Mỗi lần nhớ về cái xóm lao động ven đô nơi mình ở ngày thơ ấu là nhớ về các món mỹ vị bên bờ rào đầu tiên. Mỹ vị, vì đó là thứ hương vị được lưu giữ đậm đà dù qua bao nhiêu tầng vỉa thời gian bao phủ nhưng cứ nhắc tới là khát khao, còn bờ rào là thủ phủ.
Ngày xưa Nha Trang còn là thị xã, trừ vài con phố chính thì nhà ở trong xóm trong làng hoặc giáp phố thảy đều có bờ rào, đa phần là những hàng rào bằng cây cỏ hoa lá. Đôi khi nhìn hàng rào mà đoán được giai cấp hoặc tính cách chủ nhân. Nhà thì kin cổng cao tường còn thêm bờ bao ở trên bằng mẻ chai lởm chởm, nhà chỉ kéo vài cọng dây thép gai, nhà có hàng rào hoa dâm bụt, có giậu mồng tơi, lùm keo, hàng cây thuốc dấu… Trước nhà hay có cây lấy bóng mát, trong nhà thì thừa rẻo đất nào đều tận dụng cho cây trái hữu dụng mọc lên. Cây bờ rào nhà bên này gối sóng xoài qua nhà bên cạnh, cây trước cổng che mát cho cả nhà bên kia đường, cây sau hè có khi thành cầu vượt cho hàng xóm giáp lưng qua thăm.
Nhà ngoại tôi ở Xóm Mới, đất không rộng lắm nhưng khi tôi lớn lên thì thấy trong nhà đã có cây bàng trước ngõ, cây ô ma sau hè, mãng cầu và ổi bên giếng nước, cây khế sát vách, dừa ở giữa sân, bụi bông lài ôm xòa rũ rượi cả một khoảng hàng rào dài còn ngay lối đi hẹp là lùm dạ lý hương um tùm rậm rạp, một dãy chậu đất chỉ toàn hồng tỷ muội… Những buổi trưa hè nhà ngoại thành nơi hóng mát cho người đi đường dưới bóng cây bàng, cho hàng xóm qua mắc võng nhờ dưới gốc ô ma, cho bọn trẻ trốn ngủ trưa leo cây ổi.
Rồi tất cả hoa trái vườn nhà ngoại theo thời gian chỉ còn là hình ảnh chìm sâu trong ký ức, cho tới một ngày. Bạn nói mấy chục năm rồi chưa ăn lại trái ô ma nên thèm ghê, nhân coi cái hình đen trắng mấy chục năm trước có gốc cây ô ma toàn lá. Câu nói như mở toang trang sách cũ ghi chép các món mỹ vị bờ rào, từng trang từng trang một là bàng, là điệp, trứng cá, chùm ruột, keo, ổi sẻ, ô ma, nhãn, mận, me… những thứ giờ đã trở thành quá vãng, bị bỏ quên, thậm chí được lai tạo không còn nhận ra.
Ai còn nhớ lùm keo mọc thành bụi xanh um lá chi chít gai nhỏ được trồng làm hàng rào? Không phải loại keo lá tràm thân gỗ. Keo hàng rào này có lá nhỏ và rậm được bứt ra rồi cột lại thành chùm tròn và dày chơi đá kiện vừa êm ái vừa mát chân, điểm rơi chính xác chớ không lanh chanh như kiện lông gà. May mắn thì hái được trái keo chín tách ra có cơm dày ngọt trắng hồng. Như cây điệp hầu như mọc tràn bờ rào, bông cắt cúng còn trái cũng tách ra lấy hột ăn bùi bùi béo béo giờ bị kêu thành cây điệp ta hoặc điệp cúng để phân biệt với các loài điệp mới du nhập. Trái điệp còn được dùng làm thuốc, xưa nhà nào có trẻ con bụng ỏng vì ký sinh trùng thường hay hái về cho ăn chắc giờ nhớ lại vẫn còn sợ.
Như cây ổi sẻ bên bờ giếng lả lơi hết một nửa qua sân sau nhà hàng xóm, trái chín thơm phức ruột đỏ giòn ngọt to nhất cũng chỉ bằng cái trứng vịt, ghé răng cắn một miếng mát cả trưa hè. Trái to ngon nằm trên cao vì bọn nhỏ trèo không tới, còn trái thấp hơn thì toàn dấu móng tay rằn ri bấm vô thử coi chín chưa. Nhánh nào bên hàng xóm coi như bụi đời. Dưới gốc ổi là cái giếng nước, miệng giếng được đậy bằng lưới B40 vuông vức 4 góc được bẻ quặp xuống. Cái lưới này đỡ được vài cú rớt từ trên cây ổi xuống, nảy tưng lên mấy nhịp chờ nạn nhân hoàn hồn. Giờ trái ổi cả kí lô bán khắp nơi nhưng không còn vị như ngày xưa. Cả nhãn, mận, chùm ruột, me…cũng vậy.
Cách nhà ngoại vài chục mét là căn nhà có cây trứng cá mọc chồm hết ra đường. Có ai chưa từng một thời đi trèo cây bẻ nhánh hái trứng cá, lượm trứng cá rụng, xin xỏ giành giựt. Bất kể những lời doạ dẫm ăn nhiều sẽ bị tắt ruột, bị nổi mụn trứng cá, có đứa trẻ con ngày xưa nào chưa từng ngấu nghiến thứ trái chín đỏ ngọt lịm này. Nhà có cây trứng cá trước ngõ kể như khỏi ngủ trưa, dưới bóng mát như cái lọng là lủ khủ trẻ nhỏ líu lo, đứa leo đứa rung cành đứa bẻ nhánh, thôi thì có dép quăng dép, có đá chọi đá, trúng đâu trúng miễn rụng trái là được. Làm sao quên được cái cảm giác thòm thèm ngay khi cắn trái trứng cá ngọt mềm. Nhớ cái bàn tay dơ hầy của đứa bạn hớn hở xoè ra với nắm trứng cá chiến lợi phẩm còn xanh lè. Nhiều khi đi đường gặp trứng cá mọc hoang hoặc ngập ngừng ở các con đường ven đô rụng cả thảm trái chín đỏ bị giẫm nát bấy mà kỷ niệm cứ ứa lên trong lòng.
Sâu đậm trong tôi là cây ô ma phía sau và cây bàng phía trước trên đất nhà ngoại. Cây ô ma thấy nhiều người kêu nó là cây lê ki ma, hoặc trứng gà… Cây rất to cao vươn tán rộng, dưới gốc mắc võng đón gió từ biển thổi về lồng lộng. Tới mùa ô ma lúc lỉu rợp cành, mỗi lần hái xuống là cả thúng cần xé, bà ngoại phải bưng từng rổ vun đi cho khắp xóm. Hoa trắng li ti rụng khắp sân bóp lên tanh tách nghe cũng vui tai, siêng hơn thì lấy chỉ xỏ qua làm chuỗi ngọc. Trái chín mềm bẻ ra vàng ruộm, ăn một miếng thấy ngọt, hai miếng thấy béo, ba miếng thì bắt đầu ngó nhau chọc ghẹo cái đứa miệng mồm vàng vàng sền sệt dẻo dẻo… Giờ đi tìm lại trái ô ma chín để ngắm cũng khó.
Một thời trẻ con nương theo cây bàng trước ngõ suốt bốn mùa. Mùa đông thay lá chuyển màu từ xanh qua tím vàng đỏ nâu rồi chỉ còn trơ khung xương vạm vỡ, mùa xuân lộc biếc, mùa hạ đơm hoa kết trái, mùa thu trái chín vàng mọng rụng lộp độp khắp cả vạt đường. Tôi thích cạy nhựa cây màu hổ phách đã đông cứng lại trên thân. Rồi ngâm nước cho nở ra, rồi sơn phết lên những món đồ bằng gỗ cho bóng. Những ngày lá khô rụng bay lượn khắp nẻo, bà ngoại tôi phải xách chổi đi gom về đốt. Khói lá bàng trắng đục thơm cay cháy cuồn cuộn, người lớn không la là trẻ con cứ nhảy qua nhảy lại chỗ đầu cuộn khói. Sợ nhất là mùa bàng chín, hàng xóm muốn ăn thường vác đá chọi lên cho rụng chớ sào không đủ cao để hái, leo lại càng khó. Bàng chín rụng dập tơi tả, cạp phần cơm chín chua chua ngọt ngọt chan chát quanh trái xong là quăng phần còn thừa tứ tung. Ngoại lại ra quét dồn hết mớ trái bàng trên sân vào một góc, phơi nắng cho đến khi khô rang khô rốc. Sau đó là những buổi trưa không ngủ lùa hết đám cháu ra ngồi đập đập khươi khươi lấy hột. Nhiều nhất là được chừng 2 tô hột bàng còn nhiêu vô bụng bọn ngồi khươi, nhưng cũng đủ cho má tôi ngào đường phết bánh tránh nướng đãi cả nhà. Món này giờ cũng thất truyền dù cây bàng tuổi thất thập vẫn gắng gượng đơm hoa kết trái.
Giá mà lúc nhỏ tôi đầu trần chân đất đi lang thang nhiều hơn thì ký ức về mỹ vị bên bờ rào của một Nha Trang xưa ắt sẽ còn mênh mông vô tận. Cha mẹ tôi vẫn còn thắc thỏm nhớ chùm bao, dủ dẻ, me dương, cò ke, chim chim … Thời khó nghèo cây trái bờ rào là bạn đường, là miếng ăn chơi thơm thảo kết làng trên xóm dưới, là cái tình của mảnh đất quê hương nhớ thương…
* ảnh chụp 6/2024 ở Suối Cát, những bờ rào gợi lại ký ức. (AD)
Thời còn là sinh viên tôi rất mê guitar classic nhưng bận học nên ít có thời gian tập luyện. Rồi một hôm, khoảng năm 1976, bạn Giuseppe rủ đến thư viện Sormani- Milano để tra cứu vài tài liệu. Sau khi photo các trang sách bạn dẫn tôi đi qua một khu khác để nghe nhạc. Anh chọn cho tôi nghe một đĩa nhạc mà sau khi nghe tôi như kẻ thất thần. Vừa bàng hoàng, kinh ngạc vừa như không tin là mình vừa được trải nghiệm một cảm xúc lạ lùng đến vậy!
Sofia, ngày 5 tháng 12 năm 2007 NDK Sofia, Bulgaria
Dàn nhạc giao hưởng FM-Classic Radio
PEPE ROMERO, Guitar – Nhạc trưởng: Luciano Di Martino
Về sau… thỉnh thoảng tôi cũng còn được nghe và quái lạ, mỗi lần nghe người tôi cứ lâng lâng, tâm trạng vừa vui vừa buồn còn giai điệu của phần adagio trong bản hòa tấu như đã ám ảnh và mê hoặc tôi gần như suốt cả cuộc đời. Mãi đến hôm nay, 50 năm sau, cảm xúc ấy như vẫn không hề thay đổi.
Tôi không hiểu sao mỗi khi nghe là nước mắt tôi cứ chực rơi xuống. Giai điệu của nó như làm tan chảy trái tim tôi! Lúc đó tôi chỉ cảm nhận qua âm thanh, vì bận học, tôi không có thời gian tìm hiểu về bản hòa tấu đặc biệt này mà nếu muốn chắc cũng chưa biết tìm ở đâu. Mãi sau này, nhờ các phương tiện tìm kiếm hiện đại, tôi mới biết Concerto d’Aranjuez được sáng tác bởi nhà soạn nhạc Joaquín Rodrigo người Tây Ban Nha. Lạ một điều là do mắc bệnh bạch hầu nên ông bị mù từ năm 3 tuổi. Còn Concerto d’Aranjuez có lẽ là tác phẩm được biết đến nhiều nhất của ông.
Tác phẩm này được sáng tác trong thời kỳ mà ông và vợ, Victoria Kamhi – một nghệ sĩ piano trẻ người Thổ Nhĩ Kỳ – đang trải qua những thời khắc tồi tệ nhất. Joaquín Rodrigo sắp hoàn thành tác phẩm thì vợ ông, lúc đó đang mang thai đứa con đầu lòng, bị bệnh nặng và được đưa đến bệnh viện Madrid. Các bác sĩ cho hay là vợ con ông có thể bị nguy đến tính mạng. Bàng hoàng, Rodrigo trở về nhà, ngồi xuống trước cây đàn piano và sáng tác phần adagio của nhạc phẩm.
Phần này giống như một cuộc đối thoại âm nhạc giữa Rodrigo và Chúa. Nó bắt đầu bằng một giai điệu tuyệt đẹp: sau một cuộc đi bộ thất thần trở về nhà ông ngồi than thở với Chúa, cầu xin Ngài đừng lấy đi linh hồn của vợ và con. Những nốt nhạc mở đầu réo rắt và có thể chạm tới trái tim của bất cứ ai, vì sự ngọt ngào của âm thanh và giai điệu: những nốt nhạc rót xuống như lời cầu khẩn thiết tha cùng đôi mắt đẫm lệ của ông, đang ngước lên Chúa, van xin lòng thương xót của Ngài… Nhưng khi dàn nhạc “nói câu trả lời của Chúa” là “vợ ông có thể được cứu sống còn đứa con trai thì không”… thì cảm xúc của ông được thể hiện bằng một bản độc tấu guitar, nửa như xót xa cam chịu, chấp nhận điều kiện tàn nhẫn mà Chúa đã ban, nửa như đưa tiễn linh hồn của đứa trẻ chưa chào đời lên thiên đàng, và cùng lúc đó Rodrigo cũng xin tiếp nhận linh hồn của vợ.
Đoạn nhạc này tượng trưng cho niềm vui về sự đoàn tụ vợ chồng nhưng tiềm ẩn nỗi buồn mất con…
Khi biết câu chuyện, được nghe lại khúc Adagio tôi càng xúc động hơn và thấy sự tuyệt vời của nhạc cổ điển, thứ có thể đánh thức tâm hồn và truyền cảm xúc qua vẻ đẹp của âm thanh.
Có thể nói Concerto d’Aranjuez là tác phẩm âm nhạc Tây Ban Nha được biểu diễn nhiều nhất trên thế giới. Nó được lấy cảm hứng từ những khu vườn của Cung điện Hoàng gia Aranjuez (cách Madrid 50 km), dinh thự mùa xuân của Vua Philip II vào nửa sau thế kỷ 16, sau đó được xây dựng lại vào giữa thế kỷ 18 cho vua Fernando VI, bản hòa nhạc muốn đưa người nghe đến với những âm thanh của thiên nhiên, mặc dù những âm thanh này cách xa nhau về không gian và thời gian.
Điều kỳ lạ là Joaquín Rodrigo là một nghệ sĩ dương cầm và không biết chơi guitar. Tuy nhiên, ông đã nắm bắt được tinh thần, sự đa dạng và độc đáo của guitar Tây Ban Nha.
Mỗi đoạn nhạc kể một tình tiết và liên quan đến một cái gì đó trong câu chuyện và hoàn cảnh của ông, nhưng không biết vì sao nó như cũng liên quan đến cuộc sống của tôi, cảm xúc của tôi! Mỗi khi nghe nó đều khuấy động đến phần sâu thẳm trong hồn tôi, gợi cho tôi nhiều kỷ niệm, tuy mỗi lần mỗi khác… nhưng lần nào cũng chạm đến chiều sâu của nỗi đau (mà thực ra nỗi đau sau 1975 là thường trực, bao nhiêu buồn lo về gia đình, thời cuộc, và tương lai mờ mịt của chính mình, đơn độc một thân nơi xứ lạ…) làm tôi cảm giác như nhạc sĩ Rodrigo đã viết nên tác kiệt tác này chỉ để tặng cho tôi.
Nó không chỉ là âm thanh của nhạc… mà là tiếng nức nở trước những buồn lo chưa tìm ra lối thoát.
Tôi là người nhạy cảm nên lắng nghe và lòng như khóc thầm cùng những chuỗi âm thanh. Nước mắt có khi thoát ra như để giải tỏa những nỗi niềm. Hay nhưng… đau!
Tuyệt vời! Tuyệt vời! Tôi chỉ có thể nói được thế, không biết diễn tả gì thêm nữa. Nhưng mời bạn nghe đi, đó không phải là thứ âm nhạc vĩ đại nhất mà con người từng viết đó sao?
Không phải ngẫu nhiên mà chị bạn Adriana của tôi nói rằng chị cứ muốn nghe nó mọi lúc mọi nơi. Trong một căn phòng nhỏ, một mái nhà tranh hay trong căn biệt thự cổ nằm trên đồi hay trên bờ biển xanh mênh mông, qua khung cửa sổ nhìn thấy những bông hồng ngoài vườn đung đưa trong gió… chị nói dù ở nơi đâu cũng luôn cảm nhận được, rằng âm nhạc này là siêu phàm, những nốt nhạc đan kết nhau chặt chẽ để tạo nên một vẻ đẹp thuần khiết, làm ta cảm được một nỗi đau sâu sắc mà nhà soạn nhạc Joaquín Rodrigo đã trải. Chị nói trong một trạng thái tâm hồn đau thương cao độ ông đã để lại cho chúng ta một giai điệu xuất thần, một sự hài hòa từ những run rẩy của trái tim đến những lay động cành lá của thiên nhiên với tư cách là một nghệ sĩ, nhạc sĩ và nhà soạn nhạc tài hoa!
Chị Adriana còn nói là chị có thể nghe ngay cả khi vui hay đang buồn. Chỉ có một số ít “yếu bóng vía” mới “không dám” nghe mà thôi!
Còn Elena thì nói khi nghe bản hòa tấu này tự dưng em nhớ về một cuốn sách đã đọc khi còn là sinh viên: Đó là cuốn tiểu thuyết “Thống khổ và phiêu linh” của Irving Stone viết về tiểu sử của nhà điêu khắc/ họa sĩ lỗi lạc Michelangelo Buonarroti. Tác giả Irving Stone nhắc lại lời của Michelangelo: “Tôi yêu cẩm thạch và hội họa. Tôi yêu kiến trúc và thơ ca. Tôi yêu gia đình, bằng hữu; yêu Chúa, yêu người, yêu khắp các hình thể giữa trời và đất. Tôi yêu sự sống đến ngất ngư, yêu luôn chặng cuối cùng, tức là cái chết.”
Elena nói “Nhà điêu khắc lừng danh này có cuộc đời nhiều thăng trầm, đã phải trải qua bao nhiêu đau khổ, dù vinh quang tột bực nhưng cũng không ít bi thương trước khi có thể “đạt đến ngôi sao không thể với tới của mình”…”
“Riêng về bản hòa tấu Concierto de Aranjuez thì nó như mướn nói với ta là vẻ đẹp vĩ đại nhất thường xuất hiện từ những đau khổ và nghịch cảnh. Nếu đọc tiểu sử của những vĩ nhân anh sẽ luôn thấy điều này: một cú ngã đau đớn, một khoảnh khắc tuyệt vọng, một trở ngại khủng khiếp đến nỗi tưởng không thể vượt qua: Van Gogh bị nhốt trong viện tâm thần, Beethoven bị điếc, Dostoevsky bị án khổ sai… “Nhưng chính vào thời điểm đó mà họ sáng tác những tác phẩm hay nhất của mình. Đó là lý do tại sao những tuyệt tác của họ tiếp tục gợi lên những cảm xúc mạnh. Thông qua ngôn ngữ, đá cẩm thạch hay âm thanh siêu việt… họ kể cho chúng ta câu chuyện về một linh hồn bền bỉ và tỏa sáng ngay trong đêm tối.” ”
Có người nói Concierto de Aranjuez là một trong những giai điệu đẹp nhất thế giới. Tôi cũng bị nó cuốn và ám ảnh bao nhiêu năm, mỗi lần nghe đều thấy tuyệt hay, tuy rất buồn; Còn tâm hồn như bay bổng trong một nỗi niềm lâng lâng, khó tả.
Rồi thời gian trôi đi! Sau nhiều năm tháng, tôi tốt nghiệp ra trường, làm tổng hợp Hóa dược rồi phụ trách phát triển trong các công ty Dược phẩm cho người và thú y… bỗng một hôm, chỉ vì (nhờ?) đọc một truyện ngắn của nhà văn Dino Buzzati mà tôi hiểu được ý nghĩa của thời gian nên quay về với đam mê thời thơ ấu: Khởi đầu dịch, rồi viết và cuối cùng là toàn tâm toàn ý đi theo con đường văn chương.
Đầu năm 2020, khi tôi mới vừa từ Ý bay về Việt Nam được hơn tuần thì dịch Covid.19 bùng phát ở Ý mà Elena bị kẹt ở Milano không về Việt Nam được nên tôi phải bay ngược về Ý! Tưởng chỉ vài tháng là hết ai ngờ hai chúng tôi bị giãn cách ở Ý đến hơn 2 năm.
Trong thời gian này gần như bị “cấm túc” trong nhà nên chúng tôi đọc và viết được khá nhiều. Tôi tranh thủ hoàn thành quyển tiểu thuyết “Ước hẹn cuối cùng” (Ultima Promessa) và loáng thoáng nhớ là lịch sử Concierto de Aranjuez của Joaquín Rodrigo có chút gì hao hao đến câu chuyện mà mình đang viết.
Bèn lên mạng tìm. Và như một định mệnh, bản nhạc này rất phù hợp với tình yêu hạnh phúc và thương đau của hai nhân vật Đôn và Anna trong Ước Hẹn cuối cùng!
Nếu trước đây tôi chỉ cảm nhận qua âm thanh thì giờ đây, trên mạng tôi còn được xem cả video trình diễn các bản hòa tấu và tiếng hát của nhiều ca sĩ. Thật bất ngờ! Khi đi tìm các giọng hát bằng tiếng Ý tôi còn được nghe hát bằng nhiều thứ tiếng khác trên thế giới: Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Đức…
Có hai giọng hát mà tôi rất thích. Đó là của nữ ca sĩ Paloma San Basilio hát bằng tiếng Tây Ban Nha và nam ca sĩ Pietro Galassi hát bằng tiếng Ý . Nhạc đã rất hay mà còn được hát như nhập tâm cùng với một niềm đam mê say đắm nên âm thanh như từng giọt nhỏ xuống trái tim, làm cảm xúc trào dâng. Cũng như những lần trước, cứ nghe là muốn khóc dù sau này tôi không có lý do gì để thảm sầu thế nhưng lòng tôi cứ như dâng lên một nỗi nhớ cồn cào, những đợt sóng âm thanh như đi theo huyết quả để làm rung động tận thẳm sâu. Vì sao? Tôi cũng không biết… chỉ thấy buồn và muốn khóc. Nhưng không phải vì sầu thương hay đau khổ. Chỉ muốn khóc, thế thôi!
Trong hầu hết các video trình diễn tôi đều thấy thực hiện rất tốt. Mặc dù đây chỉ là một phần của tác phẩm nhưng tôi nghĩ bản hòa tấu này rất khó biểu diễn. Trước hết dàn nhạc phải sử dụng nhiều kỹ thuật và kết hợp tất cả các nhạc cụ lại với nhau, điều này rất thú vị khi xem video. Vì guitar là nhạc cụ chính nên phần lớn video cho hiển thị những ngón tay mềm mại dịch chuyển thật linh động trên phím đàn. Chắc chắn nghệ sĩ đã mất rất nhiều giờ luyện tập để màn trình diễn thành công.
Tôi đã thử viết lời việt dựa theo giai điệu của bài hát Lacrime (Nước mắt) mà ca sĩ Pietro Galassi đã hát nhưng không tìm ra sheet nhạc và ở Ý lúc ấy cũng không có đàn guitar nên khó thể thực hiện. Tôi liền cầu cứu với nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên, một người bạn hay đúng hơn là một người anh và giữa chúng tôi có rất nhiều đồng cảm văn chương. Anh hiền hòa, ít nói nhưng là người sâu sắc luôn có trái tim trăn trở và khát khao hạnh phúc cho đất nước và con người.
Sau một thời gian gọi qua gọi lại, tôi gửi hết các thông tin về bản hòa tấu và dịch lời các bài hát, anh Phú Yên đã viết nên ca khúc “Khúc tình buồn” với lời việt dựa theo dòng nhạc Concierto de Aranjuez của Joaquín Rodrigo.
Mời các bạn lắng nghe ca khúc “Khúc tình buồn” qua tiếng hát của ca sĩ Đông Quân.
PS: Cũng cần nói thêm là khi viết ca khúc này nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên chỉ nghe tóm tắt về tiểu thuyết Ước hẹn cuối cùng chứ chưa đọc tác phẩm. Mãi hơn 2 năm sau, khi lệnh giãn cách chấm dứt tháng 3-2022 tôi được bay về Việt Nam và gửi anh bản thảo hoàn chỉnh.
Vì bối cảnh của tiểu thuyết Ước hẹn cuối cùng ở thành phố Milano và câu chuyện liên quan đến văn hóa phong tục, môi trường và luật pháp ở Ý nên tôi muốn in tác phẩm bằng tiếng Ý trước khi in bản tiếng Việt. Còn có một lý do khác là sau khi viết và dịch hơn 10 tác phẩm ở Việt Nam mà tác phẩm nào cũng đều có chút dư luận nên tôi cũng muốn “thử sức” ở Âu Châu xem sao.
Nhờ sự hiệu đính và chỉnh sửa của Elena tôi đã dịch toàn bộ tác phẩm sang tiếng Ý với tựa là Ultima Promessa. Cuối năm 2023 chúng tôi bay về Ý và đưa bản thảo cho vài người quen đọc thử. Marco Adami, một giáo sư đang giảng dạy ở viện đại học Milano cho biết anh đã đọc say mê và nhận định: “Không chỉ là câu chuyện về tình yêu của hai nhân vật , cuốn sách còn đề cập đến tình bạn và các chủ đề quan trọng trong xã hội, đưa ra một bức tranh hoàn chỉnh về cái chết êm dịu, phân tích đến các khía cạnh đạo đức, triết học và tôn giáo, nhận manh sự thiếu quy định về luật pháp ở Ý dù đã được thảo luận trong nhiều thập kỷ. Một cuốn sách giúp chúng ta hiểu được sự khác biệt sâu sắc giữa sống và tồn tại!”. Còn chị bạn Franca đọc xong rất thích nên chuyển cho người bạn là giáo sư Giuseppe Deiana dạy triết học ở Milano. Ông cũng là tác giả của năm, sáu đầu sách, mà quan trọng hơn hết là tiểu luận La Morte Buona. E’ Possibile L’eutanasia Cristiana? (Cái chết ngọt ngào. Có thể có một sự trợ tử trong đạo Chúa?) là một chủ đề chính trong tiểu thuyết Ước hẹn cuối cùng. Lời nhận xét của ông: “Một quyển sách hay và giá trị. Nếu là nhà xuất bản tôi sẽ in ngay” đã làm tôi tự tin nên liền tìm cách xuất bản ở Ý.
Không quen biết ai trong giới và hoàn toàn mù tịt về việc xuất bản ở Ý, tôi lên mạng tìm hiểu. Quả đúng là một mê hồn trận và các thông tin rối rắm và đôi khi trái chiều. Thế nhưng, có thể cũng nhờ một chút may mắn, chúng tôi liên lạc với nhà xuất bản Etabeta-PS và trong thời gian kỷ lục, chỉ trong vòng 2 tháng quyển tiểu thuyết Ultima Promessa đã được in. Thời gian cũng vừa kịp để chúng tôi có thể cầm được vài bản in mang về Việt Nam vào đầu tháng 12-2023.
Một bất ngờ khác nữa là sau khi đọc trọn bản thảo Ước hẹn cuối cùng nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên đã cảm xúc và còn viết nên ca khúc khác là Mối tình thiên thu. Khác với Khúc tình buồn, Mối tình thiên thu hoàn toàn do anh sáng tác, cả nhạc và lời. Tôi thực sự cảm động và biết ơn anh nhưng anh chỉ khiêm tốn nói: Câu chuyện trong tiểu thuyết cũng khá giống tâm sự cuả tôi nên tôi đã viết bằng cảm xúc.
Đó không phải là sự đồng cảm tuyệt vời, và cũng là một sắp xếp khác của định mệnh hay sao?
Đầu tháng 2-2024 nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên cho công bố nhạc phẩm MỐI TÌNH THIÊN THU này qua tiếng hát của ca sĩ Thảo Quyên và được nhiều người nghe và chia sẻ.https://www.youtube.com/watch?v=nMNTSr57SN8
Năm nay ngày giỗ mẹ tôi nhằm vào ngày Chủ Nhật, thật là vui mừng vì đã từ rất lâu…năm nào ngày giỗ cũng rơi vào ngày đi làm và quanh quẩn cũng chỉ mình tôi bên mâm cơm và nỗi buồn chất ngất.
Vậy là còn ba ngày nữa là các con cháu tôi sẽ về nhà để dự đám giỗ mẹ tôi, tôi đã thông báo cho chúng và tất cả đều nhận lời, nhưng các con tôi bảo rằng mỗi đứa sẽ mang về một món ăn đã làm sẵn..
.Riêng tôi chỉ làm món nào mà tôi thích mà thôi vì chúng không muốn tôi vất vả cặm cụi từ mấy ngày trước…
Chiều nay tôi đã dạo vào các chợ để thăm dò và tìm xem những món nào mà ngày xưa mẹ tôi vẫn thường hay nấu cho chúng tôi ăn trong sự thích thú,
Mẹ tôi thì chỉ thích nấu cho mọi người ăn mà thôi, khi nấu xong món ăn nào mà còn nóng hổi trên bếp, mẹ tôi thường múc một ít cho vào miếng bánh tráng nướng hay gắp một miếng nhỏ đưa cho từng đứa ăn thử trước khi dọn lên cho cả nhà cùng thường thức…
Những miếng ăn “thử ” này nó mới ngon làm sao, thường khi xào bún , hay bánh tráng xào lòng gà, những miếng bánh tráng giòn tan trên chảo nóng, cháy vàng dưới đít chảo, sau khi múc ra đĩa, phần mấy miếng cháy vàng ruộm dưới đít chảo thường là phần của tôi.vì tôi hay giúp mẹ rửa soong nồi sau mỗi lần nấu nướng.
Ôi, những miếng bánh tráng vàng ruộm còn giòn tan dính chùm với chút lòng gà cháy sém, sao ngon quá là ngon…thế nào tôi cũng sẽ làm món này trong ngày chủ nhật này và tôi cũng sẽ cho các cháu của tôi thử món này…chắc là chúng thích phải biết…và tôi cũng sẽ chọn mua thêm vài thứ nữa, tôi sẽ ôn lại những chuyện xưa với những kỷ niệm có mẹ bên đời.
Ngày giỗ thường không có “Mâm cao cỗ đầy “nhưng cũng phải tinh tươm để nhắc cho con cháu tôi còn biết một chút truyền thống dân tộc và là dịp cho tôi được gặp chúng thêm một lần phụ trội trong năm , ngoài mấy ngày lễ lớn mà chúng đã ưu ái tặng “Grand Mom” mỗi năm đó là ngày lễ Giáng sinh và những ngày đầu năm mới.
Những ngày giáp Tết, mẹ hay xào món mứt dừa, hay mứt gừng, sau khi làm xong, mẹ tôi luôn chừa lại trong chảo một ít cho chị em tôi nhâm nhi., những mẫu mứt còn sót lại trong đáy chảo sao mà ngon quá đỗi, suốt một đời vẫn không quên cái hương vị cháy sém của chảo dừa ngào đường và còn nhiều món mứt khác nữa cho ngày Tết…
Tôi dạo qua hàng thịt gà với những đùi gà, cánh gà, ức gà, chân gà…và kia là những hộp gan gà, những mề gà được bao bọc kỹ càng trong những giấy bóng tinh khôi.
Chỉ mỗi con gà mà họ phân ra nhiều thứ quá và bộ phận nào của con gà cũng được xếp gọn gàng sạch sẽ bao bọc đẹp đẽ quá chừng …nhưng khi chế biến thành những món ăn Việt Nam y những công thức mà mẹ tôi đã truyền đạt lại , tôi cố công làm không khác chút nào…nhưng khi ăn không thấy ngon miệng như những món ấy do bàn tay chế biến của mẹ tôi. , đôi khi các con gái lớn tôi hay nói rằng:
_Cũng món này mà sao ngày xưa bà ngoại nấu sao ăn ngon quá…
_ Chắc tại gà bên này không ngon, mẹ cũng làm y như vậy.
_ Ừ mẹ cũng cảm thấy như các con, món nào Ngoại làm cũng ngon hết .
Mấy lần về thăm quê nhà, tôi cũng cố tìm mua những chiếc bánh tráng Bình Định để cố công làm món “Lòng gà xào bánh tráng” giới thiệu với các con món ăn mà mấy chị em tôi rất thích khi xưa… Nhưng khi xào xong và cùng nhau nếm thử vẫn thấy không ngon như ngày xưa mẹ tôi vẫn làm ???
Với thịt gà Mẹ tôi còn hay làm món “Cơm Giỡ ăn với thịt gà rô ti”. Tôi đang nhẩm tính cách làm cũng rất đơn giản, chỉ cần cơm nấu nhão và vắt lại thành cục bằng miếng vải mỏng , để nguội. Thịt gà rô ti theo kiểu Việt Nam, tức có gia vị đậm một chút và chiên vàng ruộm…khi ăn cơm sẽ được cắt từng khoanh, cầm ăn như mẫu bánh mì ăn kẹp với thịt gà rô ti.và chấm muối tiêu.
Những lần đi xa hay những lần đưa các con về thăm nhà, khi trở về trên chuyến tàu xuôi Nam, chỉ cần mở giỏ đồ ăn ra là thế nào cũng có món này, những vắt cơm trắng ngần ăn với những miếng thịt gà vàng ươm vừa miệng, chỉ cần chút muối tiêu đi cùng…ôi sao mà ngon quá cỡ…và còn nhiều trái cây và bánh kẹo mà mẹ đã chuẩn bị trước từ bao giờ…hầu như thứ gì tôi và đám nhỏ cần khi đi xa, là mẹ tôi biết trước và tất cả đã sẵn sàng, bao giờ mẹ tôi cũng biết trước những cần thiết của mẹ con tôi.
Miên man trong dòng tư tưởng thương cảm và tiếc nhớ …chân lạc bước vào gian hàng tôm cá… kìa là những thứ cá đã được cắt tỉa gọn gàng, những cá salmon đỏ au, cá Thu, cá Bông lau, cá rô phi, cá Hồng, cá Bass, cá chim trắng …Tất cả đều gọn gàng sạch sẽ trong những đĩa Nylon bọc giấy kiếng thật đẹp mắt..
.Chả bù với gian hàng cá ở quê tôi ngày xưa chỉ là một khoảng đất trống rồi các bạn hàng tự do bày biện tôm cá xung quanh, tự đặt ra giá cả và tự bán buôn la rầy khách hàng rất là vui tai, một cảnh tượng hoạt náo thường có ở các chợ cá quê tôi ngày ấy.
Bỗng tôi chợt nhận ra trong đám cá đủ màu ấy có một hộp cá cỡ chín mười con, mỗi con cỡ bằng bốn ngón tay chụm lại, mình màu xám đậm, hình thức giống như con cá chim nhưng nhỏ con hơn và màu sẫm hơn, mình hơi dài hơn con cá chim trắng…giống cá này làm chân tôi khựng lại…một hồi ức của những ngày thật xa…với con cá quen thuộc này , mãi hôm nay tôi mới chợt nhận ra chúng cũng có trên xứ sở này sao ta ???
Tôi còn nhớ như in món ăn mà ngày xưa mẹ tôi hay mua vào những chiều tan chợ mà ngày đó không được đắt hàng… thỉnh thoảng tôi cũng hay đi chợ thay mẹ những khi mẹ bận và đôi lúc mẹ tôi hay tập cho tôi quen việc chợ búa để mai sau cáng đáng một gia đình riêng của tôi giống hệt như mẹ.
Những lần đi chợ đối với tôi là cả một âu lo vì các bạn hàng ở quê tôi hay nói thách và khi cần mua phải trả giá, thường là trả một nửa giá, rồi từ từ nhích lên, nhưng cũng có lúc vẫn bị những bà bán cá la rầy, chì chiết…vì thế tôi hay mua những con cá mà tôi vừa nhìn thấy trước mặt:
Đó là con cá “Liệt lợ”, hẳn là các chị em bạn gái nào đã từng ở Qui nhơn cũng biết giống cá này, thân nó mềm và hình như giá cả rẻ hơn những loại khác và có rất nhiều ở vùng biển quê tôi, nó không sang trọng như cá thu, cá chim lớn, nhưng cũng ngang ngửa với chị cá Bánh đường và anh cá Hố dài ngoằng với lớp phấn trắng che mình…
Lần nào “bị đi chợ” là tôi mua những con cá này, cho dễ mua, vì thế hôm nay gặp lại nó tôi bỗng nhớ về những lần tập đi chợ để chuẩn bị bước vào đời sống gia đình của tôi…
Thời gian trôi nhanh quá…thiếu nữ nhà quê ngày nào…
Là tôi… sau khi có gia đình riêng,trở thành người mẹ của đám con thơ dại…tôi giờ đã phải cáng đáng một gia đình gồm sáu nhân khẩu….
Thỉnh thoảng tôi cũng hay mua về chiên cho các con, nhưng chúng không thích lắm vì cứ ăn hoài cũng chán, những đứa bé thì không thích ăn cá vả lại còn sợ bị hóc xương.ý thích ngày xưa và nỗi lòng nhớ về người mẹ quê với những món ăn rẻ tiền ngày xưa bên gối mẹ…vẫn còn trong tôi tự đáy lòng của một người già xa xứ ‘là tôi” bây giờ….
Một kỷ niệm khó quên mà bây giờ gặp lại nó trong một chợ Mỹ với đầy ắp những thức ăn cho tất cả mọi người bình đẳng như nhau…lại có giống cá bình dân này, ở xứ sở tôi hình như chúng chỉ dành cho người bình dân với số tiền khiêm tốn…
Còn xứ sở này tôi không phân biệt được món ăn nào của người giàu có và món nào dành cho kẻ cùng đinh…những con cá rẻ tiền của quê hương tôi bây giờ cũng chễm chệ ngang hàng với những loại cá đắt tiền được fillet bắt mắt đủ kích cỡ trong các tủ kiếng sạch sẽ.Những con cá ‘ Liệt lợ” nay cũng đã lên ngôi theo từng bước chân tôi????
Khi nhìn thấy những con cá liệt lợ ở đấy tự nhiên lòng tôi vui vui như vừa gặp lại một người thân quen cũ…những kỷ niệm xa lắc lại tìm về giữa buổi chợ chiều nơi xứ xa
, Cái cảm giác sướng vui trong tôi, rộn ràng, xúc cảm…Hệt như gặp lại một người thân quen xưa cũ.
Cũng với những con cá này , ngày xưa mẹ tôi hay “muối sương” và chiên giòn, muối sương có nghĩa là muối ít muối và sau vài tiếng đồng hồ cho ngấm muối và con cá sẽ cứng và rửa sạch chiên giòn sẽ rất ngon, chỉ cần giã ớt tỏi pha nước mắm ngon và bằm vào một trái xoài xanh..
.Ôi bao nhiêu cơm cũng hết cho mấy mẹ con tôi ngày xa xưa ấy…
Thỉnh thoảng những ngày cá rẻ, mẹ tôi cũng thường mua cá liệt lợ, cá bánh đường , cá hố…muối qua đêm rồi đem phơi khô một vài nắng…để dành chiên giòn vào những ngày biển động .
Bây giờ gặp lại con cá này tôi bỗng chợt nhớ lại rằng ngày xưa mẹ tôi còn thích ăn món cá “muối sương” với cơm nguội vào những buổi sáng…
Bao nhiêu hàng quán khắp chợ nhưng sao mẹ vẫn trường kỳ với món ăn này???bây giờ tôi mới nghĩ ra ” đó là tấm lòng của mẹ muốn dành những phần ngon lại cho các con mình”…
Tôi đã làm y như khi xưa, những con cá liệt lợ muối sương chiên giòn,cũng những vắt cơm nhỏ để nguội…
sau khi làm xong mọi thủ tục cho bữa ăn với cảm giác vui sao.
Những món mà ngày xưa mẹ tôi vẫn ăn thường ngày một cách ngon lành với rau lang hoặc rau muống luộc. bây giờ tôi cũng làm như vậy…và tôi cũng ăn ngon lành với một vắt cơm nhỏ…rồi không dám ăn thêm vì nhớ lời dặn dò của ông Bác sĩ..
.Ôi có sung sướng chi đâu.Tuổi già và những bệnh tật
Tôi còn muốn ăn thêm nữa, một chén cơm, hai, ba chén như ngày xưa…
Mỗi ngày với nồi cơm to đùng, cả nhà quây quần bên chiếc chiếu lớn, mâm cơm để chính giữa, tô canh lá giang để giữa mâm bốc khói nghi ngút, đĩa cá chiên dằm mắm ớt tỏi cay nồng, rổ rau luộc xanh mướt bốc khói…
Những bàn tay đưa chén bới cơm liên hồi…ăn đến khi nào bụng căng tròn mới thôi.
.Ôi những bữa cơm chiều… sao mà ngon quá đỗi..
.Xong bữa cơm chiều, bụng đứa nào cũng căng cứng no tròn,
Sau bữa cơm chiều ba chị em tôi hay đi dọc theo lề đường “Cho tiêu cơm”, những bước chân của chị em tôi gõ đều trên bờ xi măng như có thêm tiếng óc ách của mấy chén cơm chưa tiêu hóa kịp…
Mẹ ơi, sao ngày ấy món ăn nào của mẹ chế biến cho chúng con cũng ngon quá là ngon, chỉ cần món cá “muối sương” mà con ăn hết biết bao cơm gạo cũng chưa thấy chán…
Bây giờ một mình con bên bàn thờ mẹ nơi chốn xa xôi này, ngọn gió hanh khô không đủ làm khô đi vắt cơm đang lặng thầm trước mặt, miếng cá muối sương chiên giòn không đủ mặn …nên phải pha thêm giọt nước mắt con …
Con thèm những chén cơm nóng hổi ngày nào, những món ăn nào của mẹ làm cũng là ngon nhất…
Con nhớ vô cùng tiếng chó sủa râm ran theo bước chân mẹ con mình trong những buổi sáng trời còn ngậm hơi sương , những con chó bên này đôi khi con nhìn thấy nhưng sao không nghe chúng sủa, con nhớ lắm tiếng chó sủa ậm ực vẳng xa xa…
Như tiếng vọng nhớ quê hương của nhũng người con xa xứ.Những con chó nơi này quá đủ đầy nên chỉ bình yên ăn no ngủ kỹ…
Con thèm muốn nghe lại những mẫu chuyện đời thường lập đi lập lại.qua lời mẹ kể…nghe hoài mà không bao giờ chán…con thèm nghe những tiếng nói rặc ròi dân “xứ nẫu ” ấy biết bao…
Mẹ ơi, bây giờ mỗi lần trở về thăm nhà nơi quê cũ, ngồi mấy chục giờ bay, ăn những món ăn nhạt nhẽo lạ lẫm…. không còn ai bới sẵn cho con những nắm cơm vắt với những món mặn để ăn đường…Con đói khát vì thiếu bàn tay mẹ lo toan, con thèm lắm bàn tay ấm áp của mẹ.
Mẹ ơi, Đã qua bao ngày giỗ mẹ… con không biết dâng lên mẹ món ăn nào là của mẹ???
Bỡi món ăn mẹ thích cũng chỉ là sự hy sinh…những bát mì không thịt, những chén cơm nguội , những món cá muối rẻ tiền, tất cả thấm đậm tình yêu thương và chan hòa sự hy sinh của mẹ.
Bây giờ con mới hiểu vì sao và vì sao mẹ thích những món ăn mộc mạc rẻ tiền…
Mẹ ơi con yêu mẹ …yêu biết mấy tấm lòng của mẹ.
Suốt một đời mẹ đã hy sinh cho con trẻ từ cách sống và nhường cả từng món ăn ngon.
Lời gởi gắm bây giờ dẫu đã muộn màng…
Mẹ ơi con thương mẹ vô biên.
Con xin dâng lên mẹ những bông hoa sen tinh khiết thấm đẫm những giọt sương mai.. .Ngoài vườn nhà con rất nhiều bông hoa của xứ sở người ta …nhưng con vẫn gắng công ươm trồng giống hoa Sen tinh khiết để dâng lên mẹ…
Những bông hoa sen tinh khiết tượng trưng cho con người của mẹ,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn…
Giờ đây…bao thập kỷ đã đi qua…bây giờ con đã bước qua hàng ” thất thập”…quang gánh cuộc đời “…cũng đã rũ sạch cho nhân gian…Con gái bé nhỏ của mẹ cũng đã hoàn thành nhiệm vụ với đám con thơ dại…hệt như những gì mẹ đã làm cho ba chị em con…
Nơi chốn bình yên …Xin mẹ hãy yên bình đừng bận lòng vì con nha mẹ.
Bút mực nào, ngôn ngữ nào con tả hết những nhớ thương mà con muốn nói cùng mẹ bây giờ… và cũng
ích chi …
Khi mẹ đã không còn.
Mẹ ơi, mỗi năm đến ngày giỗ mẹ con lại thê thiết kêu cầu với những thì thầm vô nghĩa…biết gởi về đâu?
Xứ sở nào… cho con tìm ra mẹ…Mẹ ơi.
Cầu xin cho mẹ được an nhàn nơi chốn bình yên của mẹ
Chất xong mấy cây mai, cho quá giang xe tải về trồng lại. Ba Đực thở phào. Mai năm nay đẹp, giá lại thấp hơn năm ngoái, vậy mà ít khách. Chắc năm rồi làm ăn khó, người ta để tiền, mua những thứ cần thiết hơn cho ba ngày Tết. Tánh Ba Đực ngang, đói thì chịu, nhứt định không phá gía! Công lao cực khổ cả năm trời, bán đổ bán tháo lão xót, thà đem về dưỡng cho năm sau…
Đã quá trưa 30, chợ bắt đầu thưa người. Ba Đực đứng tần ngần ngắm hai cây mai đẹp nhứt để lại, hy vọng từ giờ tới chiều, có người mua, vớt cú chót rồi về. Lão lẩm nhẩm hát, bài hát lão thích nhứt hồi trẻ: “Nếu mai không nở, anh đâu biết xuân về hay chưa…”*
Có mai nở là có mùa xuân. Thấy mai là thấy Tết. Ba Đực nhớ những ngày ở rừng. Những ngày ở gần cái chết. Sự sống ở màu vàng mai, làm thoát ra khỏi cái u ám, cái tối tăm đe doạ của bạt ngàn cây lá. Mai không có mùi thơm. Mai mang mùi bình yên, mùi của sự sống. Cái mùi làm cho buổi sớm thanh thản, nhẹ nhàng hơn. Ba Đực không ngửi mà cảm thấy rất rõ, sau mỗi phiên gác đêm, trong cái chòi nhỏ ven rừng. Mùi mai trong gió, trong hơi thở của rừng. Ba Đực mang theo, làm thành cái nghề mới.
Tiếng con Lành phía sau:
– Dọn sớm vậy cậu Ba?
– Ừa, sớm gì nữa, cho nó đỡ cực! Sớm là bây kìa. Bữa nay cũng mần nữa ha?
– Làm gì có, thiên hạ về với gia đình hết rồi, ế độ ra chơi với cậu thôi… – Cúng kiến gì chưa? – Chưa cậu ơi, còn cậu?
– Qua hả? Khoẻ re, có một mình với mấy con chó, về tới dưới, mần thịt con gà là xong. Mình nghèo, lo kiếm ăn, ông bà khuất mày, khuất mặt, đâu có chấp! Lành im lặng một lát, rồi ngập ngừng: – Tui cũng mình ên! Buồn đứt ruột! Vô tui chơi đi cậu Ba, chiều về…
– Thôi! Qua già rồi…
– Đừng thôi mà cậu Ba, cậu làm không được thì tui…làm cho cậu! Tui năn nỉ mà…Coi như xả xui cuối năm đi cậu…
Vừa nói, Lành vừa nắm tay Ba Đực lắc lắc. Thấy con nhỏ gần muốn khóc, Ba Đực cầm lòng không đặng. Lão ngó ra chỗ khác, rồi gật:
– Vô trước đi, chút qua vô
– Thiệt nghen, thề nghen cậu Ba…
Ba Đực lại gật lia lịa. Lành đi khuất, tự nhiên lão cũng thấy bồn chồn. Lâu rồi, không gần đàn bà, giờ nhắc cũng thèm. Hồi thiếu uý, dính hết 1 năm cải tạo! Ba Đực mới 22, ra tù lủi về quê, sống cu ky với mấy công ruộng, ông bà gìa để lại. Anh em tứ tán, thân ai nấy lo. Có con bồ thì vượt biên mất biệt! Ba Đực chán đời, ở vậy mà sống.
Làm ruộng thất, Ba Đực lên vườn, trồng mai bán Tết, cũng có ăn. Năm nào 23 Tết, đem mấy chục gốc mai lên đúng chỗ này, ăn dầm nằm dề, bán lai rai tới 30 thì rút. Ngồi bán ngắm thiên hạ sắm Tết cũng vui. Riết rồi ghiền cái không khí Tết của chợ. Mấy năm trước không, năm nay lại có thêm con Lành. Chỗ Ba Đực bán, nhè ngay đầu hẻm nhà trọ của nó. Lành bán bia ôm và đi khách luôn ở cái quán tuốt ngoài đường rầy xe lửa. Chiều qua, quán nghỉ. Lành lang thang chán, mò về ngang qua chỗ bán mai của Ba Đực.
Đúng lúc lão đang nướng con khô sặc ăn cơm. Mùi thơm lừng. Con Lành ghé vô làm quen, rồi ăn cơm với lão luôn. Chập tối, khách coi mai đông, nó cũng líu lo chào mời, phụ với Ba Đực tới khuya, còn tự nguyện đi mua cho lão tô mì gõ, rồi mới chịu đi ngủ… Ngồi trầm ngâm một lát, chừng như hài lòng với quyết định của mình. Ba Đực đứng phắt dậy, gửi 2 cây mai cho bạn hàng bên cạnh. Dắt chiếc Dream dông xuống dốc Cầu Bông, mua con vịt quay, mấy ổ bánh mì với lít rượu đế. Về lại chỗ bán. Ba Đực cột thêm miếng ván phía sau yên, chất một cây lên đó. Còn lại một cây, Ba Đực lục túi lấy cuốn sổ, kiếm cái số nhà, rồi kêu tay xe ôm quen. Tay này ngày thường chở người. Tết chở cây kiểng kiếm ăn. Ba Đực đưa cho hắn tiền và cái địa chỉ, dặn: –
Nói với thầy Tân là cây mai này tui biếu thầy chơi Tết. Chúc thầy ăn Tết vui vẻ, năm sau gặp.
Ba Đực chỉ mới biết thầy Tân mấy năm sau này. Lần nào lên bán cũng gặp. Thầy có vẽ thích và rành về mai. Chắc hồi trẻ phong lưu lắm. Có thầy ghé qua, Ba Đực cũng pha ấm trà mời. Rảnh thì tiếp chuyện, không thì thầy cứ ngồi đó, nhâm nhi trà mà ngắm mai thoải mái. Thầy Tân nói hồi chiến tranh, gia đình thầy không còn ai trong cái Tết năm nào. Thầy lưu lạc luôn từ đó! Cái ấm cúng, cái hạnh phúc của gia đình thầy, như chỉ chờ mai nở mà hiện về. Ngồi giữa những chậu mai đầy hoa của Ba Đực, thầy như sống lại được những ngày tháng êm đềm cũ. Chỉ có vậy, chưa bao giờ nghe thầy hỏi mua. Mai bây giờ là cái thú, cái khoe sự sung túc. Ba Đực biết thầy Tân thích lắm. Ra ngồi chơi thôi, mỗi lần Ba Đực bán đi cây mai đẹp nào, khách chở đi. Thầy Tân đều ngó theo, ánh mắt đầy tiếc rẻ. Nhưng mai quá mắc, mua không nổi so với hoàn cảnh của thầy hiện nay. Ba Đực biết, thầy Tân mượn cớ, có buôn bán, làm ăn gì đâu, mà nhờ mai nở rộ, đặng cầu tài cầu lộc, rồi làm bộ ngó lơ, nuốt nước miếng mà nhịn…
Chào từ giả và chúc tết bạn hàng chung quanh xong. Ba Đực chậm rãi chở cây mai còn lại vô nhà Lành. Hẻm nhỏ, người ta ngồi đầy bên sòng cắc-tê, sì-dách, bầu cua lộ thiên. Phải khó khăn lắm, Ba Đực mới chui vô được tới nơi. Lành đứng đợi sẵn lão trước cửa. Chậu mai bỏ xuống choán gần hết nửa đường đi. Cũng chướng, nhưng thây kệ, Tết mà. Cả con hẻm sáng rực. Lành ngó cây mai, ngó lão, ngạc nhiên. Ba Đực cười: – Để chưng cho có 3 ngày Tết! Căn nhà nhỏ xíu, trống hốc trống hoác. Một cái bàn gỗ ọp ẹp kê sát vách làm bàn thờ. Trên có hình người phụ nữ và cái hủ cốt. Ba Đực để con vịt quay, chai rượu và mấy ổ bánh mì lên đó. Không có giường, chỉ có chiếc chiếu, chắc mới được trãi ra, ngay dưới chân bàn.
– Bà già tui đó, chết năm rồi… – Đốt nhang đi. Có gì cúng nấy!
Lành vói tay cài chốt cửa, thấy Ba Đực nhìn chiếc chiếu có vẽ ngần ngại, nó cười: – Không sao, bà già… quen rồi!… Mùi nhang hăng hắc làm căn phòng thêm ngột ngạt. Ba Đực xá mấy xá, lẩm bẩm mấy câu với người phụ nữ trong hình. Quay lại, con Lành đã cởi quần áo từ hồi nào. Nó kéo Ba Đực nằm xuống, vuốt ve khắp người lão. Thằng đàn ông trong người Ba Đực trỗi dậy. Lão nhìn con Lành nằm tênh hênh bên cạnh. Ngực phập phồng, hai cái đùi bắt chéo, nhô đám lông đen ra ngoài khiêu khích. Con Lành chờ đợi, nó sợ Ba Đực đổi ý, sợ lão từ chối. Sợ bất kỳ cái khái niệm đạo đức nào, bất chợt trỗi dậy trong người lão. Chút…tự ái nghề nghiệp. Cái nghề chết tiệt! Cái nghề được nhắc đến giữa thương cảm và khinh bỉ. Cái nghề luôn bị kẻ nhân danh sự cao cả, cúi xuống nhìn như một thứ rác rưởi. Ba Đực khác. Cái nông dân trong lão nghĩ suy rất đơn giản. Con Lành bán thân như lão bán mai vậy. Ai thích, ai cần thì mua. Sòng phẳng. Mua trong thích thú, vui vẻ, lão sướng. Mua mà ngắm nghía, nâng niu từng cánh hoa, để thấy hết cái đẹp, cái hồn của hoa. Rẻ một chút, lão cũng bán. Còn ngược lại, chờ cái thế kẹt, tàn chợ hoa Tết của lão như bữa nay, mà chê bai, dè bĩu, ép gía, trả tiền như ban ơn. Thứ đó không biết chơi, lão cóc cần. Ba Đực bán mai là bán nguyên cây. Bán cái công cưa cành, tỉa nhánh làm thành cái tướng, cái nổi trội của cây mai giữa muôn ngàn cây khác. Không phải gía, lão đem về. Ăn Tết nghèo thêm một chút, thiếu thốn một chút, đã sao! Tết quê thì có sắm sửa gì đâu. Mồi nhậu thì minh thiên. Chủ yếu là lo cúng kiến cho phải đạo. Ba Đực ngó con Lành, ngó quanh cái phòng lần nữa. Lão chợt xót. Lão nửa muốn nằm úp lên cái thân thể đó, nửa ái ngại muốn đứng lên. Lại lo con Lành tự ái, tưởng lão chê, nó tủi thân. Tội! Ngày mai là ngày đầu năm. Tống cựu nghinh tân. Con Lành thì tân nổi gì, cựu hơn, tơi tả hơn thì có. Lành cứ lặng im vuốt ve Ba Đực. Lành đang rách, đang cần tiền. Nhưng không hiểu sao, giờ này, nằm đây, Lành lại thấy khang khác. Cái hơi đàn ông không còn là để chịu đựng, để chán chường, mà lại là thứ để che chở, để an ủi. Lành chờ cái ôm của Ba Đực. Cái ôm không cần tính tiền! Phần Ba Đực cũng thấy lạ với mình. Ngay từ đầu Ba Đực đã không muốn vô đây. Lão quen sống cu ky một mình, không có đàn bà lâu lắm rồi. Ở quê loay hoay từ sáng tới chiều, hể chịu làm là làm không hết chuyện, làm cho quên ngày tháng, quên cái thiếu thốn, trống vắng trong căn nhà. Tối lại, lai rai vài ly cho dễ ngủ. Tới chừng thấy cần có người bên cạnh, giựt mình ngó lại thì gìa cha nó rồi, thôi nhịn luôn… Bữa nay, con Lành làm lão cao hứng, lão muốn tự thưởng cho mình, một ngày không như mọi ngày cũng đáng. Ba Đực ngó mặt con Lành, ngó cặp mắt lim dim của nó thấy cũng ngộ, lão không đành lòng, lão không muốn nó buồn. Lão ôm lấy nó, lão quên hết chuyện đời, hì hục thở. Lành rướn người, nhích tới nhích lui, đụng chân bàn, cái hủ cốt khua lộp cộp trên đầu… Lâu lắm, Ba Đực mới hoàn hồn. Lành vẫn để mình trần, ngồi tiếp rượu với lão. Nó uống cũng ngọt sớt. Ba Đực thấy vui, thấy bớt lẽ loi hơn mọi năm, bớt chán chường hơn khi nghĩ tới lúc phải về căn nhà với miếng vườn dưới quê. Lành xé cái đùi vịt quay đưa cho lão:
– Ở dưới quê ăn Tết chắc vui hơn trên này hé cậu Ba?
Ở đây buồn lắm, Tết đâu có ai đi chơi bời. Mấy đứa kế bên về quê hết rồi. Tui mà có quê, tui về liền… Ba Đực gạt ngang:
– Tầm phào! Sao không có? Con người mà không có quê hương, xứ sở đâu phải con người. Lành bật cười, cười mà như khóc:
– Tui nè, cậu Ba. Nhiều khi tui cũng không biết tui phải người không nữa. Người sao khổ quá vậy! – Tầm bậy, sông có khúc người có lúc…
– Lúc nào không biết, chứ tới giờ thì… Lành ngưng ngang. Nó rót đầy chung rượu, cầm hai tay đưa Ba Đực đàng hoàng. Chờ lão uống xong, Lành rót cho mình, nó uống còn lẹ hơn Ba Đực. Đặt cái chung xuống chiếu, Lành ngó Ba Đực:
– Để tui kể cho cậu Ba nghe. Bà già tui bỏ quê, lên ở đợ trên này. Thằng chủ nhà, tức là ông gìa tui đó, rù quến quất cho một bụng. Chả hoảng, lập kế cho con vợ đánh ghen, đuổi bà già ra khỏi nhà. Về không được, ở lại lấy gì ăn. Sanh tui xong, bả làm gái nuôi tui. Lớn lên tui làm gái nuôi lại bả. Bà già tui nói “Thà của mình đem bán nuôi thân, còn hơn cho không nó, đã nhục còn mang tiếng ngu, tới quê cũng không dám về”. Tui hỏi “Quê đâu? Mắc mớ gì không về”. Bả nói “Mình nhục đủ rồi, làm nhục ông bà mang tội”. Vậy đó, rốt cuộc quê ngoại, quê nội gì cũng không biết, không có. Tui là cái giống gì, cậu Ba?
Ba Đực im lặng, con Lành kể, lão rót rượu uống. Lành ngưng nói, lặng thinh tiếp rượu Ba Đực. Lão uống tới đâu nó theo tới đó. Chai rượu cạn queo. Ba Đực lôi hết tiền bán mai ra đếm, lẳng lặng đặt một nửa dưới lư hương, nói trống không:
– Ăn Tết vui vẻ… Lúc Ba Đực dắt xe ra, trời đã sẩm tối. Chậu mai trước nhà biến mất. Lành gào lên chửi. Có tiếng giang hồ lao xao:
– Đám Út Nhanh chơi rồi, khỏi kiếm! Ba Đực đẩy Lành vô nhà, kêu đóng cửa lại, lão cười rất nhẹ nhàng với đám đông:
– Chậu mai tệ gì cũng bạc triệu, nói nó đừng bán rẻ quá. Uổng!….
Ra khỏi hẻm. Ba Đực còn tần ngần chưa muốn đi. Còn mấy tiếng nữa là Giao thừa, là hết một năm, là già thêm một tuổi. Ba Đực thở dài, nổ máy. Day lại thấy con Lành tất tả chạy ra, nhảy thót lên xe ngồi. Nó kiếm đâu ra bộ bà ba màu mỡ gà, coi hiền khô. Ba Đực giương mắt ngó, Lành cười: –
Của bà già để dành, đặng về quê, mà chưa bận lần nào… – ….
– Tui về với cậu… – ….
– Thì cũng có người phụ cậu mần con gà, bắc nồi cơm cúng, hay uống rượu với cậu. Lẹ đi, trời tối rồi…
Ba Đực ngước nhìn trời. Ừ, tối. Tối như đêm ba mươi là cùng. Rồi ngày mai trời sẽ sáng. Chắc chắn như vậy…
Cứ mỗi mùa xuân mới đến là lại nhớ lùi dần về những mùa xuân cũ như tìm về một giấc mơ đẹp, một giai điệu đẹp, nó cứ nấn ná ngân nga mãi trong tâm khoảnh khắc ấm áp êm đềm.
Nhớ ngày xưa cha mẹ ở trong xóm lao động nghèo, nhà nhà chạy ăn từng bữa. Nhà mình chị em một bầy lít nhít, đứa nọ cách đứa kia 2 năm tranh nhau chen chúc ra đời. Ba đi làm, má quanh năm suốt tháng tất tả chạy chợ nuôi con, mấy đứa lớn đứa nào cũng chai hông vì ẵm em một bên tha nhau đi chơi. Sau lớn đi lấy chồng ngán con nít, thà xay lúa khỏi bồng em. Cực nhất là mỗi lần chia phần ăn cho lũ con, cái gì cũng phải bằng nhau đều tăm tắp. Tài đến mức, cái bánh tráng phồng cũng bẻ làm hai thẳng băng, trái xoài chín méo xẹo cũng cắt được làm 3, không cách gì lựa được phần nhiều hơn. Hồi đó, lũ con chán nhứt cái điệp khúc “mai mốt ba má mua…” hoặc “từ từ rồi tính sau”. Cả năm, chỉ mong đến Tết để có được 2 bộ đồ mới mặc nhà, 1 bộ đồ Tết mặc đi chơi, vừa có tiền lì xì vừa khỏi bị la rầy, khỏi đi học. Và ăn uống thì tha hồ khỏi chia phần, khỏi giờ giấc.
Những ngày giáp Tết thuở ấy, cái khác đầu tiên là căn phòng khách nhỏ 9 mét vuông. Ngày thường chỉ kê được mỗi cái đi văng nhỏ, cái tủ buffet. Ưu tiên chừa cái nền nhà trống cho con nít nằm bò lê la. Khách tới chơi nhà toàn ngồi đi văng hay bệt xuống sàn. Tết tới, ba sẽ cho khiêng cái đi văng ra ngoài sân, lấy chỗ bày ra 1 bộ bàn ghế xếp tiếp khách vốn ngày thường được cột lại cất kỹ đâu đó. Một cây mai được mang về, quàng lên nó mấy sợi dây đèn màu trang trí. Căn phòng khách bỗng trở nên sang trọng phi thường. Tối lại, lũ con nít nằm lăn lóc say mê coi đèn nhấp nháy, nghe tới nghe lui bài Ly rượu mừng từ cái cassette nhỏ xíu mà lòng rộn rã tưng bừng, vui sao đếm từng ngày từng giờ chờ Tết tới. Nhớ má hay nói, “thấy tụi mày sướng như tiên không, thấy có con ai sướng được vậy không” khi nhìn lũ con nằm sắp lớp dưới nền nhà nghe nhạc ngắm mai.
Nhớ nồi bánh tét của bà ngoại, còng lưng gói cột cả nửa ngày trời, kê gạch chụm củi nấu ngoài sân nguyên đêm hoa lửa nổ tí tách thơm lừng, rồi sáng sớm trẻ con được phát mỗi đứa 1 cái bánh ú ngon nhất trần đời. Củi gộc to bằng bắp chân để dành cả năm không chẻ ra cất kỹ đâu đó là để dành cho sự kiện này.
Nhớ đủ loại bánh mứt má làm, xong cho vô thẩu lấy băng keo niêm kín nắp chất lên kệ đợi Tết khai hỏa, lũ con ngày nào cũng lượn qua lượn lại chỉ trỏ thèm thuồng ngó.
Chiều 30 Tết ngày xưa đối với lũ trẻ sao linh thiêng bí ẩn đến vậy, đứa nào cũng được má nấu nước cho tắm gội sạch sẽ, đi nhẹ nói khẽ, rón rén qua lại bàn thờ. Đến chạng vạng là bị cấm tiệt khỏi bước chân ra ngõ luôn, cửa đóng then cài, nội bất xuất ngoại bất nhập. Con nít nhà nào bị nhà đó nhốt lại. Vậy là bầu cua, cá ngựa, lô tô… được bày ra. Tuy không phải năm nào cũng thức nổi chờ đến giao thừa nhưng cho dù có đang ngủ quên thì bao giờ cũng được đánh thức bằng tiếng pháo. Tờ mờ sáng mùng một, chị Hai thảng thốt khều lũ em dậy, thì thào “Tết rồi”. Lũ em cũng mắt nhắm mắt mở lồm cồm bò ngay dậy không đợi kêu tới tiếng thứ hai, “ủa tới Tết rồi hả”, đứa nào cũng hồi hộp trở dậy nhẹ nhàng nhường nhịn, sợ lạng quạng lấn nhau gây lộn xui cả năm.
Thương Tết của những mùa xuân cũ trong ký ức còn nguyên sơ trong trẻo.
Dốc vừa đủ cao, rừng vừa đủ rậm, hang hốc vừa đủ thâm u, một cái đầm lầy dưới chân và một cái tháp cổ uy nghi bỏ hoang trên đỉnh là quá đủ để hòn núi ấy trở thành “vương quốc” cho lũ trẻ con ngày ngày trèo lên tung hoành. Cùng với chúng là bầy khỉ dạn dĩ, lũ chim rừng quành quạch… Núi có tên chữ là Hoa Sơn, có hình dáng con rùa đang vươn cổ nhưng người dân cứ gọi là Núi Một, như cách gọi nôm na những ngọn núi nhỏ chơ vơ đơn chiếc. Nó có sẵn đường mòn lên đỉnh, là nơi mà hàng trăm năm trước một vị thiền sư đã lập thảo am tu hành. Xá lợi của ngài được đặt trong Liên Hoa tháp dựng ngay trên nền am. Kim quy đới tháp (Rùa đội tháp) là có tích từ đây. Những hình ảnh cũ may mắn còn lưu lại được cho thấy bảo tháp hình hoa sen rất đẹp.
Những đứa trẻ của thập kỷ 40 ở trong vùng lân cận bên động cát trắng, giữa rừng mai hoặc cạnh rừng dương, từ mái nhà tranh trống hoác của mình có thể ngó thấy rất rõ ngôi bảo tháp nhô cao trên đỉnh núi và chỉ chạy một hơi là tới nơi. Với tụi nhỏ, ngọn núi này là thiên đường. Khi Nhà thờ Núi được hoàn thành vào năm 1933, ở một phần mõm núi phía đầu rùa sau khi cho nổ mìn phá đá lấy mặt bằng thì con đường Phước Hải (Nguyễn Trãi ngày nay) mới thực sự hình thành, xẻ ngang cổ rùa của Núi Một. Nhà cửa theo đường bắt đầu mọc lên, rừng bị đẩy lùi, và lưng rùa đã bị phá hỏng phần nào.
Thập niên 50 với quá nhiều biến động lịch sử đã khiến bộ mặt Nha Trang cũng đổi thay, rừng hoang thành chợ, thành nhà. Cha mẹ tôi là đám trẻ của thập niên 40 ngày nào, sau vài năm xa nhà về thảng thốt nhìn xóm cũ. Đâu rồi ngọn núi của miền thơ ấu, đâu rồi rừng mai, động cát… Núi Một như bị nhổ lên, biến mất hoàn toàn không còn chút dấu vết, một mảng xanh cũng không. Đầm lầy sau nhà máy nước đá và rạp xi nê Hưng Đạo thì đã được lấp từ thập niên 70, chỉ còn lại nhà và nhà, lớp trong lớp ngoài, vòng vèo ngõ dọc lối ngang, lô xô cao thấp trám kín mít không còn chỗ hở. Thời gian càng trôi qua càng chồng chất che chắn. Lớp hậu sinh chúng tôi lớn lên nghe kể lại mà cứ như chuyện cổ tích. Lấy đâu ra núi ở phố thị? Lấy đâu ra hồ nước đầm lầy? Cha mẹ tôi hay nhìn về phía ngọn núi ngày xưa cám cảnh, không biết có còn ngọn tháp cổ, không biết đường mòn lên núi giờ đi đâu.
Rồi tôi ngồi tìm từng tấm hình của một Nha Trang xưa nơi 5 thế hệ gia đình mình đã và đang sống. Những tấm hình cực hiếm chạm vào ăm ắp xúc động. Đúng là ngọn núi ấy, bảo tháp ấy và cả đường mòn lên đỉnh… Tôi như nhìn thấy cha mẹ mình đang chân trần tung tăng.
Và bây giờ tôi cũng men theo một cái hẻm nhỏ như khe để lên núi cũ, loanh quanh leo dốc lạc lối mà chỉ toàn nhà với nhà sát rạt, nhà bên vách núi đá, dốc đá, bậc cấp đá. Lối đi ngoằn ngoèo còn hơn mê cung một hồi là quay trở lại điểm xuất phát. Cuối cùng tôi cũng tìm tới được bảo tháp đặt trên đỉnh núi thần thoại, vẫn ngay vị trí năm xưa. Không còn uy nghi đơn độc trên đỉnh núi, bảo tháp nay nằm chung trong khuôn viên của một nhà dân. Người chủ nhà kể họ mua lại căn nhà có sẵn bảo tháp này và biết chứa xá lợi của tổ sư, rồi cứ vậy mà cung kính nhang khói tiếp. Người chủ nhà trước chắc cũng nhận lại phận sự từ người trước nữa, và cứ vậy mà sơn phết giữ gìn. Thấy ghi tôn tạo lại năm 1972 nên hình dạng không còn như xưa nữa, nhưng vậy cũng đã quý rồi.
Có ai ngang qua đường Nguyễn Trãi tới Huỳnh Thúc Kháng, rồi rẽ vô đường Núi Một đi một vòng ra Ngã Sáu, xin dành vài phút nhớ tới một ngọn núi đã ẩn mình…
Đó là chuyến xe cuối cùng của năm cũ, HT 14, xuất bến lúc 23 giờ. Xe dừng lại vài trạm trước cửa ngõ thành phố để rước thêm dăm ba khách muộn nữa là tăng tốc chạy hối hả. Ai cũng vội, không ai nhìn ai, người đã an vị trên xe lẫn kẻ mới bước lên. Trời se lạnh; sùm sụp áo mũ khẩu trang mỗi người một cõi im lìm, và bóng tối thì mịt mùng thi thoảng vài ánh đèn đường quét ngang rọi rõ từng sợi mưa đang buông. Không khí đón năm mới tưng bừng sáng choang nơi phố thị nhưng ra tới quốc lộ thì chỉ là sự quạnh quẽ nhá nhem, đến cả những chuyến xe hiếm hoi còn trên đường cũng lặng lẽ phóng nhanh mất hút vào màn đêm.
HT 14 vốn là dòng xe trung chuyển của hãng nhưng được bố trí lại thành xe chạy đường dài mang trong lòng của nó không quá mười hành khách, ắt phải là những người đang lắm nỗi niềm chật vật tâm tư bởi họ sẽ phải đón giao thừa ngay trên ghế cá nhân lướt vùn vụt xuyên đêm. Cái khoảnh khắc đếm từng giây chờ năm cũ chuyển giao giữa những tình thân luôn thiêng liêng, nên khi phải một mình là điều không ai mong muốn, thậm chí còn hoang mang.
Xe lên đèo khi đã quá nửa đêm và bắt đầu uốn lượn theo con đường một bên là vực sâu, bên là vách đá dựng đứng. Mưa vẫn không ngừng. Cả xe chìm trong sự im lặng đặc quánh đến cả hơi thở nặng nề trong giấc ngủ chập chờn cũng phải dè chừng. Một cú chao nhẹ như bị trượt khiến tài xế buột miệng “chết chà” làm tất cả bừng tỉnh.
“Sao, sao, có gì không?”.
“Không có gì đâu, chỉ là lớp đất nhão trên đường”.
“À, mưa quá mà, cả ngày nay luôn. Chắc đất trên núi trôi xuống”.
Người vừa hỏi là giọng nam ngồi phía trên gần tài xế. Phía sau vẫn im lặng nghe ngóng, ai cũng ngồi thẳng lưng lên như chờ đợi và đều biết đây là con đèo đầy bất trắc trong mưa lũ.
Xe lại tiếp tục loạng choạng lao đi, thiện nghệ ôm qua một cái cua tay áo.
Ấm. Ầm. Ầm. Tiếng đất đá đổ sạt rền vang như sấm động ngay phía sau, chỗ có lớp đất nhão mà xe vừa đi qua. Mặt đất rung chuyển. Ánh đèn xe xuyên qua màn mưa xám xịt vẫn nhìn thấy rõ một quả đồi con con tự dưng sụt sùi mọc dần lên choáng hết cả lòng đường, đất đá đổ từ trên vách núi xuống cuồn cuộn như thác. Gần như tất cả đều rú lên thất thanh. Chiếc xe run rẩy chậm lại rồi dừng hẳn. Nếu không may mắn thì cả chiếc xe này cũng đã trôi theo dòng thác đó rồi.
“Sạt đèo rồi, chạy mau đi”.
“Sao lại chạy, muốn chết hả”.
“Giờ muốn sao, nó đang sạt lở tiếp đó”.
“Trời ơi làm sao bây giờ?”.
“Mọi người bình tĩnh cứ ngồi yên để tui gọi cứu hộ trước đã, không biết phía trước có an toàn không để mà chạy tiếp đây. Alo, alo… ai đó, phải phải xe HT 14 đây. Sạt đèo rồi, ngay Km 65. Không sao, xe mới đi qua chưa đầy 3 phút. Xe nào phía sau hả, chắc không có đâu đường vắng lắm. Cái gì, chiều xuống đèo vẫn đang thông hả, ok, ok, tranh thủ ngay. Biết rồi, khổ quá tết với nhứt”.
“Cứu hộ nói sao? Đi tiếp hả bác tài?”.
“Đèo còn dài lắm thì phải, đi tiếp lỡ sạt bất thần thì sao?”.
“Vậy đứng yên ở đây thì không bị à, giờ phải thoát khỏi con đèo này càng nhanh càng tốt chớ”.
“Ai mà biết trước được chuyện gì. Sợ quá…”.
“Phía bên kia đèo cũng không an toàn lắm đâu, mới năm ngoái đây…”.
“Phải đi tiếp thôi chớ biết sao giờ, lạy trời…”.
“Đang đi đừng có nói mấy chuyện xui rủi đó”.
“Đầu bên kia không biết sao nữa, nãy giờ cũng khá lâu có thấy xe nào chạy ngược lại đâu”.
“Cũng có thể họ đã được thông báo tắt đèo khúc này rồi nên chuyển hướng. Thôi quyết định đi tiếp, giờ cứ van vái ông bà phù hộ”.
Sau câu chốt hạ của tài xế thì mọi người im bặt, chỉ nghe lầm rầm tiếng niệm Phật, cầu kinh. Có vài tiếng ì ầm từ xa không rõ là tiếng sấm hay sự chuyển động của núi rừng. Xe dọ dẫm di chuyển dưới mưa xối xả, không khí trong xe bắt đầu đông cứng lại, những đôi mắt nhìn nhau đầy lo âu và cùng mở to trừng trừng vào màn đêm. Có tám người cả thảy tính luôn tài xế, bốn nam bốn nữ không trẻ cũng chẳng già và hoàn toàn xa lạ nhau.
Không ai trong số họ nói chính xác được thời gian xảy ra tai họa kể từ khi xe rời điểm sạt lở đầu tiên. Phước bất trùng lai, HT 14 không tránh được cơn thịnh nộ của sơn lâm, nó lao đầu trong cơn vô định vào một khối đất đá khổng lồ vừa đột ngột hiện ra đổ chài trên đường và mắc kẹt lại ở đó. Có lẽ tất cả đã cùng mụ mị đi trong vài giây hoặc mươi phút, khi tỉnh hồn họ mới nhận ra được tình thế tiến thoái lưỡng nan của mình.
Xe không bị lật, nhưng cũng không nhúc nhích được nữa và dường như nó đang nghiêng dần. Không ai bị thương dù bị va đập ít nhiều khi xe đứng khựng lại. Cửa không bật ra được vì bị bùn đất khóa chặt, và không có cái điện thoại nào còn bắt sóng. Bên ngoài vẫn tối đen và mưa như trút. Vài tiếng khóc bật lên.
“Yên hết, yên hết đi, giờ mà nhốn nháo là xe lật luôn đó”.
“Không ra khỏi xe được đâu, mọi người bình tĩnh đi, dù bị mắc kẹt nhưng xe đang ở chỗ trống trải lắm không có gì nguy hiểm nữa”.
“Mắc kẹt thôi cũng đủ chết rồi”.
“Đang sống nhăn mà nói gì vậy”.
“Phía trước có điểm sạt lở nữa rồi. Vậy là mình bị chặn đầu chặn đuôi rồi hả trời”.
“Mọi người ráng chờ một chút, ngớt mưa là tui sẽ tìm cách phá cửa ra ngoài, trèo qua đống đất đá này may ra kiếm được chỗ có sóng điện thoại mà cầu cứu. Tui biết đường đi mà, qua hết dãy vách núi này là có nhà dân trong rẫy”.
“Bác tài nói đúng đó, tui sẽ đi với ông, thêm người hỗ trợ nhau”.
“Ờ cũng được”.
“Tụi tui đi với…”.
“Không cần đâu, chỉ tìm nơi để gọi điện thoại thôi mà. 6 người cứ ở yên trong xe, đừng đi lung tung”.
“Chúng ta làm gì đây?”, giọng nam trầm ở lại lên tiếng, sau khi hai người kia rời đi được 15 phút.
“Sao lâu quá vậy?”, giọng nữ thút thít.
“Mới đi mà, biết đã trèo qua được cái đống đất đá này chưa, với lại thường phải xuống đèo gần hết mới có sóng điện thoại”, giọng nữ nhẹ nhàng.
“Đó là trong điều kiện bình thường, chứ như hiện nay thì e rằng mấy cái trạm phát sóng trên cao cũng đổ cả rồi”, giọng nam thứ hai người vùng ngoài.
“Biết hai người đó có an toàn không nữa, tội nghiệp quá, lạy trời lạy Phật…”, giọng nữ khác run run.
“Kể đang vầy đây cũng là phước lớn mạng lớn rồi, mọi người chắc chắn sẽ bình an thôi”, giọng nữ còn lại lên tiếng chậm rãi có vẻ lớn tuổi.
“Chờ ở đây là êm rồi. Sáu người mình gặp nhau đây cũng gọi là cái duyên, sẵn tiện mình làm quen đi được không?”, giọng nam trầm.
Có vài tiếng cười nhẹ hưởng ứng xen lẫn thở dài.
“Ông này lạc quan ghê”.
“Thì đằng nào cũng cùng thuyền rồi, ai biết chuyện gì sắp xảy ra”.
“Gọi là không sinh cùng ngày hả…”.
“Ăn với nói, bỏ đi, từ giờ phút này cấm không ai được nói chuyện gì không hay nữa”.
“Phải đó. Ai có chuyện gì vui nói nghe chơi cho đỡ sốt ruột. Không biết hai người kia bao giờ mới quay lại”.
“Giờ này mà còn nghĩ ra được chuyện gì vui mới lạ”.
“Chẳng lẽ bó gối chờ…”.
“Thôi không cần vui, chuyện vì sao mà lại có mặt trong chuyến xe đêm ba mươi cũng đáng nghe rồi. Không phải sao, ai lại muốn đi trên chuyến xe vét như vầy chứ. Giờ này nhà ai chẳng đông đủ ấm cúng”.
“À, đúng đó”, giọng nữ lớn tuổi. “Tui lên thành phố nuôi con dâu đẻ nè, ai mà tính trước được ngày sanh chớ. Đưa nó ra viện về thẳng quê ngoại luôn tới phiên mình quay về thì đúng ngày này. Không đi về không được. Ba ngày tết còn cúng quảy, mồ mả, sao đóng cửa lạnh tanh được nên giá nào cũng phải về nhà. Ai mà có dè còn đúng mỗi chuyến này”.
“Thiệt luôn”. Giọng nữ trẻ rầu rĩ. “Số mình mới đen đủi. Có tính đi N đâu, công ty cần người ở lại trực cơ quan ba ngày tết, trả lương cao nên mình mới ham. Đã về nhà được mấy hôm rồi mà thấy buồn quá nên thôi quay lại. Giờ thì mới thấy hối hận”.
“Tui thì về chịu tang mẹ, trời long đất lở gì cũng phải về. Còn ông bạn? Có lý do gì lên chuyến xe này?”, giọng nam thứ hai.
“Chuyện của tôi dài lắm, kể ra sợ mọi người nghe mệt mỏi”, giọng nam trầm.
“Chớ giờ có gì làm đâu mà không nghe, trong hoàn cảnh tối mò này ai cũng như ai, có chuyện nghe để khỏi nghĩ quẩn là tốt rồi…”.
“… Tôi phải có mặt ở N trước bảy giờ sáng để chia tay người mà mình yêu thương, đó là lý do phải lên chuyến xe cuối cùng này”.
“Chia tay? Làm gì mà gấp gáp phải đi ngay trong đêm ba mươi? Nghe giọng thì ông không phải là người ở N rồi ha”.
“Tôi ở thành phố. Người ấy là mối tình đầu của tôi. Hai mươi năm sau tôi mới gặp lại nàng ở N, khi ấy nàng đang là một góa phụ nuôi bầy con bốn đứa một trai ba gái”.
“Chà, ngó bộ tình cũ không rủ cũng tới rồi”.
“Mối tình này chưa bao giờ cũ trong tôi. Tôi luôn nhớ đến nàng, ngồi một mình nhớ đã đành mà trong đám đông cũng vẫn nhớ, ngay cả sau khi lấy vợ, con cái dâu rể đề huề rồi mà tôi vẫn không nguôi thương nhớ nàng”.
“Xin lỗi, ông anh đang đọc tiểu thuyết à?”.
“Giống lắm hả?”.
“Chớ thời buổi này nói chuyện yêu đương nghe hoang đường quá”.
“Để cho ổng kể tiếp đi mà, sao cũng được, có tiếng người nói vẫn hơn”.
“Vậy mời chương trình đọc truyện nửa đêm về sáng bên bờ vực tiếp tục”.
Nhiều tiếng cười phụ họa, vẻ như sinh khí đang dần len vào từng người.
“Tất nhiên khi gặp lại và đến với nhau chúng tôi không nghĩ đó là ngoại tình mà vẫn cho là định mệnh. Cũng là một cách biện hộ thôi mà. Ngoại tình bao giờ cũng mang hàm ý xấu, vụng trộm, xà xẻo, tranh đoạt… Giữa hai chúng tôi và gia đình của hai bên hoàn toàn không có chuyện này. Dường như có một quy ước ngầm dù không ai nói ra, rằng phải sống tử tế hơn nữa sau những giây phút chiều chuộng cảm xúc cá nhân. Tôi vẫn đi đi lại lại về N bên nàng bất kỳ khi nào có điều kiện. Mọi thứ vẫn ổn cho đến khi đàn con của nàng trưởng thành, lập gia đình ra riêng…”.
“Ngoại tình là không được rồi, kiểu gì cũng không chấp nhận”.
“Chẳng lẽ phu nhân các hạ không biết?”.
“Sau rồi cũng biết, vì tôi và nàng qua lại đã hơn 10 năm nay”.
“Ôi, vậy là tan cửa nát nhà rồi”.
“Không. Vợ tôi vẫn yêu quý nàng. Bi kịch đến từ phía khác”.
“Cũng lạ. Nhưng những chuyện ngoại tình thường có kết thúc chẳng mấy vui vẻ”.
“Chúng tôi không kết thúc. Chỉ là… không ai ngờ được bốn đứa con của nàng lại quay ra tranh chấp tài sản chung. Thỉnh thoảng nàng cũng tỏ ý chán nản muốn buông xuôi hết và đi đến một nơi nào đó thật xa để sống an yên, và tôi như lâu nay vẫn sẽ đồng hành với nàng bằng cách nào đó. Chúng tôi muốn trở thành những ông bà lão bên nhau”.
“Cũng dễ mà, làm di chúc phân chia tài sản xong rồi tự lo cho bản thân mình thôi”.
“Di chúc đã công bố”.
“Ủa”.
“Toàn bộ tài sản của nàng được chuyển cho đứa con trai, ba đứa con gái không có gì cả”.
“Vậy là sao?”.
“Tôi cũng không biết vì sao, tôi bỏ hết mọi chuyện để lên chuyến xe này khi chưa kịp nghĩ ra điều gì cả”.
“Chẳng lẽ ông mong đợi gì khác ở tờ di chúc?”.
“Tôi với nàng trên danh nghĩa là bạn thân, mong đợi gì chứ? Nhưng… bằng mọi giá tôi phải có mặt cạnh nàng ngay sáng hôm nay, nếu trễ thì… Tôi không tin chuyện vừa xảy ra, có nằm mơ cũng không nghĩ ra… Mới hôm trước chúng tôi còn gọi video call cho nhau”.
“Xin lỗi, chuyện thừa kế nhà người ta mà làm ông khó ở sao? Sao ông nói là phải có mặt ở N trước bảy giờ để chia tay?”.
“Các người nghĩ gì vậy? Tôi đã nói gì sai sao? Tôi muốn gặp nàng lần cuối, chỉ vì… sau bảy giờ sáng nay nàng sẽ vĩnh viễn biến mất. Vô lý thật, đúng không?”.
“Trời”.
“Tôi không tin, tôi phải được tận mắt nhìn nàng, chạm vào nàng. Tại sao nàng lại chọn cách này chứ?”.
“Chọn là sao? Chẳng lẽ…?”.
“Nàng đã bỏ lại tất cả để ra đi một mình. Quá tàn nhẫn. Quá sức vô lý. Hai chúng tôi đều là bác sĩ, không ai từng có ý nghĩ như vậy. Không thể có chuyện này được”.
Không khí chùng xuống ngay tức khắc. Mưa tạnh từ bao giờ. Cảm giác bất an dường như đang tăng dần. Màn đêm như tối và dày hơn.
“Kiếp người. Sao lâu quá không thấy ai quay lại ta? Mới đó mà ba giờ sáng rồi”.
“Hay chúng ta kéo nhau đi luôn? Chẳng lẽ cứ ngồi bó gối ở đây”.
“Ở đây đang yên ổn mà đòi bỏ đi đâu, ráng đợi đi. Biết khúc đường đèo phía trước có thông không”.
“Lạnh quá, ai có chuyện gì nóng nóng không?”.
“Còn cô này, vì sao cô có mặt trên xe?”.
Người được hỏi vốn kiệm lời từ nãy giờ, thu mình lắng nghe trong chiếc áo hoodie trùm kín đầu.
“Tôi đi công việc đột xuất nên không có lựa chọn nào, mà cũng không có gì đặc biệt. Hay tôi kể một chuyện khó nói được không? Là tôi cũng vừa nghĩ ra, vui thôi…”.
“Được, được, kể đi. Cho vui nghen”.
“Cái cảm giác đứng bên bờ vực không biết tai họa ập tới lúc nào như bây giờ, nói thật, ai cũng phải trải qua một vài lần trong đời. Những lúc phải đối diện nó thì hình như những gì trước đây mình hay tự vấn đúng sai dường như vô nghĩa. Nên tôi muốn nói ra một lần chuyện này”.
“Là tự thú sao?”.
“Tùy mọi người nghĩ vậy”. Người đàn bà trong chiếc áo hoodie cười nhẹ. “Ở đây có hai đấng nam nhi nghe chuyện chắc phiền đó, nhưng thôi, nghe qua rồi bỏ giùm tôi. Hoặc cũng có khi tôi quan trọng hóa vấn đề quá”.
“Bà chị rào đón chi nhiều, ở đây có ai biết ai đâu. Chưa kể là tan hàng rã đám bất cứ lúc nào đây”.
“Phải, bên bờ vực mà…”.
“Chuyện này chỉ là chuyện tình một đêm theo cách gọi của chúng sinh nên thường thì chẳng mấy ai muốn nhớ lại hoặc quan tâm kể lể. Nhưng với một phụ nữ truyền thống thì lại lớn chuyện. Tôi vẫn thường được nhận xét là hiền, ít nói, trong sáng. Có lẽ do tôi khá vô tư và chưa bao giờ nghi ngờ dò xét thiện cảm người ta dành cho mình là thật hay giả, vì thật ra điều đó không mấy ảnh hưởng đến đời sống tình cảm cá nhân nên yêu thì cảm ơn mà ghét thì cũng kệ. Vả lại, quan trọng tôi không phải mẫu đàn bà đẹp. Trong những buổi tụ hội xa lạ mà có nhiều phụ nữ thì bao giờ tôi cũng bị trụt lại đằng sau, nếu có được sự chú ý của ai thì vì đó là những người đã từng biết về tôi ít nhiều.
Lần đó tôi cùng ở trong đoàn đi công tác với B. Trước đó B và tôi chỉ là mối quan hệ sơ giao, không thân cũng chẳng lạ. B quảng giao, bặt thiệp, mạnh mẽ. Về mặt chuyên môn thì tôi và B đều có vị trí riêng. Đêm cuối của chuyến công tác tôi không hề ngần ngại vui vẻ cùng đi uống nước riêng với B, anh ta ôm hôn tôi nồng nhiệt trong bóng tối. Lúc đó tôi cũng kịp nghĩ, mình không phải là gu của anh ta, chuyện này chẳng có ý nghĩa gì hết, mình chẳng có chút cảm xúc nào. Nhưng không có cảnh xô ra và tát vào mặt gã đàn ông như trong phim. Đã nói là tôi hiền và không muốn nghĩ xấu về người ta”…
“Chà, thấy sai sai rồi đó”.
“Thôi cho qua cái vụ hôn ẩu đi, coi như va quẹt. Mà chuyện chưa kết thúc đúng không?”.
“Đúng vậy. B đưa tôi về lại nơi lưu trú của cả đoàn, đẩy tôi vào phòng của y ta. Tôi xin cam đoan, trong bất kỳ mối quan hệ thể xác nào giữa hai người trưởng thành mà nếu người phụ nữ không đồng ý dù chỉ một chút thì cũng khó có cái gọi là cưỡng đoạt. Nên tôi không bào chữa cho hành vi của mình.
Chuyện sẽ chẳng có gì sau khi tôi nhanh chóng rời khỏi phòng y ta, và nhủ thầm sẽ vứt hết ra khỏi đầu những hình ảnh liên quan đến B. Tôi nghĩ, B cũng sẽ xóa bỏ nhanh như vậy sau khi nuốt trọng một món ăn mà chưa kịp nhấm nháp. Đọng lại trong tôi chỉ là chút ít tủi hổ, nhưng tôi đã tha thứ cho mình rồi.
“Còn B thì sao?”, một giọng nữ rụt rè cất lên sau khi người kể dừng lại độ mươi giây.
“Thì nói rồi đó, cùng quên ngay thôi”.
“Mỗi khi tình cờ chạm mặt tôi ở đâu đó, giữa chốn đông người, B đều tìm cách chạm vào tôi như ra hiệu nhắc nhớ, hoặc cào vào lòng bàn tay khi bắt tay nhau, hoặc vịn vai và bóp nhẹ khi tới bàn tiệc mời nâng ly, hoặc nháy mắt cười cợt. Tôi đã rất khổ sở vì điều đó. Mãi cho đến giờ phút này, tôi mới ngộ ra. Sự tủi hổ phù phiếm, sự bỡn cợt nhạt nhẽo. Kể từ nay tôi sẽ coi anh ta như một thứ tai nạn mà lỗi là do mình bất cẩn, còn B nghĩ gì tôi không quan tâm”.
“Một tai nạn do mình bất cẩn, vết thương đó sẽ chóng lành”.
“Cũng mất khá lâu đó, không dễ đâu. Cám ơn mọi người đã lắng nghe”.
“Phục chị, chuyện vậy mà kể lại nhẹ như bông”.
“Thì ai đó mới nói, chuyện kể bên bờ vực mà”.
“Tôi cũng có một tai nạn còn tệ hại hơn cả chị ấy, nhưng…”.
“Thì trong đời ai chẳng từng, nhiều khi sống để dạ chết mang đi…”.
…
“Trời sắp sáng rồi, mọi người ơi có nghe tiếng gì không…”
Từ trên những đống đất đá đổ nát ngổn ngang phía xa xa kia xuất hiện nhiều ánh đèn pin, có cả tiếng ì ì của xe cơ giới. Ai nấy vùng dậy vẫy tay reo hò, tiếng khóc tiếng cười nhốn nháo.
“Sống rồi bà con ơi, sống lại thiệt rồi…”.
“Hoan hô bác tài, hoan hô người anh em, hoan hô…”.
“Trời ơi giờ tui mới dám khóc nè…”.
“Chúc mừng năm mới đi mọi người ơi, chúc mừng năm mới…”
“Chúc mừng, chúc mừng…”
Đội cứu hộ đã mở được lối đi để đưa người ra khỏi vùng sạt lở. Bên kia đã có xe chờ sẵn để nối tiếp chuyến đi. Ai nấy hăm hở tháo chạy. Trời vẫn chưa đủ sáng để tỏ mặt người. Phải thoát ra khỏi nơi này càng nhanh càng tốt.
Nên sẽ không biết được ai là chủ nhân của những câu thoại trong đêm bên bờ vực, tất cả rồi sẽ trôi vào lãng quên…
Còi tàu kéo những hồi dài dồn dập. Có ai đó kéo áo cô đứng lại với lời mắng sa sả: Điên à! Tàu sắp qua mà còn ào tới. Định tự tử à. Người đâu mà mà yếu đuối quá. Tưởng chết là xong ư.
Cô đứng lại như cái bong bóng đang bay vướng phải hàng rào. Lòng rỗng toác. Mình tỉnh hay điên. Vẻ xinh xắn tươi rói thanh tân của cô đâu rồi. Chiếc lá vàng vô tình lả tả ướt mèm chao xuống đất. Gương mặt cô nhòe nước. Nước mắt quyện với mưa phùn làm thành từng dòng xối xả.
Đoàn tàu rầm rập vút qua. Những toa tàu giống nhau như những hộp diêm đặt khít kia có đựng những người có tâm trạng giống nhau không nhỉ? Tàu sắp cặp ga Hàng Cỏ, ai xuống tàu rối bời tâm trí, ai hồ hởi mừng vui hội ngộ.
Cô bước đi những bước đi vô định, thất thểu. Năm năm yêu nhau cho một lời dứt khoát vô cảm đến thế ư. Anh có thể tiễn cô bằng câu: Em về đi. Sự lạnh lùng ráo hoảnh. Tắt nắng ngày thì đến đêm sương lạnh, sao cô không hiểu triết lý giản đơn ấy sớm hơn.
– Này cháu! Sao khóc sướt mướt thế. Ngồi lại uống cốc trà nóng cho ấm cháu.
Cô sững người. Sự cô đơn trong vòng đời vòng người được đánh thức bởi lời mời ấm tình của bà cụ hàng chè trên vỉa hè.
Cô đón cốc nước trà từ tay bà mà đầu óc vẫn còn tiếp tục mụ mị. Hà Nội chuyển mùa. Hà Nội sắp tết. Lòng người cũng chuyển. Hà cớ gì mà cô phải thổn thức. Cớ gì mà cô phải đau khổ dường này.
Cô lơ đãng ngó xuống đường. Vội vội dòng xe, lũ lượt dòng người với cả sự hối hả, tất bật và như vẻ tập trung lắm lắm vào phía trước không quên cẩn thận dè chừng phía sau qua gương chiếu hậu. Cô tìm trong những chiếc xe vút qua, những chiếc khẩu trang bịt chặt một dáng người quen. Mưa mãi cũng phải nắng. Nhẽ nào?
Cô hớp một ngụm trà. Chát! Đắng. Đã bao giờ cô uống thứ nước vàng sệt như thế đâu.
– Lúc đầu chưa quen cháu sẽ thấy vị chát, đắng. Uống vài ngụm sẽ thấy ấm bụng và ngọt ngọt nơi cuống họng đấy. Cơ vài bận là thích ngay cháu ạ. Bà cụ vừa cười khoe hàm răng đen nhấp nhánh vừa thong thả quảng cáo với cô.
Cô hớp thêm một ngụm nữa. Nước mắt vẫn vòng quanh mi. Vẫn đắng! Vẫn chát. Ơ nhưng sao đã nghe ngòn ngọt nơi cuối giọng. Uống cạn cốc trà cũng là lúc những giọt nước mắt của cô rụng hẳn xuống. Vài cái chớp mắt, mi mắt cô bỗng ráo hoảnh như lòng anh, từng sợi mi lại cong cong nhún nhẩy. Hình ảnh anh lướt nhẹ qua mắt cô, rồi nhòa nhoẹt mờ xa. Cô nhìn bà cụ, chiếc áo bông to sụ, mũ len đội đầu, khăn len quàng cổ, hơi nóng từ cốc trà bà cụ vừa rót phả lên như dải lụa sương bay bay.
Bà cho cháu xin cốc nữa ạ!
Bà cụ lại cười! Nụ cười hồn hậu quá. Cô nhớ bà nội cô. Giá lúc này đây cô được gối đầu lên lòng bà để được vuốt ve và cả câu mắng yêu: Bố cô, chỉ được cái hay làm nũng.
Cốc thứ ba! Vị chát không còn nữa, vị đắng cũng biến mất. Cô chỉ thấy rặt là ngọt, thấy dễ chịu. Dưới lòng đường dòng xe máy, xe ô tô vẫn dung dăng ngược xuôi và có vẻ dày lên như mắc cửi.
Thêm vài người ghé lại uống trà. Cô vân vê cốc trà nóng trong tay và ngắm họ. Họ ngồi xuống như những vị khách quen. Hớp ngụm đầu tiên, mỗi người một vẻ, người thì đăm chiêu lư tự, người căng thẳng nhíu mày, người mặt buồn rười rượi, người hâm hâm như đang bực tức điều gì đó…
Sau ba lượt rót. Gương mặt họ như giãn ra. Niềm vui lại lấp lánh trong ánh mắt họ. Họ trở lên linh hoạt hơn, họ nhìn ngó xung quanh, có người lại mủm mỉm cười một mình.
– Năm nay có vẻ Tết về sớm hơn mọi năm bà nhỉ? Người đàn ông có bộ râu quai nón hỏi với vẻ đon đả.
– Hà Nội năm nào chả tết sớm so với những nơi khác.
– Ừ. Đúng rồi. Hà Nội là thủ đô, là nơi tập kết các nguồn hàng… thì tết nhộn nhịp sớm nhất là hẳn rồi. Một người hào hển nói.
– Từ sáng đến giờ mời mỏi mồm mới có hai cuốc xe, được chẵn ba mươi nghìn, vừa nghiến một đĩa cơm, ăn một mình thì cả nhà tối nay nhịn. Cháu ghé xin bà hớp trà lấp bụng cái đã. Một anh chừng khoảng ngoài bốn mươi, thân hình gầy lỏng khỏng vừa chìa cốc cho bà cụ vừa nói.
– Thì anh cứ uống. Bữa nào khớ thì giả cho già cũng được mà. Khổ. Bọn ăn không hết, người lần không ra. Bà cụ chép miệng.
Lời mây sâu mũm! Cô nhớ lại những lúc cô sôn sốt cùng anh. Cũng từ quê ra với chiếc xe ôm liếm bãi, anh chở cô đi làm mỗi tối. Sự thật thà, tháo vát tốt bụng cộng với lam làm chịu khó đã đem lại cho cô thu nhập ngày một khá hơn. Thu nhập của cô tỷ lệ thuận với sự đổi đời của anh. Anh đã được cô bì bõm chăm chút nuôi bốn năm đại học, rồi xin việc làm. Những tưởng công thành danh toại cô cũng rỡ ràng duyên phận. Ai ngờ.
– Sao tiền ở đâu mà người ta mua lắm thứ thế bà nhỉ? Một cậu có vẻ thư sinh cắt ngang dòng suy nghĩ của cô.
– Cậu quan tâm người ta làm gì? Có tài thì vắt nắng gọi mưa được mà.
Cô ngước nhìn người đàn ông có bộ râu quai nón. Anh ta không có vẻ gì là lam lũ. Hình như dưới cổ áo da ngồn ngộn cọng dây chuyền vàng to đùng thì phải. Nhìn những ngón tay trắng hồng của anh ta thì mới thấy rõ hơn sự đối nghịch với những người đang xúm xít uống trà.
Cô định nhắc ánh mắt đi chỗ khác thì bị anh ta nhìn xoáy, ghìm cứng lại. Anh ta tinh nghịch nheo nheo mắt, ra vẻ như đo ván thách đố cô.
Chảo lửa lòng cô đã nguội. Cô đáp trả anh ta bằng một luồng lạnh sắc. Anh ta nhún vai và khẽ mỉm cười.
Cô chìa chiếc cốc trước mặt bà cụ: Cho cháu xin cốc nữa.
Cô nhoẻn miệng cười. Ánh mắt lại giao với cái anh chàng râu quai nón. Kỳ cục.
– Tôi xin phép được thanh toán hiệp nước này nhé. Râu quai nón lại lên tiếng.
Cậu thư sinh xuýt xoa: Ôi! Quý hóa quá. Anh cứ tự nhiên ạ.
Anh chàng gầy lẩm bẩm: Một ngày phúc phận. Trời không khép nắng.
Cô mấp máy môi định phản ứng thì anh chàng râu nón chìa cho cô chiếc danh thiếp: Đừng buồn nữa. Cẩn thận tránh tàu, xe. Sớm gọi cho anh nha.
Nói rồi anh chàng đi về phía bên kia đường, mở cửa ngồi lên chiếc xe hơi màu mận chín sang trọng. Chiếc xe vút đi.
“Trời không khép nắng”. Cô lẩm bẩm lời anh gầy. Ngó chiếc danh thiếp cũng sang trọng như chiếc xe rồi bỏ vào túi xách. Mây lãng đãng trên nền trời đang xám dần. Nắng ở đâu? Bình minh của buổi sáng đã là quá khứ. Tương lai là buổi sáng tiếp theo. Ừ. Ông trời cứ ngày rồi đêm. Một chu kỳ bất tận. Nắng do người tự thắp thì cháy mãi. Có thể! Cô lại mỉm cười. Dường như ngụm nắng lạc bầy đã làm tổ trong mắt cô.
Cô rút hai trăm ngàn trong ví nhét vào túi áo anh gầy: Nhờ anh mua cân giò cho các cháu ăn.
Hôm rồi, tí nữa thì Diên chết mất xác ở đường tàu, đoạn chạy qua thành phố ngay gần cơ quan mới của Diên. Người gác barie tá hỏa vì sau khi hạ chắn cả hai bên đường đến lúc ngoảnh lại vẫn thấy một cô gái đứng lù lù bất động ở giữa đường ray.
Lúc có người túm tay lôi nhanh Diên chạy ra thì vừa hay tàu chạy đến. Thiên hạ mắng Diên dữ quá, người thì bảo tiếng còi tàu to vậy sao không nghe thấy? Tiếng mọi người gào thét khản cổ sao không nghe thấy? Nếu có bị điếc thì cũng phải nhìn thấy tử thần đang lao đến chứ? Người ác mồm ác miệng lại bảo muốn chết thì đi về nhà mà chết chứ sao ra giữa đường ăn vạ để tai họa lây người khác.
Đến tận lúc ấy Diên như mới sực tỉnh, ngoảnh lại chỗ đường tàu thấy lạnh sống lưng. Lơ ngơ không hiểu vì sao mình vừa đánh rơi tính mạng giữa đường ray xe lửa. Như thể Diên đã được lập trình và ai đó vừa tiện tay bấm nút cho Diên bất động. Rõ ràng Diên có nghe thấy tiếng còi tàu, nghe thấy cả đám đông hoảng hốt kia nhưng Diên đã mất hẳn sự kiểm soát của chính mình. Mọi ý niệm về thực tại, về sự sống và cái chết chỉ còn là một khoảng trắng. U mê như thể vừa bước ra từ khu vườn phép thuật. Diên cứ thắc mắc với Vy rằng có một kẻ giấu mặt nào đó đã đánh cắp tâm trí của cô
Vy ngồi nghe Diên kể, không hề ngẩng mặt lên một lần. Vy miệt mài chơi với con lật đật, xô nó ngã rồi nhìn nó tự đứng lên. Vy lúc nào cũng vậy, thích thú những món quà lặt vặt như một đứa trẻ vẫn còn thiết tha tin vào cổ tích. Như thể lúc Phong bỏ đi không một lời từ biệt, Vy gọi đến nóng máy vẫn không liên lạc được, lúc về phòng lục tìm thấy búp bê Atrioshka, Vy đã hồn nhiên khi nghĩ rằng đó là một trò chơi đầy thú vị do Phong sắp đặt. Rằng khi mở từng con búp bê rỗng ruột được xếp lồng vào nhau chắc chắn sẽ có một bất ngờ nào đó. Biết đâu trong con búp bê bé xíu cuối cùng sẽ là một chiếc nhẫn đính hôn, kiểu lãng mạn này Vy đã từng thấy trong phim Hàn Quốc. Thật kỳ diệu làm sao, trong đó đúng là có một chiếc nhẫn đính đá, hẳn là rất đắt tiền, hẳn là anh đã để lại món quà này rồi lặng lẽ đi công tác. Vy đặt chiếc nhẫn vào chỗ cũ, mỉm cười nghĩ đến ngày anh tự tay đeo cho nàng. Thậm chí Vy đã tính xa xôi rằng phòng nhiều đồ đạc thế này không biết phải vận chuyển thế nào. Lấy nhau rồi thì phải chuyển về nhà anh chứ, chắc là sẽ nhớ căn phòng hai người từng sống chung này.
Nên lúc Diên kể về vụ suýt chết của mình thì ý nghĩ của Vy còn giăng mắc đâu đó trong ngăn bàn. Chiều Vy đi làm về cái
ngăn bàn trống không, con búp bê Atrioshka đã biến mất không vết dấu.
Chuyện của Diên, Vy bảo:
– Hình như lúc đấy có một linh hồn đi qua cậu. Khi hai thế giới âm dương nhập vào nhau thì mọi thứ sẽ ngưng lại trong khoảnh khắc. Hoặc là cậu đã mất nhận thức như một kẻ mộng du. Liệu có khi nào người ta mộng du ngay cả khi đang thức không Diên nhỉ?
Còn chuyện của Vy thì Diên phán xanh rờn:
– Hẳn là thằng cha đó lúc cuốn gói ra đi đã quên mất con búp bê. Nhưng tiếc làm gì vì nó cũng đâu dành cho cậu. Thích thì… bớt lương ra mà sắm.
Trong con mắt của bạn bè thì Diên lúc nào cũng vậy, nhẹ nhàng đặt mọi chuyện đúng vị trí của nó. Không ầm ĩ, không khua chiêng khua trống, chuyện gì đến thì thản nhiên đón nhận, chuyện gì đi thì cho qua. Chẳng mấy khi thấy Diên bận bịu suy nghĩ về điều gì đó quá nhiều ngoài cái việc đứng lơ ngơ giữa đường ray khi tàu lao đến. Nhưng sau này cũng không còn thấy Diên nhắc đến chuyện ấy nữa tựa như đã quên lãng thật rồi. Bạn bè Diên đa phần đã chồng con đề huề, lúc sướng không thấy khoe nhưng lúc khổ thì đều đổ lên đầu Diên cả. Đứa bảo Diên là cái thùng rác, đứa bảo Diên là cái thùng nước gạo. Dù bận mấy, đứa nào gọi Diên cũng nghe, than vãn gì Diên cũng kiên nhẫn đến cùng. Chuyện mẹ chồng nàng dâu thì muôn thuở rồi, thỉnh thoảng cũng dính ca khó đỡ khi đứa bạn chót không hợp gu với bố chồng. Chuyện vợ chồng bạn cãi nhau như cơm bữa mà mười đôi vợ chồng thì cũng quẩn quanh có từng ấy lý do. Chỉ tội Diên nghe than vãn từ cái hôm bạn mới manh nha giận chồng trong tâm tưởng đến khi bạn ký xoẹt vào tờ đơn ly hôn đặt trước mặt chồng. Ấy vậy mà có đứa nào dám bỏ chồng đâu. Diên tính khoảng thời gian bạn hạnh phúc bằng số ngày bạn quên bẵng việc gọi điện cho Diên. Nhiều lúc Diên nghĩ thà không nghe thấy giọng bạn còn hơn, đàn bà sao mà hay tủi, chuyện bé cỏn con cũng gọi bảo “chắc tao đi chết đây mày”.
Vy cũng từng có lần gọi cho Diên vào giữa đêm chỉ để hỏi:
– Uống bao nhiêu viên thuốc ngủ thì mới chết Diên ơi?
Diên mắt nhắm mắt mở bảo bạn:
– Ờ…ờ chờ tí để Diên tính. Chắc là khoảng nửa lọ to thì sẽ chết. Nhưng khi chết sẽ giãy giụa và sùi bọt mép nhìn thấy gớm lắm. Đổi cách khác đi.
Vy thở dài thườn thượt:
– Ờ! Hỏi vậy chứ đã mua đâu. Hiệu thuốc ngay đầu ngõ mà. Muốn chết lúc nào mà chả được.
Đấy là sau cái hôm Vy phát hiện mất con búp bê Atrioshka thì gặp Phong dắt tay một ả da trắng tóc đen lượn lờ siêu thị. Nhưng Vy đâu dám chết, vẫn lặng lẽ co ro trong nỗi tủi buồn về một chiếc nhẫn đính hôn mường tượng vô hình. Cho đến khi Vy biết mình đang mang giọt máu của Phong thì Diên nhận được cuộc điện thoại lúc đang ngồi chờ vá xe giữa đường quốc lộ nắng chang chang, hun hút bóng người. Vy bảo:
– Chết cách nào bớt đau nhất, Diên ơi?
Diên phì cười, nghĩ đến cái chết mà còn sợ đau và xấu như Vy thì hẳn vẫn còn yêu đời lắm, chưa thể nào chết được. Nhưng Vy đã suy sụp thật, Diên về thành phố sau chuyến công tác, ghé qua thấy bạn xanh xao bên cửa sổ, giơ bàn tay lên ngắm một chiếc nhẫn vô hình. Diên xót xa bạn, đứng tần ngần ngoài cửa ngó lặng thinh rồi tiến lại gần tháo chiếc nhẫn từ tay mình đeo vào ngón áp út của Vy.
– Tưởng gì chứ thích nhẫn thì có nhẫn. Ở đời sao cứ để chiếc nhẫn mỏng manh ấy nó trói buộc mình. Lúc còn người thì trói buộc hôn nhân, lúc mất người thì trói buộc ký ức. Sống thế mệt lắm Vy ơi. Thôi! Bỏ đi. Không đáng.
Một hôm Vy tìm đến chỗ Diên không hẹn trước, như thể tìm đến gã người tình để bắt đền cái thai trong bụng đang không biết giải quyết ra sao. Diên chở Vy đến trước cổng Bệnh viện phụ sản, hai đứa đứng tần ngần hồi lâu rồi lại chở nhau về. Vy ngồi sau xe, gục đầu vào lưng bạn lê thê một quãng đường đời. Diên bảo sống được khúc nào hay khúc ấy, đừng nghĩ đường dài mà nản. Ừ thì cũng có đứa nào dám chết đâu Diên…
* * *
Diên sống một mình trong căn phòng trọ ẩm ướt bốn mùa. Cái trần bằng nhựa thấp tè là đại lộ của bầy chuột nhắt cắn nhau chin chít suốt ngày. Ngày mưa nước dột tứ tung toàn mùi nước đái chuột, Diên cầm cuốn băng dính to đứng giữa nhà nghiêng đầu chầm chậm xoay một vòng tròn để phát hiện những chỗ dột, bịt kín bằng băng dính. Nhưng nước chảy theo kẽ tường thì đành chịu, giường gần tường, đêm Diên không mắc màn để nghe mưa li ti bắn trên mặt như một bản nhạc mát lạnh đầy thích thú. Vy qua ở với Diên một tối hỏi bạn sống thế này cũng sống được sao? Ra trường bao lâu rồi sao vẫn không có gì? Độc hai chiếc tủ vải chuột cắn tứ tung được chằng tạm bợ bốn góc, cái giá để đũa bát đã mốc meo vì những chuyến đi dài. Vy cười bảo sống gì mà nghèo hơn cả nhà thơ. Diên lăn một vòng quanh giường, quận tròn người trong chăn bảo sống thế lại hóa hay, muốn đi đâu cứ bỏ nhà mà đi không cần khóa cửa, chẳng lo mất mát. Vy nằm im, nhìn lên trần nhà hồi lâu thấy thảng thốt buồn.
– Diên này. Chúng ta cứ đi tìm cái bản ngã mà không biết rằng chúng ta chẳng có cái tôi nào hết. Đến mình mà cũng không phải là của mình nữa, mà là của cái đám đông ngoài kia. Chọn mua một cái áo mới cũng vì người yêu mình thích. Mua một thỏi son cũng chỉ vì màu son ấy thịnh hành. Chúng ta lao vào kiếm tiền vì không muốn thua kém bạn bè. Ngay cả chuyện hôn nhân hệ trọng mà một cô gái lấy chồng giàu cũng chỉ để thiên hạ lác mắt chứ chắc gì đã là yêu. Đời nhảm nhí thật.
– Vậy mới bảo cậu bớt nghĩ ngợi đi. Sống được khúc nào hay khúc ấy. Sống được khúc nào xong khúc đấy. Rồi thôi. Mọi thứ vốn vô cùng lắm. Nghĩ ngợi mà chi…
Diên nói như hôm trước chưa hề lủi thủi đi trong đêm mưa hơn trăm cây số. Đường về nhà thì xa mà quãng đường quay trở lại thành phố càng hun hút. Mẹ trách vì Diên không dang tay ra bao bọc nên mới để em đi. Em gái Diên hai bảy tuổi, không còn bé bỏng với đời nhưng vẫn luôn bé bỏng trong lòng mẹ. Em thích vẽ, say mê và nổi loạn. Thứ sóng ngầm trong em đẩy gia đình bao phen điêu đứng. Lần nào cứ có chuyện mẹ đều gọi Diên về, dù nửa đêm hay mờ sáng. Như thể cuộc sống của Diên chỉ là chờ đợi và gánh vác. Như thể Diên là một thằng con trai chứ không phải đứa con gái chân yếu tay mềm. Hình như với mẹ thì Diên không được quyền bé bỏng. Diên chống đỡ mọi thứ đến mệt nhoài nhưng vì Diên không than nên người ta không biết Diên đau.
Cửa nhà cứ trống trải dần đi, trong lòng Diên cũng vậy. Em bỏ đi lần này vì số tiền nợ khổng lồ đổ vào các cuộc vui quá lớn, Diên không thể cáng đáng được hơn. Nhưng mẹ không hiểu. Mẹ chỉ hiểu rằng mẹ mất đi đứa con gái út khi không còn thấy nó dăm ba bữa ghé qua nhà, dẫu chỉ là ghé qua để xin tiền. Mẹ nói Diên thấy em ngã mà không nâng, thấy em nhấp nhô giữa sông mà không lao ra cứu. Mẹ không hiểu được những mất mát trong Diên, thứ mất mát vô hình. Thiên hạ ai cũng biết Diên kiếm từng đồng khó khăn đến mức nào, chỉ mẹ là luôn nhìn thấy Diên dư dả. Nên mấy đêm phơi mặt đón mưa bắn tung tóe trong nhà Diên đã chua xót nghĩ “Ừ! Sao mình giàu vậy mà không chịu cứu em? Món nợ nặng lãi mấy trăm triệu của em đối với mình có là gì đâu mà không cứu?”. Câu hỏi ấy nghẹn lại trong cuống họng. Em bỏ đi nhưng vẫn ở trong lòng mẹ, chỉ có Diên hiện hữu ở đây mà hóa vô hình. Hôm Diên về mẹ đã không thèm ngẩng lên nhìn Diên dù là một lần. Diên có hỏi vài câu nhưng mẹ vờ không nghe tiếng. Rồi thì Diên rã rời mò về tựa lưng vào phố giữa đêm mưa. Nếu có cuộc điện thoại nào của bạn Diên vẫn sẽ nghe. Nếu bạn kêu chán đời đòi chết Diên sẽ bảo đời còn nhiều niềm vui nghĩ sao mà đòi chết?
Dạo này Diên cảm nhận thấy cơ thể mình có điều gì bất ổn, đôi lúc Diên không thể kiểm soát được cử chỉ và hành động của mình. Diên hay làm rơi vỡ đồ như thể bỗng chốc cơ tay không còn cử động được, nó buông thõng, bỏ mặc sự đổ vỡ xung quanh. Diên bây giờ lắm lúc như trẻ con, muốn nói mà miệng ngọng nghịu không nói được. Diên mường tượng đến lúc đang trao nhẫn cưới cho chú rể mà vô tình buông thõng, đánh rơi, nhẫn cưới lăn lông lốc ở một xó nào đó hoặc dưới chân quan khách ngồi kín dưới hội trường. Chú rể sẽ luống cuống, nhà trai sẽ thở dài, nhà gái thì chột dạ, người dưng thì lắc đầu xì xào xem như một điềm báo chẳng lành, rơi nhẫn trong ngày cưới chuyện đâu có bỡn. Rồi Diên nghĩ xa xôi hơn, lỡ mà sau này có con, Diên cũng sẽ làm rơi con như từng làm rơi cái cốc cái thìa. Rồi lỡ cũng ngọng líu lưỡi khi muốn gọi tên con. Lỡ có lúc nào đó tuột tay con giữa đám đông rồi cất tiếng gọi cũng không thể nữa thì biết phải làm sao? Mấy câu hỏi đó lặp đi lặp lại trong đầu Diên, ngay cả điều đó cũng khiến Diên thấy mình đang lẩm cẩm. Thật chẳng giống Diên chút nào, mọi thứ đang vuột khỏi tầm kiểm soát.
Diên không muốn thở than mấy chuyện đó với ai. Thói quen chia sẻ cảm xúc Diên đã đánh mất kể từ khi Cương rời bỏ thế giới này. Diên ôm trong mình nỗi ân hận đã không ở bên cạnh Cương những giây phút cuối cùng. Tòa soạn giao đề tài và bắt Diên đi, trong khi đó Cương đang chiến đấu để giành giật sự sống sau một vụ tai nạn tàn khốc giữa đêm khuya. Mà đêm đó hai người giận nhau, như mọi bận Cương lại lang thang ngoài đường tựa một cái bóng đơn độc. Diên từng vô tâm lắm, vì vô tâm mà mất người thương. Lúc người ta đưa Cương đi cấp cứu, Diên phi đến hiện trường thấy trên xe còn treo lủng lẳng mấy quả dứa to chín vàng Cương đã mua ở chợ đêm, loại quả mà Diên vẫn thích. Lần nào giận nhau cũng vậy, anh như con cò con vạc giữa đồng đêm, cảnh sát cơ động nhiều lần bắt lại kiểm tra, cũng có hôm anh yên vị ngồi buông thõng chân ngắm phố đêm trên một dải ngăn cách làn đường nào đó. Đấy là nghe Cương kể lại vậy chứ mấy lần đó Diên vẫn ngủ ngon lành, sáng ra thấy trước cửa phòng túi hoa quả tươi ngon, ngái ngủ cười. Để rồi mấy năm qua không đêm nào Diên ngủ tròn giấc vì cái ý nghĩ tại sao mình đã từng nằm ngủ ngon lành trong những đêm anh lang thang thành phố? Tại sao đến giây phút cuối cùng Diên vẫn bỏ mặc mình anh? Diên đã sống vì cái gì? Vì cái gì?
Nên giờ giữa đêm bạn bè có gọi Diên nào dám không nghe máy. Mấy đứa cứ dọa chết oang oang như Vy thường lại sống rất dai. Đêm khóc ầm ĩ, than vãn đủ điều nói “tao đi chết đây” rồi ngồi tính tự tử bằng hoa hồng cho thơm, cho đẹp, cho kẻ đầu tiên phát hiện ra mình chết cũng thấy bớt xót xa. Ấy thế mà sáng mai lại tung tẩy ra chợ mua hoa về cắm đầy phòng, rồi chụp ảnh tung lên Facebook kèm dòng status “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui…”. Nhưng cái đứa gọi vào nửa đêm chỉ để kể mấy câu chuyện cười, khoe hôm nay mới mua váy hoa, tính cuối tuần này có khi làm chuyến du lịch đi Phú Quốc, hay giục Diên lấy chồng đi, đẻ con đi rồi tụi mình làm sui gia… Vui vẻ, hớn hở, tính toán xa xôi thế mà có khi sáng mai Diên chưa kịp tỉnh dậy thì tin dữ đã đến. Ngẩn ngơ hỏi “Ủa, sao nó nói muốn làm sui gia với tui mà?”. Cứ tưởng sau cuộc tiễn đưa từng người thương như thế rồi sẽ không còn nước mắt, rồi sẽ thấy đời nhẹ tênh. Nhưng Diên thì ôm trong lòng thứ tội lỗi đã thuộc về quá khứ. Cương đã về một thế giới khác, có thể đã bắt đầu một kiếp khác, có thể đã uống thứ nước Vong Tinh Thủy khi đi qua Quỷ Môn Quan để quên hết mọi chuyện ở kiếp này. Còn Diên… Diên có được uống thứ nước ấy đâu.
Bụng Vy lớn dần, mấy cái váy body ưa thích của Vy giờ thành đồng minh với ánh mắt soi mói của người dưng. Ai hỏi, Vy ngượng ngùng bảo dạo này hay ăn đêm lại chuộng đồ ngọt nên tăng cân ghê quá. Diên chở Vy đi siêu âm, Vy cầm tấm phim nhìn mầm sống bé bỏng trong cung lòng mình tự nhiên thấy đời chẳng có gì đáng sợ. Mai ai có hỏi về vòng hai bất thường, Vy sẽ can đảm bảo “Ủa! Có bầu mà, có bầu bụng không to mới lạ”. Những lần sau nữa Vy không cần đến chút can đảm nào hết, cứ tỉnh bơ mà đáp trả với đời như đó là chuyện dĩ nhiên. Vy vác bụng bầu về thăm nhà lúc sáng, tối đã thấy lao xe quay trở lại thành phố, gõ cửa phòng Diên đổ uỵch xuống giường, mắt ráo hoảnh hỏi Diên còn sữa hương dâu không, đói quá? Diên nhìn Vy hỏi có đau không? Vy lắc đầu cười, thu hai đầu gối, tựa cằm, tóc xõa, Diên quay đi vì không muốn nhìn thấy người khác khóc. Diên cũng biết, từ giờ Vy sẽ mạnh mẽ hơn, thứ sức mạnh đôi khi có thể hủy diệt chính con người ấy, cơ thể ấy. Giá mà Vy cứ hỏi “Cách chết nào đỡ đau nhất Diên ơi?” thì có lẽ mọi thứ sẽ nhẹ nhàng hơn…
Dạo này Diên có thói quen ngồi bất động, tay chân tê bì, có khi lịm đi trong một lúc. Tỉnh dậy nhớ ra mình đã mơ, những giấc mơ như nhiều mảnh vải vụn chắp nối tủn mủn, nhem nhuốc và nhàu nhĩ. Diên thấy cơ thể đang kêu cứu, tính đi khám bác sĩ mấy lần rồi quên. Vài lần quên như thế thành tháng thành năm, cơ thể như ngày càng suy nhược. Cũng có khi Vy đến chơi, Diên tính nói với Vy về những điều bất thường ấy nhưng ngôn từ mắc ngang cuống họng không bật ra nổi thành lời. Thứ gì cũng nen nén giấu trong tim lâu rồi thành quen. Thứ thói quen lười mở miệng. Thế rồi thôi.
Một ngày đẹp trời Vy lại ghé chơi. Vy nói nhiều nhưng Diên không nghe thấy rõ. Hai người ngồi quay lưng vào nhau chỉ vì Vy mải nhìn qua cửa sổ đầy nắng và nựng nịu con. Con Vy biết đâu lại chọn đúng ngày hôm nay để chào đời – Diên nghĩ vậy khi cơn nhức đầu dữ dội bắt đầu. Bỗng nhiên Diên muốn gọi Vy một tiếng thân thuộc nhưng lưỡi cứng lại không nói được dù Diên đã cố. Một khoảng trắng xuất hiện lớn dần bao vây lấy Diên. Có thể lại là một giấc ngủ tạm bợ. Diên mơ thấy ngày mai mình không thức dậy, mọi ký ức về sự tồn tại của Diên trên cõi đời này sẽ được xóa đi, không còn ai nhớ đến. Tất cả chỉ còn là một khoảng trắng mà thôi…
Lúc Vy rời mắt khỏi ô cửa, ngoảnh lại đã thấy Diên nằm ngủ, một giấc ngủ ngon lành. Chiều đó Vy đau bụng đẻ, một bé gái ra đời. Bé có đôi lúm đồng tiền rất xinh khiến Vy thấy nhớ Diên. Diên cũng có hai lúm đồng tiền như thế. Khi cười…
Những ngày cuối tháng 12 luôn là thời gian tất bật và rộn rã nhất trong năm..
.Đường phố được tô điểm bằng hai màu xanh đỏ, màu xanh của lá thông và màu đỏ thắm của những chiếc nơ đỏ màu ấm áp, những cửa hiệu chớp nháy đèn xanh đỏ, màu vàng vương giả và màu xanh dịu của sự luyến thương…Mùa Đông đang hiện diện khắp nơi …Tôi co ro trong giá rét , lạnh giá của tiết đông và nỗi lạnh tự tâm can của một người già xa xứ…
Tiếng nhạc réo rắt chập chùng phát ra từ các cửa hiệu làm nức lòng người đi mua sắm, những món quà được gói kín, trang trọng và xinh xắn bên những cây thông xanh tỏa hương thơm của lá, đã được chưng bày trong phòng khách của tất cả mọi gia đình, không khí ấm áp thiêng liêng của mùa đoàn tụ. Tôi cũng đã làm tất cả những công việc chuẩn bị cho mùa Giáng Sinh từ sau ngày lễ Thanksgiving như mọi năm.
Buổi sáng thứ bảy , một mình bên ly cà phê nóng, một chút hương thơm cho ấm lòng, phả hơi ấm cho quên chuyện bận bịu của năm ngày mệt nhoài bên công việc, khoát thêm mình tấm áo tôi bước ra vườn sau, những chiếc lá khô rơi vãi trên sân cỏ úa , cuống quít nhau vội vã cuốn xô của những cơn gió sang mùa, những chiếc lá vàng lá đỏ rơi rụng từ những ngày qua bây giờ đã biến thành màu nâu sẫm…
Tội nghiệp thay cho những chiếc lá khô, người ta thường tiếc thương cho những cánh hoa tàn….
Nhưng sao trong tôi vẫn muôn đời thương cho xác lá…có lẽ vì những chiếc lá xanh hiện hữu quanh tôi mỗi ngày nhiều hơn những bông hoa, tôi yêu màu xanh của đất trời, màu của biển, màu của gợi nhớ quê nhà và màu lá xanh của quê hương tôi, của nơi tôi đang sống, tuy màu lá xanh của quê tôi không tươi màu đậm nét như màu lá hoa ở nơi này, nhưng trong tâm tư tôi vẫn nhớ như in những sắc màu nơi quê cũ khi mỗi lần nhìn màu sắc ở đây, tôi lại nhủ lòng” màu sắc của quê mình vẫn đẹp hơn…”
Nhớ quắt quay thành phố Quy nhơn của những ngày tháng cũ xa mờ nhưng không phai trong tâm tư của người xa xứ.Những ngày bình yên của tuổi thanh xuân xa mờ bên căn nhà nhỏ thân thương ngày cũ…Thời gian qua nhanh quá…
Thiếu nữ mười bảy ngày nào…nay đã là lão bà “ngoài thất thập”…
Trở vào nhà …âm thanh của bài hát nào thật xa vắng…
Anh mong chờ mùa Thu
Tà áo xanh nào về trong giấc mơ
Màu áo xanh là màu anh trót yêu
người mơ không đến bao giờ…
( Thu Quyến rũ >>>của Đoàn Chuẩn và Từ Linh)
Với bao tà áo xanh-đây mùa Thu
Hoa lá tàn-hàng cây đứng hững hờ
Lá vàng từng cánh-rơi từng cánh
Rơi xuống âm thầm trên đất xưa…
(Gởi gió cho mây ngàn>>>ĐC và TL.)
Em còn nhớ – anh nói rằng
Khi nào em đến với anh
Xin đừng quên chiếc áo xanh
Em ơi, có ai ngờ đâu rằng :….
( Tà áo xanh>>>Đ C và TL.)
Những bài hát xưa cũ một thời tôi yêu thích và nghe mãi trong bao tháng năm mà chưa chán ,gợi nhớ về những ngày tháng cũ thành phố xưa….
Thành phố Quy nhơn của hơn năm thập niên đã xa mờ…từ lúc mới chập chững yêu mê những âm thanh trầm ấm và tìm mua những bài hát in trên những bìa nhạc của các nhạc sĩ thời bấy giờ cho đến khi tìm mua những tape nhạc cho vào chiếc máy cũ xì nhai đi nhai lại…cho đến khi có dịp được vào quán cà phê nghe những âm thanh ấm áp trong những máy móc được lựa chọn kỹ càng hơn, và bây giờ nghe trên youTube…hay tình cờ nghe bất chợt từ một ngõ nghách nào trong cuộc đời, vẫn thấy hay và đắm đuối
Lặng thầm nuốt trọn vào tâm tư những giai điệu mượt mà, những lời thơ ngọt ngào trau chuốt…ôi những âm thanh và tiếng ca lời hát của ca sĩ Hà Thanh sao mà ấm áp trong lòng người quá đỗi.
Tôi nhắm mắt mơ về những ngày qua…Phải chăng là tâm trạng của tuổi già luôn hồi ức về những kỷ niệm xưa cùng những hồi ức xa mờ trong dĩ vãng….
Ngoài khung cửa kiếng bây giờ đang phay pháy những bông Tuyết đầu mùa đang thả những bông tuyết dài mỏng manh xuống cây cỏ, phủ che những chiếc lá vàng nâu đang nằm chờ tuyết pha cho màu áo mới, tuy lạnh lẽo nhưng thật quyến rũ diệu kỳ..
.Màu nâu của lá khô được phủ che bắng màu trắng bạch , loang loáng những sợi dài sợi vắn của tuyết rơi đều…cảnh đẹp như trong mơ..
.Ôi mùa đông và những sợi tuyết rơi như tơ vương tràn lối mộng…
Ngày mai sẽ là một ngày hội ngộ của gia đình tôi: các con cháu tôi sẽ tụ họp về ngôi nhà của Mẹ, mang nhiều quà Giáng sinh được gói ghém trang trọng , phần cho mẹ , cho các cháu và cho nhau…
Bên nhau ăn bữa cơm gia đình đoàn tụ và cùng nhau mở những phần quà bên tiếng reo hòa mừng vui của lũ trẻ…
Chúng tôi sẽ chụp những bức ảnh thân thương với những bộ quần áo đẹp nhất của mùa Giáng sinh…Ôi ngày mai sẽ là ngày vui nhất của gia đình tôi…và từng năm vẫn lập lại như in mà tôi vẫn chưa thấy chán…Ôi mùa Giáng sinh và những mong đợi trong lòng mọi người.