Mỗi buổi sáng ở nơi này , tôi tỉnh thức bởi tiếng còi tàu, không phải là tiếng còi tàu nơi quê nhà của những ngày xa xưa năm cũ, mà tiếng còi tàu của xứ người, loại tàu chở hàng hóa sản xuất thành phẩm của hãng xe FORD,
Thành phố nhỏ Morrow nơi này vẫn từng sáng tinh mơ…
Mỗi sáng vào lúc 4h đến 5h sáng …vẫn rú lên từng hồi, đánh thức mọi người thức dậy, dần dà thành thói quen và “ghiền” nghe như một thói quen.
Nằm trên giường mơ mộng, tưởng nhớ về tiếng còi tàu của thành phố tôi đã sinh sống , thành phố Qui nhơn yêu dấu của tôi.
Sân ga ấy…
Ra đi hay trở về, con tàu đều ngừng lại trước sân ga, cho dù sân ga có thay đổi theo thời gian và sau bao nhiêu năm tháng sân ga vẫn còn đó , tiếng còi tàu sớm tối vẫn vang vọng trong tôi như một dấu ấn khó quên, giờ đây nghe tiếng còi tàu xứ người lòng buồn nhớ da diết tiếng còi tàu quê nhà trong cõi xa mờ vạn dặm.
Sân ga ấy lưu giữ bao khối tình của bao lữ khách xa nhà…
Người đi từ bao mùa Thu trước, có kẻ trở về vào mùa Thu này, bao người trở về quê cũ cũng chỉ muốn ngồi trên toa tàu lạnh , gió thổi hiu hiu vào của sổ làm chút gió thoảng cho mắt thêm cay, lòng bồi hồi khi bánh sắt nghiến trên đường rầy khi con tàu sắp vào thành phố.thành phố Qui nhơn yêu dấu của tôi.
Những ngôi nhà chập choạng, cái trước cái sau, những hàng cây buồn rũ, những đường rây cũ kỹ, những căn nhà chen chúc nhau bên hốc núi, những tấm bảng chỉ đường cũ kỹ qua bao tháng năm đứng nhìn sự hợp tan tan hợp của cuộc đời…nay pha thêm nhiều sắc màu như bức tranh vẽ vụng ơi hời…
Tôi đã trở về thành phố xưa tôi ở,
Bên tiếng còi tàu, bên tiếng rao khuya,
Lòng hớn hở như chưa bao lần có nữa
Kẻ mộng du tìm thấy lối đi về…
Thành phố xưa ẩn mờ trong sương sớm,
Hoa cúc vàng ngập lối chỗ công viên..
Chân bước rảo không cần ai đưa đón
Quen chân rồi, tôi bước tận cổng nhà xưa…
Tôi trở lại thành phố vào một sáng mùa Thu, mùa Thu của quê hương tôi không có những chiếc lá Phong đỏ ối của buổi tàn Thu bay chấp chới tấp vào một góc vườn, chạy trốn cơn gió Đông ,mùa thu quê nhà còn vương chút heo may.
cho người lữ khách xa nhà vôi vàng kéo cao cổ áo , vẳng bên đời bản tình ca -” Mùa Thu Chết “Ôi ngát hương mùi Thạch thảo.”
Em nhớ cho rằng ta vẫn chờ em.vẫn chờ em, vẫn chờ em, vẫn chờ em…vẫn chờ em,..
len lén.. chút gió heo may hòa quyện, chút gió Thu của mùa Thu quê nhà .
Tiếng hát của Lệ Thu vẳng từ xa của một tháng năm nào còn vang trong tâm thức khi mỗi lần tiếng còi tàu khàn đục vẳng từ rất xa, đôi lúc tôi không phân biệt đó là tiếng còi tàu đánh thức tôi trở dậy học bài thi của những ngày xưa cũ…hay tiếng vọng của con tàu xứ người gợi nhớ cõi xa mờ.
Tôi đã trở về thành phố xưa tôi ở,
Bên quán cà phê xưa thèm hít một hơi thơm,
Thèm môi ngon gói xôi bốc hương thơm
Mùi nếp mới hay hương đồng cỏ nội
Tôi kéo áo đưa tay chùi quá khứ
Đụng nỗi buồn vì cha Mẹ đã ra đi…
Tôi trở về đánh mất tuổi xuân thì
Chỉ còn lại hành trang ngày xưa cũ
Sân ga cũ bây giờ đã được tô son trét phấn, những con đường rộng mở dưới gót chân ai , vẫn vẳng bên tai câu hát của ngày nào vẳng ra từ một quán cá phê sáng…
” Em..nhớ cho rằng ta vẫn chờ, vẫn chờ , vẫn chờ em, vẫn chờ em, vẫn chờ đợi em..”
.Lời ca buồn rũ trong cung trầm dấu lặng, rè sai cung bậc của chiếc máy hát cũ mèm của một quán cà phê sáng của người dân lao động, âm hưởng của tiếng vọng cố nhân, tôi nghe mượt mà đầy ắp tình thân,
Sân ga cũ vẫn lưu giữ chút tình ai ngày trở lại. tuy biết rằng không người chờ kẻ đợi bỡi tháng năm xa mờ…
Thời gian đi qua và có chờ đợi ai.Ôi thời gian
Sân ga thì muôn đời vẫn lưu giữ khối tình của biết bao lữ khách gởi gấm nỗi niềm lúc lìa xa,
Người ra đi từ bao mùa Thu trước, nay trở về trong cuối Thu này, chút gió heo may của bao mùa Thu trước bỗng trở về e ấp vướng gót chân, biết bao mùi vị của sân ga cũ thì vẫn còn, nhưng tình người và cuộc đời thì đã lật sang trang khác và biết ai còn đợi, còn chờ hỡi ai.
Tôi đã trở về thành phố xưa in dấu
Những bước chân xiêu người khất thực mỗi chiều,
Có hạt bụi nào bay vào con mắt
Xót nỗi người, sao chợt thấy cô liêu…
Thành phố đó nơi ngày xưa tôi đã.
Bên bạn bè …học trò yêu…
Bên cả tuổi trăng mơ,
Thành phố đó bao canh sầu thao thức
Vẫn âm vang tiếng thét một con tàu.
Tôi chạy đi tìm lại những bạn bè xưa cũ, những căn nhà lạ hoắc, lạ huơ, những bạn bè xưa rời xa khắp muôn phương, cuộc thăng trầm qua bao tháng năm đổi chỗ…
Những học trò cũ của tôi bây giờ đã thay tôi lập nên trang sách mới, đã bao năm qua rồi vẫn tìm ra chút hương xưa, những bóng dừa ngày xưa bên bãi cát, đã quá già thay những dấu tích xưa, những con đường ngày xưa xanh bóng lá, đã thay màu bằng bóng đổ chiều mưa.
Điểm dừng, có thể từ ngày hôm qua Có thể bắt đầu lại suy nghĩ không phải bạn hành hương trên cát có thể là dòng sông lời sóng cuộn dưới đôi bàn chân Có thể bạn chạm đầu ngọn sóng, nghe chúng nói với bạn rằng là không thể Chúng lách mình qua những vi mạch của sự đắn đo làm bạn trượt ngã suy nghĩ của ngày hôm qua Những ngọn sóng tích hợp những lý do thoái thác cho một điều không hiểu và bạn tò mò từ đáy sâu nghìn trùng của đại dương Bạn hỏi bạn là ai, có thể như vậy hãy nhìn vào khoảng cách không nằm ở đôi bàn chân Tìm kiếm bạn trong một đống đổ nát có thể bạn là một mảnh của lập trình thời gian Để đi vào thế giới
10. Nhớ lại, từ ngày hôm qua Hôm qua tôi nghe tiếng nhựa đường vấp hai người kẹt lại họ không thể bước tiếp giấc mơ về những con đường xanh dọc hàng cây Hôm qua tôi nghe tiếng của mây chúng không thể òa khóc khi nhìn lòng sông nứt sớm không như lời hẹn từ mùa trước Hôm qua tôi ngồi đây vẫn lá vẫn cây không có một con chim sẻ nào sà xuống dù đang giữa mùa lúa phơi Hôm qua vẫn tại đây tôi gặt những dòng suy nghĩ từ hôm trước rằng lũ chim đã di cư vào trong dạ dày của loài khổng tước Tôi nhìn, từ chiếc bùa rất đẹp của người da đỏ, dreamcatcher Tôi bắt đầu đi khi cơn mưa còn ngái ngủ màu mầm mọc trong mắt một chấm xanh xanh Mưa bắt đầu đi khi vừa chợt thức giấc giữa ban trưa, có bụi xương rồng nở sớm nhìn từ tôi gai góc chớm trong nỗi nhớ rát bỏng một hạt sương đêm sót lại từ hôm qua Sương bắt đầu bay không đắn đo nghĩ về lòng can đảm cầm tay lối dẫn đi nhanh về cuộc sống nơi thiên đường lúc bình minh Có một điều khủng khiếp chợt nhận ra trên mắt lưới của lũ nhện chúng giăng nỗi buồn của ngày hôm qua từ những con bọ đang hấp hối
1. Một lần, trên đường từ Sài Gòn về Nha Trang, trong lúc chờ ở sân bay tôi ngồi cạnh cặp vợ chồng là dân Nha Trang, cùng lứa tuổi thế hệ tôi.
Câu chuyện vòng vo thế nào rồi chuyển sang đề tài ẩm thực. Thật thích thú khi chúng tôi cùng nhau điểm lại những món ăn ngon ở Nha Trang, nơi nào bán, quán nào ngon, ăn sáng hay ăn xế…, chị vợ còn biết rõ tính tình người bán. Chị hỏi tôi có biết một con hẻm ở Nha Trang nổi tiếng nhiều món ăn ngon không? Anh chồng phụ họa: “Hẻm đó có đầy đủ bánh căn, bánh hỏi, bánh bèo, bánh xèo…, món nào cũng ngon”. Quả là ngạc nhiên khi tôi nghe nhận xét từ một người đàn ông về các món bột ăn với mỡ hành, nước mắm ớt tỏi. Anh còn khẳng định, ăn bánh căn phải húp nước mắm mới đã, ngon, đúng điệu.
Từ câu chuyện hôm ấy, tôi bỗng có ý định thử đi tìm bản đồ ẩm thực Nha Trang. Thật ra, bản đồ ẩm thực ở bất cứ nơi đâu thường không ổn định. Có những hàng ăn lâu đời làm nên thương hiệu cho con đường, nhưng rồi người chủ nghỉ bán, để lại luyến tiếc cho thực khách; hay cũng là món ấy nhưng đã thay chủ khác, quán xưa, món xưa nhưng thấy thiếu thiếu, khách chưa quen hương vị nay càng thêm luyến nhớ. Có những hàng quán đã hoàn toàn đổi mới. Một chút bỡ ngỡ, cảm giác tìm lại chốn xưa nhưng mọi thứ đã khác, không còn nhận ra…
Bắt đầu từ nhà ở Vĩnh Thạnh, tôi đi theo vùng dọc sông Cái Nha Trang, Hương lộ 45 rồi đường Lương Định Của. Con đường này phong phú các món ăn, từ những món đặc trưng Nha Trang như: Bánh căn, bánh bèo, bánh hỏi, bánh xèo, mì Quảng, phở, bún bò, cơm gà, nem nướng, bún thịt nướng… đến các món ăn vặt mới xuất hiện gần đây: Bánh tráng trộn, khoai tây lắc, gà rán, trà sữa, cá viên, xúc xích chiên… Không thiếu món gì của Nha Trang trên con đường này, như tập quán lâu đời từ hơn nửa thế kỷ nay của dân vùng ven sông. Ra đến đường 23 tháng 10, tôi rẽ vào con hẻm 274 theo lời giới thiệu của hai vợ chồng ở trên. Vào buổi chiều, ngay đầu hẻm thấy ngay một hàng bán các món từ vịt, đặc biệt là có gỏi cá mai. Vào bên trong, vài hàng bán các món mì Quảng, bún riêu…
Ra đến vòng xoay Nhà thờ Chánh tòa Nha Trang, tôi rẽ vào hẻm Núi Một. Chầm chậm vào bên trong, cơ man những hàng ăn. Cũng vẫn những món đặc trưng Nha Trang như: Bún bò, phở, bánh canh, mì Quảng, bún cá…, món nào cũng gợi thèm! Tôi đi tiếp ra đường Huỳnh Thúc Kháng, con đường ngắn thôi nhưng cũng là một thương hiệu cho ẩm thực Nha Trang khi có khá nhiều món xưa: Bún thịt nướng, bánh bèo ngọt, bún bò, bánh xèo… Ký ức còn giữ nguyên vẹn con đường xưa, món ăn ngày cũ nhưng bây giờ khang trang hơn với những cửa hàng làm mới, lại thêm nhiều món ăn mới hơn. Cắt ngang Huỳnh Thúc Kháng là đường Ngô Gia Tự, một con đường dài chưa đến cây số nhưng có đủ mọi thứ trên đời, lại thêm chợ Xóm Mới. Những hàng quán mới, món mới không thuộc “phạm trù” của Nha Trang như: Bánh canh tôm tít, cơm tấm sườn que, ốc xào… Và những hàng từ mấy chục năm trước vẫn còn: Xe hủ tiếu gõ, bún bò 100, bánh canh bún cá Nguyên Loan, cơm gà Hà…
Tôi đi tiếp qua đường Tô Hiến Thành, bánh mì chỉ với chả lụa và rắc muối tiêu Nguyên Hương hay bánh căn khẳng định tên cho con đường và các hàng ăn khác nữa với những món đặc trưng Nha Trang. Những con đường khu vực này như: Bạch Đằng, Hồng Bàng, Ngô Đức Kế, Trịnh Phong… nhộn nhịp hơn xưa nhiều nhờ “ăn theo” phố Tây, khách du lịch… Vòng ra đường Nguyễn Thị Minh Khai, tôi bắt đầu vào một “lãnh địa” khác của ẩm thực với nhiều món không phải của Nha Trang và nhiều nhà hàng phục vụ khách du lịch đa đạng thức ăn. Rẽ đường Nguyễn Thiện Thuật, lại thấy một “khung trời” ẩm thực khác với nhiều nhà hàng Trung Hoa, Hàn Quốc… bởi ở khu vực này và các con đường lân cận như: Hùng Vương, Biệt Thự, Trần Quang Khải… có tên gọi chung là phố Tây.
Tôi ra đường Trần Phú, chạy một lèo qua cầu để rẽ xuống Cù Lao. Con đường Tháp Bà nổi tiếng với các món hải sản từ hơn nửa thế kỷ. Những món đặc trưng làng chài có mặt đầy đủ ở đây như: Bún cá, bánh canh, mì Quảng… Những tên quán: Bà Ngoại, Chị Bé, bánh xèo Cô Tám… khẳng định thương hiệu bởi độ ngon nức tiếng gần xa…
Rời khu Tháp Bà, tôi đi theo đường 2 tháng 4, ngay đầu đường xuống Cồn Dê có quán bún thịt nướng nổi tiếng nửa thế kỷ nay. Tiếp tục đi, lại nhớ món vịt quay cũng nổi tiếng từ mấy chục năm trước. Rồi sang đường Trần Quý Cáp có bánh căn mà đa phần khách du lịch đều biết. Từ đây, tôi rẽ xuống đường Phan Đình Giót lại lạc vào một “thủ phủ” khác nữa của những món ăn hẻm Nha Trang. Phố ăn đêm của những cô cậu trẻ, món gì cũng có từ đặc trưng cho Nha Trang xưa đến những món ăn mới sau này của giới trẻ.
Quay ra theo đường 23 tháng 10, tôi chú ý đến bánh canh cá lóc Huế, kế bên đó là bánh ướt, nem chả, thịt nướng… Đọc tên thôi đã gợi thèm. Trên cầu vượt nhìn xuống Khu đô thị Vĩnh Điềm Trung, dưới ấy đa phần là những tiệm ăn các món “nhập cư” như: Bánh canh cua, bún đậu mắm tôm, bún chả Hà Nội… và đa dạng các món ăn vặt của giới trẻ. Trên đường tôi về nhà, có những vùng khẳng định tên món mấy chục năm nay như: Vịt Cầu Dứa, bánh ướt, cuốn, đập Vĩnh Thạnh, mì Quảng Bình Cang…
2. Chỉ là một buổi chiều, tôi đi chưa hết một phần nhỏ của trung tâm TP. Nha Trang và chắc chắn thiếu sót nhiều món ăn nhưng đã khiến tôi lan man nghĩ về trăm năm trước, khi Nha Trang chỉ là một làng chài nhỏ ven biển. Làm sao tôi biết ẩm thực Nha Trang khi ấy có gì, nhưng tôi chắc chắn một điều, ẩm thực Nha Trang bây giờ có khá nhiều món ăn xuất phát từ làng chài chế biến với hải sản vừa đánh bắt lên.
Trong quá trình di dân đã làm cho Nha Trang hiện nay có một “bản đồ” ẩm thực khá phong phú và đặc biệt ngon: Món cũ cho người yêu Nha Trang, món mới chế biến hợp khẩu vị Nha Trang từ nguyên liệu của Nha Trang, chinh phục khách đến, dù chỉ một lần. Bạn bè tôi ra đây ngoài đi chơi, ẩm thực là điều họ luôn nhắc đến phải ăn món này, món kia… Với nhiều người Nha Trang, vì món ăn quá phong phú mà đôi khi xách xe chạy một vòng thành phố, món nào cũng ngon, cũng thèm, không biết ăn món gì!
Người xa quê, về đến Nha Trang đã “thủ” sẵn một danh sách món sẽ ăn cho thỏa cơn thèm!
Gia đình tôi dọn đến căn nhà này vào một buổi sáng cuối mùa Hạ, căn nhà nhỏ bốn mặt gạch, có vườn rộng , lưng quay ra một trường Tiểu học, hai bên là những ngôi nhà cất kiểu giống nhau, chỉ khác một chút ở chỗ sân cỏ trước nhà , do chủ nhân sửa sang theo ý của họ, thêm vài khóm hoa theo mùa hay trồng thêm vài cây cảnh mà chủ nhà ưa thích.
Đối diện cửa nhà tôi là khu vườn rộng với nhiều cây thông cao, bao bọc bởi một hàng rào sắt, bên trong là một sân rộng có những chuồng gà, lồng chim và những bông hoa đủ màu, thỉnh thoảng tôi nhìn thấy một bà lão người da trắng thấp thoáng bên những khóm hoa và mấy con gà trắng nhỏ bé xíu chạy dưới chân mỗi lần thấy dáng bà ngoài sân sau, hình ảnh thân quen và cho tôi một mỹ cảm về chỗ ở mới.mỗi lần thấy nhau chúng tôi chỉ đưa tay chào và :
_Hi…hi…Ngôn từ phát ra chỉ có vậy nhưng tôi và bà như có một mối thâm giao vô hình nào mà ngày nào không thấy bà là tôi bứt bối phải đi ra đi vào kiếm tìm.
Mỗi ngày tôi ra khỏi nhà vào lúc ba giờ rưỡi sáng, để vào làm lúc bốn giờ sáng và ra về vào lúc giữa trưa, chạy vội vàng về nhà thay bộ uniform của hảng và lại bương bả lên xe đến một hảng may nhỏ làm tiếp nhiệm vụ của một ngày cho đến bảy giờ chiều mới bương bả trở về nhà.những năm đầu mới định cư ở đây, cuộc sống như nhấn chìm con người vào vạn ngàn bận rộn.
Công việc mỗi ngày cứ từng hồi và không có một phút giây cho mình ngắm nhìn và quan sát hay làm quen với những láng giềng hay quan tâm đến bất cứ ai hay những bối cảnh chung quanh, mỗi ngày khi bước chân ra khỏi nhà, tôi thường nghe tiếng đọc kinh rất đều đặn và chậm rãi..vẳng từ nhà bà già Mỹ trắng.
Ban đầu tôi không hiểu đó là tiếng gì, sau này đi nhà thờ Mỹ nhiều lần nghe quen nên tôi chợt hiểu ngầm đó là những câu kinh kính mừng, kinh lạy cha…của đạo Thiên chúa giáo, và lâu dần thành thói quen tôi cũng lẩm nhẩm đọc theo…
Cho đến một ngày kia, khi tôi bương bả chạy về nhà thay quần áo, chuẩn bị ra xe để tiếp tục công việc thứ hai thì chợt nhìn sang khu vườn trước mặt vì có bàn tay đưa ra khỏi hàng rào sắt vẫy tôi, tôi chạy ra mé đường thì thấy bà già Mỹ trắng , chủ nhân khu vườn trước mặt nhà tôi vẫy tay nhờ tôi đuổi bắt hộ con gà con của bà đang chạy ra ngoài.
Từ đó tôi quen biết bà Anna, bà sống một mình với mấy con gà và một con Mèo trong căn nhà có khu vườn rộng trước mặt nhà tôi., năm ấy bà đã ngoài tám mươi
Cứ mỗi cuối tuần bà Anna có người con gái đến chở đi chợ, người con gái của bà cũng đã già gần bằng bà , ban đầu tôi đoán là bạn của bà nhưng sau được biết đó là người con gái duy nhất của bà, và bà chỉ hơn con gái có 16 tuổi…và cứ vài tuần thì có người Mễ đến cắt cỏ cho bà.suốt ngày bà ngồi trên chiếc ghế bành bên cửa sổ , mắt nhìn vào cõi xa, tay cầm xâu chuỗi mân côi với tượng Thánh giá to bản, miệng không ngớt những câu kinh.
Cuộc sống hàng ngày vẫn tiếp diễn như một guồng máy chạy đều, mỗi lần ra đi hay lúc trở về tôi vẫn nghe tiếng đọc kinh của bà Anna, và đôi khi tôi mơ màng vẫn nghe tiếng đọc đều đặn ấy như đó cũng là một phần của cuộc sống tôi…
Bẵng đi một thời gian dài không nghe tiếng cầu kinh của bà, tôi bỗng thấy nhớ nhung và lo lắng vô cùng nhưng không làm sao biết hỏi ai? bà đi đâu?, hay có chuyện gì không may xảy ra cho bà, một bữa nhân ngày nghỉ tôi thấy người Mễ của căn nhà đối diện nhà bà đang đứng trước sân, tôi chạy sang hỏi thăm về bà…mới hay cách đó hơn ba tuần bà bị bệnh phải đưa vào bệnh viện chưa thấy về, thỉnh thoảng người con gái có đến cho Mèo và cho gà ăn.
Nỗi buồn thương lo cho người bạn già và nhớ quay quắt tiếng râm ran của bà mỗi ngày khi đi về không nhìn thấy bà thấp thoáng sau vườn hay vẳng qua cửa sổ nhà bà vào những buổi sáng sớm tôi bước ra khỏi nhà nổ xe chờ xe nóng máy.nỗi nhớ nhung như thiếu vắng một cần thiết cho cuộc sống tôi ngày đó.
Vài tuần sau…bà đã trở về nhà cũ, nhưng không đi đứng như xưa mà phải ngồi trên xe lăn khi di chuyển, tôi chạy sang thăm hỏi khi thấy dáng bà ngồi rũ bên trong chiếc xe lăn mới, khuôn mặt bà xanh xao, tóc trắng và được cắt gọn, bàn tay run rẩy và lạnh ngắt khi tôi chạm vào lúc từ giã bà ra về. xâu chuỗi trên tay bà đong đưa theo bàn tay nắm chặt tay tôi như không muốn rời bàn tay tôi, ngồi bên tay lái với cảm xúc cùng bà khi từ biệt, tôi bỗng mủi lòng và nghe mặn ở bờ môi.
Mỗi lấn nhìn sang khung cửa sổ nhà bà tôi cũng thấy hình dáng mờ dần bên khung cửa và vẳng từ xa vang vọng tiếng kinh cầu…Tôi nhận biết rằng bà Anna vẫn bằng an.
Thời gian vẫn cứ trôi, cuộc sống với những bận bịu mỗi ngày tôi như quên mất bà Anna, và những con gà trắng phau với chiếc mồng đỏ tươi và những con gà con bé xíu.mấy hôm liền tôi không thấy chúng được thả ra sau vườn nhà bà.
Hôm đó là một ngày cuối năm, tiết trời lạnh giá, những cây Tuyết đầu mùa đổ xuống vạn vật để chuẩn bị đón Giáng Sinh, khi mọi nhà chuẩn bị giăng đèn trang trí cho ngoài sân trong nhà để chờ đón chúa Giáng sinh
Công việc chính của tôi hôm nay bị kéo dài vì nhiều chuyến bay bị delay nên tất cả phải ở lại làm thêm giờ. tôi ra về trễ hơn mọi bữa, ngồi bên tay lái , xe chạy ra khỏi hảng, những con đường ngập ngụa những bông Tuyết chưa tan hết, ướt sủng và lạnh giá, tôi cảm thấy quá mỏi mệt và chợt cơn buồn ngủ kéo về, những dòng xe nối đuôi nhau trên con đường trơn ướt, lối đi về quen thuộc, nhưng xa hơn mọi bữa.cơn buồn ngủ đến bất chợt, tôi cố nhướng mắt và nhấn chìm tiếng ngáp dài.
Tôi thèm một giấc ngủ đến thật muộn phiền, rã rời mỏi mệt vì sự thiếu ngủ triền miên…vẳng bên tai tôi tiếng kinh cầu quen thuộc, choàng tỉnh ngủ sau mấy giây thả hồn vào cơn mê ngái ngủ…trước mặt tôi vẫn những chiếc xe nối đuôi nhau trên con đường trơn ướt. …Tôi thảng thốt trở lại với tay lái chao đảo…
Tôi bàng hoàng và chợt tỉnh cơn mê…một chút nữa thôi, nếu tôi ngủ mê bên tay lái giữa ngập tràn xe cộ hôm ấy, chuyện gì sẽ xảy ra, một tai nạn thảm sầu sẽ xảy ra, tôi sẽ ra sao ???và các con tôi sẽ ra sao ???ngày đó chúng còn bé lắm….Tiếng kinh cầu vẳng từ xa vang dội đánh thức tôi qua rồi một nạn tai.
Tôi tấp vào một cây xăng mua một lon nước để uống và định thần lại rồi lên xe trở về nhà, những câu kinh xa xa vẳng bên tai gọi tôi trở về thực tại, đã cứu tôi một tai nạn hải hùng, tôi định chạy về nhà là sẽ chạy sang thăm bà Anna và cám ơn bà.
Nhìn sang nhà bà …những sợi dây vàng có in những chữ màu đen cắm cả quanh nhà bà…tôi chưa biết chuyện gì đã xảy ra cho bà??? chạy sang nhà người Mễ đối diện nhà bà để hỏi.
_ Bà đã chết cách đây ba ngày, khi cây Tuyết đầu mùa rớt xuống vùng này, nhưng người con gái mới đến sáng nay và phát hiện ra người Mẹ đã ra đi từ hai hôm trước. cảnh sát đến đưa xác bà đi và không biết đã an táng ở đâu???
Tôi thẫn thờ ra về, lòng buồn như đeo đá tảng, muốn đi tiễn đưa bà Anna lần cuối nhưng không biết hỏi ai, muốn nói với bà câu giã biệt, nhưng biết gởi về đâu..
Giá như ở quê nhà thì ít nhất con cháu cũng tổ chức cho người thân một đám ma cho mọi người cùng nhau tiển biệt, những giọt lệ và những nắm đất tuy muộn màng nhưng cũng nói lên tấm lòng của người ở lại…tôi muốn tiễn đưa bà nhưng không biết phải làm sao???
Đời sống lạnh lùng lúc sống cũng như lúc ra đi, cuộc sống quanh tôi là như thế đó, tôi buồn rũ suốt mấy ngày khi mỗi lần nhìn sang khu vườn nhà bà nay vắng bóng những con gà trắng tinh và hình ảnh bà ngồi gục mình trên thành xe lăn và những tiếng đọc kinh nhỏ dần vang vọng.
Mỗi ngày khi trở về nhà nhìn sang nhà bà Anna, những hoang lạnh đến tang thương, mỗi lần nhìn sang là lòng tôi buồn ủ rũ.
Vài tuần sau căn nhà bà có cắm bảng “For rent”, hàng ngày tôi vẫn rời nhà vào buổi sáng sớm…vẳng bên tai vẫn tiếng kinh cầu, nhiều khi vội quá tôi quên mất là bà Anna còn hay mất, vẫn những công việc hàng ngày, tôi vẫn mỗi sáng ra xe, vẫn nghe vang vọng tiếng đọc kinh của bà…trên xe tôi mới chợt nhận biết là bà đã mất….những gai ốc trên mình tôi bỗng cuồn cuộn nổi lên. bà Anna đã mất cả tháng nay sao ngày nào tôi vẫn nghe tiếng đọc kinh của bà mỗi sáng???
Hôm sau tôi sợ quá…ngày nào khi ra xe cũng gọi đứa con gái dậy đưa tôi ra cửa, khi tôi ra khỏi sân nhà tai mới vẳng nghe tiếng đọc râm ran của bà từ trong tiềm thức hay thực sự tiếng đọc kinh sáng của bà vẫn theo tôi trên suốt quãng đường…Tôi vẫn thường van vái xin bà hãy ra đi đến chốn an bình và cho tôi chút bình yên.
Hai tháng sau thì gia đình người Mễ dọn đi, trước khi đi họ sang chào tôi và bảo rằng :
_Bà già trước nhà về đọc kinh mỗi ngày họ không ngủ được nên dọn đi. vì mỗi khi tối đến họ vẵn thấy bà hiện về ngồi bên khung cửa sổ.và họ hỏi tôi có thấy gì không?
_Không, tôi chỉ nghe tiếng cầu kinh của bà y như lúc bà còn sống mà thôi.
Vài tháng sau gia đính cạnh nhà tôi cũng dọn đi với những câu tương tợ…căn nhà bà vẫn hoang vắng và mỗi lần đi về tôi vẫn len lén nhìn sang nhà bà vẫn chưa có người dọn tới.
Gần nửa năm sau có một gia đình Việt Nam gồm hai vợ chồng và ba đứa con dọn đến, tôi mừng vui vì có láng giềng là người Việt cho đỡ cô quạnh và cho khu xóm thêm vui…hôm sau hai vợ chồng cùng đón tôi hỏi về chủ cũ của ngôi nhà mà họ mới mua, tôi kể rõ ngọn ngành, cả hai cùng tái mặt và run lập cập.
– Cả đêm qua vợ chồng họ không sao ngủ yên vì những tiếng đọc kinh của ai đó cứ vang vọng trong khắp các phòng, khi họ lên giường thì bị một bà già kéo chân và xua đuổi họ, bảo họ hãy trả lại sự yên tĩnh cho bà.
– Hai người thấy bà già đó ra sao?
_ Một bà già da trắng tuổi ngoài tám mươi, tóc ngắn tới ót.
_ Ồ vậy đúng là bà Anna rồi, đúng là bà chủ ngôi nhà
Một luồng khí lạnh chạy dài theo sống lưng, những gai ốc nổi cộm trên hai cánh tay tôi, cái cảm giác lạnh lẽo như lần cuối cùng tôi nắm bàn tay lạnh lẽo của bà Anna ngày nào.
Hôm sau họ thu vén tất cả đồ đạc lại xin sang ngủ nhờ bên nhà tôi mấy bữa để đi tìm chỗ khác mướn ,trả lại sự tĩnh lặng cho ngôi nhà và sự u tịch của khu vườn..
Tôi vẫn nghe vẳng từng đêm tiếng kinh cầu của bà mỗi ngày, nhưng cũng chỉ mình tôi nghe, các con tôi thì không nghe chi cả…
Ngôi nhà của bà vẫn từng hồi đổi chủ, họ cứ dọn đến rồi lại dọn đi, người ở lâu nhất cũng chỉ một vài tuần, căn nhà của bà ai cũng đồn là “căn nhà ma”.
Vài năm sau tôi tìm cho mình một việc làm tốt hơn do mình tự làm chủ , và mua ngôi nhà mới xây trên khu đất bằng phẳng, ngày đưa các con về ngôi nhà mới, chúng hân hoan vì tránh cho tôi cái cảnh hàng ngày nghe tiếng “kinh ma”, ngày rời ngôi nhà cũ tôi đứng lặng hàng giờ nhìn sang khung cửa sổ ngày xưa bà Anna vẩn ngồi đọc kinh, tôi mong nhìn thấy bà để nói lời từ biệt…nhưng chỉ thấy một con mèo lông đen chạy ngang rồi biến dạng, trả về khu xóm cũ một trầm u buồn thảm.
Thỉnh thoảng tôi vẫn thường xin lễ cho bà Anna và tôi mới chợt nhận biết rằng bà nói với tôi tên bà là Anna, tức là tên Thánh của bà, và tôi cũng có tên Thánh này, nhũng mỹ cảm mà bà đã luôn dành cho tôi, những buổi sáng quên đọc kinh hay những đêm chưa đọc kinh đêm, thì tôi lại vẳng nghe tiếng kinh cầu của bà, phát ra từ trong tiềm thức.
Mỗi năm cứ vào ngày Giáng sinh xong là tôi chạy xe về xóm cũ, ngừng xe trước căn nhà cũ của tôi và nhìn sang nhà bà Anna, nay đã có người đang ở…Có lẽ bà đã lên Thiên đàng từ lâu, trả lại cuộc sống bình yên cho thế tục
Chất xong mấy cây mai, cho quá giang xe tải về trồng lại. Ba Đực thở phào. Mai năm nay đẹp, giá lại thấp hơn năm ngoái, vậy mà ít khách. Chắc năm rồi làm ăn khó, người ta để tiền, mua những thứ cần thiết hơn cho ba ngày Tết. Tánh Ba Đực ngang, đói thì chịu, nhứt định không phá gía! Công lao cực khổ cả năm trời, bán đổ bán tháo lão xót, thà đem về dưỡng cho năm sau…
Đã quá trưa 30, chợ bắt đầu thưa người. Ba Đực đứng tần ngần ngắm hai cây mai đẹp nhứt để lại, hy vọng từ giờ tới chiều, có người mua, vớt cú chót rồi về. Lão lẩm nhẩm hát, bài hát lão thích nhứt hồi trẻ: “Nếu mai không nở, anh đâu biết xuân về hay chưa…”*
Có mai nở là có mùa xuân. Thấy mai là thấy Tết. Ba Đực nhớ những ngày ở rừng. Những ngày ở gần cái chết. Sự sống ở màu vàng mai, làm thoát ra khỏi cái u ám, cái tối tăm đe doạ của bạt ngàn cây lá. Mai không có mùi thơm. Mai mang mùi bình yên, mùi của sự sống. Cái mùi làm cho buổi sớm thanh thản, nhẹ nhàng hơn. Ba Đực không ngửi mà cảm thấy rất rõ, sau mỗi phiên gác đêm, trong cái chòi nhỏ ven rừng. Mùi mai trong gió, trong hơi thở của rừng. Ba Đực mang theo, làm thành cái nghề mới.
Tiếng con Lành phía sau:
– Dọn sớm vậy cậu Ba?
– Ừa, sớm gì nữa, cho nó đỡ cực! Sớm là bây kìa. Bữa nay cũng mần nữa ha?
– Làm gì có, thiên hạ về với gia đình hết rồi, ế độ ra chơi với cậu thôi… – Cúng kiến gì chưa? – Chưa cậu ơi, còn cậu?
– Qua hả? Khoẻ re, có một mình với mấy con chó, về tới dưới, mần thịt con gà là xong. Mình nghèo, lo kiếm ăn, ông bà khuất mày, khuất mặt, đâu có chấp! Lành im lặng một lát, rồi ngập ngừng: – Tui cũng mình ên! Buồn đứt ruột! Vô tui chơi đi cậu Ba, chiều về…
– Thôi! Qua già rồi…
– Đừng thôi mà cậu Ba, cậu làm không được thì tui…làm cho cậu! Tui năn nỉ mà…Coi như xả xui cuối năm đi cậu…
Vừa nói, Lành vừa nắm tay Ba Đực lắc lắc. Thấy con nhỏ gần muốn khóc, Ba Đực cầm lòng không đặng. Lão ngó ra chỗ khác, rồi gật:
– Vô trước đi, chút qua vô
– Thiệt nghen, thề nghen cậu Ba…
Ba Đực lại gật lia lịa. Lành đi khuất, tự nhiên lão cũng thấy bồn chồn. Lâu rồi, không gần đàn bà, giờ nhắc cũng thèm. Hồi thiếu uý, dính hết 1 năm cải tạo! Ba Đực mới 22, ra tù lủi về quê, sống cu ky với mấy công ruộng, ông bà gìa để lại. Anh em tứ tán, thân ai nấy lo. Có con bồ thì vượt biên mất biệt! Ba Đực chán đời, ở vậy mà sống.
Làm ruộng thất, Ba Đực lên vườn, trồng mai bán Tết, cũng có ăn. Năm nào 23 Tết, đem mấy chục gốc mai lên đúng chỗ này, ăn dầm nằm dề, bán lai rai tới 30 thì rút. Ngồi bán ngắm thiên hạ sắm Tết cũng vui. Riết rồi ghiền cái không khí Tết của chợ. Mấy năm trước không, năm nay lại có thêm con Lành. Chỗ Ba Đực bán, nhè ngay đầu hẻm nhà trọ của nó. Lành bán bia ôm và đi khách luôn ở cái quán tuốt ngoài đường rầy xe lửa. Chiều qua, quán nghỉ. Lành lang thang chán, mò về ngang qua chỗ bán mai của Ba Đực.
Đúng lúc lão đang nướng con khô sặc ăn cơm. Mùi thơm lừng. Con Lành ghé vô làm quen, rồi ăn cơm với lão luôn. Chập tối, khách coi mai đông, nó cũng líu lo chào mời, phụ với Ba Đực tới khuya, còn tự nguyện đi mua cho lão tô mì gõ, rồi mới chịu đi ngủ… Ngồi trầm ngâm một lát, chừng như hài lòng với quyết định của mình. Ba Đực đứng phắt dậy, gửi 2 cây mai cho bạn hàng bên cạnh. Dắt chiếc Dream dông xuống dốc Cầu Bông, mua con vịt quay, mấy ổ bánh mì với lít rượu đế. Về lại chỗ bán. Ba Đực cột thêm miếng ván phía sau yên, chất một cây lên đó. Còn lại một cây, Ba Đực lục túi lấy cuốn sổ, kiếm cái số nhà, rồi kêu tay xe ôm quen. Tay này ngày thường chở người. Tết chở cây kiểng kiếm ăn. Ba Đực đưa cho hắn tiền và cái địa chỉ, dặn: –
Nói với thầy Tân là cây mai này tui biếu thầy chơi Tết. Chúc thầy ăn Tết vui vẻ, năm sau gặp.
Ba Đực chỉ mới biết thầy Tân mấy năm sau này. Lần nào lên bán cũng gặp. Thầy có vẽ thích và rành về mai. Chắc hồi trẻ phong lưu lắm. Có thầy ghé qua, Ba Đực cũng pha ấm trà mời. Rảnh thì tiếp chuyện, không thì thầy cứ ngồi đó, nhâm nhi trà mà ngắm mai thoải mái. Thầy Tân nói hồi chiến tranh, gia đình thầy không còn ai trong cái Tết năm nào. Thầy lưu lạc luôn từ đó! Cái ấm cúng, cái hạnh phúc của gia đình thầy, như chỉ chờ mai nở mà hiện về. Ngồi giữa những chậu mai đầy hoa của Ba Đực, thầy như sống lại được những ngày tháng êm đềm cũ. Chỉ có vậy, chưa bao giờ nghe thầy hỏi mua. Mai bây giờ là cái thú, cái khoe sự sung túc. Ba Đực biết thầy Tân thích lắm. Ra ngồi chơi thôi, mỗi lần Ba Đực bán đi cây mai đẹp nào, khách chở đi. Thầy Tân đều ngó theo, ánh mắt đầy tiếc rẻ. Nhưng mai quá mắc, mua không nổi so với hoàn cảnh của thầy hiện nay. Ba Đực biết, thầy Tân mượn cớ, có buôn bán, làm ăn gì đâu, mà nhờ mai nở rộ, đặng cầu tài cầu lộc, rồi làm bộ ngó lơ, nuốt nước miếng mà nhịn…
Chào từ giả và chúc tết bạn hàng chung quanh xong. Ba Đực chậm rãi chở cây mai còn lại vô nhà Lành. Hẻm nhỏ, người ta ngồi đầy bên sòng cắc-tê, sì-dách, bầu cua lộ thiên. Phải khó khăn lắm, Ba Đực mới chui vô được tới nơi. Lành đứng đợi sẵn lão trước cửa. Chậu mai bỏ xuống choán gần hết nửa đường đi. Cũng chướng, nhưng thây kệ, Tết mà. Cả con hẻm sáng rực. Lành ngó cây mai, ngó lão, ngạc nhiên. Ba Đực cười: – Để chưng cho có 3 ngày Tết! Căn nhà nhỏ xíu, trống hốc trống hoác. Một cái bàn gỗ ọp ẹp kê sát vách làm bàn thờ. Trên có hình người phụ nữ và cái hủ cốt. Ba Đực để con vịt quay, chai rượu và mấy ổ bánh mì lên đó. Không có giường, chỉ có chiếc chiếu, chắc mới được trãi ra, ngay dưới chân bàn.
– Bà già tui đó, chết năm rồi… – Đốt nhang đi. Có gì cúng nấy!
Lành vói tay cài chốt cửa, thấy Ba Đực nhìn chiếc chiếu có vẽ ngần ngại, nó cười: – Không sao, bà già… quen rồi!… Mùi nhang hăng hắc làm căn phòng thêm ngột ngạt. Ba Đực xá mấy xá, lẩm bẩm mấy câu với người phụ nữ trong hình. Quay lại, con Lành đã cởi quần áo từ hồi nào. Nó kéo Ba Đực nằm xuống, vuốt ve khắp người lão. Thằng đàn ông trong người Ba Đực trỗi dậy. Lão nhìn con Lành nằm tênh hênh bên cạnh. Ngực phập phồng, hai cái đùi bắt chéo, nhô đám lông đen ra ngoài khiêu khích. Con Lành chờ đợi, nó sợ Ba Đực đổi ý, sợ lão từ chối. Sợ bất kỳ cái khái niệm đạo đức nào, bất chợt trỗi dậy trong người lão. Chút…tự ái nghề nghiệp. Cái nghề chết tiệt! Cái nghề được nhắc đến giữa thương cảm và khinh bỉ. Cái nghề luôn bị kẻ nhân danh sự cao cả, cúi xuống nhìn như một thứ rác rưởi. Ba Đực khác. Cái nông dân trong lão nghĩ suy rất đơn giản. Con Lành bán thân như lão bán mai vậy. Ai thích, ai cần thì mua. Sòng phẳng. Mua trong thích thú, vui vẻ, lão sướng. Mua mà ngắm nghía, nâng niu từng cánh hoa, để thấy hết cái đẹp, cái hồn của hoa. Rẻ một chút, lão cũng bán. Còn ngược lại, chờ cái thế kẹt, tàn chợ hoa Tết của lão như bữa nay, mà chê bai, dè bĩu, ép gía, trả tiền như ban ơn. Thứ đó không biết chơi, lão cóc cần. Ba Đực bán mai là bán nguyên cây. Bán cái công cưa cành, tỉa nhánh làm thành cái tướng, cái nổi trội của cây mai giữa muôn ngàn cây khác. Không phải gía, lão đem về. Ăn Tết nghèo thêm một chút, thiếu thốn một chút, đã sao! Tết quê thì có sắm sửa gì đâu. Mồi nhậu thì minh thiên. Chủ yếu là lo cúng kiến cho phải đạo. Ba Đực ngó con Lành, ngó quanh cái phòng lần nữa. Lão chợt xót. Lão nửa muốn nằm úp lên cái thân thể đó, nửa ái ngại muốn đứng lên. Lại lo con Lành tự ái, tưởng lão chê, nó tủi thân. Tội! Ngày mai là ngày đầu năm. Tống cựu nghinh tân. Con Lành thì tân nổi gì, cựu hơn, tơi tả hơn thì có. Lành cứ lặng im vuốt ve Ba Đực. Lành đang rách, đang cần tiền. Nhưng không hiểu sao, giờ này, nằm đây, Lành lại thấy khang khác. Cái hơi đàn ông không còn là để chịu đựng, để chán chường, mà lại là thứ để che chở, để an ủi. Lành chờ cái ôm của Ba Đực. Cái ôm không cần tính tiền! Phần Ba Đực cũng thấy lạ với mình. Ngay từ đầu Ba Đực đã không muốn vô đây. Lão quen sống cu ky một mình, không có đàn bà lâu lắm rồi. Ở quê loay hoay từ sáng tới chiều, hể chịu làm là làm không hết chuyện, làm cho quên ngày tháng, quên cái thiếu thốn, trống vắng trong căn nhà. Tối lại, lai rai vài ly cho dễ ngủ. Tới chừng thấy cần có người bên cạnh, giựt mình ngó lại thì gìa cha nó rồi, thôi nhịn luôn… Bữa nay, con Lành làm lão cao hứng, lão muốn tự thưởng cho mình, một ngày không như mọi ngày cũng đáng. Ba Đực ngó mặt con Lành, ngó cặp mắt lim dim của nó thấy cũng ngộ, lão không đành lòng, lão không muốn nó buồn. Lão ôm lấy nó, lão quên hết chuyện đời, hì hục thở. Lành rướn người, nhích tới nhích lui, đụng chân bàn, cái hủ cốt khua lộp cộp trên đầu… Lâu lắm, Ba Đực mới hoàn hồn. Lành vẫn để mình trần, ngồi tiếp rượu với lão. Nó uống cũng ngọt sớt. Ba Đực thấy vui, thấy bớt lẽ loi hơn mọi năm, bớt chán chường hơn khi nghĩ tới lúc phải về căn nhà với miếng vườn dưới quê. Lành xé cái đùi vịt quay đưa cho lão:
– Ở dưới quê ăn Tết chắc vui hơn trên này hé cậu Ba?
Ở đây buồn lắm, Tết đâu có ai đi chơi bời. Mấy đứa kế bên về quê hết rồi. Tui mà có quê, tui về liền… Ba Đực gạt ngang:
– Tầm phào! Sao không có? Con người mà không có quê hương, xứ sở đâu phải con người. Lành bật cười, cười mà như khóc:
– Tui nè, cậu Ba. Nhiều khi tui cũng không biết tui phải người không nữa. Người sao khổ quá vậy! – Tầm bậy, sông có khúc người có lúc…
– Lúc nào không biết, chứ tới giờ thì… Lành ngưng ngang. Nó rót đầy chung rượu, cầm hai tay đưa Ba Đực đàng hoàng. Chờ lão uống xong, Lành rót cho mình, nó uống còn lẹ hơn Ba Đực. Đặt cái chung xuống chiếu, Lành ngó Ba Đực:
– Để tui kể cho cậu Ba nghe. Bà già tui bỏ quê, lên ở đợ trên này. Thằng chủ nhà, tức là ông gìa tui đó, rù quến quất cho một bụng. Chả hoảng, lập kế cho con vợ đánh ghen, đuổi bà già ra khỏi nhà. Về không được, ở lại lấy gì ăn. Sanh tui xong, bả làm gái nuôi tui. Lớn lên tui làm gái nuôi lại bả. Bà già tui nói “Thà của mình đem bán nuôi thân, còn hơn cho không nó, đã nhục còn mang tiếng ngu, tới quê cũng không dám về”. Tui hỏi “Quê đâu? Mắc mớ gì không về”. Bả nói “Mình nhục đủ rồi, làm nhục ông bà mang tội”. Vậy đó, rốt cuộc quê ngoại, quê nội gì cũng không biết, không có. Tui là cái giống gì, cậu Ba?
Ba Đực im lặng, con Lành kể, lão rót rượu uống. Lành ngưng nói, lặng thinh tiếp rượu Ba Đực. Lão uống tới đâu nó theo tới đó. Chai rượu cạn queo. Ba Đực lôi hết tiền bán mai ra đếm, lẳng lặng đặt một nửa dưới lư hương, nói trống không:
– Ăn Tết vui vẻ… Lúc Ba Đực dắt xe ra, trời đã sẩm tối. Chậu mai trước nhà biến mất. Lành gào lên chửi. Có tiếng giang hồ lao xao:
– Đám Út Nhanh chơi rồi, khỏi kiếm! Ba Đực đẩy Lành vô nhà, kêu đóng cửa lại, lão cười rất nhẹ nhàng với đám đông:
– Chậu mai tệ gì cũng bạc triệu, nói nó đừng bán rẻ quá. Uổng!….
Ra khỏi hẻm. Ba Đực còn tần ngần chưa muốn đi. Còn mấy tiếng nữa là Giao thừa, là hết một năm, là già thêm một tuổi. Ba Đực thở dài, nổ máy. Day lại thấy con Lành tất tả chạy ra, nhảy thót lên xe ngồi. Nó kiếm đâu ra bộ bà ba màu mỡ gà, coi hiền khô. Ba Đực giương mắt ngó, Lành cười: –
Của bà già để dành, đặng về quê, mà chưa bận lần nào… – ….
– Tui về với cậu… – ….
– Thì cũng có người phụ cậu mần con gà, bắc nồi cơm cúng, hay uống rượu với cậu. Lẹ đi, trời tối rồi…
Ba Đực ngước nhìn trời. Ừ, tối. Tối như đêm ba mươi là cùng. Rồi ngày mai trời sẽ sáng. Chắc chắn như vậy…