Feeds:
Bài viết
Bình luận

Chuyện kể về một người thầy

Nguyễn Hữu Duyên
Tôi chưa bao giờ học thầy trong những tiết học chính khóa, bởi thầy dạy  lý hóa cấp hai còn tôi lại học lớp mười hai, nhưng thầy là người thầy tôi nhớ và kính trọng nhất. Tên đầy đủ của thầy là Hoàng Văn Xê, người Huế, năm một ngàn chín trăm bảy ba về dạy trường Trung học Đào Duy Từ (nay là trường PTTH An Nhơn 1) thuộc huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. May mắn đã đưa tôi đến với thầy. Đó là một buổi chiều vào đầu tháng mười một năm đó, sau khi tan học, tôi cầm còi điều khiển sinh hoạt vòng tròn và tập hát cho một lớp bảy, giúp các em chuẩn bị đợt cắm trại của trường vào cuối năm. Thầy đến bên tôi sau khi buổi sinh hoạt kết thúc.
– Em học lớp mấy?
– Dạ, em học lớp mười hai A2.
– Sao em không tập trung nhiều hơn vào việc học, em không sợ rớt   tú tài sao?
Tôi cúi đầu im lặng.
          -Em có gì khó nói?
          -Thưa thầy, em ham chơi nên bị hổng kiến thức cơ bản, đã tháng mười một rồi, có tập trung  cũng không kịp, thầy ạ!
Thầy nắm tay tôi, hai thầy trò bước chầm chậm trong sân trường như hai anh em, bởi năm đó tôi mười chín, thầy khoảng hai ba, hai bốn tuổi.
–          Không có gì là muộn cả, cứ vô ở với thầy, thầy sẽ giúp.
    Tôi thực sự như người “buồn ngủ gặp chiếu hoa”. Bởi thời điểm ấy ở đất này không có những lớp dạy kèm cũng không có những “cua” luyện  thi, học sinh phải tự học. Thế là tôi mang sách vở đến nơi thầy ở phía sau trường khoảng một trăm mét, cùng với một thằng bạn nữa, cũng ham chơi như tôi, học lớp mười hai A1.
     Buổi đầu tiên, thầy nói :
         -Nhìn các em điều khiển vòng tròn sinh hoạt, xử lý tình huống rất nhạy bén, thầy tin các em sẽ học tốt nếu tập trung.
 Có thể nói, đây là lời động viên thật quý giá giúp tôi và thằng bạn tự tin hơn. Sau khi kiểm tra kiến thức cơ bản, thầy đã phải dạy lại từng bài toán lý hóa chương trình lớp mười một, có khi phải rà lại chương trình lớp chín, lớp mười. Đây là những ngày học tập thật vất vả, bởi cùng một thời điểm mà phải vừa hoàn thành các bài học trên lớp, vừa phải tập trung ôn lại kiến thức lớp dưới để tiếp thu được kiến thức lớp trên, nhất là trong thời gian nửa tháng đầu tiên. Nhưng vất vả nhất là thầy. Vì thầy phải sinh hoạt chuyên môn, soạn bài, chấm bài, lên lớp các tiết học chính khóa, rồi phải lục tìm sách vở liên quan, soạn bài giảng dạy cho hai đứa nữa. Trong suốt thời gian dạy kèm, đâu phải thầy giảng một lần là hai đứa hiểu liền, nhưng thầy không hề nhăn nhó, phàn nàn hay trách mắng. Ngược lại còn kể chuyện vui khi thấy chúng tôi căng thẳng khi không làm bài được. Đó là chưa nói trong quá trình dạy kèm chúng tôi, mỗi khi đứa nào giải được bài toán khó, thầy thường thưởng năm chục hay một trăm đồng, có tiền sáng mai ăn bánh mỳ, ăn chè. Bây giờ nghĩ lại tôi cũng không thể lý giải được vì sao thầy lại chịu khó và thương hai đứa tôi như vậy. Hằng đêm sau khi học xong, khoảng mười giờ đến mười giờ rưỡi, thầy ôm đàn măng-đô-lin, tôi cầm ghi-ta, ba thầy trò cùng hát những ca khúc viết về đồng quê, sinh hoạt cộng đồng. Nhờ thầy nên chỉ sau nửa tháng, tôi và thằng bạn đã cơ bản nắm được kiến thức, có chiều hướng theo kịp các bạn trong lớp, nhất là môn lý hóa. Điều quan trọng nhất là thầy đã làm cho tôi và thằng bạn tự tin, có động cơ học tập, không còn ham chơi, tập trung học. Nhờ vậy nên kỳ thi năm một ngàn chín trăm bảy tư, tôi và thằng bạn đều đậu tú tài toàn phần. Gần bảy tháng kèm hai đứa tôi học, đầu tư công sức rất nhiều, thầy chỉ lấy hai bản sao văn bằng tú tài bằng thư bảo đảm của chúng tôi gửi ra Huế vì lúc đó thầy về Huế nghỉ hè. Khi gặp lại, thầy ôm tôi như ôm một đứa em trai bé bỏng, bóp bóp tay tôi và nói:
–          Hai đứa đã không phụ lòng thầy.
Tôi biết thầy rất vui vì đã thực hiện được lời hứa giúp đỡ trực tiếp hai đứa học trò đầu tiên của thầy đậu tú tài.
        Sau ngày giải phóng, thầy được phân công về dạy trường Trung học cơ sở xã Đập Đá ( nay là thị trấn Đập Đá ). Lúc đó tôi theo học trường Cao đẳng sư phạm QuyNhơn. Thỉnh thoảng, vào chiều thứ bảy, hoặc sáng chủ nhật, tôi đón xe từ Quy Nhơn về thăm thầy đang ở trọ tại Đập Đá. Thầy đi chợ nấu ăn, không cho tôi làm gì cả ngoài việc lặt rau, bởi với thầy thì tôi như một cậu học trò nhỏ, được ưu tiên chăm sóc giống như ngày xưa thầy chuẩn bị nồi chè hay bữa bánh nếu tôi và thằng bạn học khuya đói bụng. Rồi hai thầy trò, một măng-đô-lin, một ghi-ta cùng hát những bài sinh hoạt cộng đồng, hoặc những ca khúc của thầy viết vừa được giải ở tỉnh. Tôi ra trường, trở thành đồng nghiệp của thầy, nhưng thầy mãi là người thầy mà tôi yêu thương nhất trong cuộc đời mình. Năm hai ngàn linh năm, thầy định cư ở Mỹ cùng với gia đình. Thầy ở cách xa tôi nửa vòng trái đất, và lâu lắm rồi hai thầy trò không gặp nhau. Nhưng với tôi khoảng cách địa lý không quan trọng, bởi tôi luôn mãi  nhớ thầy. Dù trước mặt thầy, chưa bao giờ tôi nói những lời biết ơn hay ngợi ca thầy, nhưng làm sao tôi có thể quên những ngày bên thầy với chiếc đèn dầu hằng đêm được nghe thầy giảng bài, nghe thầy hát của gần bốn mươi năm về trước. Thông thường, thời gian làm cho trí nhớ người ta bị bào mòn, thậm chí mất hẳn, nhưng với thầy thì ký ức trong tôi lại được lưu giữ mãi. Bởi thầy đã đưa tôi qua một khúc ngoặt quan trọng nhất của đời học trò- một việc không thực sự dễ dàng đối với một người thầy mới ra trường, vừa phải hoàn thành  nhiêm vụ chuyên môn ở cấp hai vừa phải dạy kèm hai đứa học trò lớp mười hai thuộc loại “ dốt đặc cán mai”.
      Lớn lên tôi đi đây đi đó, lập gia đình, có hai đứa con đi học. Tôi làm ban điều hành hội cha mẹ lớp và  nhà trường trong nhiều năm liền nên có điều kiện tiếp xúc với nhiều thầy cô giáo. Nhưng riêng tôi vẫn thấy ở thầy, hình ảnh thực sự của một người thầy có tâm và có nghề. Thầy là người thầy duy nhất mà cả gia đình tôi, từ ba má, đến các em tôi, vợ con tôi đều biết và kính trọng. Cuộc sống luôn đổi thay, tôi cũng đã gần sáu mươi tuổi, nhưng trong tôi vẫn còn in đậm hình ảnh rất đẹp của thầy với giọng  Huế không trộn lẫn vào đâu được. Và, thằng học trò ham chơi, biếng học ngày nào xin cầu chúc thầy mãi mãi sức khỏe, hạnh phúc !


 

Những Giọt Sương

Lữ Vân

Tranh Đỗ Duy Tuấn

Chụp xuống tấm khăn choàng màu rêu
Những vết nứt của thời gian mọc đầy cỏ dại
Anh đã yêu trần gian này
Yêu từng ngày ra đi không trở lại
.
Có thể trong ký ức anh thời gian đọng lại như những giọt sương
Thấm màu cô tịch
Có hương thơm dịu dàng của năm tháng ấu thơ
Có nỗi nồng nàn của ngày mới lớn
Có tình yêu một thời xao xuyến
Có em, người con gái tóc dài đi qua giông bão
Những cơn bão cuốn cuộc đời về phía nhiễu nhương…
.
Những giọt sương
Cũng mong manh như tình yêu của em dành cho anh
Những giọt lệ buồn trong đại dương xanh
Nỗi xót xa trong mùa biển động
Chúng ta sống qua ngày khốn khó
Mới hiểu những phút giây cuộc đời là hạt ngọc trăm năm
.
Đâu thể gửi nỗi buồn trốn vào thơ
Vào ly rượu nhạt
Anh đành cất chúng trong trái tim mình
Nếu có một ngày em đến
Vườn anh sẽ nở những bông hoa giọt lệ
Lung linh trong đôi mắt em

15.11.2011

(ĐVO) “Huệ tiếng nói như chuông, mắt lập loè như ánh điện, là người thông minh, giỏi chiến đấu, người người đều kinh sợ”, Sách Đại Nam chính biên liệt truyện của triều Nguyễn chép.

Vương triều Tây Sơn đứng đầu là Hoàng đế Quang Trung, là triều đại phong kiến đã mang lại nhiều vinh quang cho dân tộc ta ở nửa sau thế kỷ XVIII, mà trung tâm đầu não lúc bấy giờ là kinh đô Phú Xuân.

Tượng đài Hoàng đế Quang Trung tại TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

Vua Quang Trung còn có tên khác là Nguyễn Văn Bình, quê ấp Kiến Thành thuộc Tây Sơn Hạ Đạo (phủ Quy Nhơn, Bình Định).

Là em trai của Nguyễn Nhạc, Thủ lĩnh phong trào Tây Sơn, Nguyễn Huệ (1751 – 1792) là một tướng lĩnh có vai trò quan trọng. Ðặc biệt vào năm 1785, khi đánh tan quân xâm lược Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút, năm sau (1786) Nguyễn Huệ tiến ra Thuận Hóa và chỉ trong mấy ngày, đạo quân Tây Sơn đã quét sạch quân Trịnh ra khỏi Phú Xuân; rồi trên đà thắng lợi, tiếp tục hành quân ra Bắc. Sau khi tiêu diệt xong thế lực chuyên quyền họ Trịnh, Nguyễn Huệ đã trao lại quyền bính cho vua Lê và rút quân trở về Phú Xuân…

Năm 1788, triều đình Mãn Thanh mượn cớ giúp vua Lê, đã đưa binh hùng tướng mạnh theo chân Lê Chiêu Thống cướp nước ta. Ðược tin cấp báo, tại Phú Xuân, Nguyễn Huệ cho lập Ðàn Nam Giao làm lễ tế trời đất ở núi Bân để tuyên bố lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung và phát động cuộc hành quân ra Bắc đánh dẹp giặc ngoại xâm.

Với thiên tài quân sự kiệt xuất, Quang Trung Nguyễn Huệ đã làm nên đại thắng mùa xuân Kỷ Dậu (1789) lừng lẫy, quét sạch mấy chục vạn quân xâm lược, giữ vững biên cương của Tổ quốc, mang lại cuộc sống hòa bình cho nhân dân. Sau chiến thắng lịch sử đó, Nguyễn Huệ đã nhanh chóng chỉ đạo sắp xếp công việc chính trị ở Bắc Hà, rồi kéo đại quân trở lại Phú Xuân. Suốt hơn mười năm sau đó (1789-1802), Phú Xuân là kinh đô của nước Ðại Việt thống nhất thời Tây Sơn. Tại đây, vua Quang Trung đã ban bố và thực hiện chỉ đạo nhiều chính sách quan trọng về nội trị và ngoại giao nhằm xây dựng và phát triển đất nước.

Hoàng đế Quang Trung và Ngọc Hân công chúa. Ảnh minh họa

Như vậy, công danh hiển vinh của Hoàng đế Quang Trung – hậu bối ai ai cũng rõ và kính phục. Song, có điều rằng diện mạo và thần thái của người anh hùng áo vải – đến nay vẫn là một ẩn số. Theo sách Những khám phá về Hoàng đế Quang Trung, một quan viết sử dưới thời Nguyễn đã ghi: “Huệ tóc quăn, mặt đầy mụn, có con mắt nhỏ, nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu, lúc lâm trận thì thế thắng uy nghi, anh hùng lẫm liệt, cho nên mới bình định được phương Nam, dẹp phương Bắc, tiến đến đâu thì không ai hơn được… Óc thông minh đó sẽ làm nên sự nghiệp lớn, tiếng nói sang sảng như chuông sẽ là lệnh truyền hiệu nghiệm đầy sức thuyết phục. Với đôi mắt như ánh điện, thay được đèn soi sáng cả chiếu vào lúc ban đêm, có thể xuyên thấu mọi tâm can sâu thẳm của mỗi con người, của đối phương nên đã làm người người đều kinh sợ. Cái nhãn quang đó cùng bộ óc thông minh của ông đã làm nên sự nghiệp phi thường như lịch sử đã ghi lại”.

Trong Minh đô sử, hình ảnh Nguyễn Huệ ra Thăng Long diệt quân Trịnh vào năm 1786 được ghi: “Văn Huệ mặc áo ngân giáp, đầu đội mão thêu đỏ, thúc hai đội quân đột ngột xông thẳng vào quân Phùng Cơ, lúc đó đang ăn cơm không kịp sắp hàng ngũ, đành vỡ tan. Văn Huệ tiến quân đến bên Tây Long, ngồi đĩnh đạc trên chiếc tấm ván cao trong thuyền, dung mạo hùng vĩ, nhung phục chỉnh tề. Các tướng sĩ đứng vòng hai bên tả hữu trông thấy ai cũng nói: Bắc Bình Vương là vị thần sông vậy. Rồi cùng nhau tấm tắc khen ngợi mãi không thôi”.

Các tác giả trong Hoàng Lê nhất thống chí đều thừa nhận Quang Trung là “người thông minh quyết đoán. Lúc Nguyễn Huệ vào kinh đô Thăng Long, vua Lê sai các quan lần lượt đến yết kiến. Thấy thần sắc của Bắc Bình Vương rực rỡ, nghiêm nghị, ai cũng run sợ, hãi hùng”.

Thậm chí, những kẻ đối địch cũng phải nhận xét: “Nguyễn Huệ là tay anh hùng lão luyện, dũng mãnh và có tài cầm quân, xem ông ra Bắc vào Nam ẩn hiện như quỷ thần không ai có thể lường biết. Ông bắt Nguyễn Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Võ Văn Nhậm như giết một con lợn. Không một người nào dám nhìn thẳng vào mắt ông; thấy ông trở tay, đưa mắt, là ai nấy đã phách lạc hồn xiêu sợ hơn sấm sét…”.

Có thể nói, những dòng miêu tả kỹ lưỡng diện mạo, thần thái của vua Quang Trung là điều hiếm hoi trong sử Việt.

 

 

Độc thoại mưa

Nguyễn Quy

 
Bỗng dưng
rơi nhẹ giữa đời
Bỗng dưng
trút xuống
bồi hồi trần gian
 .
Bỗng dưng
thác đỗ ngỡ ngàng
Bỗng dưng
rả rích
bàng hoàng đời nhau ! …
 .
Bỗng dưng
thích,
bỗng dưng
đau
Bỗng dưng tủm tỉm
thâm sâu đất trời
 .
Bỗng dưng
đón,
bỗng dưng
mời
Bỗng dưng
mơ ngủ
thốt lời – mưa chi ? …
 .
Mưa rừng Xuyên Mộc
   Tháng mười 2011

TTCT – Khách du lịch đến thăm mộ Hàn Mặc Tử (Quy Nhơn, Bình Định) những ngày này đã bất ngờ trước một phụ nữ nước ngoài miệt mài khắc thơ Hàn Mặc Tử bằng bút lửa (*).

 

 
Bà Ginette Lâm với bút lửa bên mộ Hàn Mặc Tử – Ảnh: Trường Đăng

Người phụ nữ ấy gốc Pháp, tên Ginette Lâm. Đã 74 tuổi nhưng bà còn nhanh nhẹn, hoạt bát. Thấy khách bước vào, bà hỏi bằng tiếng Việt lơ lớ: “Xin chào! Bạn cần viết câu gì?”. Đôi mắt vẫn trẻ trung tinh anh, bà thân thiện, cởi mở trò chuyện với mọi người.

Duyên

Chồng bà người Việt, quê ở Trà Vinh. Ông sang Anh học nghề in ấn, bà sang Anh làm nghề giữ trẻ. Bà yêu ông vì ông rất tốt bụng, lịch sự và khéo léo trong đối xử. Hai dòng máu Pháp – Việt hòa quyện, họ có năm người con.

“Người Việt ai cũng thế. Hơi nhút nhát nhưng hòa nhã, thân thiện. Tôi đến Việt Nam nhiều và đã ba lần ăn tết ở TP.HCM” – bà trải lòng. Trước kia làm việc tại một trung tâm văn hóa – xã hội ở Pháp, bà đi nhiều, đọc nhiều, thích trải nghiệm và tìm hiểu văn hóa các nước. Bà chia sẻ: “Nước bạn rất đẹp, có chiều sâu văn hóa dễ làm say mê người khác”.

Cách đây hơn một năm, trong chuyến du lịch đến mộ Hàn Mặc Tử, thăm Bãi Trứng, nghe những câu chuyện về các danh nhân, danh lam ở đây bà rất cảm phục. Rồi bà phát hiện ngay bên ngôi mộ thi sĩ họ Hàn có một người ngồi vẽ thư pháp bằng bút lửa. Đó là Trương Vũ Kha (nghệ danh Dzũ Kha, theo cách gọi của người địa phương). Yêu thơ Hàn Mặc Tử, nghệ sĩ thư họa này đã dựng lều vẽ tranh, họa thơ, viết thư pháp bằng bút lửa 30 năm nay bên mộ Hàn Mặc Tử. Bà quyết định ở lại xin học nghề. Vốn đã học viết thư pháp trên giấy ở TP.HCM từ bốn năm trước, nên lần gặp Dzũ Kha, bà xem như cái duyên lớn với đất Quy Nhơn. Bà ở lại học bút lửa, học thêm tiếng Việt.

Nghệ sĩ Dzũ Kha giới thiệu ngắn gọn: “Đây là học trò lớn tuổi nhất nhưng có niềm đam mê và miệt mài kỳ lạ. Điều đáng khâm phục là nghị lực, sự năng động, cởi mở và độ sâu tâm hồn của bà”.

Bà thích nghe nhạc Trịnh, đàn tranh, dân ca và những bài hòa tấu nhạc dân tộc Việt… “Viết thư pháp phải tập trung cao độ, suy ngẫm mà không vướng bận gì khác nên nghe những dòng nhạc này giúp tập trung hơn” – bà tâm sự. Thỉnh thoảng bà cao hứng hát “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng…”.

“Để gió cuốn đi”

Đến thăm nhà, bà vui vẻ tiếp đón như một người bạn đồng niên. Trong căn nhà nhỏ nhắn thuê gần mộ Hàn Mặc Tử là một không gian của hồn Việt. Trên tường bà treo những bức thư pháp mình vẽ bằng bút lửa. Bức thư pháp lớn nhất – chữ “Tâm” kèm dòng chữ “Cuộc đời sẽ rất đẹp nếu chúng ta biết sống bằng một trái tim yêu thương và độ lượng” – bà treo giữa nhà, bên cạnh là những câu thơ Hàn Mặc Tử và ca từ trong nhạc Trịnh…

Lật tập thơ Trăng Hàn của Hàn Mặc Tử để ngay ngắn trên bàn, bà dừng lại đọc Đây thôn Vĩ Dạ, bài thơ bà tâm đắc. Tôi hơi ngỡ ngàng khi thấy một bức tranh minh họa câu thơ Thuyền ai đậu bến sông trăng đó/Có chở trăng về kịp tối nay do chính bà vẽ. Chỉ vào nét mờ ảo hư hư thật thật như vào cõi mộng, bà nói đùa: “Ghềnh Ráng cũng đẹp, lãng mạn như bến sông trăng. Tôi đến với Hàn Mặc Tử là một cái duyên nhưng Ở đây sương khói mờ nhân ảnh/Ai biết tình ai có đậm đà. Thơ Hàn Mặc Tử rất lãng mạn và gần gũi với thiên nhiên”. Bà nói chuyện, lẫy cả thơ Hàn Mặc Tử như một người bản địa. Lưu loát, tinh tế.

Trên kệ sách là tập nhạc Trịnh viết bằng song ngữ Pháp – Việt. “Nhạc Trịnh thấm đẫm tình người, giai điệu miên man vào suy ngẫm tĩnh lặng. Tôi thích nhạc Trịnh còn vì tinh thần phản chiến, nhất là bài Đại bác ru đêm gợi điều gì đó khủng khiếp và sự chán ghét chiến tranh”.

Tôi hát cho bà nghe, bà cũng nhẩm theo Hàng vạn tấn bom dội về thành phố/người phu quét đường dừng chổi đứng nghe”, nét mặt lúc say sưa, bà gõ nhịp. Giọng hát chưa tròn, tôi ngỏ ý sẽ chỉ bà hát một số bài nhạc Trịnh, đôi mắt bà long lanh sáng lên: “Lúc trước ở Pháp chúng tôi có nghe giảng về nhạc Trịnh nhưng ít người hát được. Nhất định tôi sẽ tập hát nhiều nhạc Trịnh để về Pháp hát cho bạn bè nghe”.

Mỗi ngày bà cố hoàn thành một bức thư pháp qua bút lửa. Bà tâm sự: “Mỗi lần cầm bút đầu óc trống rỗng như đang thiền định, gội rửa tất cả phiền muộn, hòa suy tư trong nét bút”.

Chiều nào bà cũng ra biển, đọc một bài thơ Hàn Mặc Tử rồi đi bộ dọc Ghềnh Ráng. “Đứng trên đồi Thi Nhân nhìn ra xa, gió biển Quy Nhơn cuốn mình vào một cảm giác rất lạ – người phụ nữ đã bước qua tuổi thất thập cổ lai hy tâm sự – Tôi học bút lửa không phải vì nhu cầu việc làm mà chỉ… để gió cuốn đi”. Còn nghệ sĩ Dzũ Kha thán phục: “Làm việc với bà tôi cứ nghĩ đó là một thanh niên trai tráng. Không có biểu hiện tuổi già, phân biệt quốc gia hay văn hóa trong con người này. Tôi xem bà như một người bạn để cùng thổi lửa vào thư pháp sưởi ấm thơ Hàn”.

VŨ NGỌC

__________

(*) Nghệ thuật bút lửa là cách viết bằng bút có ngòi là dây lò xo xoắn, được làm nóng bằng điện (5 ampe) để làm cháy gỗ. Khi viết, ngòi chạm vào gỗ phát ra lửa, bốc khói. Bút lửa thường viết trên gỗ thông, gỗ mít mềm dễ cháy theo ý muốn, riêng nghệ sĩ Dzũ Kha đạt đến trình độ viết bút lửa trên giấy thường.

Đạo đi chơi

Phạm Văn Phương

Tặng cậu Thái Thành Đôn

 

Ta có “ đạo “ đi chơi

Vui cùng nước non hoa cỏ

Cái đẹp vẫn thiường sẵn có

Ẩn tàng trong đá trong cây

Đói, mệt-tìm nơi quán gió

Có hôm trời đổ mưa mây

Gặp em trên dường thiên lý

Tặng ta một khóm hoa này

Nào biết ta về đâu nhỉ?

Bồi hồi tay nắm bàn tay

Ngẫu gặp nguời xinh bên tháp

Thương trao mấy trang sách vàng

Chiều muộn nụ cười không tắt

Qua đồi lòng thật xốn xang

Vui cùng nước non hoa cỏ

Ô hay mua hạ đã tàn

Còn lại dăm cành phượng sót

Phố phường xe ngựa xênh xang

Chào người  , lên lưng ngựa sắt

Xuôi theo gió nội hương ngàn

Ta như con chim bay liệng

Như vầng mây trôi lang thang…

Thơ tặng cô giáo

Hoàng Lộc

đã biết rằng yêu nữ sinh rất khổ

nào hay yêu cô giáo lại khổ hơn

ta, trái đất – một đời quay lảo đảo

một đời yêu mà chẳng thể tròn vòng

.
ai áo trắng của ngày xưa biền biệt 

vang trong hồn nỗi nhớ cuối tà huy

để thơ dại tưởng sắc màu chỉ một

trắng không màu là màu trắng không phai

.

em mùa thu áo vàng, mùa đông áo tím

và mùa xuân cũng trắng nõn sân trường

mỗi sắc áo – mỗi sắc đời lồng lộng

ta bốn mùa sững sốt những trầm luân

.
một sắc áo một đời không giữ nổi

huống chi em trăm thứ áo, trăm màu

nên yêu nữ sinh khổ chi bằng yêu cô giáo

ta điếng hồn thêm mấy cõi xưa sau… 

_______________________
MỘT CHÚT TÌNH NHÂN NGÀY 20 Th 11

Bài “Thơ Tặng Cô Giáo” của Nhà thơ Hoàng Lộc tôi vừa  tìm được trong ngăn tủ sách cũ sau đây- có lẽ đã được anh viết từ rất lâu rồi – khi còn là cậu học sinh, hay sinh viên ? Nhất là hãy còn ở vào cái tuổi tình thơ mơ mộng của ” cái thuở ban đầu” bước vào những cuộc tình ” mây gió” xa xôi?  Thế mới có…” thơ tặng cô giáo” chứ nhỉ? ( nếu viết sau khi HL làm Thầy giáo thì chắc là sẽ khác rồi?).

           Vẫn giọng ” thơ tình” hồn nhiên mà sâu – cười cợt mà đau/ HL viết:
             ” Đã biết rằng yêu nữ sinh rất khổ…

             Nào hay yêu cô giáo lại khổ hơn?

             Ta,trái đất – một vòng đời lảo đảo,

             Một đời yêu mà chẳng thể tròn vòng!
         HL có trái tim rất  ” nhạy cảm” với chuyện yêu thương-nên điều anh trải nghiệm đã giải bày thật chí lý: ” Yêu nữ sinh-khổ! Yêu cô giáo – càng khổ! “. Tại sao vậy? Bởi một lẽ đơn giản mà như một định luật  ” Yêu là chết ở trong lòng một ít”( XD) mà ! Chết nhiều hay chết ít – cũng là chết rồi! Biết vậy -nhưng có mấy ai không yêu? . Nhà thơ Dương Kiền có cả một tập thơ  với nhan đề ” Thú Đau Thương” là vậy. HL không nói thẳng ra, nhưng lời thơ anh cũng quá ngậm ngùi: ” Ta, trái đất -một vòng đời lảo đảo/ Một đời yêu mà chẳng thể tròn vòng”. Một đời yêu – trân quý Tình Yêu – mà vẫn chưa hề tròn mơ ước?  Hãy theo dõi nhà thơ tâm sự:
                 ” Ai áo trắng của ngày xưa biền biệt,

                 Vang trong hồn nỗi nhớ cuối tà huy…

                 Để thơ dại tưởng sắc màu chỉ một,

                 Trắng không màu là màu trắng không phai!
          Nhà thơ dẫn chứng cho chúng ta biết ” yêu nữ sinh rất khổ” ấy mà! Lời trách thầm rất êm – mà cũng lắm da diết như vọng lại từ chốn  ” cuối tà huy”xa xưa nào của một thời kỷ niêm khó mờ phai! Vì ” thơ dại tưởng sắc màu chỉ một ” nên tận trong lòng vang mãi nỗi niềm đau! Màu trắng ( không màu) của tà áo dài nữ sinh thướt tha của một thởi thương thầm nhớ trộm cũng đã tàn phai theo tháng năm để nhà thơ phải bàng hoàng kêu lên:” Một đời yêu mà chăng thể tròn vòng”! – Yêu nữ sinh  khổ là vậy!

               Còn yêu cô giáo thì sao?
                  ” Em mùa Thu áo vàng, mùa Đông áo tím,

                 Và mùa Xuân cũng trắng nõn sân trường!

                 Mỗi sắc áo – mỗi sắc đời lồng lộng…

                 Ta bốn mùa sững sốt những trầm luân!

              Cô giáo đài các thục nữ trang nghiêm, nhưng vẫn thường thay đổi màu áo theo mùa – mỗi sắc màu là một ” sắc đời lồng lộng” – như những mơ ước kia cao xa mãi với cuộc tình mà nhà thơ hàn sĩ thì ” bốn mùa sững sốt những  trầm luân” ! Những lận đận chìm nỗi của dòng đời cứ mãi ập đến xô dạt người thơ suốt tháng năm dài lang bạt để bao lần phải ” sững sốt”  tra vấn :
           “Một sắc áo một đời không giữ nổi,

           Huống chi em trăm thứ áo trăm màu?

           Nên yêu nữ sinh khổ sao bằng yêu cô giáo…

           Ta điếng hồn thêm mấy cõi xưa sau! “
               Đọc đến đây – tôi hiểu  HL  dù có ” điếng hồn” – thì tâm hồn nhà thơ chắc cũng sẽ luôn rộng mở  để đón những cái ” thú đau thương ” kia tràn ngập hồn mình ?- Cái tâm hồn thi sĩ vốn suốt đời vẫn hồn nhiên phiêu lãng ước mơ ấy chắc là sẽ còn ” sững sốt ” dài dài?! Nhưng tôi tin – tâm hồn Nhà thơ vẫn mãi xanh niềm khát vọng Yêu Thương cho đến ngàn ” cõi xưa sau ” ấy…

          Thơ là cả tấm chân tình một thời chứ không phải “ chạy theo “ cái hời hợt để mong cầu cái ngoài thơ ca vị kỷ, riêng tư! Tâm trạng của HL tuy rất riêng, mà cũng là cái chung khiến tất cả chúng ta có được phút giây hồi tưởng êm đềm!

            Xin chia sẻ đôi điều thô thiển cùng Nhà Thơ – nhà giáo Hoàng Lộc & bằng hữu cho vui nhân ngày 20 tháng 11 khó quên! Cám ơn H L vậy…
M A N G  V I Ê N  L O N G

Trong ngày ly hôn, đàng chồng, đàng vợ đều phải phát biểu ý kiến và đến đêm, 2 vợ chồng phải lần cuối “mặn nồng”.

Nậm Nhóng là xã vùng cao của huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An. Nơi đây 100% là người dân tộc thiểu số, chủ yếu là người Thái và Khơ Mú. Đến thời điểm này, điện vẫn chưa về với bản làng và mọi thứ, người dân đều phải tự cung tự cấp. Nơi đây có rất nhiều phong tục lạ, nhưng có lẽ ấn tượng nhất là tục làm cỗ tưng bừng trong ngày ly hôn.

Muốn ly hôn không dễ

Người dân nơi đây cho biết, hôn nhân của họ rất được coi trọng nên khi lấy nhau, tất cả người dân trong bản đều quan niệm rằng, phải bằng mọi cách để gia đình không tan vỡ. Thế nên, dù có ghét nhau thì cũng rất khó để vợ chồng có thể ly hôn vì vướng vào những phong tục của địa phương.

 
Thiếu nữ bản Na Hốc 1.

Chị Vi Thị Nga, một người dân bản Na Hốc 1 cho biết: “Nếu vợ chồng nào đó muốn ly hôn thì phải lên báo cáo với trưởng bản. Trên cơ sở nguyện vọng của các cặp vợ chồng, trưởng bản sẽ tổ chức một cuộc họp với đầy đủ các thành phần trong bản để cử ra ban hòa giải. Sau đó, không chỉ là ban cán sự bản, mà tất cả các hộ trong bản đều phải luân phiên nhau đến nhà cặp vợ chồng muốn ly hôn để làm công tác hòa giải.

Khi mà ban cán sự và tất cả người dân đến khuyên can đều không được, trưởng bản mới làm thủ tục chuyển nguyện vọng xin ly hôn lên chính quyền xã. Tuy nhiên, trước khi làm việc này, trưởng bản sẽ gặp hai vợ chồng để tiến hành ký một cam kết mà đã tồn tại bao đời nay ở xã này.

Cụ thể, người chủ động xin ly hôn (tức người đến gặp trưởng bản đặt vấn đề xin ly hôn) sẽ có trách nhiệm bồi thường chi phí hôm ăn hỏi gồm: 6 chỉ vàng, 2 con bò, 2 con lợn, 2 tạ gạo, 2 tạ nếp, 2 chum rượu bầu, cau trầu, tiền cỗ tính ra tiền (đối với bên vợ) và toàn bộ chi phí làm cỗ hôm đám cưới ở nhà gái (đối với chồng). Ngoài ra, người chủ động ly hôn sẽ không được sở hữu bất cứ tài sản gì trong thời gian 2 người sống  với nhau và cùng nhau làm ra (kể cả con cái).

Đây là quy định bắt buộc nên cặp vợ chồng nào cũng phải ký vào cam kết rồi mới được trưởng bản chuyển “hồ sơ” lên cấp cao hơn và sau đó ra tòa ly hôn. Với những quy định khắt khe như vậy, nên từ bao đời nay ở nơi đây, xã chỉ mới có 10 lần phải chứng kiến các cặp vợ chồng bỏ nhau. Trưởng bản Na Hốc 1, ông Hà Văn Quyết cho biết: “Từ xa xưa, cha ông nơi đây đã dạy rằng, cuộc sống vợ chồng rất quan trọng, vì thế không chỉ chu đáo trong việc cưới hỏi mà khi hôn nhân của vợ chồng không hạnh phúc, bản làng cũng phải tìm nọi cách để cứu vãn. Mọi quy định khắt khe đề ra cũng là để tránh việc vợ chồng bỏ nhau và nếu bất đắc dĩ phải đôi người đôi ngả thì vợ chồng còn vui vẻ nhìn mặt nhau”.

Ngày ly hôn như ngày cưới

Theo phong tục, một ngày sau khi ra tòa, cặp vợ chồng vừa chia tay phải trở về bản để chuẩn bị làm lễ ly hôn. Theo nghi thức, lễ ly hôn được tổ chức ở nhà người vợ trước. Và cũng như đám cưới, gia đình người vợ phải cho người đi đến các gia đình trong bản mời đại diện đến tham dự.

 
Một buổi họp bàn về chuyện vợ chồng cho một cặp vợ chồng ở bản Na Hốc 2.

Trong ngày tổ chức ở nhà người vợ, đại diện nhà chồng cũng có mặt, khoảng 7-10 người gì đó là bố mẹ và anh em ruột thịt của chồng. Tại đây, trưởng bản và những người cao niên trong làng sẽ chứng kiến lễ cúng ông bà tổ tiên của cặp vợ chồng và sau đó chứng kiến lễ phân chia tài sản.

Sau khi làm tất cả các thủ tục đó, đàng vợ, đàng chồng sẽ lần lượt phát biểu ý kiến trước tất cả mọi người. Thông thường đó là những phát biểu đầy nước mắt khi không thể cứu vãn được hôn nhân của con cái họ và mong bản làng thông cảm. Sau đó mọi người ăn cỗ rồi chúc cho vợ chồng sau khi ly hôn sẽ tìm được hạnh phúc mới.

Một ngày sau, đến lượt nhà trai tổ chức nghi lễ tương tự. Cũng có rạp cưới, cũng có loa đài mở inh ỏi, cũng mổ bò, mổ lợn tưng bừng. Cũng trang hoàng mọi thứ cho thập đẹp để đón họ hàng nhà thông gia và tất cả, chẳng khác gì một nghi thức đón dâu. Nhà gái đến, anh em hai họ có mặt đầy đủ, nghi thức cũng bắt đầu diễn ra khi vợ chồng vào bàn thờ ông bà tổ tiên cúng.

Rồi cũng là trưởng bản chứng kiến lễ ly hôn của hai người khi các tài sản của hai vợ chồng được công khai và phân chia lại một lần nữa. Lần này thì không chỉ đại diện đàng vợ, đàng chồng phát biểu mà những cả hai vợ chồng cũng phải nói lên suy nghĩ của mình. Sau đó, vợ chồng dắt nhau đi chúc rượu mọi người và cầu mong thứ lỗi, đồng thời hứa sẽ không ly hôn nữa nếu lấy người mới.

Đêm hôm ấy, vợ chồng về nhà chung của hai người (trước khi cưới, nhà trai phải dựng nhà trước) và sống với nhau một đêm cuối cùng. Thông thường những đêm như thế này, họ thức với nhau đến sáng để tâm sự và rồi ngày sau đó, người vợ và những đứa con (nếu vợ bị chồng bỏ) sẽ soạn đồ đạc và về nhà ngoại ở, chính thức chia tay nhau. Bắt đầu từ lúc này, họ chỉ còn là vợ chồng cũ và được phép tìm hiểu và xây dựng gia đình với người mới.

Những niềm vui bất ngờ

Hỏi người dân  bản Na Hốc 1 và Na Hốc 2, thì tất cả đều có chung một câu trả lời, ăn cỗ ly hôn là thiếu hào hứng và chán nhất. Bởi phong tục, họ phải đến và tham dự chứ nhiều người nuốt chẳng trôi chứ nói gì đến ngon miệng khi ăn cỗ. Thông thường lễ ly hôn là nơi người ta tâm sự và chia sẻ, cũng là thông báo cho tất cả làng bản biết một cặp nào đó không còn là vợ chồng nữa. (Theo quan niệm của người dân ở đây thì có lễ thành hôn, ắt cũng phải có lễ ly hôn, vì làm gì cũng phải có trước có sau).

Vì những chuyện cảm động trong buổi ly hôn mà có không ít cặp vợ chồng đã nghĩ lại và chỉ ít hôm sau đã xin phép tái hợp. Trưởng bản Na Hốc, Hà Văn Quyết cho biết, trong số 10 cặp vợ chồng ly hôn thì có 3 người sau đó đã xin đoàn tụ. Tất cả đều có chung một tâm sự rằng, chứng kiến buổi lễ ly hôn mà thấy đau đớn nên muốn quay lại để xóm làng được vui vẻ. Gần đây nhất là cặp vợ chồng Vi Văn H và Hà Thị Th ở bản Na Hốc 2. Đôi vợ chồng này quyết định ly hôn sau 7 năm chung sống. Tuy nhiên, chỉ 5 ngày sau khi ly hôn đã đến xin gặp trưởng bản để quay lại với nhau.

Được biết, bản luôn tạo những điều kiện tốt nhất để cho các cặp vợ chồng sau khi ly hôn muốn quay lại. Theo đó, chỉ cần 2 người đến gặp trưởng bản trình bày nguyện vọng rồi sau đó về làm vài mâm cơm mời anh em họ hàng thân thiết đến tham dự là được. Ban cán sự bản có trách nhiệm thông báo đến tận các gia đình tin vui trên và làm các thủ tục để báo với cấp trên việc cặp vợ chồng này muốn quay lại với nhau.

Từ những quy định khắt khe để tránh việc ly hôn, đến những nghi lễ cảm động trong ngày chia tay, rồi cả quy định thông thoáng cho việc tái hôn, tất cả cho thấy người dân Nậm Nhóng từ xa xưa đã ý thức rất cao hạnh phúc gia đình và tìm mọi cách để níu kéo hôn nhân cho mọi gia đình. Đó cũng là điều tích cực khi nhìn về thực trạng ly hôn đang ngày càng gia tăng ở các vùng miền xuôi.

Ông thầy Việt văn

Tôi hận ông thầy Việt văn lớp 11. Ổng chơi không đẹp khi bắt tụi tôi học thuộc lòng bài thơ “Kẻ Sĩ” của Nguyễn Công Trứ. Đó là bài hát nói gieo vần vô kỷ luật nhất mà tôi từng biết, chả vần chả điệu, lòng thòng, Hán nhiều hơn Nôm. Đây này, trích thử vài câu nghe chơi : “…Cầm chính đạo để tịch tà cự bí/ Hồi cuông lan nhi chướng bách xuyên…”.

 Vũ Thế Thành

 

“Cầm chính đạo để tịch tà cự bí,…”

Mà tôi theo ban toán, chứ có phải văn chương đâu, nội hiểu được ý nghĩa bài thơ đó cũng đáng nể rồi, giờ còn bắt học thuộc lòng nữa, coi sao được. Tôi tính “tố phé” ổng. Thế này, lớp 40 học sinh, mỗi tuần 4 giờ Việt văn, 2 lần lên lớp. Giỏi lắm mỗi lần ổng “tó” được 5 em, 2 lần là 10 em. Tôi có 75% thoát hiểm, lỡ dính thì coi như Trời hại. Nhưng ổng tỉnh bơ: “ Tôi sẽ gọi từng người cho đến hết lớp”. Ổng còn thêm: “ Ai không thuộc, tôi sẽ cho cơ hội lần sau, và lần sau nữa cho đến khi…có điểm”. Thế là rõ ! Ổng quyết tâm…chơi tụi tôi đến cùng. Không còn chọn lựa nào khác, đành ôm hận, lảm nhảm cái bài thơ thổ tả đó cho đến khi thuộc lòng.

Cơ hội rửa hận đến khi ổng ra đề luận: “ Bạn nghĩ gì về tình thầy trò ngày nay?”. Từ hồi biết mặt chữ, tôi chưa bao giờ “múa bút” sướng như thế. Nào là, thời xưa học một thầy, học để làm quan, và chỉ học nghề…văn. Thời nay, học đủ thứ, cần gì học nấy, học để hành nghề. Thời đại khoa học, ai học trước người đó là…”thầy”, bởi vậy mới có chuyện đi học luyện thi, mới có thầy giáo “cua” học trò,…Đại loại là “bản cáo trạng” về thầy.  Tôi khoắng bút như đi…ăn cướp, cho đến khi gần hết giờ, chấm xuống hàng, kết luận: Nên xem thầy giáo như người anh coi bộ nhẹ nhàng hơn khi nhìn dưới khía cạnh đạo đức. Thiệt là hả giận! Tôi viết với tư thế “tử vì đạo”, ăn trứng vịt cũng được. Không thành danh thì cũng thành… ma.

Bài luận được 16 điểm. Ông thầy cười cười: “Tôi không đồng ý với em nhiều điểm, nhưng vẫn cho em số điểm cao nhất”. Thiệt chưng hửng! Tôi mơ hồ hình như ổng chơi trên.. cơ mình, nhưng “cái tôi” khốn nạn đã đẩy tôi đi quá xa, khoác lác hả hê với bè bạn: Cái hận “Kẻ Sĩ” đã rửa xong.

Ổng còn nhiều chiêu kỳ quái khác. Tú Xương thì học trò đứa nào chẳng khoái. Lẽ ra phải chia sẻ chút đỉnh với đám học trò mới lớn bằng bài “Cao lâu thường ăn quỵt, thổ đĩ lại chơi lường”, hay ít ra cũng thông cảm với bọn hoc trò thi cử với bài “ Đau quá đòn hằn, rát hơn lửa bỏng” – Không ! Ổng phang bài: “ Trên ghế bà Đầm ngoi đít vịt. Dưới sân ông Cử ngửng đầu rồng”. Ổng giảng say sưa, bằng giọng bi ai, phẫn hận về thời Nho mạt, về danh lợi, về nhân phẩm, ổng truyền tâm tư cho đám học trò đang há hốc miệng ngồi nghe,  xả suốt 2 giờ đồng hồ. Hình như ổng đang dạy cho tụi tôi kiến thức thức để làm người, chứ không phải kiến thức để đi thi. Ổng đâu ngán cháy giáo án. Mà hồi đó làm gì có giáo án. Bài soạn của ông là xấp giấy A4 gấp đôi, chẳng bao giờ thấy ổng mở ra. Ổng chỉ mở … sổ điểm.

Đời cứ thế trôi đi… Những năm cuối thập niên 70, đầu 80, đời sống khó khăn thế nào khỏi cần kể. Tôi làm ở một trung tâm nghiên cứu ở Sàigòn. Ban ngày khoác áo blouse vào phòng lab cứ như là…viện sĩ. Tối về mượn xích lô của thằng bạn, cảo vài vòng kiếm thêm. Một buổi tối trời mưa, ế độ. Tôi táp vào quán nhậu ven đường (cái lều nhậu thì đúng hơn) gần Ngã Tư Bảy Hiền. Quán cũng ế độ, chỉ có mình ông chủ đang trầm ngâm bên ly rượu. Tôi kêu một xị, ngồi trông ra đường, nghe tiếng mưa lằng nhằng trên mái nhà, rầu thúi ruột… Chợt nghe tiếng ngâm ê a của ông chủ quán từ phía sau (Trời đất! Sao không phải là giọng của em nào đó hát bản “Ướt Mi”?). Mà lời ngâm sao nghe quen quen…, rồi tự nhiên tôi cũng cất tiếng ngâm theo:

“…Xe bồ luân dầu chưa gặp Thang,Văn.
Phù thế giáo một vài câu thanh nghị.
Cầm chính đạo để tịch tà cự bí.
Hồi cuông lan nhi chướng bách xuyên…”,

và cứ thế cho đến hết bài “Kẻ Sĩ”.

Tiếng chuông đêm mưa lại vang lên, làm nhức nhối kẻ bị mang tiếng là…gàn dở, toát mồ hôi với cái lưới “đầu rồng đít vịt”.

 

Một khoảng im lặng. Tôi quay lại, không ai bảo ai, cả hai nâng ly mời nhau. Trong sự nghiệp cụng ly của tôi, chưa bao giờ tràn ngập những “tiếng nói không lời” như lần đó. Chủ quán trạc ngoài 30, cao học Luật, công chức chế độ Sàigòn. Sau 75, đi cải tạo 4 năm, về mở “lều nhậu” tiêu sầu. Chúng tôi cà kê chuyện đời, chuyện người,…Rượu đến mềm môi. Bài thơ “Kẻ Sĩ” tưởng đã trôi vào quên lãng, bỗng thức tỉnh trong một đêm mưa, thành tiếng chuông đeo đẳng đời người.

Đất nước thời mở cửa, kinh tế thị trường nửa khép nửa hở. Làm ăn là phải thỏa hiệp, thỏa hiệp đủ thứ. Giới hạn thỏa hiệp tới đâu, tùy thuộc vào nguyên tắc sống (tôi không dám dùng chữ “nguyên tắc đạo đức”) của mỗi người. Cái giới hạn này mong manh, tự hạ thấp xuống hồi nào chẳng hay, rồi tự biện minh với bao lời  hoa mỹ, đi ngược lại là không thức thời. Kẻ Sĩ thời nay lộn ngược rồi : Thương, Công, Nông, Sĩ. Ai chẳng khoái tiền, khoái danh. Cám dỗ vô cùng! Mỗi lần như thế, tiếng chuông đêm mưa lại vang lên, làm nhức nhối kẻ bị mang tiếng là…gàn dở, toát mồ hôi với cái lưới “đầu rồng đít vịt”.

Trong Kinh thánh có chuyện kể, đứa con út đòi cha chia gia tài, rồi tìm đến phương trời xa vui chơi thỏa thích. Người cha chiều nào cũng tựa cửa đứng trông. Rồi thằng con về thật. Nó đã phung phí hết tiền, bây giờ đói rách trở về nhà cha xin chén cơm thừa. Nhưng người cha mừng rỡ, đã mặc áo mới cho nó, làm tiệc linh đình mừng con mình trở về.

Văn hào Pháp, André Gide cũng có câu chuyện “Đứa con hoàng đàng” tương tự, chỉ khác khúc cuối: Đang giữa tiệc mừng, thằng con lững thững bỏ về phòng, nhìn xa xa qua khung cửa sổ, nhớ đến cuộc chơi thâu đêm suốt sáng cùng chúng bạn. Nó đang mơ một chuyến đi khác. Trở về chỉ là chuyện bất đắc dĩ. Hồi đó, đọc đến đoạn này, tôi bật cười sảng khoái “ Phải thế mới được!”

Thưa thầy Việt văn, thằng đệ (tử) giờ đây đầu bạc chân mỏi, ngày Nhà Giáo năm nay xin hầu thầy cho đến tận cùng bữa tiệc để khoanh tay nói lời tạ lỗi, trước khi phản xạ tung hô theo đám đông: “ Biết ơn thầy cô”.

Vũ Thế Thành

Tâm tình mùa thu

               

Đặng Hoàng Thám

                     Đã nghe trong gió

                      thu về

                   Heo may lành lạnh. Đường quê nắng vàng

 

                   Đồng xanh sóng lúa  mênh mang

                   Lững lờ mây trắng lang thang cuối trời

 

                   Vườn thu  thoáng tiếng em cười

                   Long lanh mắt ngọc bóng người tôi thương

 

                   Nhà em ở cuối con đường

                   Tôi yêu em với nỗi buồn dài ra

 

                   Mấy mùa hoàng cúc nở hoa

                   Em xinh đẹp chút kiêu sa hững hờ

 

                   …Tôi về rao bán trăng thơ

                   Mua em ánh mắt mộng mơ thủa nào!