Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Xứ Nẫu, Người Nẫu’ Category

Chình mun

Cá chình thì nhiều nơi có. Đấy là những vùng cửa sông, cửa biển, đầm phá nước lợ, các hồ nuôi tôm dọc bờ biển miền Trung và ở Bình Định, nơi nào chẳng có cá chình. Cá chình thuộc họ nhà lươn, chạch nhưng thân dẹt và lớn hơn nhiều. Có con nặng hàng ký. Riêng chình mun thì chỉ có ở đầm Trà Ổ, cũng gọi là đầm Châu Trúc, thuộc huyện Phù Mỹ. Gọi là chình mun có lẽ vì da nó đen chũi, đen như gỗ mun.

Đầm Trà Ổ rất rộng, đáy đầy rong rêu và không bao giờ cạn nên là nơi các loài thủy sinh phát triển rất phong phú. Chình mun sống ở đây không nhiều nên bắt được nó không phải dễ. Chình lại sống sâu dưới lớp bùn nên càng phải có nhiều cách đánh bắt. Ngư dân Châu Trúc (Mỹ Đức), Chánh Khoan (Mỹ Lợi), các thôn xóm thuộc Mỹ Thắng đánh bắt chình mun bằng giăng câu, đóng đăng, đóng đó lớn, nơm thùng v.v…

Hai ba người ta ngồi trên ghe thuyền, dùng sào chọc, đánh rầm rầm xuống nước. Chình mun cũng như các loài cá khác thấy động thì phóng chạy. Người ta dùng chiếc nơm đan bằng tre, đường kính rộng chừng 1,5 mét chụp xuống bắt. Chình mun cũng dễ mắc câu nếu có mồi ngon như giun, tôm ươn.

Thịt chình mun ngon, thơm, nhiều đạm. Trước đây nhiều, đánh bắt dễ, bà con chở vào TP Hồ Chí Minh bán cho những người Hoa với giá khá đắt. Người Hoa ăn chình mun không bao giờ làm mất lớp nhớt ngoài da chình. Họ cho đó là thức ăn ngon và bổ.

Thông thường, bắt được chình mun, người ta để hơi ươn mới chế biến. Sau khi làm sạch, xắt chình thành từng lát mỏng độ 2 cm, ướp các loại gia vị tiêu, tỏi, ớt và nước mắm nhĩ rồi cho vào kho. Nếu làm món nhậu thì nướng. Cũng có thể um, nấu lẩu lai rai với rượu Bàu Đá hay bia cũng được. Trước kia đánh bắt còn dễ nên muốn ăn chình mun, đến các chợ Bình Dương, chợ Miễu, chợ Châu Trúc quanh khu vực đầm Trà Ổ là mua được. Bây giờ thì khó hơn vì đánh bắt nhiều, chình không kịp sinh đẻ.

Chình mun là một thứ đặc sản cần được bảo tồn. Nếu không, với kiểu khai thác “tận diệt” như hiện nay thì một ngày không xa, chình mun sẽ biến mất khỏi danh sách các loài thủy sản vùng nước lợ.

Nguồn baobinhdinh.com

. Nguyễn Văn Chương

Read Full Post »

Quách Tấn yêu quê hương Bình Định sâu nặng. Trong “Nước non Bình Định” của mình, ông dành hẳn một chương nói về “tánh tình” người Bình Định. Theo ông, người Bình Định phần đông tính tình chất phác, đôn hậu, chuộng khí tiết, trọng nhân nghĩa.

(more…)

Read Full Post »

Đỗ Kinh Thi

THÂU NÀ

     Bỗng nghe hai tiếng “Thâu nà”,

     Tưởng người xứ Nẫu, té ra “Qươ mình”.

     Âm quê hương, thắm bao tình,

     Nôn nao quán cóc, đậm hình bóng quê!

-Sài Gòn, 16/8/2007

(Một bữa ngồi ở quán cóc bên đường, bỗng nghe lũ trẻ phát âm 2 tiếng “Thâu nè”)
GỬI NGƯỜI EM XỨ NẪU

      Nẫu khoe quê Nẫu đẹp xinh,

     Nẫu dìa xứ Nẫu tỏ tình làm thơ.

      Nẫu mong, Nẫu đợi, Nẫu chờ,

     Nẫu đà có Nẫu, ngẫn ngơ Nẫu buồn!

 

.***

     Em khoe quê em đẹp xinh,

     Anh  về  Bình Định tỏ tình làm thơ.

     Người mong, kẻ đợi, ai chờ,

     Em đà có bạn, ngẩn ngơ anh buồn!


Read Full Post »

Sau 5 ngày hoạt động thử nghiệm,xunauvn.org đã có trên 12.000 lượt người truy câp. Con số lượt truy cập nhiều bất ngờ ấy đã nói lên rằng Xứ Nẫu có thể sẽ là một trang web được bạn bè gần xa tin yêu trong tương lai

Tuy nhiên để xunauvn.org có thể đứng vững và phát triễn,sự góp sức của quý thân hữu là tiền đề đầu tiên và hầu như là duy nhât. Bỡi vì không có người gửi bài không có người còm,không có người đọc thì xunau.org  không thể là nơi giao lưu gặp gở và sẻ chia những vui buồn của những người xứ Nẫu và những người yêu mến xứ Nẫu.

Hiện nay xunauvn.org vẫn là trang mang tính chất thử nghiệm do đó còn rất nhiều bất ổn về hình thức và nội dung .Trên tinh thần lắng nghe,cầu thị,chúng tôi thiết tha  được quý thân hữu góp ý ,bày vẻ để chúng tôi có thể hoàn thiện website chuẩn bị cho ngày hoạt động chính thức dự kiến vào tuần sau. Đồng thời ,chúng tôi cũng mong muốn được đón nhận những sáng tác hay trên các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật,đặc biệt là những chủ đề liên quan đến xứ Nẫu để xunau.org ngày càng phong phú và hấp dẫn hơn.

Mọi góp ý và đóng góp bài vở xin quý thân hữu gửi về địa chỉ cicdvn@yahoo.com

Một lần nữa xin cảm ơn và chúc sức khỏe

Kính

Read Full Post »

Ngay cả người sành ăn và là dân biển thứ thiệt như nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn khi nghe Quy Nhơn có món cá ninja độc đáo, ông cũng ngạc nhiên dù đã cận cửu tuần mà chưa từng được ăn. Khi được dẫn đi …thực chứng, ông khen ngon liên hồi. Với khách phương xa, món cá này còn hút khách vì sự lạ.

 
Cá Ninja.

 

(more…)

Read Full Post »

Những ngày Tết, món tré là một đặc sản thường có trong các gia đình miền Trung. Đây là món “ăn chơi”, không ngán vì không chứa nhiều chất béo. Món này thực hiện cũng không quá khó, bạn hãy thử xem.

Nguyên liệu:

– 1kg tai heo luộc chín, thái mỏng

– 100g riềng xắt mỏng, thái sợi

– 100g tỏi

– 100g gạo rang, xay mịn làm thính

– muối đường, mắm, tiêu, lá ổi, lá chuối hoặc rơm.

Thực hiện:

Trộn chung tai heo đã thái mỏng với riềng, tỏi. Nêm gia vị muối, tiêu, đường sao cho vừa ăn. Trộn thính vào hỗn hợp trên.

Rửa sạch lá ổi rồi lau khô. Lót lá ổi trong rơm hoặc lá chuối sau đó cho thịt vào, gói lại cho thật chặt. Tiếp theo, bó rơm lại sao cho chặt tay. Mỗi chiếc tré cân nặng khoảng 150-200g. Để tré nơi khô, thoáng, sau 3 ngày là dùng được.

Khi ăn, xắt mỏng, ăn kèm rau sống, dưa leo, cuốn bánh tráng chấm mắm ớt pha chua ngọt.

Read Full Post »

Cửa Khách Thử

Gọi là Cách Thử, Cửa Thử, Kẻ Thử hay Khách Thử là tùy từng người với cách giải thích hơi lung linh biến động một chút. Có sao đâu, điều này chỉ khoác lên sắc áo nhiều mầu cho một cơ thể đất đai cổ tích, một trong những địa danh vào loại xưa nhất trong lịch sử văn hóa người Việt Đàng Trong.

images94158_chutieu1Chú tiểu chùa Ông Núi dẫn đường. (Ảnh: Hoàng Tuấn)

(more…)

Read Full Post »

Tiếng địa phương là tiếng nói chỉ phổ thông ở một địa phương, thường là một tỉnh, tuy nhiên cũng có nhiều tiếng chỉ dùng ở một vùng nhỏ và dĩ nhiên chỉ có người địa phương đó mới hiểu, mới áp dụng hàng ngày. Và đối với họ, đó là nét riêng rất thân thương. Ở tỉnh ta có khá nhiều tiếng địa phương, tượng trưng nhất là hai tiếng “nẫu” và “bậu”.Các địa phương khác thường gọi người Bình Định là dân “xứ nẫu”, vì từ “nẫu” là một đặc trưng trong ngôn từ của người Bình Định. Có một lần tôi vào TP Hồ Chí Minh, đến chợ Bến Thành mua một xấp vải. Trong khi tiếp xúc, trả giá, qua ngôn ngữ, chủ sạp hàng là một phụ nữ đứng tuổi đã nhận ngay ra tôi là người đồng hương Bình Định, nên từ việc mua bán lại biến thành cuộc thăm hỏi. Người bán hàng xởi lởi, mời mọc trò chuyện, hỏi thăm chuyện “ngoài mình”. Chị say sưa giới thiệu mình cũng là người “xứ nẫu”, hiện giờ ở đâu làm ăn ra sao. Có lẽ cái sung sướng, vui vẻ của kẻ “ở xa gặp người quen” như lời thơ cổ “Tha hương ngộ cố tri” nên chị đã thoải mái trao đổi với tôi bằng ngôn ngữ địa phương Bình Định, như: “chàu rày ở ngoài mình thế nào?”, “làm ăn chắc cũng tày người ta !”, “nẫu làm ăn có đặng không?”…Ngoài người Bình Định, tiếng “nẫu” còn được dùng tại vài nơi ở tỉnh Phú Yên. Ngược dòng thời gian, từ khi nhà Lê mở rộng bờ cõi về phương Nam thì Bình Định và Phú Yên thời ấy cùng một trấn. Thế nhưng, cùng nguồn gốc từ miền Bắc di cư vào nhưng tại sao tiếng “nẫu” và một số tiếng địa phương khác chỉ có ở Bình Định mà không có ở các địa phương khác? Lật lại những trang từ điển cũ của các tác giả Trương Vĩnh Ký và Thanh Nghị xuất bản trước năm 1945, thì chỉ có chữ “Nậu” và chữ “Bậu” chứ không có chữ “Nẫu”.Theo đó, nậu (dt xưa): bọn; tụi; người khác – của nậu chứ không phải của mình; – Đầu nậu: chef de bande.Một lối giải thích khác cũng có lý: Người miền Bắc phát âm dấu nặng (.) thì người Bình Định lại nghe thành âm dấu ngã (~). Có lẽ vì thế mà từ “nậu” thành “nẫu” chăng!Câu ca dao phổ biến là:Ai về nhắn với nậu nguồn Măng le gởi xuống,cá chuồn gởi lên.Tiếng “nậu” nghe cũng khá thân thương, lại vừa có âm điệu trong câu, ai về nhắn với “nậu nguồn” – nghe êm hơn là “nẫu nguồn”. Còn có cách lý giải khác là: cảnh vật và nước uống có ảnh hưởng nhiều trong giọng nói, nên việc lẫn lộn giữa dấu ngã và dấu nặng là lẽ thường.Trong thơ ca Bình Định, chúng ta vẫn thường gặp tiếng “nẫu”. Dù là người di cư hay người chính gốc địa phương thì tình yêu luôn đến với họ:Thương chi cho uổng công tình Nẫu về xứ nẫu, bỏ mình bơ vơ.Hoặc:Ghe hư còn để dấu dầm Nẫu đi đâu vắng dấu nằm còn đây.Từ “nẫu” trong Vè Thủy trình của lái ghe bầu cũng là một ví dụ:“…Giáp đầm Thị Nại, hãy còn sử xanhVô chợ ăn bún song thầnHỏi mua nón ngựa để dành về quêThiếu gì hải vị sơn khêVào nam ra bắc ê hề ngựa xeNói chơi sợ nẫu cười chêCó say đất khách mới mê nết người…”.Bài vè khá dài nhưng có đầm Thị Nại, bún song thần (song thằn) và nhất là câu: “Nói chơi sợ nẫu cười chê” cũng đủ xác định bài này có xuất xứ từ người Bình Định.Chữ “nẫu” còn đi vào trong thơ mới:Nẫu và tuiChắc gì lìa tử đã mau nguôiMột độ lìa sanh cũng ngậm ngùiMuối mặn, nẫu còn chiêm chiếp thíchGừng cay tui ngỡ hít hà vuiNẫu hờn nẫu giận tui xin nẫuTui dỗi tui buồn nẫu bỏ tuiXa nẫu ngày rày tui bị hạnDuyên xưa không có rặc tình xui.(Hà Giao)Bài thơ rất rõ nét “xứ nẫu”.Đứng về mặt ngữ pháp, “nẫu” là đại danh từ, ngôi thứ ba, tương đương với chữ “nó”, “họ”, “người ấy”,…Còn với chữ “Bậu”, theo từ điển cũ của hai tác giả kể trên thì: Bậu (dt xưa): tiếng thân kêu vợ mình – Bậu nói với anh, không bẻ lựu hái đào/ Lựu đâu bậu bạc, đào nào bậu cầm tay. (Ca dao)Tiếng “Bậu” cũng là đại danh từ, ngôi thứ hai, tương đương với anh, em – tiếng “Bậu” nghe thân thương, tình tứ hơn:Tai nghe em bậu lấy chồngBất tỉnh nhơn sự, dậm chân kêu trời.Có nỗi buồn nào hơn khi được tin người yêu đi lấy chồng! Buồn đến bất tỉnh nhơn sự! Phải chăng là ngã xỉu, hay chết đứng như Từ Hải. Ngược lại, khi em bậu từ chối lời cầu hôn của kẻ khác thì:Tai nghe em bậu chồng hồi Cũng tày anh ních một bầu rượu ngon.Tâm sự của chàng giờ đây lại khác hẳn, lại sung sướng như một cuộc rượu say túy lúy đầy hạnh phúc.Trong tình yêu, dù là người giàu hay người nghèo, quê hay tỉnh, trí thức hay bình dân đều có tâm trạng giống nhau. Khi yêu thường nhớ nhung:Tai nghe gà gáy ó oLòng thương em bậu ốm o gầy mòn.Thương yêu, nhớ nhung đến gầy ốm xác ve thì có lẽ đích thị là bệnh tương tư rồi. Còn khi đã yêu nhau mà phụ nhau thì:Bậu ra cho khỏi tay taCái thân bậu nát cái da bậu mòn.“Thương nhau lắm, cắn nhau đau” là vậy. Yêu nhau mà hai người hai ngả thì: Xa xôi chưa kịp nói năngTừ qua đến bậu như trăng xế chiềuTrăng tàn, tình tan – nhưng người trai còn nhắc:Trâm vàng giắt chặt còn rơiHuống chi em bậu ở đời làm sao?Tiếng địa phương Bình Định còn khá nhiều, đặc biệt, chúng đã đi vào thơ ca dân gian, tạo một sắc thái riêng cho tiếng địa phương Bình Định. Xin nêu vài ví dụ:Chàu rày không gặp đặng anhTrăm hoa cũng héo mấy nhành cũng khô.Hoặc:Tai nghe em bậu chồng hồiCũng tày anh ních một bầu rượu ngon.Những chữ “chàu rày”, “đặng”, “bậu”, “tày”, “ních” và nhiều tiếng khác nữa mang sắc thái Bình Định rất rõ. Ôi nẫu ơi, bậu ơi – thương lắm!

và chú bé mua chậu kiểng để trồng hoa ngày tết

Bài Lê Phúc Liêm Ảnh Hoàng Tuấn

Read Full Post »

Cau

Bút ký của Huỳnh Kim Bửu

Trong các làng quê, cây tre được trồng nhiều nhất, đứng thứ hai là cây cau. Tre trồng thành hàng, thành lũy bao bọc lấy xóm làng, cho người ta gọi cuộc sống trong các làng quê đó là “cuộc sống sau lũy tre làng”. Ít có nhà không trồng cau. Các ngôi nhà vườn, thường trồng cây theo câu nói dân gian: “Phía trước trồng cau, phía sau trồng chuối” để vừa cho khí hậu mát mẻ, vừa cho cảnh quan đẹp, lại cũng vừa cho lợi ích kinh tế.

        Cây cau đẹp thật. Thân cây thẳng, cao. Đọt cau là một khóm tàu lá xanh đậm nổi lên dưới vòm trời xanh lơ. Hồi nhỏ, nhìn tàu cau trên cao, tôi thường bảo đó là chiếc lược trời, rồi chiếc lược má tôi, chị tôi cầm trên tay chải tóc, dắt trên mái đầu kia là những chiếc lược trời thu nhỏ lại. Chim vẫn bay về làm tổ và rộn tiếng ca trên những ngọn tàu cau. Người đi đường, nhìn vào một xóm nhà, thấy hàng cau khi thì lặng yên, khi phất phơ cùng ngọn gió nồm mát mà cảm giác, đó là cảnh yên ả, thanh bình của một miền quê. Người đi xa lâu ngày, trở về, trông cho mau tới chỗ đầu làng để được nhìn thấy hàng cau nhà mình. Ở nông thôn, nhiều nhà trồng cả một vườn cau liên phòng. Mỗi cây cau thường có dây trầu quấn lấy. Cái rễ của dây trầu mọc từ gốc trầu đến đọt trầu vẫn bám chặt vào thân cau, dẫu phải gió mưa cũng không sờn, không rời? Có phải chăng, vì lẽ đó người ta đã lấy trầu cau làm vật nghi lễ cho cưới xin, như muốn nói lên một điều mong muốn bền vững cho lứa đôi?

Trồng cau được nhiều lợi ích. Cau trổ buồng về đêm. Một đêm yên tĩnh, cái mo cau rụng xuống, là lúc cái buồng cau và hoa cau nở xòe và tỏa hương thơm cho đêm trường. Cau một năm bốn mùa hoa trái. Mỗi mùa cau, buồng trổ trước được gọi buồng chị, buồng trổ sau gọi buồng em. “Buồng chị – buồng em”, nghe thân thương như mấy chị em nhà nọ! Từ khi cau trổ buồng, người ta theo dõi buồng cau lớn lên mỗi ngày: Thuở đầu là cái “quả cau nho nhỏ / cái vỏ vân vân” (Ca dao), cho tới khi cau chín, vỏ ngã từ màu xanh đậm sang màu đỏ tươi. Chẳng biết bác nông dân nào giỏi liên hệ, đặt tên cho phần chóp của quả cau là cái cau? Và lũ trẻ nhỏ các xóm quê vẫn vừa chơi “đánh trổng âm u” vừa hát: “Hú hồ…hú hột / Cơm sốt cơm nhão / Cá đão hồng đơn / Cá sơn, cá diếc / Cá liệt ăn trầu / Bỏ cau bỏ vú / Vú già vú non / Có đứa cầm hòn / Mà u mà chạy / Chạy thẳng vườn cau / Mà ngồi mà nghỉ…” (Đồng dao). Buồng cau không chờ chín mới hái mà hái lúc nào, tùy ở nhu cầu. Vào bữa cưới xin, thì cần một buồng cau xanh, nhưng phải là cau dầy (cau vừa nhai, không phải cau non mà cũng không phải cau già) để xong lễ, theo tục lệ, cầm đi biếu bà con, hàng xóm. Nhai trầu thì nhai cau tươi (cau dầy) hoặc cau khô ngâm nước cho mềm. Gặp khi cau nhiều quá, nhai tươi không hết, thì đem bổ ba, bổ bốn, phơi khô để dành nhai dần.

Đời là một cuộc đổi thay. Trải nhiều năm nay, lớp người ăn trầu ít dần, cây cau bị bỏ quên. Người ta chỉ trồng cau cảnh, và có ai đó vì “thương hoài ngày xưa” của bà mình, đã không chặt hạ cây cau đứng trong sân. Ngày nay, nghe nói có chỗ thu mua quả cau tươi, cho nên ở vài nông thôn, vài hộ nông dân bắt đầu để ý tới cây cau: cau được trồng và chăm sóc trở lại. Nhớ hồi 9 năm kháng chiến (1945 – 1954), bộ đội, dân quân sắm ống cau khô, ống muối hột đeo bên hông làm thuốc cứu thương dự phòng, thay thuốc kháng sinh.

Trên đây mới nói về hữu ích của hột cau. Cây cau, còn bao hữu ích nữa: Thân cau làm cột nhà, bắc cầu phập phù qua mương nước, sả dọc làm đòn tay nhà, chẻ nan đan rá cải, bọc vườn rau, chận lũ gà xộc vào bươi bới. Tàu cau tước lấy sống lá bó chổi, lấy mo làm gàu xách nước (uống cho mát), làm quạt mo quạt phành phạch lúc đêm Hè, nắm cơm dỡ cho người đi đường xa. Nhớ thuở đi học trường Tiểu học xa nhà, sáng nào tôi cũng được má dậy sớm, nấu cơm dỡ, nắm trong mo cau cấp cho tôi mang đi học. Thường, má vẫn gói kèm theo nắm cơm bì muối đỗ (có khi bì muối mè). Tôi cũng không quên kỷ niệm những lần chờ đợi chiếc tàu cau từ màu xanh chuyển sang màu vàng, rụng xuống, để kịp nhặt lấy, làm con ngựa tàu cau cỡi quanh sân nhà mình, rồi quành ra ngõ xóm để chơi với bạn.

Dầu sao, lợi ích văn hóa, tinh thần của cau mới đáng kể hơn. Từ ngàn xưa, đã có sự tích trầu cau để “vinh danh” một mối tình ngang trái mà chung thủy. Ông bà mình vẫn lấy “Miếng trầu là đầu câu chuyện” (Tục ngữ) trong mọi lễ nghi, ứng xử, tiếp đãi nhau. Để nên miếng trầu, không thể thiếu miếng cau (vẫn đi với trầu và cả miếng vôi, miếng rễ…). Ông tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo chống Pháp, hồi kháng thuế (1908) ở Bình Định, bị Công sứ Pháp và Tổng đốc Bình Định bắt bỏ tù. Ở trong lao tù chịu nhiều thiếu thốn, ông thường than vãn: “Có miếng trầu mà không miếng cau / Có miếng rễ mà không miếng thuốc” (Vè ông Tiến sĩ). Trong tình yêu nam nữ ngày xưa, không thể thiếu miếng trầu, miếng cau. Nhờ có nó mà tình yêu trở nên thi vị: “Trầu xanh, cau trắng, chay (quả chay) hồng / Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên” (Ca dao) “Nhà em có một giàn giầu / Nhà tôi có một hàng cau liên phòng / Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông / Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?” (Tương Tư – Nguyễn Bính). Lễ hội mùa Xuân – mời trầu là dịp cho nam nữ thanh niên gặp gỡ và trao nhau duyên mới trong cảnh đất trời tươi đẹp của mùa xuân mới. Xưa nay, cái quạt lông gà của ông quân sư Khổng Minh thì được người ta khen, còn cái quạt mo của mấy ông thầy dùi  bày dại, bị người ta mắng: “Đồ quân sư quạt mo”. Cái quạt mo của thằng Bờm, dẫu xưa mà thời nào cũng có người thích đi tìm một lời giải mã mới cho câu chuyện.

Chuyện bên lề của cây cau là trèo cau, bẻ buồng. Tôi dám chắc, là trẻ thơ trong các làng quê, ít chú nào không một lần trèo cau. Trèo cau bẻ buồng, thì người lớn không sai bảo, vì sợ nguy hiểm. Nhưng mấy chú bé tinh nghịch vẫn lén người lớn mà trèo cau bắt tổ chim non. Chim sáo, chim sẻ… vẫn làm tổ trên ngọn cây cau. Một tổ chim bị bắt đem đi mất, là trong vườn diễn ra một cảnh chim trời tao tác, bay đi tìm chim non thất lạc, nhưng thường là vô vọng. Người hái cau “không chuyên” tròng cái nài (làm bằng bẹ chuối khô) vào đôi bàn chân mà cứ nhún nhảy tại chỗ, lưng tom lại, hai tay ôm ghì thân cau, mặt ngước nhìn đọt cau, không chịu trèo. Vì anh ta nhát. Trái lại, người trèo cau “chuyên nghiệp”, không cần nài, thoắt cái, anh ta đã ở trên ngọn cây, bẻ buồng, cột dây thả xuống. Trong vườn cau liên phòng rậm rạp, các ngọn cau giao nhau. Bởi đó, người hái cau cứ nhẹ nhàng, nhanh nhẹn chuyền từ đọt cây cau này sang đọt cây cau kia, khỏi mất công trèo lên tuột xuống nhiều lần. Trẻ con thành phố mà về quê, nhìn thấy anh “thợ” hái cau chuyền trên đọt cây cau, đàng nào cũng liên hệ tới mấy chú khỉ leo trèo không ngớt trong sở thú, trong thảo cầm viên chú thường ra chơi.

Chợ quê ngày xưa, sắp bày một dãy hàng cau. Người mua đông, vì nam giới, nữ giới đều ăn trầu, biếu trầu, mời trầu nhau. Đến cuối năm là mùa cưới, hàng cau bán khá chạy. Người mua cau cho đám cưới hỏi, thường mua nguyên buồng trăm trái, có dư. Ý chúc cho đôi lứa sánh duyên được câu “Bách niên giai lão” có dư. Người mua cau ăn, mua vài chục trái. Người mua cau sỉ, tính cau bằng thiên (= ngàn) trái. Chắc ngày xưa, ông Biện Nhạc buôn trầu, không khỏi  kèm theo mua sỉ bán lẻ cau tươi? Chọn cau, thường người ta chọn buồng trái mởn đều mà xanh đậm, vú cau tròn đều mướt rượt. Người mua cũng cần bổ cau cho xem hột. Cau được bổ bằng dao cau (con mắt dao cau là con mắt sáng, hay liếc). Cái dao cau thật sắc, bổ cau phải ngọt xớt, không cho bị nhầy nát ruột cau. Trái cau phơi ruột ra đó, cho người xem: trắng, mịn, mềm, vừa nhai, không sâu đục…là cau ngon.

Những hàng cau, bụi tre, bến nước, mái đình…tạo nên mảnh hồn làng thiêng liêng, người ta lấy đó làm cội nguồn, biết đâu là nguồn cội của mình: “Sao anh không về chơi thôn Vỹ / Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên” (Đây thôn Vỹ Dạ – Hàn Mạc Tử). Quê tôi bây giờ, cũng như nhiều quê khác, cây cau còn lại rất ít và cũng khó gặp người ăn trầu. Tôi nhớ những hàng cau liên phòng, những vườn cau xanh chim chóc bay về.

H. K. B

 

Read Full Post »

Thôn An Thái, xã Nhơn Phúc, huyện An Nhơn là nơi mà không gian văn hóa, lịch sử đậm chất xứ Nẫu. Không phải chỉ vì đây là làng võ, làng nghề, là nơi trầm tích các nền văn hóa mà còn vì chất hồn hậu của đất và người nơi đây, khiến người ta cứ dùng dằng đi – ở…

 

Chùa Bà ở An Thái được xây dựng từ năm 1760. 

Nghe tôi hỏi về những nét văn hóa truyền thống của vùng đất An Thái còn gìn giữ đến nay, cụ Lâm Mười (78 tuổi), Chi hội trưởng Chi hội Người cao tuổi thôn An Thái, người hiểu rõ về An Thái, trầm ngâm một hồi… rồi đề nghị tôi cùng đi tham quan một vòng làng quê thay cho câu trả lời.

Chúng tôi đi qua những con đường làng nhỏ, rợp mát bóng cây, ngắm nhìn những ngôi nhà xưa cũ mái ngói rêu phong, đặc biệt là các ngôi chùa. Vừa đi cụ Mười vừa giới thiệu về các chùa ở đây như chùa Bà, chùa Ông, chùa Bà Hỏa, chùa Hội Quán, chùa Phổ Tỉnh, chùa Bửu Quang. “An Thái tự hào đã gìn giữ được nhiều ngôi chùa cổ hàng trăm năm qua. Mỗi ngôi chùa cổ đều là một di tích kiến trúc nghệ thuật, thể hiện sự đan xen, hòa hợp để tạo nên sự đa dạng riêng trong bản sắc văn hóa truyền thống của người dân An Thái!” – cụ Mười tâm sự. Điều đáng lo là gánh nặng thời gian đã khiến các ngôi chùa cổ đã có dấu hiệu xuống cấp, nhưng đến nay mới chỉ có chùa Hội Quán là đang chuẩn bị trùng tu, tôn tạo nhờ nguồn vốn huy động từ cộng đồng.

An Thái từng là nơi phồn thịnh bậc nhất của tỉnh Bình Định. Bây giờ An Thái khá khuất nẻo, nhưng nhiều ngôi nhà cổ được xây dựng công phu, hoành tráng đã lặng lẽ thuyết minh cho thời vàng son này. Ngôi nhà xưa nhất còn được gìn giữ tương đối toàn vẹn ở An Thái là ngôi từ đường họ Lâm. Từ đường họ Lâm hiện khoác “lớp áo” bê tông bảo vệ bên ngoài, nhưng bên trong vẫn còn đầy đủ chi tiết nguyên bản của một ngôi nhà cổ, với những cột kèo bằng gỗ, họa tiết chạm trổ, khám thờ… Ông Lâm Kỳ Ngoạn, Trưởng tộc họ Lâm, cho biết: “Theo gia phả của dòng họ thì từ đường được xây dựng từ năm 1862, trải qua nhiều đời, gian nhà thờ chính đến nay vẫn được gìn giữ tốt theo đúng nguyên bản”.

Từ đường họ Lâm còn giữ được nguyên vẹn kiến trúc cổ. 

Nghề xưa ở An Thái đã mai một khá nhiều. Nhưng những nghề còn lại như nghề làm bún, bánh tráng lại phát triển rất mạnh. Loại bún nổi danh bậc nhất của An Thái là bún song thằn, nhưng loại bún này chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ so với nhiều loại bún khác như bún gạo, bún mì, bún vắt, bún vàng, bún lá… Ở An Thái, nhiều hộ làm bún quy mô lớn có ngày sử dụng đến cả tấn gạo, sản phẩm làm ra được tiêu thụ khắp nơi. Làng bún, bánh An Thái đã được công nhận làng nghề truyền thống năm 2009, hiện đang chuẩn bị xây dựng khu làng nghề để phát triển hơn nữa nghề truyền thống.

An Thái có truyền thống thượng võ lâu đời, sản sinh ra nhiều nhân tài võ học. Vậy nhưng, trong khi làng Thuận Truyền kế bên vẫn còn gìn giữ được phong trào luyện tập võ thuật, thì ở An Thái đang lụi dần. Sau khi võ sư Lâm Ngọc Phú mất đi, An Thái hiện không còn ai dạy võ. Hy vọng được nhen nhóm lên năm ngoái khi võ sư Diệp Lệ Bích – Chưởng môn Bình Thái Đạo –  từ nước ngoài về chiêu sinh dạy võ tại chùa Hội Quán, đã thu hút khá đông người dân An Thái theo học. Đáng tiếc, mấy tháng gần đây, lớp học này cũng đã tạm nghỉ. “Làng võ An Thái” xem ra chỉ còn là hoài niệm.

  • Hoài Thu (Baobinhdinh)

Read Full Post »

« Newer Posts