Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười, 2023

Thơ Cao Hoàng Từ Đoan

.

1.

ta viết vu vơ đây bài thơ ngày thu cuối

có mưa bay giăng mắc khung trời

có hoàng hôn nhoà nhạt mù khơi..

xa xăm quá..

đông về, chừng nghi ngại

.

2.

có những chiều mưa

bay .. bay..

mưa giăng sợi mỏng

…….nhịp gầy

……………………vỡ toang

vẫn em thiền

nỗi ngổn ngang

vẫn đi về với cũ càng nhớ quên.

vẫn cơn mưa gõ điệu bền

như người dưng đó an nhiên

vậy mà!

mà nghe mấy chục ngàn xa

mưa từ tiền kiếp

mưa qua tháng ngày

.

3.

gió chẳng thổi về bên phương nớ

làm sao em gửi ý yêu thương

chiều nay mây xám giăng nhiều quá!

sợ bước chân côi lạc nẻo đường..

Read Full Post »

Chiếc lá phong

Nguyên Hạ-Lê Nguyễn

.

Bây giờ đã là gần cuối tháng Mười, trời bắt đầu se lạnh, buổi sáng mùa Thu nơi này thật dễ chịu, gió se lạnh chỉ đủ cho người phụ nữ chuẩn bị những quần áo chỉnh chu hơn, xếp gọn những áo quần mỏng manh của những ngày hè chói nắng… và những chiếc áo dày hơn được đem ra chuẩn bị cho mùa thu với chút lạnh pha sương theo cơn gió thoảng làm bay bay những chiếc khăn choàng điệu đàng tung bay theo gió

Tôi thích nhất là mùa Thu ở nơi này.

.Gió heo may, chỉ đủ cho tôi nheo mắt, hững hờ kéo xô cánh cửa…

Mùa Thu ơi ta chào mi…chào những chiếc lá vàng đang chạm ngõ nhà tôi.

. Những chiếc lá Phong đang oằn mình níu kéo tuổi thời gian trên cành, hôm qua tôi nhận ra chúng mới ươm vàng , sáng nay thấy chúng đã xoãi mình rớt rơi bên bờ cỏ úa…

Mỗi làn gió thổi là cuốn tung, xoáy lốc, gom nhau thành từng đống trên bờ cỏ, mái nhà ..

Những chiếc lá đỏ , vàng tội nghiệp của tôi ơi, yêu thương lắm nhưng biết làm sao hốt trọn cả vào lòng…lá vàng ơi, cuộc đời của lá , tuổi đời không mấy nổi … chỉ sang mùa là đã cuốn tung.

Khi xuân về …lá kia xanh tốt trên cành, nụ thời gian vừa chỉ mới ươm mơ , tay trăn trở ẩn mình thua chị kém em, khi những bông hoa khoe muôn màu muôn vẻ. đàn bướm , lũ ve cũng chỉ biết xum xoe bên hương hoa , vờn hoa hút nhụy…

Có bao giờ chiếc lá Phong được chiêm ngắm lúc xuân sang…Lá Phong cũng chỉ xanh màu như muôn ngàn lá khác, rung rinh theo từng giọt nắng lúc xuân sang.

.Mùa hạ đến chỉ vàng xanh thêm sắc lá… lá vẫn lạnh lùng theo những bước chân quen, không hò hẹn, không mong chờ câu tình tự, chỉ phơi mình trước giọt nắng ban mai rồi trãi dài theo giọt nắng cuối ngày…Lá vẫn xanh và vẫn bình an nơi thân cội.

Mùa Thu về… khi vừa chín muồi của thời xuân sắc, màu vàng ươm rồi bỗng biến sang cam…

Thời gian này là tuổi đời của lá chín mọng nhất, nợ áo cơm trong buổi lá còn xanh, nay trãi rộng đón chờ để làm tròn nhiệm vụ pha màu cho vạn vật…Thương lắm những chiếc lá phong

Những sắc lá đổi màu một cách huyễn hoặc, nên thơ, bao bút mực tả sao cho hết , cho vừa.. vàng sắc lá, cam từng chùm, đỏ ối màu tình tự…Rồi thẫn thờ buông mình lìa xa thân cội…

Chiếc lá Phong chưa mỉm cười mãn nguyện.câu tình tự thốt ra từ bao cửa miệng, bao ngòi bút của các văn nhân thi sĩ …làm đẹp cho đời, pha màu cho vũ trụ…nhiệm vụ chỉ hoàn thành khi lá kia phơi mình trên cỏ úa, chờ gió Thu về chao giọt nắng hanh hao…vờn gót chân ai buổi chiều tà lướt nhẹ,

Nợ áo cơm, nợ cuộc đời, lá úa cuốn trôi vào góc vườn bờ cỏ chờ rạn vỡ giữa đất trời không tiếng thở than…

Thu sang….có chiếc lá bay….

Lá Phong rơi mãi ….lắt lay tấc lòng

Mở cao cánh cửa sổ nhìn vào khoảng trời đục mờ loang bóng nước, trời chưa mù sương phủ, nhưng môi cười đã điểm giọt sương pha…bầu trời không ẩm đục như những sáng mùa Đông , nhưng cũng ướt mềm dấu thời gian trên thân lá úa…

Sáng nay những chiếc lá Phong vẫn từng cánh cam vàng, chín đỏ…vẫn lả tả rơi trong hiu quạnh của buổi sáng mùa Thu có chút gió heo may…

Tôi lặng nhìn lá Thu từng cánh rơi mềm trên cỏ úa…cảnh đẹp như trong một giấc mơ đêm…những chiếc lá mang cuộc đời và hơi thở giống thân phận của ai đó đang lặng nhìn và chợt hòa chung với xác lá một âm hưởng hòa chung làm một…

.Ôi mùa Thu…và những chiếc lá Phong…

Thương thương lắm…sắc lá điểm tô cho mùa Thu diễm tuyệt.

Thời gian vẫn rớt dài trên cành cao lá thấp, những cánh tay khẳng khiu không níu giữ , những chiếc lá vàng vẫn từng cánh rơi mau…rồi những cơn gió lắt lay dùa đẩy những chiếc lá thấm màu tình tự …gom vào một góc vườn, xáo xác bên gốc cây bờ cỏ…nát úa màu thời gian tàn tạ xác thân, tan biến giữa hư không…

Vẫn biết tạo hóa vẫn vô thủy vô chung với muôn vật, muôn người, nhưng mỗi lần nhìn những cánh lá Phong rơi ngập tràn vườn sau , ngõ trước, lòng tôi bỗng chợt nhói đau, một nỗi buồn man mác len nhẹ vào lòng như chất keo loãng trãi dài vào chân tơ kẽ tóc…

Tạo hóa và tuổi thời gian của một kiếp đời…cánh lá Phong còn lập lờ trên sân cỏ úa thì con người ta cũng giống hệt như chiếc lá kia sao ???

Tôi thường ví mình giống chiếc lá Phong kia…sao tôi không ví mình như hoa cúc, hoa Mai…Phong. Lan. cúc, trúc, hay cánh Ngọc Lan mà tôi hằng yêu thích, tỏa hương thơm sâu kín, quyện vào lòng người, cho cuộc đời ngát hương thơm dấu ái…cho mỗi lần nhắc đến tên của loài hoa này là khứu giác bỗng mở ra đón chào chất hương tình lãng mạn….nhưng tôi lại chỉ mang thân phận của chiếc lá Phong rơi….

Sao tôi lại ví mình giống chiếc lá phong kia …khi lá còn xanh…lá kia chỉ là chiếc lá trên cành, chỉ sống dậy khi Thu về se lạnh, bỡi tấm thân mỏng manh cô quạnh nên úa vàng sớm hơn cây thông, cây liễu chưa sớm úa vàng ,

Khi sắc lá biến từ màu cam rồi sang đỏ, thẫm màu rồi rơi xuống …

.Thời gian này là đẹp nhất của một kiếp đời vì đang làm đẹp cho tha nhân, nhuộm màu cho vũ trụ, cho mùa Thu mang chút lãng mạn, lan man…Là thời gian lá ngoảnh nhìn lại thân phận của kiếp lá cũng hệt như một kiếp đời…Khi đã hoàn thành nhiệm vụ thì vụt tan biến vào cõi vô minh….Khi Chiếc lá rơi….

Khi những cơn mưa về cuốn chìm vào góc tối, những mãng Tuyết của mùa Đông giá rét sẽ nhấn chìm và nát ngấu giữa hư không, thân xác của những chiếc lá Phong vàng nâu tội nghiệp sẽ về đâu khi bóng ngã chiều tà, khi mùa Đông lấp ló ngọn Tuyết trào dâng che phủ…

Lá Phong ơi …sao mi luôn mãi đơn côi, những con chim bé bỏng bay giữa trời còn từng đàn , từng cặp, dắt díu nhau trốn lạnh của mùa Đông. những cội Thông già bên nhau vẫn rì rào tình tự giữa mùa Đông.giá. ..chuyền tay nhau thay áo mới…chỉ những chiếc lá Phong là tội nghiệp biết bao

Khi tuổi thời gian làm chín vàng là soãi tay phó thác sự sống còn cho con tạo, tan biến vào cõi vô minh sau khi phơi xác lá , tô điểm cho vạn vật có những phong hình đẹp , cho các thi nhân tha hồ làm thơ tả cảnh Thu…mà nào có ai hay rằng : lá cũng là một sinh linh….

Chiếc lá hững hờ bay xáo xác đang có người … lặng lờ cúi nhặt xếp vào trang sách cũ cuộc đời…và lặng lẽ lãng quên …

Khi mùa Thu đến, những chiếc lá Phong vẫn rơi…nhưng con người ấy có còn từng lần cúi nhặt …lại xếp vào ngăn tủ lãng quên…tội nghiệp chiếc lá Phong úa vàng giữa mùa Đông giá buổi chiều nay .nó sẽ còn được dáng ai lom khom nhặt , ép vào trang sách cũ thêm mấy lần nữa giữa đất trời giá băng…tội nghiệp chiếc lá Phong và tội cho ai mang tâm trạng của lá Phong rơi….

Vàng sân xác lá phong rơi….

Cuốn xô hồn lá …. tiếp lời …. mỏng manh

Sương Thu chập choạng buông mành.

Thơ thẩn nhặt………gọi gió về tình tự.

Nguyên Hạ-Lê Nguyễn

Read Full Post »

Với thu

Phạm Ánh

.

Với thu lá rụng lối mòn

Đong đưa cành trúc ai còn nhớ ai

Cúc vàng rắc nhẹ nắng mai

Để thương để nhớ ai cài gió nghiêng.

.

Với thu sông nước hồn nhiên

Trời xanh ngã bóng nỗi niềm trong tôi

Sông quê bên lở bên bồi

Nôn nao ánh mắt nhớ người thu xưa.

.

Mơ màng lấm tấm hạt mưa

Tiếng chim bịn rịn như chưa rời chiều

Vừng trăng gác núi hiu hiu

Với thu lối cũ rong rêu đượm tình.

Read Full Post »

Nguyễn Thanh Quang

 

Việc ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latin sáng tạo ra chữ Quốc ngữ, công đầu được ghi nhận bởi ba nhà truyền giáo dòng Tên tại cư sở tiên khởi Nước Mặn: Francesco Buzomi (Ý), Francisco de Pina (Bồ) và Cristoforo Borri (Ý). Tuy nhiên, vai trò của Linh mục Bề trên Buzomi với chữ Quốc ngữ chưa được đánh giá khách quan, công bằng…

​Chỉ dẫn của dòng Tên khi các thừa sai đi truyền giáo, ghi cụ thể: “… Cha tìm hiểu ngôn ngữ mà các dân tộc ấy dùng để nói; nếu có nhiều ngôn ngữ, thì hãy chú ý ghi ngôn ngữ nào được sử dụng nhiều nhất, chủ yếu là trong giới bình dân. Cha tìm hiểu về chữ mà họ dùng để viết; về các chữ này, cha tìm cách hỏi những văn sĩ ưu tú mà cha gặp được, để ghi lại một bản chữ cái, kể cả những dấu nối và dấu phân câu mà họ dùng; cha cũng chú ý ghi lại bằng mẫu tự Latin tương ứng với cách phát âm, để ta có thể so sánh…”.

​Việc Latin hóa các hệ thống chữ viết không dùng mẫu tự Latin đã trở thành thông dụng và được xem như “truyền thống” của các thừa sai dòng Tên. Các thừa sai khi đến truyền giáo ở một đất nước nào, thì việc đầu tiên là học ngôn ngữ của nước đó. Muốn học ngôn ngữ bản địa, trước hết các thừa sai phải dùng mẫu tự Latin ghi âm tiếng nói của địa phương, đồng thời tiến hành biên soạn từ điển và ngữ pháp ngôn ngữ của đất nước đó. Các từ điển và ngữ pháp thường căn cứ theo mẫu các sách từ điển và ngữ pháp của tiếng Latin.

Dòng Tên Tỉnh dòng Nhật Bản bị chi phối bởi Bồ Đào Nha, trụ sở của dòng lúc ấy được đặt tại các lãnh địa của người Bồ ở Goa và Macau.Các nhà truyền giáo đương thời thuộc các quốc gia khác, phải được thụ huấn một thời gian trước khi lên đường đi truyền giáo. Vùng hoạt động truyền giáo của Tỉnh dòng bao gồm Trung Hoa, Nhật Bản, Macau và các vùng liền kề, trong đó có Đại Việt, thuộc quyền bảo trợ của Bồ Đào Nha. Nhân sự của Tỉnh dòng gồm nhiều quốc tịch, như: Ý, Pháp, Bồ, Nhật… trong đó đa số là người Bồ Đào Nha.

​Nhờ sự bảo trợ của Trần Đức Hòa, Khám lý Tuần phủ Qui Nhơn, cư sở tiên khởi của dòng Tên tại Đại Việt được thành lập tại Nước Mặn (Residentia di Pulocambi) vào Tháng 7 năm 1618. Từ năm 1618 – 1620, tại cư sở Nước Mặn có các nhà truyền giáo: Linh mục Pina (Bồ), Linh mục Borri (Ý), tu huynh Diaz (Bồ) và Linh mục Buzomi (Ý) là Bề trên của cư sở. Năm 1625, cư sở Nước Mặn của Linh mục Bề trên Buzomi có các linh mục: Gaspar Luis, Majorica và các tu huynh K’ieou, Nishi.

​Cha Bề trên Buzomi chú trọng thực hiện cụ thể Chỉ dẫn của Nhà dòng về việc tìm hiểu, học hỏi ngôn ngữ bản địa. Sử liệu dòng Tên cho biết, những năm 1618 – 1620 các thừa sai làm việc ở Nước Mặn, Đàng Trong là những người đầu tiên học và biết tiếng Việt.

​Theo Báo cáo thường niênnăm 1618, tại cư sở Nước Mặn có một thanh niên mười sáu tuổi, lanh lợi và thông minh, giỏi Hán văn, được dân làng yêu mến, là một tân tòng, tên thánh rửa tội là Phêrô. Dưới sự giám sát của cha Buzomi, anh giúp các thừa sai biên dịch sang tiếng địa phương quyển sách giáo lý gồm các kinh: Lạy Cha, Kính Mừng, Tin Kính, Mười điều răn… mà các Kitô hữu đã thuộc. Hiện nay, quyển sách giáo lý ấy chưa được tìm thấy, các nhà nghiên cứu cho rằng sách được soạn bằng chữ Nôm. Theo Linh mục Léopold Cadière, quyển sách giáo lý nầy được biên soạn bằng ngôn ngữ Đàng Trong, loại ngôn ngữ phổ thông (chữ Nôm)… Song song với việc biên soạn bằng chữ Nôm, sách cũng được phiên âm bằng mẫu tự Latin để các thừa sai được tiện dùng.

​Báo cáo thường niên năm 1619, chép: “Các thừa sai dòng Tên ở Nước Mặn là những người đầu tiên chuyên tâm nghiên cứu ngôn ngữ hơn bất cứ điều gì khác”. Cha Buzomi thành lập một trường học tại cư sở Nước Mặn, chọn một thầy giáo xuất sắc về chữ Hán và chữ Nôm để làm việc tại trường nhằm giúp các thừa sai trong việc nghiên cứu và ghi âm tiếng Việt, hoặc dịch các tài liệu cho các thừa sai.

Ba Linh mục dòng Tên đầu tiên tại cư sở Nước Mặn được ghi nhận có những đóng góp ban đầu trong việc dùng mẫu tự Latin ghi âm tiếng Việt, sáng tạo ra chữ Quốc ngữ là: Bề trên Buzomi, Pina và Borri.

+ Francisco de Pina: Đến Đàng Trong năm 1617, chết năm 1625. Pina có 8 năm truyền giáo ở Đàng Trong. Bức thư được cho là của linh mục Pina viết tại Dinh Chiêm năm 1623, bằng tiếng Bồ, xen lẫn vài cụm từ Latin, Nhật hay Mã Lai và vài tiếng Việt Nam được ghi bằng mẫu tự Latin. Pina được ghi nhận là người nói tiếng Việt giỏi nhất trong các nhà truyền giáo lúc bấy giờ.

+ Cristoforo Borri: Đến Đàng Trong năm 1618, rời Đàng Trong năm 1622. Bốn năm ở Nước Mặn, Borri đã để lại một số câu từ “Quốc ngữ tiền Đắc Lộ” trong tác phẩm nổi tiếng: Relatione della nuova missione delli PP. della Compagnia di Giesù al Regno della Cocincina (Tường trình về khu truyền giáo Đàng Trong). Ông Thanh Lãng đếm trong bản dịch của Bonifacy có đến 94 từ Quốc ngữ, và trong tài liệu viết tay có rất nhiều chữ mang hình thức hệt như ngày nay. Thí dụ: tui, biết, mọi, càn…

+ Francesco Buzomi sinh năm 1574 tại Napoli (Ý), giáo sư thần học. Ông đến Macau năm 1608, sau đó qua Nhật. Năm 1615 đến Đại Việt, lúc đầu ông làm việc với người Công giáo Bồ ở cửa Hàn (Đà Nẵng), người Công giáo Nhật ở Hội An (Quảng Nam). Năm 1617 vào Nước Mặn, học tiếng Việt và bắt đầu truyền giáo cho người Việt. Với khả năng tổ chức tốt, ông đã sớm tìm kiếm những cộng tác viên ưu tú người Nhật, người Việt để giúp các giáo sĩ dòng Tên đến Đàng Trong học tiếng Việt. Từ năm 1618 – 1629, Linh mục Buzomi làm Bề trên cư sở Nước Mặn. Năm 1929, cùng với các thừa sai khác, Buzomi bị chúa Nguyễn trục xuất khỏi Đàng Trong, sang truyền giáo tại Cambodia (1629-1634). Năm 1934, từ Cambodia Linh mục Buzomi về Macau. Năm 1635 – 1639, Buzomi trở lại Đàng Trong với tư cách Bề trên miền truyền giáo. Năm 1639, lệnh chúa nguyễn Phước Lan trục xuất các thừ sai. Theo Linh mục Đỗ Quang Chính: “Francesco Buzomi… qua đời tại Áo Môn vì bệnh, ngày 01.7.1639”.

Linh mục Alexandre de Rhodes nhận định: cha Buzomi là vị tông đồ đích thực của Đàng Trong, người đã tận tụy lo việc truyền giáo, hoạt động trong hơn hai mươi năm với một sự kiên trì đáng được khen ngợi, ca tụng. Ngày 13.7.1626, Linh mục Buzomi viết một bức thư bằng tiếng Ý dài 4 trang gửi cho Linh mục Mutio Vitelleschi, Bề trên cả dòng Tên. Trong thư có một số chữ Quốc ngữ được viết theo lối cách ngữ như ngày nay:

Trình độ hiểu biết sâu sắc nghĩa từ tiếng Việt và tài năng điển chế từ ngữ tiếng Việt của Linh mục Buzomi trong thư kể trên được Đỗ Quang Chính ghi nhận:

“Trong thư nầy, Buzomi tỏ ra không tán thành các từ Thiên, Thượng Đế, Thiên Chủ Thượng Đế, Ngọc Hoàng; vì không chỉ rõ Đấng Tối cao theo giáo lý Công giáo (như Thiên, Thượng Đế), hoặc chỉ một thứ tín ngưỡng đã xuất hiện từ lâu ở Việt Nam (Ngọc Hoàng, Ngọc Hoàng Thượng Đế), hoặc cụm từ có tính cách hoàn toàn Trung Hoa (Thiên Chủ Thượng Đế), nên Buzomi ngã theo cách dùng từ ngữ Thiên Chúa , vừa vắn, vừa hợp với văn hóa xã hội Việt Nam, vì hai từ Thiên và Chúa đã quá quen thuộc trong xã hội nầy”.

Linh mục Đỗ Quang Chính cũng nhận định chữ Quốc ngữ của Linh mục Buzomi tiến bộ hơn so với các giáo sĩ cùng thời, trong thư 1626: “Nhìn vào những chữ Quốc ngữ của Buzomi, mặc dầu ít, nhưng đã thấy tiến triển, nếu đem so sánh với lối viết của João Roiz, C. Borri, Đắc Lộ, Gaspar Luis và Antonio de Fontes từ năm 1626 trở về trước”.

Thế nhưng, Linh mục Đỗ Quang Chính nêu danh sách gần mười vị góp công sáng tạo chữ Quốc ngữ thời kỳ đầu, gồm: Francisco de Pina, Cristoforo Borri, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, Alexandre de Rhodes, Filippo Marini, Bento Thiện, Igesico Văn Tín, mà không có tên Francesco Buzomi trong danh sách này!

Linh mục Daniello Bartoli (1608-1685) – Nhà sử học dòng Tên (cùng thời với Buzomi và Pina) nhận xét về trình độ hiểu biết tiếng Việt của Buzomi vào năm 1623 như sau: “Ngoài ra, với trí nhớ sâu sắc như một thiên tài cùng với sự nhiệt tình tuyệt vời của cha đã giúp cho cha học nhanh ngôn ngữ đó [Đàng Trong], nắm bắt tính đa nghĩa của từ, tính chất của các dấu nhấn và cung giọng được thể hiện theo ý muốn. Nhờ vậy, trong một thời gian ngắn, cha đã biên soạn từ vựng và luật mẹo ngữ pháp tốt đẹp”. Bartoli còn cho biết khả năng ngôn ngữ Đàng Trong của Buzomi và Pina: “Cha Pina và cha Buzomi là những thừa sai nắm bắt được ngôn ngữ thông dụng của Đàng Trong, có thể thuyết giáo, trao đổi với các nhân sĩ và các vị sãi, trong các việc riêng tư hay trong nơi công hội”.

Tuy nhiên, nhà nghiên cứu – Linh mục Roland Jacques đưa ra nhận định: “Nhà chép sử dòng Tên Bartoli cho rằng Buzomi sáng tác một hệ thống văn phạm và ngữ vựng. Một trong những chứng lý là một bức thư viết năm 1622 mà chúng tôi không thể tìm ra. Có thể có sự lẫn lộn với Pina chăng…”!

Bức thư bằng tiếng Bồ của Pina viết tại Đàng Trong năm 1622, gửi cha Giám sát dòng Tên là Jérónimo Rodrigues “senior”, chép: “Tại Pulo Cambi [Nước Mặn], cha Buzomi có ba ông sãi làm thay cha hết mọi việc. Vì thế, nếu xảy ra chuyện gì, hoặc có công việc gì phải điều hành hay chuyển tin tức quan trọng, cha phái một thông dịch viên, hay một trong ba ông sãi… Khi giờ giáo lý kết thúc, cha ra về, còn họ thì ở lại hoặc để ôn tập, hoặc để chuyện trò với các dự tòng”.

Vai trò của Buzomi trong việc ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latin sáng tạo chữ Quốc ngữ được ghi nhận khá mờ nhạt so với các nhà truyền giáo cùng thời, với lý lẽ thông thường được đưa ra là: cha Buzomi khi giao dịch hoặc giảng giáo lý cha dùng thông ngôn, nên cho rằng Buzomi không nói được tiếng Việt.

Việc Linh mục Buzomi thường xuyên sử dụng thông ngôn chứng tỏ Linh mục là người cẩn trọng, hơn nữa là một Bề trên, Buzomi còn có nhiều công việc khác. Chính Linh mục Buzomi đã cho biết trong bức thư viết vào tháng 5 năm 1622 gởi cho cha “kinh lược sứ”: “Ngôn ngữ xứ này rất khó vì ý nghĩa của nó được phân biệt bằng thanh điệu hơn là từ ngữ. Tôi bị bệnh lâu ngày và làm việc liên tục, điều đó không cho phép tôi chờ đợi qua thời gian dài. Do đó, khi dạy giáo lý, tôi luôn sử dụng thông ngôn. Tôi hỗ trợ anh ta và gợi ý cho anh ta từng bước một những gì anh ta phải nói và hướng dẫn anh ta nếu có điều gì có thể bị hiểu nhầm. Và như thế những gì anh được nói, nó có giá trị như chính tôi đã nói”.

Sử gia Bartoli đã ghi nhận: “Khi Linh mục không đủ tự tin vào khả năng ngôn ngữ của mình để rao giảng chân lý đức tin, Linh mục dùng thông ngôn, người mà trước đó đã được Linh mục đào tạo vững vàng về kiến thức đức tin để có thể giải nghĩa cho dân chúng. Trước tiên Linh mục cố gắng diễn đạt bằng ngôn ngữ của mình, sau đó thông ngôn người Đàng Trong nói lại bằng ngôn ngữ Đàng Trong của anh bằng những từ diễn đạt chính xác ý nghĩa, nói được như bản sao của bản chính”.

Linh mục Borri, một trong hai thừa sai (Borri và Pina) được cho là nói thạo tiếng Việt vào thời điểm 1620. Tuy nhiên, Borri bối rối, từ chối dạy giáo lý cho Bà vợ sứ thần được cử đi sứ Cambogia khi bà xin học giáo lý để được rửa tội trước khi lên đường. Linh mục Borri viết: “…Sau đó, tôi xin lỗi bà vì tôi không thể đáp ứng ngay lập tức ước nguyện thánh thiện và đúng đắn của bà, vì cho dù tôi đã có chút ít hiểu biết về ngôn ngữ Đàng Trong, tuy nhiên không đủ để giảng dạy những điều cao thượng và những mầu nhiệm cao cả của Kitô giáo. Vì thế, tôi xin bà nên đợi Cha Buzomi, trong một vài ngày nữa sẽ từ Đà Nẵng trở về cùng với một thông ngôn tài giỏi, nhờ đó bà sẽ được hướng dẫn thỏa đáng và sẽ làm cho bà hài lòng về ước nguyện thánh thiện của bà… Nhờ người thông ngôn này cùng với tính siêng năng, cần mẫn và chú tâm học giáo lý vào hai giờ buổi sáng và hai giờ buổi chiều trong suốt 15 ngày, bà đã học đầy đủ giáo lý của đạo thánh chúng ta. Bà cảm kích việc Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người vì yêu thương nhân loại. Sau khi được cha Buzomi giảng giải giáo lý, bà đã được rửa tội tại nhà thờ Nước Mặn cùng với hai mươi lăm người phụ nữ khác. Bà chọn thánh Ursula làm bổn mạng”. Tự thuật của Borri đã chứng minh việc Linh mục Bề trên Buzomi sử dụng thông ngôn là cần thiết; các thừa sai dù thông thạo tiếng Việt nhưng chưa đủ khả năng truyền đạt giáo lý, những chân lý về đạo cho người Việt.

Cần lưu ý, các thừa sai thường phải học ngôn ngữ của nơi đến truyền giáo là để giải tội. Việc xưng tội và giải tội là chuyện hoàn toàn “riêng tư” của người xưng tội và Linh mục giải tội, không thể có người thứ ba phiên dịch. Các Linh mục nghe hiểu người xưng tội xưng những tội gì, thì mới có thể giải tội được.

Linh mục Buzomi còn có vai trò đặc biệt đối với trường dạy Quốc ngữ đầu tiên cho các nhà truyền giáo tại Nước Mặn và là thầy dạy tiếng Việt tại Nước Mặn cho các Linh mục: Emmanuel Borgès (Bồ) và Giovanni di Leira (Ý) (đến 1622), Gaspar Luis (Bồ) và Girolamo Majorica (Ý) (đến 1624). Linh mục Girolamo Majorica là học trò của Buzomi tại Nước Mặn từ năm 1624 – 1629. Năm 1632, ông đến Đàng Ngoài, làm Bề trên giáo đoàn Đàng Ngoài, ông qua đời năm 1656 tại Thăng Long. Trong khoảng 30 năm hoạt động truyền giáo ở Đại Việt (cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài) ông đã khởi xướng và chủ biên tới 48 tác phẩm lớn nhỏ bằng chữ Nôm. Hiện nay, Thư viện Quốc gia Paris lưu trữ 15 cuốn với 4.200 trang. Mỗi trang có từ 9 đến 12 dòng, mỗi dòng có từ 30 đến 34 chữ Nôm, tổng cộng có 1.400.000 chữ. Có thể nói, Girolamo Majorica là “nhà Nôm học”, một hiện tượng độc đáo trong lịch sử ngôn ngữ và văn học Việt Nam, ông có một chỗ đứng thật đặc biệt, đại diện cho văn xuôi Nôm thế kỷ XVII.

Với tư cách là Bề trên, Linh mục Buzomi triển khai chỉ dẫn các thừa sai, vừa là người tổ chức, vừa là người đôn kiểm, giám sát, vừa là người đồng hành, vừa là thầy dạy tiếng Việt. Ông đã tham gia việc nghiên cứu và sáng tạo chữ Quốc ngữ một thời gian khá dài – trên 20 năm ở Đàng Trong, thời gian đầu cùng với Linh mục Pina, Linh mục Borri và một số người Việt tại Nước Mặn, thời gian sau với các Linh mục: Emmanuel Borgès,Giovanni di Leira, Gaspar Luis và Girolamo Majorica…

Linh mục Bề trên Buzomi là nhân vật số một trong buổi đầu truyền giáo của dòng Tên ở Đàng Trong. Giống như Pina và Borri, Buzomi cũng chỉ ký âm tiếng Việt, biên soạn từ vựng và luật mẹo ngữ pháp sử dụng cho riêng mình học tiếng Việt, cả ba nhà truyền giáo tiên phong chưa làm được công việc mà sau đó các giáo sĩ Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa và Alexandre de Rhodes thực hiện, đó là biên soạn Từ điển. Thế nhưng, không thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của Linh mục Bề trên Buzomi đối với việc ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latin sáng tạo ra “chữ Quốc ngữ tiền Đắc Lộ” cùng hai giáo sĩ Pina và Borri tại cư sở tiên khởi Nước Mặn.

​​​​​​​​​​NTQ

Read Full Post »

Gửi oan gia

Trần Thị Cổ Tích

.

tôi bắt đền anh. bắt đền anh

khi không đem lá thả dòng xanh

hồ thu gợn sóng lao xao mãi

để gió than hoài khúc mong manh

.

phải chăng kiếp trước tôi lỡ tay

làm rách áo anh một lần say

nên giờ anh níu ngàn mây lại

đòi vá cho anh khoảng vai gầy

.

có phải xưa anh là nhánh rong

dập dờn phiêu dạt giữa dòng sông

tôi nhỡ tình cờ bơi qua đó

chân vướng. mệt nhoài. gỡ chẳng xong

.

lòng dặn lòng khoác áo cà sa

chuông mõ lên non lánh ta bà

phất tay giũ hết vòng oan trái

ai hay giữa đường gặp oan gia

.

anh hỡi. anh à. anh… ấy ơi

tâm tôi không chịu tịnh nữa rồi

mỗi ngày nó khắc thêm chữ nhớ

anh lấy chi đền cho tôi đây

ttct

11.10.2023

Read Full Post »

Mặt mộc

Thơ Trần Hạ Vi

.

anh yêu cô ấy ba năm

chưa bao giờ nhìn rõ mặt

cô ấy chạy trốn nhanh như sóc

gương mặt mộc của anh

ở đâu

ở đâu

.

gương mặt mộc của em rọi sáng đêm sâu

anh già rồi không còn nói yêu ai nữa

cô ấy nói yêu anh đến thiên thu

còn tình yêu của em

ở đâu

ở đâu

.

mũi kim sinh thiết quẩn quanh trong đầu

vội vã gọi em sau lần cao huyết áp

tưởng chết đi

tưởng buồn rầu

ở đâu

ở đâu

.

anh viết những lời tình bông lơn

vẫn nhớ về gương mặt mộc

em đừng buồn ông già này

chỉ trái tim vẫn còn trẻ

như ngày

không dám nói yêu

tình yêu mộc…

Read Full Post »

Nguyễn Man Nhiên

.

ngày đẹp trời với những giấc mơ nở sớm

đôi khi với một cái mũ

hoặc chiếc giỏ đan

tôi hái mơ ước

trong vườn cây ăn quả

tôi làm đầy túi tôi

vài mái ngói sứt mẻ

tiếng sủa con chó hàng xóm

ánh đèn pha xe hơi

chạy nhanh trong màn sương mỏng

những giọt nước mắt đêm muộn

như ngọn nến cháy âm ỉ

chiếu sáng phần còn lại của khuôn mặt sẫm bóng

.

tôi đang mở

một quyển sách rảnh rỗi

một đại dương rộng lớn trên đó

mọi thứ xuất hiện trong tầm tay

trịnh trọng như những cái khuy măng-sét

một con chim thổi sáo trong bóng râm

mơ về người bạn đời

trong tán lá dịu dàng của nó

khoảng cách giữa chúng tôi biến mất

các hòa âm khác thường

như lòng tốt bị bóp nghẹt với vụn bánh mì

sẽ nảy nhánh và ca hát

.

tôi đếm hơi thở tôi

giọng nói van lơn như gió qua hẻm núi

từ những ngọn đồi màu tối

bò ra một bóng ma gầy

người gửi đến tôi như một sứ giả

chòm sao mùa tang lễ

những ma-nơ-canh để ngực trần

đôi mắt cô ấy yêu tôi

mảnh plastic của keo xịt tóc

tôi như đứa trẻ chạy qua rừng

trối chết

.

tôi sẽ dán ẩn dụ này

lên tấm bưu thiếp

giống như hai chữ khủng khiếp

tự do

trong tiếng vọng bức tường đá khô

ngôn ngữ là cái bóng rơi xuống

nghệ thuật chất đống

mỗi buổi sáng hoa tươi

và giấc mơ của ngày hôm qua bị lãng quên

tôi có thể vẽ nó như là

cuộc sống vẫn còn

một cửa sổ đầy ánh sáng

Read Full Post »

Thản nhiên đen

Chim Hải.

.

liều lĩnh khi đêm chẳng thể

rỉ sét hay mặn chát

tôi chạy vào thơ chạy vào mạch tràn cuồng nộ

ngày mơ sa mạc chữ đêm nghe tiếng thở nghìn năm gió

có tiếng bàn chân chạy xước lòng đường

tiếng ngoi mình trên nước

xiết xoáy tia nhìn toạc rễ

ám tiếng nói từ vực tối

cứa vào tịch mịch

thản nhiên đen

búi tóc người trắng mặt

cứa vào hố mắt

cứa cụm hoang mang cùng nỗi dịu dàng

đêm té ngược đường quay

thời khắc chổng đầu

tôi chạy

.

vọt trào mắt lửa

bùng nổ dữ dội

chẳng thể tìm ra mông mông hoang mạc

người lữ hành nằm ôm ảo giác

chẳng thể tìm ra mượt mà huyền thoại

người đàn bà núp sau đêm

đong đưa quá khứ

cọng cát vắt mình qua ngọn biển

nghe ngóng thời gian

rừng tự sát bên trang giấy

khát vọng đọt mầm

khoảng lặng thanh âm

mấp máy giọt phù trầm

cứa trắng hoác ra trăm miếng

nghịch âm

.

liều lĩnh khi đêm chẳng thể

xám cùng thơ

tôi chạy về phía rừng

chết sững trước vẻ đẹp tàn rụi

thấy da thịt mình

đen màu cổ quái

.

bí ẩn sau trang giấy

vẫn còn tối sầm.

Chim Hải

Read Full Post »

Mùa thu

.Nguyên Hạ Lê Nguyễn

Cơn gió Thu năm nay đến chậm, nơi chỗ tôi đang ở , bây giờ như rụt rè bẽn lẽn …Vẫn là chút gió heo may cuốn theo vài chiếc lá vàng bay , những chiếc lá đỏ thắm màu thời gian, cơn gió ập vào cánh cửa sổ mở hé, chập choạng chút gió Thu vờn khua làn tóc rối…Tôi chợt cúi đầu ngăn một tiếng ho khan…

Chạm bàn tay kéo cánh cửa , giọt sương mai còn đọng trên vài chiếc lá , bỗng lạnh căm, chợt se sắt bàn tay run, cơn gió lạnh ập vào, làm lu lu chiếc kiếng soi trước mặt…Tôi hững hờ chùi tay lau chút hơi sương, không nhìn ngắm bóng mình trong gương buổi sáng nay ….để làm chi khi ngoài kia xao xác lá…những chiếc lá vàng bay bay nhiều quá chút hương Thu.

Sáng chủ nhật…môt sáng nào lất phất hạt mưa rào…Tôi bấm đốt ngón tay nhẩm tính…mình đã xa quê cũng đã nhiều năm…thời gian nào cho tôi trái ngọt, thời gian nào đã cho tôi trái đắng oan khiên, dù trái xanh trái mọng vàng hay là từng chùm trái đắng tôi vẫn oằn mình cam chịu lúc chạm tay vào…

Chạm mắt vào khung ảnh Mẹ tôi, một người mẹ quê với tấm lòng biển cả, giọt sương mai dầu dãi sáng nắng mưa chiều, thân lặn lội làm thân cò trên bến vắng…suốt một đời tận tụy với đàn con.

Nhớ những ngày thần tiên nhưng rất lặng…những tháng năm xa nay bỗng chợt hóa gần.ngày tuổi nhỏ với những năm bên nhà Ngoại.

Những buổi sáng mùa Đông tàn ít việc…mẹ ở nhà vét mấy chén nếp mới thổi mở hàng, nấu nồi xôi vừa dẻo vừa chín vàng, ..ngoài sân trước ngõ tôi chạm tay vào chùm trái chín, hương ổi chín thơm lừng theo từng cơn hít mùi ,thoảng hương thơm, dù bao ngày vẫn nhặt được quả thơm, nhưng bây giờ bên chân mẹ với nồi xôi , hương bốc khói với chút muối mè pha đường đậu, vừa béo, vừa bùi, vừa thơm mùi lúa mới…mấy chị em tôi, ngồi thu mình trên chiếc chõng tre, vê tay từng vắt xôi nóng hổi…vị ngọt của đường đen, vị béo của hạt đậu rang vàng, thơm ngát hương mè rang và cục xôi có hạn..

.

Mẹ vê tròn cho mỗi đứa một nắm mang theo..khi vào lớp học, lớp vỡ lòng , chật chội những đứa trẻ nhà quê.

Tôi vội vàng chui qua lối mòn của hai bờ tre, sang nhà hàng xóm trả công cho người bạn nhỏ…nắm xôi trên tay , chia nhau qua bao ngày của một thời tuổi nhỏ …những trứng chim, trứng cút nhỏ trao tay , người bạn nhỏ kiếm tìm nhặt được, đặt trên bàn tay bé xíu của cô bạn tuổi lên năm…

Rồi tháng năm trôi nhanh với bao tháng năm dài huyễn mộng …hai bờ tre láng màu óng mượt vì lũ trẻ sang chơi nhà luôn phải chạm tay vào…ngoài sân đứa bé trai nhón chân lên giàn mướp đầy hoa vàng óng mượt, hái chùm hoa vàng cài lên tóc đứa bé gái hai bím tóc đong đưa , tóc cháy nắng vì bao năm dài không nón che, mũ đội.,

Ngày hôm đó tôi làm cô dâu nhỏ, tóc kết hoa vàng của mướp, nhẫn cưới , vòng đeo là mấy cọng lá dừa xiêm…Chú rể khẽ khàng tay cầm lễ vật là mấy cái trứng chim vừa nhặt được bên bờ ao của ổ chim dồng dộc..chân nhón bước chân khẽ khàng trong hai ổ chim làm giày cao cổ …

Chạy sang nhà hàng xóm đón cô dâu về trong con mắt thật ngây thơ…Nhớ hình ảnh ngày xưa, lòng tôi chợt bơ thờ…thương nhớ lắm những ngày thật xa nơi quê Ngoại…rồi tháng năm qua tất cả đã đi vào huyền thoại ….hai đứa trẻ ngày nào nay đã đi những bước thật xa…đã băng qua đại dương , những bước chân đã vượt ra khỏi lũy tre, qua biển lớn băng qua ngàn hải lý … Nơi đất lạ của một vùng trời viễn xứ…Quả đất tròn hai trẻ lại gặp nhau…tay mừng vui, chân bước vội…chẳng thốt được câu nào…và tất cả nhấn chìm cơn bão nổi.

Chỉ những buổi chiều Thu khi vạt trời chao động, nắng chao nghiêng, lúc bóng đổ giữa chân tường, khi nhìn lên bờ tường cao ẩn hiện những cánh chim, bay chấp chới đang tìm về nơi ấm áp….Tiếng lích chích của đôi chim chia mồi khi Đông tàn nguyệt tận….Mới vỡ òa trong tâm thức một chút vấn vương chao…những dấu tích của thời gian nào lúc tuổi thơ bé dại…đã qua rồi theo bao giọt sương rơi…

Sương bây giờ và giờ ở nơi đây, cũng là những giọt sương rơi mềm trên lối ngõ …những ngôi nhà tô loang màu ngói đỏ, châp chùng , lạnh lẽo giữa những hàng cây , không bóng người, không một kẻ đi qua, những chiếc xe chợt dừng rồi biến dạng, không tiếng cười, không có tiếng khua vang, gõ guốc gỗ của những ngày Xuân trên xóm ngõ…chỉ những chiếc lá vàng bay chạm vào lòng ai biết bao chiều một mình trên xứ lạ…Nhẹ tay chùi giọt sương pha hay là nước mắt ai …thương nhớ lắm những ngày xưa bé dại…

Những giọt sương mai , hay những chiếc lá vàng bay luôn gợi nhớ trong tôi những kỷ niệm xa mờ nhưng chợt mới hôm qua nay tỉnh thức kiếm tìm nhận diện…con chó vện tiếng sủa cao vang vọng, tiếng gáy của con gà trống cất cao lúc bình minh …và tiếng chim chích chích của đôi chim chào mào…và nhớ lắm những lần làng quê có đám cưới đám ma…mâm cỗ nhỏ nhưng ngấm vào từng vị giác, vị ngọt của miếng bánh đậu xanh , vị cay của gừng già …thịt béo ngậy nhưng ăn hoài chưa thấy ngán…

Tiếng pháo nhà ai hồng vui chân bước, lũ trẻ xô nhau giật lấy những chiếc pháo sót, pháo còn, gom góp lại tiếng đì đùng, đì đẹt…

Tôi nhớ lắm khi nhà nào có đám ma , đám chết, những gỉai tang phủ kín cả những cây chuối, cây keo, cột vào thân cây để chúng cũng khóc theo, mau tiễn biệt những linh hồn đang đi vội…Ở quê tôi, cây cũng biết xót thương người ra đi trong niềm xót đau vời vợi.. nên ấm tình làng, nghĩa xóm thật thâm sâu.

.

Tôi đã nhìn thấy tại nơi này …vẫn có những con người cùng chủng loại…nhưng chẳng chút thương nhau …trong bóng xế buổi Đông tàn…những cụ già , những kiếp người cơ nhỡ, sống âm thầm trong những bức tường cao…lặng nhìn theo những ngày tháng xanh xao…không tiếng ủi an hay một lần vui tương ngộ…

Ở nơi này…nào ai buồn khóc lúc chia ly, khóc than chi nào có được ích gì …thân xác thiêu rụi giữa đất trời xa lạ….những đám tang thoạt nhìn trông rất lạ, không tiếng khóc than, không cả giọt lệ lúc biệt ly…

Hoa đưa tiễn đưa có nói được điều gì ? Khi còn đó chẳng trao nhau khi gặp gỡ…chỉ có thế và kiếp bể dâu chỉ có thế…

Giọt sương nào rồi cũng rơi theo mùa Thu vàng rất vội, gió Thu nào cho ta nhớ lại chuyện vọng cố hương…chuyện ly hương ai cũng tưởng thiên đường…nhưng chua xót…đoạn trường nào ai biết.

Ngày xưa nhà thơ Lý bạch đã từng buông câu thảng thốt :”Cử đầu vọng minh nguyệt….Đê đầu tư cố hương …” đó là chuyện của ngày xưa xa lắc …Ôm trăng Thanh và cùng chết giữa đêm sương …Có khi nào ta gục chết giữa đêm trường… Hay gục chết trong buổi chiều sầu cô quạnh …???

Câu chuyện nhìn sương rơi…. lòng chợt vọng cố hương , ngàn năm xưa cho tới tận ngàn nay, thế kỷ nào của những ngày năm cũ …những giọt sương rơi vội xuống lòng ai.chút nữa … bây giờ và trong thế kỷ này còn hiện hữu bóng hình ai…xa vắng , lu mờ và cũng thật bi ai…

Giọt sương bây giờ trong hồn tôi lạnh giá và giọt sương mai của một ngõ ngách nào trong tuổi thơ bé dại, chút hương quê và những giọt sương mờ

Một sáng nào ta bừng tỉnh thức

Giọt sương mai …..vẽ một vệt mù

Lao xao chiếc lá buổi tàn Thu

Sương rớt….Sao bỗng cay tròng mắt….

Read Full Post »

Trần Vấn Lệ

.

Ban có tin được không lá phong đang đỏ rực rồi sẽ vàng mai mốt để đón mùa Thu về?

Bạn cứ tin vậy đi nếu bạn ngoài nước Mỹ!  Mùa Thu đẹp lắm nhé…khi lá phong vàng rơi!

Mùa Thu sẽ đến nơi đúng ngày lịch ghi đó!  Mùa Thu đến với gió đủ bay lá phong vàng…

Hôm nay gió đang tan những đám mây bàng bạc…

Hôm nay gió đang hát trong thành phố Temple.  Đường Rosemead như mơ:  lá phong đang đỏ rực.

*

Người con gái che ngực bằng tấm áo laine hồng.  Người bên cô, chắc chồng, ôm cô nâng từng bước…

Con đường dài trăm thước, trăm năm anh cùng em… chúng mình cùng đi trên lá phong vàng êm ái! 

Nếu có dừng, anh chải tóc em lá phong sương…

Read Full Post »