Feeds:
Bài viết
Bình luận

Trở lại sân ga

.Nguyên Hạ-Lê Nguyễn

Mỗi buổi sáng ở nơi này , tôi tỉnh thức bởi tiếng còi tàu, không phải là tiếng còi tàu nơi quê nhà của những ngày xa xưa năm cũ, mà tiếng còi tàu của xứ người, loại tàu chở hàng hóa sản xuất thành phẩm của hãng xe FORD,

Thành phố nhỏ Morrow nơi này vẫn từng sáng tinh mơ…

Mỗi sáng vào lúc 4h đến 5h sáng …vẫn rú lên từng hồi, đánh thức mọi người thức dậy, dần dà thành thói quen và “ghiền” nghe như một thói quen.

Nằm trên giường mơ mộng, tưởng nhớ về tiếng còi tàu của thành phố tôi đã sinh sống , thành phố Qui nhơn yêu dấu của tôi.

Sân ga ấy…

Ra đi hay trở về, con tàu đều ngừng lại trước sân ga, cho dù sân ga có thay đổi theo thời gian và sau bao nhiêu năm tháng sân ga vẫn còn đó , tiếng còi tàu sớm tối vẫn vang vọng trong tôi như một dấu ấn khó quên, giờ đây nghe tiếng còi tàu xứ người lòng buồn nhớ da diết tiếng còi tàu quê nhà trong cõi xa mờ vạn dặm.

Sân ga ấy lưu giữ bao khối tình của bao lữ khách xa nhà…

Người đi từ bao mùa Thu trước, có kẻ trở về vào mùa Thu này, bao người trở về quê cũ cũng chỉ muốn ngồi trên toa tàu lạnh , gió thổi hiu hiu vào của sổ làm chút gió thoảng cho mắt thêm cay, lòng bồi hồi khi bánh sắt nghiến trên đường rầy khi con tàu sắp vào thành phố.thành phố Qui nhơn yêu dấu của tôi.

Những ngôi nhà chập choạng, cái trước cái sau, những hàng cây buồn rũ, những đường rây cũ kỹ, những căn nhà chen chúc nhau bên hốc núi, những tấm bảng chỉ đường cũ kỹ qua bao tháng năm đứng nhìn sự hợp tan tan hợp của cuộc đời…nay pha thêm nhiều sắc màu như bức tranh vẽ vụng ơi hời…

Tôi đã trở về thành phố xưa tôi ở,

Bên tiếng còi tàu, bên tiếng rao khuya,

Lòng hớn hở như chưa bao lần có nữa

Kẻ mộng du tìm thấy lối đi về…

Thành phố xưa ẩn mờ trong sương sớm,

Hoa cúc vàng ngập lối chỗ công viên..

Chân bước rảo không cần ai đưa đón

Quen chân rồi, tôi bước tận cổng nhà xưa…

Tôi trở lại thành phố vào một sáng mùa Thu, mùa Thu của quê hương tôi không có những chiếc lá Phong đỏ ối của buổi tàn Thu bay chấp chới tấp vào một góc vườn, chạy trốn cơn gió Đông ,mùa thu quê nhà còn vương chút heo may.

cho người lữ khách xa nhà vôi vàng kéo cao cổ áo , vẳng bên đời bản tình ca -” Mùa Thu Chết “Ôi ngát hương mùi Thạch thảo.”

Em nhớ cho rằng ta vẫn chờ em.vẫn chờ em, vẫn chờ em, vẫn chờ em…vẫn chờ em,..

len lén.. chút gió heo may hòa quyện, chút gió Thu của mùa Thu quê nhà .

Tiếng hát của Lệ Thu vẳng từ xa của một tháng năm nào còn vang trong tâm thức khi mỗi lần tiếng còi tàu khàn đục vẳng từ rất xa, đôi lúc tôi không phân biệt đó là tiếng còi tàu đánh thức tôi trở dậy học bài thi của những ngày xưa cũ…hay tiếng vọng của con tàu xứ người gợi nhớ cõi xa mờ.

Tôi đã trở về thành phố xưa tôi ở,

Bên quán cà phê xưa thèm hít một hơi thơm,

Thèm môi ngon gói xôi bốc hương thơm

Mùi nếp mới hay hương đồng cỏ nội

Tôi kéo áo đưa tay chùi quá khứ

Đụng nỗi buồn vì cha Mẹ đã ra đi…

Tôi trở về đánh mất tuổi xuân thì

Chỉ còn lại hành trang ngày xưa cũ

Sân ga cũ bây giờ đã được tô son trét phấn, những con đường rộng mở dưới gót chân ai , vẫn vẳng bên tai câu hát của ngày nào vẳng ra từ một quán cá phê sáng…

” Em..nhớ cho rằng ta vẫn chờ, vẫn chờ , vẫn chờ em, vẫn chờ em, vẫn chờ đợi em..”

.Lời ca buồn rũ trong cung trầm dấu lặng, rè sai cung bậc của chiếc máy hát cũ mèm của một quán cà phê sáng của người dân lao động, âm hưởng của tiếng vọng cố nhân, tôi nghe mượt mà đầy ắp tình thân,

Sân ga cũ vẫn lưu giữ chút tình ai ngày trở lại. tuy biết rằng không người chờ kẻ đợi bỡi tháng năm xa mờ…

Thời gian đi qua và có chờ đợi ai.Ôi thời gian

Sân ga thì muôn đời vẫn lưu giữ khối tình của biết bao lữ khách gởi gấm nỗi niềm lúc lìa xa,

Người ra đi từ bao mùa Thu trước, nay trở về trong cuối Thu này, chút gió heo may của bao mùa Thu trước bỗng trở về e ấp vướng gót chân, biết bao mùi vị của sân ga cũ thì vẫn còn, nhưng tình người và cuộc đời thì đã lật sang trang khác và biết ai còn đợi, còn chờ hỡi ai.

Tôi đã trở về thành phố xưa in dấu

Những bước chân xiêu người khất thực mỗi chiều,

Có hạt bụi nào bay vào con mắt

Xót nỗi người, sao chợt thấy cô liêu…

Thành phố đó nơi ngày xưa tôi đã.

Bên bạn bè …học trò yêu…

Bên cả tuổi trăng mơ,

Thành phố đó bao canh sầu thao thức

Vẫn âm vang tiếng thét một con tàu.

Tôi chạy đi tìm lại những bạn bè xưa cũ, những căn nhà lạ hoắc, lạ huơ, những bạn bè xưa rời xa khắp muôn phương, cuộc thăng trầm qua bao tháng năm đổi chỗ…

Những học trò cũ của tôi bây giờ đã thay tôi lập nên trang sách mới, đã bao năm qua rồi vẫn tìm ra chút hương xưa, những bóng dừa ngày xưa bên bãi cát, đã quá già thay những dấu tích xưa, những con đường ngày xưa xanh bóng lá, đã thay màu bằng bóng đổ chiều mưa.

Trở lại sân ga

Vẫy chào nơi tôi ở

Mang hành trang con mắt mỏi mòn theo

Tàu đi qua cánh đồng mây cổ độ

Gió Thu lùa mái tóc đổi màu nhanh

Tôi ra đi sương khói bỗng buông mành

Sân ga vẫn nhìn tôi…

Chào tro bụi.

Giã biệt thành phố Qui nhơn mãi mãi…

Tuổi thời gian…nhiều bệnh tật …sức khỏe tàn

Tuy lòng muốn mà chân không có thể..,

Vẫn nhớ hoài…lần cuối …

Trở lại sân ga

Tiếng còi tàu xưa cũ và sân ga…

Muôn đời vẫn trong tim…hồn viễn xứ…

Tháng sáu…2024

Nguyên Hạ-Lê Nguyễn

Những ngày ở Cà Mau

Nguyễn Liên Châu

.

Cái thị xã nhỏ như miệng chén

Tới lui quanh quẩn một cây cầu

Nhục cơm áo theo đời đưa đẩy

Ta dạt đây… no đói cầu âu

.

Phố phường dọc theo con sông nhỏ

Mà lòng người rộng đến mênh mông

Ta ngạo mạn bỗng hiền như đất

Ấm nghĩa tình gạo chợ nước sông

.

Ngỡ ngàng trước hiền lành chất phác

Những chế hia phóng khoáng hơn thơ

Vì nụ cười chân thành châu thổ

Ta đưa tay phủi bụi giang hồ

.

Thời cuộc đẩy ta lên bục giảng

Nói những điều không cảm không ưa

Lũ học trò thương thầy áo rách

Nên nói chi chúng nó cũng “ừa”

.

Cứ hèn hèn từng trang giáo án

Cứ an thân đội lốt ông thầy

Ta đi qua hiền hòa mưa nắng

Chẳng nơi nào lành như ở đây

.

Rồi cũng hết bốn năm tình nghĩa

Ngày rời xa buồn thắt cả lòng

Đời trót lỡ cõi nào cũng tạm

An ủi mình chảy giống nước sông…

NGUYỄN LIÊN CHÂU

Năm Tôi Hai Mươi

Lê Hứa Huyền Trân

.

Ngày đầu tiên tôi gặp người ấy, tôi tự nhủ rằng đó là một định mệnh, nhưng nếu quả thật đó là định mệnh, tôi không biết được duyên phận này vốn lẽ đúng hay sai. Tôi là sinh viên khoa văn, tôi yêu những câu chuyện và tôi lãng mạn. Trường tôi, sinh viên khoa văn và khoa nhạc thường hay “kết” nhau, vì có một điểm chung là lãng mạn. Những mối tình ấy ít khi đi đến đâu nhưng lúc nào nhớ về cũng sẽ toàn kỷ niệm đẹp. Trong khi phần lớn những cô nàng văn khoa yêu những anh chàng mang guitar trên vai thì tôi lại đặc biệt ấn tượng với những chàng trai biết thổi sáo hoặc chỉ đơn giản là có thể vi vu tung hứng với kèn harmonica. Bạn bè hay trêu tôi kém cảm nhận, âm thanh réo rắt của sáo và tiếng khè khè đầy tạp âm của harmonica sao có thể bằng âm hưởng vang rộng của guitar được. Tôi không nói, chỉ cười. Tôi thích những gì là khác lạ.
    Năm tôi hai mươi, tôi gặp người ấy. Đó là một người đàn ông đậm thước với chiếc áo sơ mi trắng lúc nào cũng được dắt vào quần một cách gọn ghẽ. Lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau là dưới giàn hoa giấy, khi tôi đang cùng đám bạn ôm sách đi vội tới tiết học thêm thì bắt gặp anh, lúc ấy đang ngồi du dương với cây kèn harmonica. tim tôi như có một sự chấn động nhẹ, lúc ấy, cứ như trong không gian chẳng có ai, chẳng có cả đám bạn tôi đứa thì kèo nài tôi đi, đứa thì đang ngẩn ngơ trước một chàng thư sinh áo trắng, chỉ có anh và tôi, và những bản nhạc không lời. Thấy tôi đứng ngẩn ngơ, anh cười hiền:
    – Cô bé thích điệu nhạc của anh à?
    Như để chữa thẹn, tôi vội cất lời:
    – Rõ vô duyên, đường đâu phải của anh. Muốn đi hay dừng lại cũng vì anh à?
    Đó là kỷ niệm đầu tiên của chúng tôi. Lần thứ hai gặp nhau là khi thầy của tôi dẫn anh ra mắt với câu lạc bộ, anh sẽ tạm thời làm chủ nhiệm câu lạc bộ sáng tác văn học của chúng tôi trong vài tháng cho tới khi thầy chữa bệnh xong. Anh là sinh viên cũ của thầy, đang làm việc tại một nơi khác, nay thầy nhờ nên mới về trường cũ làm chủ nhiệm một thời gian. Vì tôi là trưởng câu lạc bộ nên nghiễm nhiên thầy giới thiệu tôi với anh. Ngay khi vừa thấy tôi, anh đã vội cười “A, cô bé vô lễ”, làm tôi khá thẹn. Sau lần đó, vì những công tác của câu lạc bộ, anh và tôi hay gặp nhau. Anh bảo tôi:
    – Ra là mới năm nhất à? Thế là nhỏ hơn anh đúng một con giáp, phải lễ phép với anh nghe chưa?
    – Hơn những một con giáp cơ đấy. Thế thì phải gọi là chú cơ.
    – Ai lại gọi chú, một là anh, hai là thầy, đâu già đến độ đó?
    – Một con giáp là quá rồi chú ạ. Có dạy em đâu mà em gọi là thầy, chỉ là chủ nhiệm của em thôi. Một chú, hai không, cho chú chọn.
    Anh cười ha hả, đó là cảm xúc chủ đạo của những ngày tôi và anh cùng làm việc với nhau. Năm hai mươi tuổi, tôi yêu và chia tay mối tình đầu trong cùng một năm. Chẳng hiểu sao những cuộc chia ly thường đi kèm những cơn mưa. Và cũng chẳng biết sao lúc tôi cô đơn nhất lại có anh bên cạnh. Anh bắt gặp tôi trên con đường đi học về, đang khóc tức tưởi vì mối tình tan vỡ với anh khóa trên. Anh nài tôi lên xe chở về, nít nôi đi dưới mưa cảm bệnh: “Lên xe đi nào, có nghe lời “chú” không hả? Chấp nhận làm “chú” một lần cho thấy tiếng nói người lớn hơn rồi đó. Người ta hạ mình như thế rồi, có leo lên xe không?”. Và tôi lại bật cười trước người đàn ông đã quá ngưỡng ba mươi nhưng lúc nào cũng cười đùa như con nít. Năm hai mươi tuổi, mối tình đầu của tôi đau một cơn đau rất nhẹ nhàng là nhờ có anh.
    Năm tôi hai mươi tuổi, người ta ghép cặp tôi với anh vì chúng tôi thường hay đi với nhau. Đám bạn tôi đứa thiện ý thì bảo: “Nói thực thì anh Di là một người đàn ông tốt tính, hiền lành, lại chu đáo không chê vào đâu được. Nhưng, nếu quả thật làm mẫu đàn ông để cặp kè bây giờ thì… mày nên nghĩ lại, hơn mày những một con giáp đấy. Mày còn quá trẻ còn ổng thì quá già rồi”. Vài đứa ác mồm lại dị nghị: “Vốn dĩ gọi bằng anh nhưng thực ra lại đáng tuổi chú rồi, hơn mười hai tuổi. Dù chỉ là chủ nhiệm tạm thời nhưng cũng là thầy trò, nghĩ sao mà thích mà yêu thế được?”. Lúc đó tôi chợt nhận ra, thì ra đối với tuổi hai mươi của chúng tôi thời bấy giờ, tuổi tác là một vấn đề vô cùng quan trọng, và vì đám bạn cứ nói ra nói vào tôi cũng buột miệng:
    – Tao không bao giờ yêu ai hơn tao những một con giáp, đáng tuổi chú của tao đâu.
    Tôi nghe có tiếng rơi của chiếc kèn harmonica mới mà anh hứa mua cho tôi ở sau lưng. Tôi nghe tiếng cười vụn vỡ của anh chợt tắt trên môi và bàn tay anh nhẹ nhàng khoác lên vai tôi và cả đám bạn, giả lả:
    – Mấy đứa khéo trêu bạn ghê nhỉ? Chú là chú chẳng bao giờ yêu trò mình đâu nha.
    Kể từ đó tôi với anh trở nên ngượng nghịu, rồi dần xa cách, bạn bè bảo tôi, nào là anh chỉ hợp làm người hướng dẫn, đừng dính vào yêu đương, rồi thì tôi còn nhỏ quá, mới năm một, tương lai còn phía trước… Vài tháng sau, thầy khỏe lại, anh đi. Ngày anh đi, nhiều đứa khóc bù lu bù loa một phần vì dân văn nhạy cảm, phần khác anh rất tốt với chúng tôi. Tôi vì ngại không nói lời tiễn biệt anh, chỉ có anh bước qua xoa đầu tôi và dúi vào tay tôi một món quà, thế rồi anh đi. Chỉ có thế, không ai nói với ai lời nào…
    Năm tôi hai mươi, tôi nhận được một chiếc kèn harmonica từ một chàng trai lớn hơn tôi cả một giáp. Một chàng trai mà mãi sau này tôi cũng k

Nguyễn Hoàng Anh Thư

.

Điểm dừng, có thể từ ngày hôm qua
Có thể bắt đầu lại suy nghĩ
không phải bạn hành hương trên cát
có thể là dòng sông
lời sóng cuộn dưới đôi bàn chân
Có thể bạn chạm đầu ngọn sóng,
nghe chúng nói với bạn rằng
là không thể
Chúng lách mình qua những vi mạch của sự đắn đo
làm bạn trượt ngã
suy nghĩ của ngày hôm qua
Những ngọn sóng tích hợp những lý do
thoái thác cho một điều không hiểu
và bạn tò mò
từ đáy sâu nghìn trùng của đại dương
Bạn hỏi bạn là ai, có thể như vậy
hãy nhìn vào khoảng cách
không nằm ở đôi bàn chân
Tìm kiếm bạn trong một đống đổ nát
có thể bạn là một mảnh
của lập trình thời gian
Để đi vào thế giới

10. Nhớ lại, từ ngày hôm qua
Hôm qua tôi nghe tiếng nhựa đường vấp
hai người kẹt lại
họ không thể bước tiếp
giấc mơ về những con đường xanh dọc hàng cây
Hôm qua tôi nghe tiếng của mây
chúng không thể òa khóc
khi nhìn lòng sông nứt sớm
không như lời hẹn từ mùa trước
Hôm qua tôi ngồi đây
vẫn lá vẫn cây
không có một con chim sẻ nào sà xuống
dù đang giữa mùa lúa phơi
Hôm qua vẫn tại đây
tôi gặt
những dòng suy nghĩ từ hôm trước
rằng lũ chim đã di cư vào
trong dạ dày của loài khổng tước
Tôi nhìn, từ chiếc bùa rất đẹp
của người da đỏ, dreamcatcher
Tôi bắt đầu đi khi cơn mưa còn ngái ngủ
màu mầm mọc trong mắt
một chấm xanh xanh
Mưa bắt đầu đi khi vừa chợt thức giấc
giữa ban trưa, có bụi xương rồng nở sớm
nhìn từ tôi gai góc
chớm trong nỗi nhớ rát bỏng
một hạt sương đêm sót lại từ hôm qua
Sương bắt đầu bay
không đắn đo nghĩ về lòng can đảm
cầm tay lối dẫn
đi nhanh về cuộc sống nơi thiên đường
lúc bình minh
Có một điều khủng khiếp
chợt nhận ra trên mắt lưới của lũ nhện
chúng giăng nỗi buồn của ngày hôm qua
từ những con bọ đang hấp hối

Đào Thị Thanh Tuyền

.

1. Một lần, trên đường từ Sài Gòn về Nha Trang, trong lúc chờ ở sân bay tôi ngồi cạnh cặp vợ chồng là dân Nha Trang, cùng lứa tuổi thế hệ tôi.

Câu chuyện vòng vo thế nào rồi chuyển sang đề tài ẩm thực. Thật thích thú khi chúng tôi cùng nhau điểm lại những món ăn ngon ở Nha Trang, nơi nào bán, quán nào ngon, ăn sáng hay ăn xế…, chị vợ còn biết rõ tính tình người bán. Chị hỏi tôi có biết một con hẻm ở Nha Trang nổi tiếng nhiều món ăn ngon không? Anh chồng phụ họa: “Hẻm đó có đầy đủ bánh căn, bánh hỏi, bánh bèo, bánh xèo…, món nào cũng ngon”. Quả là ngạc nhiên khi tôi nghe nhận xét từ một người đàn ông về các món bột ăn với mỡ hành, nước mắm ớt tỏi. Anh còn khẳng định, ăn bánh căn phải húp nước mắm mới đã, ngon, đúng điệu.

Từ câu chuyện hôm ấy, tôi bỗng có ý định thử đi tìm bản đồ ẩm thực Nha Trang. Thật ra, bản đồ ẩm thực ở bất cứ nơi đâu thường không ổn định. Có những hàng ăn lâu đời làm nên thương hiệu cho con đường, nhưng rồi người chủ nghỉ bán, để lại luyến tiếc cho thực khách; hay cũng là món ấy nhưng đã thay chủ khác, quán xưa, món xưa nhưng thấy thiếu thiếu, khách chưa quen hương vị nay càng thêm luyến nhớ. Có những hàng quán đã hoàn toàn đổi mới. Một chút bỡ ngỡ, cảm giác tìm lại chốn xưa nhưng mọi thứ đã khác, không còn nhận ra…

Bắt đầu từ nhà ở Vĩnh Thạnh, tôi đi theo vùng dọc sông Cái Nha Trang, Hương lộ 45 rồi đường Lương Định Của. Con đường này phong phú các món ăn, từ những món đặc trưng Nha Trang như: Bánh căn, bánh bèo, bánh hỏi, bánh xèo, mì Quảng, phở, bún bò, cơm gà, nem nướng, bún thịt nướng… đến các món ăn vặt mới xuất hiện gần đây: Bánh tráng trộn, khoai tây lắc, gà rán, trà sữa, cá viên, xúc xích chiên… Không thiếu món gì của Nha Trang trên con đường này, như tập quán lâu đời từ hơn nửa thế kỷ nay của dân vùng ven sông. Ra đến đường 23 tháng 10, tôi rẽ vào con hẻm 274 theo lời giới thiệu của hai vợ chồng ở trên. Vào buổi chiều, ngay đầu hẻm thấy ngay một hàng bán các món từ vịt, đặc biệt là có gỏi cá mai. Vào bên trong, vài hàng bán các món mì Quảng, bún riêu…

Ra đến vòng xoay Nhà thờ Chánh tòa Nha Trang, tôi rẽ vào hẻm Núi Một. Chầm chậm vào bên trong, cơ man những hàng ăn. Cũng vẫn những món đặc trưng Nha Trang như: Bún bò, phở, bánh canh, mì Quảng, bún cá…, món nào cũng gợi thèm! Tôi đi tiếp ra đường Huỳnh Thúc Kháng, con đường ngắn thôi nhưng cũng là một thương hiệu cho ẩm thực Nha Trang khi có khá nhiều món xưa: Bún thịt nướng, bánh bèo ngọt, bún bò, bánh xèo… Ký ức còn giữ nguyên vẹn con đường xưa, món ăn ngày cũ nhưng bây giờ khang trang hơn với những cửa hàng làm mới, lại thêm nhiều món ăn mới hơn. Cắt ngang Huỳnh Thúc Kháng là đường Ngô Gia Tự, một con đường dài chưa đến cây số nhưng có đủ mọi thứ trên đời, lại thêm chợ Xóm Mới. Những hàng quán mới, món mới không thuộc “phạm trù” của Nha Trang như: Bánh canh tôm tít, cơm tấm sườn que, ốc xào… Và những hàng từ mấy chục năm trước vẫn còn: Xe hủ tiếu gõ, bún bò 100, bánh canh bún cá Nguyên Loan, cơm gà Hà…

Tôi đi tiếp qua đường Tô Hiến Thành, bánh mì chỉ với chả lụa và rắc muối tiêu Nguyên Hương hay bánh căn khẳng định tên cho con đường và các hàng ăn khác nữa với những món đặc trưng Nha Trang. Những con đường khu vực này như: Bạch Đằng, Hồng Bàng, Ngô Đức Kế, Trịnh Phong… nhộn nhịp hơn xưa nhiều nhờ “ăn theo” phố Tây, khách du lịch… Vòng ra đường Nguyễn Thị Minh Khai, tôi bắt đầu vào một “lãnh địa” khác của ẩm thực với nhiều món không phải của Nha Trang và nhiều nhà hàng phục vụ khách du lịch đa đạng thức ăn. Rẽ đường Nguyễn Thiện Thuật, lại thấy một “khung trời” ẩm thực khác với nhiều nhà hàng Trung Hoa, Hàn Quốc… bởi ở khu vực này và các con đường lân cận như: Hùng Vương, Biệt Thự, Trần Quang Khải… có tên gọi chung là phố Tây.

Tôi ra đường Trần Phú, chạy một lèo qua cầu để rẽ xuống Cù Lao. Con đường Tháp Bà nổi tiếng với các món hải sản từ hơn nửa thế kỷ. Những món đặc trưng làng chài có mặt đầy đủ ở đây như: Bún cá, bánh canh, mì Quảng… Những tên quán: Bà Ngoại, Chị Bé, bánh xèo Cô Tám… khẳng định thương hiệu bởi độ ngon nức tiếng gần xa…

Rời khu Tháp Bà, tôi đi theo đường 2 tháng 4, ngay đầu đường xuống Cồn Dê có quán bún thịt nướng nổi tiếng nửa thế kỷ nay. Tiếp tục đi, lại nhớ món vịt quay cũng nổi tiếng từ mấy chục năm trước. Rồi sang đường Trần Quý Cáp có bánh căn mà đa phần khách du lịch đều biết. Từ đây, tôi rẽ xuống đường Phan Đình Giót lại lạc vào một “thủ phủ” khác nữa của những món ăn hẻm Nha Trang. Phố ăn đêm của những cô cậu trẻ, món gì cũng có từ đặc trưng cho Nha Trang xưa đến những món ăn mới sau này của giới trẻ.

Quay ra theo đường 23 tháng 10, tôi chú ý đến bánh canh cá lóc Huế, kế bên đó là bánh ướt, nem chả, thịt nướng… Đọc tên thôi đã gợi thèm. Trên cầu vượt nhìn xuống Khu đô thị Vĩnh Điềm Trung, dưới ấy đa phần là những tiệm ăn các món “nhập cư” như: Bánh canh cua, bún đậu mắm tôm, bún chả Hà Nội… và đa dạng các món ăn vặt của giới trẻ. Trên đường tôi về nhà, có những vùng khẳng định tên món mấy chục năm nay như: Vịt Cầu Dứa, bánh ướt, cuốn, đập Vĩnh Thạnh, mì Quảng Bình Cang…

2. Chỉ là một buổi chiều, tôi đi chưa hết một phần nhỏ của trung tâm TP. Nha Trang và chắc chắn thiếu sót nhiều món ăn nhưng đã khiến tôi lan man nghĩ về trăm năm trước, khi Nha Trang chỉ là một làng chài nhỏ ven biển. Làm sao tôi biết ẩm thực Nha Trang khi ấy có gì, nhưng tôi chắc chắn một điều, ẩm thực Nha Trang bây giờ có khá nhiều món ăn xuất phát từ làng chài chế biến với hải sản vừa đánh bắt lên.

Trong quá trình di dân đã làm cho Nha Trang hiện nay có một “bản đồ” ẩm thực khá phong phú và đặc biệt ngon: Món cũ cho người yêu Nha Trang, món mới chế biến hợp khẩu vị Nha Trang từ nguyên liệu của Nha Trang, chinh phục khách đến, dù chỉ một lần. Bạn bè tôi ra đây ngoài đi chơi, ẩm thực là điều họ luôn nhắc đến phải ăn món này, món kia… Với nhiều người Nha Trang, vì món ăn quá phong phú mà đôi khi xách xe chạy một vòng thành phố, món nào cũng ngon, cũng thèm, không biết ăn món gì!

Người xa quê, về đến Nha Trang đã “thủ” sẵn một danh sách món sẽ ăn cho thỏa cơn thèm!

Xóm cũ

.Nguyên Hạ Lê Nguyễn

Gia đình tôi dọn đến căn nhà này vào một buổi sáng cuối mùa Hạ, căn nhà nhỏ bốn mặt gạch, có vườn rộng , lưng quay ra một trường Tiểu học, hai bên là những ngôi nhà cất kiểu giống nhau, chỉ khác một chút ở chỗ sân cỏ trước nhà , do chủ nhân sửa sang theo ý của họ, thêm vài khóm hoa theo mùa hay trồng thêm vài cây cảnh mà chủ nhà ưa thích.

Đối diện cửa nhà tôi là khu vườn rộng với nhiều cây thông cao, bao bọc bởi một hàng rào sắt, bên trong là một sân rộng có những chuồng gà, lồng chim và những bông hoa đủ màu, thỉnh thoảng tôi nhìn thấy một bà lão người da trắng thấp thoáng bên những khóm hoa và mấy con gà trắng nhỏ bé xíu chạy dưới chân mỗi lần thấy dáng bà ngoài sân sau, hình ảnh thân quen và cho tôi một mỹ cảm về chỗ ở mới.mỗi lần thấy nhau chúng tôi chỉ đưa tay chào và :

_Hi…hi…Ngôn từ phát ra chỉ có vậy nhưng tôi và bà như có một mối thâm giao vô hình nào mà ngày nào không thấy bà là tôi bứt bối phải đi ra đi vào kiếm tìm.

Mỗi ngày tôi ra khỏi nhà vào lúc ba giờ rưỡi sáng, để vào làm lúc bốn giờ sáng và ra về vào lúc giữa trưa, chạy vội vàng về nhà thay bộ uniform của hảng và lại bương bả lên xe đến một hảng may nhỏ làm tiếp nhiệm vụ của một ngày cho đến bảy giờ chiều mới bương bả trở về nhà.những năm đầu mới định cư ở đây, cuộc sống như nhấn chìm con người vào vạn ngàn bận rộn.

Công việc mỗi ngày cứ từng hồi và không có một phút giây cho mình ngắm nhìn và quan sát hay làm quen với những láng giềng hay quan tâm đến bất cứ ai hay những bối cảnh chung quanh, mỗi ngày khi bước chân ra khỏi nhà, tôi thường nghe tiếng đọc kinh rất đều đặn và chậm rãi..vẳng từ nhà bà già Mỹ trắng.

Ban đầu tôi không hiểu đó là tiếng gì, sau này đi nhà thờ Mỹ nhiều lần nghe quen nên tôi chợt hiểu ngầm đó là những câu kinh kính mừng, kinh lạy cha…của đạo Thiên chúa giáo, và lâu dần thành thói quen tôi cũng lẩm nhẩm đọc theo…

Cho đến một ngày kia, khi tôi bương bả chạy về nhà thay quần áo, chuẩn bị ra xe để tiếp tục công việc thứ hai thì chợt nhìn sang khu vườn trước mặt vì có bàn tay đưa ra khỏi hàng rào sắt vẫy tôi, tôi chạy ra mé đường thì thấy bà già Mỹ trắng , chủ nhân khu vườn trước mặt nhà tôi vẫy tay nhờ tôi đuổi bắt hộ con gà con của bà đang chạy ra ngoài.

Từ đó tôi quen biết bà Anna, bà sống một mình với mấy con gà và một con Mèo trong căn nhà có khu vườn rộng trước mặt nhà tôi., năm ấy bà đã ngoài tám mươi

Cứ mỗi cuối tuần bà Anna có người con gái đến chở đi chợ, người con gái của bà cũng đã già gần bằng bà , ban đầu tôi đoán là bạn của bà nhưng sau được biết đó là người con gái duy nhất của bà, và bà chỉ hơn con gái có 16 tuổi…và cứ vài tuần thì có người Mễ đến cắt cỏ cho bà.suốt ngày bà ngồi trên chiếc ghế bành bên cửa sổ , mắt nhìn vào cõi xa, tay cầm xâu chuỗi mân côi với tượng Thánh giá to bản, miệng không ngớt những câu kinh.

Cuộc sống hàng ngày vẫn tiếp diễn như một guồng máy chạy đều, mỗi lần ra đi hay lúc trở về tôi vẫn nghe tiếng đọc kinh của bà Anna, và đôi khi tôi mơ màng vẫn nghe tiếng đọc đều đặn ấy như đó cũng là một phần của cuộc sống tôi…

Bẵng đi một thời gian dài không nghe tiếng cầu kinh của bà, tôi bỗng thấy nhớ nhung và lo lắng vô cùng nhưng không làm sao biết hỏi ai? bà đi đâu?, hay có chuyện gì không may xảy ra cho bà, một bữa nhân ngày nghỉ tôi thấy người Mễ của căn nhà đối diện nhà bà đang đứng trước sân, tôi chạy sang hỏi thăm về bà…mới hay cách đó hơn ba tuần bà bị bệnh phải đưa vào bệnh viện chưa thấy về, thỉnh thoảng người con gái có đến cho Mèo và cho gà ăn.

Nỗi buồn thương lo cho người bạn già và nhớ quay quắt tiếng râm ran của bà mỗi ngày khi đi về không nhìn thấy bà thấp thoáng sau vườn hay vẳng qua cửa sổ nhà bà vào những buổi sáng sớm tôi bước ra khỏi nhà nổ xe chờ xe nóng máy.nỗi nhớ nhung như thiếu vắng một cần thiết cho cuộc sống tôi ngày đó.

Vài tuần sau…bà đã trở về nhà cũ, nhưng không đi đứng như xưa mà phải ngồi trên xe lăn khi di chuyển, tôi chạy sang thăm hỏi khi thấy dáng bà ngồi rũ bên trong chiếc xe lăn mới, khuôn mặt bà xanh xao, tóc trắng và được cắt gọn, bàn tay run rẩy và lạnh ngắt khi tôi chạm vào lúc từ giã bà ra về. xâu chuỗi trên tay bà đong đưa theo bàn tay nắm chặt tay tôi như không muốn rời bàn tay tôi, ngồi bên tay lái với cảm xúc cùng bà khi từ biệt, tôi bỗng mủi lòng và nghe mặn ở bờ môi.

Mỗi lấn nhìn sang khung cửa sổ nhà bà tôi cũng thấy hình dáng mờ dần bên khung cửa và vẳng từ xa vang vọng tiếng kinh cầu…Tôi nhận biết rằng bà Anna vẫn bằng an.

Thời gian vẫn cứ trôi, cuộc sống với những bận bịu mỗi ngày tôi như quên mất bà Anna, và những con gà trắng phau với chiếc mồng đỏ tươi và những con gà con bé xíu.mấy hôm liền tôi không thấy chúng được thả ra sau vườn nhà bà.

Hôm đó là một ngày cuối năm, tiết trời lạnh giá, những cây Tuyết đầu mùa đổ xuống vạn vật để chuẩn bị đón Giáng Sinh, khi mọi nhà chuẩn bị giăng đèn trang trí cho ngoài sân trong nhà để chờ đón chúa Giáng sinh

Công việc chính của tôi hôm nay bị kéo dài vì nhiều chuyến bay bị delay nên tất cả phải ở lại làm thêm giờ. tôi ra về trễ hơn mọi bữa, ngồi bên tay lái , xe chạy ra khỏi hảng, những con đường ngập ngụa những bông Tuyết chưa tan hết, ướt sủng và lạnh giá, tôi cảm thấy quá mỏi mệt và chợt cơn buồn ngủ kéo về, những dòng xe nối đuôi nhau trên con đường trơn ướt, lối đi về quen thuộc, nhưng xa hơn mọi bữa.cơn buồn ngủ đến bất chợt, tôi cố nhướng mắt và nhấn chìm tiếng ngáp dài.

Tôi thèm một giấc ngủ đến thật muộn phiền, rã rời mỏi mệt vì sự thiếu ngủ triền miên…vẳng bên tai tôi tiếng kinh cầu quen thuộc, choàng tỉnh ngủ sau mấy giây thả hồn vào cơn mê ngái ngủ…trước mặt tôi vẫn những chiếc xe nối đuôi nhau trên con đường trơn ướt. …Tôi thảng thốt trở lại với tay lái chao đảo…

Tôi bàng hoàng và chợt tỉnh cơn mê…một chút nữa thôi, nếu tôi ngủ mê bên tay lái giữa ngập tràn xe cộ hôm ấy, chuyện gì sẽ xảy ra, một tai nạn thảm sầu sẽ xảy ra, tôi sẽ ra sao ???và các con tôi sẽ ra sao ???ngày đó chúng còn bé lắm….Tiếng kinh cầu vẳng từ xa vang dội đánh thức tôi qua rồi một nạn tai.

Tôi tấp vào một cây xăng mua một lon nước để uống và định thần lại rồi lên xe trở về nhà, những câu kinh xa xa vẳng bên tai gọi tôi trở về thực tại, đã cứu tôi một tai nạn hải hùng, tôi định chạy về nhà là sẽ chạy sang thăm bà Anna và cám ơn bà.

Nhìn sang nhà bà …những sợi dây vàng có in những chữ màu đen cắm cả quanh nhà bà…tôi chưa biết chuyện gì đã xảy ra cho bà??? chạy sang nhà người Mễ đối diện nhà bà để hỏi.

_ Bà đã chết cách đây ba ngày, khi cây Tuyết đầu mùa rớt xuống vùng này, nhưng người con gái mới đến sáng nay và phát hiện ra người Mẹ đã ra đi từ hai hôm trước. cảnh sát đến đưa xác bà đi và không biết đã an táng ở đâu???

Tôi thẫn thờ ra về, lòng buồn như đeo đá tảng, muốn đi tiễn đưa bà Anna lần cuối nhưng không biết hỏi ai, muốn nói với bà câu giã biệt, nhưng biết gởi về đâu..

Giá như ở quê nhà thì ít nhất con cháu cũng tổ chức cho người thân một đám ma cho mọi người cùng nhau tiển biệt, những giọt lệ và những nắm đất tuy muộn màng nhưng cũng nói lên tấm lòng của người ở lại…tôi muốn tiễn đưa bà nhưng không biết phải làm sao???

Đời sống lạnh lùng lúc sống cũng như lúc ra đi, cuộc sống quanh tôi là như thế đó, tôi buồn rũ suốt mấy ngày khi mỗi lần nhìn sang khu vườn nhà bà nay vắng bóng những con gà trắng tinh và hình ảnh bà ngồi gục mình trên thành xe lăn và những tiếng đọc kinh nhỏ dần vang vọng.

Mỗi ngày khi trở về nhà nhìn sang nhà bà Anna, những hoang lạnh đến tang thương, mỗi lần nhìn sang là lòng tôi buồn ủ rũ.

Vài tuần sau căn nhà bà có cắm bảng “For rent”, hàng ngày tôi vẫn rời nhà vào buổi sáng sớm…vẳng bên tai vẫn tiếng kinh cầu, nhiều khi vội quá tôi quên mất là bà Anna còn hay mất, vẫn những công việc hàng ngày, tôi vẫn mỗi sáng ra xe, vẫn nghe vang vọng tiếng đọc kinh của bà…trên xe tôi mới chợt nhận biết là bà đã mất….những gai ốc trên mình tôi bỗng cuồn cuộn nổi lên. bà Anna đã mất cả tháng nay sao ngày nào tôi vẫn nghe tiếng đọc kinh của bà mỗi sáng???

Hôm sau tôi sợ quá…ngày nào khi ra xe cũng gọi đứa con gái dậy đưa tôi ra cửa, khi tôi ra khỏi sân nhà tai mới vẳng nghe tiếng đọc râm ran của bà từ trong tiềm thức hay thực sự tiếng đọc kinh sáng của bà vẫn theo tôi trên suốt quãng đường…Tôi vẫn thường van vái xin bà hãy ra đi đến chốn an bình và cho tôi chút bình yên.

Hai tháng sau thì gia đình người Mễ dọn đi, trước khi đi họ sang chào tôi và bảo rằng :

_Bà già trước nhà về đọc kinh mỗi ngày họ không ngủ được nên dọn đi. vì mỗi khi tối đến họ vẵn thấy bà hiện về ngồi bên khung cửa sổ.và họ hỏi tôi có thấy gì không?

_Không, tôi chỉ nghe tiếng cầu kinh của bà y như lúc bà còn sống mà thôi.

Vài tháng sau gia đính cạnh nhà tôi cũng dọn đi với những câu tương tợ…căn nhà bà vẫn hoang vắng và mỗi lần đi về tôi vẫn len lén nhìn sang nhà bà vẫn chưa có người dọn tới.

Gần nửa năm sau có một gia đình Việt Nam gồm hai vợ chồng và ba đứa con dọn đến, tôi mừng vui vì có láng giềng là người Việt cho đỡ cô quạnh và cho khu xóm thêm vui…hôm sau hai vợ chồng cùng đón tôi hỏi về chủ cũ của ngôi nhà mà họ mới mua, tôi kể rõ ngọn ngành, cả hai cùng tái mặt và run lập cập.

– Cả đêm qua vợ chồng họ không sao ngủ yên vì những tiếng đọc kinh của ai đó cứ vang vọng trong khắp các phòng, khi họ lên giường thì bị một bà già kéo chân và xua đuổi họ, bảo họ hãy trả lại sự yên tĩnh cho bà.

– Hai người thấy bà già đó ra sao?

_ Một bà già da trắng tuổi ngoài tám mươi, tóc ngắn tới ót.

_ Ồ vậy đúng là bà Anna rồi, đúng là bà chủ ngôi nhà

Một luồng khí lạnh chạy dài theo sống lưng, những gai ốc nổi cộm trên hai cánh tay tôi, cái cảm giác lạnh lẽo như lần cuối cùng tôi nắm bàn tay lạnh lẽo của bà Anna ngày nào.

Hôm sau họ thu vén tất cả đồ đạc lại xin sang ngủ nhờ bên nhà tôi mấy bữa để đi tìm chỗ khác mướn ,trả lại sự tĩnh lặng cho ngôi nhà và sự u tịch của khu vườn..

Tôi vẫn nghe vẳng từng đêm tiếng kinh cầu của bà mỗi ngày, nhưng cũng chỉ mình tôi nghe, các con tôi thì không nghe chi cả…

Ngôi nhà của bà vẫn từng hồi đổi chủ, họ cứ dọn đến rồi lại dọn đi, người ở lâu nhất cũng chỉ một vài tuần, căn nhà của bà ai cũng đồn là “căn nhà ma”.

Vài năm sau tôi tìm cho mình một việc làm tốt hơn do mình tự làm chủ , và mua ngôi nhà mới xây trên khu đất bằng phẳng, ngày đưa các con về ngôi nhà mới, chúng hân hoan vì tránh cho tôi cái cảnh hàng ngày nghe tiếng “kinh ma”, ngày rời ngôi nhà cũ tôi đứng lặng hàng giờ nhìn sang khung cửa sổ ngày xưa bà Anna vẩn ngồi đọc kinh, tôi mong nhìn thấy bà để nói lời từ biệt…nhưng chỉ thấy một con mèo lông đen chạy ngang rồi biến dạng, trả về khu xóm cũ một trầm u buồn thảm.

Thỉnh thoảng tôi vẫn thường xin lễ cho bà Anna và tôi mới chợt nhận biết rằng bà nói với tôi tên bà là Anna, tức là tên Thánh của bà, và tôi cũng có tên Thánh này, nhũng mỹ cảm mà bà đã luôn dành cho tôi, những buổi sáng quên đọc kinh hay những đêm chưa đọc kinh đêm, thì tôi lại vẳng nghe tiếng kinh cầu của bà, phát ra từ trong tiềm thức.

Mỗi năm cứ vào ngày Giáng sinh xong là tôi chạy xe về xóm cũ, ngừng xe trước căn nhà cũ của tôi và nhìn sang nhà bà Anna, nay đã có người đang ở…Có lẽ bà đã lên Thiên đàng từ lâu, trả lại cuộc sống bình yên cho thế tục

Viết cho một nỗi buồn

Lê Văn Hiếu

.

Buồn thì rộng mà con đường thì chật

Chân tìm đi chẳng biết phương nào

Phương nào cũng va vào u cục

Quay về lại đụng đá đau .

.

Chân thì dịch , vô lẽ chân dừng lại

Chân ngồi yên – chân bất động ù lì

Gát thẳng lên trời thì không thể

Gát lên trời , nhưng gát để mà chi ?

.

Vô lẽ ngồi yên đùn thành ụ Mối

Có hàng ngàn con Kiến trong bụng ta

Tay muốn động – tay không thể gãi

Nỗi buồn tìm mãi chẳng lối ra .

.

Buồn thì rộng mà con đường thì chật

Chân tìm đi chẳng biết phương nào

Buồn trong bụng ngỡ khoang buồng hẹp

Rục rịch hoài khêu mãi nỗi đau …

.

Thơ Lê Văn Hiếu .

Nguyễn Hoàng Anh Thư

.
Qua lăng kính của sự hào phóng
sự nuối tiếc thường đến muộn
thời gian hóa trị nỗi buồn
trên mái đầu không còn tóc
những sợi tóc bay lạc
quên nói về điều chia tay
Trong chiếc ba lô chiều này
dăm cái bánh với chai nước đầy
em không chuẩn bị bộ quần áo để thay
qua khu phố lầy lội
mùa hè chỉ có nắng gầy
và nỗi nhớ đọng trầm tích
phía xa xa
nơi đôi bàn tay của em không bao giờ được chạm đến
và cứ thế em đi
Những biến chứng của thời gian
không lợp đều mái phố
xanh và xám bạc
những câu chuyện cổ có mùi vị côca
và em đang ngồi ở đó
mông lung về thuở mười ba
Thời gian không lợp đều mái phố
em nhìn
ngón ngắn bàn tay
chẳng chạm được vào ô cửa nhỏ

Trần Thị Cổ Tích 

.

Tôi đã về

Quảng Ngãi có vui không

nắng sân ga run run màu hạnh ngộ

sợi tóc mềm ngân nga lời ca nhỏ

vỗ về tôi bao con sóng dịu dàng

ngày tôi về Quảng Ngãi có vui không

tách cà phê gợi hương mùa xanh cũ

gió sông Trà thổi tung niềm xa xứ

đời phong ba nay tìm lại quê nhà

đón tôi về Quảng Ngãi có vui không

khuya biển thức kể chuyện đời giông bão

mắt người sâu mà nỗi sầu chưa cạn

lời riêng chung chén rượu cháy môi cười

buồn hay vui cũng xin cùng ngồi lại

quá nửa dốc đời mấy nẻo phù vân

tôi trở về ấm tình quê tình bạn

gọi bao lần

Quảng Ngãi dấu yêu ơi…

Thơ tặng

Nguyễn Đông Nhật

Thơ tặng nhiều quá!

Đã nhiều người nói như vậy.

Đấy là câu than phiền, hay là câu tán thán? Dường như thế, cả hai.

Thơ không bán được, thì phải đem tặng, chứ sao? Nhưng có ai đó không đồng tình: Chẳng nên làm như thế, vì sẽ càng “góp phần” cho thơ bị xuống giá. Nói vậy, cũng không sai.

Giờ đây, có nhiều người làm thơ, so với 50-70 năm trước. Tốt thôi: có nghĩa, số người cầm bút tăng lên nhiều, số người mù chữ bị xóa… gần hết? Vậy là vui, vì dân trí có khá hơn. Duy có một điều không nên bị “vướng” vào: sự lạm phát của hai tiếng “nhà thơ”, do cái thói háo danh. Chẳng phải sao?

Trong đời sống tinh thần của lịch sử loài người, cái gì là quý nhất, nếu không là triết học và thơ ca. Xã hội nào thiếu hai cái “nền” ấy, tất nhiên… yếu ớt (dẫu có rất nhiều cái “nền vật chất” khác). Hơn 2000 năm trước, khi đến một xứ sở, để biết thực trạng xã hội nơi ấy, triết gia Tuân Tử đều muốn nghe nhạc. (Thời ấy, thơ và nhạc gần như là… một, nên mới gọi là thi ca). Và ông đã phán định: Đời suy thì lễ phiền mà âm nhạc dâm. Đúng quá!

Chợt nhớ một mẩu tin đã đọc mấy năm trước: chính phủ Pháp bao cấp “trọn gói” cho 15 ấn phẩm về thơ; trong đó, có tạp chí thơ xuất bản hằng tháng với số lượng 547.000 bản/lần. Hẳn rằng, nhà cầm quyền Pháp không “dại gì” mà quẳng rất nhiều tiền vào một lĩnh vực có vẻ… vô bổ như thơ? Lại nhớ, trong cuộc chiến với Đức quốc xã vào những năm 1940, thơ của thi sĩ Paul Eluard được in thành truyền đơn đã trở thành sức mạnh lớn cho kháng chiến quân chống lại kẻ xâm lược. Ở xứ ta, giờ đây, thơ được đối xử như thế nào?

Một anh bạn cung cấp thêm thông tin khác: ở Mỹ, có khoảng 12.000 nhà thơ, tất nhiên đều là nhà thơ chuyên nghiệp. Và anh làm bài toán: dân số Mỹ nhiều hơn dân số Việt Nam khoảng 3,5 lần; nếu tạm căn cứ vào cái “chuẩn” là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam để có thể tạm được gọi là nhà thơ (chứ chưa “phân tích phân loại” thật-giả thế nào), thì số lượng nhà thơ ở cái quốc gia “kỹ thuật máy móc” ấy nhiều gấp năm lần xứ sở Việt Nam “yêu mến văn học” (ấy là chưa nói đến thực chất của cái-gọi-là nhà thơ, cũng ở xứ ta).

Sáng nay, được anh bạn Bùi Xuân tặng tập thơ dịch. Thơ Tagore, tập Mùa hái quả. Thi hào Ấn Độ đã để lại hơn 50 tập thơ, là những chuỗi ngọc quý trong kho tàng thơ ca nhân loại. Ở Việt Nam, dường như mới có khoảng năm-sáu tập thơ của Tagore được dịch. Người dịch và mang sách đến tặng là một cán bộ cần mẫn. Anh làm việc ở Ban Tuyên giáo, làm thơ, lại dành thời gian cho việc dịch thuật. Quý quá! Quý hơn, là con người anh: anh yêu tinh thần của Tagore, và làm việc gì cũng vì muốn đem đến sự tốt đẹp cho xã hội. Tập thơ có 86 bài, thấm đượm sắc tượng trưng với nhiều ẩn dụ sâu sắc. Bài thơ cuối (Lễ tạ ơn) có những câu thơ mãi mãi thời-sự-và-chân-lý: Những người đi trên lối mòn của niềm kiêu hãnh đã chà đạp những cuộc đời hèn mọn dưới chân mình và phủ lên màu xanh dịu dàng của trái đất bằng những vết chân đẫm máu… /… Những người hèn mọn đã chịu nhiều khổ đau và gánh nặng cường quyền đã phải giấu mặt và bóp nghẹt những tiếng nức nở của mình trong đêm tối… Để rồi cuối cùng, đối với những con người bị chà đạp ấy: Từng nhịp đập đớn đau của họ đã đập trong đêm sâu bí ẩn, và mỗi lời sỉ nhục đều được thu vào sự im lặng lớn lao của người. Ngày mai là của họ…

Đọc xong, thầm nói: Cảm ơn thơ tặng…