Tháng chạp rồi. Giờ này của 30 năm về trước, đi hái rau heo về ngang xóm rẫy đã thấy chơm chớm vạn thọ trổ những búp tròn như cúc áo. Tới 20 tháng chạp thì người ta bắt đầu nhổ bán. Cái màu vàng của tết quê nghèo thời đó, nhà ai cũng chưng vạn thọ. Sắc hoa tết khiến mọi nhà giàu nghèo đều bình đẳng. Giàu thì chưng từ ngõ vào sân, nghèo thì đôi chậu trước nhà và hai bên bàn thờ. Giàu, thì chơi từ trước tết 10 ngày, nghèo thì trưa 30 tết ra chợ mua hoa ế, vẫn đẹp y vậy.
Vạn thọ, đôi khi tôi nghĩ nó còn là cầu nối hai thế giới, của người sống và của ông bà khuất mặt. Nó được chưng ở nhà lẫn ngoài mộ.
Quê, vạn thọ được trồng ngoài rẫy. Đôi khi là bên những bìa rẫy nho, rẫy bắp. Có những đứa trẻ nghèo được cha mẹ chúng bày trồng vài luống, gần tết nhổ bán kiếm tiền mua áo mới và còn mấy đồng chơi bầu cua tôm cá.
Nhớ ngày còn bé, từ những xóm rẫy vùng cát, xe ngựa chở những mùa vạn thọ về phố rồi lại chở mấy món đồ chợ tết từ phố về quê. Những bụi vạn thọ vàng chanh như màu nắng non, lại có những bụi màu vàng lúa chín, quê mùa mà ấm áp. Nhiều nhà không có hoa mai, bởi nó đắt và không phải bao giờ cũng chọn được cành mai nhiều nụ, nhưng vạn thọ thì nhà ai cũng có, làng quê nào cũng có.
Những năm học đại học, chiều cuối năm đầy gió, ra sau ký túc xá Bình Triệu, cả một vườn mai sắp nở vẫn chưa thấy tết, nhưng rồi ra quán cà phê bên sông ngồi, một cái xà lan chạy qua, trên đó là mấy cặp vạn thọ vàng, chợt nhớ quê nhớ tết đến nao lòng.
Vạn thọ dễ sống, cứ nhổ nguyên bụi về rồi cho vào xô, cho cát vào và tưới nước thì nó tươi màu đến qua tết. Ngày xưa nghèo đến độ xoong cũ, xô nứt cũng thành bình thành chậu chưng vạn thọ, chỉ là dán phủ giấy màu bên ngoài. Để hai chậu vạn thọ hai bên bàn thờ và thắp nhang, màu vạn thọ và mùi nhang là đủ tết. Bàn thờ tết ở quê chỉ nải chuối và vài gói bánh cốm giã tay bọc giấy hồng giấy đỏ mà sao gợi hết sức. Nó tết còn hơn gì.
Có một đêm giao thừa xa quê trên penhouse nhà bạn. Vợ nó đi Mỹ ăn tết với con, có một mình y cũng tha đủ thứ hoa về nhà. Tiền bày biện cái bàn thờ nhà nó chắc cũng đủ vài chục hộ nghèo ăn cả cái tết. Nó mở chai rượu đắt tiền, hai thằng ngồi, uống nhiều mà cứ thấy sao sao. Chiều hôm sau nó lại rủ qua nhà uống rượu và ăn tết quê. Mấy chậu lan đã được cắm vào bình để chỗ khác, hai bên là hai chậu vạn thọ. Đốt tí nhang trầm, cắt miếng giò, nó nói hôm qua nghĩ mãi không biết thiếu gì, ra là thiếu hoa vạn thọ. Rượu đế và vạn thọ mới là tết mày ạ.
Thì ra, ngay với dân làm ăn như nó, ngày tết xa quê cũng bị níu kéo về ngày xưa với ký ức nghèo khó. Và vạn thọ quả là có sức dẫn dụ mãnh liệt.
Có đâu vài năm, tự nhiên vạn thọ ít hẳn, rồi đôi năm lại đây lại ngập tràn, vàng ấm hân hoan đón xuân về. Sẽ có kẻ đa cảm gồng lên ăn tết tha hương để chiều cuối năm gục ngã trước sắc vàng vạn thọ ven đường mà hối hả tìm mua chiếc vé cuối về quê cho kịp tết; sẽ có kẻ vì lý do nào đó mà xa nhà để chiều ba mươi ngồi nhấp ngụm rượu rồi nhìn màu hoa mà nghe vị đắng ly hương. Khi đó, trong một giây, sẽ thấy có những phút lòng yếu đuối đến độ dám từ bỏ thị thành vì màu vàng vạn thọ; sẽ thấy sự thiệt thòi đến cùng tận khi có tất cả mà không có quê để trở về.
Nhưng muốn được khóc cười với vạn thọ như vậy, bạn phải là dân miền Trung, dân xóm rẫy.
Hai năm trước, nhà đã đầy hoa, chiều 29 mình lại chở về một xe đầy vạn thọ. Chỉ là trên lề đường Phan Văn Hớn có một cậu trai loay hoay với nguyên một dải vỉa hè và những chậu vạn thọ sắp ngay hàng thẳng lối, năn nỉ: Anh Hai mua cho em có tết.
Nó lấy tiền thưởng tết mua một xe hoa chở từ Cái Mơn lên mà không bán được. Cho thêm ít tiền bảo mai mà không bán được thì kêu anh ra phụ bán với mày, tao nhẹ vía. Trưa 30 thấy nó alo nói anh ơi em về quê đây, em bán hết trơn rồi, em tính mua biếu anh cặp bưởi mà không biết nhà anh đâu. Bèn nói chờ tí, đừng mua bưởi. Ghé ra cho nó mấy hộp quà mình được tặng. Nó nói vầy tết này em bảnh rồi anh.
Vạn thọ cứ gợi cho mình nghĩ lan man những chuyện ngày xưa. Màu hoa là màu của sum vầy, của ngày tết, màu hoa vạn thọ buổi giao mùa đưa ta về ký ức. Mà không hiểu vì sao cái cây hoa chu kỳ sống có hai tháng rưỡi lại có tên là vạn thọ? Phải chăng mỗi mùa hoa là thêm một cái tết, người già thêm tuổi nên người xưa muốn đếm tuổi bằng những mùa vàng dân dã ấy?
Leonid Maximovich Leonov Sinh ngày 31 tháng năm 1899 mất 8 tháng 8 1994, là nhà văn Nga nổi tiếng, tác giả Trộm cắp (1927), Rừng Nga (1953) Kim tự tháp (1994)…Được coi là kế tục Dostoievsky ở thế kỷ 20 với chất vắn xuôi đầy suy tư trăn trở
Trà giống như mùi cỏ mục, đường có vị dầu hỏa. Sađaép dằn mạnh chén trà uống dở xuống bàn, và lơ đãng nghe tiếng ồn ào huyên náo trong quán trọ. Thường trong những phiên chợ ngày chủ nhật cứ vào khoảng giữa trưa là sự sôi động lại tăng lên nhưng Sađaep được vây bọc bởi im lặng hoàn toàn. Anh đột ngột đứng dậy, giơ hai tay ra phía trước, bước về phía cửa sau quán rượu. Coi trọng danh tiếng không chê vào đâu được của quán mình còn hơn con mắt độc nhất của lão, lão chủ quán vội bước theo Sađaep nhưng lão đã nghi ngờ vô ích.
Trong bóng tối mờ mờ màu lục của sân sau, với những vệt sáng lọt qua những kẽ nứt, người khách trọ đang đóng yên con lừa cái của anh ta. Con lừa cái có bộ lông thẳng mượt cố níu lại khi bị kéo ra khỏi máng ăn đầy tú hụ, nhưng người khách trọ không tức giận, thậm chí không hề để ý. Tuy vậy, anh ta cúi xuống nhặt một mẩu vỏ bánh mì bị ai đó ném trên rơm bẩn. Anh ta chăm chú nhìn nó một hồi lâu rồi mới bỏ nó và túi du lịch. Thấy lạ vì hành vi bí ẩn của Sađaep, người chủ quán bước ra khỏi chỗ nấp. Sađaep trở nên luống cuống.
“Mấy con chó sẽ sung sướng thấy cái này” anh ta khẽ nói về mẩu bánh mì.
“Thế ai sẽ sung sướng được thấy anh?” lão chủ quán trả lời nheo nheo đôi mắt tinh quái cười đểu và bước vào trong quán.
Sađaep đánh lừa ra khỏi sân.
Trưa tháng Tư tràn ngập tiếng chiền chiện líu lo. Những vũng nước nhỏ lấp lánh ánh nắng, khắp nơi rầm rì những âm thanh vô nghĩa. Một cảm giác nhẹ nhõm êm dịu gần như say sưa thấm vào lòng người; nhưng với Sađaep mùa muân này, mùa xuân thứ bốn lăm của đời anh, có cái vẻ quá quắt của một thiên nhiên đang phát điên. Lấy từ trong ngực áo ra lá thư của vợ, một lá thư mà vì nó anh đã rời bỏ huyện lỵ sớm cưỡng lại mọi tiếng nói của lương tri, một lần nữa anh cố lần dò theo những dòng chữ nguệch ngoạc chất đầy lo âu của nó. “Chồng yêu quý của em” anh đọc chủ yếu bằng trí nhớ, “Em héo hon gầy mòn xơ xác vì buồn khổ… Chồng yêu quý của em, ngày nào em cũng khóc… Chồng yêu quý của em, em không biết phải làm sao cho qua ngày giờ… Chồng yêu quý của em, chúng ta…” Những từ ngữ khôn khéo lao xao trong gió và quất vào Sađaep bằng tiếng cười vui vẻ độc ác. Với một sức mạnh như thế anh quất con lừa bằng ngọn roi và con vật thở phì phì một cách khốn khổ trên con đường mòn chán ngắt.
Cả đời anh, anh toàn gặp vận may khiến người đời phải ganh tỵ. Trong cái năm trước khi anh được gọi nhập ngũ, anh đã cưới Katêrinka, một cô gái lúc nào cũng vui cười; cái vui vẻ trẻ trung của Katêrinka không hề giảm đi khi về ngôi nhà cổ lỗ kẽo kẹt của anh, nơi mà mỗi mùa xuân chim sáo không ngừng hót líu lo bên cửa sổ. Mặc dầu có mọi thứ để chinh phục cuộc sống, Sađaep chỉ thiếu mỗi khả năng cười; nhưng ngay cả sự bất công ấy của tạo hóa cũng mang đến thuận lợi cho anh: người ta sợ anh. Chiến tranh đã chừa cái thân anh, một thân thể cao ráo đỏ đắn trông như một cây thông đứng thẳng trên nền trời hoàng hôn, anh trở về nguyên lành, chỉ bị xây xát nhỏ. Nhưng bỗng nhiên những bất hạnh vụn vặt tầm thường như những con chuột nhắt, bắt đầu gậm nhấm anh. Anh vật lộn với nó suốt năm, tức điên lên, nhưng lũ nó cứ xông vào gặm cái gia tài có tiếng của anh. Vào những ngày tạm hưu chiến, anh cay đắng nhìn lại bản thân mà không sao tìm ra đâu là nguyên nhân khiến anh khánh kiệt. Chỉ đến lúc này, rơi vào sự trừng phạt cuối cùng của số phận, anh mới nhớ lại một cuộc phiêu lưu ở ngoài mặt trận ..và mặc dầu một người mujich thì không xấu hổ về bất kỳ tội lỗi nào được bọc trong áo lính, hồi tưởng này thiêu đốt và cắn rứt anh tận tâm can, không cách nào dứt bỏ được nó.
Vào lúc chiến tranh tạm lắng trung đoàn vô danh của anh kiệt quệ dưới ánh mặt trời phương nam. Ở đó Sađaep lấy một phụ nữ Mônđavi, một người nông dân giống như anh. Cô ấy cũng dịu dàng như Katêrinka của anh, và thật lạ, cô cũng mang cái tên ấy. Cô ta ốm o héo hắt vì mong nhớ chồng đang mòn mỏi trong tù. Cô ta là món hấp dẫn đối với sức lực miền Bắc tràn trề không ngơi nghỉ của Sađaep. Suốt ngày đêm anh ở trong ngôi nhà nhỏ dưới rặng keo của cô, anh ăn gà của cô uống rượu của cô và thường xuyên tán về cái duyên ngầm của cô gái Mônđavi bé nhỏ này với đám bạn. Tình yêu Mônđavi của cô mang lại cho anh niềm vui tạm bợ. Sađaep rời bỏ cô mà không hề tiếc nuối, và những dòng nước mắt của người thiếu phụ đã che không cho cô thấy rằng, cùng với hạnh phúc ngắn ngủi của cô, anh ta mang theo về phương bắc chiếc máy khâu của cô mà anh mê thích trong những giờ phút âu yếm của hai người. Sađaep vẫn không thể nào quên trong mười bảy ngày khắc nghiệt ấy anh đã di chuyển trên tàu hỏa như thế nào, trong giấc ngủ lơ mơ của người bệnh thương hàn, vẫn kẹp chặt lấy vật báu ăn trộm được giữa hai đầu gối. Đối với anh, nó trở nên thân thiết hơn bánh mì hay cuộc sống, bởi vì anh đang mang nó về làm quà cho Katêrinka miền bắc của anh, người mà anh quyết định coi là nền tảng của cái hạnh phúc đẹp như mơ của anh. Nhưng vào một buổi tối, lúc trâu bò về chuồng, anh bước vào đến cổng nhà anh, đói khát và nhễ nhại mồ hôi, lắc lư dưới sức nặng của món quà yêu dấu, thì Katêrinka bắt đầu khóc. Sađaep dừng lại, bằng đôi mắt mờ đục anh nhìn người đàn bà đang khóc, và bộ râu của anh biến thành lửa, như thể anh đang mang trong người dòng máu của ai khác từ chiến tranh về.
Bệnh tật và sự thức tỉnh trước cuộc sống đã mang lại cho anh những kho báu lạ lùng, mà từ trước đến nay vẫn ở bên ngoài lối sống nhạt nhẽo của anh. Anh nhìn với đôi mắt phù thủy mọi thứ xung quanh anh, và, bằng một cách không-mujich, anh mê thích ngắm nhìn mọi thứ, từ con muỗi đang bay đến cái cây đang mọc; tuy nhiên, người mujich trong anh đã chiến thắng con người. Suốt mùa đông anh làm việc cật lực để khôi phục lại cái trại đã đổ nát, dọn dẹp vườn tược và dựng nhiều tổ sáo đá trước nhà, như cố tìm cách nhử hạnh phúc vào trong ngôi nhà tường đã mọc rêu. Nhưng lũ sáo đá không bao giờ đến ở, những cây táo bị sâu, và tính vui cười của Katêrinka bay đi cùng với tuyết. Rồi anh lo lắng chờ đợi những đứa con, nhưng cho dù đã có lần anh mơ thấy có đàn con lúc nhúc, rốt cuộc vẫn không có đứa con nào. Katêrinka thường chạy sang chơi các nhà hàng xóm, trông nàng có lẽ còn già hơn cả bà mẹ nàng. Nhưng một hôm nàng từ nơi đánh đống cỏ khô trở về trông rạng rỡ và trẻ trung; nàng lặng im buồn bã ngồi bên cửa sổ cả buổi tối. Ban đêm khi trâu bò gia súc trong nhà ngủ cả, Katêrinka bắt đầu cười trong mơ. Từ trên nóc lò sưởi bước xuống, Sađaep sa sầm mặt đứng quan sát nàng; được chiếu sáng bởi ánh trăng rọi qua khe cửa, nàng đang quằn quại lật mình trên giường. Dù cho Sađaep săm soi đến đâu qua khe hở nhìn vào bí mật của Katêrinka, đêm ấy anh cũng không tìm thấy điều gì. Xung quanh tất cả đều vắng lặng, thậm chí không có lấy một cơn gió nhẹ bên ngoài cửa sổ.
Hết mưa thì đến nắng, và nụ cười đã mất trở lại ngôi nhà. Một mình với những ý nghĩ riêng tư, Katêrinka hát những bài hát cũ của các cô gái trẻ, và mặc dầu nàng không giữ được giọng ca đến cuối bài, chồng nàng cũng hứng chí ở mỗi chỗ nàng chuyển tông. Niềm vui lại tràn ngập căn nhà kẽo kẹt này, chim véo von hót trên cây, như thể chúng được mua về để hót. Sađaep ngủ ngon lành như ngọn núi, được gió ru, và chỉ với bức thư cuối cùng này của vợ, dấu vết của một hạnh phúc khác mới đánh thức anh khỏi trạng thái lờ đờ nặng nề. Bỏ dở công việc trên thị trấn huyện lỵ liên quan đến một món nợ, anh quay về nhà, giống như về một nấm mồ không tránh khỏi.
Người chủ quán đã báo trước sự thật, ngay cả những con chó cũng chạy biến đi hết. Không có ai chào hỏi người chủ. Buộc lừa vào hàng rào, Sađaep chăm chú nhìn vào các lỗ cửa sổ gọi mãi không thấy ai trả lời. Một trụ băng dưới mái hiên nhỏ những giọt buồn bã, Sađaep giận dữ quất nó bằng roi da, và tiếp tục đợi, nhưng vợ anh không có đó. Rồi một thằng bé đang bơi thuyền trên mặt ao tan băng kêu lên với anh rằng Katêrinka đang ở khu định cư mới với Seryogia. Sađaep đóng cửa chớp lại và nhìn quanh: con lừa cái nhà hàng xóm đi tìm đực, đang cọ mình vào một thân cây, và hai bà già bên giếng nước trân trân nhìn anh với nỗi bối rối của anh.
Thế rồi, mình mặc chiếc caftan và cầm theo chiếc roi, Sađaep lên đường đến khu định cư mới, và một lần nữa hai bàn tay anh lại giơ ra phía trước, như thể sẵn sàng làm điều gì thật độc ác.
Khi đi qua khu đất nhà thờ, anh cố tìm trong Seryogia đức tính gì đã cám dỗ được Katêrinka phản bội anh. Hắn là một kẻ chơi bời phóng đãng, mơ tái cơ cấu nền kinh tế mujich để cho những quả táo bằng vàng có thể mọc ra từ một mảnh vườn chung. Vì sự phi lý đó hắn đã bị trừng phạt bằng lao động trong ủy ban hành chính huyện. Hắn sống cùng với người anh góa vợ, hai anh em chăng dây đồng lên các cột khắp xung quanh nhà. Những buổi tối mùa đông, bọn thanh niên thường tụ tập ở đó dán mắt nhìn và gật gù kính nể chiếc máy thu thanh tự tạo khi Seryogia lắng nghe những chuyện chưa ai từng nghe…Gần đến nơi, Sađaep nhếch mép cười khẩy và nghiêng nghiêng đầu nhìn ráng chiều tà đang nhuộm đỏ các lùm cây. Các bà già chen chúc trước cổng. Khi đi qua trước mặt Sađaep, ánh nhìn thù hằn trong con mắt họ còn đe dọa dữ dằn hơn cả chiếc roi da Sađaep cầm trong tay. Không có ai trong số họ dám theo chân anh vào trong bóng tối dày đặc phía trong cổng.
Đầu tiên trong tầm mắt của Sađaep chỉ có những vành tím tròn xoay nhún nhảy, nhưng trái tim anh đã đánh hơi thấy sự có mặt tội lỗi của Katerrinka. Sự im lặng không báo trước điều gì tốt lành, và anh nghi ngờ đổi từ chân nọ sang chân kia, không hoàn toàn cả quyết đi ngay vào bất hạnh của người khác. Nhưng điềm báo của anh quả không sai: từ sáng sớm, Seriogia bị một thân cây đổ rơi trúng, và bây giờ nằm trên một chiếc ghế dài giữa túp lều, hắn đang hấp hối. Gương mặt vàng khè của hắn trên chiếc gối bóng lên trong suốt, như có một ánh nến rọi vào. Hắn nằm bất động nhưng trong cơ thể vẫn có những dòng chảy li ti hối hả, và môi hắn hé ra thành một nụ cười khát khao đau đớn. Để làm dịu đi cơn đau của hắn, người ta đã đặt dưới tai hắn chiếc máy thu thanh nhỏ, và chỉ mình nó là còn vẻ sống động với một lóe sáng lạnh lẽo trong bóng tối của căn lều. Sađaep trông thấy vợ. Quỳ sát bên hắn, Katêrinka thương xót nhìn đăm đắm khuôn mặt người yêu và lặp lại từng cử động của hắn như thể chính nàng đang nghe thấy điều đã làm cho Seryogia nở nụ cười cuối cùng.
Cuộc gặp gỡ lạ thường này đã tiếp diễn từ sáng sớm, và ngay cả Sađaep cũng không dám làm cho nó gián đoạn. Anh ho, và Katêrinka ngẩng lên nhìn quanh. Một làn gió lướt qua trên khuôn mặt đầm đìa nước mắt của nàng, nàng hình như không nhận thấy chiếc roi da trong tay chồng. Nóng rực lên vì hơi ấm bàn tay nắm chặt của Sađaep, ngọn roi quằn quại cựa quậy, và phải cố gắng Sađaep mới kìm lại được chuyển động tàn độc của nó. Đôi mắt cụp xuống, Sađaep bước đến đầu giường kẻ tình địch của mình không bị gì cản lại.
“Thế nào, tao thấy mày không còn chạy rông như chó dái được nữa rồi thì phải?” Anh hỏi một cách cay đắng, mở lượng tha thứ cho kẻ không còn cần đến nó nữa. Seryogia cựa quậy, và với cánh tay run rẩy, bị cào tướp, hắn kéo mảnh chăn da cừu lên che đôi chân bị dập nát.
“Lạnh hả? Trong khi mày còn sống thì mọi thứ đều lạnh giá; nó sẽ trở nên ấm áp khi mày qua thế giới bên kia” Sađaep nói thêm một cách lạnh lùng và trịnh trọng, và – ngạc nhiên bởi cái sức mạnh nó khiến anh điềm tĩnh đến thế – anh giúp Seryogia kéo tấm chăn lên.
“Xin anh đừng nói chết chóc làm anh ấy sợ, anh ấy đã khốn khổ lắm rồi” Katêrinka thốt lên, một luồng hơi ớn lạnh phả ra từ mặt nàng khiến Sađaep im tiếng, rồi không hề sợ hãi, nàng đau đớn ép chặt thân nàng vào cái xác còn chưa được khóc thương đúng mức, như thể chỉ có nàng ở đó một mình với hắn.
Seryogia thì hình như đang ngủ, chiếc radio rơi khỏi má hắn. Sađaep lén nhặt nó lên và áp nó vào tai mình. Một âm thanh trống rỗng ngèn nghẹt vang lên, và phải gắng hết sức tập trung toàn bộ tâm trí anh mới có thể phân biệt được tiếng kèn co than thở, nó lượn vòng, kéo dài và uyển chuyển giống như những tiếng thở dài. Tiếng nhạc đến với anh từ nơi xa xăm và bí mật, như thể vượt qua hàng trăm cánh cửa đóng kín; nhưng trong đó vẫn lộ rõ bí mật của Katêrinka, rõ ràng hơn trong cái đêm bão tố ấy nhiều. Như một phản xạ mê tín, anh giật tay ra và liếc vội xung quanh: không có ai đang nhìn anh, và một lần nữa, toát cả mồ hôi và đỏ bừng cả người, anh lại lén lút nghe cái thế giới đầy quyến rũ và kinh khủng của Seryogia. Bản nhạc thay đổi, và một giọng người rì rầm bóng gió, tra tấn Sađaep về chuyện những đứa con mà dù cầu nguyện bao nhiêu đi nữa, số phận vẫn không chịu ban cho anh. Nó tra tấn anh về chuyện những con ngưạ, niềm đam mê xưa cũ và không thể nào bỏ được của anh, chỉ nghĩ đến nó là mặt anh lạnh buốt. Nó tra tấn anh về mọi thứ thân thiết nhất với một người đàn ông sống trên đời. Lắc đầu như thể né tránh cảnh hạnh phúc gần gũi mê hồn, anh lao ra khỏi căn lều. Ra đến cổng, anh va phải ông bác sĩ mà người anh của Seryogia mời đến. Đến tận khuya, các bà già mới đưa Katerrinka về nhà và để nàng đứng lại trước cửa. Từ trên bếp lò Sađaep trông thấy hai tay nàng quờ quạng trong đau đớn, nàng nặng nề lần vào đến giường. Lòng đầy u uất vì yêu và hận thù, Sađaep trèo xuống khỏi lò sưởi và đến ngồi bên nàng.
Trong nỗi sợ đã chai lỳ, nàng sửa soạn để sẵn sàng chịu trận, Katêrinka nhìn chằm chằm vào gương mặt méo xẹo vì giận dữ của chồng. Lúc này, gần như không dám thở, anh nghiêng xuống và ôm lấy vai nàng.
“Em bé bỏng, tội nghiệp của tôi” anh thầm thì, hết sức khổ sở vì không tìm được lời nào âu yếm dịu dàng hơn.
Nàng chậm rãi lết vào góc, nhưng khi mớ râu dài đỏ quạch của anh vừa quết vào má nàng, nàng giật phắt ra khỏi anh và gào to lên như thể bị bỏng. Bị giáng đòn bất ngờ vì tiếng thét của Katêrinka, Sađaep bối rối đi đi lại lại ở khoảng giữa căn nhà, và, thêm một lần nữa hòn than hồng của lòng khoan dung vẫn ủ lâu trong lòng chưa dùng đến lại rực lên trong anh. Anh run rẩy bước tới lò sưởi. Vì suốt ngày qua nó chưa được đốt lên, nên lúc này nó lạnh giá và cái giá lạnh thấm vào những hình ảnh tưởng tượng thưa thớt và hoang dại của anh trong giấc ngủ mơ màng. Trong những giâc mơ khủng khiếp ấy có hình ảnh cô gái Mônđavi. Nàng đang vẫy tay ra hiệu chào biệt Sađaep và từ những bàn tay của nàng thoát ra những âm thanh quyến rũ. Vào lúc trời sắp sắng, trong căn nhà nhỏ không khí rất ẩm ướt. Những bông tuyết tệ hại bắt đầu rơi bên ngoài cửa sổ. Katêrinka đã đi rồi. Sađaep ngồi trên ghế dài, nghe tiếng gì đó rền rĩ dưới lòng đất, rồi anh bước ra vườn, nhưng ở ngoài đó còn khó chịu hơn, nên anh lại vào nhà. Đúng lúc đó, ông chủ tịch Sôrôkin bước vào, mang theo tờ thông báo xử phạt về khoản nợ mà anh chưa chịu trả.
Lùn tịt và huênh hoang như một con chồn hôi, lão mujich này chưa bao giờ được Sađaep ưa. Lúc nào cũng thấy lão hối hả đi đâu đó và hổn hà hổn hển, như thể đang thi hành một nhiệm vụ độc ác nào đó. Lão đặt bản thông báo lên bàn trước mặt Sađaep và ra lệnh cho anh ký vào.
“Tôi chỉ biết đọc chữ in, nhưng không biết viết” Sađaep nói đơn giản.
“Cứ đánh dấu X vào đây coi như anh đã đọc, rồi ngày mai chúng tôi sẽ điền vào” Sôrôkin nói bằng giọng cáu kỉnh.
Hai đôi mắt gặp nhau, và cả hai quay đi như thể người này bắt gặp người kia đang nói dối.
“Tôi đang gặp rắc rối, ông Sôrôkin ạ” chủ nhà thú nhận giọng mờ đục “Thằng Seryogia đã mò vào giường nhà tôi”
“Thế thì có gì lạ?” ông khách lạnh lùng trả lời, thậm chí chẳng thèm đưa đẩy câu chuyện nóng bỏng này bằng một lời bịa đặt tầm phào nhất.
“Katêrinka là vợ tôi… tôi đã ăn ở với cô ấy mười một năm nay!” Sađaep hét lên, không hiểu sao tự đập vào cổ mình; khi làm thế, bộ râu của anh bắt đầu phừng phừng lên như một bụi cây khô bén lửa.
“Vậy thì sao?” vị khách trả lời, thậm chí còn thờ ơ hơn khi gã vuốt lại cho thẳng các mép quăn của tờ thông báo.
“Tôi yêu cô ấy…” Sađaep cẩn thận nhả ra từng chữ, bằng đủ cách cố làm mủi lòng tay quan liêu này.
Sôrôkin đứng dậy.
“Anh đang nói gì thế, bất hạnh à! Anh gặp vận may thì có. Tay Seryogia chết sáng nay rồi. Bây giờ mọi việc đều ổn” Lão nói với nét mặt độc ác và chán ngấy. Vừa quay đi lão vừa dùng mấy đầu ngón tay gõ lên bậu cửa sổ như gõ trống.
Sađaep ngồi cúi gằm xuống tờ thông báo; tờ giấy sột soạt nhè nhẹ theo hơi thở của anh. Vào cái lúc anh biết tin Seriogia chết, một niềm hân hoan mãnh liệt bùng nổ trong anh, nhưng ngay lập tức anh hình dung ra điều gì sẽ đến – trước hết Katêrinka bị nỗi đau đớn hạ gục, và điều ấy phần nào làm giảm bớt nỗi căm ghét và ghen tuông của anh. Trong trí tưởng tượng bấn loạn của anh, bản thông báo to dần lên, to bằng cả mặt bàn, và cứ to lên mãi; nó giận dữ dựng đứng lên, nó xông vào đánh và bóp cổ anh…Tuân theo một sức mạnh cưỡng bức kỳ lạ, Sađaep vội vã vò nhàu tờ giấy, và bất ngờ bỏ tọt nó vào mồm và chậm rãi nhai cái món ăn bắt buộc và phát ớn này ngay trước mặt ông chủ tích mặt tái nhợt. Rồi sau khi đã nuốt, anh đưa cặp mắt trống rỗng ngó nhìn Sôrôkin, lão ta lúc này trông cực kỳ bé nhỏ.
“Anh sẽ phải trả lời chuyện này” ông khách nói sau một lúc bối rối. Lão lúng túng một lúc lâu cài các cúc áo khoác và đội mũ lên đầu, như thể nấn ná chờ sự hối lỗi cho sự nhục mạ vừa rồi.
“Ông tưởng ông ghê gớm, nhưng vỏ quýt dày có móng tay nhọn” anh nói với theo lão ta.
Sau khi Sôrôkin đi khỏi, Sađaep lôi chiếc túi ra và bắt đầu chuẩn bị để lên đường. Trong khi chuẩn bị, anh làm vỡ một chiếc đĩa sứ, và mặc dầu không hề vội vàng, anh cũng không thu dọn các mảnh vỡ. Mặc quần áo xong, anh bước qua mảnh sân ra ngoài đường. Chẳng có gì níu giữ anh ở lại cái ngôi mồ của tình thương bị phản bội này. Hơi ấm của mặt trời bao bọc lấy con người buồn nản ra đi, nhưng dù không có nó thì anh cũng không cảm thấy lạnh lẽo, vì cơn điên giận vẫn còn đang ngùn ngụt trong người anh. Anh dừng lại trước cổng vườn huýt gió gọi mấy con chó đang ngồi bên giếng nước. Chúng vẫy đuôi và vặn vẹo mình một cách khó chịu, nhưng vẫn ngồi. Anh gọi tên chúng, bực bội vỗ mạnh đầu gối, nhưng một con chó quay lưng lại phía anh, còn con kia làm bộ như đang chăm chú nhìn một con rệp bò trên một thân cây mới đốn. Sađaep bỏ đi thẳng.
Đầu tiên anh hướng tới nhà bà chị góa chồng ở huyện bên và xin vào ở nhờ như một người làm công. Chị anh, tóc cũng đỏ quạch như tất cả dòng họ Sađaep, tóc đỏ và dáng vóc cóc cáy vì nghèo túng, gắt ầm ĩ một hồi, nhưng gắt mắng xong lại mang đến cho anh một bát xúp và chỉ cho anh một chỗ nằm chung với bầy con gày guộc của chị. Anh qua một tháng vô gia cư đầu tiên ở đây, cày đất và cầu nguyện ông Chúa mujich của anh giải thoát cho anh khỏi vô vàn những âu lo vô ích. Nhưng rồi một tờ trát đến, gọi anh ra tòa, và Sađaep biến đi phương nào không rõ.
Bây giờ những con đường mở ra trước mặt anh, và anh đến Parôsyatnhikavơ đúng vào mùa cắt cỏ. Siêng năng cần mẫn trong cương vị mới, anh hoàn toàn vừa lòng với đồng tiền công còm cõi mà chủ thí cho. Nhưng rồi một hôm anh vừa ra đến đồng cỏ đang phát cỏ như những người khác thì một người thư ký lù lù hiện ra với một tờ giấy đòi Sađaep. Công việc đang bộn bề giữa mùa thời tiết tuyệt đẹp, nên không có ai để áp giải kẻ tội phạm. Do đó người ta cho con bé Aksiusha mười tuổi đi hộ tống anh năm dặm lên hầu tòa. Lần đầu tiên trong đời, Sađaep bắt đầu cười, anh nắm lấy tay con bé và thẳng hướng lên đường.
Họ ra đi lúc trời còn sương. Gần trưa, một đám mây hồng rực rỡ bồng bềnh trên bầu trời xanh thẳm bỗng chuyển thành cơn giận dữ không sao tả nổi ầm oàng và trải dài mãi ra. Sađaep và Aksiusha chỉ còn kịp chạy vội đến trú dưới một cây thông trong một cái trảng trước khi cơn mưa như trút đổ xuống những cánh đồng khô bụi. Con bé sợ sấm chớp, nó ép chặt người vào thân cây và run rẩy, nhưng nó không lúc nào buông tay Sađaep ra. Rồi, lấy thân người che cho Aksiusha khỏi làn nước, anh bắt đầu kể cho nó nghe những câu chuyện mà mẹ anh đã từng kể cho anh để quãng đời thơ ấu buồn thảm của anh sáng sủa lên đôi chút. Anh kể về những con quỷ lông lá và ngu ngốc gây ra những mối bất hòa, những mụ phù thủy và những nhà thông thái chột mắt, và trong số những con ma vô hại mà người ta đã nhẵn mặt, chính Ilya là kẻ nắm giữ sấm sét trong tay như nắm giữ những con chim ưng. Sađaep chưa bao giờ kể như thế này cho ai, giọng anh đan xen với tiếng răng rắc trong rừng, và ý nghĩa của câu chuyện anh kể khớp với tiếng sấm và câu chuyện kể hung dữ của cơn dông tố. Aksiusha chăm chú nghe câu chuyện hoang dại của Sađaep hơn là những tiếng gầm khủng khiếp từ những đám mây dông.
Rồi mặt trời lại bắt đầu trải lên cánh đồng một dải lụa rộng màu xanh biếc, chạm đến cả đôi chân trần của Aksiusha. Mưa ngừng rơi, những giọt còn đọng trên các cành và bay trong không khí long lanh; trong đám cỏ dưới chân họ một con châu chấu không sợ bị người ta dẫm lên, bắt đầu vui vẻ cất tiếng…và chỉ còn ở nơi rất xa, dưới cầu vồng, một cái bụng tối tăm và chưa được thỏa mãn vẫn còn sôi ùng ục.
“Thế nào, chúng ta đi chứ?” Con bé ranh mãnh liếc nhìn anh từ một bên và, nhớ lại lời khuyên răn vui đùa của những người lớn, với đầy tinh thần trách nhiệm, nó kéo tay Sađaep lên đường. Suốt quãng đường lên đến huyện lỵ, anh không trao đổi với con bé – kẻ áp giải không thể mua chuộc của anh – thêm một lời nào nữa, như thể mối nguy hiểm của cơn dông vừa qua không hề làm hai người xích lại gần nhau chút nào.
Trước rạng đông anh trốn khỏi nhà giam huyện, và một tuần sau anh làm việc như một người gác rừng.
Các vùng miền nam đang trở thành đồi trọc cả, vì trong lãnh thổ của Sađaep dưới mỗi cây đều có một tên lâm tặc. Bọn lâm tặc này hung dữ ghê gớm trong việc bảo vệ cái quyền cướp rừng của chúng. Chúng tóm cổ người tiền nhiệm của Sađaep, thọc một cái sào qua các ống tay áo của anh ta, và tống anh ta đi lang thang ngang dọc khắp khu rừng. Khu rừng này vốn là một khu rừng rậm, hoang, từ thời xưa đã mang tiếng dữ vì những lời đồn đại rằng đến mùa thu, những hòn đá trong rừng thì ca hát, và những cây thông thì chạy từ chỗ này sang chỗ khác. Không có ai sống trong rừng, nên Sađaep nhận lấy chỗ trống. Sađaep đã làm cho người ta sợ vì bộ dạng quái đản của anh. Những kẻ ăn cắp vặt chắc sẽ không có việc làm và con cái chúng không có gì để ăn nếu không có chuyện xảy ra là một buổi tối khi anh đang ngồi chân trần bên một con mương ngắm nhìn lũ cung quăng bơi lượn trong nước, thì một bụi rậm rẽ ra và từ đó bước ra một anh dân quân mặc đồng phục mang theo một tờ lệnh bắt Sađaep. Sađaep cười và đi vào trong trạm gác để đi giày. Khi người dân quân nóng ruột đi theo anh vào, thì thấy trong trạm gác không có ai ngoài một con cú mà Sađaep đã thương hại mang từ trong rừng về hôm trước. Con cú đứng trên bàn và nhìn trừng trừng vị đại diện nhà nước, anh ta chùn lại choáng váng vì sự xúc phạm này. Sađaep đã tan biến trong bóng tối của rừng sâu.
Đây, đêm đầu tiên của cuộc đời lang thang của anh trôi qua trên một chồng gỗ. Đánh thức anh dậy là một con gián chui vào lỗ mũi nở rộng của anh. Một con chim lao như tên bắn trong không trung, và một loại chim gõ kiến đầu đỏ đã chán gõ vào thân cây, đang chăm chú quan sát vị khách mới đến. Sađaep nhớ lại sự việc ngày hôm trước và phá ra cười những con người kỳ cục cứ viết mãi về tội lỗi của anh mà không biết chán. Nhưng tội lỗi vốn thích kéo bè kéo cánh. Ngoài cái tội liên quan đến món nợ chưa trả, và ăn một cách trái phép tờ thông báo, nay lại thêm tội không chịu trình diện trước tòa án; và khi đã bỏ chạy và lẩn trốn như thế này, thì rõ ràng anh đã vĩnh viễn tự tách mình ra khỏi thế giới. Thế là kẻ lang thang ra đời.
Anh ta không còn ở nơi nào nhất định, mà liên tục di chuyển. Anh cứ đi, và người ta cứ viết. Không ai quan tâm đến bản thân Sađaep, người ta chỉ quan tâm đến những tội lỗi của anh. Lâu lâu, chán với cảnh trơ trọi một mình một bóng vô cồng rồi nghề, anh kiếm một công việc; mùa hè thì chăn cừu, mùa đông thì làm một chân bưu tá trong huyện, mùa xuân anh đóng bè gỗ, và mùa thu tôi gặp anh trên sông nơi tôi đi tìm thứ cỏ diệu kỳ của tuổi thơ mà tôi không biết tên. Có lẽ tôi cũng bị cám dỗ bởi tiếng đập nước kỳ thú. Từ ngọn đồi nhỏ đi xuống, tôi gặp Sađaep; khi anh ta gắng sức làm điều gì trông anh ta như một người phù thủy. Anh đang nằm trên bè gỗ một tay giữ một khúc gỗ và tay kia cầm chiếc môi gỗ hình thù kỳ dị, lâu lâu lại đập chúng xuống nước. Nửa giờ sau khi chúng tôi đã thăm dò đủ về nhau và anh đã tin rằng tôi không có ý định thi hành pháp luật đối với anh, trong lúc mổ mẻ cá mới câu được, anh cười giải thích với tôi cách anh tìm bắt cá trê. Trong những ngày yên lặng, tiếng đập nước của anh vang đi rất xa. Lũ cá trê tò mò về loại tiếng động này kéo nhau đến gần, và giống như chịu một hình phạt về tội tò mò, chúng kéo nhau vào nằm trong nồi xúp của Sađaep.
Chúng tôi ngồi bên đống lửa. Trên bờ sông dốc đứng che phủ bởi những cây anh đào, cây dương tươi tốt, mùa hè đỏ ối buồn bã đang ở vào đoạn cuối cùng tàn tạ của nó. Khói làm cay mắt tôi, và chả biết cái gì cứ bắt tôi phải liên tục ném cành cây khô vào lửa. Trong cuộc trò chuyện cực kỳ kiệm lời, Sađaep không nói một lời nào về người đàn bà Mônđavi của anh, nhưng tôi thấy dường như anh luôn nghĩ về chị ta, và một ngày nào đó, trang trọng và hiền lành, anh bước vào sân nhà chị trong khi chồng chị đang điên cuồng chửi bới một con lợn. Anh đứng đó một lúc, khiến người chồng cảnh giác chú ý, rồi anh bỏ đi mãi mãi. Tuy nhiên Sađaep không hề xác nhận những hình ảnh phỏng đoán ấy của tôi.
“Một năm nữa, tôi sẽ thành quỷ hoàn toàn, một con quỷ thật sự!” người lang thang nói một cách nặng nhọc, và tôi có cảm tưởng anh đã là thế rồi – hiện thân của một thành kiến mọc sừng. “Một con quỷ, thật đấy! Cậu có thể bước đi xuyên qua người nó, còn nó chỉ cười…”
Nồi cá đã chín, nhưng chỉ có một chiếc thìa. Tôi lên đường, tuy chưa tìm thấy lá cỏ của mình. Ngày trở nên mờ tối, cây cối trông buồn bã, con đường tím ngát màu hoa tử đinh hương, và các cánh đồng đầm đìa ướt. Tôi thấy dường như tôi không nghi ngờ gì về chuyện tôi sẽ gặp một người cưỡi ngựa phóng ngang qua tôi, tay giơ cao tờ giấy về Sađaep, trong đó chỉ thị khâu bó anh ta vào một chiếc chiếu và gửi anh về huyện để thẩm vấn. Lúc đó, tôi hầu như tin vào cái truyền thuyết của người mujich về một con gấu, rằng trước mắt kẻ chứng kiến, gần mép rừng, nó đi ra, cúi chào cái cây mà nó đã sống trong đó cả đời, rồi cứ thế đi mãi vào rừng sâu âm u không bao giờ quay trở lại.
Những giọt mưa triền miên rơi rơi mãi …Một trận tuyết phủ đầy, trắng cả vườn sau sân trước…
Con đường trước nhà ngập tràn một màu trắng đục miên man…
Gần hơn mười năm qua…nơi chỗ tôi đang ở lại có một trận tuyết lớn như năm nay .
Sau ba ngày nằm yên trong nhà chờ Tuyết tan, mọi người túa ra đường chụp ảnh và đùa vui cùng tuyết trắng.
Tuần sau…khi nắng vàng đổ dài trên vạn vật…mọi sinh hoạt lại bình thường, nắng ấm lại chan hòa trên ngọn cây bờ cỏ..
Những chồi xanh đang ẩn mình chờ nắng mới.
Thời tiết năm nay lạnh giá hơn nhũng năm qua …Thành phố Atlanta ,ngập tràn trong giá buốt ….cái cảm giác gây gây lạnh của những ngày đông tháng giá phủ tràn lên nơi tôi đang sinh sống .
..Bây giờ mới giữa tháng Giêng…Cái cảm giác lạnh giá làm tâm hồn mỗi người thêm lạnh lẽo …hay do chính nội tâm tôi cảm nhận trước mọi người …
Lòng tôi chạnh nhớ đến những ngày sắp Tết nơi quê nhà …Cũng những ngọn gió hiu hiu …những giọt mưa phùn mát dịu bắt đầu cho một sắc xuân…
Đâu đây…những giọt mưa phùn còn sót lại ,rớt rơi trên cành cây ngọn cỏ , những chồi non còn ẩn mình ngóng đợi nắng xuân sang
.Ngọn gió heo may của những ngày đông cỏn rơi rớt …cảnh vật sau con mưa sẽ tưng bừng rộn rã .
Những ngày mưa phùn ,gió bấc, tuyết sẽ tan dần, nhường chỗ cho những ngày nắng ráo ,vạn vật chuyển mình để chờ đón chúa xuân..
Thời khắc này làm nôn nao những người sống tha phương, hồi ức trở về trong trí nhớ già nua của người xa xứ…Vọng nhớ về thành phố Qui nhơn…nơi tôi lớn lên từ tuổi thơ cho đến ngà xuất giá.
Những ngày giáp Tết ở quê tôi ,đất Bình định dấu yêu …Xứ Nẫu thân thương cùng tuổi thanh Xuân của đời tôi …hiện ra trước mắt tôi..
Những.ngày xa xưa ấy tôi còn nhớ mãi:
Ôi cảnh tượng thần tiên này làm sao tôi quên được …
Ở quê tôi thường bắt đầu dậy lên từ ngày 23 tháng chạp ,tức ngày đưa ông Táo về trời …
Tiếng pháo bắt đầu râm ran từ sau giờ ngọ ,hầu như nhà nào cũng chuẩn bị một phong pháo để tiễn chân ông Táo..
Thường các chủ buôn giàu có thì mâm cao ,pháo tràng ,heo quay, gà luộc….
Còn cỡ trung cũng sắm chiếc đầu heo, nồi cháo vịt, ,mâm chè
…Với kẻ cùng đinh thì cũng ráng mua bình bông,nải chuối , đĩa thèo lèo…
Mọi nhà đều nổ ran tiếng Pháo tiễn chân Ông táo lên trời..”.Hoài mong người sẽ đẹp lòng báo cáo thành quả của mỗi gia đình trong suốt một năm …và mong ơn trên phù hộ cho năm sau mỹ mãn hơn năm cũ.
Các học trò xa nhà lũ lượt trở lại nhà sau một năm xa cách.
Khách tha phương lo gom góp chút tiền gởi về nhà …
Nghoảnh lại, mới hay đã qua hết một năm phiêu bạt …
Hôm nay tạm nghỉ bước gian nan
Trong lúc gần xa ,pháo nổ ran
Giũ áo Phong sương trên gát trọ
Lặng nhìn thiên hạ đón Xuân sang …
(Thế Lữ)
Bây giờ chúng ta đang chờ đón một cái Tết tha phương ..
.Ngoài kia ,các chợ Tết đã bày bán những hàng hóa xanh xanh ,đỏ đỏ ,những cành mai,cành đào được kết bằng vải lụa hay nylon ,rực rỡ ,vô hồn do bàn tay con người chế tạo …
Hệt như tâm hồn ai dở dang dậy lên một chút bâng khuâng buồn …
Cát bụi tung trời ,đường vất vả .
Còn đời nhưng hãy tạm dừng chân
Tưởng rằng trong chốn xa xăm ấy
Chẳng biết vui buồn đón gió Xuân
(Thế Lữ)
TẾt năm xưa nơi quê nhà là dịp để gia đình đoàn tụ ,mọi người đi làm ăn ở phương xa ,các học sinh đi học xa nhà
Bao người náo nức trở về nhà ăn tết với người thân ,gặp lại cha mẹ ,anh em ,bạn cũ ,Cô láng giềng mỏi mắt chờ mong
.Bao mong đợi hẹn hò ,chỉ mong cho mau đến tết
Bây giờ trên đất khách ,chúng ta không hề có cái cảm giác mong đợi người thân trở về trong ngày giáp tết, ,không còn thấy cái cảnh chạy kiếm tiền gởi cho con trẻ về xe ,trở về mái nhà thân yêu sau bao tháng ngày xa cách …
Không còn nữa cái cảm giác xôn xao khi ngồi trên chuyến tàu đêm mong cho quãng đường ngắn lại
…Chặng đường dài từ Ga Bình triệu đến ga Diêu trì… đi qua những làng mạc xơ xác mái rạ ,những thôn xóm ẩn mình sau lũy tre xanh ,những mùng mền chiếu gối …được đem ra giặt giũ “tất niên” ,
Vẳng từ xa tiếng kêu eng éc của chú heo thịt béo tròn…nay bị đem ra xẻ thịt ,vài nhà đậu tay nhau, chia nhau mấy cân thịt heo để gói bánh chưng , bánh tét.
,Trong sân nhà vài người cùng nhau chùi lại mấy bộ Lư đồng ,ấm tích ..xa xa vài kẻ đang sửa lại bờ giậu,luống hoa vạn thọ ,,Cắt tỉa mấy cành mai vàng, thược dược, đủ mọi sắc màu rực rỡ sân trước, vườn sau
+++
Hàng năm cứ gần ngày Tết đến ,ngoài việc chuẩn bị \bánh mứt ,dưa món ,gói bánh chưng, bánh tét ,Bì nem ,Chả lụa, bánh khô, bánh nổ..
Mẹ tôi còn chuẩn bị cho mỗi đứa con một vài bộ quần áo mới, đôi guốc hoa hoè xanh đỏ ,chiếc vòng đeo tay cùng đôi bông tai óng ánh….là tất cả niềm mong đợi của những đứa trẻ trang lứa với tôi ở thời gian xa xôi ấy , nỗi háo hức mong đợi của đám trẻ nhà quê thuở ấy…là tuổi thơ của chị em tôi.
..Khi tiếng pháo giao thừa nổ râm ran …
Sau khi đã cúng giao thừa …Thời khắc thiêng liêng bắt đầu năm mới
Mẹ tôi len lén tháo cẩn thận từng chiếc hoa tai lóng lánh đeo vào cho từng đứa con …đặt bên gối mỗi đứa bộ đồ xếp thẳng nếp còn thơm mùi mực in của vải ,đặt dưới chân giường đôi guốc mới vẽ hoa hòe ,hoa sói …
Sáng mồng một… chúng tôi chỉ đặt chân lên nó vài lần trong ba ngày tết ,rồi sau đó “chân đất vẫn hoàn chân đất”
…Chúng tôi thừa biết là từ lúc đó những phẩm vật mẹ tôi dày bao khó khổ mới có được …chúng tôi vờ như đang ngủ say, trong niềm vui bất tận.
Mẹ mua guốc mới ướm vào chân con
Con đi lướt thướt trên giường .
Đợi ngày mồng một ra đường mới tinh .
( Thơ Nguyễn Bính)
Sáng mồng một …Chúng tôi dậy thật sớm mặc vội vàng bộ cánh mới tinh ,chân đi guốc mới ,hoa tai ,vòng tay mới …tất cả đều mới ..
.Vọng từ xa ,,,tiếng pháo vẫn nổ râm ran ..chúng tôi chạy sang cửa các nhà trong xóm tìm nhặt những viên pháo sót nhét đầy túi áo…chạy tìm người đốt hộ..”.vì chúng tôi là con gái “…
.Rồi bọn trẻ chúng tôi, hoan hỉ nhận những phong bao lì xì màu đỏ thắm sau khi làm xong thủ tục
“Lí nhí chúc Xuân ông bà ‘”…
Ba ngày Tết sắp qua mau khi thấy mẹ tôi chuẩn bị “Cúng đưa” ,
Tối ba mươi Mẹ tôi đã nấu nướng mâm cỗ thịnh soạn để :
“làm lễ rước ông bà” ,trong ba ngày này ông bà ,những người đã khuất về ăn Tết với con cháu, ngày nào cũng “cúng cơm bữa ” ngày hai bận
.. Mồng ba Tết, mẹ tôi chuẩn bị đưa ông bà ,đồng thời tiễn những bà con ở các vùng quê về Qui Nhơn chơi tết…,sau bữa cơm này họ trở về quê …
Thường sáng Mồng Ba tết, mẹ tôi đi chợ mua thêm cái chân giò heo nhiều nạt ,con gà mái tơ ,mấy trái khổ qua nhồi thịt ,Đĩa chả trứng vịt cuộn tròn làm chả đỏ chả đen( chả khoanh tròn có nhiều thứ bên trong)
…Con gà sẽ được luộc vùa chín tới, chặt miếng xếp vào đĩa ,cái chân giò nấu với bún Tàu ,bát canh khổ qua nhồi thịt ( món khổ qua luôn phải có ),
Mang ý nghĩa “Cho cái khổ qua đi”…
Thêm món lòng gà xào bánh tráng …
Trong các món trong bữa cơm này tôi thích nhất là món này : tôi sẽ kể sơ cho các bạn cùng quê hương Bình Định có nhớ về món ăn này không ???Lòng gà xào bánh tráng …món ăn nhớ đời mà chắc là không một người dân xứ “nẫu” nào trong chúng ta có thể quên được
Lòng gà được xắt nhỏ , ức gà và chén tiết gà đã luộc :Ướp gia vị gồm củ hành tím ,nước mắm ngon ,chút đường ,tiêu …Bánh tráng mỏng bẻ nhỏ ,Chảo dầu phộng khử thơm với hành tím,xào chín mớ lòng Gà ,vớt ra ,cho thêm dầu vào chiên dòn tan mớ bánh tráng với số lòng Gà đã chín tới ,cháy sém ,vàng ươm ,quyện với mùi hành ngò, tiêu tỏi ,trút ra đĩa ăn nóng ,Giòn tan ,vị cay cay của tiêu đen ,thoảng chút đậm đà của nước mắm ngon ..
.Ôi sao mà ngon quá là ngon ,chúng ta không cần phải ăn nhiều món trong buổi cúng đưa nhà Mẹ tôi ,chỉ cần ăn một món “lòng gà xào bánh tráng ‘ của quê tôi …tôi nghĩ cũng có vài anh xa xứ muốn làm rể cho một nhà người Bình Định
..Có lẽ tôi là một người đã được sinh trưởng và lớn lên ở nơi chốn này nên tất cả những tập quán ,đầy tràn niềm luyến nhớ về xứ sở mình nên cảm nhận thế thôi????
,Những món ăn bình dị của xứ sở tôi …chỉ có thế thôi, nhưng,sao mà ngon quá ,sao mà nhớ quá ,sao mà ngậm ngùi nhớ tiếc biết chừng nào mới thôi …. Và nhớ là không quên “nướng hai cái bánh tráng trước khi thắp hương”
+++
Giờ đây nơi chốn xa xăm này ,sống giữa quê người với những phong tục dị biệt …mỗi năm chúng ta được hưởng hai cái tết :Tết Tây và Tết ta
T ất cả những người Việt xa quê cũng cố gắng tập cho con cháu nhớ về CỘI NGUỒN ..
Hằng năm ,chúng ta cũng sắm về những hàng hóa giống hệt những thứ mà ngày xưa chúng ta từng mua sắm khi mỗi khi Tết đến
,Những chậu cúc vàng nở rộ ,những bánh mứt gói kín đủ màu ,đi qua các cửa hàng quần áo ,chúng ta không phải chen lấn mua cho các con những bộ quần áo mới ,không còn được nhìn thấy con trẻ mừng rỡ khi mặc quần áo mới ,không rộn ràng khi mỗi lần tết đến…
Giờ đây mỗi lần tết đến …
Tôi cũng quen với những thói quen muôn thuở …xếp vào xe tất cả những món quen dùng cho ngày tết
,Tất cả nhũng phẩm vật của một lần mừng xuân mới mà không cần ki cóp từng đồng ,không cần phải tính toán khi mua sắm ,nhưng làm sao còn có được những cảm giác hoan hỉ của những ngày xa xưa ấy …nhưng không có được niềm vui rộn rã của năm xưa…những con , những cháu ở trời Tây không như những đứa trẻ nhà quê là tôi. ..của thuở năm xưa.
+++
Tấm lòng của người xa xứ là sự quan tâm đến người thân còn lại bên kia bờ đại dương : góp nhặt từng đồng gởi về cho người thân vui tết…nhiều khi số tiền gởi về : “bằng năm, bằng mười số tiền họ mua sắm cho gia đình họ vui tết bên này.”..
Nỗi nhớ nhung, tấm lòng của kẻ xa nhà thật đằm thắm mà bao người bên kia thấu hiểu: ..nhiều người ki cóp hàng bao nhiêu năm, chỉ đủ chi tiêu cho một lần về quê mình ăn tết, họ trở về với đầy đủ những quà cáp cho người thân…bao hoan hỉ, hay trách cứ của những người được nhận, ( đôi khi còn bị phiền trách vì phẩm chất món quà và đồng tiền chưa như ý họ…)
Nhưng có ai thấu cho kẻ “tha phương cầu thực”, cũng nuốt bao cay đắng , tích góp bao năm cho một lần trở về cố xứ….
Hạnh phúc ngập tràn khi được trở lại quê hương, trở lại mái nhà xưa …sau bao tháng năm xa cách…bao ngày tháng gom góp chắt chiu :” Cho một chuyến về thăm, cho một lần trở lại quê nhà”.
Rồi…khi trở lại…Sau khi bước vào bên kia cánh cửa của sân bay…một lần cuối bị hoạnh hoẹ của nhân viên phi trường đất mẹ…lại bị lột sạch những đồng tiền còn lại…Khi bình yên trong lòng thân bay suốt mấy chục giờ bay xuyên qua nửa vòng trái đất, trở về với công việc, trở về với những lo toan cho hết một kiếp người…
Giải nhất cuộc thi truyện ngắn của tổng cục Lâm nghiệp VN 2020
Những ai đã từng tham quan rừng cấm X – và – từng được Vị, một kiểm lâm kiêm hướng dẫn viên du lịch làm nhiệm vụ dẫn đường sẽ, không bao giờ quên được anh. Và những ai thêm một lần quay lại X chắc chắn sẽ phone cho điều hành, yêu cầu Vị tiếp tục hành trình. Làm nghề mà được vậy thì quá tuyệt. Và để được vậy người làm nghề phải yêu cái mình đang làm như máu thịt. Hướng dẫn viên du lịch rất đặc thù. Ngoài trừ nói – mà – kiến trong lỗ phải bò ra hỏi ai kêu tui đó, còn phải am hiểu cái mình nói tận chân tơ kẻ tóc. Dân du lịch trước khi đến một miền đất nào đó tham khảo thiếu điều nát cả máy tính. Họ biết về nơi sẽ đến chả thua chi hướng dẫn viên. Chỉ cần không thông một điểm là người hướng dẫn mất linh trong mắt dân phượt liền. Những miền du lịch đã định hình, có bề dày lịch sử hướng dẫn viên phải nhão như cháo ăn liền. Muốn vậy phải đọc và phải đến. Khó, không khó nhưng tất nhiên là không dễ. Muốn khó thành dễ thì những ai chọn hướng dẫn du lịch làm nghề thì tốn không ít thời gian và tiền bạc. Bù lại, khi đã thành nghề anh chị sẽ được biết những kỳ vĩ, kỳ lạ, kỳ quái, kỳ khôi, thậm chí không hiểu làm sao người xưa đã làm được vậy.
Nhưng rừng thì khác. Rừng xanh là của mẹ thiên nhiên. Rừng thâm trầm bí hiểm như lòng người vậy. Ca dao có câu “dò sông dò biển dễ dò…” Dễ dò, nhưng sông bể lòng người rừng xanh núi bạc là những thực thể không một ai hiểu được. Suốt đời ở rừng như Vị còn mơ hồ thì, khách du lịch chỉ thấy được cái đẹp hiện hữu chứ làm sao biết được sự kỳ bí trong lòng của hoang dã. Có câu chim kêu vượn hú. Nếu chỉ hú thôi là chưa đủ. Vượn còn hót nữa. Những ai từng đến sinh thái X chắc chắn biết. Sáng tinh mơ đang trong chăn nằm thưởng thức sự êm dịu của bình yên thì đột ngột tiếng của – chừng như – hàng trăm chú vượn vang lên lồng lộng. Dàn đồng ca ấy khiến con người ta bật dậy, kẻ mở cửa sổ, người tung cửa cái, tất cả đồng loạt ngước lên những tàng cổ thụ để xem loài sinh vật nào đang tạo ra những âm thanh như tiếng hát của thần thánh thế kia? Nhưng tinh mơ ở rừng sương mù lãng đãng ngay trên đầu du khách thì, trên cổ thụ cao những hai mươi mét ta nào thấy được gì. Du khách ở phố lần đầu nghe âm thanh ấy đã ngơ ngác hỏi và Vị trả lời:
– Vượn đấy. Chúng hót để chào ngày mới.
Chiếc Jin130 qua một đoạn đường rừng áng những mười lăm cây số. Du khách sẽ được Vị giới thiệu thế nào gọi là lán. Cũng dễ hiểu. Một đoạn cả vài trăm mét toàn một loại cây được gọi là lán. Lán Bằng lăng, lán Gõ đỏ. Đây là lán Bình linh. Cứ mỗi héc ta rừng nguyên sinh có mười một ngàn loài thực vật – Vị bảo vậy – và du khách biết vậy. Biết để ngạc nhiên về sự kỳ bí của rừng chứ làm sao hiểu được. Và rừng như vậy được gọi là rừng giàu.
Nghĩa là sao?
Vị trả lời:
– Một hécta cao su có thể thu bạc tỷ nhưng vẫn là rừng nghèo bởi chỉ một loại cây. Còn nguyên sinh giàu có bởi đa dạng thực vật. Thiên hạ có thể trồng một ngàn hecta cao su nhưng không thể trồng được một hécta nguyên sinh. Chỉ thiên nhiên làm được điều này và phải qua hàng ngàn năm mới được vậy. Vì thế, miễn cưỡng lắm người ta mới phá rừng để làm nương rẫy. Vô cớ mà phá là tội ác.
Xe dừng lại ở một lán cây thẳng băng và đều như so đũa. Vị bảo rằng loại cây nầy có tên là Song Mây. Đứng trước lán rừng nầy du khách khó mà cưỡng lại sự tự sướng bằng cách chụp ảnh. Nắng xuyên qua rừng cây tạo nên những dòng sáng vàng tươi, lung linh như hào quang của điện quang trên đầu những pho tượng ở đền đài miếu mạo… Xe qua những con suối vắt trên đường. Ào… sóng nước tung lên… rất là tuyệt khi hình ảnh được ghi lại trong smart-phone đời mới.
Xe dừng và, để đến được nơi cần đến phải đi bộ qua một đoạn đường rừng trên dưới năm cây số. Con đường chỉ tám mươi xăng ti mét chiều ngang, trước đây là đường của những người lấy rừng làm mạch sống. Khi X là du lịch sinh thái con đường được tu bổ bằng cách dùng đá núi và xi măng làm bằng để mời gọi du khách. Đường rừng nên cũng lên xuống xuống lên. Đang dẫn đầu Vị dừng lại và chỉ vào một bụi cây bên đường. Du khách ngạc nhiên khi thấy một con rắn lục màu xanh chỉ bằng chiếc đũa con đang ngủ. Đúng là mắt thần. Nhận ra sự khác lạ của màu xanh động vật lẫn trong màu xanh của thực vật không thần là chi? Tất cả tròn xoe mắt khi Vị cho họ mục kích một chiếc lá bằng ngón tay hay một cành khô nhỏ như cây tăm đang di chuyển trên chân của chúng… Có tiếng rú hốt hoảng của một cô gái vang lên. Cô ngồi xuống ôm chân. Ra là có hai con vắt đang đeo trên bắp chân trần. Vẻ hãi sợ hiện lên trong mắt cả tình lang của cô. Không sao đâu – Vị nói – Vắt đấy mà. Nói rồi anh ngồi xuống bắt hai chú vắt vo lại và ném vào bên trong con đường:
– Có sao không anh? – Cô gái hỏi.
Vị mở túi dết đưa cho các thành viên trong đoàn mỗi người một lọ “Dep”. Loại thuốc mỡ dùng để chống muỗi và vắt:
– Không sao đâu. Cô yên tâm.
Nơi đến cũng phải đến sau ngoài một tiếng băng rừng. Nhìn cái gọi là bàu. Bàu Sấu. Một du khách kêu lên:
– Đây là cái biển chứ bàu gì anh Vị.
– Vâng… mùa nầy diện tích mặt nước từ một đến ba trăm héc ta. Mùa mưa thì những hai nghìn năm trăm hec lận đó anh.
Các bạn phải – Vị tiếp tục – xuống phà ngang qua sông mới vào được khu sinh thái này. Dòng sông bắt nguồn từ cao nguyên Y, khi xuôi qua đây nó tiếp nhận thêm nước bàu Sấu đổ vào. Chính điều này đã giúp cho đất đai và cư dân sống ở hai bờ ở hạ lưu trù phú. Nếu không có sự cho đi và giữ lại của Bàu Sấu thì điều gì xảy ra? Các bạn hãy hình dung vào mùa mưa, nước của thượng nguồn và, từ những cụm rừng của khu du lịch sinh thái nầy tuôn xuống thì ngập lụt sẽ là điều không tránh khỏi. Và khi nắng hạn đến, nước đổ về chắc chắn không đủ để dòng sông luôn chảy nếu không có sự cho đi của Bàu Sấu:
– Chắc có cá sấu nên gọi vậy phải không anh? – Một du khách hỏi.
– Chắc chắn là vậy. Trước đây vài mươi năm, khi rừng còn ở tận quốc lộ thì khu vực nầy là nơi sinh sống của những tộc người thiểu số. Sau môt thời gian dài bị sự thiếu thốn của kinh tế vây hãm, dân cư các nơi đổ về tàn sát rừng để sống. Nếu không có sự cương quyết từ bên trên thì e rằng khu rừng nầy đã bê tông hóa. Bố tôi bảo rằng khi ông vào xứ này lập nghiệp thì cá sấu tự nhiên ở cái bàu này rất nhiều. Ngoài trừ cá sấu còn có những loài ngày nay đã vào sách đỏ như rùa vàng, cua đinh trắng…
– Ngày nay thì sao anh?
– Mọi thứ vẫn còn nhưng cá sấu tự nhiên thì hết rồi.
– Sao vậy?
– Một số lâm tặc xen vào dân nương rẫy đóng vai hiền tàn sát mọi thứ. Họ bắt cá sấu để làm lương ăn, lấy da để phục vụ cho cái gọi là đẹp và sang cả của con người nên cá sấu ở đây bị tận diệt.
– Vậy ra bàu Sấu bây giờ chỉ còn là cái tên?
– Không. Lãnh đạo của bảo tồn sinh thái đã mua và thả xuống đây một loại sấu khác. Cá sấu Xiêm, một trong những loài cá sấu nước ngọt đặc hữu của Đông Nam Á.
Từ trên khu vực nhà khách của trạm kiểm lâm nhìn những chiếc xuồng con đang dập dềnh trên nước. Một cô gái kêu lên:
– Eo ơi… có cá sấu mà người ta dám bơi xuồng trên bàu kìa.
– Có sao đâu – Vị cười – Bơi xuồng tham quan là thường bởi cá sấu không tấn công người. Chúng nằm yên dưới đáy và chỉ nổi lên mặt hồ lúc hoàng hôn. Còn bây giờ có muốn thấy một ngoe để chụp tấm hình cũng khó.
Một khách tham quan hỏi:
– Rừng ở đây còn nguyên vẹn hả anh?
– Không anh ạ. Thấy vậy chứ bên trong cũng loang lỗ da beo lắm. Kiểm lâm cũng như bảo vệ rừng làm việc cả ngày lẫn đêm mà bọn lâm tặc vẫn tác oai tác quái với đầy đủ thủ đoạn.
Trong một quán cà phê nằm trên một bụi tre rừng. Để dựng được cái quán tạm gọi là độc nhất vô nhị nầy là một kỳ công. Bụi tre được đốn ngang thân và chủ nhân đã lót bên trên một lớp ván dày ba phân để làm nền, và trên cái nền ấy là một nếp nhà dựng bằng tre lợp lá Trung quân. Muốn lên du khách phải chân bước trên cầu tre tay vịn cũng bằng tre nhưng không lắt lẻo hay gập ghềnh gió đưa. Vị nói:
– Để phát ngang búi tre nầy phải đơn từ và bản vẽ của nó phải do kiến trúc sư đề xuất. Phải đẹp và độc, thậm chí độc nhất mới được duyệt. Ván sàn của nó từ những nhà máy cưa ở phố đưa vào. Dân làm ăn ở đây tuyệt đối không được đụng vào dù chỉ một sợi dây leo…
– Vậy mà lâm tặc vẫn phá được sao anh?
Vâng – Vị nói – bọn lâm tặc nằm ở dạng đầu nậu trăm mưu nghìn kế để lấy cho bằng được những cái quý nhất trong rừng nguyên sinh. Chúng ở ngoài phố nhưng của nả vẫn được tập trung tận nhà. Những chiêu thức như dùng tiền mua rừng, mua bảo vệ thậm chí cả kiểm lâm viên hay trưởng trạm chỉ là chuyện nhỏ. Đã từng có vài anh trạm trưởng ra tòa lĩnh án vì thoái hóa bởi mảnh lực đồng tiền thì, kiểm lâm viên hay bảo vệ là khỏi nói. Án phạt nặng nhưng chỉ răn đe kẻ biết còn kẻ không biết là bó tay. Thậm chí đầu nậu còn lợi dụng cái không biết để tư lợi cho mình.
– Nghĩa là sao? – Du khách hỏi – không biết và lợi dụng sự không biết là thế nào?
Người sắc tộc thiểu số như Mạ, Chơ-ro… thì rừng là quê hương từ ngàn đời. Đưa họ về một chỗ để quản lý như người Kinh ở các vùng kinh tế mới là không thể. Lợi dụng sự thật thà, bọn đầu nậu đã vung tiền khi chất phát lâm thế ngặt để phục vụ cái họ muốn. Ở bàu Sấu thì rùa vàng hay cua đinh trắng. Thú rừng từ bò tót hay nai chồn cheo mển, cả gấu rừng chúng cũng không tha. Riêng tê giác xem như tận tuyệt. Quan trọng nhất là gỗ quý. Bọn đầu nậu chỉ lấy cái quý nhất của một thân gỗ vài trăm năm thậm chí cả nghìn năm tuổi. Đã có hơn mười vụ bị bắt tại chỗ nhưng phải thả vì – như đã nói – người thiểu số không biết chi kể cả người thuê mướn họ:
– Sao lại không biết. Vô lý quá.
– Người thiểu số bây giờ khôn ngoan lắm. Chính những đầu nậu lâm tặc đã dạy cho họ nhưng chiêu thức đối phó mà, giám đốc lâm trường cũng lắc đầu chào thua.
Một anh thiểu số bị bắt đưa về ban chỉ huy lâm trường. Nhưng anh ta đóng phim không biết nói tiếng kinh thì tài tử xi nê cũng bái làm sư phụ. Ngôn ngữ không thông thì làm sao giải quyết? Một gã khác trọ trẹ tiếng kinh xin gọi điện về báo cho người nhà đến nộp phạt. Người nhà có lên thiệt nhưng mà là, một cô vợ địu một cu con còn bú và hai tay dắt hai nhóc khác. Ở phòng quản lý ba đứa bé khóc phụ với mẹ xin thả cha về thì, làm sao chả biết phải làm sao. Tốt nhất là thả bởi, khi bị bắt hắn mới thò rựa vào để phát quang nơi muốn khai thác chứ đâu đã làm chi. Mệt muốn đứt hơi khi là thành viên để bảo vệ một khu rừng mà diện tích những tám mươi nghìn hecta.
– Anh nói cái quý nhất của một thân gỗ là cái gì?
– Nu. Anh có biết thế nào gọi là Nu không?
– Không. Tôi ở phố nên nào biết Nu là gì.
– Để tôi đưa các bạn đi xem một cổ thụ Bằng lăng có Nu ở khu rừng bên kia bàu Sấu. Một thân gỗ đổ máu và máu cũng đã đổ trên thân gỗ ấy.
– Dữ vậy à?
– Vâng. Dữ dội và kỳ dị nhất mà trên ba mươi năm sống ở rừng nầy tôi chưa từng thấy một sự việc nào dữ hơn.
– Qua bàu bằng xuồng đạp à? Ai chứ tôi thì không dám. – Một du khách nữ nói.
– Không. Chúng ta có tám người nếu muốn thì thuê một ca nô cho an toàn.
***
Ca nô nổ máy và tài công đưa đoàn tham quan một vòng chu vi của bàu Sấu vĩ đại. Có lên non mới biết non cao, ra biển biết thế nào là xanh thẳm thì, có mặt trên lưng của một diện tích mặt nước ngoài trăm hecta, con người sẽ biết thế nào là xa mà gần gần mà xa. Ngoài trăm hecta thì đương nhiên là hơn cả mênh mông, nhưng cái mênh mông ấy bị chắn lại bởi sự vây hãm tứ phía của rừng xanh. Cảm giác xa gần gần xa khiến du khách có cảm giác hãi sợ và thích thú. Vị lại tiếp tục công việc của mình khi một du khách hỏi Nu là gì.
– Các bạn có biết cái gù trên vai con bò đực không? – Vị hỏi.
– Biết. Ở quê tôi gọi là gù.
– Vâng. Có nơi gọi khối u đó là gù, nơi gọi là nu và thượng thú hạ cầm chỉ có hai con có cái gù nầy. Sa mạc thì Lạc đà, đất liền chỉ con bò đực dùng để kéo xe hay cày bừa. Trên rừng một số ít cây có khối u nầy vì sự biến hóa bất cập nào đó của tế bào thực vật. Khối u theo thời gian sẽ lớn dần trên thân của cổ thụ và được gọi là Nu. Nu ở gỗ nhóm A như Gõ Đỏ, Cẩm Lai, Hương, Giáng Hương… là cực kỳ quý giá. Nếu thân gỗ một khối là một cây vàng thì Nu phải gấp mười lần hơn. Nu nằm vắt vẻo trên một thân cổ thụ có khi cao cả mười, mười lăm mét. Muốn lấy khối u nầy thợ rừng phải hạ cổ thụ. Cổ thụ từ vài trăm đến nghìn năm tuổi thì chu vi những hai ba vòng ôm của người lớn thì chuyện hạ nó là không thể, bởi gỗ nhóm A là tài sản quốc gia. Khai thác mà không có giấy phép là vi phạm pháp luật. Đã có những quyền chức mất tất cả bởi sự tham lam vô độ. Họ cho người lén lút tàn sát để lấy gỗ. Lệnh cấm ban ra ngay cả một sợi mây cùng không ra được cửa rừng nhưng, họ vẫn cho người len lỏi vào và khai thác lúc đêm hôm khuya khoắt. Không ngã được cổ thụ thì họ bắt dàn giáo và lóc từng mảng thịt. Nu nằm cao cỡ nào nếu muốn, họ vẫn có thể cho lìa thân.
Vị tiếp tục khi đoàn tham quan du lịch rời ca nô đi bộ đến cái nơi tại vị cây Bằng lăng mà Vị bảo là đã đổ máu và máu đã đổ:
– Nu sỡ dĩ quý giá bởi vân gỗ của nó cực kỳ tuyệt đẹp. Khi xẻ ra ván thì vân của nó uốn lượn như rồng bay phụng múa, khi lại như mây bay giữa trời xanh. Nó thiên hình vạn trạng mà chắc chắn rằng không một họa sĩ nào có thể tưởng ra mà phóng bút. Nó mê hoặc đến đắm đuối cả nhưng kẻ vô cảm nhất. Bọn thợ líu lộng bảo đó là sự mê hoặc của nghìn năm thời gian trong từng thớ gỗ.
– Líu lộng là gì hả anh Vị?
– Là loại cưa xẻ bằng tay. Lưỡi của nó mảnh như cưa lộng của thợ mộc. Khi xẻ Nu, bề dày một tấm ván chỉ năm ly nên phải dùng líu lộng. Thợ sử dụng loại cưa nầy phải là tay thượng thừa. Phải chuẩn từng mi li mét một. Sai một chút là tấm ván cả cây vàng đi đứt. Có làm thợ líu lộng mới biết thế nào là “sai một li đi một… cây vàng”.
Nhưng, Bằng lăng không nằm trong tốp gỗ nhóm A. Không A nhưng lại đặc biệt một cách kỳ lạ. Minh Tàn – một lâm tặc tầm cỡ của rừng X, từng ngồi tù về tội danh phá lâm – đã nói về cái đặc biệt của Bằng lăng như thế nầy:
– Băng lăng cũng như bóng đá vậy. Một nghìn thằng mới được một. Cả trăm triệu dân mới moi được ba chục tầm cỡ để vào tuyển quốc gia. Nhưng để có một thiên tài thực thụ thì cả thế giới chỉ vài thằng. Sự cá biệt nào cũng rất đặc biệt. Bằng lăng là một loài thực vật như vậy.
Có bốn loại bằng lăng là Thông, Cườm, Đá, và Ổi. Băng lăng Đá là loại gỗ không được trọng dụng. Ngay cả cưa máy cũng sợ khi ra ván. Đã cứng thì chớ sớ gỗ của bằng lăng đá nằm ngang nên rất mau lụt cưa. Líu phải dũa bằng tay và mỗi lần dũa một lưỡi líu ít nhất là một tiếng đồng hồ nên, thợ rừng không ai dám đụng vào. Những tên gọi như thông, cườm, ổi thì cây có bề hoành một mét là hiếm. Và mười cây thì bộng ruột hay bù xòe đục lũng thân đã hết sáu, lại rất dễ nứt khi ngã. Nó có thể nứt làm bốn mảnh nếu thế ngã không chuẩn.
Nhưng cá biệt lại có những cây to những ba người ôm. Đã có những bộ phản bằng lăng hai mét vuông dày hai mươi phân nhưng chỉ hai tấm – và – những bộ phản nầy là độc nhất vô nhị. Đã và đang có hàng trăm, thậm chí hàng ngàn bộ phản như vậy của gỗ nhóm A nhưng Bằng lăng thì chỉ một. Đã và đang có hàng vạn mặt bàn, hông tủ hay mặt bàn thờ bằng Nu của gỗ nhóm A nhưng Bằng lăng thì tuyệt không. Xưa nay chả ai trên trần thế nầy nghe nói đến Nu Bằng lăng thì lấy gì để mục sở thị. Nhưng nói không có là không đúng đâu nghe.
Nào, xin mời quý vị theo chân Vị đến nơi tại vị một cây Bằng lăng ngoại hạng và vô giá. Nó to những bốn vòng ôm người lớn và, có những sáu cục Nu nằm hài hòa trái phải, phải trái như một chậu Mai Chiếu Thủy tạo hình mẹ bồng con trên thân cao áng chừng ba mươi mét. Sáu cục Nu nhưng chỉ còn năm bởi lâm tặc đã cắt mất một cục ở cao nhất. Và năm lâm tặc chết hết bốn. Một còn lại là đầu nậu Ba Phúc bị chung thân về tội danh cướp giết. Thêm một nữa là…
***
Con đường dẫn vào gốc Bằng lăng tuy nhỏ nhưng khá thoáng. Cả toán du khách cực ngỡ ngàng khi mục sở thị cổ thụ. Ở nguyên sinh thì những cổ thụ như gốc Bằng lăng nầy không phải hiếm nhưng họ ngỡ ngàng bởi những khối u to bằng cả cái bàn nhô ra trên thân cây. Khối u hay còn gọi là Nu nằm cách nhau rất đều đặn. Ba mét cách mặt đất là một khối. Khối thứ hai cách khối thứ nhất chừng bốn mét và nằm ở chiều ngược lại. Thiên nhiên đã tạo ra một kỳ vĩ mà con người không thể nào hiểu được. Vết cắt khối u trên cao cách mặt đất là hai mươi mét. Vị nói:
– Bọn phá lâm đã dùng cây rừng và đinh để tạo một dàn giáo vững chải từ gốc lên tận cục nu cuối cùng và dùng cưa cá mập để cắt khối u. Nhưng xui xẻo cho bọn chúng là khi cục Nu rơi xuống đã vỡ ra làm bốn mảnh và đập sập giàn giáo làm cả bọn trọng thương.
Để dựng được bộ giàn giáo vây chung quanh một thân cây có bề hoành những năm mét, cao hai mươi mét thì, chí ít cũng cả tháng. Làm cách nào mà chúng đã qua mặt được bảo vệ rừng và kiểm lâm đi tuần tra? Câu trả lời rất đơn giản. Với diện tích trên dưới tám chục ngàn hec-ta thì từ bảo vệ cho đến giám đốc các lâm trường trong khu bảo tồn, chả một ai dám nói mình tinh thông rừng cấm X. Thậm chí nếu không có tiếng kêu cứu của bọn lâm tặc bị tai nạn thì, chả một ai biết có một cây Bằng lăng cổ thụ có Nu đang hiện diện trên đời. Người giữ rừng không biết vậy làm sao lâm tặc biết mà ra tay trộm đạo?
– Một ngươi tộc Mạ đã tình cờ phát hiện ra cây Bằng lăng nầy khi theo dấu một con nai lúc đi săn. Anh ta đem chuyện nói với đầu nậu Ba Phúc…
Phúc theo anh người Mạ vào tận gốc và hắn biết cơ hội làm giàu của hắn đã đến. Nhưng dựng cho được giàn giáo để thu những khối u nầy thì phải có gộc lớn để chống lưng. Ba Phúc gặp tiểu khu trưởng cái tiểu khu nơi mà gốc Bằng lăng đang tại vị là Bảy Hoa. Phúc biết tiền mua được tất cả bởi ai đó đã nói cái gì không mua được bằng tiền thì mua được bằng nhiều tiền. Bảy Hoa đã lệnh cho dưới trướng tai không nghe mắt không thấy những gì ở cụm rừng ấy. Và thế là cái giàn giáo đã tại vị sau một tháng ra công.
Máu của những kẻ lâm nạn tưới đầy gốc cây hòa với nhựa ròng ròng chảy từ vết thương của khối u. Bốn gã lâm tặc chết trên đường đi cấp cứu. Trước khi chết chúng còn kịp khai kẻ đầu têu là Ba Phúc.
Bảy Hoa bỏ rừng X trốn biệt.
Vị nói với khách tham quan rằng anh sinh ra và lớn lên ở miền rừng nầy. Rừng với anh là máu là thịt là niềm yêu là sự sống. Anh từng chứng kiến những điều rất dữ dội nhưng chưa lần nào kinh hoảng khi nhìn thấy máu đẫm đầy dưới gốc cổ thụ như lần ấy. Anh cũng không hiểu vì sao khung giàn giáo vững chải ngần ấy lại có thể bị đập sập bởi va chạm. Về điều nầy thì ngay cả một lâm tặc lừng danh là Minh Tàn cũng cho là kỳ lạ. Hắn nói:
– Tao đã từng cho gỗ lìa thân mà cây vẫn ung dung đứng. Từng hạ xuống đất những cục Nu còn to và cao hơn. Người ta phải ràng rịt khối u bằng dây dù bẹ ba to bằng ba ngón tay và từ từ cho xuống bằng ròng rọc. Lũ nầy cho rơi tự do là hết số.
Riêng Vị cho rằng ở rừng có thần. Thần rừng sẽ không dung cho bất kỳ kẻ nào phá hoại. Minh Tàn cũng nghĩ vậy và vì nghĩ vậy nên hắn ta vất cưa vất búa vất rựa và bảo rằng:
Ngôi nhà đứng chơ vơ, trầm mặc bên sườn đồi. Sương mù bảng lảng, phủ mờ mái ngói rêu phong xám xịt. Hàng cây lạnh lùng xòe nhánh lá rậm dầy, nối tiếp nhau một dãy. Trời thưa nắng, lối đi u tịch lạ lùng. Lá vàng xao xác dưới chân. Tôi chợt quặn lòng nhớ em và mùa đông năm cũ.
Ngày đó, cũng trên đường này, tôi gặp em. Cô gái có khuôn mặt bầu bĩnh, thơ ngây. Đôi bím tóc dài buộc nơ màu tím. Tay cắp chiếc giỏ mây đáy tròn, em vừa đi vừa hát. Giọng lảnh lót, trong veo, vui nhộn. Tôi mơ hồ thấy một dòng suối từ thượng nguồn đang rì rầm qua khe núi, tràn xuống sườn đồi. Nước reo cùng tiếng gió, tiếng chim chìa vôi buổi sáng. Trời bỗng dưng xanh. Cây lá bỗng dưng tươi tắn và tôi bỗng dưng vui.
Tiếng hát chợt ngừng bặt. Không gian chùng xuống, lặng đi. Tôi ngỡ ngàng nhìn cô gái đang dùng chân hất tung những chiếc lá khô. Hai cánh môi mím chặt, mắt long lanh ngấn nước.
Tôi buột miệng:
– Cô bé làm sao thế?
Giật mình, em quay phắt lại. Nét mặt ủ dột thoáng sợ sệt:
– Ơ, ông là ai? Tới đây làm gì?
– Nhà tôi trọ dưới chân núi kia. Tôi đi dạo…
Hình như em không để ý đến câu trả lời của tôi. Em mãi nhìn xuống những mái nhà lô xô thấp thoáng theo triền dốc và những bóng người li ti di động không ngừng
Tôi giải thích:
– Họ đang họp chợ ở đó.
Em nhìn tôi, hỏi như nói một mình:
– Chẳng lẽ mùa đông tới rồi sao?
Tôi ngạc nhiên nhìn cô gái. Em quên ý niệm về thời gian hay là không muốn nhớ? Em còn quá trẻ. Điều gì đã ẩn nấp trong lòng em, nhuộm xám ánh mắt nai tơ như thế .Tôi xác nhận:
– Mùa đông đã về.
Như bừng tỉnh, em kêu lên:
– Tôi thù ghét mùa đông!
Em bỏ chạy, đôi bím tóc đong đưa. Chiếc bóng nhỏ khuất sau ô cửa mở.
Những ngày kế tiếp tôi không gặp em. Hôm nào tôi cũng thơ thẩn lên đồi, men theo con dốc cũ, tìm đến tảng đá, ngồi ngóng về phía nhà em và chờ đợi. Chẳng biết để làm gì. Tôi cảm thấy bồn chồn, ray rứt không yên nếu không đến đó một lần trong ngày . Quyển sách mang theo, tôi chẳng đọc được chữ nào. Tôi nhìn đăm đăm vào trang giấy và không thấy gì hết. Bực bội, nhắm mắt, tôi lại thấy rất rõ, không phải chữ mà là em, cô gái tóc vấn bím, mang hài thêu màu đỏ. Bàn chân nhỏ hất tung những chiếc lá vàng.
Đúng lúc tôi quá nãn thì em xuất hiện. Không phải từ trong nhà đi ra. Em khệ nệ vác một bó cây khô ngược dốc. Hai bím tóc quấn quanh đầu như vương miện. lưng áo màu tím đẫm mồ hôi. Đôi gò má ửng hồng nhưng ánh mắt vẫn buồn, ngơ ngác.
Em không trông thấy tôi. Ném bó củi xuống, em ngồi bệt dưới tàn cây đại thọ. Đưa tay quệt mồ hôi trán, em lẩm bẩm:”Mệt quá! “
Tôi bật dậy, đứng như trời trồng mất mấy giây mới định tỉnh. Tôi hỏi một câu ngớ ngẩn:
– Cô bé …làm gì đó?
Em giật mình, đứng lên rồi lại ngồi xuống, thở phào:
– Cũng là ông! Làm người ta hết hồn!
Tôi cười, đưa tay sờ càm:
-Cô bé cũng làm tôi giật mình.
– Tôi!
– Tiếng ông là đại từ chỉ người già. Lẽ nào tôi hóa lão sớm thế?
Cô bé trừng mắt;
– Còn tiếng “cô bé” chỉ hợp với những đứa bé gái hỉ mũi chưa sạch.
– Vậy là mình gọi nhau không đúng cách rồi. Tôi phải sửa lại thế nào, cô bé?
– Không cần thiết vì tôi chẳng muốn làm quen với ông.
– Nhưng tôi muốn.
Em lại trừng mắt với tôi, trông rất dễ thương.
Em buột miệng;
– Vô duyên!
Không nói gì nữa, em đến bên bó củi, nhấc lên, quay đi. Tôi vội đuổi theo:
– Giận sao, cô bé?
Em tránh sang bên, lầm lũi đi. Tôi đứng lặng giây lâu. Em dần xa. Tôi bàng hoàng như sắp đánh mất một cái gì rất quí. Tôi hớt hải đuổi theo. Chẳng biết lớ ngớ thế nào lại giẫm phải đá, trợt chân, lăn mấy vòng. Tôi kinh hoàng kêu lên:
– Ôi, chết tôi rồi!
Em nghe thấy, liệng bó củi xuống đất, chạy trở lại bên tôi;
– Trời, ông có sao không?
Tôi sượng sùng, nén đau, lắc đầu;
– Không, không sao!
Tôi gượng đứng lên nhưng chân phải đau nhói. Hình như đã bị bong gân rồi. Tôi bóp nhẹ vào đó. Em bảo:
– Đâu, để tôi xem!
Nhưng rồi em chẳng biết làm gì hơn là đưa một ngón trỏ khều nhè nhẹ vào chân tôi. Nghĩ ngợi một hồi, em bảo:
– Phải rồi! Ông ngồi đây chờ nghe, tôi về nhà nhờ mẹ tới giúp ông.
Em chạy đi, lát sau, trở lại cùng với mẹ. hai người dìu tôi về nhà.
Đó là một ngôi nhà cũ kĩ và bé nhỏ giữa núi đồi hùng vĩ. Nó đứng trơ trọi cách xa làng bản như muốn được yên tĩnh, hòa nhập vào thiên nhiên hiền dịu. Tường nứt nẻ. những vết rạn nứt như nét vẽ đường chấp nối của những tảng đá núi chồng chất lên nhau. Mấy ô cửa đã ố màu, lỏng lẻo, mối mọt. sự tàn lụi thấp thoáng quanh đây, gợi buồn se sắt.
Gian nhà trước hai bên trưng bày trái ngược, hỗn độn. mỗi bên một hình thể khác nhau. Bên trái, trên tường treo những bức tranh rất đẹp. Cạnh cửa sổ là chiếc bàn mặt vuông, cẩn đá hoa bóng loáng. Ngoài lọ đựng bút, còn có một bình hoa bất tử. Liền đó, chiếc tủ kiếng khá lớn chứa đầy sách và tranh vẽ.
Bên phải không rộng rãi, tao nhã như chỗ đối diện nó. Chỗ này tạp nhạp đủ loại vật dụng. Một chiếc bàn tròn và sáu cái ghế. Trên đó, bình tích, ly tách, gạt tàn thuốc, rỗ may…Không còn chỗ trống, bụi phủ mờ mờ. Trong góc nhà, tủ quần áo đặt cạnh tủ chén, giữa những chồng bát là tô, đĩa , muỗng, đũa ngà. Ngăn dưới, con búp bê tóc vàng hoe bị mớ vải thêu phủ quanh. Nó như ngạt thở tìm cách nhô đầu lên một chút.
Mẹ em có tính cách rất khác em. Bà hay nói, nói liên tục, âm sắc, nhanh, Chốc chốc, bà cất giọng líu ríu. Tạo nên một luồn âm thanh nhào lộn, cuộn xoắn lấy khoảng không gian chật hẹp trong nhà. Tôi mệt mỏi lau mồ hôi trán. Em đưa mắt nìn tôi rồi thẩn thờ quay đi. Thỉnh thoảng, em gắt lên ”Mẹ à!”. Bà không hiểu ý em lại nói.
Qua lời bà, tôi biết được gia cảnh nhà em. Ba em đã bỏ đi khi gió chướng tràn về, bứt lìa những chiếc lá vàng khỏi nhành cây, ném tả tơi trên triền dốc vắng. Mẹ em nghi ngờ chồng say mê một người đàn bà khác dưới thị trấn. Bà cho rằng đó là một con yêu tinh đã đưa móng vuốt ra chộp lấy người đàn ông tài hoa, lãng mạn và yếu đuối. Ba em là một họa sĩ chuyên vẽ tranh tàu. Những bức tranh thủy mạc của ông được người vùng nầy ưa thích lắm. Mẹ em mang ra cho tôi xem mấy bức họa của ông. Tranh sơn thủy, chim, hoa và người. toàn bộ cảnh sắc được ghi chép lên giấy hoặc khung lụa với hai màu đen trắng. Chúng gây ấn tượng mạnh mẽ nơi tôi. Mỗi bức mang một phong cách khác nhau. Ba em đã dùng đường nét để tả tình, dùng màu sắc đậm nhạt để để gợi tình cảm nơi người nhìn ngắm. những bức vẽ cảnh núi đồi rất độc đáo. Chỉ với khuôn khổ nhỏ bé mà ông thể hiện cả một dãy núi rừng trùng điệp. Khi vẽ nó, có lẽ ông đã ngắm nhìn thiên nhiên với nhiều góc độ khác nhau. Từ xa đến gần, từ gần ra xa. Từ trên nhìn xuống rồi từ dưới nhìn lên. “Luật xa gần” trong hội họa dường như không có chút ảnh hưởng gì đối với ông. Người họa sĩ qua nét cọ đã thu xếp lại thiên nhiên lên khung vải. Lạ nhưng không sai. Khác thường nhưng không tách rời hiện thực. Dưới mỗi tấm tranh đều có đề thơ và đóng dấu. Tôi lâng lâng trong niềm cảm phục người nghệ sĩ tài hoa và buồn buồn bởi những trắc trở tình duyên, hoàn cảnh sống của ông. Tôi hiểu vì sao ông rời bỏ nơi nầy. Tôi biết lý do ông vẽ tranh tả người đều là người lạ. Không có khuôn mặt trong tranh nào là của mẹ em. Ở bà, ông chỉ nhìn thấy có một nửa điều mình cần thiết. Tiền và tài tề gia, nội trợ. Một nửa phần còn lại nằm trong dáng dấp người trong tranh. Nàng đẹp, tinh khiết như nắng mai. Lặng lẽ như rừng thông vắng gió.
Người họa sĩ ấy đã ra đi, tìm kiếm mẫu người như ý. Chẳng biết ông có bắt gặp hạnh phúc hay là chỉ làm rối rắm thêm đời mình trong buổi xế tà? Và, tạo thêm nỗi đau day dứt, không nguôi trong lòng em từ thuở bình minh của cuộc đời.
Tôi yêu em. Người con gái mang hài bằng vải thêu màu đỏ. Tôi muốn lửa tim mình sưởi ấm lòng em, làm tan biến lạnh lùng quanh em. Để em yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống với bao điều tươi đẹp, thú vị bất ngờ.
Tôi mơ tưởng. Tôi khát khao. Tôi phác họa một mái ấm có em hồn nhiên, yêu đời, yêu tôi. Tôi vẽ trong trí dáng em thong dong áo trắng, hài vải hoa tung tăng bên tôi trên lối mòn đầy xác lá thu. Em nhón chân, bước sẽ. sợ lá vàng nhầu nát, đớn đau. Và, em hát rộn vui như tiếng chim chìa vôi hót chào buổi sáng.
Tất cả những điều đó, bây giờ ẩn kín trong kí ức tôi, để mỗi độ
Đông về lại chổi dậy , gợi buồn se sắc. Tôi chưa kịp tỏ tình, em đã bỏ đi sau ngày mẹ mất. Em nhường ngôi nhà cho cha và người đàn bà lạ. Em theo người dì đi về phía phố đông. Có người bắt gặp em ra vào ở một trường Đại học. Tôi định đi tìm em. Nhưng cuộc sống tất bật, đầy lo toan cứ lôi tuột tôi xa dần kỷ niệm ngọt ngào.
Thôi, tạm biệt em. Em hãy vui sống đời đáng sống! Ngôi nhà cũ , con dốc ngập lá vàng rơi, em và tôi hãy xem như một bức tranh xưa. Bức tranh nhen nhóm chút nhớ tiếc giữa những tháng ngày đối mặt, vượt qua thách thức cuộc đời. Em hãy về phía mùa Xuân rực rỡ em nhé!
“Gió gì như gió Pha Xang Gió xô, gió đập, gió phang vào người!” “Đừng ngu mà đến Pha Xang Sểnh tay mất vợ, chàng ràng mất con”
Lão Vâu đã nghe những câu ca dao như vậy khi lão đi qua các thị trấn, thị xã, thành phố, làng quê… quanh Pha Xang. “Đến Pha Xang, gặp tang thương”, “ Ngáo ngơ đến đất Pha Xang, Thân bại, danh liệt, tan hoang cửa nhà”- những câu bài răn dạy như vậy có thể nghe từ miệng những đứa trẻ nhỏ ở bất cứ đâu ngoài cao nguyên. Đó là những bài học từ xa xửa, xa xưa, cha ông họ để lại cho con cháu. Chớ qua Pha Xang, chớ qua vùng gió. Ở đó, không phải gió, mà là bão, là dông quanh năm. Không ở đâu gió dữ dội, triền miên như Pha Xang, ngày gió, đêm gió, gió như một con ngựa hoang đốc chứng phi mãi không nghỉ. Nó chạy nước đại, nhảy chồm chồm, lồng lộn điên dại. Cơn gió Pha Xang ấy, như ma, nó bắt người, cuốn người qua luôn thế giới bên kia. Trong con mắt của mọi người sống bên kia cao nguyên thì Pha Xang là vùng đất chết, vùng đất địa ngục, hầu như họ không lai vãng tới. Mà muốn đến Pha Xang cũng quá bất tiện: ô tô, xe máy không có đường đi, tất cả chỉ bằng ngựa, và đôi chân lội bộ. Hiếm hoi, đôi khi, có những nhà thám hiểm, nhà sưu tầm cổ vật, nhà nghiên cứu sinh vật…mới liều mạng đặt chân tới.
Nhiều người trong số họ, qua đất Pha Xang đã biến mất không còn tăm tích…
Hình ảnh minh họa. Nguồn pinterest
Hầu hết, những người sinh ra ở Pha Xang cũng đã rời mảnh đất đó ra đi…
Khi bà Ing mù, câm, điếc chết thì cả vùng Pha Xang chỉ còn lại mình lão Vâu. Những người bình thường đều đã bỏ Pha Xang từ lâu. Có điên mà bám lấy Pha Xang, sống ở Pha Xang. Ngày trước, những hậu duệ của ông tổ Pha Xang còn nhẫn nhục, cam chịu…lầm lũi bám lấy mảnh đất này vì không biết gì ngoài Pha Xang và vẫn luôn nghĩ ở bên kia núi phía Tây, phía Nam, Bắc đều là những vùng gió như cao nguyên Pha Xang mà thôi…
Bà Ing mù, câm, điếc ở lại Pha Xang vì không có con cái, không ai đưa bà đi qua bên núi và với một người phụ nữ già mù, điếc, câm, lẩn thẩn thì sống ở Pha Xang không hẳn là thảm hoạ.
Lão Vâu ở lại vì đau đớn, vì tủi hổ sau vụ khai quật mỏ dưới lòng đất tổ tiên thất bại, ở lại vì không muốn qua bên kia núi để chạm mặt đồng hương tha hương ở đấy, ở lại vì sâu thẳm trong tim, lão vẫn tin cha ông đã chọn nơi này để sinh sống chắc phải có nguyên cớ lý lẽ của nó. “Lý lẽ gì – mấy đứa cháu vặc lại lão – cha ông chúng ta bị lưu đày thôi! Chắc chắn bị lưu đày, còn không có ai điên đi chọn Pha Xang!” – “ Chắc ông tổ chúng ta là một tội phạm!” – “Ai lưu đày ông tổ chúng ta”- “Thì nhà vua, triều đình chứ ai!”- “Nhưng có ai canh giữ đâu mà cứ phải sống ở đây?”- “Bây giờ thì thế, chứ ngày xưa là bị canh giữ đấy, bốn mặt núi lính canh nhung nhúc, lăm lăm vũ khí trong tay, những kẻ bị lưu đày muốn trốn cũng không được!”-“Chúng ta bây giờ đâu phải kẻ tội phạm mà chấp nhận lưu đày ở chốn khốn nạn này!”
Lão cũng đã đi qua núi bên kia, đã để một phần đời bên kia núi học hỏi, kiếm tiền, nhưng lão ra đi với dự định sẽ quay về. Lần đầu qua bên kia núi, lão bị luôn mấy ngày chếnh choáng, bước đi chệnh choạng đôi lúc ngã oạch xuống đường. Sau này, lão mới biết có một bọn người cũng chếnh choáng như dân Pha Xang, đó là bọn thuỷ thủ đi biển nhiều năm khi bước lên bờ. Quen bước đi trên con tàu chòng chành lại bị say với đất liền bằng phẳng… Còn dân Pha Xang thì luôn nghiêng ngả vì gió. Rồi lão cũng quen với các đô thị, làng mạc không có gió như Pha Xang. Bên kia núi, thiên nhiên đẹp rực rỡ, tươi xanh, êm đềm quanh năm…Lão gần như hoà nhập với bất cứ cư dân nơi đâu lão đến. Khó nhất với lão là tiếng nói cứ âm vang như tiếng cồng… Dần dần, lão cũng tập được cách hạ giọng để nhỏ lại, nhỏ đến mức thỏ thẻ nhẹ nhàng. Nhưng, nhiều khi lão cũng không tránh được cái nhìn kỳ thị của người bên kia núi vì cái đầu nhọn nhọn của dân Pha Xang mà không giấu vào đâu được: “Lại một ông đầu nhọn! Ê đầu nhọn, mày có nhận việc này không? Thằng đầu nhọn mày bán hàng gian đấy hả? Ê thằng đầu nhọn mày làm gì như mèo mửa vậy?”
*
Tại sao người Pha Xang đầu lại nhọn, có lẽ là do gió… Đi lại trong vùng gió để khỏi bị đẩy ngã chỉ có cách cúi thấp người xuống, nghiêng người theo chiều gió, hướng đầu về phía ngọn gió. Đứa bé Pha Xang ngay từ bé, lần đầu tiên ra khỏi nhà đã học được cách di chuyển như vậy. Cả cơ thể thu lại gọn nhất, tay xếp dọc thân, bàn chân dạng ra tư thế chống đỡ, phần đầu thân thành một khối nhọn để giảm tối đa lực cản gió. Cái đầu của người Pha Xang có lẽ do gió mài mãi, mài mãi qua nhiều thế hệ mà thành nhọn hoắt. Chắc phải mấy trăm năm, gió mới đủ thời gian để biến một cái đầu người tròn như quả bóng, thành hình nhọn như đầu trái đu đủ, mà trái bóng, trái đu đủ …người Pha Xang cũng chỉ biết đến khi đi qua dãy núi phía Tây, phía Đông sang vùng dân bên ngoài. Ở Pha Xang không ai biết đến những trái cây như vậy vì chẳng có cây trái nào tồn tại trên mặt đất với gió Pha Xang. Ừ, cái đầu người Pha Xang, đúng giống luôn quả đu đủ vì nó nhọn ở đỉnh rồi được vuốt theo hình chỏm, đó có lẽ là dạng hình học phù hợp với chuyển động của gió nhất. Không chỉ đầu, cả cái vai người cũng xuôi xuống, khi hai tay nép vào sát thân, người Pha Xang trông không khác gì cái chuông nhà chùa. Đúng kiểu khí động học…
Lên sáu tuổi, lão chứng kiến một người đàn ông mất vợ trong đám cưới ở Pha Xang. Lỗi tại người chồng mang từ bên kia núi về một chiếc váy cưới theo mode may chân quá rộng, khi cả hai đang đi từ nhà gái qua nhà trai thì gió cuốn luôn cô dâu, chiếc váy rộng không khác gì chiếc dù đưa cô dâu lên cao chục mét trong sự bất lực ngơ ngác của nhà trai, nhà gái. Rồi ném cô dâu xuống chân đồi bên cạnh. Chôn cất cô dâu xong, chú rể lao đầu xuống vực tự tử vì đau buồn…
Cha ông Pha Xang vẫn luôn dặn con cháu: “Có qua eo Khế ban trưa – Buộc dây mà giữ chẳng đùa được đâu”. Cái eo Khế, cha ông vẫn truyền lại, cứ vào buổi trưa, gió xoáy tại đó mạnh gấp 10 nơi khác. Hễ đi qua đấy phải đi ít nhất hai người và nhớ buộc dây níu vào nhau, trì thêm một cục đá để khỏi bị gió nhấc xuống hồ nước ngay đấy.
Lâu lắm rồi, có một ông bố sểnh tay, con bị cuốn xuống hồ, ba ngày sau vẫn chưa thấy nổi lên…Ông bố cứ ngồi bất động bên hồ nước, hai thay chắp trước ngực cầu xin trời đất. Khi dân làng thấy ông ấy cứ quỳ như vậy ngày này, qua ngày khác, ra gọi, thì ông đã chết cứng từ lúc nào. Chết vì đau đớn, vì oán hận gió Pha Xang. Hồi nhỏ, có lần, lão Vâu hỏi cha về câu thành ngữ: “Gặp gió Pha Xang, hổ vàng vội biến”. Cha lão ậm ừ nói rằng vào đời ông tổ thứ tám, có một con hổ vàng xuất hiện ở Pha Xang. Nó săn người, săn heo, gà nuôi dưới hầm… Trai tráng rủ nhau săn nó, bị nó săn lại, chết mất nhiều mạng. Nhưng ít lâu sau thì con hổ biến mất, các cụ cho rằng nó không chịu được gió Pha Xang. Nó biến… Người ta còn đồn, gió Pha Xang thích bắt người, nhất là vào tháng ba, gió cuốn kiểu vòi rồng, ẩn hiện như ma tháng bảy: “Gió tháng ba, ma tháng bảy”. Nhiều người, đêm tháng ba ra đường, bị gió đưa đi mất, đôi người được tìm thấy thì như bị ám mất hồn, tự chui vào hang đá mà không chui ra được.
Khi lão sinh ra, dân Pha Xang còn bám trụ lại cao nguyên chỉ còn mấy nhúm người. Họ đều sống chui nhủi trong những căn nhà khoét sâu xuống mặt đất của tổ tiên, đúng ra phải gọi là những căn nhà hầm để tránh gió. Lão chỉ được ngoi lên khỏi mặt đất trong một vài sự kiện quan trọng để di chuyển đến ngôi nhà hầm khác: ngày giỗ tổ, ngày đầu năm mới, nhưng đều được cha mẹ bồng trên tay hay dắt đi. Lần đầu tiên, khi bốn tuổi, nhân lúc cha mẹ đi vắng, lão tự rời nhà một mình. Gió đã cuốn bay cái thân thể đứa bé chưa đến 10 kg của lão nhẹ nhàng như lăn một cuộn rơm khô. May lão rơi xuống hõm đất gần nhà và được giữ lại, nếu không sẽ bị cuốn đến rặng núi phía Tây cao nguyên. Khi cha mẹ lão cùng người làng tìm được, lão đã tím tái. Một đứa trẻ ở Pha Xang muốn một mình di chuyển trên mặt đất, phải được dạy cách đi, phải học, phải tập… như dân ở bên kia núi học chạy xe đạp, xe máy vậy. Phải biết cách trụ chân trên nền đất, di chuyển từng bước, cách thu mình lại để giảm lực đẩy của gió, và cách xác định hướng gió khi muốn rời nhà, không được đi theo hướng gió, sẽ bị đẩy ngã sấp mặt, không được đi ngược chiều gió vì sẽ không bước chân lên nổi, phải đi nghiêng, đường đi cắt chéo qua ngọn gió.
Không có gì trên mặt đất tồn tại với gió Pha Xang, không có cây cối nào sống nổi với gió Pha Xang. Gió dữ dội, gió triền miên, gió thổi không ngừng không nghỉ suốt ngày đêm, xé nát tua lá cây, tuốt sạch lá cây, và làm thui bất cứ chồi nào nhú ra cũng như mầm cây mới ngoi lên. Người cao nguyên không thể trồng trọt, nuôi bất cứ cây con nào trên mặt đất.
Chỉ những người Pha Xang chưa bao giờ rời quê hương đi xa, suốt đời chỉ quanh quẩn gần nhà, mới sống gắn bó với Pha Xang đến trọn đời. Còn ai ở cao nguyên đã qua bên kia núi, chứng kiến cuộc sống nhẹ nhàng tươi vui của những vùng đất khác thì trước sau hầu như đều rời bỏ Pha Xang. Nếu họ có trở về Pha Xang thì cũng chỉ sống một thời gian ngắn để tìm cơ hội đưa con, cháu, người nhà ra đi. Gia đình nào khó khăn cũng cố gắng cho một đứa con qua núi: “Phải rời Pha Xang mới có tương lai!”, “Ở bên kia núi có thể làm một năm đủ sống mấy năm”. -“ Ở Pha Xang vắt mũi không đủ nuôi miệng”.
Lão được gửi qua bên núi khi mới lên 10 tuổi. Một người bà con nhận nuôi, cho lão đi học, hơi muộn hơn trẻ con bên núi nhưng rồi lão đã vượt kịp. Lão học xong trường nghề, đi làm và kiếm được tiền…
*
Lão đã đi loanh quanh gần hết thế giới. Lão nhận ra nhiều người Pha Xang sống rải rác ở khắp nơi. Rất dễ nhận ra dân Pha Xang trong cộng đồng người: nhận ra bởi tiếng nói to như dân đi biển, bởi cái chân to bè, ngón chân cắm xuống đất, nhận ra bởi cái dáng đi nghiêng và phần thân cúi xuống, nhận ra bởi cái đầu nhọn. Nhiều người Pha Xang, sống nhiều năm ở bên ngoài hay là đời con, đời cháu giọng nói đã nhẹ đi, dáng đi không nghiêng nữa, nhưng vẫn nhận ra bởi cái đầu nhọn. Cái đầu nhọn chắc phải qua hàng chục đời mới hi vọng che giấu được… Mỗi khi gặp đồng hương lão lại tìm cách bắt chuyện: “Có nhớ Pha Xang không?”- “Không. Nhớ gì vùng đất khốn khổ ấy! À, đôi khi nhớ người thân”- “Đó đâu phải quê hương, đấy là nơi đày ải!”-“Trời, sao có một vùng đất khủng khiếp thế”-“Vẫn nhớ gió Pha Xang. Gió gì như điên, như dại!”. Đôi khi lão lại hỏi: “Có quay về Pha Xang không?”, hầu như tất cả lắc đầu: “Tổ tiên là tù nhân. Tôi đâu có phải là tù nhân!”-“Không lẽ tự đưa mình về lại vùng đất chết”-“Về nơi lưu đày ư?”
Lão Vâu trở lại Pha Xang đưa tang mẹ khi còn trai trẻ. Lão ở Pha Xang mấy tháng trời đi từ nhà này qua nhà khác thăm thú họ hàng và cứ nghĩ mãi về câu hỏi: Tại sao tổ tiên lại chọn mảnh đất này? Chọn vì cảnh đẹp ư? Pha Xang chẳng có cảnh vật nào. Chọn vì đất đai ư? Thiếu gì đất để sinh tồn trên thế giới, mấy trăm năm trước quanh Pha Xang còn bao chỗ hoang vu. Chọn vì?… Cuối cùng lão nghĩ đến những tài nguyên dưới lòng đất. Dưới lòng đất Pha Xang phải có mỏ dầu, mỏ vàng, mỏ titan, mỏ kim cương… Thì cha ông của những người Ả Rập đã chọn cả một vùng đất sa mạc cháy khô đó sao? Phải có bao nhiêu vùng đất màu mỡ lại đến mưu sinh trên sa mạc khô cằn, chỉ cát là cát, kiếm miếng nước uống đã quá khổ. Ai hay, dưới sa mạc là những mỏ vàng đen. Con cháu họ nay khui lên bán trở thành tỷ phú, họ thành những quốc gia giàu có trên thế giới! Chắc chắn dưới lòng đất Pha Xang là những mỏ tài nguyên!
Có nhiều người Pha Xang có ý nghĩ giống lão. Đôi khi gặp an ủi nhau, nghĩ về đều đó để có chút gì ấm áp với quê hương. Rồi lão kêu gọi họ họp lại bàn với nhau việc sẽ khảo sát tìm các mỏ khoáng sản ở Pha Xang. Cùng vận động, gom góp tiền bạc, để thuê thiết bị… Khi đầu lão bắt đầu có đôi sợi tóc bạc, Hội đồng hương quyết định kéo nhau về Pha Xang, khai quật tài sản cha ông dưới lòng đất tổ tiên. Họ đi đến từng nhà, hào hứng về một tương lai giàu có: Biết tại sao cha ông chọn đất Pha Xang không? Vàng đấy, dưới đất chúng ta là vàng, mỏ vàng.
Mắt người dân Pha Xang sáng rỡ lên: “Thật thế à?”
*
Cuộc đời lão và cả cao nguyên chết, tan lụi sau vụ khai quật …
Lão sống cho giấc mơ ấy, niềm tin ấy. Lão cố làm bất cứ việc gì để có tiền, lão nhẩm tính số tiền để có thể thuê máy khoan, chi phí cho việc khoan từng ngày khi lưu lạc, kiếm sống. Những người Pha Xang khác trong hội cũng vậy. Phải hơn chục năm, gom góp được khá nhiều tiền, lão mới dám hô hào mọi người cùng về quê.
Hội đồng hương ký hợp đồng thuê máy, thuê thợ khoan, chấp nhận giá thuê cao gấp ba, gấp năm vì chẳng ai muốn đến cái vùng gió chết tiệt. Mà không cẩn trọng gió xô đổ cả giàn khoan, không đùa. Cả vùng Pha Xang háo hức, nín thở chờ kết quả vụ khoan thăm dò. Đêm ngày, có hàng ngàn con mắt dán vào những chiếc cần khoan đang hối hả quay. Mũi khoan đầu tiên: chỉ có đất và cát. Mũi khoan thứ hai: vẫn chỉ cát và đất. Mũi khoan thứ ba: đất, đá, cát, sét nâu, sét vàng… Sau nửa năm, với hàng trăm mũi khoan, không có một mảy vàng, than hay dầu dính vào mũi khoan, cần khoan, hội đồng hương sạch bách kinh phí. Mọi người chán nản rời đi. Lão vẫn không cam chịu thất bại, lão đổ hết vào đấy tất cả tài sản người cha để lại, cả những thứ đồ gia bảo mà lão không bao giờ dám đụng đến để khoan tiếp mấy chục mũi tìm kiếm nữa, vẫn chỉ moi lên đất, cát, bùn đen tanh tanh mùi cây cỏ phân huỷ… Lão trắng tay.
Lão liều kêu gọi những người dân Pha Xang còn ở lại quê bỏ tiền. Lão lấy tính mạng, danh dự ra thề thốt. Những người Pha Xang đang đói ăn, nhưng tin về một tương lai tươi sáng theo lời lão đã chắt bóp góp tiền để khai quật thêm mấy chục vị trí mà lão cam kết phần đất ấy chắc chắn có mỏ tài nguyên… Nhưng ruốt cuộc chỉ là bùn, cát, đá, bùn, cát, đá…
Người dân Pha Xang đói rạc vì đã dốc hết chút tài sản cuối cùng gom góp cho dự án khai quật. Nhưng đói chưa phải là đều khủng khiếp, điều khủng khiếp nhất là chút niềm tin, chút hi vọng vẫn ấp ủ về đống của cải của cha ông dưới mặt đất không còn… Họ chết vì thất vọng.
Họ chết vì tin chắc rằng cha ông xưa đã bị lưu đày đến vùng gió khốn này này
Lão cũng lăn ra ốm, tưởng chết, và đã buông xuôi để chết. Nhưng rồi vẫn sống…
*
Những người Pha Xang không chết vì đói, vì thất vọng, đã lũ lượt kéo nhau rời bỏ quê hương sau cuộc khai quật.
Với họ cao nguyên không có gì ngoài những cơn gió man dại thổi suốt ngày đêm đến héo cả người. Rời khỏi vùng đất lưu đày chết tiệt của tổ tiên để tìm đường sống cho mình, cho con, cho cháu…
Chỉ còn lão Vâu, bà Ing mù, câm, điếc, cụ Thõng và mấy người già gần đất xa trời ở lại. Những đám thanh niên kéo nhau thành tốp, khi rời Pha Xang thường vẫn ghé qua chỗ lão: “Đi thôi cụ Vâu, đi cùng bọn cháu. Quê hương không phải là nơi chúng ta sinh ra mà nơi nuôi ta sống. Bên kia núi là quê hương cụ ạ!”, “ Ai không gắn bó với nơi chôn rau, cắt rốn hả cụ, nhưng Pha Xang có gì để chúng ta có thể sống, có gì để chúng ta hi vọng!”- “Một vùng đất không có một bông hoa, một cánh chim, và dưới lòng đất không có một gram quặng…”
Cụ Thõng ở lại vì đã gần trăm tuổi. Cụ muốn được chết ngay trên mảnh đất đã sinh ra: nếu đây là mảnh đất lưu đày thì cụ cũng đã bị lưu đày gần hết cuộc đời rồi, thêm ít năm lưu đày cũng không sao. Đã sinh ra bất hạnh, chết luôn nơi bất hạnh, qua đó nằm trong nghĩa trang của những người hạnh phúc cũng cô đơn lắm.
Cụ Thõng và những người già ra đi. Lão chuyển bà Ing đến ở cùng để chăm sóc. Đôi khi lão cố trao đổi với người đàn bà điếc, mù… bằng thứ ngôn ngữ giao tiếp đặc biệt lão học được sau nhiều tháng sống chung:
– “Bà có biết gì về vùng đất bên kia núi không?”
– “Nó như thế nào?”
– “Không có gió. À, gió nhẹ nhàng. Gió mơn man trên tóc, da người. Có thể xây nhà trên mặt đất”.
– “Lạ nhỉ? Không ở nhà dưới mặt đất”.
– “Có thể bước đi nhẹ nhàng trên mặt đất”.
– “Thế à. Không phải giữ mọi thứ khỏi bị gió cướp”.
– “Không. Ở đấy gió không cướp. Có thể để các đồ vật đâu đó trên mặt đất”.
– “Lạ hé. Không bị gió cướp”.
– “Có thể trồng cây trên mặt đất”.
– “Heo, gà, vịt…thì sao”.
– “Chúng bay nhảy trên mặt đất, tự đi tìm thức ăn, gió chỉ đùa vui mà không cuốn chúng đi”.
– “Vậy há?”
– “À, ở đó mùa xuân hoa nở thơm ngát, chim hót trên cành cây, có bươm bướm bay”.
– “May cho tôi bị mù điếc để không cảm thấy những thứ ấy không có ở Pha Xang”.
– “Phải. Bà đã hạnh phúc khi mù, điếc…!”
Bà Ing mất sau nhiều ngày hấp hối. Khi chết, đôi môi khô héo của người đàn bà tàn tật nở một nụ cười. Nụ cười hiếm hoi ở Pha Xang. Nụ cười duy nhất của người Pha Xang khi đi về cõi bên kia. Khó khăn lắm, một mình lão cũng lo được cho bà Ing nơi an nghỉ cuối cùng.
Pha Xang, giờ chỉ còn mình lão. Cao nguyên mênh mông của cha ông xem như lão cai quản. Mà lão đúng là chủ của vùng đất này vì ai rời đi sang bên kia núi cũng bảo: cho cụ đất nhà tôi đấy. Cụ muốn làm gì thì làm…
*
Hai khối hộp chữ nhật lão nhìn thấy gần eo Gió vào một buổi sáng.
Có lẽ nó đã xuất hiện ở đấy nhiều ngày vì hơn một tuần qua bị cảm sốt, lão không thể ngoi lên khỏi mặt đất. Hai khối nhà sơn xám, sáng đèn. Lão biết đó là hai cái container văn phòng (lão đã thấy ở các công trường xây dựng bên kia núi).
Gần như lão đã bò trên mặt đất để có thể đến vị trí container nhanh nhất. Lão phải dùng cả cùi chỏ nện vào cửa mới có người ra mở. Mấy thanh niên trẻ đang châu đầu vào cái bảng cảm biến lằng nhằng công thức, giật mình khi thấy lão: “Chào cụ. Cụ ở đây?”- “Ờ hờ…”- lão hắng giọng vì kinh ngạc cho cuộc gặp bất ngờ. “Chúng cháu xin lỗi vì đã tìm quanh đây để xin phép nhưng không thấy ai. Đây là đất của cụ”- “Ờ hờ…”. Mấy thanh niên trẻ mời lão ngồi xuống ghế, rót từ bình ra thứ nước trong veo mời lão. Rồi họ gọi điện qua container bên cạnh. Lúc sau, một người thanh niên đội nón bảo hộ, đeo kính mắt lồi bước qua: “Cháu phụ trách ở đây. Chúng cháu thuộc một Viện khoa học”- “Sao các anh lại đến đây?”-“Chính cháu là người đề nghị Viện khoa học được đến đây. Cháu đề nghị vì hồi nhỏ cháu có đọc mấy dòng trong nhật ký của người cố viết về một vùng đất mà ông cố gọi là “vùng gió”.-“Vậy, ông cố đã đến đây?”-“Cụ không đến, mà hơn trăm năm trước, cụ cố đã sống ở đây. Cụ rất muốn thế giới biết về “vùng gió”, “những người đầu nhọn” và cụ muốn nghiên cứu về điều đó, nhưng cụ cố đã không hoàn tất dự định vì đã mất trong một tại nạn leo núi”- “ Cụ cố là người Pha Xang?”- “ Vâng, và cháu là một người trong huyết quản mình có máu của người Pha Xang. Cháu tên là Khai ạ!”. Người thanh niên đeo kính bỏ nón bảo hộ xuống. Lão Vâu nhận ra cái đầu của người thanh niên vẫn có một chút xuôi xuôi ở đỉnh. Lão Vâu cảm động rơi nước mắt, chồm qua bàn ôm chầm lấy Khai và siết chặt.
Chấm chấm nước mắt, người thanh niên cười: “Cháu là người Pha Xang. Nhưng đã là người Pha Xang lưu lạc. Vẫn còn ký ức Pha Xang nhưng không còn quyền sở hữu đất đai của tổ tiên ở Pha Xang. Máy bay trực thăng đã hạ phòng nghiên cứu chúng cháu xuống đây 10 ngày, giờ cháu mới may mắn được gặp chủ đất. Chúng cháu đã đo đạc, thu nhập số liệu, nghiên cứu hơn một tuần.”- Khai chỉ ra ngoài cửa sổ văn phòng, lão nhìn theo: bên đó có nhiều thiết bị lạ hoắc cái nằm, cái đứng, cái dựng cao chục mét: “Ông ạ, Pha Xang đang nắm giữ một mỏ vàng to lớn nhất hành tinh này đấy!”- Lão phát một câu: “Làm đếch gì có vàng, chúng tôi đã khoan nát đất cao nguyên này, chỉ có đá, đất, bùn!…” -“Có vàng. Thực ra, còn quý hơn vàng, vàng Pha Xang là mỏ gió. Mỏ gió!”. Lão há hốc mồm: “Mỏ gió!”-“Thứ đó có người mua, bán được à?”-“Bán được, đắt giá, sẽ có nhiều người mua”. Lão hỏi đi hỏi lại hàng chục lần. Lão nắm chặt hai bàn tay của Khai. Rồi lão khóc nức nở: “Cháu ơi, ta đã tìm gần hết đời, lật tung cả đất đai tổ tiên lên vẫn không biết cha ông để lại gì cho con cháu. Đã tận cùng thất vọng. Không ngờ, nay cháu đã tìm thấy!”
Hôm đó, lão ở lại ăn tối với mấy thanh niên trẻ. Lão uống whitky, ăn thịt hộp, mấy thứ này lão chẳng lạ gì hồi còn qua bên kia núi học hành, kinh doanh. Nhưng cũng đã rất lâu lão không mó tới… Lão về đến cái nhà hầm đã quá nửa đêm.
Lời của đứa cháu Khai, mà đám thanh niên gọi là giáo sư, cứ ong ong trong tai lão: Thời năng lượng vàng đen than đá đã qua từ lâu, thời năng lượng dầu mỏ cũng sắp qua rồi, năng lượng thuỷ điện cũng sắp hết thời. Than, dầu gây ô nhiễm cho trái đất. Sẽ bị cấm sử dụng. Nhưng không cấm thì con người cũng đã khai thác gần như cạn kiệt. Số dầu mỏ còn trữ lượng sử dụng chỉ tính bằng năm. Thuỷ điện con người phải giá quá cao cho việc ngăn chặn các dòng chảy tự nhiên của các con sông, các nhà môi trường đã đấu tranh bắt ngưng hoạt động nhiều nhà máy thuỷ điện… Năng lượng thiên niên kỷ tới của con người là gió… Con người đã khai thác năng lượng gió từ nhiều năm trước, nhưng kể từ đây với những phát kiến mới về cách thu nạp, sử dụng gió, con người mới thực sự bước qua kỷ nguyên năng lượng gió ….
Gió Pha Xang trên vùng đất cao nguyên này có những chỉ số tuyệt vời về tốc độ, độ ổn định mà trên thế giới không nơi nào có. Thật tuyệt vời cha ông từ ngàn năm trước đã đặt chân đến cao nguyên này và chiếm giữ nó cho con cháu… Cha ông ta đã chọn Pha Xang cho con cháu trước cả ngàn năm!… Đêm ấy, Lão Vâu lại khóc thút thít như một đứa trẻ: lão cùng bà con đã đào nát đất Pha Xang, khoan xuống đất sâu trăm mét, không ngờ thứ tổ tiên để lại cho con cháu là thứ ở trên trời, ngay trước mắt, lão vẫn chạm vào nó hàng ngày…
Trong lần gặp sau, Khai cho lão biết rằng: thời gian tới sẽ có rất nhiều tập đoàn năng lượng “nhảy” vào Pha Xang sau khi Viện nghiên cứu công bố tài liệu nghiên cứu. Lão sẽ phải có chiến lược, sách lược để hợp tác với họ sao cho có lợi nhất cho Pha Xang. Sẽ phải đấu giá, tập đoàn nào mua gió Pha Xang cao nhất mới chấp nhận cho đầu tư. Đất Pha Xang người Pha Xang nên giữ quyền sở hữu, chỉ cho họ thuê theo hạn định, gió bán từng gói theo thời gian…
Lão nghe ù cả tai. Nhưng lão biết rằng điều đó không khó gì với con cháu Pha Xang đang lang thang kiếm sống khắp hành tinh này, không khó gì khi có những hậu duệ Pha Xang như Khai. Lão cần gọi họ về cùng với Khai, họ sẽ bàn nhau, họ sẽ tự định đoạt tương lai lâu dài nguồn tài nguyên của tổ tiên.
*
Lão lại đi qua bên kia núi.
Lão vẫn nghĩ sẽ không bao giờ đi qua bên kia núi, vậy mà cuối đời một lần nữa lại đi.
Lão lại tìm gặp từng người đầu nhọn như hồi lão kêu gọi thăm dò, khai quật lòng đất. Nhưng lần này, dễ dàng hơn nhiều, với tập tài liệu của Viện nghiên cứu trong tay, lão chỉ photo và phát cho đám dân đầu nhọn khi lão gặp ở bất cứ đâu. Lão biết thông tin này sẽ loang ra khắp thế giới theo hiệu ứng domino…
Sau ít phút giây ngỡ ngàng, họ đều bật ngửa ra về nguồn tài nguyên cha ông để lại.
Cũng có những đứa đầu nhọn mất nết bảo lão: “Lại như vụ khai quật mỏ ấy à?”- Lão đáp lại: “Tổ tiên nào cũng để cho con cháu gia sản. Gia sản gì thì phải đi tìm. Có tìm mới thấy!”
Những ngày đầu năm luôn là thời gian chúng ta nhìn lại mình …
Cuộc sống luôn mãi không có sự công bằng ,
Mỗi con người là một tinh cầu khác biệt…
Hãy cứ cân bằng lại bản thân và những người xung quanh để bước đi mà không phiền não, không hổ thẹn với bản thân với tha nhân.
Mỗi ngày trôi qua…ta còn cái cảm giác được ngủ ngon trên chiếc giường của mình, giang rộng đôi tay, nhắm nghiền hai con mắt, mộng tưởng về những hồi ức xa xưa…
Đó chính là hạnh phúc mà ta còn có được.
Thời gian …và công việc làm người ta quên hết mọi việc xung quanh, công việc đa đoan làm tâm hồn mụ mẫm, thơ văn chữ nghĩa không màng ghé thăm…
.Mỗi ngày ngắm nhìn những bông hoa lặng lẽ khoe màu theo từng mùa mưa nắng…rồi lặng lẽ úa tàn theo quĩ đạo bất biến của vũ trụ.
Vậy là cũng đã may mắn lắm thay.
Những lối rẽ của đời người rồi cũng lướt qua, những nghịch cảnh cuộc đời cho ta thêm mạnh mẽ vượt qua bao cơn gió ngược, bao mảnh vỡ cuộc đời luôn để lại trong ta không chút nhạt phai.
Năm tháng sẽ xóa nhòa bao khổ hận, sẽ qua đi theo thời gian, nhưng chữ ân tình , chút tình thâm luôn còn mãi trong tâm thức mỗi người lúc buổi chiều tà.
Lợi danh há tựa bóng mây chìm nổi
Chữ ân tình luôn còn mãi không phai
Khi về già mới nhận ra rằng : ” Tình yêu…có không trong cuộc đời này…cũng chỉ là thứ yếu “
Cuộc sống đời thường của hai người với nhau : ” Không mệt mỏi chán chường nhau …chính thực là hạnh phúc trần gian”
Buổi thanh xuân ai cũng coi trọng chữ tình, vật quí cõi trần gian..
.Nhưng qua bao sóng gió cuộc đời, sự chán chường nhau trong đời sống, …lúc chia ly mới biết mình đã làm đúng và không hối tiếc việc đã làm…
Bà lão ly hương , nhớ cố hương khi mỗi lần năm hết…thời gian rượt đuổi nhạt nhòa trên mái tóc, bàn tay khô cứng với những đường vân tay bất biến theo tháng năm…
Một thoáng Xuân về khắp đó đây cái cảm giác lạnh buốt bàn tay chợt mới hay:
Cũng sắp xuân về nơi xứ lạ
Bùi ngùi vọng nhớ đất nước xa
Bao mùa Xuân đi qua trên mái tóc
Nhớ quê nhà lữ khách khẽ thở ra….
.Mấy lần trở lại nhà vào dịp Tết, hưởng lại không khí thân quen nơi quê nhà …
Những con đường ngày cũ đã thay tên, những đèn màu xanh đỏ, tiếng nhạc réo rộn ràng, thành phố cũ nay không còn như ngày xưa tôi đã từng ghi lại trong bộ nhớ già nua
Người lữ khách già nua trở về quê cũ …
Mong tìm lại chút hương xưa…
Tất cả đã thay đổi dưới mọi hình thức và không còn một chút gì mà tôi hằng tưởng tượng trong đầu óc tụt hậu của mình….
Bao nhiêu năm bươn chải nơi xứ người với tâm thức bôn ba, chắt chiu cùng cơm áo gạo tiền, bên những cảnh vật hầu như không thay đổi theo năm tháng, vẫn từng ấy công việc, với từng ấy màu sắc, với từng ấy người khách hàng khác màu da và chủng tộc, dễ tính và rộng rãi với cuộc sống đủ đầy và thánh thiện.
Trở lại mái nhà xưa, lòng nôn nao với biết bao ngỡ ngàng vì cảnh vật lắm đổi thay…
Tìm lại những bạn bè thân quen ngày cũ, lắm đứa đã không còn…còn lại những bạn bè mới quen, hay đã gặp trong nỗi niềm quên quên nhớ nhớ, khoát lên mình họ những tấm áo nhạt nhòa màu sắc, hoạt náo giữa sắc màu, thời trang và tuối tác không cân xứng, lạ lẫm giữa mắt nhìn của một người già “tụt hậu là tôi”…
Thấy hơi sai sai đúng đúng …nhưng cũng vui mắt hơn là phải nhìn thấy những cụ già cùng thời tôi mà ở nơi này tôi từng gặp..
Ở nơi này, tôi đã từng nhìn thấy những lão ông , lão bà cùng thời tôi, ngày cuối tuần hay nhóm họp ở các hội Cao niên, hội người già, họ cũng ca hát, xưng tụng nhau những chức vụ của một thời quá vãng, cũng nhảy nhót, khoe quần là áo lượt…
Nhưng vẫn u uất một nỗi buồn hầu như họ đang trách cứ thời gian không dừng lại.bỡi hầu như họ chưa làm xong phận sự cho đất mẹ…nay bóng ngã về chiều.
Ngẫm rằng: Nhũng ngọn nến đà sắp tắt đang bùng lên thắp sáng những niềm riêng…
Quay lại chỗ của mình …
Những năm tháng nhạt nhòa phủ đều lên mái tóc , với những sợi bạc đìu hiu, chầm chậm bước chân thân quen với những cảnh vật không hề thay đổi theo năm tháng….
Mới hay xứ sở này, nơi chỗ mình đang sống gởi ; ” Lại không mấy đổi thay “,
Đất nước tôi tuy không tiến bộ hơn người nhưng thay đổi bộ mặt bên ngoài nhìn chóng mặt khi mỗi lần trở lại thăm quê nhà qua biết bao tháng năm nhung nhớ… Thật giả bất phân, hay chỉ là ‘Phồn hoa giả tạo”….
.Cảnh vật đổi thay và tình người biết sao ơi hỡi….
Những năm tháng qua đi trong cuộc đời …bương bả lướt qua những cơn gió ngược, lượm lặt lại những mảnh vỡ cuộc đời đã ghi dấu trong lòng mỗi người không chút nhạt phai..
.Hỉ, nộ , ái , lạc…là những thường tình mà ai cũng từng bước qua trong cuộc đời.qua rồi những niềm vui và lao khổ.
Năm tháng qua thật nhanh và mất hút trong màn sương của cuộc sống : Lại một năm mới chạm ngõ nhà ta từ đêm qua…
Lợi danh như bóng mây chìm nổi
Nhân nghĩa bỏ sót một chữ tình
Ngày đầu năm để chút thời gian nhìn lại mình….
Trong nỗi buồn đơn độc, chợt ngẫm ra rằng ;’ Muốn tìm ra một tâm hồn đồng điệu thấu hiểu nhau trong cuộc đời, thật khó hơn tìm kim nơi biển bắc”
Người xưa đã từng thảng thốt gởi lại ngàn sau :” Quen biết khắp thiên hạ…Tri âm hỏi mấy người”
Rằng hay đời người là ngắn ngủi, mấy ai tìm ra người cảm thông thương yêu nhau chân thực, những người đã và đang có được hạnh phúc trần gian ấy, thực là hạnh phúc …
Kiếm tìm một tình cảm thiêng liêng xứng đáng theo góc nhìn của mình :” Một người chính thực là một con người mạnh mẽ, không hèn nhát khi gặp cảnh trái ngang, biết bảo vệ và nâng niu những gì đối phương mến thích, biết chở che khi ta gặp oan khiên”
Biết trân trọng và luôn coi chữ ‘kim tiền”…là gió thoảng mây bay…Không lấy cái của nngười…
Không cần phải gần nhau mỗi ngày như hình với bóng nhưng thấu hiểu và luôn dõi bước tìm nhau trong từng ngõ tối cuộc đời, bảo vệ nhau , giúp đỡ nhau trong tâm khảm cuộc đời nhau…
Phải chăng vũ trụ này vẫn còn lại hai hạt cát vô danh, được hiện hữu trong cuộc đời trên biển cát …khi mỗi lần bị những đất cát cuộc đời bãi bôi, lợi dụng, rẻ khinh..
. Hạt cát vô tình lại thêm lần giang tay cứu đỡ dắt díu nhau , cảm thông không mời gọi.
Giữa trần thế, tôi chính là hạt cát..
Trôi lênh đênh…theo năm tháng hao gầy
Chỉ người biết…Tôi chính là hạt cát
Hạt cát vô tình rơi rớt biển xa…
Buổi sáng hôm nay …ngày đầu năm 2025…một ngày được nghỉ ngơi trong ngôi nhà tĩnh lặng…âm thầm nghe tiếng súng nổ râm ran …
Bắt đầu cho một năm mới…
Những chữ viết phát ra từ tâm tư của một người già cô độc…Lặng thầm và lặng lẽ…trút hết tâm tư gói ghém mảng ưu phiền…
Xin cám ơn tất cả những tâm tình mà nhân thế đã gởi trao…
Xin cám ơn những hồng ân từ các đấng tối cao ban tặng
Trước đó là quãng thời gian đầy sóng gió với gia đình chúng tôi (tôi, Khang và Nhím), đặc biệt là Khang, anh phải gồng toàn bộ gánh nặng gia đình khi ấy. Thế nhưng với tôi, không thể có khoảng thời gian và không gian nào êm đềm hơn thế trong cuộc đời của mình.
Mùa hè năm đó Nhím chuẩn bị vào lớp 9. Chúng tôi dọn về Th. sau khi Khang vấp một cú lừa, gần như trắng tay trong một phi vụ làm ăn, không dính vào vòng lao lý là may! Tôi, cách đó không lâu, một ngày, chợt phát hiện mình không còn khả năng làm mẹ vĩnh viễn bởi một khối u hiện hữu trong cơ thể có nguy cơ chuyển thành K. nếu không phẫu thuật sớm.
Tôi suy sụp nhìn Khang đầu bù tóc rối, ánh mắt vô hồn. Bé Nhím nhìn ba mẹ và mím môi xếp sách vở vào thùng, lấy băng keo dán kín, chờ đợi một chuyến chuyển nhà, quyết không rơi một giọt nước mắt và không bước chân ra khỏi nhà dù bạn bè nó suốt ngày gọi điện thoại rủ đi đâu đó để chia tay.
Đêm trước ngày phẫu thuật, tôi chỉ nói với Khang một câu rằng biết đâu tôi không qua khỏi và Khang hãy gắng nuôi Nhím đến bờ đến bến, sau đó giữa chúng tôi là khoảng không im lặng đến ghê người. Tôi không hiểu Khang nghĩ gì và tôi biết chắc chắn rằng khi ấy, tôi không quan tâm đến điều đó nhiều lắm. Những suy nghĩ trong đầu tôi bị chẻ vụn, xáo lên, trộn xuống lộn xộn.
Đêm dài như vô tận! Ánh đèn néon cùng với màu tường sơn trắng tạo thành một màu chói lóa. Tôi nhắm mắt. Không nôn nao, không chờ đợi. Phía trước mặt là bức tường chắn ngang, không có con đường đi tiếp nhưng cũng không thể ngoái về phía sau, nơi có những con đường đã đi qua nhiều gập ghềnh, xô lấn; vinh quang cũng có mà đắng cay cũng từng.
Thỉnh thoảng có tiếng chuông điện thoại reo lên và giọng khàn đục của Khang trả lời ai đó, rồi mọi thứ chìm vào yên lặng khiến tôi có cảm giác tiếng máy điều hòa dường như to quá, nó vang lên rồi ong ong trong đầu tôi những âm thanh hỗn tạp không phân biệt là của đường phố, hay tiếng sóng biển, hay tiếng gió mưa gào thét. Rồi bỗng dưng những âm thanh ấy chợt tắt ngúm và tôi như người đang chạy nước rút, bị hụt chân, mất thăng bằng ngã chúi nhủi.
Sau này, Khang nói có lúc anh thấy tôi lim dim, lơ mơ, rồi tôi nói thầm điều gì đó, rồi lại mở to đôi mắt nhìn lên trần nhà không chớp và anh bỗng thấy tôi xa lạ, một người nào rất khác chưa hề một lần quen biết!
Sáng hôm sau, Khang tiễn tôi một đoạn ngắn trong hành lang bệnh viện, tôi không quay đầu lại bởi bước chân và ánh mắt tôi phải bám theo tấm áo blouse trắng trước mặt. Mọi thứ sau đó diễn ra rất nhanh cho đến khi tôi thấy lạnh, rất lạnh, run lên từng cơn, lập cập, tôi lập bập trả lời cô y tá những câu hỏi gì đó rồi chìm vào vô thức cho đến khi những cơn đau dồn dập thúc tôi tỉnh dậy.
Những ngày sau đó, tâm trí tôi chỉ chú mục vào cơn đau và cố gắng làm mọi cách xoa dịu nó. Tôi hoàn toàn không quan tâm Khang làm thế nào để có cho tôi những chén cơm mềm, canh nóng hay Nhím ở nhà ăn gì. Mối quan tâm của tôi lúc đó chỉ là nhịp thở. Tôi tập trung vào nó, hít thở và đếm, và cảm nhận được sự huyền nhiệm của thời gian qua từng giây, từng phút, từng giờ đồng nghĩa với cơn đau lui dần từng chút một cho đến ngày tôi đi đứng bình thường và chúng tôi dọn về Th.
Nơi gọi là nhà chúng tôi khi ấy là một dãy nhà cấp bốn, gồm ba phòng mà Khang ký hợp đồng thuê trong thời hạn mười năm của một trung tâm thể dục thể thao sau khi anh trúng thầu quản lý sân quần vợt cũng từng thời gian ấy. Trung tâm có một nhà thi đấu, câu lạc bộ bóng bàn, quần vợt, võ thuật và một sân bóng đá đúng tiêu chuẩn cho những trận thi đấu cấp thành phố. Khang đem tiện nghi về cho gia đình chúng tôi sao cho mọi người không cảm giác đang ở nhà thuê.
Bé Nhím có một phòng riêng đầy đủ mọi thứ phục vụ học tập và giải trí. Kế đó là phòng tôi và Khang, còn lại một phòng dành cho bạn bè thân thiết đến chơi, ở lại. Phòng nào Khang cũng sửa sang thật đẹp, ấm cúng, anh muốn khách đến với gia đình chúng tôi được thoải mái như ở nhà họ. Khang còn chu đáo mang về hai con chó nhỏ đẹp như hai con chó bông, một con Nhím đặt tên là Lu, một con tôi đặt tên là Rem.
Phía trước nhà có cái sân rộng, Khang mua vài cây lớn về trồng tạo bóng mát, trong đó có một cây sa kê. Anh đặt bên dưới gốc cây một cái xích đu, mấy bộ bàn ghế thấp, thế là có ngay một nơi để anh tiếp khách và phục vụ nước giải khát cho khách chơi thể thao.
Từ vị trí giám đốc một doanh nghiệp, dưới tay có vài chục nhân viên, Khang chấp nhận và vui vẻ lui về làm ông chủ hàng nước, chủ yếu có tiền cho tôi đi chợ, cho Nhím đi học thêm. Việc chính của anh là những cú (mà anh gọi là) “áp-phe” anh có được từ sân quần vợt. Với một người chơi quần vợt giỏi và dễ tạo mối quan hệ thì đây rõ ràng là một thuận lợi.
Phía sau nhà là sân bóng đá, cỏ xanh trải dài ngút mắt, chưa bao giờ tôi đi bộ hết một vòng. Tôi thích ngồi hàng giờ ở đó những buổi chiều thả suy tư mình đi từ miền này đến miền khác của ký ức. Tầm năm rưỡi chiều, nắng vừa tắt, trong khi chờ Nhím đi học thêm về và Khang vẫn còn hào hứng với những pha cắt bóng ở sân quần vợt thì tôi lững thững ra sân cỏ. Lu và Rem lũn cũn chạy theo.
Nơi ấy có sẵn hai cái ghế dài cùng một cái bàn và một cái ghế dựa là những thứ phục vụ cho trận bóng đá còn lại chưa dọn dẹp. Đến tối có người mang tất cả vào nhà và sẽ mang ra vào hôm sau để phục vụ các trận bóng đá khác.
Khi tôi ra sân, lúc nào cũng có một nhóm con nít đi học bóng bàn sớm tranh thủ tạt vào chạy nhảy, hay mang banh vào đá, hay chơi với Lu và Rem. Chúng mê hai con chó đến nỗi có đứa sẵn sàng hi sinh gói bánh snack hay ổ bánh mì thịt để dụ Rem chạy theo chúng lòng vòng trên sân cỏ, có đứa thích thú ngã lăn quay theo Rem và Lu khi chúng đùa giỡn nhau.
Những suy nghĩ của tôi cứ miên man, khi thì theo bước chân chạy nhảy của bọn trẻ, khi thì say sưa với trò vật lộn của Lu và Rem, khi thì dõi theo đường lăn của trái banh quần vợt màu xanh mà bọn trẻ quăng ra để nhử Lu. Tôi kéo hồi ức về tuổi thơ, về tuổi dậy thì, về những ngày trong trường đại học và về Khang.
Ngày tôi đưa Khang về nhà, mẹ tôi, một phụ nữ đơn thân, có cái nhìn hơi kỹ tính về đàn ông nói với tôi rằng Khang có gương mặt hiền, nhưng đôi mắt lại đầy tham vọng. Người như thế không bao giờ bằng lòng với những ngày thật bình yên. Với anh ta, đó chỉ là những năm tháng phí hoài hay để dừng lại chờ một cơ hội khác. Khi ấy tôi không quan tâm nhiều đến lời nhận xét của mẹ bằng cái gật đầu của bà chấp thuận cho chúng tôi có một đám cưới.
Rồi Nhím ra đời, lúc nào cũng cười. Mẹ tôi nói nụ cười của Nhím sẽ giúp chúng tôi làm ăn khá, nhưng liền sau đó bà lại chép miệng bảo đôi mắt của Khang sâu quá, khi tối, khi sáng quá!
Quả đúng vậy, Khang làm ăn lên như diều. Một phân xưởng rồi hai phân xưởng, một miếng đất rồi hai miếng đất… Tôi nghỉ việc, về nhà quản lý sổ sách, lo toan gia đình, đưa đón Nhím đi học…
Nghĩ đến quãng thời gian đó, tôi thường phóng tầm mắt nhìn bao quát hết sân cỏ rộng có tiếng cười giòn tan của lũ trẻ. Có mùi cỏ ướt vừa được tưới nước lẫn với mùi đất và mùi nắng nương theo gió lúc nhạt, lúc nồng. Và gió. Gió mơn man, lúc nhẹ nhàng, lúc suồng sã, khi nồng nàn, khi âu yếm, khi phóng khoáng, lúc bao dung… Tôi hít mãi mùi cỏ ướt, ngắm mãi mặt sân cỏ, tâm trạng không buồn, không vui, chỉ thấy lòng rất thanh thản.
Đến khi chiều dần sụp xuống hết, lũ trẻ lần lượt được ba mẹ đón về nhà, Lu và Rem mỏi mệt, lười biếng, nằm phục dưới chân tôi vụt ngẩng đầu, nghe ngóng rồi phắt nhanh phóng ra phía trước khi có tiếng chuông xe đạp leng keng của Nhím đi học về. Tôi trở về phòng chuẩn bị cơm nước cho ba người. Tham gia một chút với Khang cùng bạn bè ngồi uống bia sau trận đấu, chấm hết một ngày. Những ngày có những buổi chiều rất bình yên.
Hè năm sau đó Nhím thi đậu vào trường chuyên. Khang nghĩ xa hơn là Nhím cần nên đi du học sau này và tôi thấy anh có những buổi tối ngồi ở bộ bàn ghế dưới cây sa kê đốt thuốc liên tục. Tôi chợt nhớ lời mẹ tôi đã ra người thiên cổ rằng đôi mắt Khang khi thì tối quá và lúc thì sáng quá!
Hai năm sau, Khang để lại cho tôi sân quần vợt cùng quán nước, anh trở lại S. nói là cần phải gầy dựng lại những gì đã mất.
Những buổi chiều thật bình yên của tôi thưa dần dù sân bóng vẫn còn bọn trẻ chơi đùa với Lu và Rem và mùi cỏ lúc đậm, lúc nhạt phảng phất đến chỗ tôi ngồi trên cái xích đu. Tôi không còn thì giờ ra ngồi trên cái ghế dài trên sân bóng đá, tôi bận thu tiền, tính giờ và phục vụ nước cho khách.
Nhím đi học thêm nhiều hơn, những bữa cơm của chúng tôi hoặc sớm quá hoặc tối quá. Chúng tôi không còn những sinh hoạt gia đình giống như những gia đình bình thường khác. Thỉnh thoảng Khang về, nếu không làm vài set với bạn bè thì anh lại ngồi rất lâu dưới gốc cây sa kê và hút thuốc. Giữa chúng tôi khi ấy chỉ là những kế hoạch cho Nhím, thỉnh thoảng Khang nhắc đến khoản tiền tích lũy để gia đình có thể trở về những ngày xưa ở S.
Tôi nói với Khang rằng tôi thấy mỏi mệt, tôi thích những ngày thật bình yên có Khang, có Nhím và tôi có cái sân cỏ rộng để thả suy tư của mình trong buổi chiều tắt nắng. Khang nhìn tôi lạ lẫm, trong ánh sáng nhập nhoạng chiều chuyển sang đêm, tôi vẫn cảm nhận được những luồng tối sáng hiện ra trong đôi mắt anh, đó là lần đầu tiên tôi lờ mờ hiểu được những điều mẹ tôi đã dự đoán.
Mọi sự trôi đi như thế…
Ngày có tin Nhím đậu vào đại học y khoa thì tôi là người sau cùng biết tin Khang có người đàn bà khác cùng một đứa bé mới sinh. Nhím hình như không còn biết cười từ ngày ấy. Từ một đứa linh hoạt, vui tính, hồn nhiên, sôi nổi, nó bỗng nhiên trầm xuống và ít nói hẳn đi. Tôi đóng cửa quán nước buổi chiều và trở lại sân cỏ cùng với Lu và Rem giờ đã lớn không còn thích thú gì với những trò chạy nhảy của bọn trẻ ngoài mấy gói bánh snack.
Tôi ngồi mãi cho đến khi bóng tối phủ đầy cùng tiếng muỗi vo ve bên tai và Nhím bước ra ôm vai tôi, hai mẹ con vào nhà ăn cơm rồi tắt đèn đi ngủ sớm. Cả Nhím và tôi đều biết chúng tôi sẽ có những đêm rất dài, triền miên không ngủ được!
Khang trở về ngày tôi chuẩn bị đưa Nhím vào trường. Tôi đưa cho Khang tờ đơn ly hôn đã viết sẵn. Khang sang lại câu lạc bộ cho người khác quản lý khi chưa hết hạn hợp đồng. Tôi làm một con tính trừ, những buổi chiều bình yên của tôi chỉ có được hai năm. Quá ngắn cho một đời người, nhưng có lẽ quá dài cho một người như Khang. Với tôi, tôi không biết mình đã thật sự tận hưởng hết những buổi chiều thật bình yên đó hay không, chỉ biết mọi thứ đã chấm hết, một phần đời ngắn trong một đời dài…
Hai năm sau, Nhím có được học bổng đi học nước ngoài. Tôi quay lại Th. mua một miếng đất ở vùng ngoại ô và cất ngôi nhà nhỏ. Tôi tìm lại dãy nhà ba phòng ngày xưa và vòng ra sân cỏ. Mọi thứ vẫn vậy, sân cỏ vẫn êm đềm và mùi cỏ vẫn lẫn mùi đất cùng mùi nắng, nồng nàn. Hết bọn trẻ này lớn lên có bọn trẻ khác tìm đến câu lạc bộ bóng bàn.
Tôi ngồi lại một chút rồi đứng lên khi thấy lồng ngực mình nặng trĩu và mắt cùng sống mũi thì cay quá! Và đêm ấy, tự dưng tôi bật tiếng khóc thật to trong căn nhà còn nồng mùi sơn mới. Tôi, Khang, Nhím, Lu, Rem và sân cỏ… Những ngày bình yên ấy sao ngắn ngủi đến vậy? Tôi tự hỏi nhiều lần câu ấy cho đến khi thiếp đi trong một giấc ngủ đầy mộng mị…
Ba năm sau, tôi nhận được tin Khang bị ốm nặng khó qua khỏi. Báo tin cho tôi là một người bạn thời đại học. Anh nói với tôi rằng Khang bị ung thư dạ dày giai đoạn cuối. Tôi nên đi thăm Khang, nếu không còn tình nghĩa vợ chồng thì cũng là bạn bè những năm trong trường đại học.
Tôi sắp xếp mọi thứ, quay lại S. và ở với Khang ba tuần cuối cùng trong bệnh viện. Người phụ nữ sau này của anh cũng là một người quen biết cũ của chúng tôi. Giữa chúng tôi không còn thù hận, hờn ghen khi Khang nằm đó, gầy gò, dúm dó trong những cơn đau. Tôi nhớ lại những chén cơm mềm, canh nóng quãng thời gian tôi phẫu thuật. Đã trải qua, tôi biết chắc chắn giờ đây Khang chẳng nghĩ gì xa hơn đến việc làm sao dứt khỏi sự đau đớn. Trong mắt Khang, bóng tối phủ đầy, thảng hoặc lóe lên vài luồng ánh sáng rất nhạt và yếu ớt!
Có một lần, duy nhất, Khang tỉnh táo sau giấc ngủ dài không bị cơn đau hành hạ, Khang hỏi tôi Nhím sau này sẽ về hay ở lại? Tôi nói không biết. Giữa ba chúng tôi dường như từ rất lâu đã muôn trùng xa cách rồi!
Tôi điện thoại cho Nhím: ba có thể không qua khỏi, con thu xếp về gặp ba một lần cuối. Nhím chưa sắp xếp được ngày về thì Khang ra đi vào một buổi chiều có nắng vàng thật rực rỡ bên ngoài khung cửa sổ. Một chiếc lá chao nhẹ, rơi xuống, sau đó nhiều chiếc lá thi nhau lìa cành bởi một cơn gió ở đâu đột ngột thốc đến. Vợ Khang gào khóc. Tôi không khóc được như vợ của Khang, hình như nước mắt chảy ngược vào trong đã từ lâu lắm rồi!
Nhín nghẹn ngào với tôi qua điện thoại rằng mấy năm rồi con chưa thấy ba, mẹ thì con vẫn thấy hằng ngày qua webcam… Trước khi chấm dứt, Nhím bỗng nói: “Có bao giờ mẹ nghĩ ngược lại rằng mẹ có lỗi với ba?”.
Tôi không có thì giờ suy nghĩ về điều Nhím nói bởi còn phải phụ với vợ Khang lo cho Khang lần cuối.
Đêm cuối cùng ở S., tôi và vợ Khang có một bữa tối cùng nhau trong một không gian thật yên tĩnh, có tiếng nhạc nhè nhẹ, có bình hoa thật đẹp trên bàn và có cả nến. Vợ Khang nói với tôi những điều tương tự như lời của Nhím. Chị nói chính tôi đã đẩy Khang vào cuộc đời chị.
Những ngày đó, khi mà tôi chìm đắm trong khoảng trời bình yên của riêng mình thì Khang đã rất cô đơn. Ở tuổi 45, Khang còn quá trẻ để cột mình vào những buổi chiều nhàn nhạt ấy. Cuối cùng chị nói tôi chưa bao giờ yêu Khang như Khang đã yêu tôi. Tôi chỉ yêu khoảng trời nhỏ bé mà tôi cho rằng đã rất bình yên đó, và ôm một hi vọng hão huyền là có thể trói người đàn ông nhiều tham vọng, không bình thường bằng những điều tầm thường đến vậy!
Tôi trở về Th. và tìm lại sân cỏ ngày trước. Ngồi trên ghế dài, tôi chợt nhớ vô cùng tiếng chuông xe đạp leng keng của Nhím và tiếng cười to của Khang trên sân quần vợt. Chẳng lẽ đời người không có quyền tìm cho mình chốn bình yên? Ngày xưa có lần mẹ tôi cũng nói nhiệm vụ của tôi là phải đi theo những bóng tối và ánh sáng trong đôi mắt Khang, như Rem và Lu luôn phải nghe ngóng tiếng chuông xe đạp của Nhím.
Tôi ngồi mãi không muốn đứng lên dù bóng tối đã phủ đen sân cỏ và những con muỗi bắt đầu bản nhạc rất khó chịu bên tai khi nhận ra một điều, trong những ngày tôi cho là bình yên đó, cả tôi, Khang và Nhím đều cô đơn! Khang đứng trong bóng tối khao khát về ánh sáng.
Nhím cô đơn trên con đường đi tìm tương lai và tôi, tôi cô đơn bởi (vô tình hay cố ý) không muốn nhận ra ranh giới giữa bóng tối và ánh sáng để hiểu về người đàn ông có một thời là của tôi giờ vĩnh viễn dừng lại trên con đường đi không dài của đời người.
Sáng hôm ấy Trung ra đón Thuý ở bến xe Quy Nhơn. Khi bước xuống xe nàng nhìn anh ngạc nhiên.
– Hôm nay là lần đầu tiên em thấy anh đội mũ.
Trung chỉ cười không đáp, nhưng khi hai người ngôi trong quán nước thì Thuý lập lại câu nói lúc nãy.
– Ủa trời nóng sao anh không gỡ mũ?
– Em thấy anh thế nào?
– Bình thường thôi. Nóng, gỡ mũ đi anh!
Trung cười, nói thật tình:
– Kệ! Chiều hôm qua anh chưa đi nhuộm. Anh sợ mọi người thấy tóc anh bạc quá.
– Ui chao, sao anh ngốc thế? Ngốc! Ngốc! Ngốc!
Trung sững sờ nhìn Thuý. Giọng nói và nét mặt nàng nghiêm trang, không có chút gì đùa giỡn.
– Người ta nhìn thì mặc người ta, em không quan tâm! Vậy là anh chưa thật sự hiểu em. Có những lúc anh ngây ngô thấy ghét. Cũng may là em rất nhạy cảm với anh, em nhận ra liền những cảm xúc của anh.. chứ anh ngốc lắm. Đấy, khi nói đến tóc bạc.. anh đã vội giải thích cho em theo kiểu sợ em thấy anh già. Đó cũng là một trong những điều anh chưa hiểu. Anh đã chẳng nói với em rằng vẻ ngoài chỉ thu hút lúc ban đầu thôi sao? Chúng mình vẫn chỉ thích nhau ở vẻ ngoài thôi sao? Riêng em, dù anh có lớn hơn em ba con giáp hay có già hơn 100 tuổi nữa thì em vẫn yêu anh. Em chỉ muốn nhìn xem anh có phải vì nhớ thương em mà bạc tóc không. Nếu vì nhớ em thì một sợi bạc là một sợi tình. Biết chưa? Ngốc!
– Trời, em có nhiều ý lạ và hay lắm. Hơn cả nhà văn nữa!
– Anh đừng có đánh trống lảng! Từ giờ về sau anh đừng nhuộm tóc nữa. Nhuộm nhiều bị ung thư á. Để rứa cho tự nhiên như ba em ngày trước, ba không nhuộm tóc mà có xấu đi mô!
– Không phải xấu đẹp.. mà vì tóc bạc không đều. Bên phải bạc nhiều… bên trái thì đen.. buồn cuời lắm.
– Điều anh nói chỉ đúng có một phần thôi. Nhưng… em thích kiểu bạc không đều, rứa … mới thích. Già đều.. thì nói làm chi. hihi
Nói xong Thuý gỡ mũ của anh xuống và vuốt ve những sợi tóc bạc của anh.
– Anh cứ để tóc vậy nhé! Đừng nhuộm, nhuộm nhiều không tốt anh à.
– Nhưng anh không muốn thấy mình già so với em đâu. Cho nó ngang lứa chút! Chứ thật lòng anh không có ý làm mình trẻ hơn.
– Để màu tóc vậy em càng thương anh nhìu hơn. Anh và em không yêu nhau bởi vẻ ngoài. Mà yêu tâm hồn của nhau. Em yêu chàng dù tóc không còn xanh. Yêu trái tim không tuổi. Yêu đôi mắt ẩn chứa cả một trời trăn trở.Yêu tất cả những gì thuộc về anh.
– Trong đời anh, chưa bao giờ được gặp một người như em cả! Quá hiếm hoi. Duy nhất! Và yêu thương anh bằng một tình yêu sâu thẳm.
– Em hạnh phúc khi nghe anh nói vậy. Trước đây em cũng không tin rằng trên đời lại có một người như anh. May mà mình gặp nhau chứ không thì em không thể nào biết tình yêu đẹp đến vậy, tưởng chỉ có trong tiểu thuyết. Nghĩ lại thì em đã không uổng phí mấy mươi năm chờ đợi.
Em yêu và tin anh nên em ban tặng hết những gì em có. Và em sẽ còn làm nhiều hơn nữa để anh không bao giờ hết yêu thương em, để anh không thể tìm được người thứ hai như em có thể hiến dâng tất cả miễn là được nhìn anh hạnh phúc.
– Mình sẽ ở bên nhau mãi nhé!
– Dạ! Em sẽ không bao giờ muốn rời xa anh. Trong lòng em chưa nửa lần có ý nghĩ sẽ xa anh nếu em còn sống. Hôm nay em còn nói thật với anh điều này nữa nè: Em thèm yêu anh và khao khát được anh yêu nhưng nếu không có anh, không còn anh thì em sẽ giết chết cảm xúc đó. Em quyết rồi. Em sẽ triệt tiêu cảm xúc đó.
– Trời, đừng em! Trung biến sắc và run giọng. Không thể xảy ra chuyện đó. Không!
– Em nói thật lòng! Từ lúc ân ái với anh em thề rằng từ nay sẽ không còn người đàn ông nào có thể chạm đến người em được nữa. Sự dâng hiến cùng anh đã làm cho thân thể em trở nên thiêng liêng thì làm sao em có thể chia sẻ với những kẻ khác được? Trước đây em cũng đã từng sống mà không cần nó. Em chỉ muốn dành cho anh và cho anh mà thôi. Nếu không có anh hay vì lý do gì mà mình không còn bên nhau nữa thì em cũng không cần giao thoa thân xác làm gì…
– Trời ơi em nói làm anh lạnh cả mình. Và yêu thương em mà không biết nói thế nào. Chỉ biết là tình yêu dành cho em choáng ngợp tim anh.
Sau một nụ hôn thật sâu, Trung run run nói:
– Cảm ơn em yêu! Cảm ơn em yêu! Chúng ta yêu nhau và không cần tuổi tác.
– Đúng rồi! Còn khi nào ai hỏi, em sẽ nói: Tuổi của em là của một người đàn bà từng trải mà vẫn cảm thấy mình như một cô gái, có lẽ “chớm già” để có thể lùi lại, nhưng vẫn còn “quá trẻ” để thôi mơ mộng!
Còn anh, với tính cách trẻ trung thì sẽ không bao giờ già được. Anh rất trí thức, dịu dàng, ân cần đối với em và đồng thời cũng hết sức say mê trong cách hưởng thụ cảm giác ái ân. Em nhận biết và rất yêu cái tính cách độc đáo đó trong anh: bên cạnh cái lý trí sáng suốt thông tuệ còn có một cảm xúc nhục cảm tràn trề. Có lẽ chưa mấy ai biết sống như anh, trong khi ân ái có thể bỏ quên hết hiện tại một cách tuyệt đối, dạt dào và say đắm như chạm vào đáy sâu bản thể. Anh mở tung hết mọi ngọn nguồn cảm xúc để tung tăng bơi lội trong đỉnh điểm hoan lạc của cõi người.
Tinh thần của anh trẻ trung như thế nên em tin là anh không thể nào già. Những nếp nhăn trên trán anh không phải là dấu hiệu của tuổi già mà chỉ là bằng chứng của kinh nghiệm, của nụ cười, nước mắt, cuả cuộc đời từng phấn đấu không ngừng nghỉ. Theo em, đó là một kho kinh nghiệm và những trang sách mở ra cho người đọc, nên từ nay em sẽ đọc nó với lòng khát khao hiểu biết và yêu thương.
– Hôm nay sao em nói hay một cách xuất thần thế? Em làm anh nhớ là có người nói về tuổi già, không biết đã đọc ở đâu “Xin đừng ai xóa nếp nhăn trên trán tôi, để tôi còn được ngạc nhiên trước vẻ đẹp của cuộc sống, đừng xóa nếp gấp quanh miệng tôi, nó cho tôi thấy mình đã cười hay hôn bao nhiêu lần; Xin cũng đừng ai làm mờ túi mắt tôi vì nó cho tôi biết những lần mình đã khóc. Nó rất đẹp và là của tôi, chỉ có tôi mới có!”.
Tuy nghĩ vậy nhưng mình cũng phải nhìn vào thực tế. Vì có lúc anh cũng lo sợ là thời gian trôi vùn vụt và sợ một đời cũng chưa đủ để yêu nhau!
– Không quan trọng dài ngắn bao nhiêu! Vì mỗi giây phút bên nhau đều có ý nghĩa. Nếu đời này chưa đủ, mình yêu thương sang cả kiếp sau… đời đời… kiếp kiếp.
Từ ngày quen anh em nhìn cuộc đời bằng đôi mắt lạc quan. Nhìn nhận mọi thứ xảy ra xung quanh mình cũng hiền hơn. Không tiêu cực, gay gắt như trước.Tình yêu của anh thay đổi em từ trong sâu thẳm.
– Khi hạnh phúc ta bao dung hơn.Trước đây anh cũng nhìn đời bi quan, cảm thấy như đi trong bóng tối, rồi khi gặp em thế giới này như đẹp lung linh. Anh vui vì thấy em vui. Em phải khỏe mạnh và tươi trẻ.
– Dạ, phải khỏe mới vui sống và có được hạnh phúc. Trước đây em chỉ làm việc và đi ngủ. Ngủ dậy làm việc tiếp vì quan niệm chiếc giường là nơi để chợp mắt lấy lại sức để mai làm việc. Em cứ tưởng sẽ phải sống cho đế hết đời, làm việc, ăn, ngủ, làm việc, ăn ngủ.. mà không biết đó là sống mòn. Giống những người con gái ở quê em, con Quý, con Hồng, con Thu, con Nhạn… suốt đời lam lũ, quanh năm chỉ chừng ấy công việc. Lấy chồng qua mai mối, rồi sinh con, sinh cháu… mà chưa hề biết tình yêu là gì, không hiểu cảm xúc yêu thương là gì, đời sống vợ chồng chỉ là một cách góp gạo thổi cơm chung, trong gia đình chỉ toàn là cam chịu, thực hiện cái nhiệm vụ truyền giống chứ không có quyền gì khác.
Tất cả đều chấp nhận cuộc sống buồn tẻ để chờ ngày nhắm mắt mà không ai dám nghĩ đến việc thoát ra.
Trong một bối cảnh như thế thì em có hy vọng gì gặp một người đàn ông nào đó yêu thương em và em cũng yêu thương người đó? Hồi đó em không có khái niệm về tình yêu. Hạnh phúc đối với em là điều xa xỉ. Em rất sợ người ta cưới về để vùi dập như các bạn ở quê. Sáng chồng say, chiều chồng xỉn.
– Cuộc sống giống như một dòng sông, có lúc êm đềm và cũng lắm khi ghềnh thác nhưng không bao giờ ngưng chảy em à… Nó có thể để lại trong ta nhiều nỗi đau và vết thẹo nhưng dù sao thì ta cũng cần phải sống.
– Vâng! Em đang sống và mỗi ngày em phát hiện ra ở anh nét duyên mới. Anh là người trí tuệ, nhưng quan trọng hơn anh có một trái tim nhân hậu và biết sống cho bản thân mình, biết đập nhịp cho tâm hồn mình mà không vì một ai hay một điều gì khác. Khi anh cảm thấy có đủ theo cách sống của mình là dừng, không tiếp tục bán sức khoẻ kiếm tiền mà dành thời gian để làm những gì mình thích. Tiếp xúc với anh em được mở rộng tầm nhìn và con tim.
Jingle Bells, Jingle Bells, jingle Bells…All the way…
Oh! What fun it is to ride in a one- horse open sleugh…
Tiếng nhạc bập bùng réo rắt của âm thanh phát ra từ máy hát của quán Cà phê cạnh nhà phát ra thoáng xa gần, rộn ràng và vui nhộn…
Đêm nay Chúa hài đồng sẽ Giáng sinh xuống trần, ngày mai tôi được nghỉ học …
Đang mơ màng trong dòng nghĩ suy chắp nối, bỗng một cục gạch rớt cái cộp bên chân tôi, điểm xuất phát là từ kẻ hở của hai mái tôn, tôi cúi nhặt và dư biết là của thằng bạn nhỏ sau nhà .
Nội dung thư gói cục gạch như sau:” Tối nay đúng 7 giờ,chờ tui chỗ ghế đá trước cổng trường Nữ Trung Học. Có chuyện rất quan trọng.”
Kí tên : Bạn Thân.(nhớ đúng hẹn)
Tôi đọc đi đọc lại mấy lần, lòng hơi vui vui vì đêm Giáng Sinh tôi cũng chưa biết làm gì, có đứa bạn thân của tôi ở chung đường hứa mượn xe Yamaha của chị nó xuống chở tôi đi một vòng thành phố rồi về ngủ, chỉ có vậy.
Bây giờ lại có cái hẹn với thằng bạn nhỏ sau nhà , không biết chuyện gì đây???
Thường thì nó chỉ nhờ tôi đạp lại cho nó cái quần bị rách đáy, tra lại hột nút áo sứt sẹo hay thỉnh thoảng ủi dùm nó cái áo cái quần trong các buổi lễ của trường, trả công tôi nó giải dùm cho vài bài toán Lý hóa mà tôi dốt đặc, nó và tôi xấp xỉ tuổi nhau, cùng học một lớp từ bé nhưng khi thi đệ Thất vào trường công , nó giỏi toán nên thi đậu, còn tôi thi rớt nên học trường tư.
Mẹ nó chết sớm, cha nó lấy vợ kế sinh thêm đàn con năm đứa nữa, suốt ngày nó phụ dì nó bế em , nên người nó choắt cheo, hay tại nó tuổi khỉ nên cả xóm vẫn gọi nó là “Thằng Cu Khỉ”, nó còn có tên trong giấy tờ là Thân vì cha nó đặt theo 12 con giáp
Khi đã vào trường Trung học, đứa nào cũng chỉnh tề với quần Tây xanh áo sơ mi trắng, còn tôi áo dài trắng đàng hoàng, hai đứa qui định lại là không kêu tên ở nhà nữa mà gọi nhau bằng tên trong giấy khai sanh, thời gian này thật khó cho bọn trẻ chúng tôi nên chúng tôi hay xưng với nhau là Ông và bà.
Đúng thời gian nó hẹn trong giấy, tôi nhờ Loan chở tôi đến điểm hẹn, nó đã ngồi chờ sẵn chỗ ghế đá, quần áo chỉnh tề, đầu chải rẽ, tôi chạy vào hỏi:
_Chừng bao lâu hở ông, để tui còn nói Loan trở lại đón tui ?
_ Chắc chừng nửa tiếng
Trở ra dặn cô bạn, tôi trở lại vẫn thấy nó ngồi đó , hai tay nắm chặt vào nhau coi bộ lạnh lẽo lắm, miệng hát nho nhỏ, mắt nhìn xa xăm…
_ Có chiện gì mà ông hẹn tui ra đây? nói đi mau lên
_ Từ từ, có chứ sao không
Tôi cứ thấy nó nhìn ra mấy cái tàu từ xa tỏa những ánh đèn sáng chớp, lâu lắm không thấy nó nói gì, tôi hỏi lại lần nữa, đồng thời quan sát nó một chút..
Sao bỗng nhiên hôm nay đóng thùng, chân mang giày, đầu chải rẽ làm hai , miệng cười chúm chím, thỉnh thoảng lại búng tay, coi điệu nghệ lắm, tôi đi vòng ra sau, rẽ sang trước nhìn nó hồi lâu, Hổng biết hiện tượng gì mà thằng “cu Khỉ” bữa nay coi lạ và mặt thấy hơi “gian”.
Nó nhích chỗ và bảo tôi ngồi gần nó.
_ Chiện gì? bộ rách quần nhờ tui nhiếp hả, mau lên tui lạnh rầu nghen
Những ngọn gió biển thổi vi vu làm tay chân tôi lạnh cóng, tôi nghe hai hàm răng nó đánh vào nhau lụp cụp, giọng thằng Cu Khỉ bạn tôi bỗng run run, hai bàn tay lóng cóng.
_Bộ lạnh tay hả? nó xích gần định nắm nhờ bàn tay tôi cho đỡ lạnh, tui xích ra
_Tui nói rầu nghen, có chiện gì nói mau đi,
Gió biển từng cơn thổi vào làm hai chân tôi lạnh run, tôi cúi xuống chụp con gì đang bò cắn chân
_ Bộ lạnh chân hả?
Gió vẫn thổi làm tung mấy lọn tóc hồi chiều tôi mới cuộn bằng mấy cái ống nhựa chuẩn bị cho Đêm Giáng Sinh, tôi đưa tay vuốt ngược ra sau, bây giờ qua ánh đèn hắt ra từ cột đèn bên hông công viên Qui Nhơn, tôi thấy môi thằng Thân bạn tôi mím chặt có vẻ quyết liệt lắm, nó xích lại gần tôi hơn và thốt thêm mấy câu không ăn nhập vào đâu;
Gió biển thổi mạnh , hất tung mái tóc ra sau, nó lóng cóng đưa tay lên mái tóc tôi…
_Tóc lạnh hả ?
_Nè nè… đầu tui để thờ cha thờ mẹ nghen, chớ hổng phải để cho ông rờ nghen…la nó xong tui nhích xa chỗ nó hơn, nó líu quíu cứ nhìn xuống đất kiếm tìm cái gì đó, gió vẫn thổi tung mái tóc tôi thoảng mùi sà phòng thơm hiệu Cô Ba, tôi mới gội và cuốn lại kỹ càng để đi chơi Giáng Sinh, tôi nhìn nó mấy lần có vẻ lạ lẫm lắm và cũng thấy nó liếc tôi mấy bận.
Bỗng từ ngoài mé đường tiếng còi xe của con bạn tôi tới đón tôi đi mất, ngoái nhìn lại thằng bạn nhỏ tôi lóng cóng dắt xe ra mé đường đạp thẳng.
Ngồi sau xe bạn tôi, xe chạy về hướng nhà thờ Chánh Tòa với tràn ngập những xe cộ đổ về nhà Thờ Lớn, chen lấn nhau bên máng cỏ , có nhiều thiên thần và các Thánh đang quây quần bên hang lừa, đèn chớp nháy xanh đỏ, mọi người đang tưng bừng chào đón Chúa Hài Đồng
Bạn tôi tra gạn tôi mãi về cuộc hẹn hò của đêm Giáng Sinh , tôi kể nó nghe và hai đứa cười một bữa no nê, cuối cùng nó suy luận;
_Hay nó muốn mới mày ăn chè, tao nghe nó có hỏi ăn chè chưa ?Hay nó muốn tỏ tình với mày ?
_ Tao hổng biết, nhưng bữa nay nhìn mặt nó gian lắm, mai mốt nó qua vá quần tao tra là ra hết
Một tháng trời không thấy bóng dáng thằng bạn tôi, cũng không thấy cục đá nào quăng qua khe vách nhà sau, tôi cũng mong nó xuất hiện coi thái độ nó ra sao sau lần hẹn hò ấy.
Bỗng một hôm thấy nó bương bả chạy vào tiệm chị tôi, trong lúc tôi đang giúp chị, nó chạy vào buồng thử quần áo của tiệm , cởi cái quần xanh bị sổ một mảng to và hối tôi đạp lại dùm, cơ hội tới để tra hỏi chuyện “Đêm Giáng Sinh”
_Thân ơi , ông ra tui hỏi rầu mới làm, sao bữa hổm ai xúi ông làm cái giống gì mà ông không nói cho tui biết
_Đâu có gì nà.
_Ông không nói thiệt tui quăng cái quần ông ra giữa đường cho xe cán nghen.
Nó hoảng hồn vì sắp tới giờ đi họp nhóm, vả lại đang mặc cái quần xà lõn, chạy ra đường lúc này thì quê chết, lúc đó chúng tôi cũng đã học lớp Đệ Tứ
_Nói thiệt đi, tui mới may cho ông, nó gãi đầu mấy lần, mặt mày khó khổ lắm.
_Nói hông, ai xúi gì ông phải hông? không nói tui quăng ra đường nghen.
_ Tui nói nghe rầu bỏ nghen, Lũ bạn tui nó nói tụi nó đứa nào cũng có bạn gái , đứa nào cũng biết “Hun”, nói tới đây nó nghẹn họng tắt ngang
_Trời đất, dzẫy bữa đó ông muốn lấy tui làm thí nghiệm hả???
Tức mình quá tui quăng cái quần của nó ra mé đường, nhìn nó cười khiêu khích
_sao nói kể rầu, hổng quăng ra đường mà giờ quăng?
_Tui nói không quăng ra giữa đường cho xe cán chứ có nói không quăng ra mé đường không? ông chạy ra lượm dzô đây tui làm cho
Nó lum khum chạy vội ra mé đường nhặt cái quần như tìm ra báu vật, đưa cho tôi với cặp mắt lấm lét. Tôi thấy tội nghiệp nên mới ngồi vào máy, nhưng chỉ đạp có một đường chỉ, nó năn nỉ đạp thêm cho mấy lần nữa
_Không, tui làm vậy cho ông bỏ cái tật nghe lời tụi nó nghen, mặt ông cũng gian lắm, lần sau còn nữa là biết tay tui. đồ quỉ. nhớ chưa?
_Biết rầu…nó mặc quần vào , cái mặt sượng trân, ra xe đạp một nước.
Những kỷ niệm của một thời cắp sách thì nhiều lắm, nhưng mỗi lần khi nghe những bài hát của mùa Giáng Sinh tôi lại chợt nhớ lại kỷ niệm này, nhớ về đứa bạn nhỏ ngày nào của một thời vụng dại, tuổi mới lớn và những kỷ niệm khó quên, đã bao nhiêu năm qua, bao thập kỷ đã đi qua, khi cơn gió Tuyết mang cái lạnh của đêm Đông úp chụp xuống vạn vật, khi những cây thông thắp sáng trên mọi nơi trong thành phố này, vẳng nghe tiếng nhạc âm vang từ môt góc phố hay từ một ngõ ngách nào …
Trong sâu thẳm của lòng tôi vẫn nhớ như in những hình ảnh thân thương của một thời tuổi nhỏ.Không biết bây giờ, bao thập kỷ đã đi qua, người bạn nhỏ ngày xưa của tôi, khi mùa Giáng sinh về có còn nhớ đến kỷ niệm đầu đời mà anh muốn thử nghệm với cô bạn nhỏ năm xưa chăng?
Bao năm lưu lạc xứ người …Tôi đã kiếm sống bằng nghề ” Sửa quần áo “…mỗi lần vá lại chiếc quần thủng đít cho người ta…Tôi lại nhớ lại những lần vá hộ chiếc quần, tấm áo rách vai cho người bạn nhỏ ngày xưa…Lòng ngậm ngùi thương cảm.
Bây giờ mỗi người đều đã đầy đàn con cháu, còn nhớ về nhau khi âm hưởng của những câu ca vẳng tiếng xe ngựa trượt trên Tuyết mùa Đông:
Mùa Chúa sinh ra đời…
Một trời sáng trong an lành…và một vùng Tuyết ôm cây cành,
Một ngày sáng bao la tình, một nỗi sướng vui hồi sinh.
Mừng ngày Chúa sinh ra đời, người người đó đây vui cười.
Rộn ràng hỉ hoan chào đón chào đón Ngôi hai Thiên chúa Giáng Sinh ra đời..
.
(Lời Nhạc sĩ nguyễn Duy phổ nhạc)
Những câu hát bập bùng thánh thoát từ xa đưa hồn tôi lạc trở về những ngày Giáng Sinh xưa cũ…