– Đây làm gì có núi nào? Giữa phố xá mà? Toàn là hàng quán xe với người, không có chỗ chen nữa thì núi đâu ra.
– Có, có một ngọn núi chỗ này, từ hướng nhà thờ Núi ngó tới đó. Hồi đó kêu là núi Côi có hình giống như con rùa vậy nè. Đâu mất rồi?
– Ạ… hay ông hỏi núi có nhà thờ? Thì đó, đi ngược lại thôi, nhà thờ nằm trên núi đó.
– Không phải đâu… nhà thờ chỉ nằm ở cái phần đầu rùa, cổ rùa bị chặt ngang để mở đường nè, hòn núi Côi là mai rùa, nó phải ở chỗ này. Còn cái hồ nước ở dưới nữa, là cái hồ đá… đâu rồi cà.
– Nhớ lộn rồi ông ơi.
Người bị hỏi lắc đầu khoát tay, vẻ thương hại rồi bỏ đi nhanh. Người đi ngang hóng chuyện cũng chép miệng, mình ở đây bốn mươi năm rồi núi đâu mà núi, cái bóng còn không thấy. Người thờ ơ nghe không hết câu cũng quay lưng đi nhanh như sợ liên lụy. Ông già 80 tuổi quắc thước ăn mặc bảnh bao lững thững chống gậy đi tìm ngọn núi thở dài, tôi mới rời xa nơi này có 60 năm chớ bao nhiêu đâu sao mà quên được. Hai bên là nhà cao tầng ngước nhìn muốn trật ót, đường phố bốn làn thẳng tắp tấp nập người xe lao vun vút chỉ chực va vào nhau, ông đứng khựng lại bên lề. Cứ như là ở một vũ trụ khác. Một cậu trai trẻ hớt hải chạy tới vồ lấy ông, “Ông ngoại, ông ngoại đây rồi, sao ông bỏ đi một mình không kêu con?”. “Kêu làm gì, ông tự đi được có sao đâu. Mà sao con biết ông ở đây?”. “Thì đó, may là con nhớ ông có nói tới nhà thờ Núi nên mới nghĩ là chỉ ở quanh đây. Má con dặn không được rời ông một bước, có hai ông cháu ở đây à, lỡ lạc thì sao”. “Làm gì dữ vậy, sao mà lạc được chớ, ông đã nói ông sẽ tìm về núi Côi mà, ông là dân núi Côi đó con, 60 năm chớ 100 năm ông cũng tìm ra”. “Vậy giờ núi Côi đâu mà ông đứng đây?”. Cậu trai mở smartphone định vị, ngơ ngác chỉ vào bản đồ, “Khu vực này toàn nhà là nhà ông ạ, chẳng có rẻo núi nào hết. Thôi về lại hotel nghỉ đi để con dò hỏi cho may ra, à mà núi đâu ở đây chớ vô lý”.
Trời, bây giờ núi Côi đâu? Ông già thầm nghĩ tuyệt vọng nhìn quanh, xóm cũ biến mất theo thời cuộc đã đành, người cũng rời bỏ tan tác, nhưng núi nào lại có chân đi?
***
60 năm trước ông già chỉ mới 20 là lúc rời đi từ đây, còn thực ra ông đã được sinh ra và lớn lên ngay ở mảnh đất này. Khi đó chỉ là một xóm nhà lá không tên chừng hơn mươi căn quây quần bên động cát thông thống nhìn ra biển, núi Côi đã sừng sững ở đó tự đời nào rồi. Biển trước mặt chạy ù một hơi là tới còn núi thì ở ngay bên cạnh xanh rì rậm rạp bí ẩn. Ai cũng gọi là núi Côi vì nó chỉ có một ngọn chơ vơ tròn trịa như một con rùa nằm úp mai nhô cao, có thêm cái cổ rùa thấp và vươn về phía Tây nơi có rừng dương ken dày. Ông cũng đã chứng kiến cảnh nổ mìn phá đá cái cổ rùa này để có một con đường mới, còn phía đầu rùa thì được san ra để xây nhà thờ bên trên. Ngày ấy dưới bụng con rùa đá khổng lồ này là một hồ đá nhỏ chứa đầy nước trong vắt mát lạnh từ các mạch trên núi ngày đêm rỉ rả xuống. Trên đỉnh lại có một ngôi tháp cổ bỏ hoang trống trơ lạnh lẽo. Dù với lắm lời đồn đại hoang đường rằng có một đôi mãng xà khổng lồ canh giữ hồ nước, có chúa sơn lâm thỉnh thoảng gầm lên thị uy, có cả ba họ nhà khỉ tinh ranh như ma chiếm lĩnh cả ngọn núi, có tiếng hú nơi ngọn tháp cổ giữa đêm trăng… thì bọn trẻ xóm nhà lá vẫn coi núi Côi là vương quốc của chúng. Ông già từ bé đã theo người lớn lên đây mót củi, hái lá thuốc vặt trái rừng, săn bắt thú. Lớn thêm một chút thì cùng với chúng bạn lên núi bày đủ trò vui tự do như chim trời cá nước chẳng sợ ai la rầy. Lúc này xóm nhà lá đã mở mang ra tận chân núi, thú rừng bị đuổi riết nên di cư lần hồi, rừng cũng thôi rậm, núi chỉ còn lại đá và những bụi cây khô.
Rồi ông già cũng có người yêu, nàng trong đám trẻ cùng chơi, cùng phá, cùng đói khát và lớn lên với ông từ xóm nhà lá bên chân ngọn núi Côi này. Mối tình đầu, mối tình suốt đời không quên.
***
Có lần đứa con gái hỏi ông, câu hỏi mà hầu như đứa trẻ nào cũng từng thắc mắc, “Vì sao ba ưng mẹ con vậy?”. “Con nghĩ sao?”. Con bé hỏi câu này từ năm lên 10, khi mẹ nó bỏ gia đình đi theo duyên mới. “Mẹ không thương con”. “Mẹ vẫn liên lạc và thăm con mà, chỉ là không ở chung nhà thôi”. “Mẹ xấu, con ghét mẹ”. “Khi nào lớn con hết giận mẹ sẽ không thấy mẹ xấu đâu, thực ra mẹ muốn mang con theo nhưng sao con không chịu?”. “Vì con thích ở với ba, ba tốt hơn mẹ”. Ông mà là người cha tốt sao, hay là con bé đọc được tâm tư thầm kín của ba mình, biết rằng ông không thể nối duyên với ai được nữa nên cần người thân kề cận.
Mấy chục năm sau con gái mới hỏi lại câu đó khi ông quyết định quay về quê cũ, có điều dài dòng và trực diện hơn, “Vì sao hồi đó ba ưng mẹ con vậy, hai người chẳng có điểm gì hợp nhau cả. Chẳng lẽ chỉ vì nơi đất khách quê người không còn lựa chọn khác?”. Ông già 80 chẳng còn gì để tránh né, “Đúng rồi con”. “Ba cũng chẳng có vẻ gì thất vọng hay đau khổ khi không còn mẹ bên cạnh nữa, con giới thiệu cho ba bao cô mà cũng chẳng xong”. “Thì ba vẫn thấy ổn mà, đâu cần”. “Ba biết xóm nhà lá quê cũ nay không còn dấu tích gì nữa cũng chẳng còn người thân thích, 60 năm rồi đó ba, mà ba vẫn muốn về ư?”. “Ừ, ba muốn quay về, 60 năm chỉ như một cái chớp mắt”.
***
Đứa cháu ngoại chạy về khách sạn tìm ông vẻ mừng rỡ, “Ông ngoại ơi có núi Côi rồi, đúng là núi Côi thiệt rồi…”. “Đâu đâu, núi Côi đâu, thấy chưa con, nó phải ở đây chứ làm sao lạc đi đâu được?”. “Đúng rồi, ông ngoại nhớ đúng rồi, từ nhà thờ Núi đi thẳng tới về hướng đông, chính là núi Côi đó, chỗ ông ngoại đứng hồi sáng nay đó”. “Nhưng… có ngọn núi nào ở đó đâu, hỏi bao người qua lại sao không ai biết gì hết”. “Vậy mới ly kỳ chớ, con đã đi vô từng nhà từng nhà một để hỏi, cuối cùng, thật tuyệt vời không thể nói hết được”. “Đi liền, mình đi gặp núi bây giờ luôn đi”.
***
Hai ông cháu đứng trước một cửa tiệm bán đồ thời trang cao cấp đối diện nhà thờ Núi, cửa gương sáng loáng hết cả mặt tiền. Có vẻ chỉ mới về mấy ngày mà cậu cháu ngoại của ông già đã kịp trở thành khách VIP ở đây, căn cứ vào thái độ vồn vã của cô chủ tiệm.
“Cháu chào ông, nghe cậu đây nói ông đang đi tìm núi Côi ạ?”.
“Phải, cô là người ở đây sao, cô biết núi Côi thật à, phải vậy chớ”.
“Không ạ, cháu chỉ thuê mặt bằng nơi này mở tiệm thôi. Người chủ căn nhà này có lần giải thích về kết cấu của nó và cháu loáng thoáng nghe nhắc tới núi Côi”.
“Ôi trời. Vậy người chủ nhà hiện nay ở đâu cho tôi gặp đi”.
“Dạ họ ở nước ngoài rồi, nửa năm mới về nhà một lần”.
“Chị ơi, thôi chị cứ chỉ núi Côi cho ông ngoại em đi rồi nói chuyện sau”.
“À phải, xin lỗi ông. Mời ông và em theo cháu”.
Ông già ngơ ngẩn chưa kịp hiểu ra chuyện gì khi cô gái chủ tiệm ra dấu ngoắc ông đi theo vào trong, may có cậu cháu đi cùng.
Phía trong là căn phòng ngủ hẹp, tối, và khá bề bộn, hóa ra mặt tiền phía trước ngó rộng rãi làm nơi trưng bày kinh doanh chứ cả căn nhà lại rất nông, sâu chưa đầy sáu mét.
“Núi Côi, núi Côi đâu…?”.
Cô gái đẩy cánh cửa sắt kéo ở bức vách trong cùng, và kéo cái rèm qua một bên. Vẫn rất tối không nhìn thấy gì, không hề có tia sáng nào xuyên vào mà chỉ có một luồng hơi mát lạnh len lỏi phả tới. Cô gái bật công tắc, ánh sáng đèn LED chói lòa.
“Đó, đó ông ngoại”.
“Núi Côi của tôi…”.
Ông già lập cập đi tới, chầm chậm đưa tay ra ngoài khung cửa. Bàn tay run run chạm lấy vách đá xám gồ ghề ươn ướt, không có một kẽ hở nào, không một âm thanh hồi đáp trừ tiếng giọt nước thánh thót rơi đâu đó vọng lại.
“Nghe bác chủ nhà nói là từ những năm 1960 sau khi mở đường người ta đã tràn tới đây cất nhà, ban đầu cất dưới chân núi, sau dần dần thì kín luôn ở phía trên. Mạnh ai nấy san ủi phá đá lấy mặt bằng. Ngay chủ căn nhà này cũng phải tốn rất nhiều công của để lấn thêm vô vách núi đó ông”.
“Tất cả căn nhà chung quanh đều như vậy sao?”.
“Dạ, họ ồ ạt làm lúc đó, chỉ vài năm là bạt hết ngọn núi, giờ thì nhà cửa kín hết cả rồi, toàn nhà lầu kiên cố. Chủ nhà nào cũng qua mấy đời nên chẳng ai còn nhớ, may bác chủ cũ ở đây có lần kể nên khi cậu em hỏi núi Côi là cháu nhớ ngay”.
“Vậy là hết”. Tim ông già như bị khoét mất một lỗ.
“Nghe nói vẫn còn đường lên đỉnh núi đó ông, đâu như ở phía sau dãy phố này mà phải đi vòng lại hơi xa”.
“Cái gì?”, ông già bất thần hồi tỉnh.
“Dạ nghe đâu còn có nhà nào trên đó á, mà cháu cũng không biết sao họ ở được nữa hay ghê. Đường lên thì bị bít, điện nước gì cũng không tới”.
***
Cậu cháu ngoại rền rĩ khi thấy ông già chống gậy lần từng bước khó khăn lên con dốc đá vốn là khe núi ngoằn ngoèo trơn trượt, nhiều chỗ tối và hẹp phải hạ thấp người băng qua. “Đã nói để con đi trước coi sao rồi về dẫn đi mà không chịu”. “Làm sao ông đợi nổi, tới ngay đây rồi chẳng lẽ bó chân chờ”. “Hay thiệt, ai mà dè vẫn còn đường đi lên núi hả ông, mình mà không hỏi thăm từ dưới lên là bỏ qua cái ngách đầu tiên rồi, cứ tưởng lối đi riêng nhà họ. Chắc chỉ còn mấy cái nền nhà chớ người nào sống ở đó”. “Có người ở trên đó con à”. “Sao ông biết?”. “Mấy cái bậc đá này là làm lại cho dễ đi nè, chân người qua lại bắt mòn luôn con không thấy sao”. “Ồ chắc đúng rồi, có lối rẽ nè ông, lên đây thoáng quá”. Ông già thở hổn hển, “Núi Côi xưa không cao lắm, chừng non 100 m, có khi mình sắp lên tới đỉnh núi rồi”.
Quả là như vậy, qua hết cái ngách ngắn cuối cùng này là một thế giới mới mở òa ra trước mắt, nắng chói chang, bầu trời trong xanh kia, vầng mây trắng đang sà xuống thấp kia, tiếng gió vi vu, tiếng ve ca chim hót rộn ràng. Mình đang ở đâu đây? Cảnh vật trước mắt ông già bỗng dưng nhòa đi, ông tháo kính ra lau. “Ông khóc à?”. “Ông hoa mắt thôi, cứ như là đang nhìn thấy một bầy con nít đang chơi đùa lăn lóc ở đây vậy”. “Ồ, đúng là có nhà nè ông, cửa nẻo đàng hoàng ghê”.
Một căn nhà nhỏ bằng gỗ bất chợt hiện ra, đơn sơ và khép kín nhưng lại đầy mời gọi. Thấp thoáng bóng người qua khung cửa sổ đang mở có tấm rèm màu tím nhạt đang tung bay lất phất. Trước nhà có một khoảnh đất nhỏ được rào cẩn thận như bảo vệ cái gì.
Cậu trai trẻ hớn hở gọi người bên trong để hỏi thăm còn ông già thì lê từng bước lại gần và chết sững khi nhìn thấy báu vật được bảo vệ trong khoảnh đất ấy. Trong đầu ông bây giờ là những thước phim tua ngược lại về vùng ký ức của hơn 60 năm về trước với tốc độ ánh sáng. “Mình chưa quên gì cả, ơn trời”.
“Ông ngoại ơi, con vừa nói chuyện với bà cụ chủ nhà đây, hóa ra bà là một cư sĩ tu tại gia nên mới chọn chỗ thanh tịnh này. Thưa bà, đây là ông ngoại con, ông con từ xa về chỉ với một nguyện vọng là tìm lại núi Côi thôi bà ạ, thật là may mắn quá”.
Bà cụ chắc cũng ngang lứa tuổi của ông già, tóc bạc trắng lún phún sát da đầu, bộ đồ lam sạch sẽ thẳng thớm, nhẹ nhàng tiến lại. Dường như có mùi hoa ngọc lan quen thuộc thoang thoảng đâu đây cùng với tiếng chuông ngân nga xa xăm.
Ông già bối rối hướng mắt về báu vật, đó là một khối kiến trúc bằng gạch nung cổ đã bị sứt mẻ khá nhiều được xây theo dạng bảo tháp rỗng nhiều tầng hình tròn, cao hơn hai mét với đường kính khoảng một mét đặt trên một khối đá vuông vức bằng phẳng. Dưới chân tháp là hương án, dấu nhang đèn còn mới. “Tôi không tin vào mắt mình nữa, chẳng lẽ đây là ngọn tháp cổ ngày xưa trên đỉnh núi Côi, ngay chỗ này…”.
Bà già mỉm cười, “Tháp cổ vẫn vững chãi ở đó từ xưa giờ mà. Ông đúng là dân núi Côi rồi. Ông là ai vậy?”.
“Tôi là… tôi là tôi cứ tưởng núi Côi đã bị san bằng, thật xúc động. Không ngờ vẫn giữ được cổ tháp thiêng liêng này”.
“Ai dám động vào cổ tháp?”, bà già dịu dàng.
“Thì ra vậy”, cậu cháu trai gật gù, “cũng còn may khi người ta vẫn tin vào chuyện tâm linh. Bà ở lại đây để bảo vệ đúng không?”.
“Phần nào thôi, cũng còn nhiều người nhớ tới và lên thăm viếng như ông đây. Không có tôi thì sẽ có người khác nhang khói. Tôi sống ở đây cũng gần hết đời rồi”.
Ông già dường như vẫn chưa qua cơn xúc động, “Không giấu gì bà, tôi ở đây từ bé, ngay xóm nhà lá dưới chân núi, năm hai mươi tuổi mới rời đi”.
“Rồi ông đi luôn một hơi?”, bà già ngó ông chăm chú.
“Dạ đúng đó bà, nên khi quay lại không thấy núi Côi đâu, ông ngoại con cứ tưởng là lạc mất rồi”.
“Núi nào mà đi lạc, kể cả khi tan hoang. Chỉ có ông thôi, sao bây giờ ông mới về?”.
“Bà biết tôi sao?”.
“Ông là một ông già đi lạc, quá lâu rồi”, bà già nói trong nước mắt.
Chàng trai sửng sốt hết nhìn bà già rồi chuyển qua ông già. Họ không để ý tới chuyện gì nữa, họ đang mải nhìn nhau.
Đã từ lâu tôi đã nghĩ đến chuyện trốn chạy vì không thể trải qua một mùa Giáng Sinh nữa trong hoàn cảnh này. Ngay từ lúc đặt chân đến bệnh viện hoành tráng ấy, ý tưởng duy nhất trong đầu tôi là bỏ trốn. Chạy, thật xa nơi chốn ấy..
Đi chân trần để khỏi gây tiếng động, một tay tôi cầm đôi giày còn tay kia cầm chiếc gậy và một túi ny-lon, tôi mệt nhọc dò dẫm trong bóng tối của màn đêm.. Chẳng có ai nhìn thấy…. Mấy cô y tá đang bận xem TV hay ăn uống, còn các chú bảo vệ thì đang dúi đầu vào màn hình điện thoại để vi vu trên Facebook… Họ chỉ có thể phát hiện vào sáng mai, khi cô y tá bước vào phòng để đánh thức tôi và khám phá ra là dưới chiếc mền trùm kín, chỉ có hai chiếc gối nằm dưới tấm drap, xếp đặt như một người đang nằm ngủ.
Bây giờ thì tôi có thể mang đôi giày vào chân và từng bước, từng bước rời xa cái nơi chốn khốn nạn này. Tôi muốn chạy đến khu rừng thông mà hằng ngày thường nhìn thấy qua khung cửa sổ. Chắc chẳng xa gì lắm.
Thời còn trẻ tôi đi khá nhanh, cứ tưởng mình có thể nắm bắt thế giới này trong bàn tay…nhưng giờ đây tôi chỉ là một ông lão già nua. Bệnh tật và cô độc.
Tôi phải làm bất cứ điều gì có thể để có thể trốn khỏi cái bệnh viện, mà thực chất là một nhà ngục nạm vàng. Còn căn nhà của các con thì đúng là địa ngục.
Dĩ nhiên trước đây tôi chưa bao giờ ngờ tới.
Tất cả được bắt đầu sau đám tang của em, em yêu ạ. Trở về nhà, anh chỉ muốn xa cách với tất cả bọn người cứ luôn mồm cười nói, ngồi một mình để ngẫm nghĩ về những gì sẽ xảy đến với mình. Trong anh vẫn còn lòng ham sống nhưng ý nghĩ là em không còn trên đời này nữa làm anh đau đớn. Đau không chịu nổi! Dĩ nhiên anh cũng có thể tự mình nấu ăn, dành thời gian để đọc, để viết, nhưng anh chợt nhận ra là mình không thể nào bước vào căn phòng ngủ, nằm trên chiếc giường mà mình đã từng ôm nhau rồi chìm sâu vào giấc ngủ và thức giấc bằng một nụ hôn. Biết bao lần bàn tay của em sờ soạng nắm lấy tay anh rồi ngủ tiếp, như vừa được trấn an vì có anh nằm bên cạnh. Bao nhiêu niềm vui và đam mê đã được thắp sáng trong trái tim chúng mình, thay vì suy giảm, chúng lại được tăng lên cùng năm tháng, trong một tình yêu ngày càng khắn khít, thơm ngon như hương vị của một thứ rượu vang được ủ lâu năm trong thùng gỗ quý.
Vì những hoài niệm đau buồn đó nên anh quyết định đóng kín căn phòng bằng ổ khóa. Và ngay từ lúc ấy anh biết mình đang bắt đầu đi vào cõi chết.
Em yêu ơi, em có biết sự cô đơn là một căn bệnh trầm kha?
Dần dà, mọi người cố gắng thuyết phục anh về sống ở nhà đứa con trai. Và đây chính là bước đầu tiên để anh bị giam trong tù. Anh ngu ngốc quá!
Em yêu ơi, lúc em còn sống, anh chỉ biết đến công việc nhưng chỉ cần nghĩ đời mình có em là anh đã vui rồi. Sau này các con mới xuất hiện, và anh từng nghĩ là chúng sẽ lớn lên như mơ ước của chúng mình. Chỉ đến bây giờ anh mới hiểu là điều đó không bao giờ có. Dù chúng ta đã gieo những hạt mầm đúng đắn, đã cố gắng truyền đạt những giá trị quan trọng về cuộc đời, dạy chúng biết thế nào là lòng bác ái, về tình người và tâm từ bi. Em ơi, anh vừa mới nhận ra là mình đang nói chuyện với em dù biết em không còn trên đời này nữa.
Nhưng có lẽ là em đã may mắn hơn anh, vì sớm từ giã cõi đời ô trọc này để khỏi phải chứng kiến sự lãnh đạm, sự khinh thường và bạc bẽo của các con. Tất cả mọi đứa, không chừa đứa nào. Ngay cả con gái út cũng không chứng tỏ là trong lòng nó còn chút tình cảm nào.
Tôi đi, như chạy. Mệt lắm, nhưng chắc cũng sắp đến nơi. Tôi bắt đầu nhìn thấy những chóp đỉnh của hàng thông được chiếu sáng bởi một mảnh trăng non. Tiếng rì rào của biển cũng dường như đang vọng tới. Tôi còn nghe được một vị mặn đậm đà của đại dương hòa lẫn với mùi của rừng thông.
Còn nhớ không em, đêm đó, bên bờ biển, chúng mình đã ẩn mình giữa những chiếc thuyền đánh cá để nồng ấm yêu nhau? Bao nhiêu vì sao đang lấp lánh trên bầu trời và mùi thơm của biển cứ hòa trộn vào vị mặn của môi nhau.
Bây giờ thì cũng có những vì sao lấp lánh trên đầu anh, lúc anh ngồi tựa lưng vào một cây thông và hai bàn tay ve vuốt hàng cỏ ướt. Có một bầy đom đóm đang bay giữa những lùm cây. Có phải là em đã mời chúng đến đây, để anh khỏi cô đơn trong buổi tối cuối cùng?
Chính sự cô đơn là điều làm anh đau khổ nhất. Anh liên tục nhìn thấy em bên cạnh mình. Anh kể lể với em về mọi chuyện. Anh thấy thiếu vắng vì không được chạm vào em, cảm nhận được bàn tay mềm mại và êm ái của em thường dịu dàng ve vuốt khuôn mặt anh, nụ hôn của em mỗi sớm mai thức giấc, những chuyện vặt vãnh trong ngày mà chúng mình thường cười đùa như hai kẻ đồng lõa.
Anh không thể tưởng tượng là em sẽ đau đớn như thế nào khi nhìn thấy những đứa con cười chế diễu khi nhìn những bức hình của chúng mình âu yếm bên nhau, chứng kiến những quyển sách yêu thích bị ném đi tung tóe. Chúng đã vứt đi mọi thứ, như loại bỏ mình, bởi vì sự hiện hữu của chúng mình lúc tuổi già đang làm phiền chúng.
Nhưng chỉ còn vài giờ nữa thôi. Anh cũng sẽ không còn nữa. Anh sẽ vĩnh viễn chấm dứt mọi sự phiền hà.
Đủ rồi! Anh không muốn phung phí những giây phút cuối cùng này để nghĩ đến những kẻ vô tình bạc nghĩa.
Khô khốc và tham lam, đấy chính là những thứ mà các con đã trở thành.
Anh như vừa nghe lại buổi tranh cãi cuối cùng của chúng :
Bác sĩ nói cần cho ổng nhập viện…
Vậy là phí bao nhiêu tiền của.
Thì dùng tiền mà ổng bả để dành đó…
Thế thì còn gì cho bọn mình? Một mớ tiền lẻ à? Biết đâu thằng cha già vô dụng này chưa chịu chết…và thế là hết sạch…
Câm mồm đi. Chính mầy đã bán căn nhà của ổng và còn đang giữ tiền…
Bao nhiêu điều xấu xa và kinh tởm mà anh đã phải nghe! Thế nhưng anh câm lặng, giả bộ như chẳng hay biết gì. Nhưng đêm đó, vì quá đau đớn mà sức khỏe của anh bị một cơn suy sụp.
Bây giờ mình phải làm gì đây? Nếu tao phải mang lão đến bệnh viện thì làm sao có thể tham dự đám cưới của sếp…Thôi, cứ bỏ mặc lão. Nếu lão chết thì càng tốt. Mình tiết kiệm được tiền bạc và thời gian.
Anh không thể nào chịu nổi sự khốn nạn kinh tởm này. Anh ngồi bật dậy và to giọng nguyền rủa chúng, là anh không muốn ở với chúng thêm một phút nào.
Bọn chúng chỉ khó chịu chứ không có ai giật mình vì phản ứng đột ngột của anh. Một đứa chở anh vào bệnh viện. Và anh biết là định mệnh của mình đã được an bài. Trước hoặc sau gì cũng có một cú đột quỵ, sau đó có thể là bán thân bất toại hay tệ hơn, không thở được, anh sẽ bị đút các loại ống linh tinh để sau đó chết trong đau đớn.
Nhưng nỗi đau lớn nhất vẫn là bị bao vây bởi đám diều hâu tham ác này, chúng đang chờ đợi và thèm rõ dãi đoạn kết đời anh để thừa hưởng gia tài, rồi sau đó còn lớn tiếng rêu rao là đã ở kề cận cha mình cho đến phút lâm chung!
Bọn khốn kiếp! Giả nhân giả nghĩa!
Đủ rồi! Đủ rồi! Đã bao lần tôi hét lên như thế, không muốn nghĩ đến, nhưng lại chẳng thể quên. Tôi bắt đầu cầm lấy chai nước và lọ thuốc nằm trong bao nylon. Mình giỏi thật, đã tính toán chi ly mọi thứ từ lâu. Mỗi ngày tôi đều để dành một viên thuốc ngủ, giả bộ như vừa mới uống, ngoan ngoãn thực hành lời căn dặn của các y tá.
Một nắm thuốc trong lòng bàn tay. Một ngụm nước. Môt ngụm nữa. Một cơn ho rồi vận sức nuốt xuống. Được rồi. Bấy nhiêu đó là quá đủ để trái tim già này ngưng đập.
Đêm nay không lạnh lắm. Chỉ có vài cơn gió nhẹ và anh dường như vừa nhìn thấy ánh hồng ở phương Đông.
Thế nhưng anh muốn tìm một chút hơi ấm. Muốn cảm nhận rằng em đang nằm gọn trong vòng tay anh, giống như bữa chúng mình đi hái cherri, trái chín, mọng đỏ như môi em. Anh vừa ăn, vừa hôn em, nép mình dưới bóng mát những cành cây trĩu quả.
Anh chợt sờ lấy môi mình như thể muốn tìm lại cảm giác đó, nghe lại mùi vị của môi em mềm mại và đỏ mọng…ôi, anh yêu em nhiều lắm… và anh thấy trống vắng làm sao!
Anh bắt đầu nghe một cảm giác rất lạ trong cơ thể mình. Như một cơn buồn ngủ. Bình minh cũng vừa ló dạng. Ngày đang ửng sáng. Và những vì sao dường như cũng tắt dần. Bỗng anh thấy lạnh. Vội nép mình vào gốc cây để tránh gió. Một cơn rùng mình rất khẽ. Một cảm giác thật lạ lăn trên má, chạy xuống môi. Rồi một hơi ấm ở đâu tràn tới, như thể anh đang nằm giữa vòng tay của ai. A, hiểu rồi, là em, người yêu quý nhất của anh.
Cảm ơn em đã không để anh chết một mình. Tìm lại nhau, hạnh phúc biết bao! Và giờ đây, mãi mãi bên nhau.
Trường Lũy là một phức hợp bao gồm: lũy-bảo (đồn)-đường, hình thành từ thời chúa Nguyễn, xây dựng quy mô dưới triều Nguyễn; đi qua địa phận 3 tỉnh trước đây: Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định.
Thế nhưng chỉ cần đi qua một đoạn ngắn công trình này, phần thuộc tỉnh Bình Định (cũ) chẳng hạn, bất cứ ai mến yêu quê hương, đất nước mình cũng sẽ bùi ngùi, kính ngưỡng trái tim, khối óc, trí tuệ người xưa.
Tôi đã nhiều lần đến với Trường Lũy trong nhiều vị thế, tư cách khác nhau, lần nào cũng dâng lên niềm cảm khái.
1.
Năm 1819, triều Gia Long, Tả quân Lê Văn Duyệt (1764 – 1832) khởi công xây dựng công trình kiến trúc phòng ngự dọc theo chân Đông Trường Sơn, từ Hà Đông (Quảng Nam) đi qua các huyện phía Tây Quảng Ngãi (Trà Bồng, Sơn Tịnh, Sơn Hà, Tư Nghĩa, Minh Long, Nghĩa Hành, Ba Tơ, Đức Phổ) và các xã Hoài Sơn (Hoài Nhơn), An Hưng, thị trấn An Lão, An Tân, An Quang (An Lão). Nguyễn Tấn, vị quan chỉ huy Trường Lũy trong những năm 1860, viết trong sách Vũ Man Tạp lục thư: “Quận công Lê Văn Duyệt tâu xin xây Trường Lũy, Nam giáp ranh giới Bồng Sơn tỉnh Bình Định, Bắc giáp ranh giới huyện Hà Đông (Núi Thành) tỉnh Quảng Nam”. Các bộ chính sử của triều Nguyễn như: Đại Nam thực lục, Quốc triều chính biên toát yếu, Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí… đều có ghi chép về Trường Lũy.
Các nhà khoa học khảo sát Trường Lũy. Ảnh: N.T.Q
Trường Lũy được đánh giá là một trong những công trình phòng thủ dài nhất Đông Nam Á. Tuy nhiên, việc xác định chiều dài cụ thể lại có nhiều số liệu khác biệt. Sách Đại Nam thực lục chép lũy dài khoảng 117 dặm, còn Viêm Giao trưng cổ ký thì chép 177 dặm. Sự chênh lệch này có lẽ do mỗi thời điểm ghi chép, lũy lại được nối thêm hoặc tu bổ.
Hiện nay, qua khảo sát, các nhà nghiên cứu xác định chiều dài Trường Lũy cũng khác nhau. Đoàn khảo sát của Viện Viễn Đông Bác Cổ (Pháp) tại Hà Nội và Viện Khảo cổ học Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010 cho biết: Lũy có thể lên đến 300 km, trong đó riêng đoạn trên đất Bình Định dài 30 km. TS Nguyễn Tiến Đông (Viện Khảo cổ học Việt Nam) ước tính chiều dài xấp xỉ 200 km… Dù con số chênh lệch nhưng có thể khẳng định độ dài của Trường Lũy ít nhất trên 100 km. Nếu tính cả các nhánh rẽ, có thể vượt 200 km. Theo hồ sơ di tích của Bảo tàng Bình Định, đoạn lũy qua Bình Định dài 14,4 km, với 19 bảo/đồn, mỗi đồn cách nhau từ 500 m đến 1.000 m. Men theo Trường Lũy, có dấu tích con đường cổ chạy song song phía Đông Lũy, là đường thiên lý Bắc – Nam trong lịch sử.
Trường Lũy là di tích kiến trúc đa dạng về chất liệu, có cấu trúc độc đáo, được xây dựng, củng cố và mở rộng trong suốt hơn 3 thế kỷ. Xét về phương diện kiến trúc xây dựng, Trường Lũy là một trong những kỳ công của người Việt. Điểm kỳ vĩ của Trường Lũy không chỉ về độ dài, mà còn ở đặc điểm quân sự – văn hóa. Đáng chú ý, lũy không phải bức tường “khóa chặt” địa bàn miền núi với miền xuôi. Lũy cắt ngang qua nhiều con sông suối và tại mỗi điểm cắt có đồn/bảo kiểm soát. Chính thiết kế này vừa ngăn quân nổi dậy tập trung tràn xuống, vừa mở lối cho giao thương hàng hóa (lâm thổ sản, muối, vải…) giữa người Việt dưới xuôi với đồng bào H’re, Ca Dong, Xơ Đăng… ở thượng du.
Giữa hai đòi hỏi cấp bách – an ninh lãnh thổ và an ninh thương mại – Trường Lũy được coi như là một thỏa hiệp. Nếu về phương diện chính trị, Trường Lũy thực sự là sáng kiến của triều đình thì về mặt xây dựng, nó là kết quả sau cuộc thương thảo giữa Lê Văn Duyệt và các thủ lĩnh người H’re, công việc xây dựng dựa vào công nghệ truyền thống và nguồn nhân lực của cả hai cộng đồng.
GS Phan Huy Lê nhận định: Trường Lũy không chỉ là một công trình phòng thủ đơn thuần mà còn mang ý nghĩa lịch sử quan trọng, đó là giao thương giữa miền biển với miền núi. Các bảo/đồn vừa kiểm soát thu thuế, đồng thời cũng đảm bảo an ninh cho hệ thống giao thương. Điều đó có nghĩa đây là một công trình kiến trúc thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và có cả máu của tiền nhân.
Các nhà khoa học quốc tế và trong nước đánh giá cao về giá trị lịch sử, văn hóa của Trường Lũy. Cuối tháng 3.2011, đại sứ các nước Pháp, Ba Lan, Hungary, Anh, Hy Lạp, Italy cùng Phái đoàn Ủy ban châu Âu (EU) đã đến thăm di tích Trường Lũy. Các đại sứ, nhà nghiên cứu văn hóa đều có nhận định chung: Đây là công trình kiến trúc hết sức độc đáo, một di sản quý báu không chỉ của Việt Nam mà là của cả nhân loại.
2.
Tại hội thảo bảo tồn, phát huy di tích Trường Lũy gắn với du lịch tại Quảng Ngãi do UBND tỉnh Quảng Ngãi tổ chức ngày 6-5-2011, GS Christopher Young, Hội đồng Di sản Anh, Thành viên Hội đồng Di sản thế giới, có ý kiến: Phát triển du lịch di tích Trường Lũy sẽ tạo ra cơ hội việc làm, mang lại lợi ích kinh tế bền vững cho cư dân địa phương, thông qua dịch vụ du lịch; thúc đẩy du lịch địa phương và cả miền Trung phát triển nếu tỉnh có kế hoạch bảo tồn, quản lý và khai thác có hiệu quả. Đây là điều rất quan trọng, mang tính cốt lõi cho việc bảo tồn gắn với phát triển du lịch một cách bền vững.
Bảo tàng tỉnh phối hợp với Công ty thiết kế Bảo An khảo sát Trường Lũy La Vuông đo đạc khoanh vùng bảo vệ di tích. Ảnh: N.T.Q
Theo bà Jane Brantom – chuyên gia cao cấp về du lịch Anh, người có kinh nghiệm trong việc bảo vệ lũy Hadrian ở miền Bắc nước Anh, so với lũy Hadrian thì Trường Lũy có nhiều đoạn nguyên vẹn hơn. Việc khai thác Trường Lũy phục vụ du lịch không chỉ tạo ấn tượng tốt đẹp cho du khách về văn hóa, lịch sử của một vùng đất mà còn đem lại lợi ích lớn, tạo việc làm cho nhiều người, nhất là cộng đồng dân cư sống trong khu vực di tích. Dọc Trường Lũy có cộng đồng dân tộc H’re sinh sống nên cần phục hồi một số làng văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc để khách du lịch tham quan, tìm hiểu thêm về văn hóa, ẩm thực của người dân bản địa. Có thể đón du khách về ăn nghỉ tại nhà dân theo mô hình du lịch homestay”…
3.
Tỉnh Bình Định (cũ) đã xếp hạng 153 di tích (trong đó 2 di tích cấp quốc gia đặc biệt, 35 di tích cấp quốc gia, 116 di tích cấp tỉnh). Với một người gắn bó với lĩnh vực này lâu năm, tôi thấy, trong hơn 150 di tích đã được xếp hạng, chỉ có chừng 10 di tích phát huy giá trị gắn với phát triển du lịch. Điều đó cho ta biết rằng, không phải tất cả các di tích được xếp hạng đều có thể phát huy giá trị gắn với phát triển du lịch, có di tích phát huy giá trị gắn với phát triển du lịch ngay sau khi xếp hạng, tôn tạo, có di tích sẽ phát huy giá trị gắn với phát triển du lịch trong tương lai và có những di tích chỉ lưu dấu sự kiện mà không thể phát huy giá trị gắn với phát triển du lịch. Bởi lẽ, để phát huy giá trị di tích gắn với phát triển du lịch, ngoài giá trị vốn có của di tích, còn phải đáp ứng những yêu cầu khác của du khách như đầu tư quy hoạch tôn tạo, xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông thuận tiện, hình thành các dịch vụ đáp ứng nhu cầu khách tham quan…
Các nhà khảo cổ học xử lý hiện trường ở lối ra vào đồn An Quang. Ảnh: N.T.Q
Năm 2024, UBND tỉnh Bình Định đã phát động cuộc thi ý tưởng thiết kế quy hoạch khu vực phát triển du lịch sinh thái La Vuông. Tháng 8-2024, TX Hoài Nhơn tổ chức Ngày hội du lịch La Vuông – Cao nguyên xanh vẫy gọi (nơi có hệ thống Trường Lũy). Đây là một cú hích nhằm giới thiệu, quảng bá vẻ đẹp thiên nhiên, văn hóa đất và người Hoài Nhơn, thu hút đầu tư phát triển du lịch. Nhưng tất cả đều thu lại kết quả rất hạn chế. Cho nên có thể nói, công tác bảo tồn di tích lịch sử – văn hóa luôn đòi hỏi “bài toán” cân bằng giữa phát triển kinh tế và gìn giữ truyền thống.
Đến hôm nay, Trường Lũy vẫn vẹn nguyên giá trị văn hóa, lịch sử, khảo cổ, mở ra cơ hội phát triển du lịch và nghiên cứu. Quản lý, bảo tồn di tích này cũng chính là góp phần khẳng định bản sắc và chiều sâu lịch sử của vùng đất Bình Định nói riêng, cũng như Việt Nam nói chung. Phát triển du lịch thông qua bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa không chỉ thu hút, đáp ứng nhu cầu của du khách mà còn góp phần lan tỏa các giá trị văn hóa độc đáo của dân tộc đến với bạn bè quốc tế.