Vợ chồng chị Tam sinh sống tại một quận vùng ven của thành phố. Họ thu mua nhôm, sắt vụn từ các công ty nhôm kính, ác công trình xây dựng bỏ ra.
Làm quen, mỗi khi có hàng, là anh chị nhận được cuộc gọi, ra chở về đổ ra trước sân, tỉ mỉ phân loại, sắp xếp cẩn thận rồi mang đi cân. Siêng năng thì cũng đủ đắp đổi, có khi còn dư ra được chút đỉnh để dành. Năm nay, con gái chị Tam lên mạng tìm thông tin, buồn rầu thông báo rằng, tiền vé máy bay khứ hồi về quê của một người thôi cũng tiêu tốn bằng tiền chợ cả tháng của cả nhà! Loanh quanh suy tính mãi, cuối cùng gia đình chị Tam quyết định ở lại ăn Tết. Thôi kệ, ra Giêng thư thả hơn rồi mình về, chi phí sẽ đỡ hơn, đâu nhất thiết cứ phải ăn Tết quê mới được.
Thế nhưng, khi gió tháng Chạp rập rờn đâu đó trên mấy rổ kiệu đang phơi nắng trong hẻm, chị Tam len lén buồn. Cả năm, chị vẫn thường mường tượng về những ngày Tết giữa khung cảnh quen thuộc, với các món ăn xứ bắc đầy nhung nhớ. Chị thèm bầu không khí lành lạnh quê nhà, giữa bà con họ hàng quây quần, tí tách cút rượu trắng, dăm món ăn đơn sơ. Nhiều năm vào đây làm lụng, chị đếm thời gian bằng những chuyến hồi hương khi năm hết Tết đến. Thế mà…
Hòa là cô giúp việc theo giờ của mẹ tôi. Cô nhận vài mối chủ nhà, và theo lịch trình hẹn trước, Hòa sẽ đến dọn dẹp, nấu nướng. Có lần, tôi hỏi vui Hòa rằng, đều là các đầu việc nhà na ná nhau, ngày này tháng nọ như vậy có chán không? Hòa cười tươi trả lời, dạ em quen rồi, em chỉ mong luôn có sức khỏe để kiếm tiền, nuôi con, dành dụm cuối năm về thăm nhà. Thế mà mới đây Hòa hỏi xem mẹ tôi có cần cô ấy qua phụ vào mấy ngày Tết không. Hỏi sao không về quê, chưa mua được vé tàu à, Hòa tần ngần rồi kể, khoản tiết kiệm chưa được nhiều, giờ về quê dịp Tết rất nhiều thứ phải lo. Ngoài đi lại, ăn uống, còn quà cáp biếu xén, phong bao lì xì… Vợ chồng Hòa bàn nhau, nếu ở lại làm thêm mấy ngày này sẽ dư ra được số tiền không nhỏ, đủ cho con trai đóng học phí luyện thi vào đại học. Mẹ tôi nghe tới đây liền gọi ngay vài cuộc điện thoại, giới thiệu Hòa cho mấy gia đình đang lo lắng tìm người phụ đỡ khi trẻ con bắt đầu nghỉ học, loanh quanh ở nhà…
Một tối dự tất niên về trễ, tôi bắt taxi công nghệ, thấy anh lái xe cởi mở trò chuyện. Rằng anh đợi bọn trẻ được nghỉ Tết thì chở mấy mẹ con về nhà ngoại ở miền Tây tá túc. Riêng anh sẽ quay ngược lại thành phố, tranh thủ mấy ngày Tết ít cạnh tranh và giá cước tốt hơn, để cải thiện thu nhập. Hỏi sao không nghỉ ngơi sau cả năm ôm vô lăng rồi, anh hồ hởi bảo, cứ nghĩ tới sau Tết có một khoản để trang trải, thì thấy một mình mưu sinh ở thành phố cũng rất đáng. Chưa kể, vợ con về ngoại cũng vui vẻ sum vầy, còn có thể gọi điện thoại thấy hình cho nhau mỗi ngày, nên cũng gần gũi lắm. Tôi típ cho anh một khoản thơm thảo be bé, chúc anh “gặt được nhiều lúa” cho vợ con trong những ngày chăm chỉ tất bật này.
Những câu chuyện kiểu như trên thật không hiếm giữa mảnh đất phương nam năng động này, nơi mà người ta hay bảo: Chỉ cần bạn chịu khó, siêng năng thì chẳng sợ bị đói. Thế nhưng, đâu đó vẫn là ánh nhìn rười rượi cố giấu, như đôi mắt chị Tam lúc láng giềng vừa hỏi thăm vừa lặt lá mai, chờ đón những lộc nõn xanh um bật nở. Người ta có thể tất tả và lãng quên trong cả năm dài, nhưng đắm mình vào không khí tháng Chạp, dễ thấy lòng bao nhiêu niềm day dứt. Chính những cưu mang, lộc lá, rộng lòng với nhau, sẽ giúp cho mùa xuân vơi bớt những tiếng thở dài.
Chiều 28 Tết, thằng cháu dưới quê mang lên cho con gà nòi trống, đặng làm thịt cúng 30, đón ông bà. Nó cột 1 chưn bỏ phía sau nhà. Coi như xong, không ai quan tâm tới con gà nữa…
Sáng 29 Tết, hắn dậy sớm. Hồi này hắn hay mang mấy thứ không đâu vào giấc ngủ, chập chờn tới 3,4 giờ sáng là thức. Hắn bắc ấm nước, mở cửa nhìn ra sân sau. Con gà qua một đêm, như đã hồi sức lại sau một chuyến đi dài, đang nghiêng nghiêng cái đầu ngó hắn. Trời vừa ửng sáng. Hắn thảy cho nó nắm gạo, quay vô pha ly cà phê, thì nghe tiếng đập cánh, rồi tiếng gáy vang dội ngoài sân. Thằng cháu cũng lò mò dậy, tiếng còn ngái ngủ, nhưng vẫn không dấu được sự kinh ngạc:
– Ý!…Lạ nghen! Gáy nghe được quá chứ!
Hắn hỏi:
– Là sao?
Thằng cháu nói:
– Con này thua độ, con mua lại của trường gà! Bữa đó, con coi mình, coi chưn, coi vảy thấy ngon lành. Đem xổ với con dưới màu rõ ràng. Vậy mà thua một trận lãng nhách! Đau thấu bà cố luôn…
– Tao hỏi tiếng gáy kìa…
– Thì chắc nó cũng đau, nên thua trận đó về, tắt tiếng luôn! Giờ lên tới trên này nó gáy ngon lành, còn khí thế nữa chứ. Hay là nó biết mai phải chết, nên gáy từ giã!…
Con gà lại gáy, tiếng gáy không một chút e dè, như ngạo nghễ, như thách thức, như muốn lên tiếng về sự có mặt của mình…
Hắn lại hỏi:
– Mà sao thua?
– Cha chủ gà bán độ cậu ơi! Chả chơi chiêu. Ra trường đá thấy thiên hạ kết cái tướng gà, cáp 10 ăn 7, theo nhau nằm cửa trên. Chả ngầm bấm con gà muốn liệt, nhảy không nỗi, dính cựa liên tục. Chứ nó trên chưn, dễ gì thua! Tưởng nó bỏ gáy rồi…
Thằng cháu ngưng ngang, soạn đồ, pha thêm bình trà. Rót cho hắn một chung trước. Chậm rãi hớp một hớp cho thấm giọng rồi mới tiếp:
– Nghĩ mắc cười. Mấy con gà cũng lạ. Thấy mặt là nhào đầu vô đá nhau trối chết, tưởng tranh hùng tranh bá gì, ai dè chỉ để mua vui cho con người. Bị con người lợi dụng bày ra thành trò chơi, để móc túi nhau. Hồi xưa, ra đá, hai con gà như hai võ sĩ thượng đài. Quần nhau từng thế võ, tính toán, cân nhắc từng cái né, cái ra đòn, để thắng đối thủ. Con nào kém tài, chịu không nỗi, thua thì tơi tả chạy, cùng lắm là bị thương nằm bẹp, chứ khó chết lắm! Đá một trận, có khi ba, bốn hồi nhang, cả tiếng đồng hồ.
Thằng cháu rót trà tiếp, chép miệng, ngao ngán:
– Giờ đâu còn…Đá vậy lâu ăn lắm! Cũng bởi tính lợi, tính hại, vì đồng tiền mà ra. Chuốt cựa cho bén cũng xưa rồi. Con người mang cái ác trùm lên mình chúng. Họ gắn thêm cựa sắt, bén nhọn như con dao trong tay người. Hai con gà thản nhiên giết nhau mà không biết. Nhảy mấy cái, cựa đâm thấu tim, chết ngắc. Đá vậy mới mau ăn thua. Rồi cũng vì vậy mà sinh ra tráo trở, gian manh.
Cái thằng, bữa nay mắc chứng gì mà lý sự dữ. Hắn cười:
– Gà không biết nói, chỉ biết gáy, thì nó gáy! Còn hơn người biết nói, mà nói những lời khó nghe mới dị. Để nó đó, tao nuôi cho nó gáy chơi. Lát bây ra chợ, kiếm con khác về mần thịt thế…
Vậy là con gà được sống. Tiếng gáy đã thay đổi số phận của nó. Và rồi những ngày Tết sau đó, mỗi lần nó gáy lại như mang trả cho hắn hình ảnh của ruộng đồng, những ngày Xuân quây quần thời niên thiếu! Từng hình ảnh xưa cũ theo về. Hắn hồi hộp sờ tay lên áo, mường tượng mấy bao lì xì đỏ còn nằm yên trong túi. Hắn như nghe cười, tiếng nói của người đã khuất. Tiếng pháo râm ran, tiếng chúc tụng của người lớn như còn nguyên ở đâu đó. Tiếng reo hò, tiếng chân chạy theo nhau trên đường đê của đám bạn, xúng xính trong bộ quần áo mới. Hắn thấy gian bếp nhà đầy nhóc đồ ăn. Chơi tới chừng nào thấm mệt, chỉ cần chạy ào vô, là có khoanh bánh tét với dưa cải, hay tô cơm nguội, thịt kho hột vịt…
Ăn xong, lại bàn thờ ông Địa đốt cây nhang cầm tay, đi rảo chung quanh vườn, rình coi con gà trống nào đang hung hăng rượt đá mấy con khác, là hắn đốt tặng cho mấy viên pháo mót, nổ hoảng vía chơi…Nhiều, nhiều lắm! Mỗi lần con gà cất tiếng gáy là hắn lại nhớ tới một thứ, liên tu bất tận.
Hắn vui với tất cả những điều này…
Qua tới mùng 8 Tết, con gà không gáy nữa. Nó nằm yên, nhướng con mắt mệt mỏi nhìn hắn, khi hắn tới gần. Vết thương của trận chiến cũ đã không buông tha nó. Hắn bồng nó trên tay, vuốt ve đám lông trên lưng nó, rồi thầm thì:
Sống và viết ngay trên quê hương xứ Nẫu, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Trần Xuân Toàn đã chọn Bình Định làm không gian nghiên cứu để từ đó anh có hàng trăm bài báo, bài tham luận về văn hóa, văn nghệ dân gian Bình Định được công bố trong hàng chục năm qua. Trên cơ sở đó, anh đã tập hợp, biên soạn, chỉnh lý để cho ra cuốn Dạo bước vườn văn xứ Nẫudày 530 trang (NXB Dân trí ấn hành tháng 12.2024). Đây là một thành quả đáng kể của Trần Xuân Toàn trên con đường nghiên cứu và sưu tầm văn hóa, văn chương xứ Nẫu – Bình Định, vùng đất được xem là văn võ song toàn.
Sách Dạo bước vườn văn xứ Nẫu của tác giả Trần Xuân Toàn
Cuốn sách gồm hai phần. Phần I: Hương sắc dân gian Bình Định gồm những bài viết liên quan đến chủ đề văn hóa, văn nghệ dân gian trên dải đất Bình Định. Phần II: Chân dung và tác phẩm, lànhững bài viết chân dung văn học về các tác giả, tác phẩm, các nghệ sĩ, nghệ nhân dân gian gắn kết với Bình Định từ xưa đến nay. Với bố cục đó, tác giả Trần Xuân Toàn khiêm tốn xem mình như một lữ khách dạo bước qua vườn văn xứ Nẫu, Bình Định. Nhưng trên thực tế, đây đều là những tiểu luận nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc về tác giả, tác phẩm tạo nên một diện mạo đầy đủ và nghiêm túc về một vùng văn hóa và văn học. Thực sự đó là một vườn hoa nhiều hương sắc về vùng đất võ, xứ văn chương Bình Định.
Bình Định như một Việt Nam thu nhỏ về sự đa dạng của văn hóa và văn học từ dân gian đến hiện đại. Lịch sử hình thành và phát triển của xứ Nẫu, Bình Định gắn với lịch sử ra đời, tồn tại và phát triển của văn hóa, văn học địa phương này trong sự thống nhất và đa dạng. Đó là tiền đề để tác giả Trần Xuân Toàn dày công nghiên cứu và cho ra tác phẩm Dạo bước vườn văn xứ Nẫu.
Với công trình này, tác giả muốn gửi đến bạn đọc thông điệp: “Cũng như con người, văn hóa và văn chương luôn mang đậm tính vùng miền như một thuộc tính tất yếu”. Chính thuộc tính ấy tạo nên sự đa dạng, đa sắc và cá tính với tất cả sự hấp dẫn của nó. Với con mắt của nhà nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra được sự khác biệt, sự đặc sắc và đa dạng của văn hóa, văn học Bình Định.
Chẳng hạn khi nói về văn học dân gian miền biển Bình Định, anh đã khẳng định: “Ở đâu có con người ở đó sẽ ra đời một nền văn học dân gian”. Cư dân miền biển Bình Định cũng vậy, suốt một dải bờ biển dài hàng trăm km từ Hoài Nhơn vào đến Quy Nhơn, nơi đâu cũng dày đặc những làng chài với những con người ngày ngày bám biển để sống, để làm giàu từ biển. Cũng từ đó, các làng chài Bình Định hình thành nên một nền văn hóa, văn nghệ dân gian độc đáo và đa dạng như con người vùng biển nơi đây – mộc mạc mà thắm thiết, chân tình mà mãnh liệt. Chỉ có người con gái biển Bình Định mới bộc lộ tình yêu với chàng trai biển bằng nỗi lo đau đáu mỗi khi người yêu dong buồm ra khơi đánh cá:
“Nồm nam, bấc chướng sóng lượn ba đào
Anh đi câu. Biết chừng nào anh vô”
Đó là câu ca dao ở vùng biển Bình Định mà Trần Xuân Toàn đã sưu tầm được trong những chuyến anh đi điền dã.
Các kết quả nghiên cứu văn học hiện đại của Trần Xuân Toàn trong Dạo bước vườn văn xứ Nẫu đã chỉ ra rằng, phong trào Thơ mới có nhiều thi nhân nổi tiếng bắt đầu từ phố biển Quy Nhơn. Lưu Trọng Lư, tác giả của bài thơ Tiếng thu nổi tiếng, từng diễn thuyết cổ xúy cho phong trào Thơ mới tại nhà Học hội Quy Nhơn từ tháng 6.1934. Trong số 45 tác giả có tên trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân thì Bình Định đóng góp đến 5 gương mặt trong đó nổi bật là Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn…
Ngoài Thơ mới, cuốn sách Trần Xuân Toàn cũng cho độc giả biết Quy Nhơn – Bình Định còn là vùng đất quê hương của hàng trăm văn nhân, thi sĩ, nghệ sĩ đang sinh sống và hoạt động nghệ thuật trên khắp mọi miền đất nước. Đồng thời, đó cũng là vùng đất mà rất nhiều văn nhân, thi sĩ trên khắp cả nước đã tìm đến với rất nhiều cảm hứng sáng tạo để từ đó kết thành duyên nợ văn chương với Quy Nhơn. Và đó là niềm tự hào của người xứ Nẫu, Bình Định được tác giả đề cập khá nhiều trong cuốn Dạo bước vườn văn xứ Nẫu. Anh xem đó là một thành tựu lớn của văn hóa, văn học Bình Định.
Với Trần Xuân Toàn, nghiên cứu về văn hóa, văn học Bình Định xưa và nay là một trong những hướng tiếp cận mà anh dành nhiều tâm huyết. Từ những trang viết của anh trong Dạo bước vườn văn xứ Nẫu, những gương mặt văn chương Bình Định thời hiện đại và đương đại thêm một lần được tỏa sáng. Đó là các văn nhân, nghệ sĩ nổi danh sống và viết trên đất Bình Định như Yến Lan, Vương Linh, Lệ Thu, Cao Duy Thảo, Thanh Thảo, Thu Hoài, Ngô Thế Oanh, Nguyễn Thanh Hiện, Đinh Xăng Hiền, Từ Quốc Hoài, Hà Giao, Lê Văn Ngăn… Đó còn là những cây bút trẻ sung sức với sức sáng tạo mãnh liệt và rất thành công như Nguyễn Thị Tư, Cao Chư, Trần Thị Huyền Trang, Nguyễn Thanh Mừng, Nguyễn Đăng Vũ, Phạm Đương, Mai Thìn… Đó là một nền văn học đương đại mà như Trần Xuân Toàn nói là “tràn căng sức trẻ”. Phản ánh một cách sinh động về những tác giả và tác phẩm văn chương Bình Định thời đương đại như trên cũng là một thành công lớn của Dạo bước vườn văn xứ Nẫu.
Là một nhà nghiên cứu văn hóa, văn học dân gian đồng thời cũng là một giảng viên văn học dân gian của Trường đại học Quy Nhơn, Trần Xuân Toàn đã viết các tiểu luận và cảm nhận văn học trong Dạo bước vườn văn xứ Nẫu một cách nghiêm túc, điềm đạm. Các luận chứng, luận điểm anh đưa ra đều dựa trên thực tiễn điền dã với đầy đủ các chứng cứ và ngữ liệu. Viết về văn chương nhưng văn chương của Trần Xuân Toàn rất thật thà và giản dị bởi anh là một nhà giáo dạy văn làm nghiên cứu văn học. Điều đó đã mang đến sự thành công của anh qua Dạo bước vườn văn xứ Nẫu.
Những ngày Tết ở nơi này qua nhanh trong lặng lẽ…Phong tục tập quán của mỗi dân tộc khác biệt.
Năm nay ngày mồng một Tết rơi vào ngày thứ tư…mọi người vẫn phải đi làm, các cháu tôi đều đi học…
Mấy ngày tết qua nhanh …Hôm nay đã là mồng Bốn Tết rồi sao…
Ô kìa…Chim hót ngoài hiên vắng
Tết đã qua rồi…ta nào hay
Xuân khứ, Xuân lai, hay xuân muộn
Vẫn cứ Xuân về…nhớ cố hương
Hôm nay đã là ngày mồng bốn Tết..
Ngày trước khi còn ở nhà mẹ..
.Sau ngày mồng ba, Mẹ tôi cúng đưa ông bà xong là cũng tiễn những người bà con xa về Qui Nhơn chơi Tết …Điểm dừng vẫn là nhà mẹ tôi.
Có lẽ nhà mẹ tôi là nhỏ nhất trong họ tộc nhưng lại tiếp đón chu đáo và bình dân nhất nên bà con ở quê ra là đến nhà chúng tôi ở lại vài ba ngày…
Ngày ấy gia đình tôi có bốn Mẹ Con., đều là phụ nữ ..vì thế theo thói quen chúng tôi thường nằm ôm quanh mẹ , để bảo vệ người hay vì phản xạ tụ nhiên .thói quen này kết thúc khi chị em tôi lớn dần…thành thiếu nữ …và tôi đi lấy chồng xa…
Khi chúng tôi mới bắt đầu lớn một chút Mẹ tôi cũng đã dạy bảo chúng tôi rằng : “Con gái con đứa phải ý tứ…Đi đâu cũng vậy, tới nhà ai mà hễ phải ngủ qua đêm là phải chun chính giữa mấy người đàn bà con gái mà ngủ “.Khi có khách là đàn bà con gái đến nhà … tất cả chủ khách đều ngủ chung với nhau dưới sàn nhà.
Ngày ấy tôi cũng chưa hiểu vì sao…phải làm vậy ??? nhưng Mẹ bảo thì cứ nghe lời…
Sau này khi lớn một chút nữa, khi sắp đi học xa nhà , Mẹ tôi lại dặn dò thêm ” Phải giữ gìn con nhé, đàn ông như cái gậy ăn mày, bảy tám mươi họ cũng có thể làm nhiều cái mà con không biết trước được…cứ biết vậy, sau này lớn lên …các con sẽ hiểu”
.
.Lời Mẹ dặn tôi vẫn ghi nhớ , nên ở đâu chị em tôi nhớ lời Mẹ dặn dò riết rồi thành thói quen, đi đâu và ở đâu chị em tôi cũng chun chính giữa mọi người mà ngủ cho chắc ăn…
Hàng đêm Mẹ tôi thường móc một cái mùng lớn giữa nhà sau khi đã lau sạch nhiều lần nền Xi măng của gian phòng khách, sau khi tấn chung quanh bắng những mền gối đề phòng muỗi mòng, cả nhà chun vô và đôi khi có vài người bà con ở quê ra cũng vào chung đó luôn…cho dù trong nhà cũng có đủ giường , phản…
Thói quen này đã theo tôi đến mãi những thời gian sau này…đôi khi tôi cứ nghĩ là tại mình chân quê quá chỉ thích nằm đất..
Dzẫy thâu…
Có lần đi theo một người bạn già đi hành hương ở một ngôi chùa xa , thuộc một vùng xa xôi trên đất Bắc, các người phương xa muốn ở lại một đêm để ngắm Hoàng Hôn trên đỉnh núi và Bình Minh nơi vắng vẻ…
Đêm đó nhà chùa cho chúng tôi ngủ ở dãy nhà khách trên những chiếc chiếu trãi trên nền gạch của nhà chùa, theo thói quen tôi cũng xin lau sạch sàn nhà và lăn vào giữa các bà ngủ ngon lành…
Sáng hôm sau ai cũng khen tôi là “ăn chay nằm đất ” tốt nhất là tôi, cho tới bây giờ tôi cũng chưa hiểu bốn chũ này cho tường tận. nhiều khi muốn hỏi ai đó cho tường tận, nhưng lại sợ người ta cho là mình dốt quá nên thôi, có những cái mà thực tế chưa hiểu tường tận lại cứ phải cho qua nên lòng cứ luôn ấm ức.
Dzẫy thâu…
Trong cuộc sống, có những cái ấm ức mà không có câu giải đáp, con người cứ phải che đậy mọi cái mà họ cho là không phù hợp với thời đại và thời gian…bẻ cong sự việc, trốn tránh, che dấu mọi cái, ví như ; ngày xưa nghèo khó bần hàn thì cũng không dám nhận mình thiếu ăn, thiếu mặc thuở hàn vi..
.Ngày xưa, tuổi thơ tôi không bao giờ có được một món đồ chơi nào cả, vì nhà nghèo chạy ăn từng bữa , tiền đâu mua những món đồ chơi mà tôi yêu thích… con búp bê trong giấc mơ ngày cũ.
Bây giờ, khi nhớ về tuổi thơ với ước muốn có một con búp bê để may áo cho nó…nhưng tuổi thơ đi qua mà tôi chưa hề có, sự thèm khát có một món đồ chơi đi vào trong tiềm thức…
Bây giờ..Có nhiều lần…đi quanh quẩn trong các cửa hàng , tôi vẫn rinh về nhà những con búp Bê của những ước mơ xưa cũ, ngắm nhìn mỗi ngày , bù sớt những tháng ngày bé thơ mà tôi hắng mơ ước..
.Liệu có làm vơi bớt những thiếu thốn của tuổi thời gian không ???
Khi tôi kể lại niềm mơ ước của mình cho một người bạn…người ấy bảo rằng đừng nhắc lại quá khứ nghèo hèn thiếu thốn xa xưa, hãy cho mình một dĩ vãng tốt đẹp, mọi người đều như thế..
.Được vậy…sao ta????
Dzẫy thâu…
Tôi vẫn thường suy gẫm chân lý của bạn tôi…
.Vậy suốt đời mình thích nằm đất.
Bây giờ bảo là mình thích gì đây???
Khó khăn quá với cuộc đời này .
Tôi phải làm vậy được sao ????
Bây giờ tuy sống trong những căn nhà mới đẹp đẽ nhưng ý thích nằm trên sàn nhà vẫn luôn có trong tôi, mà những ngôi nhà ở đây vì ở xứ lạnh nên phải phủ bằng lớp thảm dày để chống lạnh giá mùa Đông…
Tôi vẫn ao ước có một ngày rủ các con về nhà mẹ và cùng nhau nằm ngủ bên nhau dưới sàn nhà như ngày xưa chúng tôi đã bên nhau nơi nhà Ngoại
Mỗi lần nhớ về Mẹ tôi,
Đã có lần tôi tìm mua một chiếc chiếu, trãi trên lớp thảm dày, sau khi ngồi đọc sách mỏi mệt , tôi lại nằm lăn trên chiếc chiếu, lim dim hình dung lại những kỷ niệm ngày xưa của mấy mẹ con
Lòng bùi ngùi nhớ tiếc, thương nhớ vô cùng về những ngày tháng cũ….và ngẫm lại những lời Mẹ dặn quả không sai :
Ngày đó …mẹ tôi còn dạy bảo chị em chúng tôi nhiều thứ lắm, khi nghe chúng tôi cứ nghe cho qua chuyện mà thôi, sau này khi đụng chuyện, ngẫm lại mới thấy lời Mẹ nói quả không sai,
Mẹ tôi không được học hành chi mấy, chỉ biết đọc biết viết thôi nhưng sao người có những hiểu biết mà bây giờ ngẫm lại tôi thấy quá tuyệt vời mà tôi không ngờ tới.
Giờ đây một mình giữa những con người khác màu da và chủng tộc, ngôn ngữ dị biệt, hàng ngày đối đáp với họ bao nhiêu là sự dị biệt về tập quán và cách sống…
Đôi lúc tôi chỉ ao ước có một ngày được trở lại căn nhà cũ, mấy chị em lại được chun vào chiếc mùng cũ kỹ ngày nào, lăn mình trên sàn gạch mát lạnh, hít thở cái ấm nồng của tình gia đình, tình quê hương, ăn những món mà mình ưa thích, nằm ngủ trên sàn gạch nhà mình thỏa thuê và mát rượi ..
Biết đến bao giờ…
Tôi lại được lăn mình trên sàn gạch ngôi nhà cũ của mẹ tôi.
Những ngày Tết của tuổi thơ tôi, gian bếp nhà tôi như một phân xưởng nhỏ, rộn ràng. Hồi đó, gia đình tôi gồm ba mẹ và tôi sống chung với ông bà ngoại cùng với dì trong căn nhà cấp bốn lợp tôn, trần la-phông ván ép, chung quanh rợp bóng cây xanh. Gian bếp nhỏ ở tít phía sau của gian nhà bên cạnh phòng khách và khu sinh hoạt, phía trước là căn phòng rộng hơn để đặt bàn ăn và cái phản gỗ. Bình thường nó cũng chỉ là gian bếp nhỏ với hai cái lò đất nấu củi bám đầy tro, mấy ngày trước Tết thì nở ra thêm mấy cái bếp dầu, thau chậu, dao thớt và đủ thứ hầm bà lằng, giăng ra cả cái bàn ăn dài và cái phản gỗ đặt bên ngoài, ở đó, bà ngoại, mẹ tôi và dì cùng ngồi xúm xít. Thường thì khoảng hai tuần trước Tết, vào những chiều tan tầm hoặc thứ bảy, chủ nhật, khi mẹ không phải đi làm và dì không đi học là lúc gian bếp mới bắt đầu nhộn nhịp. Sự nhộn nhịp này thường kéo dài đến tận chín, mười giờ đêm, khi mọi người đã mệt lử. Những ngày đó, trời sập tối khá nhanh, chưa tới sáu giờ thì bên ngoài đã tối om nhưng trong gian bếp, ánh sáng vẫn tưng bừng bởi mấy ngọn đèn tube dài ba tôi cặm cụi bắt thêm những ngày trước đó. Mẹ tôi cùng bà ngoại và hai dì lúc thì gọt gừng, xắt dừa thành lát mỏng để làm mứt, lúc thì đánh trứng đổ bánh thuẫn, sấy bánh đậu xanh, bánh nếp vừa in xong trên cái lò than nóng rực, đỏ hồng, lúc thì quây quần lau lá, hong lá để gói bánh… Gian bếp lúc nào cũng sực nức mùi thơm, mùi đường, mùi va-ni ngọt lịm, mùa gia vị cay nồng, mùi đồ ăn chế biến thơm đến nước bọt cứ tự nhiên ứa ra, không nín được…
Món Tết của mẹ mà tôi nhớ nhất là các loại mứt và bánh ngọt. Hồi tôi còn nhỏ, những món đồ ngọt như là thiên đường, chỉ cần nghĩ tới thôi, hoặc tệ hơn, nghe mùi thơm thơm, ngọt ngọt tỏa ra từ gian bếp, là tôi đã đứng ngồi không yên. Những ngày đó, tôi không dám chạy ra ngoài lang thang, hoặc qua nhà hàng xóm chơi với mấy đứa nhỏ quanh xóm như thường lệ, chỉ lẩn quẩn quanh gian bếp, chỉ sợ bỏ lỡ mất một miếng mứt sên cháy hoặc mẩu bánh vụn sứt sỉa khi mẹ ngẩng lên cho thì tiếc không ngủ được. Mấy miếng mứt sem sém cháy đó, lớp đường bám dưới đáy nồi, hoặc mấy mẩu bánh bể, đối với tôi, ngon hơn mọi thứ trên đời. Thời khốn khó, những món ngon, đẹp, thường được để dành lại để đãi khách ngày Tết đến thăm nhà. Nhưng rồi, Tết đến, khách đến chơi dùng cũng không bao nhiêu, chỉ những đứa nhỏ như chúng tôi là hưởng trọn…
Thời gian sau này, ông bà ngoại già yếu, rồi qua đời, dì tôi cũng lấy chồng ra riêng, gian bếp nhỏ dần dần trở nên thưa thớt, đìu hiu. Mẹ tôi có lần tâm sự: món Tết của bà ngoại mà mẹ nhớ nhất không phải là các loại bánh, mứt, mà là trưỡi, món đồ nhấm chua của người Hội An, tương tự món tré của người Huế. Gia đình ông ngoại hồi xưa, trên mâm cúng Tất niên ngày ba mươi Tết, luôn luôn có cái đầu heo luộc. Cái đầu heo trong mâm cúng Tất niên là cách người xưa long trọng tạ ơn đất trời cho một năm đã qua xuôi chèo mát mái, mọi thứ hanh thông, thuận lợi, và để cầu mong năm mới mạnh khỏe, bình an. Nhà nào cũng vậy, bất luận giàu nghèo, trên mâm cúng tất niên cũng ráng có cái đầu heo lẫm liệt, uy nghi. Nhưng ba mươi Tết, nhà nào đồ ăn cũng ê hề, nên cái đầu heo luộc cúng xong, thường không có ai đủ sức động đến. Để giữ món thịt heo đầu lai lai suốt mấy ngày Tết, vào cái thời mà tủ lạnh đang còn hiếm hoi, xa xỉ, người miền Trung chế ra món trưởi, hoặc tré.
Món trưởi của ngoại tôi được làm như sau: Cái đầu heo, sau khi hạ mâm cúng xuống, bà ngoại, mẹ tôi, cùng dì cùng ngồi lại xả thịt, xắt thành những lát thật mỏng. (Không như món tré ở Huế, ngoại tôi xắt đầu heo thành sợi mảnh để gói trưởi, chứ không xắt lát.) Sau đó, ướp thịt heo đầu đã xắt mỏng với nước mắm nướng, với củ riềng, tỏi giã nát hoặc xắt sợi thật mảnh, thêm bột thính gạo vô trộn đều, rồi dùng lá gói chặt thành những gói nhỏ vừa ăn. Lớp lá gói có nhiều lớp, lớp trong cùng là lá vông, hoặc lá ổi già, lớp bên ngoài là lá chuối. Để trong tủ bếp, hoặc cột thành chùm treo lên trong bếp, chừng hai, ba ngày thì trưởi bắt đầu chua chua, ăn với cơm, hoặc trộn với củ kiệu ngâm giấm, rắc ít đậu phụng rang làm món nhấm uống rượu, hao mồi kinh khủng.
Món trưởi, đôi khi không cần chờ đến hai, ba ngày, gói xong ăn liền cũng thấy ngon.
Nước mắm nướng để gói trưởi là nước mắm nguyên chất rót ra cái dĩa nhỏ, cho vào ít tiêu giã hoặc tiêu hạt tươi, đặt trực tiếp lên bếp lửa, để lửa riu riu cho đến khi nào nước mắm sôi lên, keo đặc lại thì được. Nước mắm nướng sẽ làm cho món trưởi thơm hơn, lại không quá ướt, có thể giữ hàng tuần lễ hoặc mười ngày sau, mùi vị vẫn hấp dẫn.
Sau này, khi ngoại không còn, thỉnh thoảng nhớ ngoại, mẹ tôi thường mua thịt heo đầu về, làm trưởi cho cả nhà cùng ăn. Nhưng lần nào mẹ cũng rơm rớm than thở, rằng sao mẹ làm đúng y công thức của ngoại mà không bao giờ có được đúng vị ngon của món trưởi ngoại làm ngày xưa.
Cũng là cách để luôn có thịt heo luộc ngon ăn cơm hoặc cuốn với bánh tráng, rau sống trong những ngày Tểt, mẹ vợ tôi hay làm món thịt heo ngâm mắm để dành. Một tuần lễ trước Tết, bà đi chợ, lựa mấy miếng thịt mông thiệt ngon, phần nạc và mỡ đều nhau, về làm món thịt ngâm mắm. Thịt heo ngâm nước muối rửa sạch, cắt thành từng miếng, mỗi miếng chừng vài lạng, rồi luộc chin, để ráo. Nấu sôi nước mắm pha loãng, cho vô ít đường vừa ăn cho dịu bớt vị mặn, rồi để nguội. Khi nước mắm nguội, bà xếp thịt đã luộc, từng lớp vào trong một cái bình thủy tinh lớn, rồi dùng nan tre, lèn chặt cho miếng thịt nằm xuống dưới, sau đó, rót nước mắm đã đun sôi để nguội lên, sao cho miếng thịt ngập sâu trong nước mắm là được. Xong rồi đậy kín. Chỉ vậy thôi mà mấy ngày Tết, mỗi khi ra nhà ba mẹ vợ dùng bữa, lúc nào chúng tôi cũng thưởng thức được món thịt heo luộc ngon tuyệt cú mèo. Vị thịt heo ngâm mắm có hơi mặn hơn một tí, để lâu thì có vị lên men chua chua, vị chua làm miếng thịt thơm ngon một cách rất đặc biệt, mà những miếng thịt heo, khi được chế biến theo kiểu khác, không thể nào có được.
Rồi mẹ vợ tôi cũng qua đời, để lại một ký ức choáng ngợp và nỗi nhớ thương mênh mông, da diết về những bữa cơm ngày Tết sum vầy.
Từ khi mẹ vợ chẳng may qua đời do lâm trọng bệnh, Tết năm nào vợ tôi cũng làm món thịt ngâm mắm. Để đặt trên mâm cơm cúng mẹ, để nhớ hương vị Tết những ngày còn có mẹ.
Nhưng cũng như mẹ tôi, vợ tôi không làm lại được hương vị món thịt ngâm mắm của mẹ vợ ngày xưa…
Mới biết, một món ngon, không chỉ là nguyên liệu, và công thức pha chế. Nó còn là ký ức, là những phút giây hạnh phúc chúng ta từng có với người mình yêu thương, là kỷ niệm của mẹ tôi về những ngày còn có ông ngoại bà ngoại, còn có dì xúm xít dưới một mái nhà, là nụ cười hiền lành, vẻ tất bật đôn hậu của mẹ vợ bước ra từ gian bếp ám khói mỗi lần chúng tôi về thăm bà, là tiếng bà làu bàu trả lời khi vợ tôi gọi: mẹ ơi.
Tiếng gọi đó, bây giờ và mãi sau này, sẽ không còn được hồi đáp.
Thời gian cứ trôi đi.
Đời sống luôn đối xử tàn nhẫn, với mỗi chúng ta.
Cho nên, sau này, dù có muốn gom hết cả giang sơn, gom hết phồn hoa phú quý, đủ các món ngon vật lạ trên đời, chúng ta cũng không bao giờ đổi lại được, một ngày còn mẹ.
– Vậy bây giờ em phải bù lại quãng thời gian mà em đã làm mình xa nhau mất mấy tuần nay.
– Em mong chờ mà cũng rất sợ tình yêu.
– Không phải tình yêu làm ta đau, mà ta đau vì không có tình yêu. Ta đau vì cảm thấy cô đơn, và sợ hãi là cô đơn sẽ còn kéo dài, mãi mãi. Ta đau vì không được ai lắng nghe, không được ai thấu hiểu. Ta đau vì sợ mất một người mà người ấy không hề sợ mất ta.
Ta sẽ rất đau khi không có tình yêu, như kẻ đi tìm nắng mà chỉ thấy cơn mưa, con đường trơn trợt mà không có gì bám víu, phải tự dò dẫm, một mình gượng gạo bước đi, cảm thấy bản thân mình chẳng có gì hấp dẫn hay đặc biệt. Và sợ nhất là mình không hề quan trọng cho ai.
– Anh nói đúng. Nhưng lúc ấy thì..
– Thì sao?
– Hạnh phúc bất ngờ và choáng ngợp quá đến độ em không tin được cảm xúc của bản thân luôn đó anh à. Đó là lý do em sợ hãi và tìm cách chạy trốn.
Cảm xúc ghê gớm thật. Em nhủ lòng là sẽ không gặp lại một lần nào nữa. Nhưng về đến nhà thì em nhớ anh quay quắt. Rồi đấu tranh. Rồi quyết tâm. Và cuối cùng là.. đầu hàng!
– Anh hờn suốt thời gian em về lại Pleiku đó..
– Em biết anh buồn chứ! Nhưng em cũng có vui đâu! Em phải cần một thời gian để suy nghĩ về sự trốn chạy của mình. Em không muốn anh hiểu nhiều về em. Em sợ lắm, anh biết không? Tất nhiên, được ai đó hiểu mình là điều quý giá, nhưng đồng thời cũng có sự sụp đổ của những thứ hàng rào che chắn, mất hết mọi khả năng đề kháng, phải đầu hàng và giao trọn cuộc đời cho ai đó. Lúc đó thú thật là em chưa sẵn sàng. Lúc đó em vẫn còn muốn sống như những người bình thường, nghĩa là muốn che dấu khuôn mặt thật, muốn mang chiếc mặt nạ mà ai nấy trong xã hội đều cần, mất còn có khả năng nói dối.
Có thể em là người lạ lạ, nhưng em tin có nhiều người không hiểu giá trị của vòng ôm, của nụ hôn. Họ không hiểu là sự im lặng có thể nói được nhiều điều vì tâm hồn đã hoà nhập với một người nào đó.
Suốt cả tháng em như kẻ bị thần Cupid bắn phải mũi tên, như kẻ bị nhiễm độc tố của tình yêu, vật vã, khổ sở và cần phải gặp anh ngay để xin thuốc giải. Không thì chết mất.
– Chỉ có mình mới giải cứu được cho nhau!
– Anh sẽ không biết được cảm xúc của em khi lần đầu mình hôn nhau đâu.
– Anh cảm được, nhưng em nói đi.
– Không! Mắc cỡ lắm! Anh chỉ cần biết em hạnh phúc thật nhiều khi được yêu thương anh.
Bây giờ thì em có anh và dù em có ngốc nghếch làm ta xa nhau một thời gian nên em biết là trong nỗi nhớ anh thì cái khoảng cách kia mỗi ngày được xích lại gần qua những tin nhắn đầy yêu thương.
– Anh cũng đang khắc khoải từng giây từng phút đợi em về bù đắp cho anh đây.
– Mình sẽ bù cho nhau 10 lần nhiều hơn!
Họ hôn nhau dịu dàng. “Anh có nghĩ rằng 2 mình là đôi tình nhân đáng yêu nhất thế gian không? Em nghĩ rằng chẳng có ai nói chuyện giống 2 mình mô.
– Khi người ta cùng cười với nhau thì khó xa nhau lắm!
– Đúng vậy đó, anh à. Không ai xa được người cho ta niềm vui.
– Anh không biết cảm giác của em hồi mới gặp anh đâu. Anh thú vị lắm. Chưa nói là lạ lẫm đối với em. Anh đưa em từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Sao nói hết được chứ. Mọi thứ từ anh đều mới mẻ, em bị anh cuốn như nam châm, không cưỡng lại được.
– Cưỡng gì, trốn mất tiêu thì có!
– Em xin lỗi anh! Chạy mà có trốn được đâu! Em chạy xa nhưng lúc nào cũng khao khát được ở bên anh. Anh có biết là anh đã quá thân thiết với em không? Anh như một nửa của em. Trốn về Pleiku 4 tuần mà cứ nhớ nụ hôn đầu. Càng cố quên, càng nhớ nhiều. Em thấy mình đang đánh mất một điều gì quý báu nên sau đó cứ suy nghĩ là sẽ về sớm với anh thôi! Em không thể bắt anh chờ khi trái tim em muốn dâng hiến tình yêu cho anh. Anh có biết như rứa là tội cho lòng em lắm không!
– Ui ghét ! ly cà phê thơm ngon, cuối cùng chỉ đọng lại giọt đắng! Ghét thiệt chứ!
– Thôi đừng ghét em nữa nha anh. Bây giờ anh chỉ nên yêu em thêm. Vì em sẽ nói thầm cho anh nghe về tình yêu em dành cho anh. Em nhớ anh da diết như thế nào.
– Không chịu đâu! Lát nữa anh sẽ đưa em ra biển và hét giữa ngàn khơi… Anh yêu em, Anh yêu em… hét thật to để sóng và gió mang tình yêu cua anh ra khắp bốn phương, để mọi người đều hiểu thế nào là tình yêu lớn ở cõi trần.
– Khi xa nhau em mới nhận ra rằng em đã yêu anh rất nhiều. Một buổi tối, ở cách xa nhau, em thường ngồi một mình trên chiếc ghế xích đu trên hiên nhà. Lúc đó hơi ẩm vì trước đấy có mưa to và buốt lạnh, nhưng khi mây đen đã tản đi và em nhìn xuyên qua mây về phía những ngôi sao, tự hỏi liệu có phải mình đã quyết định chạy trốn anh là đúng, hay sai? Đã nhiều ngày em khổ sở với câu hỏi đó – và tối đó còn khổ sở hơn – nhưng cuối cùng, em biết mình sẽ không bao giờ tha thứ cho bản thân nếu để mất anh.
Lúc mới gặp, một khởi đầu bình thường, và mọi chuyện hẳn sẽ bị lãng quên nếu đấy không phải là anh. Vì sau khi nói chuyện với anh em linh cảm rằng đó là người mà em có dành cả phần đời còn lại để kiếm tìm cũng không bao giờ thấy nữa.
Vì anh là một người đem lại cảm giác dễ chịu và tin yêu cho một người phụ nữ như em.
Chỉ mới tiếp xúc mà anh đã có thể hiểu em sâu sắc và em có thể tin tưởng để trải lòng cùng anh. Anh giống như món quà vô giá mà Thượng đế đã ưu ái mang đến cho em vậy.
– Tình yêu có cách cảm nhận riêng của nó. Có những điều chỉ dùng đến con tim để nghe và nói. Vì nhiều khi ngôn ngữ bằng lời không phù hợp.
Thuý nghiêng đầu vào vai Trung.
– Ở Pleiku em rất nhớ cảm giác được ngã đầu vào ngực anh như thế này nè. Anh cực kỳ lãng mạn. Cực kỳ đáng yêu! Em không biết phải nói như thế nào cho anh hiểu cảm giác của em, cái cảm giác khó chịu, mất mát. Như là đau ở đâu đó trong cơ thể mà em không biết là chỗ nào, ở đâu. Khi đó em mới hiểu là lần gặp gỡ ấy quan trọng với em biết nhường nào. Nó cho em biết là em không thể thiếu anh được. Em chỉ cần bên anh Chỉ chừng đó thôi Trái tim em cần anh. Khi không có anh em như chỉ có một nửa, không nguyên vẹn.
– Anh hôn vào trái tim em nè! Tình yêu của em là sức mạnh để anh tin yêu cuộc đời.
– Bây giờ em biết, cảm nhận được nỗi đau của nó, không có anh trái tim em chết mất!
– Em làm anh cảm động. Trong quãng đời lạnh giá này mình sẽ luôn sưởi ấm cho nhau, em nhé. Trong đời không dễ gặp được người để yêu thương nhiều như vậy đâu. Khó vô cùng
– Từ nay và mãi mãi về sau em sẽ không ao ước hay hối tiếc điều gì vì em đã có anh để yêu thương. Em tin là mình sẽ hạnh phúc cũng nhau. Sẽ không có ai có thể chia cắt tình yêu này được. Trừ cái chết!
-Em đừng nói đến chết nha em!
– Dạ! Từ nay em sẽ không để lạc mất anh nữa đâu!
– Anh muốn ôm và giữ em thật chặt. Em đừng xa anh nữa nhé. Điều quý nhất mà ta có thể nhận được từ người mình yêu là thời gian. Không phải là lời nói, không phải là vàng bạc hay tặng vật. Chỉ là thời gian được ở bên nhau. Vì thời gian là thứ duy nhất không thể quay lại và khi ta trao cho nhau thì nó mãi mãi là của mình, không quan trọng nếu chỉ là một giờ hay cả một đời.
Dĩ nhiên là bây giờ chúng ta muốn gặp nhau mỗi ngày là không thể được nhưng mình sẽ cố gắng thu xếp nhé.
Đêm đó đánh dấu một bước ngoặc trong cuộc đời của cả hai người.
…
Sài gòn 11-2022 ( trích tiểu thuyết Lỗi Định Mệnh, sắp xuất bản)