Cao Thị Hoàng

Một.
Mùi bùn non từ cửa sông theo gió chướng cuối năm lộng về khiến tôi ngây ngây mùi nhớ! Cái mùi nhớ đôi lúc bâng khuâng và cũng lắm khi rịt chặt tâm hồn kẻ hậu sinh với tiền nhân thuở trước. Tôi quay lại Huế. Chiều nghiêng Cố đô! Từng sợi nắng đan xen se chỉ như tấm bình phong che giấu sẹo kinh thành, nơi từng trải qua bao dâu bể. Tôi lần khân tựa lan can cầu Phú Thứ, nhìn ba con sông Như Ý, Lợi Nông, Đại Giang hợp cùng rồi chia xa… Mỗi sông đi về mỗi hướng; và mỗi hướng đó tưởng đối nghịch nhưng lại thuận dòng mang phù sa bồi đất, giữ nước vững bền.
Người kinh kỳ muốn tới Phú Đa phải qua cầu Phú Thứ, đi tiếp ngót nghét hơn cây số sẽ gặp thôn Nam Châu. Có thể nói đây là vùng đất ngụ cư duy nhứt của người Nam Bộ ở xứ Huế (1) . Nơi chốn đó, ngoại thường nhắc nhở con cháu rằng có một phần máu thịt của dòng họ ngoại đã nhiều đời thấm sâu lòng đất khách, nhưng lại là quê mình!
Huế những ngày Chạp cuối năm, những ngày cúc Bãi Dâu, huệ Nguyệt Biều, mai Dương Xuân, thược dược Phú Thượng… thầm kín ẩn tàng háo hức tạo dáng, khoe nhan sắc Huế yêu… Huế rất yêu! Rồi, ai yêu rất Huế? Hỏi ngoại, ngoại trầm ngâm cả buổi chiều quê!
Huế! Một tiếng vút không gian hay một tiếng gõ thời gian? Sông Hương, núi Ngự… Sông núi nếu phải là biểu tượng quê hương thì những ai nặng tình non nước làm sao tránh khỏi bùi ngùi khi nghĩ tới nơi mình đang sống đã bén rễ thành gốc.
Sông núi có hồn thiêng! Hồn thiêng sông núi khắc vào tâm khảm của mỗi người con Việt một thứ tình yêu bất diệt, đó là tình yêu đất nước! Ngoại nói: “Núi dù lớn nhưng nếu xa sông trơ trọi một mình, thì núi thiếu hồn; và nếu có thiêng thì cũng chỉ là thiêng với đất. Sông dù dài ngắn hay rộng hẹp thì sông vẫn có hồn, và cái hồn đó chính là long mạch của đất”. Rồi, ngoại cắt nghĩa: “Sông thuộc Âm, núi thuộc Dương, và Thủy dưỡng Mộc nên là nơi chốn sinh ra mọi sự sống”. Nương theo lời ngoại, tôi thầm nghiệm: “Vậy thì nữ là sông còn nam là núi?”. Trong các triều đại Việt, hiếm có – nếu không muốn nói chẳng có – sự kiện bề tôi kết thông gia cả trai lẫn gái với cùng một vị vua, như trường hợp ngài Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng kết thông gia với vua Minh Mạng(2) . Có thể nói rằng Đức Quốc công nắm trong tay cả Âm lẫn Dương, tức hội đủ “Sông-Núi” để tất nhiên có được đất Nam Châu, nơi chốn đi về.
Đêm Nam Châu xốn xang không vì xa nguồn Nam Bộ vốn là đất cũ Phù Nam, mà xốn xang vì bươi mớ tro tàn quá khứ Thuận Hóa (Phú Xuân) một thời từng là Kinh đô, đi từ “Nhà” tới “Triều”, đi từ sáng tới tối… đầy rẫy tiếng cười, ngập tràn tiếng khóc!
Hai.
Ngoại ngồi tự lự trên thềm lạnh tàn đông, tôi khẽ khàng: “Ngoại cũng họ Phạm, vậy họ Phạm của ngoại có dính dáng gì tới họ Phạm của Đức Quốc công?”.
Gió phá Tam Giang thổi qua miền đất bạch sa, ngoại chạnh lòng: “Phạm Đăng gốc Gò Công, Phạm Hữu gốc Bến Lức, Long An (3) … Ngoại họ Phạm, nhưng là Phạm Kế gốc Tân An (Long An)”.
Ngoại bồi hồi kể tiếp: “Tuy Phạm Kế nhà mình không cùng huyết thống Phạm Đăng, nhưng nếu nói không dính dàng gì với nhau thì không đúng. Chẳng những cả hai họ đồng triều, mà trong thời loạn lúc lâm nguy, đã “chung lưng đấu cật” phò chúa. Ông nội của ngoại là Phạm Kế Tiết, về hưu được sắc phong Hàn lâm viện Thị độc, Phụng Thành đại phu. Dù vậy, ông không cam tâm hưởng nhàn khi đâu đó những người đồng hương Gia Định, hay nói rộng ra là người miền Nam, vẫn còn sống rải rác nơi xứ Thần kinh chưa hội tụ chung cùng. Ông tiếp tay Nam Châu hội quán, trực tiếp khẩn hoang lập ấp, và khai hoang vỡ đất”.
Lời ngoại nói, tôi rung cảm. Tôi hiểu rằng: “Đất sanh quê, Người sanh nhà”. Hai tiếng “Quê-Nhà” hợp thành “dây tơ rễ má” thắt lòng bao người con xa xứ!
Mưa Huế, nắng Thừa Thiên!
Mưa nắng đó, là mưa nắng Thuận Hóa. Trong mưa có nước mắt, trong nắng có mồ hôi của lưu dân bốn đợt (4) nhập cư mở cõi. Và bốn đợt nhập cư đó đã có lần gián đoạn trên trăm năm, kể từ sau 1672, khi Trịnh – Nguyễn lấy sông Gianh làm giới tuyến tạm thời chia cắt đất nước. Vận nước gắn liền thân phận dân đen như vậy thì đành vậy! Mãi tới lúc thời xoay thế chuyển, vua Quang Trung-Nguyễn Huệ đánh tan quân Trịnh, nối đôi bờ Nam-Bắc sông Gianh (1786), dân tiếp tục nhập cư và đợt nầy, chẳng những dân từ phía Bắc đổ vô vùng Thuận Hóa, còn có cả dân Nam-Bình-Ngãi-Phú vốn là thân nhân chiến binh của đoàn quân Nguyễn Huệ.
Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, những công thần và tướng sĩ đem gia đình từ đất Gia Định ra Phú Xuân định cư lập nghiệp. Thuận Hóa đùm túm lưu dân bằng tấm chơn tình ủ men Huế! Dân ngụ cư với dân cư cùng “đồng cam cộng khổ”, chung cuộc thăng trầm. Và rồi, thế sự thuận nghịch, đổi dời; họ đều ở trong con thuyền trôi theo dòng lịch sử… Huế tất cả!
Một lần, ngoại nhắc lời Hoàng Thái hậu Từ Dụ dạy: “Người miền Nam ra Kinh đô phục vụ triều đình, định cư miền Trung. Vì vậy, gọi là Nam Trung”(?).
Tôi thoáng nghĩ khác; hay là “Người miền Nam (Gia Định) trung với vua!?”.
Không rầy, ngoại chậm rãi nói: Ba cửa sông Ô Lâu, sông Bồ, sông Hương hình thành Tam Giang. Nghe đâu vua Minh Mang đổi Hạt Hải, có nghĩa biển cạn thành Tam Giang “Nước sông sâu, gió bất trắc, thuyền bè dễ gặp nạn”. Và phá, bởi một bộ phận nước bị ngăn hoặc bị chặn lại do dãy đá, có khi là rặng san hô vòng. Nam Trung là một địa danh; và địa danh đó nếu hàm ý là người miền Nam trung với vua cũng không sai, nhưng chưa hẳn đúng. Nam Trung vốn xưa là Nam Châu, có nghĩa: “Người miền Nam lập thôn nơi bãi đất”, và vì được bao bọc bởi sông Đại Giang, phá Tam Giang nên người đời thường gọi “xứ cát”.
Hình như tia mắt ngoại chồng lên tia nắng chiều bát ngát mặt nước phá nhấp nhô sóng.
“Người miền Nam trung với vua, điều đó thì không cần tranh cãi; nhưng người miền Nam yêu vua không bằng yêu đất nước. Vua có thể mất, nước thời không”.
Rồi ngoại nói chắc cứng: “Nước trên vua, vua mần sao trên nước? Người ta giữ nước chớ bao thuở giữ vua, nếu vua chỉ là thứ hôn quân vô đạo!”.
“Đó có phải là tánh cách trượng nghĩa của người Nam Kỳ không, ngoại?”.
Không trả lời câu hỏi của thằng cháu hay hỏi, ngoại nói thơ điệu Lục Vân Tiên:
“Mai sau chi sá ai còn mất
Vạn đại giang sơn, vạn đại vui”.(5).
Ba.
Mười năm, ngoại đã là sương khói nơi sóng nước phá Tam Giang.
Với tôi, Nam Châu là quê nhà! Với tôi, những câu chuyện “Làng Nam Bộ trong lòng xứ Huế” mà lúc sanh thời, ngoại chầm chậm kể suốt bao chiều trôi lênh đênh trên dòng thời gian phôi phai ký ức. Tôi nhớ ngoại nói: “Chín họ tộc còn gọi ‘Cửu tộc’, bản quán người miền Nam tụ về làng Nam Trung…”.
“Chắc là ngoại đã quên?”, tôi ướm lời.
Ngoại cười như là tín hiệu “rành cái tánh tinh nghịch của thằng cháu”. Ngoại kể vanh vách: “Chín họ tộc: Phạm Đăng, Phạm Hữu, Phạm Kế, Đinh, Lê, Trần, Phan, Đoàn, Đặng Ngọc (6) . “Đất lành chim đậu”, sau nầy có thêm các họ Nguyễn Trọng, Nguyễn Trung, Hoàng Trọng…”.
Rồi,đột ngột ngoại nói nhanh: “Người miền Nam ra Huế phục vụ triều đình ắt tìm đồng hương chung sống, nếu không muốn sống lẻ loi”.
Tôi ngẫm nghĩ: “Ngôi làng quan, mọc lên giữa lòng thứ dân. Vì sao có thể yên ổn và thân thiện? Hạng quý tộc, vì sao có thể trong ấm ngoài êm trước cảnh lầm than và sự đói lạnh của dân lành?”. Tôi im lặng. Tự đáy lòng, tôi khao khát có một Thái Tông hoàng đế đi du thuyền dạo chơi phá Tam Giang, chợt thấy lũ sóng yêu hại thuyền dân chúng, ngài nổi giần bèn sai quan binh đem đại pháo ra bắn, “trúng được hai ngọn sóng máu phun ra đỏ dòng nước, còn một sóng chạy ra biển cả trốn mất…”.
Ngoại như đọc được tâm trí tôi: “Cần chi tới thiên tử như Thái Tông hoàng đế, hả cháu? Người miền Nam có tiếng trượng nghĩa khinh tài, tính cách bộc trực, khí phách, hào sảng; bản chất hồn hậu, thương người… Cứ coi truyện Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu thì sẽ rõ. Và, với họ thì “Đừng ham hốt bạc ghe chài – Cột buồm cao bao lúa nặng, tấm đòn dài khó đi” (7) .
Cuộc sống giúp tôi nhận ra “Làng quan” ngày đó được dân che chở lúc biển động, sóng to; được dân tin yêu những khi trái gió, trở trời… Vì như ngoại thường nói: “Hồi nẳm, mần quan không đồng nghĩa mần giàu; kẻ có quyền chưa chắc đã có lực… Tất cả buộc ràng bởi kỷ cương phép nước; bởi lòng tự trọng và biết hổ ngươi của quan lẫn dân”.
“Vậy họ mần quan để làm gì, hả ngoại?”.
“Để phò vua, cứu nước, giúp dân…”.
Có lẽ biết mình nói theo quán tính của thời còn là “khuê nữ đài các” con quan; một lát sau, ngoại nhỏ nhẹ: “Phải có danh gì với núi sông. Họ mần quan để thi thố tài năng, thỏa chí kẻ sĩ, và nhứt là làm rạng danh dòng tộc, quê nhà. Tất nhiên, cũng có những kẻ chẳng ra gì”.
Trời khuất mình Đại Giang.
Dường như ngoại nói khẽ:
“May mà làng Nam Trung không có những kẻ như thế đó!”.
Tư.
Người làng Nam Trung sống chan hòa tình làng nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn có nhau. Bằng tấm chơn tình người miền Nam, họ đã mở toang cánh cửa “tính cách Huế”! Đồng thời, họ khắc cốt ghi tâm công đức những bậc tiền hiền: Phạm Đăng Hưng, Phạm Kế Tiết, Phan Thanh Giản, Trần Đạo Tế, Trần Trạm, Đặng Ngọc Oánh, Phạm Hữu Văn, Nguyễn Trọng Tịnh… đã góp sức lập làng nhưng không “chôn nhau cắt rún” ở làng. Đó là chưa kể những “công dân danh dự” của làng như Trương Vĩnh Ký, Luật sư Diệp Văn Kỳ, Hiệp tá Hồ Phú Viên… đóng vai trò không nhỏ trong công cuộc phát triển làng Nam Trung (8) .
Chiều cuối năm, tôi đứng nhìn những cánh chim trời bay về cố xứ. Hồn đất nước hòa quyện tình người, hương vị nồng nàn yêu thương sông núi. Tiếc cho những ai vì “miếng đỉnh chung” hay vì lợi ích trước mắt của cá nhân, bè nhóm… hoặc vì mục đích khác khiến tâm u tối, đành đoạn cắt núi lấp sông tàn phá “long mạch giang sơn gấm vóc”. Hỏi “long mạch” đó ở đâu, ngoại tôi nói: “Ở lòng người”!
Huế dỗ dành làng Nam Bộ trong lòng Huế bằng tiếng ru của người mẹ, bất kể lúc nắng lúc mưa!
Nam Châu hay làng Nam Trung thân thương! Mảnh đất hoá thân của Đất phương Nam ngày cũ!
CTH.
(tạp chí Sông Hương, số Đặc biệt tháng 3.2018)
………………………………………………………………………………..
Chú thích:
1. Năm 1904, vua Thành Thái cấp đất và cho lập thôn Nam Châu (Nam Trung) thuộc làng Phú Đa, tổng Sư Lỗ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, giúp các dòng họ gốc Nam Bộ có nơi thờ cúng, tế tự. Trước 1975, vẫn là thôn Nam Trung (xã Phú Đa, quận Phú Thứ (tỉnh Thừa Thiên). Sau 1975, lấy lại tên thôn buổi đầu là Nam Châu, thị trấn Phú Đa, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế.
2. Vua Minh Mạng gả Công chúa Nguyễn Phước Vĩnh Trinh (con gái thứ 18) cho Phạm Đăng Thuật là con trai của Phạm Đăng Hưng; vua cũng cho Thái tử Miên Tông kết hôn với Phạm Thị Hằng là con gái của Phạm Đăng Hưng. Khi Thái tử Miên Tông lên ngôi lấy hiệu Thiệu Trị thì bà Phạm Thị Hằng được phong làm Chính thất Quý phi, sanh ra Hoàng tử Hồng Nhậm, sau này là vua Tự Đức. Do đó, bà Phạm Thị Hằng được phong làm Hoàng thái hậu Từ Dụ.
3. Bố chính tỉnh Thanh Hoá là Phạm Hữu Văn (1882-1946), đậu tiến sĩ khoa Quý Sửu (1913), lưu danh tại văn bia Tiến sĩ ở Văn Thánh, Huế; lúc về hưu được thăng hàm Thượng thư; vốn là người gốc Bến Lức (Long An). Con trai của Phạm Hữu Văn có bác sĩ Phạm Biểu Tâm (1913-1999), sanh tại làng Nam Trung, tỉnh Thừa Thiên-Huế.
4. Nhập cư đợt thứ nhất, thời Trần – Hồ (1307-1428). Nhập cư đợt thứ 2, thời Lê – Mạc (1428-1558). Nhập cư đợt 3, thời Trịnh – Nguyễn (1558-1786). Nhập cư đợt 4, thời Tây Sơn – Triều Nguyễn (1786-1945).
5. Thơ Nguyễn Khắc Dương.
6. Cửu tộc gồm các họ Phạm Hữu, họ Phan, họ Trần, họ Nguyễn Trọng, họ Nguyễn Trung, họ Đoàn, họ Lê, họ Đặng Ngọc, họ Đinh; về sau có thêm họ Hoàng Trọng (“Về nguồn”, Đinh Khắc Thiện).
7. Ca dao.
8. Theo Đinh Khắc Thiện, Nam Trung có lớp hậu duệ tộc họ làm nên tên tuổi làng, như họ Phạm Đăng có họa sĩ Phạm Đăng Trí nổi tiếng xứ Huế; họ Phan Thanh có nhà thơ Phan Thanh Phước, nhà giáo Phan Thanh Hy; họ Đoàn có nhà nghiên cứu tuồng Đoàn Nẫm, Đoàn Nông; họ Đặng Ngọc có chủ rạp hát bội Ba Tuần ở Huế, Đặng Ngọc Hùng (Năm Hùng) khai sanh ngành kịch nói; họ Đinh có Đinh Văn Sum chủ nhà in ở Gia Hội, họa sĩ Đinh Cường nổi tiếng tranh trừu tượng…
Nhiều cây bút lạ quá.
Trước lạ, sau quen…
Cảm ơn anh.
Chúc anh vui.
Phong cách ngôn ngữ rất ngộ. Đơn giản mà không hời hợt.
Cảm ơn anh.
Bởi, em viết điều em nghĩ, và cũng chỉ là vui thôi mà!
Chúc anh vui khỏe.
Một cơn gió thiệt lạ.
Cảm ơn Nam Phương.
Em mong ”cơn gió lạ” làm mát lòng người giữa những ngày nóng bức.
Chúc Nam Phuong vui.
Cao Thị Hoàng đã tái xuất giang hồ, xin chúc mừng.
Chào anh!
Cảm ơn anh.
Chúc anh vui khỏe.
Viết có ý, hay, lạ, nhưng tiếc là nhiều lỗi chính tả quá admin ui
Chị Huyền Trân ơi!
Giúp em sữa lỗi chánh tả với, vì admin bận việc rồi, chị ơi!
Chân thành cảm ơn chị.
Chúc chị an lành.
Cao Thị Hoàng trả lời khiêm tốn mà dễ thương quá. Giá như mình …..
Thưa anh!
Giá như mình… Thôi anh, mọi việc đã xong rồi!
Cảm ơn anh.
Chúc anh vui.
Tác giả này tên là phái nữ nhưng lối viết thật già dăn, có lẽ là nhà nghiên cứu nào đây
Dạ, không đâu Giáng Vân. Hoàng viết vui vậy thôi mà!
Cảm ơn bạn.
Chúc bạn vui.
Viết thâm trầm như người xứ Huế
Dạ! Vì đã là…đã là dâu nước Huệ!
Tưởng truyện giải trí, bập vô ai dè đầy những chỉ dấu lịch sử, đọc mà nhức cái đầu thiệt.
Dạ! Thì cũng chỉ là truyện giải trí thôi, hgiang ơi!
Chúc bạn vui.
Hay quá CTH ơi.
Dạ! Cảm ơn Ca Dao về một lời khen.
Chúc vui.
Cám ơn bạn đã trả lời. Rất quí mến
Dạ! Cảm ơn chị.
Cách viết thật sáng tạo.
Cảm ơn Vô Cực.
Chúc vui.
Tư liệu thật mới nhưng mình cứ phân vân không biết độ chuẩn xác của nó như thế nào ?
Dạ! Cảm ơn chị Phượng Mai.
Thủng thỉnh rồi nước chảy ngày một tới…
Chúc chị vui.
Ô la la sao dân miền nam mà rành xứ Huế dữ thần rứa.
Vì em trót yêu người nước Huệ.
Cảm ơn anh.
Chúc vui.
Mình là dân xứ Huế mà cũng không biết đến điều này. Mong các nhà sử học từ phát hiện này mà đi sâu nghiên cứu tiếp quá trình tiếp biến văn hóa độc đáo này.
Cảm ơn tấm lòng của anh đối với xứ sở.
Chúc anh vui khỏe.
Học sử thế này cũng thú vị nhà văn ha!
Viet vay rat kho, phai co kinh nghiem moi viet duoc day ban oi
Cảm ơn Nguyen Ha.
Chúc bạn vui.
Dạ! Cũng chỉ là chuyện xưa góp nhặt.
Cảm ơn Nụ Tầm Xuân
Chúc vui.
Viết hay, lại bổ ích.
Cảm ơn Boke,
Bổ ích từ 2 phía: Người viết và người đọc.
Chúc anh vui.
Văn và sử, mượn văn để trình bày các quan điểm lịch sử.phải không nhà văn ?
Viết vui thôi mà anh!
Thương em, các anh, trong đó có anh, góp ý (em luôn cầu thị) để em ngày một chắc tay chèo trước sóng gió chữ nghĩa.
Cảm ơn anh Son Nguyen.
Chúc anh vui.
Cao Thị Hoàng ngày xưa đâu mất rồi, tính chất nam bộ cũng không còn nữa nhưng ngược lại bài viết cũng được dày công tìm hiểu nên thuyết phục được người đọc.
Dạ! Thưa anh,
Hoàng vẫn là Hoàng Hòn Đất của ngày xưa, có điều tía dạy thay đổi chút ít cách viết cho hợp lẽ thời tiết anh đã đổi thay chóng mặt.
Muốn đãi anh và khách văn bữa ăn ngon miệng, nhưng nguyên liệu và ”tài năng” chế biến của em chỉ có vậy thôi, xin anh thương mà cảm thông gái quê!
Cảm ơn anh.
Chúc anh vui khỏe.
Từ Dụ hay Từ Dũ tác giả ơi?
Thưa Khungcuahep,
Từ Dụ Thái hoàng thái hậu (慈裕太皇太后). ..Chữ Hán không có từ Dũ. Dụ (tính từ) có nghĩa giàu có, dư giả, (động từ) có nghĩa là đối xử nhơn từ.
Sách Đại Nam Thực lục Chính biên, trong Thực lục về Dực Tông Anh hoàng đế: “Con thứ hai vua Hiến Tổ Chương hoàng đế… mẹ là Từ Dụ, Bác huệ Khang thọ Thái hoàng Thái hậu…”.
Việt Nam gia phả ghi rõ ràng hơn: “Đúng ra tên hiệu của bà là Từ Dụ, theo nghĩa chữ Hán là nhân từ và độ lượng. Nhưng về sau, không hiểu do một sự nhầm lẫn nào đó, người ta viết chữ Dụ thành Dũ và trở thành thói quen không thay đổi…”.
Khungcuahep ơi!
Hoàng chỉ hiểu nôm na vậy đó thôi, có gì xin bạn nhắc nhở thêm.
Cảm ơn bạn.
Chúc yêu thương bởi mai chắc gì mình gặp lại!
Cam on tac gia da phan hoi can ke, chan thanh. Xin loi vi da phan hoi khong dau.
Chỉ là đọc và chia sẻ sự hiểu biết với nhau. Rừng chữ bạt ngàn, mình cần nương tựa nhau rồi cùng đi kẻo không thì lạc lối.
Cảm ơn anh.
Chúc vui.
Cách viết này mới, nhưng không dễ viết. Viết được như vậy là quá Suya.
Anh Bacu ơi!
Anh khen, em phồng mũi ngộp thở muốn chết nè!
Cảm ơn anh động viên em.
Chúc vui.
1/Chiều quê thắt thẻo nỗi lòng!Bùn non gió chướng nhớ hương quê mùa.Cố đô xứ Huê nhớ xưa…Nam Châu thôn ấy Nam Bộ nhập cư.Dân gốc đất Phù Nam cũ.Gia Định miền Nam chạy vô Phú Xuân…Công cuộc vỡ đất khai hoang…Trù phú nơi đó Nam Trung-Nam Châu.
2/Sông Bồ,sông Hương,Ô Lâu.Ba cửa sông họp gọi đó Tam giang.Câu ca dao xưa hát rằng…”Phá Tam giang ngày rày đã cạn…”.Đá ngăn -phá nước đừng dâng chảy tràn…Sông sâu tàu bè gặp nạn hiểm nguy..?Tam giang-Đại giang sông ấy!Bao bọc bãi đất Nam Châu-Xứ Cát.
3/Nam nhân ngày xưa đỗ đạt.Mong được làm quan”phò Vua cứu Nước”Tâm niệm Làm Người phải có…Danh gì với Núi Sông cho tự hào…
4/Miếng đỉnh Chung-Lộc ơn Trời…Long mạch ngự ở lòng người đó thôi!Sông Gianh đón người hai nơi…Bắc Nam hội tụ vùng trời Nam Trung….Mưa nắng Thuận Hóa-Phú Xuân.”Tấc đất tấc Vàng”cuộc sống mưu sinh ?
Cảm ơn chị duyên hằng.
Chúc chị vui.
Hỏi thêm bạn người nước huệ hay sao mà rành rỏi dữ vậy?
Thưa anh,
Xóm em ở rất đông người gốc nước Huệ, họ tới khai hoang lập điền từ trước những năm 50 của thế kỷ trước.
Cảm ơn anh.
Chúc anh khỏe.
Văn sử bất phân là đây chứ đâu nữa.
Hóng chuyện rồi viết thôi anh!
Cảm ơn anh Thi.
Chúc anh vui.
Là người phương Nam mà Cao Thị Hoàng viết về chuyện ở Thừa Thiên Huế với bao tình tiết đặc biệt, lạ lùng khiến bao người con xứ Huế cũng phải ngẩn tò te!!! Tui ở Huế cũng cả hai chục năm mà đến bây chừ mới hay biết, nhất là cái chuyện thôn Nam Châu/ Nam Trung ở huyện Phú Vang… có liên quan đến bao tên tuổi nhân tài ở Huế và đất phương Nam… Thiệt đáng nể phục! Có lẽ các nhà Huế học cũng phải suy nghĩ rất nhiều, tui nghĩ rứa!!! Mà chắc họ cũng phải ” cám ơn cô nhà văn rất Huế này?”.
Thưa anh,
Ở xứ em người gốc Huế nhóc luôn, và ngay cả đất Hà Tiên, cô giáo nhà văn Nguyễn Phước Thị Liên có những tác phẩm sáng danh xứ Huế.
Em chỉ viết chơi vui thôi mà!
Cảm ơn anh.
Chúc anh vui.
Thưa anh,
Em cũng chỉ nghe người kể rồi xúc cảm và đủ hứng để viết. Nhưng, có một điều em biết chắc nó không là ”huyền tích” đâu anh. Nếu, ”huyền tích” thì tạp chí Sông Hương sẽ không đăng bài.
Cảm ơn anh..
Chúc anh của em vui
Cái làng huyền tích này có thiệt không Út Hoàng ơi ?
Dạ! Chắc là có thiệt đó, anh!
Cảm ơn anh.
Chúc anh vui khỏe
Nhiều tư liệu mới, nhưng không hiểu đã được xác thực chưa tác giả ơi.
Thưa anh,
Việc đó dành cho những nhà nghiên cứu, em của anh chỉ viết vui thôi mà!
Cảm ơn anh.
Chúc anh vui.
Hoàng bây giờ không là Hoàng ruộng rẫy nữa rồi. Viết sao mà hay thiệt là hay và cung cấp tư liệu quý cho bạn đọc, cả những ai Yêu Huế!
Lại đăng tạp chí Sông Hương, thiệt ”oách” hỡi thôn nữ Hòn Đất!
Chúc mừng!
Chỉ là ”ăn may” đó thôi, chị Hương ơi!
Chúc chị trẻ đẹp.
Bạn dùng từ thắt thẻo cực ngộ, gợi lắm.
Cảm ơn anh.
Lời anh cho em thêm hứng khởi.
Chúc anh vui.