba mẹ, cũng là sự đền đáp về tất cả những hy sinh mà suốt đời họ đã dành cho tôi.
Sau đó thì những bức thư hồi âm từ xa xôi cũng đến với tôi. Thuở đó đâu được như bây giờ, chỉ cần viết rồi nhấn phím là lát sau có được tin trả lời. Thời đó, những bức thư phải cần vài tháng và trong khi chờ đợi hồi âm tôi thường tưởng tượng ra những điều mà họ sẽ viết.
“Cảm ơn số tiền mà con vừa gửi cho ba má. Nhờ nó mà má con vừa may được một bộ đồ và ba cũng mua được một cái quần mới. Ba má khỏe, con yên tâm. Hãy cố gắng sống bình an và hạnh phúc. Bên này ba má chỉ cần một ít tiền để sống, điều quan trọng là con viết thư liên lạc thường xuyên để ba má khỏi trông. Con biết không, cứ mỗi lần đọc lại những bức thư, ba má cứ tưởng là con vẫn còn hiện diện ở đây với gia đình chứ không xa ngút ngàn như sự thật…”.
Với tôi cũng thế. Tôi cũng thường đọc lại những bức thư nhà rồi cẩn thận xếp lại, cột tất cả bằng một dải ruy băng màu tím. Trong những lúc đó tôi cũng tưởng như mình vẫn còn sống trong gia đình, tôi lật qua lật lại những trang giấy mỏng và nhẹ như giấy quyến nhưng đầy ắp chữ cùng những lời khuyên để trưởng thành, để trở thành một người tử tế. Rồi tôi lớn lên với một nỗi nhớ thương thường trực trong tim.
Làm việc nhiều nên tôi gầy như một que củi, thế nhưng khi nghe ai hỏi, tôi liền trả lời là tại thích chạy bộ để giữ gìn sức khỏe rồi vừa cười vừa lịch sự chào họ.
Thời gian cứ thế trôi qua và tôi bắt đầu nói thạo thứ ngôn ngữ thật xa lạ của những ngày mới đến, nên tôi đọc, đọc tất cả những gì mà tôi tìm được trong khách sạn. Có khi một tờ báo, có lúc một tạp chí khoa học hay một vài quyển sách mà một người khách đãng trí nào đó đã bỏ quên. Rồi một ngày tôi như bị hút bởi một trang sách đầy những con số và đồ thị… rồi chợt hiểu là những phép tính trong toán học chính là một thế giới mà mình thích khám phá. Quyển sách ấy thế là chưa đủ, tôi quyết tìm cách học thêm. Rồi hằng đêm tôi chăm chỉ học, đến nỗi quên cả thời gian đã trôi qua. Có nhiều lần mệt mỏi, thế nhưng chỉ cần đọc lại những bức thư nhà là tôi cảm thấy tinh thần thư thái, có cảm giác mình mạnh mẽ thêm lên.
“Con yêu dấu, lúc này tuy ba má đã già hơn nhưng vẫn còn mạnh khỏe. Lúc này còn có những người hàng xóm thật tốt bụng và tử tế, thỉnh thoảng họ còn đi chợ giúp ba má hay nấu cho những món ăn ngon. Ít ra thì ba má cũng chẳng đơn độc. Nhớ viết thư thường xuyên nhé, như thể con đang tặng ba má một phần đời của con và ba má rất vui vì con hạnh phúc”.
Họ đâu biết hạnh phúc của tôi chính là được ở bên cạnh họ. Nhưng như vậy cũng được thôi. Dù sao thì sự xa cách này cũng có một ý nghĩa. Hoặc chính tôi phải gắn cho nó một ý nghĩa vì mình chẳng thể làm gì khác.
***
Mười năm trôi qua, giờ này thì tôi có thể sống và làm việc ở nơi chốn xa lạ này mà cảm thấy an tâm. Tôi không còn là một chàng thanh niên nữa mà đã là một người đàn ông trưởng thành, tự hào về những điều mình thực hiện. Tôi không còn làm việc ở quán ăn, cũng không còn thức đêm ở một khách sạn ở ngoại ô thành phố. Bây giờ tôi dạy tin học và với vị trí của mình tôi có thể giúp đỡ nhiều sinh viên ngoại quốc đến với đất nước xa lạ này để tìm kiếm một tương lai. Họ chẳng biết nỗi niềm của tôi nhưng tôi thì hiểu sâu sắc cuộc đời cùng những hy sinh mà họ đang gánh chịu. Nhiều em kể với tôi về những cơn đói lúc còn ở trên quê hương xa vời của họ làm tôi như thấy lại bóng mình trong gương, với đôi mắt lạc thần cùng nỗi sợ hãi về tương lai… luôn xuất hiện trong mắt tôi thuở đó.
Những buổi tối rảnh rỗi tôi thường đọc lại những bức thư cuối cùng của ba mẹ vì đã rất lâu rồi tôi không nhận được tin gì của họ. Hằng tháng tôi đều gửi một ít tiền đã dành dụm được, về sau càng ngày càng nhiều thêm, nhưng thư hồi âm của họ càng ngày càng thưa dần. Tôi nghĩ chắc vì tuổi già, mắt kém, nên với họ, viết một bức thư cũng là điều khó nhọc. Và với ý nghĩ đó, tôi càng cố gắng viết cho họ nhiều hơn, hay khi bận rộn chỉ viết được vài hàng nhưng lần nào cũng bỏ kèm thêm một ít tiền. Nhưng tin tức về họ ngày càng mịt mờ. Thế là cuối cùng tôi phải chọn một quyết định, bây giờ thì tôi có thể trở về quê thăm ba mẹ và nhân tiện chào hỏi, cảm ơn những người hàng xóm tốt bụng.
Trong những bức thư cuối cùng hình như cả ba và mẹ đều viết cùng một giọng, nhưng có lẽ lúc này thì họ đã quá già rồi. Đã nhiều lần tôi xin ba mẹ gửi sang một bức hình mới chụp nhưng họ không gửi cho tôi. Hình ảnh họ trong lòng tôi vẫn giống như trong bức hình đen trắng cũ đã mờ, trong đó mẹ trùm khăn trên đầu còn ba thì mặc chiếc quần rộng thùng thình có nhiều mảnh vá. Giữa họ, có tôi, lúc đó còn mặc quần ngắn nên phô ra đôi chân khẳng khiu, còn hai con mắt thì bị một lọn tóc vô duyên phủ lên một cách mất trật tự.
Cầm lấy dải ruy băng màu tím để cột lại những bức thư cũ, lòng tôi rạo rực vì sắp đến ngày khởi hành. Ba mẹ sẽ ngạc nhiên thế nào với chuyến về thăm bất ngờ, không báo trước này?
***
Tôi gõ mạnh lên bàn phím máy tính, như thể trong tay đang cầm cây búa. Tôi muốn đập vỡ, tan tành, mà không sao làm được. Nhưng thật ra tôi cũng chẳng biết mình đang làm gì. Đối với mọi người, tôi vừa trở về từ một cuộc đi chơi, một kỳ nghỉ, thế nhưng những quầng thâm dưới đôi mắt mệt mỏi hiển nhiên đến không thể nào che giấu. Bao nhiêu nước mắt, trời ơi, bao nhiêu tiếng nấc nghẹn tôi vật vã nuốt trọn vào lòng, dù vẻ ngoài vẫn cứ nở một nụ cười gượng gạo.
Trở về thăm nhà sau mười năm xa cách, tôi hiểu ngay lý do của những bức thư thưa thớt từ gia đình. Nhưng làm gì còn một gia đình nữa mà trông mong, chờ đợi!
Chẳng còn ai cả. Ba, mẹ… họ đã chết cách nhau chỉ vài tháng và thi thể được chôn cất trong hai nấm mộ nghèo nàn. Trên đó chỉ có một tấm bia ghi tên, lấm láp bùn đất.
Họ đã chết cách đây năm năm, còn tôi, giờ đứng trước hai nấm mồ lạnh lẽo để nhìn hàng chữ, những con số… “mất ngày…” “từ trần ngày…”. Họ đã quá già và hai trái tim cằn cỗi đã không còn chịu nổi. Còn tôi, có bỏ lại trái tim cạnh đó cũng vẫn còn chưa đủ.
Tôi khóc nức nở cho đến hết những giọt nước mắt cuối cùng.
***
Những giọt nước mắt đầu tiên chảy xuống khi tôi đứng trước căn nhà thời thơ ấu. Vài tấm ngói còn nằm chông chênh trên bốn bức tường rệu rã xiêu vẹo giữa đống cây cỏ um tùm. Tôi gào lên, vô ích: “ Ba, mẹ… ba mẹ đang ở đâu?”. Cuối cùng tôi đọc tấm giấy đã úa vàng bọc trong chiếc bao ni lông rách nát: “Thư từ xin liên hệ ở nhà số 52…”.
Một ông lão đang ngồi hút thuốc bên ngoài căn nhà bên cạnh đã chỉ cho tôi khi tôi hỏi về ba mẹ mình:
– Họ nằm ở đó, trong nghĩa trang ở cuối làng!
Tôi chưa hiểu. Bước đi vài bước rồi quay lại hỏi thăm về căn nhà số 52.
– Đó, căn nhà cao ba tầng đó, là căn số 52.
Mỗi bước chân tôi nặng như treo đá. Tôi đến trước cổng ngôi nhà to lớn và nhấn chuông.
– Ai đó? Chuyện gì vậy?
Đáp lời tôi là một giọng cáu kỉnh và một người đàn bà ra mở cổng, ló đầu ra:
– Anh là ai? Cần gì ?
Tôi chỉ vừa nói tên thì mặt bà ta tái mét. Bà lẩm bẩm vài lời… đáng lý phải báo tin… phải cho ông hay… Một sự ngượng ngập cũng xuất hiện trên nét mặt người chồng, nhưng ông ta im lặng. À, phải rồi, trong những tình huống như thế này thì người đàn bà luôn được đưa ra để phân trần, nhỏ vài giọt nước mắt, và phía đối diện thế nào cũng mủi lòng, hay ít ra không thể phản ứng mạnh.
Giờ thì mọi việc đâu có thể thay đổi! Năm năm đã trôi qua mà họ vẫn không cho tôi hay biết. Thời gian đầu… họ “cũng” định trả lời những bức thư của tôi, nói cho tôi biết sự thật… nhưng sau…
Tôi nhìn ánh mắt lấm lét trên khuôn mặt trơ trẽn của họ, không thể nói được gì. Bà vợ thì bắt đầu nói, nói rất nhiều, như thể để lấp đầy sự yên lặng tráo trở. Cuối cùng tôi mới có thể thốt lên câu hỏi:
– Còn số tiền mà tôi gửi về cho ba mẹ tôi? Nó đâu rồi?
Hai người kín đáo nhìn nhau rồi im lặng nhìn ra xung quanh. Tôi đã hiểu tất cả. Tôi không thể làm gì khác hơn là chạy thật xa khỏi hai hình thể không có trái tim đó.
Tôi gọi một chiếc xe về một khách sạn trong thành phố và vội vã sắp xếp cho chuyến trở về trước thời hạn. Đâu còn lý do gì để ở lại, và cho ai bây giờ?
***
Trở lại với cuộc sống của mình, mỗi ngày tôi vẫn còn ám ảnh. Một cánh cửa dập mạnh, một câu trả lời cáu gắt. Năm năm chồng chất những nỗi đau, hao tốn, nhưng vì nó đời tôi còn có mục đích. Còn bây giờ… Như là tôi chẳng còn lý lẽ gì để tin về những điều mình làm. Mỗi buổi sáng thấy bóng mình trong gương mà như thể đang nhìn một con người khác: Hàm râu mọc dài, má hóp, hai hốc mắt trũng sâu, như không còn ánh sáng. Tôi không còn là tôi nữa. Tôi không còn lịch sử, một cuộc đời ở phía sau lưng. Tệ hơn nữa là tôi cũng chẳng nhìn thấy vì điều gì để sống trong tương lai. Như thể tôi đã bị chôn vùi trong hai huyệt mộ ở quê nhà.
Những ngày đầu, tôi có nghe vài tiếng chuông điện thoại nhưng sau đó thì tất cả im lặng. Tôi đi đi lại lại trong nhà không mục đích, di dời vài vật dụng từ bàn đến tủ sách, cầm trên tay quyển sách, mở một hộc bàn nhưng đóng liền sau đó. Rồi tôi bước qua một căn phòng khác, lặp lại những động tác vừa rồi, di dời, rờ rẫm, mở rồi lại đóng…
Sau một thời gian, a, đây rồi, tôi nhìn thấy đầu của một dải ruy băng màu tím đã bạc màu. Tôi cầm lấy xấp phong bì, mở vội nút thắt làm các bức thư rời ra, lả tả. Tôi nhặt lên một bức hình đã úa màu thời gian, cảm giác như mình đang chạm vào một điều thiêng liêng. Cảm xúc mãnh liệt dâng lên trong tôi khi tôi bắt đầu lật những trang giấy đã úa vàng và tìm thấy trong mỗi hàng chữ một sức mạnh mới.
“Con yêu dấu, cảm ơn con về tất cả những niềm vui dành cho ba má. Nhưng con đừng bận tâm. Mỗi lần đọc những hàng chữ này thì cũng như ba má đang ở bên con. Hãy sống hạnh phúc. Cuộc đời đầy những khó khăn. Ba má lúc nào cũng cầu nguyện cho con, ngõ hầu con có thể sống một cuộc đời tốt đẹp. Hãy bảo trọng nhé, con yêu”.

Elena Pucillo Truong
(Nguyên tác: Il nastrino viola), Bản dịch của Trương Văn Dân

(more…)

Advertisements

Read Full Post »

Cuộc hội ngộ câm

Trương Văn Dân

Âm thanh náo nhiệt và những bài hát vô hồn, nhạt nhẽo như tra tấn người nghe! Người người, từ bạn bè cô dâu chú rể đến bà con quyến thuộc… ai nấy đều tranh nhau micro để bước lên sân khấu, mỗi người mỗi cách, ca hát, lắc lư nhảy múa để thể hiện cái tôi của mình.
Có lẽ đó là cơ hội để họ phô bày “kỹ năng”, giải phóng những ức chế cá nhân thường ngày bị chôn sống giữa đám đông vô danh, lạc lõng trong lòng đô thị.

Minh họa: Tuấn Anh

Hình như đám cưới nào cũng vậy! Tổ chức nơi đâu cũng thế! Công nghệ cào bằng đều có một công thức và quy trình có sẵn; nơi nào cũng giống nhau, đám cưới nào cũng na ná. Nhận được thiệp mời, đến chờ cả tiếng vì ai cũng đến trễ. Nghi thức vội vàng, hấp tấp. Ngôn từ sáo rỗng. Nơi đâu, lần nào sự ồn ào phản cảm vẫn luôn là hằng số. Khai tiệc trễ, thế nhưng sau “giờ thứ 20” thì thức ăn dọn ào ạt, trái cây, tráng miệng liên tục bưng ra, vội vội vàng vàng để đuổi khách phải rời bàn trước 21 giờ.
Gặp lại mấy người bạn cũ sau thời gian dài bặt tin nhau, chúng tôi tay bắt mặt mừng nhưng thời gian và không gian không cho phép nói chuyện được nhiều. Tiếng hò hét, gào rú từ sân khấu cùng những tiếng dzô dzô liên tục áp đảo mọi câu chuyện tâm tình.
Sau khi cố gắng nói vào tai mà vẫn không nghe rõ, chúng tôi đành trao đổi qua nụ cười. Tuấn nói: “Ồn quá. Hôm nào rảnh gặp cà phê đi?”. Thành chụm đầu hai ngón cái và trỏ của bàn tay phải theo hình chữ O đưa ra trước mặt: “OK”. Còn “đại gia” Sơn mặt lầm lì, anh vốn ít nói, cũng mỉm cười “Được quá đi chứ!”. Vậy là vui, bạn bè cũ, lại là đồng hương… chắc hôm đó sẽ có bao điều để nói.
– Nè Trung, tài khoản Facebook của mầy tên gì?
Khi Tuấn hỏi, Thành và Sơn đều có ngay thông tin. Còn tôi thì ú ớ. Lâu nay cũng có nghe nói về Facebook nhưng vẫn chưa dùng. Thấy thái độ lúng túng của tôi, Thành bảo tôi lấy giấy ra ghi rồi giải thích: “Ngày giờ hẹn, địa điểm trao đổi qua “inbox” cho tiện”!
Kể từ khi xuất hiện các mạng xã hội, bạn bè, người quen gặp nhau hình như chẳng còn hỏi thăm địa chỉ hay số điện thoại mà chỉ hỏi “tài khoản Facebook”!
Thực ra thì cũng đúng thôi! Khi chỉ qua cú click chuột mà mọi người có thể liên lạc, thăm hỏi, trao đổi thông tin và ôm trọn thế giới trong tay thì sao phải mất thời gian, công sức đi lại để gặp nhau? Nhanh, gọn. Mà còn miễn phí.
Vậy nên không khó để nhận ra là điện thoại thông minh (smartphone) hiển hiện khắp nơi, nhiều người trong túi có không chỉ một, mà tới hai, ba cái. Duy có thằng “cù lần” “lạc hậu” như tôi, đến giờ mà vẫn còn sử dụng chiếc cùi bắp, chỉ có hai chức năng nghe và gọi.
***
Trên đường đến nơi hẹn, khoảng cách từ nhà không xa nhưng suýt có hai tai nạn. Thì có gì đâu! Trên đường phố, bao nhiêu người vừa chạy xe vừa cúi gằm mặt vào “chiếc hộp điện tử” để đọc và trả lời tin nhắn.
Chưa bao giờ sự xao lãng trở nên toàn diện như hiện nay. Cảnh quen thuộc là tài xế vừa lái xe vừa nghe điện thoại, người đi bộ đeo tai nghe hay vừa chạy xe máy vừa bấm bấm tin nhắn… mọi người cứ tự nhiên làm việc này mà đầu nghĩ đến việc khác.
Lưỡi dao công nghệ thông tin đang cắt lìa con người khỏi không gian xung quanh mình. Nó phá hủy sợi dây liên kết giữa con người với thế giới thực tại. Bao người đang trở thành “nô lệ” vào chiếc smartphone mà không hay biết.
***
Quán cà phê Hội Ngộ là một nơi yên tĩnh, đầy cây xanh và cách xa phố chính. Nhìn quanh quất chưa thấy ai, tôi ngồi đọc báo ở một bàn gần cổng để chờ các bạn.
Vài phút sau Tuấn đến. Anh kéo ghế ngồi đối diện. “Đến lâu chưa?”. Tôi vừa nói “mới đến” thì anh đã cho tay vào túi lôi cái điện thoại di động ra và hỏi cô phục vụ: “Password wifi là gì, em gái?”.
Trong khi chờ cà phê, Tuấn ngồi cúi đầu, ngó chăm chăm vào màn hình điện thoại. Thi thoảng anh ngước lên nhìn tôi: “Xin lỗi nhé! Tao phải trả lời vài tin quan trọng. Mình chờ Thành và Sơn đến rồi nói chuyện luôn thể!”.
Tôi ngồi lật tờ báo mà đầu óc nghĩ ngợi mông lung. Ngày xưa nhà tôi gần nhà Tuấn nên chúng tôi rất thân nhau. Đi học, đi chơi, đạp xe hái hoa, bắt bướm; từ chơi tạt hình đến đá banh, bóng rổ, lúc nào cũng vui vẻ bên nhau và hai đứa thường tán đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Tốt nghiệp đại học, ai cũng đều bận bịu mưu sinh, ít có thời gian gặp gỡ.
Nhìn dáng Tuấn cúi đầu tôi chợt nhớ đến thời học luyện thi, bạn chăm chú cúi đầu trên trang sách. Nhưng bây giờ trang sách được thay bằng một chiếc hộp hình chữ nhật, giống như những hành khách mà tôi thường gặp trên xe buýt, tàu hỏa. Những chuyến xe không còn là cơ hội để gặp gỡ, làm quen; chất xúc tác đến từ sự thân mật, gần gũi hình như đã biến mất. Những người bạn ngồi gần mà tai người nào cũng gắn tai nghe, các cặp tình nhân ngồi tựa đầu âu yếm, nhưng không còn thủ thỉ những lời yêu thương mà dán mắt vào màn hình điện thoại. Bữa điểm tâm, vợ nói chuyện học của con, chồng liếc vào màn hình, hay ngược lại. Đôi khi điện thoại còn là một cái cớ bận rộn để tránh đối thoại.
Tôi chợt nhớ đến câu chuyện của một phụ nữ vừa đọc trên trang đời sống lúc nãy, cô miêu tả chiếc điện thoại thông minh của chồng là “kẻ thứ ba”. Một phụ nữ khác than phiền là cùng nằm trên giường ngủ nhưng vợ và chồng sống trong hai thế giới hoàn toàn khác biệt. Có khi chồng còn “yêu” vội để có thời gian trả lời tin nhắn trên Facebook.
Xã hội hôm nay luôn khó khăn về những quan hệ giữa người với người. Một xã hội đang bị tách rời và không còn khả năng đối thoại với người xung quanh. Chúng ta dường như không còn sống cho những giây phút quan trọng. Chúng ta đang có mặt mà không hiện diện. Ngồi nơi đây mà trao đổi với bạn bè ở Pháp, Đức hay ở Mỹ. Chúng ta lấp lửng với hiện thực, suốt ngày chạy đua với thời gian và chiếc điện thoại trên tay.
Mỗi giây phút trong đời bỗng trở thành một cái cớ để chụp hình, quang cảnh nào vớ vẩn cũng đủ cho một cuộc ghi hình tự sướng (selfie). Chúng ta đánh giá tầm quan trọng của những khoảnh khắc, dựa vào số lần like nhận được trên Facebook.
Chúng ta vô tư chạy, hồn nhiên chụp ảnh… nhưng chẳng ai nhận ra là mình đã và đang đánh mất điều quan trọng nhất còn lại trong đời: sự riêng tư.
Có phải là đoàn tụ gia đình không nếu mọi người ngồi vào bàn ăn mà không ai rời chiếc smartphone của mình? Hay chỉ là gần đó mà vẫn xa cách núi sông.
Rồi thông qua chiếc điện thoại kè kè bên cạnh mỗi người đang mở cửa, cho phép cả thế giới được bước vào trong nhà mình.
Đứa cháu của tôi có lần thú nhận, đi đâu mà quên cái điện thoại là thấy như bị lạc ngoài hoang đảo, bơ vơ, mất phương hướng! Nó còn nói là ăn không ngon, ngủ chẳng yên…
Thấy không khí im lặng khá lâu, Tuấn ngẩng lên, lí nhí xin lỗi. Thấy tôi im lặng, anh mỉm cười giải thích là vì công việc nên đã lệ thuộc vào smartphone lúc nào không hay: “Sáng thức dậy, vật đầu tiên tìm là điện thoại. Tối đi ngủ, vật cuối cùng buông ra cũng là điện thoại. Khi điện thoại hết pin là thấy bứt rứt”.
Tôi ậm ừ cho qua nhưng trong lòng cảm thấy khó chịu. Tôi biết rất nhiều người cảm thấy bất an, thiếu tự tin khi không có điện thoại, thường liếc mắt kiểm tra dù không có bất kỳ thông báo nào.
Các bạn Thành và Sơn vẫn chưa đến. Tôi lật lật vài trang báo nhưng chẳng có gì để đọc. Toàn là tin tai nạn giao thông hay các vụ lừa đảo, bắt bớ vì tham nhũng. Khi gọi vài cuộc điện thoại vớ vẩn cho đỡ sốt ruột thì Sơn đến. Anh cho biết là trên đường đến bị kẹt xe hơn 30 phút. Vừa bắt tay anh vừa hỏi:
– Thành chưa đến sao?
Tôi vừa lắc đầu thì từ túi quần của Sơn phát ra một tiếng “tíc”. Sơn lôi chiếc điện thoại ra, bấm bấm. “Chà, chờ mãi hôm nay mới thấy thông báo đây!”.
Anh hồn nhiên ngồi xuống, dán mắt vào màn hình, xin lỗi phải dành vài phút để trả lời gấp cho khách hàng.
Nắng lúc này đã lên cao. Dưới bóng cây phượng đang nở những chùm hoa đỏ rực, tôi ngồi yên lặng quan sát những giọt nắng xuyên qua lá soi lốm đốm trên mái tóc và khuôn mặt Tuấn, Sơn thành nhiều vùng đen, trắng. Gió lay. Những vùng đen và trắng như ảo và thực chập chờn, lay động, có khi trộn lẫn vào nhau.
Khó thể phủ nhận chiếc điện thoại thông minh giúp con người kết nối với thế giới rộng lớn, liên lạc công việc nhanh chóng nhưng nó cũng khiến con người bị phụ thuộc và ít dành thời gian, quan tâm thực sự cho những người quan trọng trong cuộc sống. Tất cả những đối thoại trực tiếp đều bị thay thế bởi những tin nhắn. Mọi liên kết bằng ngôn ngữ đã bị giảm thiểu. Những người quen, thật và ảo, bày tỏ sự quan tâm bằng những cái “like” trên mạng thay vì nhìn nhau trực tiếp.
Truyền thông. Quảng cáo. Công nghệ. Tất cả đang góp phần dạy dỗ và huấn luyện lớp trẻ lớn lên theo cách tách rời thực tại.
Nhưng cuộc đời có thể bị khép trong một chiếc hộp điện tử? Có thể dửng dưng với hiện thực xung quanh mà do lỗi kết nối, liên kết với những gì ở tận đâu đâu?
Tôi nghĩ thử thách lớn nhất của con người hiện nay là giáo dục để kết nối trở lại!
Đang ngẫm nghĩ thì điện thoại reo. Thành! Anh cho biết đêm qua đi nhậu về, ói mửa rồi vật vã, thức suốt đêm. Sáng nay còn mệt và trên đường đến cà phê với chúng tôi anh lại bị té xe. Không nguy hiểm gì, nhưng quần bị rách gối nên phải chạy về nhà. Trễ rồi, chắc không đến được…
Nghe xong thông báo, Tuấn ngồi nhổm dậy, nhìn đồng hồ: “Ui chao, hơn 10 giờ rồi à?”.
Sơn cũng hỏi: “Trễ vậy sao?”.
Chưa ai kịp nói gì thì Tuấn đề nghị: “Lát tao có cuộc hẹn. Hay bữa khác mình gặp nhau nói chuyện đi!”.
Sơn nói “OK” rồi đứng lên. Tuấn cũng ngồi dậy. Rồi cả ba cùng về.

 

(more…)

Read Full Post »

 

Lê Thị Thanh Xuân

image-large-ban-tay-nho-duoi-mua-tieu-thuyet-truong-van-dan

Ngày đang khép lại. Trăng treo ngoài cửa sổ, chiếu sáng cả một vùng quê hoang vu, đẹp lạ. Và cũng là lúc tôi đọc xong một tiểu thuyết. Gấp sách lại, hơi chút suy tư. Phải chăng tác giả đã nói hộ mình? Thấp thoáng một phần đời của tôi? Nghĩ cũng lạ, có phải là duyên ? Tôi đến với tiểu thuyết này rất tình cờ. Hôm đó đang lang thang trên phây, thoáng thấy tường nhà bạn có treo stt giới thiệu sách, tôi tò mò đọc thấy là lạ, rồi đọc luôn vài đoạn trích, sao mà thích quá. Sau đó inbox tìm kiếm. Chẳng thấy đâu. Chưa bỏ cuộc, hôm sau tôi tức tốc vượt mười tám cây số lục lọi trong các nhà sách vẫn không có. Hôm sau nữa, lại cầu may. Vui mừng vì ở nhà sách Phương Nam chỉ còn mỗi một quyển BÀN TAY NHỎ DƯỚI MƯA của nhà văn Trương Văn Dân. (more…)

Read Full Post »

 

 

Nguyên tác : L’avventura di due sposi  của  Italo Calvino ( Italia)

Trương Văn Dân chuyển ngữ

italo-calvino

 

Italo Calvino (1923-1985) là một trong những nhà văn Ý quan tâm đến nhiều lĩnh vực và có ảnh hưởng đến chính trường, văn học  và văn hoá Ý vào những năm sau chiến tranh.

Sinh năm 1923 tại Santiago de Las Vegas, Cuba: Cha ông là một nhà nông học và mẹ là một nhà sinh vật học. Họ sống và mở một vườn thực vật nhiệt đới tại Cuba nhưng sau một trận bão (1925)  làm đổ nát nhà cửa và khu vườn này, họ quyết định quay về Ý và sống tại thành phố biển San Remo thuộc vùng Liguria, Italia. (more…)

Read Full Post »

   Elena Pucillo Truong

(Nguyên tác : Il passato sotto la neve )

Bản dịch của Trương Văn Dân

images (1)

Bước đi mà mắt tôi cứ liên tục nhìn những cửa hàng và khuôn mặt của những người gặp trên đường phố. Ánh đèn màu rực rỡ của mùa Giáng Sinh phản chiếu trên mặt đường nhựa và trên những vũng nước đọng lại sau cơn mưa. Tôi cô đơn, và trầm cảm. Nghĩ lại cuộc đời mình, tôi những muốn đánh đổi với cuộc đời của bất kỳ người nào mà tôi gặp: Dẫu đời họ có xảy ra bất cứ điều gì, tôi vẫn tin là họ vẫn hạnh phúc hơn những gì mà tôi đã và đang sống.

 

Sau 18 giờ bay tôi đã đến thành phố Milano vào sáng sớm, và trong suốt hành trình tôi đã không chợp mắt. Thông thường trong các chuyến bay xa tôi rất thích xem phim, bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp, rồi sau đó cố gắng ngủ vài tiếng đồng hồ. Thế nhưng lần này tôi chỉ ngồi yên, nhìn cái màn hình không bật, tối đen, và không muốn làm điều gì khác. Có quá nhiều ý nghĩ ập đến trong đầu tôi. Bao nhiêu kỷ niệm cũ xưa đang tràn đến, và trong trí nhớ còn nhiều thứ đang làm tôi buồn khổ đến bây giờ.

 

Lúc máy bay hạ cánh trời hãy còn tối lắm, ngoài trời chỉ có  một chút ánh sáng lờ mờ và gần như chẳng có người nào ở sân bay. Tôi đến băng chuyền nhận hành lý và  bước ra ngoài, đụng ngay với cái lạnh âm năm độ của mùa đông đang chờ ở ngoài trời. Hơi thở của tôi biến thành hơi nước và làm mờ mắt kính lúc tôi nhìn quanh quất để tìm một chiếc taxi đưa tôi về thành phố. Với những ngón tay lạnh giá tôi khó nhọc mới mở được cửa xe.

–          Thưa ông về đâu ạ?

–          Ông làm ơn chở tôi đến Hotel Michelangelo, gần nhà ga trung tâm.

Gã tài xế còn đang ngái ngủ nên chỉ lái xe mà chắng nói gì, và dường như tôi cũng thích thú về sự im lặng này trong khi chiếc xe bon bon tiến về thành phố. Đó là thành phố của tôi, nơi tôi từng sống và có một căn nhà. Tuy vậy tôi chẳng có ý định về nhà. Mười năm rồi, kể từ lúc tôi rời bỏ thành phố này, đáng lý phải nhớ lắm… nhưng tôi đã xóa bỏ nó… hay ít ra cũng cố quên là mình đã từng có một mái nhà.

Đến khách sạn, tôi chỉ muốn được tắm nước nóng và nghỉ ngơi. Uống một viên melatonine để ổn định đồng hồ sinh học, trên người vẫn còn mặc áo choàng tắm tôi buông mình xuống giường. Sau vài giờ đồng hồ thiếp ngủ trong không khí ấm áp của căn phòng khách sạn, tôi cảm thấy khoẻ hơn. Hơi đói bụng, tôi ra ngoài để tìm mua một mẩu bánh mì và một tách cà phê. Trên đường phố có nhiều quầy hàng, trên đó chưng bày đủ thứ bánh ngọt, thịt xúc  xích, đồ chơi cho trẻ em và các vật liệu trang trí cho mùa Giáng Sinh.

 

Hai tay đút trong túi quần, tôi đi bộ ngoài đường và cảm thấy thích khi gió lành lạnh lướt nhẹ trên mặt, lòng vui vui nhìn những bông tuyết lác đác rơi từ bầu trời xám xịt trên cao. Tôi rất thích tuyết. Không gian im lặng và toàn một màu trắng phủ lên thành phố thường cho tôi một cảm giác tinh khôi. Không khí trong lành hơn và vạn vật như mang một hình thái khác, không dễ định hình. Tôi bỗng nhớ đến một mùa Giáng Sinh của nhiều năm trước, lúc đó tôi chỉ vừa ba, bốn tuổi. Tối đó ba tôi về nhà rất trễ, những bông tuyết bám đầy trên vai áo khoác của ông, nhưng trên tay ông có cầm một gói quà thật lớn.

 

Gần như không kịp cởi áo, ông bảo tôi và người anh trai lớn hơn vài tuổi cùng tháo lớp giấy bao quanh rồi mở chiếc hộp có đựng món quà không mong đợi. Đó là một chiếc xe lửa chạy bằng pile và ngay lập tức chúng tôi ráp nối các đường ray, bỏ pile cho xe lửa vận hành…  Lúc đó mẹ tôi không chia sẻ ý tưởng này, ngược lại… bao lần rồi cả nhà đợi ba về để ăn tối, bao nhiêu lần chờ đợi trong vô vọng. Rồi lúc ông về chẳng ai chịu ngồi vào bàn ăn. Ba tôi luôn về trễ, tôi không biết vì lý do công việc hay vì chuyện gì khác, nhưng cũng có thể là ông muốn thế… Ông không bao giờ quan tâm đến gia đình… thế nhưng mùa Giáng Sinh năm ấy ông lại trở về nhà với món quà mà không ai dám mơ. Và như nhiều lần trước, bỗng dưng, tôi như nghe lại tiếng ba mẹ cãi vã, tiếng hét và tiếng điã chén va xuống đất, chìm lấp trong những tiếng chửi thề và cánh cửa bị dập mạnh. Sau đó là sự yên lặng, nặng nề, chỉ bị ngắt quãng bởi tiếng khóc của mẹ và tiếng nức nở của tôi trong lúc anh tôi đang cố ráp những mảnh tàu móp méo từ cơn giận của ba.

 

Tôi quệt bàn tay giá lạnh lên mắt tựa như để xoá bỏ hình ảnh xa xưa đó. Tôi cần phải gọi điện, báo cho anh tôi biết là tôi đã đến nhưng hình như trời hãy còn quá sớm. Tôi muốn có một ít thời gian để biết mình đang ở đâu và cần phải làm gì. Mười năm trước tôi đã ra đi sau cái chết của mẹ, một cuộc đời đau khổ rồi ra đi trong ít phút. Có lẽ do chìm trong ưu tư nên khi băng qua đường mẹ không nhận biết là có một chiếc xe camion đang chạy qua. Nhưng biết đâu đó cũng chính là toan tính của mẹ từ nhiều năm trước… Tuy nhiên đó cũng là một điều tốt cho bà vì khỏi phải thấy những gì ba tôi đã làm về sau: Một người đàn bà khác trong căn nhà cũ, những kỷ niệm của mẹ bị vứt đi, và tất cả số tiền tiết kiệm và dành dụm của bà bị mất trọn trong những cuộc đỏ đen hay nộp cho những người đàn bà trắc nết. Tôi còn nhớ mình và anh trai bị đuổi ra khỏi nhà, vì bị xem là một thứ của nợ: Tôi được một bà dì ở Roma nhận về nuôi còn anh trai thì về nhà một ông bác ở tận thành phố Como… Chúng tôi lớn lên như thế, luôn biết vâng lời và đôi mắt u buồn; còn ba tôi, một gã thiếu-niên mãi-mãi-chẳng-trưởng-thành, mang trong tim sự tàn ác và bản năng của loài ác thú, chúng tôi chẳng biết tin gì.

 

Lớn lên, chúng tôi có những cuộc đời khác nhau. Anh trai tôi tình nguyện tham gia vào một tổ chức nhân đạo ở Phi Châu còn tôi thì tìm được việc làm như một kỹ sư dầu khí, làm việc trên giàn khoan dầu hỏa ở vùng Đông Nam Á. Chúng tôi đã không liên lạc với nhau trong một khoảng thời gian khá lâu: Có thể rất khó giải thích mà chỉ với ý nghĩ nói chuyện với anh thường làm lòng tôi quặn thắt… Rồi vài ngày trước, anh chủ động gọi tôi qua điện thoại di động, sau vài lời thăm hỏi đại loại “Em khoẻ không?” mặc dù thừa biết là tôi cũng đau đớn như anh. Anh báo cho tôi hay là ba chúng tôi đã không còn nữa, bệnh ung thư đã cướp mất ông. Cả đời ông chưa bao giờ chấp nhận làm một người bình thường, thế mà ông đã chết vất vưởng ngoài đường phố, trong sự lạnh nhạt, dưới cái nhìn vô cảm của khách bộ hành. Ngay cả mụ đàn bà trắc nết vừa quen, cũng đã thừa cơ lấy sạch số tiền trong bóp của ông trong khi ông đang giãy chết. Sau đó bà mới báo tin cho anh tôi và  anh ấy liền gọi điện cho tôi. Đây chính là lý do mà tôi trở lại thành phố này, dù lúc đầu tôi hoàn toàn không muốn.Vô ích, tất cả đều vô ích. Về làm gì để dự đám tang của một người mà chỉ thỉnh thoảng mới nhớ mình là một người cha?

 

Nhưng sau đó thì tôi đổi ý.Tôi lấy chuyến bay đầu tiên có thể và về đây, dù chưa chắc lắm về điều mình đang làm. Trời lạnh quá! Thỉnh thoảng tôi rùng mình vì rét nhưng cuối cùng cũng tìm thấy quán cà phê nên vội vã bước vào. Không khí bên trong thật ấm cúng và có nhiều trang trí về Giáng Sinh toàn màu đỏ và màu vàng. Không gian còn có tiếng nhạc nhẹ và tiếng chuông nhà thờ càng làm cho không khí thêm vui và thư giãn. Tôi còn ngửi thấy mùi nhựa của những cành thông treo trên tường, viền quanh bức tường hình cánh cung trên trần nhà và ở một góc phòng còn phát ra tiếng tí tách của củi đang cháy trong lò sưởi. Tôi gọi một tách cà phê với một bánh sandwich và trong lúc chờ đợi, tiến đến gần lò sưởi để hơ nóng hai bàn tay. Lát sau tôi đút tay vào túi quần và cầm lấy chiếc điện thoại đang nằm trong túi. Giờ này chắc anh tôi cũng đã đến rồi. Tôi bấm số và chờ nghe tiếng chuông từ phía bên kia.

 

– Chào, em đã đến rồi chứ? Em khoẻ không?

– Dạ đến rồi! Em đang ở  khách sạn Michelangelo. Còn anh, khoẻ chứ?

Giọng tôi run run và  sau đó chỉ mơ hồ nghe giọng anh nói với tôi:

– Chờ anh ở khách sạn. Anh cũng ở gần đó. Mình gặp nhau sau chừng mười phút nhé!

Tôi cảm thấy như mình vừa biến thành một đứa bé, khi có anh bên cạnh để che chở, nhớ những lúc anh xen vào giữa để bảo vệ tôi từ những cú quật của ba. Có lẽ lúc này tôi bắt đầu hiểu tại sao mình muốn trở về, để tìm lại một lần nữa chút tình cảm thuở lớn lên trong một gia đình hoàn toàn không giống với những gia đình khác. Tôi uống một ngụm cà phê  và không thể nào ăn hết chiếc bánh sandwich rồi vội vã tính tiền, rảo bước về hướng khách sạn. Tuyết vẫn còn rơi và tất cả những âm thanh xô bồ như bị dập tắt và nhấn chìm trong màn trời trắng xoá.Tôi đi như chạy về khách sạn và cuối cùng nhìn thấy anh tôi cũng đang từ xa đi lại. Chúng tôi ôm nhau… không nói lời nào mà mắt cả hai đều đầy nước mắt, giờ này thì chúng tôi đã là hai gã đàn ông, tóc ít nhiều đã bạc theo năm tháng cùng với niềm đau. Cả hai cùng bước vào sảnh của khách sạn và tìm một chỗ ngồi ở quầy bar.

– Tóc anh bạc nhiều mà em vẫn nhận ra ngay.

–  Còn em cũng đâu còn là một chàng trai nhỏ bé nữa. Anh nói. “ Vào mùa Giáng Sinh mà màu da của chúng mình ướm nắng thế này, chắc sẽ làm bao người ganh tị.”

Tôi bật cười, nghĩ đến những ngày cô đơn của mình trên giàn khoan, dưới ánh nắng gay gắt giữa đại dương. Tính tôi không thích những chỗ đông người và có lẽ đó là lý do mà tôi thích sống ở đó, suốt ngày có thể tự do nhìn ngắm đường chân trời và nhìn những đàn chim biển bay lượn trên cao.

– Đáng lý anh đã phải gọi em sớm hơn nhưng anh không làm được! Giờ thì anh nhận ra là anh thấy thiếu em. Có lẽ anh chỉ sống ở Phi Châu vài tháng nữa rồi sau đó sẽ quay về Ý. Còn em thì sao?

– Em cũng vậy. Nhiều lúc em cũng rất nhớ anh! Bây giờ thì công việc và mọi thứ đều ổn. Có lẽ em phải về làm việc chừng sáu, bảy tháng nữa rồi cũng sẽ dời về Brasile trong một dự án khai thác mới. Còn đám tang? Ngày mai phải không anh?

– Đúng, 9 giờ sáng mai! Tất cả mọi thứ đều đã  chuẩn bị xong. Em đừng bận tâm. Và vừa nói anh vừa siết chặt tay tôi, rồi sau một lúc ngập ngừng, anh nói thêm: “ Em có muốn về nhà… để nhìn thấy ba không?”

Tôi lắc đầu. Không, tôi không thể. “ Em van anh, đừng yêu cầu em chuyện này”. Tôi nhìn thấy hình ảnh một người đàn ông giận dữ đang lao vào phòng mình và chẳng cần một lý do nào, ông la hét, rồi túm áo tôi kéo ra khỏi giường trong lúc tôi đang ngái ngủ, rồi bắt đầu mắng chửi, đánh đập, trong khi tôi nhận nhiều cú đấm mà chẳng hiểu vì sao. Bỗng dưng tôi thấy mình nghẹt thở như thuở ấy, trong lúc hỗn loạn đang tìm cách trốn thoát khỏi bốn bức tường giam hãm, dường như chỉ xây lên để nhốt tôi và ông ta. Tôi tiếp tục không trả lời anh. Không! Tôi không thể!

– Giờ thì dù sao ổng cũng mất rồi. Anh tôi nói tiếp. Anh biết, đây không phải là một điều dễ dàng, nhưng dù sao chúng mình cũng đã làm lại được cuộc đời. Còn ba, ổng chỉ có thể mỗi ngày mỗi huỷ hoại đời mình.

Cuối cùng tôi đồng ý, nhưng tâm thần tôi vẫn còn bấn loạn và mệt mỏi.

– Thôi được! Mình đi ngay đi! Rồi lát nữa quay lại khách sạn để ăn một chút gì.

Anh nắm cánh tay tôi và cả hai cùng bước ra ngoài.

-Kìa, taxi đây rồi!

Mặc dù đèn đường chiếu sáng lờ mờ nhưng gã tài xế cũng nhìn thấy chúng tôi và chạy đến. Chúng tôi bước vào trong xe ấm áp, ngồi cạnh nhau ở băng sau. Chỉ sau vài phút chúng tôi đã đến trước chiếc cổng nặng nề mà trước đây là căn nhà của chúng tôi. Anh tôi trả tiền cuốc xe rồi chúng tôi bước xuống. Anh lục trong túi tìm chìa khoá để mở cổng. Chúng tôi bước vào sảnh và tiến đến chiếc thang máy, tôi cúi đầu theo anh, như thể mắt không thể rời khỏi sàn nhà. Tầng ba. Chúng tôi bước ra và trong khi anh tôi mở ổ khoá để vào căn hộ, trong đầu tôi nảy lên ý muốn trốn chạy khỏi nơi này. Tôi hít một hơi dài và cố gắng tự trấn tĩnh. Cửa đã mở và anh đang nhìn tôi. Chúng tôi cùng yên lặng vào nhà.

Tất cả dường như đều đã ố vàng, cũ kỹ. Tôi nghe có mùi ẩm mốc, không khí tù túng như đã rất lâu các phòng ốc bị đóng kín không cho ánh sáng và không khí trong sạch tràn vào. Tất cả như bị bỏ hoang. Ở cuối lối vào, tôi nhìn thấy phòng khách và ở bên phải là phòng ngủ. Cửa khép hờ.

Bên cạnh giường ngủ người ta có đặt một chiếc quan tài trong đó có thể xác của ba tôi. Tôi  khó nhọc tiến đến và nhìn thấy ông.

Sự can đảm như đột ngột tràn đến. Ai đây? Tôi như không hề biết người đàn ông này. Ông hoàn toàn không còn là những gì mà tôi đã từng nghĩ về ông. Ông nằm đó. Bất động. Chỉ còn da bọc xương, mí mắt sụp xuống, đóng lại hai hốc lõm xưa là đôi mắt và đôi môi tái nhợt hơi hé mở. Trên người ông có mặc một chiếc sơ mi có cổ áo rất rộng.

Gần như đọc được ý nghĩ của tôi, anh tôi nói:

Anh vừa mua một chiếc sơ mi mới, anh còn nhớ số đo của ba nhưng bây giờ thì nó quá lớn với ông.

Tôi muốn có được một chút xót thương cho người đàn ông xa lạ này. Thế nhưng tôi chỉ cảm thấy xót thương chính mình, hằng đêm bị rượt đuổi bởi những bóng ma, tuy chỉ là kỷ niệm nhưng cũng đủ huỷ hoại cuộc đời tôi.

-Anh đừng bận tâm! Anh đã làm  quá nhiều cho ba rồi!

Chúng tôi đi một vòng trong căn nhà trống hoắc, dường như không còn vật dụng hay bàn tủ gì như chúng tôi còn nhớ. Thế nhưng khi bước vào gian bếp, tôi như vừa thấy mẹ mình đang lấy ra một món ăn thơm phức từ hoả lò. Nhắm mắt, tôi như nghe mùi thơm đang lan toả khắp nhà, nhớ những lúc cả nhà quây quần ăn uống trong những ngày chủ nhật. Một thoáng thôi. Khi mở mắt tôi không nhìn thấy gì cả. Chỉ vài phút rồi chúng tôi đóng cửa và bước xuống đường. Bây giờ chúng tôi trao đổi với nhau, thoả thuận về các việc cần làm rồi cả hai, mệt đừ, ai về khách sạn của người ấy.

Chúng tôi ở bên nhau ba ngày, lúc đưa tang ba tôi chẳng có ai khác ngoài hai chúng tôi. Thê thảm như cuộc đời của ông ấy.

Thế rồi cũng đến lúc chia tay.

Anh trai tiễn tôi ra sân bay.Tôi làm thủ tục bay và chúng tôi cùng chờ khoảng mười lăm phút trước khi vào phòng đợi.

– Anh rất vui mừng được gặp lại em, anh nói, biết đâu một ngày nào đó anh cũng sẽ đến tìm em bên đó. Nhớ gọi điện cho anh khi em đến nơi. Và nhớ gọi chúc mùng Giáng Sinh nữa!

– Chắc chắn rồi! Em cũng rất vui được gặp lại anh! Chúng ta sẽ còn nhiều dịp gặp nhau nữa.

– Chúc em thượng lộ bình an. Cố gắng ngủ trên máy bay nhé. Tôi nhìn thấy anh lưỡng lự một lúc rồi rút từ trong túi áo khoác ra một vật gì. “Đây là món quà nhỏ cho em. Chúc Mừng Giáng Sinh!”

Tôi nhìn gói quà. Bỗng thấy mình đãng trí vì không mua chút quà để tặng lại anh. Tôi mở ra. Và giữa những dòng nước mắt, tôi nhìn thấy chiếc đầu máy xe lửa  chạy bằng pile của những năm tháng cũ.

 

Sai Gon 11-2012

(more…)

Read Full Post »

Elena Pucillo Truong
100312afamilyVC_77df8

(Nguyên tác : lettera alla madre)
Bản dịch của Trương Văn Dân

Mẹ thương yêu,
Con thường nghĩ về mẹ nhưng trước đây con chưa viết được gì cho mẹ. Con muốn kể cho mẹ nghe rất nhiều điều, tất cả những gì đã xảy ra với con, về cuộc đời mà con đang sống, dù đôi khi con có cảm giác là mẹ đã biết tất cả rồi. Mẹ luôn có một thứ giác quan thứ sáu, một thứ trực giác bén nhạy để linh cảm về những điều sắp sửa xảy ra. Chỉ tiếc là những linh cảm ấy không giúp mẹ tránh khỏi những khổ đau. Và trong đời, mẹ đã đau khổ biết bao!
Ngay từ lúc còn bé, một cơn sưng màng não đột phát trong vài giờ đã cướp đi người em gái, và sau đó, vì quá đau đớn bà ngoại cũng ra đi.
Kể từ ngày đó mẹ luôn luôn mang theo cái bóp đầm trong đó có hai bức hình đen trắng. (more…)

Read Full Post »

 

Elena Pucillo Truong

phong-tuc-ngay-tet6

(Nguyên tác : La ricchezza del silenzio)

          Bản dịch của Trương Văn Dân

 

Nam Mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát… Nam Mô Đại Bi…

Tiếng niệm Phật vang vang trong đầu bà, trong lúc bàn tay khẳng khiu chậm chạp lau những phiến lá chuối, nhẹ nhàng xếp từng chiếc chồng lên nhau, như thể đang lần tràng hạt…

Nam Mô A Di Đà Phật…Nam Mô A Di … (more…)

Read Full Post »

Older Posts »