![]() |
| Cá dìa nướng muối ớt. |
![]() |
| Cua Huỳnh Đế. |
![]() |
| Tôm nướng. |
![]() |
| Lẩu hải sản thập cẩm. |
![]() |
| Cá ninja ăn ngon như thịt gà ta. |
![]() |
| Gỏi da cá nhám. |
![]() |
| Cá mặt quỷ. |
![]() |
| Cá bốp kho tộ. |
![]() |
| Bánh hỏi cháo lòng. |
![]() |
| Các loại bánh truyền thống của Bình Định. |
![]() |
| Bánh ít lá gai. |
Archive for the ‘Xứ Nẫu, Người Nẫu’ Category
Một số món ngon ở miền Bình Định qua ảnh của Nguyễn Trọng Khoa.
Posted in Ẩm thực, Xứ Nẫu, Người Nẫu on Tháng Chín 4, 2011| 38 Comments »
Tình nem đất võ
Posted in Ẩm thực, Xứ Nẫu, Người Nẫu on Tháng Chín 3, 2011| 35 Comments »
TTO – Người Bình Định tha hương sau chuyến thăm nhà thường mang theo một vài thứ phong vị quê mình, trong đó không thể thiếu nem chua. Du khách về vùng đất võ, trước khi rời xa ai cũng cố tìm mua vài chục nem chua làm quà cho người thân.
| Nem chua Bình Định – Ảnh: T.L. |
Nói Bình Định là xứ sở của nem chua quả không ngoa. Suốt quốc lộ 1A ngang qua huyện lỵ Tuy Phước hay trên những con phố dài Quy Nhơn, người đi đường dễ dàng bắt gặp nhiều quán bày bán đặc sản nem chua với nhãn hiệu quen thuộc: Năm Thu, Bốn Lai, Bốn Tạo… Ở nơi này hầu như nhà nào cũng có thể làm nem. Tuy nhiên, để có một chiếc nem đặc trưng của đất Bình Định, người chế biến phải tuân thủ nhiều nguyên tắc nhất định, bắt đầu từ khâu chọn nguyên liệu.
Người ta chọn những con lợn cỏ đã vừa tầm làm thịt (không quá già, không quá non, chỉ nặng trên dưới 10 kg). Lóc lấy những thớ thịt tươi (cón nóng hổi), lau khô bằng vải sạch, lạng bỏ gân và lớp nhầy rồi dùng dao thật bén xắt ra từng lát mỏng. Công đoạn xắt thịt cũng là một “nghệ thuật”, phải xắt mỏng đến mức… tận cùng. Thịt xắt xong cho gia vị như muối, tiêu, đường, một ít bột ngọt, sau đó bỏ tất cả vào cối quết nhuyễn, càng quết săn tay càng ngon.
Các loại gia vị phải đúng liều lượng, nếu mặn quá sẽ ăn mất ngon, nhạt quá nem sẽ không thấm. Phần da heo xắt sợi mảnh (như cọng bún hoặc hột lựu) trộn đều trong thịt nhuyễn, không quên thêm vài hạt tiêu.
Thịt sau khi đã quết chỉ cần dùng lửa than nướng là được món nem tươi. Khi nem sủi bọt, nhỏ từng giọt gia vị xuống bếp than hồng kêu xe xè, thơm ngây ngất thì nhanh tay nhấc khỏi bếp. Người ăn thưởng thức nem tươi kèm với rau mùi, tía tô, rau răm, chuối, khế xắt nhỏ, hoặc cuốn với bánh tráng mỏng để cảm nhận cái dai, cái giòn của món đặc sản này.
Nếu nem tươi là món ăn liền, muốn để dành hoặc làm quà cho người thân thì mua nem chua. Nem chua cầu kỳ hơn ở công đoạn gói với mục đích bảo quản chiếc nem thơm ngon trong thời gian dài. Người ta chọn từng chiếc lá ổi non xanh, loại bỏ lá già, sâu, rọc từng tờ lá chuối đếm phơi nắng cho dịu, chẻ lạt rồi vuốt thật mỏng để buộc nem (có thể dùng dây nhựa thay thế).
| Những miếng nem vừa bóc trông thật hấp dẫn – Ảnh: T.L. |
Nem muốn gói to hay nhỏ thì tùy ý nhưng phải bọc trước bằng lá ổi non để tạo mùi thơm. Vốc một muỗng thịt vào bàn tay, nắn thành từng miếng nho nhỏ, vuông vuông quấn lá ổi quanh thịt. Xé lá chuối thành miếng có bản rộng bằng chiều dài miếng thịt, quấn lại nhiều vòng quanh lá ổi, bẻ gập chéo hai đầu lá chuối ta được một chiếc nem, lấy dây buộc chặt. Bảo quản nem nơi thoáng mát, vài ngày sau là có thể sử dụng.
Một số gia đình thay lá ổi bằng lá vông, thứ cây thuốc này vừa làm đẹp cho chiếc nem vừa tạo mùi vị hấp dẫn, thịt lại thơm ngon và dịu hơn.
Những ai từng đến vùng đất võ tha hồ ngắm tháp chàm, thành Đồ Bàn… rồi thưởng thức nhiều món ngon. Chắc hẳn khó có thể quên được vị bánh hỏi thơm nồng, hương quê mộc mạc của bánh ít lá gai hay mùi rượu bầu đá nồng nàn… và cả những chiếc nem nhỏ tí mà hội tụ đủ vị chua, cay, mặn, ngọt của tình người nơi đây.
THANH LY
Lịch sử hình thành và phát triển của một ngôi trường
Posted in Xứ Nẫu, Người Nẫu, tagged Võ Xuân Đào on Tháng Chín 2, 2011| 36 Comments »
Ngày 4/9/2011 tại thành phố Quy Nhơn sẽ diễn ra lể kỷ niệm 90 năm thành lập trường Cường Để-Quốc Học,nhân dịp này chúng tôi xin giới thiệu chuyên luận khảo cứu công phu của bạn Võ Xuân Đào cựu học sinh Cường Để niên khóa 68/75 về Lịch sử hình thành và phát triển của trường.
Ở miền Nam trước đây, khi đề cập đến chuyện học, dù cho người ấy không biết hay chưa đặt chân đến địa phương đó cũng có thể nói ngay tên trường; hoặc ngược lại, chỉ cần nói là học trò trường nào, người đối diện sẽ nói rõ địa phương mà trường đó trú đóng, không cần phải cụ thể là học sinh trường nào, ở đâu; chẳng hạn chỉ cần nói là nữ sinh Gia Long hay nam sinh Pétrus Ký, người ta biết đó là Sài Gòn; Trần Hưng Đạo, Bùi Thị Xuân họ liên tưởng đến Đà Lạt; nói đến Huế, người ta biết Quốc Học hoặc Đồng Khánh; đề cập đến Quãng Ngãi, người ta nghĩ đến trường Trần Quốc Tuấn; nói trường Phan Chu Trinh, họ sẽ bảo đó là Đà Nẵng; nói trường Tăng Bạt Hổ, họ sẽ nghĩ ngay đến Bồng Sơn (Hoài Nhơn – Bình Định); nói đến Qui Nhơn họ đề cập đến trường Cường Để hoặc Nữ trung học Ngô Chi Lan … không một chút nhầm lẫn về tên trường hay địa phương. Vì sao vậy? Có sự liên tưởng lô – gíc như vậy, theo chúng tôi, đó là vì:
1) Địa phương đó có những danh lam, thắng cảnh nổi tiếng hoặc gắn với phong trào lịch sử mà ai cũng biết (chẳng hạn Đà Lạt có thác Prenn, Huế là cố đô triều Nguyễn, Quãng Ngãi có Thiên bút phê vân (bút vẽ trời mây), Thiên ấn niêm hà (Ấn trời đóng trên sông), Cổ Lũy cô thôn…, Qui Nhơn có những tháp Chàm cổ kính, là nơi có những nhà thơ tiền chiến nổi tiếng v.v…),
2) Tên trường là tên các danh nhân lịch sử của các triều đại hoặc tên của những chí sĩ cách mạng, và nó không trùng lắp với tên trường ở một địa phương khác,
3) Trong quá trình làm nhiệm vụ giáo dục của mình, trường đã đào tạo được nhiều thế hệ học sinh ưu tú (trong các kỳ thi trung học đệ nhất cấp, Tú tài 1, Tú tài 2… luôn có tỷ lệ và thứ hạng cao), những người không chỉ làm rạng danh ngôi trường mình theo học, địa phương mình sinh sống mà làm sáng ngời cả non song đất nước
khắp nơi trên thế giới,
4) Trường có nhiều thầy, cô giỏi, dạy hay bằng cả tâm huyết của mình, không chỉ truyền dạy cho học sinh kiến thức mà cả kỹ năng sống ở đời.
Để giúp các bạn có được những nét cơ bản nhất trong quá trình hình thành và phát triển của mái trường mình đã theo học trong những năm tháng ấu thơ, một ngôi trường mà chỉ cần nói hai tiếng Cường Để, người ta nghĩ đến Qui Nhơn hoặc ngược lại nói đến Qui Nhơn, người ta nghĩ ngay đến trường Cường Để
Võ Xuân Đào
Bài viết này không phải là một chuyên đề tìm hiểu, nghiên cứu về giáo dục của miền Nam trước 30/4/1975 nói chung hay triết lý giáo dục nói riêng nhằm tụng ca hay chê trách một định chế giáo dục nào, mà chỉ là sự tổng hợp lại những tư liệu, bài viết về quá trình hình thành và phát triển của trường Trung học Cường Để đã được đăng rải rác trong một số báo chí, đặc san. Song, để chúng ta có một cái nhìn khái quát về nền giáo dục của miền Nam trước đây mà mỗi một người trong chúng ta đã “gọt giũa” trong định hướng giáo dục đó suốt 12 năm (từ lớp 1 đến lớp 12) và tự hào hơn nữa được là học sinh của ngôi trường thân yêu “Cường Để – Quy Nhơn”, xin được khái quát về triết lý và mục tiêu giáo dục của miền Nam trước 30/4/1975 trước khi đi vào nội dung chính.
Triết lý giáo dục
Trên thế giới, mỗi một quốc gia, một chế độ sau khi hoàn thành việc lập quốc đều xây dựng triết lý giáo dục để làm kim chỉ nam cho những hoạt động liên quan đến giáo dục và đào tạo con người, kiến tạo và phát triển đất nước mình; Việt Nam ta cũng không ra ngoài quy luật ấy. Và nếu thời phong kiến, giáo dục của Việt Nam lấy: NHÂN, NGHĨA, LỄ, TRÍ, TÍN làm kim chỉ nam cho nền giáo dục của quốc gia để đào tạo con người sống và hành xử mọi việc theo nền tảng “Quân, Sư, Phụ” của Khổng tử, Lão tử và Nho gia; thời Hoàng đế Bảo Đại tại vị, với chương trình giáo dục do Phạm Quỳnh đưa ra định hướng ĐỨC DỤC – THỂ DỤC – TRÍ DỤC, mục tiêu để đào tạo con người có nhân cách trong một thân xác khỏe mạnh và một trí tuệ minh mẫn sống hài hòa trong tình tự dân tộc; thì, sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập vào năm 1945, chương trình học của Việt Nam – còn gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn (ban hành thời thủ tướng Trần Trọng Kim) – được đem ra áp dụng ở miền Bắc và miền Trung, nền giáo dục Việt Nam chuyển hướng rộng rãi và phổ quát trong toàn xã hội với triết lý DÂN TỘC – KHOA HỌC – ĐẠI CHÚNG. Định hướng giáo dục này nhằm phổ cập đến toàn dân lòng ái quốc, tình yêu quê hương đất nước với phương châm: “Học sinh trường ta ngày nay là dân Việt Nam ngày mai”, theo đó tính Dân tộc là một giá trị trường tồn và nó phải được bảo vệ bằng mọi giá để chống lại ảnh hưởng ngoại lai hầu bảo tồn nên Văn Hóa Dân Tộc và đồng thời duy trì bản sắc Việt tộc của mình (1). Riêng miền Nam, vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950 (2). Sau năm 1954, Việt Nam bị chia cắt làm hai, từ vĩ tuyến 17 trở ra thuộc chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa; từ vĩ tuyến 17 trở vào thuộc chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, triết lý giáo dục của chính quyền miền Nam được hình thành tại đại hội giáo dục toàn quốc năm 1958, dưới thời Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Trần Hữu Thế, dựa trên ba nguyên tắc: NHÂN BẢN – DÂN TỘC – KHAI PHÓNG (tại đại hội quốc gia giáo dục lần thứ II năm 1964 dưới thời đệ nhị cộng hòa, triết lý giáo dục này được tái xác nhận) làm kim chỉ nam cho toàn bộ hoạt động giáo dục của mình cho đến 30/4/1975.
- Nhân bản (humanistic): giáo dục coi con người là cứu cánh, tôn trọng giá trị thiêng liêng của con người, lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản.
- Dân tộc (nationalistic): giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp và quốc gia, phù hợp với văn hóa, phong tục, đạo đức Việt Nam.
- Khai phóng (liberal): giáo dục theo phương pháp khoa học, nội dung khoa học, theo đà tiến bộ của nhân loại và tôn trọng giá trị các quốc gia khác (3),(4).
Từ những nguyên tắc căn bản trên, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đề ra những mục tiêu chính cho nền giáo dục của mình, đó là:
- Phát triển toàn diện mỗi cá nhân. Trong tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của cá nhân học sinh, giáo dục hướng vào việc phát triển toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính tự nhiên của mỗi người và theo những quy luật phát triển tự nhiên cả về thể chất lẫn tâm lý. Nhân cách và khả năng riêng của học sinh được lưu ý đúng mức. Cung cấp cho học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện để học sinh phán đoán, lựa chọn; không che giấu thông tin hay chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếu trung thực để nhồi sọ học sinh theo một chủ trương, hướng đi định sẵn nào.
- Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh. Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sống, và lối sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; giúp học sinh học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết nét đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực và tự lập.
- Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học. Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh tổ chức những nhóm làm việc độc lập qua đó phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; giúp học sinh phát triển óc phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; giúp phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học; giúp học sinh có khả năng tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhân loại.(5)
Những mục tiêu ấy được đề ra là để nhằm trả lời cho câu hỏi: Sau khi nhận được sự giáo dục, người đi học sẽ trở nên người như thế nào đối với cá nhân mình, với gia đình, quốc gia, xã hội, và nhân loại?
Sự hình thành và phát triển của một ngôi trường.
Từ chuyện học hành
BUỔI BAN ĐẦU: trường Pháp – Việt
Kể từ năm 1917, chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam đã thiết lập một hệ thống giáo dục thống nhất cho cả ba miền Nam, Trung, Bắc Việt Nam cũng như cả Lào và Cao Miên (Campuchia). Hệ thống giáo dục thời Pháp thuộc có ba bậc: tiểu học, trung học và đại học. Chương trình học là chương trình của Pháp, với một vài sửa đổi nhỏ áp dụng cho các cơ sở giáo dục ở Việt Nam, trong đó tiếng Pháp là ngôn ngữ chính, tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ phụ (6). Và nhằm mục đích “truyền bá, mở mang và phát triển văn hóa mẫu quốc đến các nước thuộc địa” (thực chất chủ tâm của người Pháp là muốn cắt đứt liên lạc văn hóa giữa người Việt với người Trung Quốc vì họ nhìn thấy quá khứ Việt Nam nặng về Hán học; mục đích chính là hướng tinh thần người Việt về với Pháp, chữ Hán cũng như chữ Nôm cần phải triệt bỏ và thay thế bằng chữ Pháp, và cũng để đào tạo lớp công chức làm việc cho bộ máy cai trị của chính phủ Pháp cùng chính phủ bảo hộ Nam triều) chính phủ Pháp đã cho thành lập các trường học trên khắp ba miền Nam – Trung – Bắc của đất nước ta. Cụ thể, ở Nam kỳ có trường Collège Indigène (trung học bản xứ), sau đổi thành Collège Chasseloup Laubat là tiền thân của Trường Trung học Lê Quí Đôn được chính phủ Pháp cho thành lập vào năm 1874, Collège de Mỹ Tho (sau này đổi thành Trung học Nguyễn Đình Chiểu) thành lập vào năm 1879, trường Nữ sinh Gia Long, nay là phổ thông trung học Nguyễn Thị Minh Khai được thành lập vào năm 1913, trường Pétrus Trương Vĩnh Ký (nay là phổ thông trung học chuyên Lê Hồng Phong) được đưa vào hoạt động năm 1927; ở Bắc kỳ có trường Bưởi (nay là phổ thông trung học Chu Văn An) được thành lập vào năm 1908; thì ở Trung kỳ, có trường Quốc học Huế được thành lập vào năm 1896, trường Nữ sinh Đồng Khánh (Huế) được thành lập vào năm 1917, đến năm 1920 chính phủ Pháp cho thành lập trường Collège de Vinh (sau này đổi thành Quốc học Vinh) và năm 1921 thì Ecole Elémentaire Franco – Annamite Cours Complémentaire tiền thân của trường Trung học Cường Để sau này và trường Quốc học Qui Nhơn hiện nay được hình thành. Còn các trường khác như trường Phan Châu Trinh tại Đà Nẵng mãi đến năm 1952 mới được thành lập, Trung học Võ Tánh tại Nha Trang được ra đời vào năm 1953.
Tháng 9 năm 1921, trường Ecole Elémentaire Franco – Annamité Cours Complémentaire (trường tiểu học Pháp – Việt) tại Qui Nhơn được thành lập và đóng tại khu vực trường nữ học, sau này là Trường tiểu học Ấu Triệu (nay là trường tiểu học Lê Lợi) ở đầu đường Tăng Bạt Hổ, khi thành lập trường có từ lớp năm đến lớp nhất và một lớp đệ nhất niên (Cours de Première Année) hệ cao đẳng tiểu học (Primaire supérieur) với 30 học sinh. Song song với lớp đệ nhất niên, có một lớp sư phạm sơ cấp để đào tạo giáo viên sơ học, do ông Guyaume Henri Rivière người Pháp làm Hiệu trưởng.
|
|
Niên khóa 1922 – 1923 trường dời về khu vực ngã ba Công Quán – Collège – Ga Qui Nhơn (khu vực trường tiểu học Lê Hồng Phong đường Nguyễn Công Trứ, trung học cơ sở Lê Hồng Phong đường Lê Hồng Phong – Mai Xuân Thưởng (đường Henry Russier) và khách sạn Thanh Bình hiện nay), mặt chính của trường hướng ra đại lộ Odend’hal (Lê Hồng Phong) lấy tên là “Collège de Quy Nhon” và mở lớp đệ nhị niên bậc trung học (Cours de 2ère année). Khuôn viên trường khá rộng nằm ở ngã ba Công quán – Collège – Ga xe lửa Quy Nhơn, nay là phía nam đường Lý Thường Kiệt – bắc đường Nguyễn Công Trứ; trước mặt trường là đại lộ Odend’hal, phía tây là đường lên ga xe lửa Quy Nhơn thẳng vào xóm Bàu đến thôn Xuân Quang, phía đông là xóm Động và biển, phía sau là động cát và rừng phi lao. Riêng sân vận động của trường kéo dài hơn một nửa sân qua phía tây đường Trần Phú hiện nay (Cường Để cũ) mà thời ấy đường này chưa có. Trường có nhà ở nội trú thu nhận học sinh ở xa, học sinh người dân tộc, học sinh giỏi được học bổng; có nhà bếp, nhà ăn, nhà chơi có mái che, nhà vệ sinh, xưởng mộc, phòng thí nghiệm, bệnh xá, văn phòng, thư viện, nhà ở đốc Tây, nhà ở Tổng Giám thị v.v… Sân trường khá rộng có đủ xà đơn, xà kép, sân bóng chuyền, bóng rổ … Hiệu trưởng là ông Daydé, trong thời gian làm Hiệu trưởng, Daydé xây dựng Phòng khoa học mang tên ông (Salle Daydé) với đầy đủ trang thiết bị trực quan và thí nghiệm khoa học. Phòng thí nghiệm là một ngôi nhà xây, nền đá đúc kiên cố, đứng riêng một mình để thực hiện các thí nghiệm vật lý, hóa học và sinh vật. Phòng gồm 2 phần: phía nam là phòng chính rộng rãi hơn, nhiều cửa sổ thoáng mát. Bàn thầy giáo dài được đúc bằng xi măng, trên mặt lát gạch men trắng bóng đủ chỗ bố trí các dụng cụ, vật liệu, mô hình… khi lên lớp, nằm ở đầu phía bắc phòng; bên tay trái có một vòi nước trên bàn. Đối diện với bàn giáo viên là những bậc tam cấp cũng được đúc bằng xi măng theo hình cánh cung đi dần từ thấp lên cao (7). Đến năm 1923 trường không mở tiếp lớp đệ tam niên, nên học sinh, sau khi học xong năm học nhị niên phải ra Huế vào trường Collège Khải Định (sau đổi là trường Quốc Học Huế) học tiếp.
Niên khóa 1926 – 1927 trường hoàn chỉnh cấp cao đẳng tiểu học (trung học đệ nhất cấp), có đủ 10 lớp từ lớp 5 (Cours Enfantin – lớp 1) đến đệ tứ niên (Cours Quatrième Année – lớp 9) và được đổi tên thành “Collège De Plein Exercice de Quy Nhon”. Bộ phận đồng ấu (tiểu học) được tách riêng thành một trường khác đặt tại khu vực nay là Sở Giáo dục và Đào tạo (trước 30/4/1975 lần lượt là Ty Tiểu học, Sở Học chánh, Ty Văn hóa Giáo dục và Thanh niên). Năm 1931, ông Salle Daydé nghỉ hưu, về Pháp, ông Bourguignon được cử về làm Hiệu trưởng.
Khu vực trường Collège de Qui Nhon thời Pháp thuộc (ngã ba công quán).
Thời gian này có hai sự kiện lớn đến với trường:
1) Vua Bảo Đại sau 10 năm học tập ở Pháp trở về nước đi tuần du các tỉnh phía Bắc và phía Nam Trung bộ, ghé thăm trường,
2) Năm 1932 một cơn bão rất mạnh đã tàn phá Quy Nhơn rất nặng (nhiều nhà đổ, nhiều người chết), trường bị hư hại nặng (nhà ăn của ký túc xá, trạm xá sập, mái ngói tốc hết), học sinh phải nghỉ học một thời gian để sửa chữa.
Năm 1934 giáo sư Casimir Michel, cử nhân toán học Đại học Paris được điều động về làm Hiệu trưởng. Năm 1936 thầy Huỳnh Văn Gi là Tổng Giám thị và dạy môn Lý – Hóa. Năm 1937 thầy Lebrist được cử thay thầy Casimir Michel làm Hiệu trưởng và dạy môn Văn. Niên khóa 1939 – 1940 thầy Grégorie được cử về làm Hiệu trưởng. Các thầy cô giáo của trường có cả người Pháp lẫn người Việt.
Pháp chia nền giáo dục Tiểu học thành 7 năm học: muốn vào lớp Năm (lớp 1) phải theo học từ một đến hai năm Dự Bị, tương đương với Mẫu giáo (École Maternelle). Trường Collège de Quy Nhơn là trường duy nhất ở Nam Trung bộ chia thành 3 cấp, học bằng tiếng Pháp:
a) Sơ học yếu lược gồm 3 lớp: lớp năm (Cours Enfantin) còn gọi là lớp đồng ấu, lớp tư (Cours Préparatoire) còn gọi lớp dự bị, lớp ba (Cours Élémentaire) còn gọi là lớp sơ đẳng.
b) Tiểu học gồm 3 lớp: lớp nhì đệ nhất (Cours Moyen Première Année), nhì đệ nhị (Cours Moyen Deuxiemè Année) và lớp nhất (Cours Supérieu). Cao đẳng tiểu học (Primaire Supérieu) gồm 4 lớp: đệ nhất niên, đệ nhị niên, đệ tam niên và đệ tứ niên.
Rồi Collège Võ Tánh.
Đến năm 1944 trường mới đủ tám lớp (2 nhất, 2 nhị, 2 tam và 2 tứ niên) với sĩ số là 320 học sinh. Học sinh chủ yếu là người từ các tỉnh từ Đà Nẵng vào đến Phan Thiết và khu vực Tây Nguyên, học sinh có cả người kinh và một số ít là người thiểu số. Cũng trong năm này trường được đổi tên thành “Collège Võ Tánh” do thầy Boularand làm Hiệu trưởng, thầy Huỳnh Văn Gi làm Tổng Giám thị cho đến ngày 09/3/1945 Nhật đảo chính Pháp. Sau ngày này, Nhật thay Pháp nắm chính quyền ở Đông Dương, Hiệu trưởng và các giáo sư người Pháp đều bị bắt, thầy Huỳnh Văn Gi, Tổng Giám thị được chỉ định giữ chức Hiệu trưởng thay thế thầy Boularand cùng với một số giáo sư người Việt tiếp tục hoạt động cho đến tháng 8 – 1945. Sau cách mạng tháng 8 – 1945, dưới chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, chính quyền ban hành lệnh đầu phiếu và ra lệnh cho giáo sư, nhân viên của trường bầu Hiệu trưởng, thầy Huỳnh Văn Gi đắc cử. Đầu tháng 10 nhà trường khai giảng và thu nhận tất cả học sinh công, tư các nơi vào, nhưng sau vài tuần thì chiến tranh Việt – Pháp mở màn, thành phố Qui Nhơn bị oanh tạc, trường phải dời ra An Lương (xã Mỹ Chánh, huyện Phù Mỹ) và được thiết lập trong một ngôi trường tiểu học, mở đủ 4 lớp bậc trung học nhưng sĩ số chỉ vỏn vẹn 41 học sinh. Thành phần giáo sư rất dồi dào năng lực.
Năm 1946, theo lệnh tiêu thổ kháng chiến, triệt để tản cư, cơ sở của trường ở Quy Nhơn đã bị phá thành đất bằng.
Năm 1947 Pháp đổ bộ lên An Lương, đốt phá trường sở, trường Collège Võ Tánh phải dời vào Hòa Bình xã Nhơn Phong, huyện An Nhơn và được thiết lập trong một đình làng với vài ba tư gia ẩm thấp, thầy Huỳnh Văn Gi vẫn tiếp tục làm Hiệu trưởng.
Đến Trung học Nguyễn Huệ.
Để tránh bị máy bay của Pháp oanh tạc, năm học 1948 – 1949, trường “Collège Võ Tánh” được đổi tên thành “Trung học Nguyễn Huệ” và chuyển một phần ra thôn Vạn Thắng (xã Hoài Xuân, huyện Hoài Nhơn) gọi là “Trung học Nguyễn Huệ Bắc” do thầy Huỳnh Văn Gi làm Hiệu trưởng, bộ phận còn lại ở Nhơn Phong, An Nhơn gọi là “Trung học Nguyễn Huệ Nam” do thầy Ngô Chanh, Hiệu phó kiêm Hiệu đoàn trưởng, huynh trưởng hướng đạo sinh phụ trách. Cơ sở của trường phân tán ở Hòa Bình, Gò Ngựa, Đa Tài, Kiến Hàng, Trung Lý, Cộng Đồng v.v…
Năm học 1949 – 1950 trung học Nguyễn Huệ có 15 lớp từ đệ thất (lớp 6) đến đệ tứ (lớp 9), cũng năm này trường mở bậc chuyên khoa (ban tú tài) gồm 3 lớp đệ nhất và đệ nhị chuyên khoa, nâng tổng số lớp của trường lên thành 18 lớp với 730 học sinh.
Niên học 1950 – 1951 theo chủ trương cải tổ giáo dục,
trường giải tán các lớp bậc trung học chuyên khoa và mở hai lớp sư phạm đặc biệt (một văn khoa, một khoa học) để đào tạo giáo sư cấp 2 và các lớp trung học phổ thông; các lớp nhất, nhị, tam, tứ niên được rút ngắn thời hạn niên học và chuyển thành ba lớp năm, sáu, bảy; đồng thời trường được đổi tên thành “Trường phổ thông cấp 3 Nguyễn Huệ”, thầy Đinh Thành Chương được chỉ định thay thế thầy Huỳnh Văn Gi làm Hiệu trưởng, phòng ốc được thiết lập trong những dãy nhà lụp xụp quanh vườn đình thôn Phụ Đức xã Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn. Thời kỳ này tình hình chiến sự ngày càng căng thẳng, máy bay Pháp tăng cường oanh tạc, nên mặc dù ẩn mình dưới bóng dừa xanh, trường không khỏi bị hăm dọa khủng bố, do đó một chủ trương mới được đề ra: đi học ban đêm. Học sinh lâm vào cảnh vô cùng khó khăn; những ngọn đèn dầu dừa leo lét như bóng hình được dùng làm nguồn sáng độc nhất để học tập. Đầu năm 1951 trường lại dời xuống xã Hoài Xuân (cũng thuộc huyện Hoài Nhơn), cách thôn Phụ Đức, xã Bồng Sơn 6 cây số, chia làm hai khu vực: một đặt tại thôn Hòa Trung và một đặt tại thôn Vĩnh Nhơn, cách nhau 3 cây số, lấy lều lá làm phòng học, ván dừa làm bàn, bầu và bẹ dừa làm bảng; giáo sư chia bè phái chống nhau, việc dạy dỗ chỉ qua loa, miễn cưỡng và cũng chỉ hoạt động được đến cuối năm 1951 thì Nguyễn Huệ “Bắc” bị giải tán. Trường Nguyễn Huệ “Nam” vẫn ở Nhơn Phong và do thầy Ngô Chanh làm Hiệu trưởng. Cũng trong thời gian này, trường Nguyễn Huệ “Nam” thành trường cấp 3 có lớp 8, 9.
Niên học 1951 – 1952, thực hiện cải cách giáo dục, trường Trung học Nguyễn Huệ chuyển qua hệ phổ thông 9 năm thành trường “phổ thông cấp II – III” của tỉnh – hệ phổ thông bấy giờ gồm:
- Cấp I: lớp 1, 2, 3, 4
- Cấp II: lớp 5, 6, 7
- Cấp III: lớp 8, 9
Tháng 8 – 1953 thầy Huỳnh Văn Gi được cử làm Hiệu
trưởng trường Trung học Nguyễn Huệ “Nam” (Nhơn Phong, An Nhơn).
Niên khóa 1953 – 1954, trường Nguyễn Huệ “Nam” phải ngược lên vùng bán sơn địa thuộc thôn Đại Khoan xã Cát Sơn, huyện Phù Cát để tránh bom đạn. Năm học 1954 – 1955, sau hiệp định Genève trường Nguyễn Huệ “Nam” chuyển về Cát Hanh, huyện Phù Cát, đến tháng 3 – 1955, sau khi một số giáo viên và đông đảo học sinh được đưa ra miền Bắc tiếp tục công tác và học tập, trường Nguyễn Huệ “Nam” chính thức giải thể.
34 năm kể từ ngày được thành lập (1921 – 3/1955), Ecole Elémentaire Franco – Annamité Cours Complémentaire với những thăng trầm cùng lịch sử tỉnh nhà qua các lần thay tên đổi họ: Collège de Quy Nhơn, Collège De Plein Exercice de Quy Nhơn, Collège Võ Tánh thời Pháp thuộc đến Trung học Nguyễn Huệ, Nguyễn Huệ “Bắc”, Nguyễn Huệ “Nam” thời Việt Minh đã không còn hiện diện trên mảnh đất được mệnh danh là “đất võ, trời văn” Bình Định nữa!
NGÔI TRƯỜNG MỚI: TRUNG HỌC CƯỜNG ĐỂ.
Khoảng tháng 9 năm 1955, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã cho thành lập các trường trung học công lập ở Trung nguyên Trung phần như trường Trần Quốc Tuấn ở Quảng Ngãi, trường Nguyễn Huệ ở Phú Yên; riêng Bình Định được xây dựng hai trường: một ở phía Bắc tỉnh là trường Trung học Tăng Bạt Hổ – Bồng Sơn (tiếp nhận học sinh các quận Hoài Nhơn, Tam Quan, Hoài Ân, An Lão, các xã phía Bắc quận Phù Mỹ và vài xã phía Nam huyện Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi) và một ở phía Nam tỉnh là trường Trung học Cường Để Quy Nhơn (tiếp nhận học sinh các xã phía Nam quận Phù Mỹ trở vào). Trường Trung học Cường Để – Qui Nhơn được xây dựng trên nền cũ của trường Collège de Quy Nhơn (nhưng đã bị lấn chiếm và thu hẹp đến hơn một nửa) tại khu vực của trường cấp I và trường cấp II Lê Hồng Phong hiện nay (phạm vi khu vực các đường Nguyễn Công Trứ, Mai Xuân Thưởng, Lê Hồng Phong, Bùi Thị Xuân – cuối trường tiểu học Lê Hồng Phong bây giờ) và do thầy Thái Vĩnh Thung tạm thời quyền Hiệu trưởng, phòng ốc tạm đặt ở dãy nhà lụp xụp, lớp học chưa có bàn ghế, học sinh ngồi học trên những trái dừa chẻ đôi, kê tập vở lên đùi mà ghi chép bài học; giáo sư chỉ độ vài ba người, học sinh ít ỏi lại là những người đã lớn, đã nghỉ học từ lâu; tổ chức lượm thượm vì thiếu phương tiện. Đến tháng 11 năm 1955 thầy Đinh Thành Chương được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng. Trong những ngày đầu toàn trường chỉ có một dãy nhà lợp tranh lá dừa, vách đất và bên kia sân trường là một dãy nhà tường gạch lợp tole cũ kỹ, tất cả chỉ có 5 phòng học.
Niên khóa đầu tiên 1955 – 1956 số học sinh nộp đơn xin nhập học quá đông, trong lúc trường sở và giáo sư chưa đủ đáp ứng, nên một khóa thi đặc biệt được tổ chức để tuyển chọn, số lớp đầu tiên được mở gồm 8 lớp: 3 đệ thất, 2 đệ lục, 2 đệ ngũ và 1 đệ tứ với số học sinh là 401 người (riêng lớp đệ tứ có hơn 120 đơn xin nhập học, trường chỉ tuyển lấy 43 học sinh – trong số đó có những học sinh sau này là giáo sư trở về dạy tại trường như thầy Huỳnh Hữu Dụng, Nguyễn Minh Đức, Nguyễn Đình Xuân, Nguyễn Mộng Giác, Phạm Ngọc Bích, Phan Quán…), khoảng 10 giáo sư phụ trách.
Tháng 6 năm 1956, kỳ thi tốt nghiệp Trung học đệ nhất
cấp (trung học cơ sở hiện nay) đầu tiên của học sinh các trường từ Quảng Ngãi đến Phú Yên được tổ chức ngay tại thị trấn Bồng Sơn (quận Hoài Nhơn). Hội đồng Giám thị được chia làm hai bộ phận: một ở Qui Nhơn dành cho thí sinh Qui Nhơn và Phú Yên, một ở Bồng Sơn dành cho thí sinh Hoài Nhơn và Quảng Ngãi. Hội đồng Giám khảo đặt tại Bồng Sơn và Chánh chủ khảo là thầy Trần Văn Việt (hiệu trưởng trường trung học Chu Văn An – Sài Gòn), giám khảo là giáo sư của các trường: Phan Bội Châu (Phan Thiết), Duy Tân (Phan Rang), Võ Tánh (Nha Trang). Thí sinh thi viết các môn: Văn, Anh văn, Pháp văn, Toán, Lý – Hóa, Sử – Địa; sau khi đậu thi viết, thí sinh phải trải qua kỳ thi vấn đáp các môn: Văn, Pháp văn, Vạn vật (Sinh vật bây giờ). Đậu kỳ thi vấn đáp mới được công nhận là tốt nghiệp Trung học đệ nhất cấp. Đây là kỳ thi được tổ chức lần đầu tiên và duy nhất tại Bồng Sơn vào lúc ấy, vì kể từ kỳ thi tốt nghiệp trung học đệ nhất cấp lần thứ 2 (tháng 8/1956) trở đi đều được tổ chức tại Qui Nhơn, thủ khoa kỳ thi này là một nữ sinh Trung học Cường Để: Lâm Thị Ngưu (8). Sau khi đậu trung học đệ nhất cấp, ai muốn tiếp tục học lên đệ tam (lớp 10) thì phải vào Nha Trang (trường Võ Tánh) hoặc ra Huế (trường Quốc Học hoặc trường Đồng Khánh).
Đến niên khóa 1956 – 1957, trường có thêm một dãy nhà ngói trệt gồm 5 phòng và phát triển thành 11 lớp gồm 4 đệ thất, 3 đệ lục, 2 đệ ngũ và 2 đệ tứ. Thời gian này nam sinh thì mặc quần dài, quần cụt, áo ngắn tay đủ màu đủ kiểu; nữ sinh thì mặc bà ba, quần dài, áo dài đủ màu, nhưng nhiều nhất là màu đen. Năm 1958 trường được xây dựng ở khu vực đường Cường Để (Trần Phú), Hai Bà Trưng, Tăng Bạt Hổ và sân bay Qui Nhơn (số 9 Trần Phú hiện nay) một dãy lầu đúc hình chữ L gồm 6 phòng trệt, 6 phòng trên lầu và phát triển
thành 13 lớp: 4 đệ thất, 4 đệ lục, 3 đệ ngũ, 2 đệ tứ.
Niên khóa 1958 – 1959 trường có 17 lớp và bắt đầu có lớp hai lớp đệ tam (lớp 10) ban Trung học Đệ nhị cấp đầu tiên: một ban A và một ban B (theo phân ban A, B, C và D). Lúc này trường có hai khu vực, khu vực cũ (trường THCS Lê Hồng Phong và trường tiểu học Lê Hồng Phong hiện nay) dành cho các liên lớp đệ thất, đệ lục, đệ ngũ (lớp 6, 7 và 8), khu vực mới dành cho các liên lớp đệ tứ, đệ tam (lớp 9 và 10), và sau đó, mỗi năm trường mở thêm liên lớp lớn hơn là đệ nhị và đệ nhất (lớp 11 và 12). Mỗi liên lớp hay còn gọi là cấp lớp gồm 4 lớp, mang số thứ tự từ 1 đến 4. Trong mỗi liên lớp thường hai lớp mang thứ tự 1, 2 Pháp văn là sinh ngữ chính; hai lớp 3, 4 sinh ngữ chính là Anh văn, những môn học khác như Toán, Lý, Hóa, Việt văn, Vạn vật (Sinh vật), Sử Địa, Công dân … thì học giống nhau.
Đặc biệt trong các niên khóa 1956 – 1957 và 1957 – 1958 các lớp đệ thất (lớp 6) có thêm giờ Hán văn và từ năm học 1959 trở đi các lớp đệ nhất cấp (lớp 6 đến lớp 9) đều có giờ Hán văn. Tháng 3 – 1959 thầy Tôn Thất Ngạc được cử về nhậm chức Hiệu trưởng thay thế thầy Đinh Thành Chương (được cử sang làm Hiệu trưởng trường Sư phạm Quy Nhơn), thầy bắt tay vào việc chấn chỉnh phần hình thức. Học sinh Cường Để phải mặc đồng phục khi đến trường. Thứ hai và ngày lễ, tất cả nam sinh phải mặc quần áo màu trắng, giày bata trắng; nữ sinh áo dài màu xanh da trời, quần trắng. Những ngày khác trong tuần, nam sinh áo trắng quần xanh nước biển, nữ sinh áo dài trắng, quần trắng, guốc, dép hay giày màu trắng. Trên ngực áo (bên trái) của cả nam và nữ sinh đều có thêu phù hiệu cá nhân, gồm hai hàng: hàng trên cùng là tên học sinh bằng chỉ màu xanh (có lẽ do lúc bấy giờ là trường duy nhất tại Quy Nhơn nên không cần thêu tên trường (?) NV), dưới tên thêu từ 1 đến 4 hoa thị xanh cho các lớp đệ nhất cấp (cấp 2) theo thứ tự thất, lục, ngũ, tứ và từ 1 đến 2 ngôi sao đỏ cho các lớp đệ nhị cấp (cấp 3) theo thứ tự đệ tam, đệ nhị – theo thầy Tôn Thất Ngạc –. Nhạc phẩm “Hướng về chân trời sáng” do thầy Dương Minh Ninh – Giáo sư Âm nhạc sáng tác trong năm học này trở thành bài Hiệu đoàn ca mà học sinh toàn trường hát sau khi hát quốc ca trong lễ chào cờ mỗi sáng thứ hai hàng tuần; cũng trong niên khóa này phác thảo về mẫu huy hiệu của trường do Giáo sư họa sĩ Phùng Văn Viễn được chính thức chọn làm cờ Hiệu đoàn của trường trên phông vải màu xanh nhạt (xem trang 8, 9).
Niên khóa 1959 – 1960 số lớp tăng lên đến 22 và cũng là niên khóa đầu tiên trường có Tổng Giám thị (thầy Lương Thành Danh) chịu trách nhiệm điều hành văn phòng và học sinh tại khu vực cũ (khu THCS và tiểu học Lê Hồng Phong như đã nêu trên) gồm 12 lớp (4 thất, 4 lục và 4 ngũ). Khu vực mới (cơ sở hiện nay) dành cho các lớp từ đệ tứ trở lên học. Ngoài việc dạy và học, nhà trường còn tổ chức thi đua tranh giải thể thao ở các lớp, liên lớp và lựa chọn những học sinh xuất sắc ở từng bộ môn để thành lập các đội bóng tròn, bóng chuyển, vũ cầu (cầu lông) cho trường. Thỉnh thoảng lại có tổ chức cắm trại trong tỉnh, ngoài tỉnh. Các buổi lễ lớn trong năm có thi đua diễu hành, văn nghệ, thể thao toàn tỉnh.
Niên khóa 1960 – 1961 trường có vị Giám học đầu tiên là giáo sư Pháp văn đệ nhị cấp, thầy Trương Ân và phát triển thành 23 lớp nhưng vẫn chưa có lớp đệ nhất, các học sinh sau khi đậu Tú tài phần I phải vào Nha Trang hoặc ra Huế tiếp tục việc học. Năm học này phù hiệu cá nhân của học sinh được quy định lại thành 3 hàng, hàng trên cùng là tên trường với dòng chữ T.H. CƯỜNG ĐỂ bằng chỉ thêu màu đỏ, dòng thứ hai là hình hoa thị (màu xanh cho các lớp đệ nhất cấp, màu đỏ cho các lớp đệ nhị cấp), hàng cuối cùng thêu họ tên học sinh chữ in bằng chỉ thêu màu xanh (không phân biệt đệ nhất cấp hay đệ nhị cấp).
Niên khóa 1961 – 1962 theo chỉ thị của Bộ Giáo dục, một kỳ trại được tổ chức cho học sinh các trường trung học công và tư toàn tỉnh trong thời gian 5 ngày tại Sân vận động Qui Nhơn, các trường thi đua về lều trại, diễu hành, văn nghệ, thể thao… Hôm khai mạc có Bộ trưởng và phái đoàn của Bộ Giáo dục dự khán cùng các quan chức trong tỉnh; hầu hết trong các cuộc tranh tài trường đều đạt giải nhất. Và cũng từ năm học này trở đi hàng năm trường tổ chức tuần lễ sinh hoạt học đường trong nội bộ trường vào dịp tết Nguyên đán hoặc dịp hè để giữa các lớp, liên lớp thi đua nhau diễu hành, văn nghệ, thể thao, làm bích báo (báo tường).
Niên khóa 1962 – 1963 trường mở 4 lớp đệ nhất (lớp 12), gồm 2 lớp ban A, 2 lớp ban B. Kể từ đây, Trung học Cường Để trở thành một trường trung học lớn của tỉnh có đủ các lớp từ đệ thất đến đệ nhất, học sinh của trường không phải ra Huế hoặc vào Nha Trang, Sài Gòn để học lớp đệ nhất sau khi thi đậu Tú tài 1 như trước đây nữa.
Niên khóa 1963 – 1964 trường có 1.700 học sinh, chia thành 29 lớp: 13 lớp (5 thất, 4 lục và 4 ngũ) học tại khu vực cũ (lúc này đã là một dãy nhà (1 ngói, 2 tranh) hình chữ U có 13 phòng học, cạnh cổng có ngôi nhà ngói nhỏ dùng làm phòng Giám thị và phòng Giáo sư); 16 lớp còn lại (4 đệ tứ, 4 đệ tam, 4 đệ nhị và 4 đệ nhất) học tại khu vực mới (số 9 Trần Phú) là một nhà hình chữ L (dãy A) 17 phòng: 13 phòng dành cho 16 lớp học, 1 phòng Hiệu trưởng, 1 phòng Giáo sư và Thư viện, 1 phòng dành cho Văn phòng và nơi làm việc của Giám học, 1 phòng làm nhà vệ sinh và kho chứa vật liệu.
Sau ngày 01/11/1963 theo chỉ đạo của Bộ, trường tổ
chức bầu Hội đồng Giáo sư hướng dẫn đầu tiên do thầy Nguyễn
Đình Nhàn làm Chủ tịch, phó chủ tịch thứ nhất là ông Lê Phước Thạnh (phụ huynh học sinh), phó chủ tịch thứ hai là thầy Trần Quốc Sủng, Tổng thư ký là thầy Lê Nhữ Tri; Ban đại diện học sinh đầu tiên cũng được bầu chọn trong dịp này, Chủ tịch là anh Phạm Văn Nộ, phó chủ tịch là anh Lê Hùng và Tổng thư ký là anh Lê Cẩm Lăng. Cứ vào đầu mỗi năm học, tại lớp trong giờ của giáo sư hướng dẫn các lớp bầu chọn trưởng lớp, phó trưởng lớp, các trưởng ban: báo chí, văn nghệ, trật tự, xã hội, thể thao của lớp mình bằng cách đề cử hoặc tự ứng cử, mỗi lớp có thể chia thành 4 hoặc 5 toán – tùy thuộc vào sĩ số của lớp, mỗi toán do một trưởng toán quản lý; riêng Ban Đại diện học sinh toàn trường sẽ do toàn bộ học sinh trong trường bỏ phiếu bầu trong số 2 hoặc 3 liên danh ứng cử sau ngày khai giảng. Trước ngày bầu cử, các liên danh được thuyết trình khái quát chương trình hoạt động của mình trong năm học, sau đó nhà trường dành một ngày để học sinh toàn trường tham gia bầu cử. Đây cũng là một hình thức giáo dục học sinh hiểu rõ hơn về quyền ứng cử, bầu cử và hình thức “phổ thông đầu phiếu”. Ban Đại diện học sinh sau này có Tổng thư ký phụ trách chung, đệ nhất phó tổng thư ký (là học sinh đệ nhị cấp), đệ nhị phó tổng thư ký (là học sinh đệ nhất cấp) và các khối: Trật tự (lo việc giữ gìn trật tự trong các dịp sinh hoạt học đường của trường), Văn nghệ (chuyên trách các chương trình văn nghệ thi đua giữa các liên lớp, toàn trường và với các trường bạn), Thể thao (thực hiện các chương trình thi đấu thể thao trong trường và với các trường khác trong các kỳ sinh hoạt học đường), Xã hội (đảm nhận phần việc tìm kiếm nguồn tài trợ của các mạnh thường quân hoặc tổ chức xổ số “Tombola” để gây quỹ học bỗng, khen thưởng cuối năm), Báo chí (chịu trách nhiệm trong việc tổ chức
thi đua làm bích báo – báo tường – hoặc đặc san).
Những ngày nghe thuyết trình, bầu cử, ngày ra mắt Ban Đại diện học sinh trúng cử hàng năm trở thành ngày hội của học sinh toàn trường; cũng có những vận động chính thức (do nhà trường tổ chức thuyết trình) hoặc vận động hành lang, rỉ tai không khác hoạt động bầu cử của xã hội ngoài nhà trường là mấy.
Niên khóa 1964 – 1965, khu vực trường cũ ở đường Võ Tánh (nay là Lê Hồng Phong) được bàn giao cho trường tiểu học Nguyễn Huệ – nay là trường Trung học cơ sở Lê Hồng Phong – , dời tất cả các lớp về khu vực mới (số 9 Trần Phú hiện nay), nhưng vì không đủ phòng học nên tạm giữ các lớp đệ thất học tại trường Nữ Trung học và kể từ niên khóa này, Trung học Cường Để là trường nam, chỉ những lớp nào trường Nữ Trung học chưa mở thì trường Cường Để mới thu nhận nữ sinh (chủ yếu là các lớp ban B hoặc ban C). Trong năm này, thầy Trương Ân – lúc này là Giám học – đã vận động Sư đoàn Mãnh Hổ của quân đội Đại Hàn xây tặng trường ngôi Đại Thính đường có sức chứa cả ngàn người ở cuối sân trường, sát với hàng rào khuôn viên sân bay Qui Nhơn (đến tháng 2 năm 1967 mới xây dựng xong, khánh thành và bàn giao cho trường sử dụng – NV).
Cuối năm 1965 thầy Trương Ân được cử nhận chức Hiệu trưởng thay cho thầy Tôn Thất Ngạc vào làm việc tại Bộ Quốc gia Giáo dục, thầy Nguyễn Đình Nhàn làm Giám học, thầy Võ Ái Ngự làm Tổng Giám thị thay cho thầy Lương Thanh Danh đã về hưu.
Niên khóa 1966 – 1967 trường mở một lớp đệ tam ban C đầu tiên. Các lớp đệ nhất và đệ tam ban C thu nhận nữ sinh từ trường Nữ Trung học chuyển qua. Nhà trường tiếp tục xây dựng cơ sở phòng ốc (dãy B) là một nhà hình chữ I, hai tầng
12 phòng học, phòng y tế học đường (nằm giữa dãy B và Đại thính đường), phòng thí nghiệm (phía trái – nhìn từ cổng vào, nằm sát tường rào phía đường Cường Để – Trần Phú hiện nay), nhà để xe học sinh lợp tole (bên phải cổng vào và cũng nằm dọc theo tường rào đường Cường Để), giữa dãy A và tường rào đường Tăng Bạt Hổ, nhà trường xây dựng sân bóng chung cho cả bóng rỗ và bóng chuyền, câu lạc bộ (canteen) bằng gỗ lợp tole (có đặt hai bàn bóng bàn), làm nơi bán dụng cụ học tập và ăn uống, giải khát cho học sinh do người bên ngoài đấu thầu thực hiện (câu lạc bộ hoạt động đến khoảng tháng 10 năm 1970 thì đóng cửa).
|
|
Niên khóa 1967 – 1968 là năm đầu tiên trường có học sinh thi Tú tài bán phần (Tú tài I) ban C. Niên khóa 1968 – 1969 thầy Nguyễn Mộng Giác được cử làm Giám học thay cho thầy Nguyễn Đình Nhàn thuyên chuyển về Sài Gòn, thầy Nguyễn Phúc được cử làm Phụ tá Giám học, Tổng Giám thị là thầy Trần Trọng Duy (từ 1968 – 1970) và thầy Phạm Ngọc Bích (từ 1970 trở đi), phụ tá Tổng giám thị là thầy Nguyễn Văn Sở.
Năm học 1969 – 1970 trường tiếp tục xây dựng dãy C (giữa 2 dãy A và B – nằm trước phòng thí nghiệm ở đường Cường Để), bên dưới làm văn phòng, gồm: phòng Hiệu trưởng, phòng Giám học, phòng Hội đồng Giáo sư, thư viện, Văn phòng; bên trên làm phòng học cho các lớp. Từ năm học này, hoạt động sinh hoạt học đường không chỉ tổ chức trong phạm vi từng trường riêng lẻ mà được tổ chức với quy mô toàn tỉnh, có sự tham dự của hầu hết các trường trung học công lập và tư thục trong tỉnh; mỗi một “lục cá nguyệt” – học kỳ – có một tuần lễ sinh hoạt học đường; trong tuần lễ này các trường thi đua lẫn nhau các chương trình từ phong trào thi đua của các liên lớp từng trường từ trước đó như: văn nghệ (có năm tổ chức tại Đại thính đường, năm tổ chức tại trường Nữ trung học Ngô Chi Lan hoặc tại Trung tâm văn hóa (cũng do chính phủ Hàn quốc xây tặng – nay là Nhà Bảo tàng tỉnh), năm tổ chức tại Hội trường Qui Nhơn), thể thao (thường tổ chức tại Sân vận động với các môn bóng chuyền, bóng bàn, bóng rỗ, bóng đá, vũ cầu), diễu hành (tập trung tại Sân vận động sau đó di chuyển đến các đường lớn như Võ Tánh, Nguyễn Huệ, Gia Long) và kết thúc tuần lễ sinh hoạt học đường bằng “đêm không ngủ” tại Sân vận động với lửa trại, những tiết mục văn nghệ đặc sắc nhất của tất cả các trường trong tỉnh; thường trong đêm lửa trại này có sự dự khán của các quan chức chính quyền tỉnh và thị xã Quy Nhơn như tỉnh trưởng, phó tỉnh trưởng, phó thị trưởng, một số các trưởng ty. Trong những tuần lễ sinh hoạt học đường ấy trường thường giành được những thành tích xuất sắc trong các môn thi đấu thể thao như bóng bàn, bóng đá, diễu hành, văn nghệ. Để tham dự các hoạt động tuần lễ sinh hoạt học đường nhà trường thường chọn học sinh từ lớp 8 đến lớp 11 (các lớp 6, 7 còn nhỏ vả lại mới vào trường, lớp 12 phải tập trung cho việc học thi Tú tài vào cuối năm)
Năm học 1970 – 1971 nhà trường cho trồng me tây và phượng vĩ trong sân trường theo họa đồ do thầy Phùng Văn Viễn vẽ; việc đào hố, trồng, chăm sóc cây được giao cho các lớp đệ nhị cấp (lớp 10 đến lớp 12) chịu trách nhiệm; ngoài ra, nhà trường có kế hoạch sẽ xây dựng hành lang nối giữa các dãy lầu (nhưng chưa thực hiện được). Thực hiện chủ trương chuyển đổi tên gọi các lớp của Bộ Giáo dục, kể từ niên khóa này (1970 -1971), các lớp từ tiểu học (đã được chuyển đổi trước từ năm học 1969 – 1970) đến trung học không gọi lớp năm, tư, ba, nhì, nhất, hay đệ thất, đệ lục, đệ ngũ, đệ tứ, đệ tam, đệ nhị, đệ nhất nữa mà tính liên tục theo số từ lớp 1 đến lớp 12. Năm học này, học sinh đi học phải mang phù hiệu, phù hiệu của học sinh được nhà trường thêu sẵn tên trường ở dòng trên cùng, ô vuông bên phải là hình ngôi sao màu xanh (dành cho học sinh đệ nhất cấp – một sao là lớp 6, 2 sao lớp 7, 3 sao lớp 8, 4 sao là lớp 9) hay màu đỏ (dành cho học sinh đệ nhị cấp – một sao là lớp 10, hai sao lớp 11 và ba sao là lớp 12), học sinh phải thêu họ tên của mình cũng bằng chỉ thêu màu xanh. Đây là lần thứ ba trường quy định thay đổi phù hiệu của học sinh.
Niên khóa 1971 – 1972 thầy Nguyễn Mộng Giác được cử giữ chức Hiệu trưởng thay cho thầy Trương Ân chuyển vào Sài Gòn làm thanh tra ở Bộ Giáo dục, thầy Nguyễn Phụ Chính được đề cử làm Giám học, thầy Nguyễn Minh Đức làm phụ tá Giám học, Tổng Giám thị và phụ tá Tổng Giám thị vẫn là các thầy Phạm Ngọc Bích và Nguyễn Văn Sở.
Niên khóa 1972 – 1973 là năm của “mùa hè đỏ lửa”,
theo lệnh của chính quyền tỉnh, cùng các trường khác trong tỉnh, trường cho học sinh tham gia vào “chiến đoàn Quang Trung” là lực lượng sinh viên học sinh bảo vệ học đường và tổ chức huấn luyện cho học sinh những bài học cơ bản về quân sự (như quay phải, trái, dậm chân tại chỗ, đội hình diễu hành, cách sử dụng, tháo ráp vũ khí, canh gác …); người hướng dẫn, huấn luyện là các Giáo sư biệt phái của trường. Năm học này trường Nữ Trung học Ngô Chi Lan đã mở lớp 10 ban C nên trường không nhận nữ sinh. Cũng trong năm học, trường được đơn vị không quân của Mỹ đóng ở phi trường Phù Cát trao tặng toàn bộ số sách trong thư viện của đơn vị cho trường và người quản thủ là thầy Châu Văn Thuận.
Năm học này, một lần nữa phù hiệu của trường được thay đổi – lần thứ tư và cũng là lần cuối cùng – , dài khoảng 4cm, phía trên bên trái trong ô vuông thêu hai chữ CĐ màu đỏ, bên dưới là lớp (ghi bằng số – phân biệt đệ nhất cấp và đệ nhị cấp bằng màu xanh hoặc màu đỏ), bên phải học sinh chỉ thêu tên mình (màu xanh) thật to.
Phù hiệu (bảng tên) học sinh qua các thời kỳ
Năm 1959 Từ 1960 đến 1970
|
|
1970 – 1972 1972 – 1975
Niên khóa 1973 – 1974, thầy Nguyễn Mộng Giác được cử làm Chánh Sự vụ Sở Học chánh tỉnh Bình Định (văn phòng đóng tại Ty Tiểu học cũ, đối diện với trường), thầy Nguyễn Phụ Chính được cử làm Hiệu trưởng thay cho thầy Giác, thầy Nguyễn Minh Đức giữ chức Giám học, phụ tá Giám học là thầy Võ Thăng, Tổng Giám thị vẫn là thầy Phạm Ngọc Bích, phụ tá Tổng Giám thị là thầy Nguyễn Hữu Vui. Đầu năm học trường mở lớp 10 ban C và nhận học sinh từ Nữ Trung học Ngô Chi Lan và tổ chức thi tuyển lấy nữ sinh từ các trường bên ngoài vào.
|
|
Niên khóa 1974 – 1975, là năm học cuối cùng của thầy, trò trường Cường Để với 65 lớp học từ đệ nhất cấp đến đệ nhị cấp (trong đó riêng khối 12 có 8 lớp – 4 lớp ban A (A1 – A4) và 4 lớp ban B (B1 – B4), trước đó từ năm lớp 10 khối này có 5 lớp ban B, 3 lớp ban A; đến năm học 1974 – 1975 do một số học sinh các lớp ban B chuyển sang ban A nên ban A tăng thêm 1 lớp, còn ban B giảm đi 1 lớp – đó là lớp B5, số học sinh vẫn theo học ban B lớp B5 được phân bổ sang các lớp ban B khác) với khoảng 3.300 học sinh và đội ngữ giáo sư hùng hậu trên 100 người (bao gồm cả chính ngạch, thỉnh giảng, hợp đồng dạy giờ), trong đó có nhiều giáo sư được Ban Giáo sư Trường Thi (Sài Gòn) mời tham gia biên soạn sách dạy và học như thầy Nguyễn Phụ Chính (môn Triết); thầy Vương Quốc Tấn, thầy Phạm Ngọc Quang (môn Lý – Hóa); thầy Nguyễn Phụ Tài, thầy Lê Đức Bé (môn Toán)…. Năm học này có những sự kiện đáng nhớ như:
- Chương trình học của lớp 12 ngoài những môn quy định gồm: Triết (Tâm lý học, Đạo đức học, Luận lý học), Toán, Sử – Địa, Công dân, Lý – Hóa, Sinh ngữ 1, Sinh ngữ 2, Vạn vật còn được bổ sung thêm môn Quốc văn (những năm học trước học sinh lớp 12 chỉ học môn Triết mà không học môn văn nữa),
- Hoạt động báo chí của Ban đại diện học sinh các niên khóa trước (từ năm học 1963 – 1964 đến năm học 1973 – 1974) chỉ vào dịp tết năm Giáp Thìn (1964) và Ất Tỵ (1965) trường có 2 Đặc san Xuân toàn trường in typo phát hành rộng rãi trong học sinh và các trường bạn, các niên khóa sau đó thỉnh thoảng vào dịp tết nguyên đán hoặc hè chỉ lác đác dăm ba lớp thực hiện đặc san của lớp mình quay ronéo và phổ biến trong phạm vi lớp mà thôi. Năm học 1974 – 1975, ngay sau lễ ra mắt Ban Đại diện học sinh, được thầy Hiệu trưởng Nguyễn Phụ Chính, Hội đồng Giáo sư hướng dẫn (thầy Lê Đại Đồng – Tổng Thư ký và thầy Phan Lục Tú, Giáo sư hướng dẫn khối) chấp thuận, khuyến khích và phân công thầy Nguyễn Văn Tân – Giáo sư Việt văn chịu trách nhiệm về nội dung, Khối Báo chí đã có cuộc họp bàn và phân công chuẩn bị cho Đặc san toàn trường kỷ niệm 55 năm thành lập trường:
– Về hình thức – nhất là hình bìa Đặc san phải đẹp, trang nhã, thể hiện ý chí vươn lên và không được trùng lắp với các đặc san trước đây hoặc của trường khác và giao Nguyễn Văn
Thịnh chịu trách nhiệm,
– Về nội dung, có một số bài viết của thầy cô và học sinh, đặc biệt là bài của học sinh chọn những bài viết (thơ, văn, đoản văn) liên quan đến trường, lớp, tuổi học trò; trong đó ưu tiên cho bài của học sinh khối 12 vì họ là những con chim sắp rời tổ bay vào những phương trời khác nhau và có bài về lịch sử trường.
– Về hình ảnh, sẽ chụp hình Ban Giám đốc, khối văn phòng, Hội đồng Giáo sư hướng dẫn, tất cả các thầy cô giáo của trường, học sinh các lớp từ lớp 6 đến lớp 12. Hình học sinh các lớp – ý tưởng của Ban Biên tập đặc san là không phải lớp nào cũng chụp hình học sinh đứng thành một khối ba hay bốn hàng, mà có lớp xếp học sinh theo số (chẳng hạn lớp sáu một sẽ xếp thành 61, lớp bảy hai xếp học sinh thành 72), hình hoa xen lẫn với lớp xếp thành ba, bốn hay năm hàng và giao cho trưởng khối chịu trách nhiệm.
– Số lượng trang in được ấn định là 55 trang (không kể hình bìa, hình ảnh thầy cô và học sinh) tượng trưng cho 55 năm ngày thành lập trường.
Được thầy Lê Văn Hòa (người đã có bài viết về lịch sử
của trường trong đặc san năm 1964) giới thiệu và cho địa chỉ của thầy cựu Hiệu trưởng Đinh Thành Chương để liên lạc, Khối Báo chí viết thư liên lạc với thầy và chỉ sau hai tuần lễ, thầy Chương đã tự tay viết gửi về những điểm chính trong quá trình hình thành và phát triển của trường đến trước ngày thầy rời trường nhận nhiệm vụ mới. Sau một thời gian chuẩn bị, toàn bộ nội dung bài vở đã được tập hợp xong, hình bìa cũng đã hoàn chỉnh, nét độc đáo của hình bìa được anh Nguyễn Văn Thịnh chọn từ bộ tem sưu tập cá nhân là một con chim bồ câu lớn được ghép lại từ những chú bồ câu nhỏ tượng trưng cho những học sinh của trường đang chắp cánh bay cao lên bầu trời mang theo những hoài bão, ước mơ nhưng vẫn tuân theo quy luật “bầy đàn” và dù có bay xa đến phương trời nào rồi cũng hướng về cái “tổ” chung là mái trường Cường Để thân yêu. Đặc san sẽ được in offset – một kỹ thuật in ấn hiện đại thời bấy giờ – cũng đã được thỏa thuận với nhà in Văn Phong (Quách Bùi Thạnh, cháu của chủ nhà in là thành viên trong Ban Đại diện học sinh), việc chụp hình cho từng lớp từ 6 đến 12 được anh Quang (một cựu học sinh của trường, chủ tiệm chụp hình Việt Nam đường Gia Long (nay là Trần Hưng Đạo) – đối diện trường Trung học Tư thục Tây Sơn) đồng ý và sẽ thực hiện vào ngày 1 tháng 3 để đến ngày 10 tháng 3 đưa cho nhà in đi Sài Gòn làm bản kẽm, vào khoảng 20 tháng 3 nhà in đưa bản in thử kiểm tra morasse, đến cuối tháng 3 nhận. Nhưng rồi chẳng bao giờ Đặc san ấy chào đời được!
- Trong lúc chờ thực hiện Đặc san toàn trường vào dịp hè, lần đầu tiên và cũng là năm học duy nhất kể từ khi có tổ chức Ban Đại diện học sinh, khối Báo chí của trường được sự khuyến khích của Hội đồng Giáo sư hướng dẫn, thầy Hiệu trưởng với lời dặn “hết sức tiết kiệm, để dành tiền cho việc in ấn Đặc san thật đẹp”, đã thực hiện “bản tin Cường Để” hàng tháng với nội dung chính là các tin tức liên quan đến việc dạy và học của trường, một vài sáng tác thơ, văn, đoản văn của học sinh do Ban Báo chí các lớp tuyển chọn chuyển đến, quay ronéo (tại tiệm Ronéo Tơ Vàng của ông Thân Trọng Thầm – đường Hai Bà Trưng) dày 10 – 12 trang (khổ giấy A4 gấp đôi) phát hành đến từng lớp, kinh phí thực hiện hết sức khiêm tốn, chỉ vào khoảng 50 – 70 đồng một kỳ (chủ tiệm Ronéo chỉ lấy tiền mực in, công đóng xén, còn stencil, giấy in thì thông qua quan hệ cá nhân xin của người nhà trong các cơ quan như Tỉnh đoàn Xây dựng và Phát triển nông thôn, Ty Y tế …; việc đánh máy stencil, quay ronéo do chính trưởng và phó trưởng khối Báo chí tranh thủ thời gian thực hiện ngoài giờ học tại văn phòng trường hoặc Ronéo Tơ Vàng) và cũng chỉ thực hiện được đến tháng 2/1975 thì kết thúc.
- Nhân dịp sắp đến tết nguyên đán Ất Mão (1975), ngày 01/02/1975 (tức ngày 21 tháng chạp năm Giáp Dần – 1974), trường tổ chức cho học sinh toàn trường cắm trại ngay trong khuôn viên trường lấy tên “Trại Sư Đệ” trong 2 ngày, 1 đêm để họp mặt giáo sư và học sinh trước khi nghỉ tết. Cổng trại được các học sinh cũ và hiện hữu của trường là những hướng đạo sinh thực hiện bằng tre, nứa, lá dừa thật đẹp; đêm lửa trại thật hoành tráng bằng những tiết mục văn nghệ của chính học sinh trường sau khi công bố kết quả thi làm bích báo (báo tường), trò chơi lớn của các khối lớp. Đây là lần họp mặt cuối cùng của thầy, trò trường Trung học Cường Để Qui Nhơn.
Không ai nhớ chính xác thời điểm áp dụng, nhưng khi chúng tôi vào học lớp đệ thất (niên khóa 1968 – 1969) đã thực hiện rồi, đó là tất cả các môn học tuy vẫn tính điểm số theo 20, và dù môn chính hay môn phụ, ban A, B hay ban C, kiểm tra miệng hay làm bài chạy (nhanh) hoặc 1 tiết, 2 tiết đều có chung hệ số: 1. Mỗi tháng trên cơ sở điểm số có trong sổ điểm, Giáo sư hướng dẫn cộng và chia đều cho số cột để xác định vị thứ trong tháng; chỉ đến các kỳ thi đệ nhất hay đệ nhị lục cá nguyệt (học kỳ 1, học kỳ 2) mới tính nhân hệ số và môn chính, phụ theo quy định. Kết quả học tập hàng tháng của toàn trường được thể hiện qua “BẢNG TUYÊN DƯƠNG” rộng 1,2m dài 2,4m hàng dọc ghi từ trên xuống dưới “ưu hạng (người đứng nhất lớp), xuất sắc (người đứng nhì lớp), hạng nhất (người đứng thứ ba), hạng nhì (người đứng thứ tư), hạng ba (người đứng thứ năm trong lớp)”, hàng ngang từ trái qua phải ghi lớp học; tên của học sinh được tuyên dương viết chữ in to gắn vào theo hạng, theo lớp. Bảng tuyên dương được treo ngay mái nhô của dãy A trong cả tháng, ai đi ngang qua cũng nhìn thấy. Đây chính là nét độc đáo của trường trong nhiệm vụ giáo dục của mình, giúp cho học sinh đầu tư vào việc học tất cả các môn học như nhau, không xem thường môn học nào.
Điểm đặc biệt thứ hai là lễ chào cờ hàng tuần vào mỗi sáng thứ hai và hạ cờ vào chiều thứ bảy ngoại trừ những hôm trời mưa với đồng phục áo sơ mi trắng, quần tây trắng, giày ba ta trắng. Học sinh đệ nhị cấp (cấp 3) được học buổi sáng, giờ chào cờ sáng thứ hai do lớp trực thực hiện, lớp cử 2 người lên kéo cờ, sau hiệu lệnh “Nghiêm. Chào …cờ, chào!” quốc kỳ được từ từ kéo lên cùng lúc với tiếng hát quốc ca của cả trường vang lên hùng tráng, vang động cả một khoảng trời (không dùng banc cassette thu sẵn thay cho tiếng hát), tiếng hát quốc ca vừa kết thúc cũng là lúc quốc kỳ được kéo đến đỉnh và sân trường vang lên tiếng ca bài ca hiệu đoàn. Đến chiều thứ bảy, giờ học cuối cùng của trường là giờ hạ cờ (do học sinh khối lớp 9 điều khiển và hát đoạn 2 của bài quốc ca), lá cờ được xếp lại cẩn thận cất trong tủ để thứ hai tuần sau lại được kéo lên, tung bay trên bầu trời.
Sau ngày giải phóng Quy Nhơn (31/3/1975), trường tái hoạt động với tên mới là Trường cấp 3 Quang Trung và anh Nguyễn Tổng (cựu học sinh của trường) tạm thời được cử phụ trách trường. Ngày 06/6/1977 trường đổi tên là Trường phổ thông cấp III Quang Trung do ông Hồ Trọng Mai làm Hiệu trưởng. Sau cải cách giáo dục, một lần nữa trường được mang tên mới là Trường phổ thông trung học Quang Trung do ông Hà Ngữ làm Hiệu trưởng. Đến năm 1991, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đồng thời để đáp ứng sứ mạng đào tạo, bồi dưỡng tài năng trẻ cho quê hương đất nước, ngày 13/9/1991 UBND tỉnh Bình Định ban hành quyết định số 1191/QĐ – UB đổi thành trường Quốc Học Qui Nhơn trên cơ sở sát nhập trường PTTH Quang Trung, trường PHTH Chuyên Bình Định và trường chuyên cấp II thành phố Qui Nhơn, ông Trần Đình Vượng, Hiệu trưởng trường PTTH Chuyên Bình Định được cử làm Hiệu trưởng của trường cho đến năm 1999 về hưu, bà Nguyễn Thị Kim Lan được cử làm Hiệu trưởng thay cho ông Trần Đình Vượng, đến năm 2004 nghỉ hưu, từ đó đến nay ông Trần Xuân Bình được giao nhiệm vụ làm Hiệu trưởng.
Đến việc thi cử
Trên đây là toàn bộ quá trình hình thành, phát triển cũng như việc dạy và học của trường từ thuở ban đầu đến ngày 31/3/1975; còn việc thi cử của học sinh thì sao?
Thi theo “từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học – Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam – nhà xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội 1988, trang 967 là: dự những hình thức kiểm tra theo quy định về kiến thức, kĩ năng để xét chính thức công nhận có đầy đủ một tư cách nào đó; còn thi cử là: thi ra trường, vào trường, hay để nhận nhận bằng cấp, học vị. Vì thế, tự ngàn xưa, khi con người phát minh ra chữ viết, có tổ chức quốc gia, có học hành tất nhiên có thi và cử.
Thời thuộc Pháp
Học sinh của trường học hết lớp 3 – Cours Élémentaire, còn gọi là lớp sơ đẳng – thi lấy bằng Sơ học yếu lược (Certificat d’Études Élémentaires), đậu mới được thi lên lớp Nhì (Cours Moyen), nếu rớt không được tiếp tục học nữa. Học xong lớp nhất (Cours Supérieu) thi bằng tiếng Pháp các môn: Chính tả (Dictée), Luận văn (Composition), Toán (Mathématiques), Khoa học (Sciences) và Sử – Địa (Histoire – Géographie) để lấy bằng Tiểu học (Primaire). Học hết lớp đệ tứ niên (bậc cao đẳng tiểu học), phải thi lấy bằng Cao đẳng tiểu học (còn gọi là bằng Thành chung hay Diplôme). Bước đầu, học sinh chỉ thi viết hai môn bằng tiếng Pháp: chính tả và luận văn, bài thi được gửi ra Hội đồng ở Huế chấm, đánh điện báo kết quả về Quy Nhơn, ai đậu được ra Huế thi viết tiếp các môn: Toán, Khoa học, Sử, Địa, Hán văn. Đủ điểm đậu phần thi viết, thí sinh được dự thi vấn đáp. Đủ điểm thi vấn đáp là chính thức nhận bằng Diplôme. Nếu rớt phần vấn đáp thì sau kỳ nghỉ hè liền đó được thi lại vấn đáp, thường gọi là kỳ thi lần thứ 2, nếu có môn bị điểm liệt thì không được dự thi kỳ 2 (deuxième session). Nếu hỏng thi kỳ 2, năm sau phải thi lại từ đầu (cả viết và vấn đáp). Lúc đầu, bằng Diploma là cái mốc phải đạt để được thi vào cấp Tú tài hoặc dự thi tuyển chọn vào làm việc tại các công sở. Về sau, quy chế trên được mở rộng, cho phép học sinh lớp tứ niên chưa đậu Thành chung vẫn được tự học để thi Tú tài (gọi là autodidacte: thí sinh tự do). Muốn thi vào làm công chức phải đậu Thành chung; riêng học sinh người dân tộc, học xong lớp đệ tam niên (troisième année) coi như được tốt nghiệp diplôme và được tuyển vào công sở. Học sinh là Pháp lai, Pháp gốc Việt (dân Tây) thì miễn thi Diplôme và được vào thẳng các trường Lycée (trung học cấp 3).
Từ ngày mang tên Trung học Cường Để
Từ khi được thành lập (1955) đến niên khóa 1958 – 1959, những học sinh của trường học xong lớp đệ nhị (lớp 11) muốn dự thi Tú tài I (còn gọi Tú tài bán phần) hoặc ra Huế hoặc vào Nha Trang để thi và học tiếp lớp đệ nhất (lớp 12), đến niên khóa 1959 – 1960 là năm đầu tiên trường có học sinh thi Tú tài
I sau khi học xong lớp đệ nhị,
Niên khóa 1962 – 1963 trường có học sinh thi Tú tài II sau khi học xong lớp đệ nhất (lớp 12) mà không ra phải ra Huế dự thi như trước.
Theo quy định của Bộ Quốc gia Giáo dục, từ năm học 1965 – 1966 các môn học Công dân, Sử – Địa trong các kỳ thi trung học đệ nhất cấp, tú tài I, tú tài II được tổ chức thi trắc nghiệm thay cho bài thi viết.
Mùa hè năm 1972 Bộ tổ chức kỳ thi Tú tài I cuối cùng và sau đó bỏ hẳn kỳ thi này, như vậy học sinh năm học 1972 – 1973 học sinh học xong lớp 11 được xét chuyển lên lớp 12 và cuối năm 12 thi lấy bằng Tú tài (trước đó học sinh phải đậu Tú tài I mới được vào học lớp 12).
Năm 1974 là năm đầu tiên (và cũng là năm cuối cùng của kỳ thi Tú tài ở miền Nam) được tổ chức thi trắc nghiệm tất cả các môn và do máy IBM của Bộ Tổng Tham mưu quân đội chế độ cũ chấm.
Trải qua những thăng trầm theo dòng lịch sử của đất nước, với những định hướng, mục tiêu giáo dục khác nhau của thời thuộc Pháp, chính quyền Việt Minh, Việt Nam Cộng Hòa và nay là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, 90 năm qua kể từ năm 1921 với những lần đổi thay tên gọi từ Ecole Elémentaire Franco – Annamité Cours Complémentaire của những năm đầu mới thành lập đến Collège de Quy Nhơn, Collège Võ Tánh rồi Nguyễn Huệ với Nguyễn Huệ Bắc, Nguyễn Huệ Nam, có lúc trở thành bãi đất bằng trong những năm kháng chiến chống Pháp, Trung học Cường Để trong thời các chính quyền đệ nhất và đệ nhị cộng hòa và trường PTTH Quang Trung sau ngày thống nhất đất nước, trường đã góp phần đào tạo nhiều thế hệ học sinh trong sự nghiệp kiến tạo đất nước, trong đó có không ít những tên tuổi làm rạng danh không chỉ cho trường, địa phương mà cả nước Việt mến yêu của chúng ta như: Lê Văn Thiêm (Giáo sư tiến sĩ Khoa học toán học, Chủ tịch Hội toán học Việt Nam – khóa 1932 – 1936), Nguyễn Thương (Tiến sĩ Luật khoa – nguyên Đại sứ Việt Nam tại Liên Hiệp quốc – khóa 1932 – 1936), Nguyễn Cang (Giáo sư tiến sĩ Habil Khoa học toán, nhà giáo ưu tú – khóa 1936 – 1946), Nguyễn Hữu (Viện trưởng Viện Đại học Y Khoa Sài Gòn), Huỳnh Văn Thiệt (Tiến sĩ nguyên tử, Giáo sư Đại học Canada), Trần Trí Năng (Tiến sĩ ở Nhật hiện giảng dạy tại Đại học California), Trần Đình Sơn (Tiến sĩ – Giáo sư Đại học Sorbone), Dương Ái Phương (Phó Giáo sư – Tiến sĩ, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP. Hồ Chí Minh – Khóa 1965 – 1972), Bùi Bá Bỗng (Phó Giáo sư – Tiến sĩ, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Bùi Văn Gà (Bùi Văn Ga – Giáo sư, TSKH, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo – khóa 1968 – 1975), Nguyễn Văn Phúc (Tiến sĩ Toán – Hiệu trưởng Trường ĐH Quốc tế Miền Đông (Bình Dương) – khóa 1968 – 1975), Đinh Phi Hổ (Phó Giáo sư Tiến sĩ – Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh – khóa 1968 – 1975), Huỳnh Ngọc Tín (Tiến sĩ ở Nga – Khóa 1968 – 1975), Hà Quang Phúc (Tiến sĩ, giảng dạy tại Đại học Sydney, Úc – Khóa 1968 – 1975), Mang Ngọc Lý (Tiến sĩ – Trưởng ban Quản lý Khu kinh tế Nhơn Hội – Khóa 1969 – 1976) v.v… hoặc những nhà ngoại giao lỗi lạc như Võ Đông Giang (Phan Bá), Bùi Tấn Linh (Đại sứ Roumanie), Trần Văn Tư (Trần Thức – Đại sứ Ba Lan), Trần Hoài Nam (Đại sứ CHDC Đức); các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Quách Tấn, Yến Lan, Vương Linh, Phan Tứ, Nguyễn Viết Lãm, Phạm Hổ, Nguyễn Xuân Sanh, Giang Nam, Lam Giang, Đặng Quý Địch, Bùi Tiên Khôi, Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Ngọc Tuấn, Đặng Tấn Tới, Đào Chí Hiếu, Võ Chân Cửu, Mang Viên Long; nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ, La Hữu Vang (Trần Văn Giác)… hay các chính khách tầm cỡ như: Nguyễn Minh Vỹ (Phó Trưởng ban Tuyên huấn trung ương), Trần Quang Huy (Võ Đức Huề – Bộ trưởng, Trưởng ban khoa giáo trung ương), Nguyễn Đình Tứ (Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Viện trưởng Viện Nguyên tử quốc gia), Đặng Hữu (Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học kỹ thuật); tướng lĩnh quân đội như: Nguyễn Chánh (Trung tướng, Chủ nhiệm Hậu cần), Nguyễn Thế Lâm (Nguyễn Kèn – thiếu tướng, Tư lệnh Binh chủng thiết giáp), v.v… và v.v… không thể nào kể hết được.
Người tập hợp: Võ Xuân Đào (khóa 1968 – 1975)
Trong bài đã tham khảo, sử dụng các bài viết, hình ảnh, tư liệu của:
– Sự giáo dục và thi cử qua các thời đại ở Việt Nam của
Nguyễn Văn Thành
– Đặc san Cường Để – Nữ Trung học các năm 1988, 1999, 2001,
2004 và 2005 với những bài:
- Nhớ về Cường Để thương về kỷ niệm xa xưa của thầy Tôn Thất Ngạc.
- Trường Cường Để Quy Nhơn: chuyện cũ nhắc lại của thầy Lê Văn Hòa, thầy Nguyễn Đình Nhàn
- Trường Trung học Cường Để Qui Nhơn của Đào Đức Chương.
- Quốc học Quy – Nhơn (đặc san kỷ niệm 75 năm thành lập trường – 15/9/1921 – 15/9/1996) các bài:
- Trường Quốc học Quy Nhơn niên sử của Quách Tạo, Tô
Văn Liễu, Phạm Dư, Hà Quang Tự,
- Trung học Nguyễn Huệ Bình Định của Lê Đức Kế,
- Giáo sư tiến sĩ khoa học toán học Lê Văn Thiêm của
Nguyễn Cang,
- Các thầy hiệu trưởng Pháp của Phan Nhĩ,
- Biết bao điều mới lạ – GS. Lâm Công Định.
Chú thích:
(1 (2) (3) (4) (5) (6) Theo “Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa” Bách khoa toàn thư mở Wikipedia và Đông Hải với bài “Nền giáo dục miền Nam trước 1975” trong Vnisone.com
(7) Theo Nguyễn Đức Toàn
(8) Theo GS. Phạm Thành, cựu Hiệu trưởng trường Trung học Tăng Bạt Hổ – Bồng Sơn.
Bánh hỏi thịt nướng Quy Nhơn
Posted in Ẩm thực, Xứ Nẫu, Người Nẫu on Tháng Chín 1, 2011| 50 Comments »
BÁNH HỎI THỊT NƯỚNG QN ..
Questions cake .
![]() |
| bánh trráng xứ nẫu sản xuất tại California |
Bonus : tô dưa gan mật ong ăn tráng miệng .
( PS : Thịt cá , bỏ không tiếc , nhưng bánh tráng thì không bỏ đâu , kiểu lạ vậy đó … hehehe )
Dù bây giờ , trên xứ người thức ăn không còn thiếu thốn , có thể nói , món ngon vật lạ dư thừa , nhưng không hiểu sao : ràng bánh tráng , chút mắm , chút rau …. chỉ là những món bình dân , rẻ tiền của một thuở nghèo khổ , ở mảnh đất cày lên sỏi đá miền trung , lại trở thành niềm ước ao , hiện diện trong trí nhớ của những người xa xứ .Nhất là những hôm mưa dầm …. ngồi trong bếp nhìn ra hồ cá sau vườn , bên cạnh đám rau , giàn bí xanh mướt , ướt sũng .. mà nhớ về thôn xóm cũ … Chúng tôi hay chép miệng ước ao :
…. Trời này mà có món bánh xèo vỏ chấm mắm nêm , hoặc … nếu có món này …, hoặc …. nếu có món kia …., như ở quê mình thì ngon biết mấy …?
Quinhơn11
Vui theo mùa cá nục
Posted in Ẩm thực, Xứ Nẫu, Người Nẫu on Tháng Chín 1, 2011| 8 Comments »
Bút kí của Vĩnh Hoan
Cá nục rộ suốt mấy tháng qua ở vùng biển quê mình. Cũng là những ngày oi nồng bức bối bởi giữa mùa hè. Biển lại êm ở những khoảng thời gian này và ghe tấp các bến ở Bình Định bắt khẳm bởi nục ơi là nục. Quá chừng chừng cá nục… Trên bãi, dưới thuyền, trên bờ, trong chợ, sân phơi, lò hấp… đâu đâu cũng cá, đâu đâu cũng nục.
1.
Có cá nục bữa cơm ở nhà thật phong phú mà khuôn mặt của vợ lại thấp thoáng nụ cười. Không hỏi chồng cũng hiểu ngay và chạnh lòng xót xa. Vật giá leo thang ngày một mà thu nhập lại chẳng chịu leo theo. Đi chợ ít ỏi, lèo tèo thì cực lòng chẳng đặng mà không, thâm thủng lấy đầu bù? May quá lại tới mùa cá nục.
Cá nục nấu thơm cà, tô canh thanh cảnh đẹp tươi sắc màu. Này nhé, màu xám đen của cá, đỏ rực những miếng cà, vàng ươm những lát thơm và ngắt xanh hành ngò. Nước canh trong mà ngọt lịm đầu môi. Chưa kịp bới cơm đã muốn múc ngay mấy muỗng vô chén để húp. Người miền Trung, dân biển có kiểu dùng mắm trong lấy muỗng giằm mấy trái ớt hiểm và đựng mắm vô cái đĩa có lòng rộng, sâu. Chừng bắt đầu ăn mới vớt cá từ tô canh ra đặt vô lòng đĩa mắm. Ở Bình Định, nếu muốn thay đổi thì bữa sau lại nấu canh cá nục lá giang, ăn giải nhiệt. Cá nục nấu lá giang mới nghe nói đã thấy cái giọng xứ củ mì phảng phất…
Ngoài canh thế nào vợ cũng chiên một ít cá nục ăn với xoài bằm dầm mắm ớt tỏi chanh đường, hấp dẫn khỏi chê. Cá nục lớn hơn kho nước sền sệt và nước đó thêm trái ớt, làm nước chấm rau luộc mới là đúng kiểu. Rồi cá nục nho nhỏ kho keo, dẻo tốn cơm thôi khỏi nói. Vợ đã biết chừng mua hơi nhiều nhiều để sáng ngày ra làm soong cháo đặc. Ăn nhẹ bụng mà nhẹ cả túi tiền gia đình.
2.
Hồi ở ngoài quê, chợ đã xa mà phải theo phiên nên mỗi lần đi, phải lo mua đồ ăn nhiều nhiều. Tới mùa cá nục má tha hồ mua vì cá nục đâu có mắc. Thường má cho nhà ăn xổi canh, chiên, cháo, hấp… gì đó ngay trong ngày, còn bỏ kho hết. Cái thứ cá kho đó mà phải là cá nục kho, dầm sấu làm canh có một hương vị hết sức độc đáo. Cũng là chua nhưng chua của khế, của lá giang, của chanh không hề giống cái chua khó quên của sấu. Đã vậy lại thêm những miếng cá nhỏ đã dầm hết sức đậm đà. Tôi ghiền món canh này do được ăn suốt một thuở ấu thơ, qua rất nhiều mùa cá nục. Giờ thì chịu vì trong này đâu có trái sấu.
Người giàu ăn nhiều đồ ăn cao cấp bỗ dưỡng. Ăn hoài cá thu, cá chẽm, cá cam… cũng ngán. Muốn đổi bữa cho chồng con bằng tô canh cá nục hay mớ cá nục nhỏ xíu kho tiêu dẻo quẹo mặn mòi. Như vậy là người giàu đã biết thương cá nục rồi đó! Mà cá nục cũng đâu có “mặc cảm” gì với người giàu. Thấy cũng thân thiện, gần gụi. Còn hỏi người nghèo có thương cá nục không? Trời ơi! Thương hung và ham lắm. Bởi cá nục rẻ, ngon, dễ chế biến, mát, hiền và ăn hoài không ngán.
3.
Tôi có người bạn ở Sài Gòn mở một nhà hàng bán toàn thức ăn miền Trung. Một bữa vợ chồng anh ấy nhận được một cái đơn đặt hàng với chỉ một món: cá nục hấp theo kiểu “nẫu” cuốn với rau sống, bánh tráng Bình Định. Mà cái bàn đặt ấy nói toàn giọng Trung lai lai, không cần tinh ý vẫn nhận ra đó là những người ngoài này vô sống đã lâu năm trong đó. Còn cá nục hấp kiểu “nẫu” là hấp trơn cá với cá, hấp không có phụ liệu đi kèm. Hấp thiệt nên cái ngon, cái ngọt rất thiệt. Đúng cách kiểu chân chất, mộc mạc của người miền Trung. Cũng may giờ có dịch vụ gửi hàng theo xe khách và họ có nhận cả đồ hải sản. Nên trong đó chỉ cần alô về đây bữa nay là ngay ngày mai nhà đã có cá mú, mực, tôm… tươi rói của biển giả ngoài này để kho, nấu, chiên, um.
Tuần trước bà cô tôi gọi điện về nói thèm tô cháo cá nục nấu kiểu Tam Quan. Nấu cháo kiểu này là nấu với nước cốt vắt từ cơm dừa. Ngon lắm! Tô cháo thơm lựng và béo ngậy. Cũng do Tam Quan hồi xưa dừa bạt ngàn nên mới dám hoang lung dừa tới vậy. Chứ giờ dừa Tam Quan cũng đâu còn nhiều mà giá lại cao, nấu một nồi cháo kiểu đó tốn kém cũng không ít. Cũng may là chưa hết mùa nục và tuần dăm lần vợ tôi cho cả nhà điểm tâm cháo đặc ăn với cá kho keo. Keo cá, dẻo cháo và dẻo queo tình cảm gia đình. Bởi đó đã thấy lo lo khi sắp qua mùa cá nục…
Mùa cá nục, có việc ra bến bãi thấy lòng rộn vui. Tâm hồn lang thang theo từng cái ghe tấp bờ khẳm cá, theo bước chân người gánh, theo cánh tay người bưng… Những rổ, những thúng, những mủng đầy vun cá nục. Ăm ắp nục suông, nục bông, nục gai, nục giời…
Nguồn baobinhdinh.com.vn
-
V.H
Nẫu ca
Posted in Âm nhạc, Xứ Nẫu, Người Nẫu on Tháng Tám 31, 2011| 9 Comments »
Mình, trách mình nè, số phận chớ sao hẩm hiu
Chớ bởi thân tui, Tui cực khổ, tui eo nghèo
Nên vợ tui nó mới không ở nữa
Mà nó theo Nẫu rồi…Em ơi chớ bây giờ mà
Em ở kìa nơi đâu?
Chớ để cho anh nè
Anh trông đứng nữa trông ngầu (ngồi)
Rồi canh phia (khuya), chớ hầu (hồi) nào
Qua Phú Lễ ăn ẩu (ổi) chua
Chớ xuống Đại Lãnh, uống nước ngót
Chớ qua Hòn Dừa, ăn mực neng (nang)
Chớ bây giờ em không ngó nữa
Em không ngàng đến chồng nghèo nó cực khổ
Mà gian nan nó cơ hàn…Hầu (hồi) nào chớ em thất nghiêp, em đi lang thang
Chớ anh thấy em nữa tậu (tội) nghiệp
Anh mang anh nuôi rày.
Hầu (hồi) nào em bán nước đá rầu (rồi) anh đi may.
Hai đứa mình nè, chung sống chứ không biết ngày rầu (rồi) mai sau.
Chớ hầu (hồi) nào em bắt ốc rầu (rồi) anh hái rau.
Chớ bây giờ, em đở (để) lại mối sầu này cho qua…Hầu (hồi) nào trái chuối chín… Cũng cắn làm ba
Chớ trái cam tươi cũng cắn… Làm bốn
Nửa trái cà cũng cắn làm năm
Chớ bây giờ em lấy Nẫu
Em ăn nằm, em bỏ Qua
Chớ Qua hiu quạnh, năm canh một mình…Anh bây giờ, khoé mắt sầu cứ rung rinh
Chứ giọt lợ (lệ) sầu, giọt lệ thảm,
Như nước trong bình nó tuôn ra
Anh bây giờ, như con Cuốc nó kêu tù qua
Chớ nó lẻ đâu (đôi), nó lẻ bạn,
Í quơ chú cha ơi…. là buồn!
Nguồn: Người Lữ hành kỳ dị
Hôm nay xunauvn.org chính thức ra mắt !
Posted in Uncategorized, Xứ Nẫu, Người Nẫu, tagged Sáu Nẫu on Tháng Tám 30, 2011| 113 Comments »
Sau 14 ngày hoạt động thử nghiệm với hơn 30.000 lượt người truy cập, hôm nay 30/8/2011 website xunauvn.org chính thức ra mắt bạn đọc.
Với tiêu chí phi chính trị,phi tôn giáo,phi đẳng cấp,ngay từ lúc mới phôi thai ý tưởng,xunauvn.org đã có ước ao trở thành nơi hội tụ,gặp gỡ những người sinh ra,lớn lên ở Xứ Nẫu và những người dành tình yêu của mình cho Xứ Nẫu
.Để đạt được hoài bảo ấy,những người thực hiện xunauvn.org đã cố gắng kết nối với bạn bè trong cũng như ngoài nước để xây dựng một trang web thân thiện,giản dị và giàu thông tin về Xứ Nẫu .Trang web ấy không phải là diễn đàn văn học nghệ thuật,cũng không phải là nơi bình luận ,trao đổi các vấn đề lớn của đất nước,xã hội. Đơn giản, xunauvn.org chỉ là nơi chốn ghé qua yên bình sau những phút giây tất bật mưu sinh của những người Xứ Nẫu.
Có thể có nhiều bạn bè chưa hài lòng về nội dung,hình thức của xunauvn.org .Cũng có thể có nhiều tác giả bài viết hơi lạ lẩm về phong cách comment không ăn nhập gì đến nội dung tác phẩm.Không hề chi,bởi vì đây không phải là trang web chuyên nghiệp .Khiếm khuyết là lẽ đương nhiên .Sự nhiệt thành và lòng bao dung sẽ giúp chúng ta gần nhau hơn và dần khắc phục những sai sót thường thấy ấy
Qua vỏn vẹn chưa đến nửa tháng,vừa làm vừa học,xunauvn.org đã đạt được những thành quả nho nhỏ bước đầu.Số lượng người truy cập đông đảo. Bài vở ” tự doanh ” phong phú,đa dạng và thu hút được nhiều cây bút tên tuổi tham gia. Comment của các bài viết luôn đạt kỷ lục “guiness”…vân vân và vân vân
Có được thành công ấy có thể mạnh dạn khẳng định rằng là nhờ công lao của toàn thể thân hữu đã không ngại vất vả khuya sớm chung tay cùng admin chăm lo cho trang web. Cái tấm lòng ấy,biết nói sao đây cho vừa?
Nhân dịp Xứ Nẫu chính thức đi vào hoạt động thay mặt Ban chủ biên chúng tôi xin bày tõ lòng biết ơn đến toàn thể quý thân hữu đã ghé thăm,còm ,viết bài và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để xây dựng trang web ngày càng phát triển . Xin cảm ơn đến các trang web ,weblog bạn bè đã giới thiệu,quảng bá trang xunauvn.org đến với công chúng.
Một lần nữa xin cảm ơn và chúc sức khỏe.
Kính
Ăn Và Đọc
Posted in Ẩm thực, Nghiên cứu và phê bình văn học, Văn xuôi, Xứ Nẫu, Người Nẫu, tagged Võ Phiến on Tháng Tám 30, 2011| 5 Comments »
Võ Phiến
Thỉnh thoảng chúng ta gặp ở tiệm một vài người Mỹ ngồi ăn phở. Có người cầm đũa khá thạo. Trong số một đôi triệu người Mỹ luân phiên đến xứ này rồi ra đi, những kẻ tò mò tiến xa vào nếp sống Việt Nam tới mức ấy chắc không lấy gì làm nhiều. Các kẻ ấy trở về nước, giữa dăm ba câu chuyện ly kỳ về đất Việt xa xôi kể với bạn bè, có thể múa biểu diễn cặp đũa, có thể nói đến cái mùi lạ lùng của rau quế vừa ăn vừa ngắt từng lá bỏ vào tô phở, đến cái vị ngộ nghĩnh của những tép củ hành nhúng trong nước dùng vớt ra với chỏm lá xanh xanh v.v… Như thế là vượt xa quá những khuôn sáo, những chỗ gặp gỡ thông thường của các du khách rồi. Du khách Tây phương nói về món ăn Việt, bất quá gặp nhau ở món nước mắm, rồi thôi.
Vậy những người Mỹ hiếm hoi nọ đáng khen, về sự hiểu biết rộng rãi.
Tuy nhiên từ chỗ biết ăn phở cho đến cái trình độ am hiểu các đặc điểm, các sở trường sở đoản của từng thứ phở bò, phở gà, phở nước, phở áp chảo, phở tái, phở chín, phở nạm, phở gầu, phở sụn v.v…, còn nhiều cách biệt. Rồi từ chỗ thạo phở cho đến cái tâm tình về phở như của Nguyễn Tuân, lại còn một tầng cách biệt nữa. “Nắm vững” một món ăn — chỉ một món thôi — đâu phải dễ.
Thật vậy, không cứ là khách ngoại quốc, ngay đến người Việt Nam không phải ai cũng bưng tô phở mà ăn như nhau, với những cảm tưởng giống nhau. Một nông dân ở thôn ấp nào đó ngoài Phú Yên, Quảng Ngãi v.v… ăn phở Bắc cũng như ăn hủ tiếu Mỹ Tho, cũng như ăn mì Tàu, nghĩa là hững hờ. Còn người nông dân ở Cà Mau, Rạch Giá v.v… chẳng hạn có thể có sự thiên vị bất lợi cho phở. Người Việt miền Nam chỉ hoan hỉ chấp nhận món phở sau một vài canh cải, tức sau khi đã trút vào tô phở được non nửa dĩa giá sống.
Phở là món ăn phổ biến hết sức rộng rãi từ Bắc chí Nam mà còn thế, huống hồ là những món ăn khác. Mỗi món ăn thường chỉ được sủng ái ở một vùng, hoặc rộng hoặc hẹp. Xơi nó thì ai cũng xơi được, nhưng gọi là tri kỷ, biết đến tận cùng cái ngon của nó, chỉ có thể là người một địa phương. Chả cá, bún thang, là những thứ quí của đất Bắc; từ ngày vào Nam dường như nó lạc lõng, ít ai thấu triệt ý vị của nó. Bún bò, bánh lá, ngày nay lưu lạc khắp nơi; nhưng tôi tưởng tượng ở một góc chợ Trương Minh Giảng, ở một hẻm Bàn Cờ, thỉnh thoảng miếng bánh lá mỏng mà gặp lại một cái lưỡi Huế có phảng phất mùi thuốc Cẩm Lệ nó sẽ mừng rơn. Bỏ một miếng bánh, húp một muỗng bún vào mồm, có phải ai cũng thưởng thức như ai đâu. Giữa món ăn với người ăn phải có sự tương đắc. Khi đã tương đắc, đã cảm thông sâu xa với nhau, người Nam ăn ba khía, ô môi, người Huế ăn cơm hến, người Bình Định ăn mắm cua chua chan bún thấy thấm thía, nồng nàn. Cái mùi vị nồng nàn ấy, kẻ khác không chịu được.
Mỗi món ăn chỉ có một số người thực sự hiểu nó, số người ấy là của một địa phương. Vậy món ăn có liên hệ đến khí hậu địa phương chăng?
Ở xứ lạnh dễ thấy cái ngon trong trong chất mỡ béo, ở xứ nóng dễ rành về các thứ rau, canh. Người Huế ăn cay, một phần hình như cũng vì khí trời ẩm ướt của những mùa mưa dai dẳng. Người miền Nam thích giá sống vì nó giải nhiệt?
Khi đã chuyên ăn một món nào đó, người ta càng ngày càng thành thạo trong việc chọn lựa, sử dụng, người ta tìm thấy ở nó những đặc điểm mà kẻ khác không để ý đến; do đó người ta vượt bỏ, tách rời khỏi quần chúng. Về quả ớt chẳng hạn, chắc chắn đồng bào ở các nơi ít ai theo kịp người Huế trong cách thưởng thức: kẻ yêu ớt không chỉ yêu nó vì cái vị cay, mà còn vì mùi hăng nồng, vì cái tiếng kêu giòn phát ra dưới răng khi cắn nó, lại yêu vì trông nó sướng mắt, cầm nó sướng tay trong giây phút mân mê trước khi đưa lên mồm… Người Huế ngoài cách ăn ớt bột, ớt tương, ớt xắt, ớt giã v.v…, còn thích lối ăn cầm cả trái ớt tươi rắn chắc mà cắn kêu đánh bụp trong miệng thật ngon lành; để cắn, họ chọn ớt xanh.
Nhưng một chuyện khí hậu nhất định không đủ. Cái ăn còn tùy thuộc ở sản phẩm sẵn có của địa phương, ở lịch sử v.v… Ở lịch sử? Nghe thì to chuyện, nhưng chính tại lịch sử mà người Bình Định quen ăn bánh tráng. Thứ bánh tráng Bình Định tìm mua ở Sài Gòn rất khó, vì không thấy bán ở các chợ, chỉ gặp tại một vài nơi ngoại ô hẻo lánh; người Bình Định có những bữa ăn dùng toàn bánh tráng thay cơm, cho nên bánh tráng ở đây có địa vị quan trọng hơn ở các địa phương khác. Đi xa, người Bình Định nhớ bánh tráng như người Việt sang Âu châu nhớ cơm, nhớ bánh cuốn. Như thế có phải vì bánh tráng từng là lương khô dùng trong quân đội Nguyễn Huệ, xuất phát từ Bình Định?
Món ăn còn quan hệ với lịch sử theo cách khác. Thiết nghĩ người Việt Nam đời Trần dùng món thịt cầy không đối diện với dĩa rau thơm giống dĩa rau thơm chúng ta có trước mặt ngày nay. Không phải đột nhiên tự lúc đầu lá mơ đã đi với thịt cầy, rau om đã tìm đến thịt cầy. Tôi chắc thế. Các đấng tổ tiên phải có một thời kỳ mò mẫm, thí nghiệm; có thể các ngài đã thử dùng lá chanh và rau răm ăn với thịt heo chẳng hạn, dùng rau om với thịt gà, dùng lá lốt với thịt cầy chẳng hạn v.v… Cả tập thể tham gia vào cuộc tuyển trạch, mọi người đều có quyền tự do khen chê. Những cái không thích hợp dần dà bị đào thải, các lầm lẫn được sửa chữa, các thiếu sót được bổ túc. Cứ thế, từ thế kỷ nọ sang thế kỷ kia, hết thế hệ này đến thế hệ khác kế tiếp nhau canh tân, rốt cuộc mới đến chỗ toàn mỹ.
Nhưng đã toàn mỹ chưa? Chưa chắc. Hôm nay ta nhắm nháp chả cá, lấy làm đắc ý và hãnh diện về nghệ thuật nấu nướng của dân tộc; tam bách dư niên hậu, có thể cách ấy sẽ bị xem là quá thô sơ. Trước đây năm bảy thế hệ, trên mâm chả cá có thể thiếu thìa là, có thể thiếu chén đậu phụng rang, mắm tôm có thể thiếu giọt cà cuống… Sau đây năm bảy thế hệ người Việt nữa, ai ngờ được sẽ xảy ra thêm những phát kiến gì mới?
Một món ăn, nó cần có thời gian để tự cải tiến; mỗi địa phương cần có thời gian để hoàn thiện các món ăn của mình. Lâm Ngữ Đường chê bai món ăn Tây phương nghèo nàn: nó nghèo nàn như vậy phải chăng vì lịch sử văn minh của Tây phương ngắn ngủi hơn của Trung Hoa? Lịch sử dần dà làm phát triển văn chương, khoa học; nó cũng làm phát triển các món ăn nữa. Nhưng trong khi các kế hoạch gia hy vọng đốt giai đoạn để sản xuất gấp bom nguyên tử, không ai đốt được giai đoạn để cải thiện món phó-mát, để sản xuất gấp một thứ phó-mát mới ngon hơn các thứ cũ. Nghệ thuật khoan thai đủng đỉnh hơn khoa học; nó không chịu sự thúc bách giục giã. Phải chờ đợi. Phải có thời gian cho nó.
Sự hình thành của một món ăn cũng như của một câu ca dao, của một điệu dân ca. Ấy là những công trình tập thể, trong đó mỗi cá nhân đều có sự đóng góp. Thật dân chủ, bình đẳng: mỗi người một lá phiếu. Lá phiếu ở đây là cái lưỡi. Và sự chọn lựa của mỗi người không có lý do gì để thiếu chân thành. Mỗi người chọn lựa bằng cả các tạng phủ của mình, bằng tất cả các đặc điểm thể chất của mình, để cùng nhau đi đến cái kết quả chung trong đó mỗi người của địa phương đều có trách nhiệm: người Huế tìm ra cái hay ho của ruốc, người Nam thấm thía ý vị của nước cốt dừa v.v… Tại sao vậy? Người ta không tìm được câu trả lời dễ dàng. Sự chọn lựa ấy, căn nguyên của nó bắt nguồn từ những cội rễ nào thâm thiết sâu xa trong kiến trúc sinh lý của con người mỗi nơi. Người của mỗi địa phương có một cá tính riêng về tâm lý: có nơi hào hùng, có nơi keo kiệt, có nơi ưu du nhàn dật… Mỗi địa phương cũng có thể có một cá tính sinh lý chăng? Sự dị biệt trong thứ cá tính ấy hẳn là mong manh, tế nhị, tinh vi lắm; khó lòng mà biện biệt phân minh. Tuy nhiên rõ ràng nó đã nêu ra những đòi hỏi khác nhau, những sở thích khác nhau.
Như vậy người ta không chỉ ăn bằng mồm. Con người ăn là ăn bằng cả gốc gác quê hương, bằng phong tục tập quán của mình, bằng cái khí chất riêng biệt của cơ thể mình, cũng như bằng lịch sử, bằng trình độ văn hóa của xứ sở mình. Trong một dĩa đồ ăn, có phản ảnh của khí hậu một miền, của những đặc điểm sinh lý con người địa phương… Và giả sử nói có cả phản ảnh của một phần nào những đặc điểm tâm hồn trong đó có quá chăng? Cái vị ngọt rất thanh của các thứ chè ở Huế gợi nhớ đến nét dịu dàng trong giọng nói và trong tính tình người Huế. Nhất là nếu so sánh thứ nước chấm pha chế rất dịu ở Thừa Thiên với thứ nước mắm thường dùng giữa khoảng đèo Hải Vân cho đến đèo Đại Lãnh, người ta không khỏi nghĩ đến cái tâm lý xẳng xớm bộc trực của người dân Việt từ Quảng Nam Quảng Ngãi trở vào…
Từ chút nước mắm chấm rau chấm thịt mà nói đến tâm hồn con người, e đã quá xa. Tưởng không nên tiếp tục chuyện ăn uống nữa, nếu không muốn lạc vào chỗ viển vông lố bịch.
Nhưng văn chương nghệ thuật lại cũng không khác cái ăn là mấy. Ca dao, dân ca là sản phẩm của một địa phương; và thưởng thức đến tận cùng cái hay ho của nó hình như cũng chỉ có thể là người của địa phương. Nghe một điệu ru à ơi trong đêm khuya chúng ta rung cảm thấm thía đến đáy lòng, tưởng trên thế giới khó có một giống dân nào nghe điệu hát ấy mà cùng có được cái rung động của chúng ta. Họ có nghe chăng bất quá là nghe bằng lỗ tai thẩm âm tinh tế; còn chúng ta nghe bằng cả quãng đời thơ ấu của riêng mình, bằng truyền thống của dân tộc mà mỗi chúng ta thừa tiếp nơi mình…
Hiểu một câu ca dao, một bài thơ cũng vậy. Ngôn ngữ dùng để làm ra thơ văn không thể là cái ngôn ngữ chỉ có nghĩa mà thôi. Tiếng Espéranto không có hy vọng dùng vào thi ca. Nó chỉ có nghĩa, nó không có hồn.
Hồn của ngôn ngữ là cái quái gì?
Mỗi tiếng nói: non sông, ruột thịt, xanh, vàng v.v…, ngoài cái nghĩa nó ra, còn có khả năng khơi động nơi mỗi chúng ta một rung cảm nào đó. Liên quan giữa rung cảm nọ với ý nghĩa của mỗi tiếng nói thật xa xôi mơ hồ. Bởi vì cùng một tiếng có một nghĩa nhất định, lại có thể gợi lên những xúc động khác nhau tùy mỗi người, mỗi dân tộc. Cái nội dung tình cảm mơ hồ nọ do cuộc sống của tập thể gửi vào ngôn ngữ. Có dự vào cuộc sống của tập thể nào mới cảm thông với cái hồn của ngôn ngữ nấy. Chủ trương thơ thuần túy chính căn cứ vào sức tác động bí ẩn của ngôn ngữ, chứ không phải vào ý nghĩa minh bạch của nó; bởi vậy cái hay mà thơ thuần túy nhằm đạt tới là ở ngoài phạm vi ý nghĩa. Và như thế một kẻ trí thức ngoại quốc, sống ngoài cộng đồng dân tộc Pháp, một kẻ mà những buồn vui sướng khổ trong đời không liên hệ gì đến tiếng nói Pháp, mà hàng ngày những tai nghe mắt thấy cùng xúc cảm trong lòng không dính líu gì đến tiếng nói Pháp…, một kẻ như thế có thể thưởng thức được gì ở thơ Valéry, Mallarmé? có thể thưởng thức sao được như một người Pháp?
Cũng như ăn không chỉ bằng mồm, người đọc không chỉ đọc bằng khối óc suy xét. Người ta thưởng thức cái đẹp của một văn phẩm nước nào bằng cả cái kinh nghiệm chung chạ cùng tiếng nói nước ấy, bằng cả sự gần gũi với nếp sống đã từng phát sinh và không ngớt bồi đắp cái tiếng nói ấy… Nếp sinh hoạt nọ đã thổi sinh khí vào ngôn ngữ kia, làm sao hiểu hết một công trình mỹ thuật xây dựng trên ngôn ngữ kia mà không cần biết đến nếp sinh hoạt nọ?
Nguyên một tiếng nói để sử dụng đã thế, những công trình xây dựng bằng tiếng nói ấy lại còn mang thêm nhiều nét cá tính của từng xứ sở, từng dân tộc.
Âm thanh và cuồng nộ của Faulkner là một tuyệt phẩm của Mỹ. Con người Việt Nam chúng ta biết tìm ở chỗ xó xỉnh nào trong tâm hồn mình cho ra cái “cuồng nộ” tương tự? Sách đọc mà thực tình thấy khoái là khi nào người đọc cảm thấy giữa mình với tác giả có chỗ đồng thanh đồng khí. Đàng này cái “cuồng nộ” nọ chỉ làm ta kinh ngạc.
Người Mỹ, qua các nhân vật của Steinbeck, của Hemingway, của Caldwell v.v…, thấy quả thấp thoáng họ có cái bạo liệt dữ tợn riêng. Những anh chàng mê say vuốt lông chuột, ham đấm đá, đấu bò rừng, những ông cha trông thấy đứa con trai độc nhất vừa tự tử chết lại tiến đến bắn thêm cho nó một phát vào đầu, trông thấy thằng rể da đỏ liền quạt cho nó một loạt đạn dưới chân v.v…, những nhân vật ấy đã mang sẵn ít nhiều cuồng nộ nơi mình; tâm hồn của họ tương ứng với nhau. Gặp nhau họ thích thú, họ khoái trá. Còn chúng ta, không phải là cá mà đòi vui cái vui của cá sao được!
Trái lại, một vài tác giả Việt Nam như Nguyễn Tuân chẳng hạn làm sao được thưởng thức ở một dân tộc hiếu động? Nguyễn Tuân tiền chiến có cái ề à dềnh dang, chuyển ra ngoại ngữ có lẽ là vô duyên mà đối với chúng ta thì là hấp dẫn. Bút pháp ấy biểu hiện một phong thái đặc biệt, quen thuộc ở một lớp người trong xã hội ta, nhắc nhở đến nếp sống của dân tộc ta trong một thời đã qua; ta thấy nó đẹp, người ngoài có thể chỉ thấy là lạ, nếu không là kỳ cục.
Như vậy bảo rằng nhân loại giống nhau quả có giống, nhưng chú ý đến chỗ khác nhau thì cái khác cũng sâu xa lắm lắm.
Hơn ba mươi năm trước, khi những cuốn truyện của Pearl S. Buck ra đời, Âu Mỹ lấy làm ngạc nhiên. Trong bài tựa cuốn Người mẹ, Louis Gillet cho rằng Pearl Buck đã trình bày được chỗ lạ lùng nhất của người Tàu, ấy là họ rất giống người Âu Mỹ.
Xưa kia, phương tiện giao thông hiếm hoi, xứ xứ cách nhau, người người xa nhau, vì vậy dân Tàu cho dân Âu là quiû, dân Âu cho dân Tàu cổ quái: tục lệ kỳ dị, ăn mặc lố lăng, ngôn ngữ líu lo. Cái bề ngoài dị biệt làm cho các dân tộc không hiểu nhau. Sau bước đầu tiên kết thân, người ta thở ra nhẹ nhõm: Thì ra Tàu với Tây cùng là người cả, không ai là quỉ. Cũng hỉ, nộ, ai, lạc… Giống nhau đáo để! Hay nhỉ.
Nhưng rồi gần gũi lâu dài hơn chút nữa, đi sâu vào các hỉ nộ ai lạc ấy, mới lại thấy muôn vàn khía cạnh khác nhau.
Như thế có một thời kỳ để chúng ta phát giác ra chỗ giống, và một thời kỳ nữa để nhận định ra các chỗ khác của nhau.
Một cuốn sách về cơ học, dịch ra tiếng nước nào cũng hiểu được cùng một cách; nhưng một tác phẩm văn nghệ phải tìm đến những tâm hồn đồng điệu. Bạn đồng điệu, tôi ngờ rằng không thể cách ta quá xa trong không gian.
Thỉnh thoảng gặp những người không thích ứng được với những món ăn của đồng bào khác địa phương ở ngay trong nước mình, mà lại tiếp đón niềm nở tấm tắc ngợi khen ngay các hình thức văn nghệ mới lạ từ xa đến, các trường hợp đó đôi khi đáng ngờ.
Cơ thể chọn món ăn riêng cho nó và có những yêu ghét rõ rệt; tâm hồn chọn cái đọc lại dễ dàng hơn sao?
(Đăng trên tạp chí Tân Văn số 4. — Xuất bản trong cuốn Tạp luận năm 1973, tại Sài Gòn.)
Cua đá suối với vị của rừng
Posted in Ẩm thực, Xứ Nẫu, Người Nẫu on Tháng Tám 29, 2011| 24 Comments »
SGTT.VN – Khác với các loại cua sống ở biển, ở đầm và ở đồng ruộng, con cua đá thường sống trong các hốc đá trên suối ở miền núi. Loại cua này ít được con người khai thác đến cạn kiệt. Thịt cua đá thơm, chắc; chế biến được nhiều món ngon lạ, nhất là “phối” nó với gia vị của rừng.
|
Cua đá vừa được bắt từ dưới suối, tươi nguyên. Ảnh: Mỹ Tuyết
|
Trong những tháng này, chúng tôi thường rủ rê nhau lên vùng rừng núi thôn Xuân Trung, xã An Xuân, huyện Tuy An – Phú Yên thăm thú; giăng cá, tắm suối, ăn rau rừng… Và đáng nhớ nhất là bắt cua đá. Theo dân bản địa thì hiện cua đá có nhiều nhất ở vùng này. Cua đá mang sắc đỏ nâu, sống trong hốc đá dưới những con suối lớn, nhỏ; trong vườn chuối, nương rẫy… Chúng ăn côn trùng, lá rừng và sinh sản nhiều. Cua đá thường bằng nắm tay, con lớn có khi bằng cái chén với hai càng to khoẻ.
Để bắt cua đá không khó tí nào. Thường sau nhiều ngày nắng, trời làm giông rồi đổ mưa, khi đó cua đá từ trong hang hốc bò ra uống nước dầm mưa. Nếu trời không mưa thì dùng cơm nguội trộn với đậu phộng giã nhỏ, đem rải theo các hũng nước. Nước suối chảy, trôi mồi vào các hang đá, chỉ khoảng mười phút, các chú cua lớn, nhỏ bò ra gắp mồi. Tha hồ chọn con mập mà bắt. Cua đá rừng chế biến nhiều món hấp dẫn nhưng theo anh bạn tôi, “loại cua này, mình nên làm những món có chút rừng rú mới ngon”. Thế là, trưa hôm đó, chúng tôi được thưởng thức những món cua đá chưa bao giờ được thưởng thức.
Cua nướng giã muối ớt làm đơn giản nhất. Chọn những con vừa nắm tay, nướng trên lửa than cho chín vàng, chọn phần thịt phía bụng đem giã nhuyễn với muối hột, ít bột ngọt, lá ngò tàu mọc ngoài bờ suối và ớt sim rừng. Chén muối cua này ăn với cơm nắm hay cơm nóng đều thơm lạ – ngon đến lớp cơm cháy cũng hết ráo. Canh cua đá cũng là món độc đáo, nấu canh nên chọn những con cỡ vừa, loại này mềm, mau ngọt nước. Sau khi rửa sạch thân ngoài, bóc gạch vỏ, không rửa nước lã, có thể giã cho con cua giập sơ. Canh cua đá phải nấu với rau săn rừng mới nồng nàn. Rau này cũng mọc quanh bờ suối, chọn lá non, canh sôi thả săn rừng vào chừng năm phút – rau còn xanh bắc xuống mới ngon.
Cua đá rang muối, cua đá hấp sả, cua đá nấu bún riêu, cháo… món nào cũng đặng, nhưng tuyệt sắc phải là muối cua đá và canh săn rừng.
Mỹ Tuyết
Nói và nghe giọng Nẫu
Posted in Nghiên cứu và phê bình văn học, Xứ Nẫu, Người Nẫu, tagged Thuận Nghĩa on Tháng Tám 27, 2011| 87 Comments »
Thuận Nghĩa
1.GIỌNG NẪU:
Tôi có một anh bạn quê Phú Yên sống lâu năm ở Sài Gòn. Nhân đi công tác ở Tuy Hòa, anh đưa các đồng nghiệp gốc Bắc và Nam bộ ghé thăm nhà anh ở ngoại ô thị xã. Bà con nghe anh về kéo đến chào. Anh hỏi thăm cậu cháu họ: “ Cháu làm nghề gì? Đủ sống không?”. Cậu ta trả lời: “ Cháu thi rớt tú tài, nên ở nhà làm thơ, cũng tạm sống qua ngày, chờ sang năm thi lại…”. Một vài người bà con khác của anh cũng nói với anh họ làm thơ
như vậy. Một ông bạn người Sài Gòn ngạc nhiên hỏi anh: “ Sao con cháu của anh có nhiều người làm thơ vậy, họ hàng nhà anh có máu thi văn, sao tôi không thấy anh văn chương thi phú gì cả, suốt ngày chỉ lo làm chuyện trời ơi không…?”. Anh bạn tôi mới giải thích giọng xứ nẫu phát âm làm thơ tức làm thuê, làm mướn.
Một cháu dâu của tôi người Bình Định thường mang rau quả vào Sài gòn bán sỷ, kể lại rằng có lần chị ta gọi một anh xe ôm ở Thủ Đức: “ Đi chợ đầu mấu giá bao nhiêu?”. Anh xe ôm ngẩn tò te hỏi lại: “ Chị bảo chợ nào? Ở đây là gì có chợ đầu máu, đầu xương gì. Chợ gì nghe ghê bỏ mẹ…”. Cháu dâu tôi bèn “dịch” ra tiếng Sài Gòn : “Chợ đầu mối rau đó mà. Xin lỗi…”. Anh xe ôm vỡ lẽ và trên đường đi nhờ cháu dâu tôi “giảng” ba điều bốn chuyện về giọng xứ Nẫu.
Những người xứ Nẫu tha phương cầu thực như tôi, tuy không quên giọng Nẫu nhưng mỗi lần về quê, khi qua đèo Cả là bắt đậu “luyện giọng” xứ Nẫu để không bị bà con chê lai căng, mất gốc. Thật ra, ở các thành phố lớn như Tuy Hòa, Quy Nhơn giọng xứ Nẫu ít nhiều lai tạp, hoặc Bắc hóa hoặc Nam hóa – nói chung là phổ thông hóa. Còn ở nông thôn giọng Nẫu ít bị “pha”, kể cả cách phát âm từng từ, phương ngữ lẫn cách nhấn câu (intonation).
Trên trang mạng xunau.org, các “còm sỹ” hay “bình giả” thường viết với giọng Nẫu, chẳng hạn thâu mà, tậu lẫu, típ, dzẫy na,…Nếu ai không phải Nẫu rặc có thể gặp khó khăn để đọc-hiểu. Để giúp bạn Ôn giọng Nẫu, xin tham khảo bản liệt kê dưới đây :
ÂM PHỔ THÔNG VÀ ÂM XỨ NẪU TƯƠNG ĐƯƠNG
Ê (PT) => Ơ ( NẪU) vd: cà-phê -> cà-phơ, tái tê -> tái tơ
Ê (PT) => IA (N) /đi về -> đi dìa
UƠ(PT) => Ơ (N) /thuở -> thở
UÊ (PT) => Ê => Ơ (N)/làm thuê -> làm thê -> làm thơ
OAN(PT)=> ON/AN(N) / loan-> lon, toàn -> tàn
UYNH (PT) => INH (N)/ huỳnh -> wình ( âm hu -> w, phổ biến trong nhiều ngôn ngữ)
UYÊN(PT)=> IÊN(N)/ tuyên truyền-> tiên triền, xuyên-> xiên,…(phổ biến phiá Nam)
ÊM /IÊM(PT)=> IM(N)/ đêm-> đim, kiếp-> kíp, …
ÔI (PT)=> ÂU (N)/ tội lỗi->tậu lẫu, thôi nôi->thâu nâu, đầu mối->đầu mấu
ÔI (PT)=> UI (N)/ thối (mùi)->thúi, tôi->tui
OA(PT)=> A (N)/ toa->ta,đáo (hoa)-> đá wa, chủ tọa->chủ tạ
Ghi chú: Người xứ Nẫu còn chia sẻ cách phát âm phổ biến của dân “đàng trong” như
v =>d (Việt-> diệt), không phân biệt âm cuối t và c, g và không g,… Bản liệt kê trên đây có thể còn thiếu sót, mong được bổ sung).
2. THỬ GIẢI THÍCH TỪ NGUYÊN TỪ “NẪU”.
Mới đây, trên xunau.org (thử nghiệm) có đăng lại bài “ Nẫu ơi, Thương Lắm” của tác giả Lê Phúc Liêm, có đoạn giải thích xuất xứ từ NẪU. Tác giả dẫn tự diển của Trương Vĩnh Ký, Thanh Nghị để xác nhận rằng chỉ có từ NẬU (dấu nặng) là đại danh từ chỉ bọn, tụi, người ta. NẬU xuất hiện trong một số ca dao, tục ngữ, mà tiêu biểu là câu ca dao BĐ “ ai về nói với NẬU nguồn/ Măng le chở xuống, cá chuồn gởi lên”. Tác giả cho rằng NẬU biến ra NẪU “là sự lẫn lộn giữa dấu nặng(.) và dấu ngã là lẽ thường”.
Tôi không đồng ý đó là sự lẫn lộn mà là sự biến âm theo quy luật của giọng xứ Nẫu. Nếu xét về âm vị học thì ngôn ngữ nào cũng có sự biến âm tương tự. Giọng Nẫu, khi danh từ được dùng như đại danh từ như ông ấy, bà ấy, cô ấy,… thì thêm dấu hỏi, ngã hoặc nặng (một vài trường hợp) nói gọn thành ổng, bã, cổ,… (cũng có một số trạng từ cũng biến âm theo cách nầy như trong, ngoài, trên -> trỏng, ngoãi, trển…).Theo quy luật ấy NẬU ẤY => NẪU.
Xem bản khảo sát dưới đây:
1.Từ gốc không dấu biến âm với dấu HỎI.
Cô->cổ, Ông -> Ổng, Anh -> Ảnh, Con -> Cỏn, Trong -> Trỏng,…
2 Từ gốc dấu huyền biến âm với dấu NGÃ
Bà -> bã, Ngoài -> ngoãi, Dì -> dĩ, Thằng -> thẵng,..
3. Từ gốc dấu nặng biến âm với dấu NGÃ
Cậu -> cẫu, Dậy đó (vậy đó) -> dẫy, và NẬU ấy/đó -> NẪU
Trên đây cũng chỉ là suy luận theo phương pháp đối chiếu. Tôi cũng chưa có dịp tham khảo ý kiến của các nhà chuyên môn. Các bạn cứ xem như chuyện“ăn giỗ nói dóc” để dân sình “tám” mua vui.
* Thuận Nghĩa
(22-8-20110.)



























