Vũ Thế Thành
(Tặng bà NĐH và những cựu cư dân Đà Lạt “mất gốc” như bà)
“…Đêm ni ai say đất lở.
Em ơi có nghe rạn vỡ
Vạn mảnh ly tan theo chuỗi cười…”
(“Bên ni Bên nớ”, Cung Trầm Tưởng)
Lang thang ở Đà Lạt, tôi có cái thú, đoán xem người nói chuyện với mình có phải là dân gốc Đà Lạt không. “Gốc” ở đây hiểu là nếu không sinh ra, thì ít ra cũng lớn lên và ở đấy cỡ bốn hay năm chục năm. Với trò chơi này, tôi là kẻ “độc cô cầu bại”, ít nhất là cho đến lúc này, khi tôi vừa trở thành cư dân “đờ- mi” Đà Lạt cuối năm ngoái, nghĩa là, vui ở buồn đi, đi chán về lại.
Đà Lạt không xa lạ gì với tôi. Trước năm 75, tôi đã từng lông bông ngoài đó, chỉ là chuyện đàn đúm vui chơi thôi chứ chủ yếu vẫn ở Sàigòn ăn học.
Đà Lạt thuở ấy thế nào? Hãy để người Đà Lạt (chắc là dân ly hương) nói về Đà Lạt để họ xả… stress: “… Những con dốc với hàng mai anh, hay cúc quỳ, những mái nhà kiểu Pháp, những giọng nói nhỏ nhẹ, những quán cafe ngồi để ngắm chứ không để người khác ngắm… Khi còn bé, Đà Lạt với tôi là cái gì đó mờ mờ, huyền bí và… lạnh. Rồi 5 năm sau, Đà Lạt trong tôi lại mang một dáng dấp rõ ràng hơn. Và yêu lắm… Có những buổi chiều ngồi đọc sách bên bờ hồ, tự dưng chợt hỏi, liệu 50 hay 100 năm nữa, Đà Lạt sẽ thay đổi như thế nào…”.
Người Đà Lạt nói về tính cách của họ thế này: “… hòa nhã, thân thiện, hiếu khách, nhỏ nhẹ, hiền hậu, lãng mạn,…”. Tự than (thở) thì được, còn tự khen như thế cũng hơi… kỳ. Ngượng chết! Riêng tôi, với cái nhìn đầy cảm tính và thiên vị, tôi thấy họ nói thế cũng chẳng có gì… trật.
Tháng 12 năm đó, trời lạnh. Tôi trọ ở một khách sạn gần Hồ Xuân Hương. Không ngủ được, tôi thả bộ dọc bờ hồ. Bên ngoài trời lạnh và gió nhiều hơn tôi tưởng. Đã lỡ đi được gần cây số, chẳng lẽ quay về… Có ai đó nhóm lửa ở ven hồ, gần nhà máy nước (đầu đường Đinh Tiên Hoàng). Tôi ghé vào sưởi ké. Đó là xe bán gỏi khô bò, dân địa phương gọi là xắp xắp. “Quán lưu động” này chỉ có ghế mà không bàn. Người bán cũng lạnh, đốt lửa sưởi. Tôi gọi một dĩa khô bò và nửa xị rượu, và là người khách duy nhất đêm đó.
Càng về khuya, càng lạnh, người bán chụm thêm củi,… Một cô gái khoác áo lông, từ bên kia đường băng qua, ngồi vào sưởi. Nhìn kiểu cách son phấn, tôi đoán cô là gái ăn sương. Ế độ rụng rời! Khách ăn còn không có, huống gì khách mua hoa… Cô quay sang tôi bắt chuyện nhát gừng. Tôi mời cô ly rượu. Tôi biết cô chẳng hy vọng gì ở thằng bụi bặm như tôi, ngồi lề đường, uống rượu đế (12.000 đ/xị) , nhắm khô bò ( 5.000 đ/dĩa), tổng cộng cỡ 0,5 USD, thứ đó làm gì có tiền mà đi… “tâm sự”.
Cái không khí ế độ, vắng người, lạnh lẽo, và buồn như chấu cắn thế này, người ta dễ huỵch toẹt với nhau nhiều thứ. Dưới đây là trích mẫu đối thoại giữa tôi và cô gái.
– Anh là dân Đà Lạt?
– Không, tôi tha hương…
– Anh làm nghề gì?
– Ai mướn gì làm nấy. Còn cô?
– Làm cái nghề như anh thấy đó. Hôm nay thứ năm, chẳng bắt được khứa nào..
– Không, tôi muốn hỏi, cô là dân Đà Lạt?
– Em gốc ở miền Trung, nhưng sống ở Đà Lạt từ nhỏ. Cho em xin điếu thuốc.
Tôi đẩy gói thuốc sang phía cô và bật quẹt. Ánh lửa lóe lên, tôi chợt thấy cô sang trọng như một mệnh phụ trong chiếc áo khoác lông màu trắng…
– Cô có con chưa?
– Có cháu ngoại rồi
– Xin lỗi, cô bao nhiêu tuổi?
– Năm mươi ba (53)
Vài phút im lặng trôi qua…Cô gái vẫn xoay mặt ra ngoài đường, phía bờ hồ. Tôi bối rối cực kỳ, nốc cạn ly xây chừng để hoàn hồn…
– Trông cô trẻ hơn tuổi nhiều, tôi đoán chừng ba mươi mấy.
– Tại đánh son phấn nhiều . Sáng mai lại đây, anh sẽ thấy em khác,..
– Sao không ở nhà trông cháu?
– Không thích nhờ vả con cái…
– Không còn nghề gì khác để làm sao?
– Không. Biết làm cái gì để sống bây giờ. May vá thì được bao nhiêu. Nhờ vả con cái thì em không thích. Không giúp được nó thì thôi, nhờ và làm gì.
– Cô có thể bán thuốc lá, bán mồi nhậu ở đây này. Một ngày kiếm chừng năm chục (ngàn) thì đủ rồi.
– Nợ nhiều, kiếm bằng đó làm sao đủ. Trả góp ngày cũng cỡ trăm hai (chục ngàn) rồi
– Cô tiêu xài gì mà mắc nợ nhiều?
– Tiền nhà, tiền ăn, tiền son phấn, tiền thuê quần áo “đi làm”. Cái áo lông này là em thuê. Thuê ngày nào trả ngày đó.
– Cô lớn tuổi rồi, làm sao dành khách nổi với tụi trẻ?
– Tụi nó đi giá cao, mình đi giá rẻ. Gặp mấy thằng xỉn, tụi nó cũng chẳng để ý lắm, miễn là rẻ.
– Mỗi lần đi như vậy được bao nhiêu?
– Em hét hai trăm (ngàn), tụi nó trả cỡ trăm rưởi, trăm hai là đi được rồi . Kẹt quá, thì năm bảy chục cũng đi… Hên thì vài ba cữ một đêm. Không có tiền, sáng mai gặp mặt con mẹ chủ nợ khó chịu lắm.
Góc tối của một đô thị đầy ánh sáng là như thế … Đêm đó trời lạnh kinh khủng. Những cái khốn cùng của xã hội, chẳng có cái nào giống cái nào. Phải nhìn vào góc tối mới thấy bộ mặt thật của xã hội. Cô điếm già có thể móc túi khách làng chơi với nhiều thủ thuật, nhưng họ hành xử “chính danh” và ở tận cùng của xã hội rồi. Còn những thứ điếm khác được người đời tôn vinh, xum xoe, điếu đóm., nhưng họ có thừa khả năng làm tiêu tùng cả vài thế hệ như chơi. Nói nữa thêm buồn…
Hồi đó đoạn bờ hồ này, chiều chiều là có những xe bán xắp xắp sà tới bán. Khách ngồi ghế đá ven hồ, hoặc ăn đứng. Có lần tôi gặp cô bé ngoài hai mươi, mang theo cặp, đi xe đạp đến bán phụ mẹ. Gợi chuyện, cô gái nói: Cháu học ngành viễn thông ở đại học Đà Lạt. Giờ này đông khách nên đến phụ mẹ”. Thùng khô bò đặt trên yên sau xe gắn máy, xe công an đến thì ù té chạy. Tôi đã chứng kiến cảnh bỏ của chạy lấy người như thế, bỏ lại sau lưng đĩa, đũa, ghế nhựa,… Khách thương tình, đứng lại chờ họ quay lại, trả tiền, còn không thì coi như mất. Mà công an hình như cũng chẳng muốn bắt. Xe công an cứ thủng thỉnh chạy. Phía trước báo động, người xe, người thúng chạy lẫn vào hẻm…Nhưng dạo này, không còn thấy những xe xắp xắp bán dạo nữa ở ven hồ . Chắc công an làm gắt rồi.
Đà Lạt là thành phố trẻ, chỉ cỡ trăm năm. Dân định cư nơi đây chủ yếu đến từ miền Trung, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên,… Họ được thuê mướn làm đường xá, xây cất. Rồi sau này người miền Bắc vào trồng rau, trồng hoa, rồi người Huế cũng vào lập nghiệp. Đợt di cư 54 cũng kéo theo cả ngàn người đến ở Đà Lạt khẩn hoang lập ấp. Người Đà Lạt đến từ mọi miền đất nước, mang theo văn hóa đặc thù, mà dễ thấy nhất là ẩm thực. Chẳng biết tôi có thiên vị hay không, nhưng ăn bún bò Huế, mì Quảng ở Đà Lạt thấy ngon hơn ở Huế hay ở xứ Quảng nhiều. Cay xé họng, trào nước mắt vẫn thấy thèm.
Người Quảng, người Huế, người Bắc,… sống ở Đà Lạt mất dần đi bản sắc vùng miền của riêng họ. Sự khẩn hoang mang họ đến gần nhau bất cần gốc gác, lại thêm nỗi nhớ quê, rồi núi đồi, sông suối, khí hậu và sự yên tĩnh của thiên nhiên đã biến họ thành con người khác: người Đà Lạt, chất phác và hiếu khách, hiếu khách thiệt tình kiểu Nam Bộ, nhưng nhỏ nhẹ chứ không ồn ào.
Một buổi sáng Chủ nhật, tôi ngồi uống cà phê ở góc phố Bà Triệu. Hai cụ già, bà dìu ông, chậm rãi vào quán. Ông mặc áo vest, đội mũ casket, cầm tờ báo Pháp. Bà mặc áo dài, khoác áo măng tô, tay cầm sách kinh, áng chừng họ vừa đi lễ nhà thờ Con Gà về. Ông trông ra dáng công chức thời Tây. Bà dáng quý phái, trang điểm nhẹ. Bà gọi ly cà phê sữa cho ông, và tách trà nóng cho bà, rồi lặng lẽ lấy những viên thuốc từ vỉ : “ Ông uống thuốc đi”. “ Chưa uống!”, ông già cạu cọ, mắt vẫn không rời tờ báo. Lát sau, bà đẩy ly nước về phía ông, nhẹ nhàng: “ Ông uống đi, tới giờ uống thuốc rồi”. “ Không uống!”, mắt vẫn dán vào tờ báo. Bà nhìn quanh quẩn đâu đó. Lát sau lại đưa thuốc sát tay ông: “ Ông uống đi, kẻo tối lại ho xù xụ”. Lần này ông cầm mấy viên thuốc cho vội vào miệng như trả nợ đời, làu bàu: “ Đã bảo chưa uống lúc này mà cứ uống, cứ uống….”. Bà yên lặng rót thêm trà cho ông, mắt và miệng ra chiều mãn nguyện. Nhìn hai “con khỉ già” làm… nũng, thấy đất trời Đà Lạt bỗng nhiên giao hòa, tiền muôn bạc tỉ hóa thành tiền… âm phủ, thế giới phẳng hay cong cũng trở thành vô nghĩa.
Ai đó ở Đà Lạt mưu đồ vương tướng, nhưng người Đà Lạt (gốc) hình như không có máu làm quan, và họ cũng chẳng muốn làm quan. Họ thích đời yên phận với đất trời cây cỏ. Tôi có người quen ở Đà Lạt làm viên chức ngân hàng, bon chen kém cỏi, xin về hưu non, sửa chữa điện tử lai rai và thỏa mãn với cái nghề xập xình này. Tuần trước đi karaoke với nhau. Anh hát bài “Biển nhớ”, cũng đứng lên cầm micro biểu diễn như ca sĩ thứ thiệt. Anh hát dở ẹc, nhưng biểu cảm tha thiết như muốn chở biển lên rừng. Ban giám khảo điện tử cho anh 100 điểm. Chắc máy karaoke này đọc được tâm trạng con người? Chị vợ ngồi cạnh cũng “máu” không kém, chơi bài “Đêm nay ai đưa em về”. Chẳng biết họ có ẩn ý gì với nhau qua lời ca tiếng nhạc hay không, nhưng mới sáng hôm đó, đi chợ Đà Lạt, còn thấy tay chị khoác tay anh, đầu nghiêng ngửa vào nhau, trông họ “lẳng” với nhau phết. Một cái “lẳng” đằm thắm hết sức Đà Lạt.
Thời gian Đà Lạt dường như chậm lại. Nhịp sống cũng chậm lại. Những người muôn năm cũ đang nhẹ nhàng né tránh nhịp sống thời đại. Mà dân Đà Lạt (gốc) ở đây chắc cũng chẳng còn được bao nhiêu. Thời cuộc đã phân tán họ đi khắp nơi rồi.
Nghe nói, người ta định mời kiến trúc sư Pháp thiết kế lại Đà Lạt. Cũng nghe nói, người ta định lập một đô thị Đà Lạt khác trên con đường đi lên Suối Vàng. Ừ, một đô thị Đà Lạt tráng lệ nên thơ, mà thiếu “con- người-Đà- Lạt”, thì cái hồn của Đà Lạt sẽ ra sao?
Những người con của Đà Lạt nay quy cố hương, không khỏi chạnh lòng vì những đổi thay: nhà hàng, nhà cao tầng, các vạt đồi đã đốn cây xanh, còn trơ đất đỏ sẵn sàng cho những dự án hoành tráng, xứng tầm với một thành phố du lịch, xứ sở ngàn hoa, như có người nói: “ Người ta cắt một mảnh Saigon lên, đem dán vào Đà Lạt và bảo rằng Đà Lạt đang phát triển trong… quy hoạch”. Đà Lạt trở nên thực dụng hơn…
Một buổi chiều xẫm tối ở góc đường Phan Bội Châu – Bùi Thị Xuân, tôi nói bâng quơ với bà bán bắp nướng, khi đứng chờ lấy bắp: “ Đà Lạt chỉ còn con đường Đinh Tiên Hoàng dẫn đến trường đại học là còn nét cũ”. Chị nói như thì thầm: “ Còn chứ, còn một con đường còn sót lại, con hẻm trước mặt đó. Anh vào xem đi, không khéo mai mốt lại không còn nữa”. Ừ, con đường dốc hẹp càng đi sâu, càng âm u, yên lặng, chỉ có tiếng gió thổi qua hàng cây. Một bên vách cao, lá và những cây to, một bên là vực, rải rác vài căn nhà nhỏ. Nhón chân lên, có thể thấy bên kia là ánh đèn của khu du lịch Bùi Thị Xuân, ồn ào, chèo quéo khách du lịch. Sự tương phản chỉ cách nhau chưa đầy trăm mét.
Đà Lạt buồn hiu, con đường sót lại buồn hiu, “người muôn năm cũ” buồn hiu,… Tất cả mờ dần sau những đợt festival hoành tráng.
Tôi muốn trích đoạn một bài thơ của Cung Trầm Tưởng được Phạm Duy phù phép thành bản nhạc “ Bên ni Bên nớ” để kết thúc bài viết tạp này. Mà liệu có kết thúc được chăng? Biết bao nỗi niềm còn chất chứa …. Kiều lão Đà Lạt chỉ là một trong những ngã rẽ buồn bã, còn biết bao ngã rẽ khác nữa. Nói mấy cho vừa?
Thôi, hãy cứ thì thầm theo đoạn nhạc…
“…Bên tê thành phố tráng lệ
Giai nhân nằm khoe lõa thể
Bên ni phố vắng, ôi lòng ngoại ô
Em có nghe hồ như bước ai gõ nhịp, bóng ai giang hồ ?
Hẹn ai bên ni dài in ngõ cũ
Em có nghe bên ni lạnh hơn bên nớ ?
Phút giây chia lìa, trong lòng vẫn phải đèo mong
Hai tâm linh giam kín lại….”
Vũ Thế Thành

Đà Lạt thuở ấy thế nào? Hãy để người Đà Lạt (chắc là dân ly hương) nói về Đà Lạt để họ xả… stress: “… Những con dốc với hàng mai anh, hay cúc quỳ, những mái nhà kiểu Pháp, những giọng nói nhỏ nhẹ, những quán cafe ngồi để ngắm chứ không để người khác ngắm… Khi còn bé, Đà Lạt với tôi là cái gì đó mờ mờ, huyền bí và… lạnh. Rồi 5 năm sau, Đà Lạt trong tôi lại mang một dáng dấp rõ ràng hơn. Và yêu lắm… Có những buổi chiều ngồi đọc sách bên bờ hồ, tự dưng chợt hỏi, liệu 50 hay 100 năm nữa, Đà Lạt sẽ thay đổi như thế nào…”.
__________
Trích dẫn sao không dẫn nguồn vậy tác giả
Cháu học ngành viễn thông ở đại học Đà Lạt
_
DH Dalat không có nganh viễn thông tác giả ơi
@ Kim Sa : Cám ơn cháu đã phản hỏi Câu chuyện cô SV Đà Lạt phụ mẹ bán xắp xắp bên hồ Xuân Hương là có thật, xảy ra cách đây hơn 2 năm rồi. Tôi đã ảnh chụp cô SV đó, mà tôi rất kính phục, nhưng không tiện nêu ra đây.
Tôi đã vào web của trường ĐH ĐL, và có ngành Điện tử – Viễn thông : http://www.dlu.edu.vn/subject.aspx?orgId=59&subCatid=6
mấy hôm nay tìm đường vô xunau khó quá.chúc mừng anh
Viet ve Da Lat nhu the nay la qua hay
Anh Hiếu Tân viết nô tài Trung Quốc nhưng cũng đang đá giò lái về tầng lớp đông đúc,nhan nhản nô tài An Nam
Trích “còm” của TN : “Còn Đà Lạt của ta sao giống cặp vợ chồng già trong bài của VTT, hoài cổ (vẫn đọc báo Pháp), bịnh hoạn, dở hơi…Hình tượng rất tiêu biểu – có thể làm biểu tượng cho Đà lạt chăng?”.
Cặp vợ chồng già, cũng như Kiều lão, cô bé sinh viên,…chỉ là những nét chấm phá tạo ra bức tranh chung về con người ĐL. Có một đoạn trong bài viết này, tôi đã tự…thiến vì e rằng bài quá dài. Đó là đoạn mô tả về anh chàng mù bán vé số trong quán cà phê ở đường Phan Đình Phùng. Lúc đó khoảng 4 giờ sáng, trời lạnh, quán chừng 5-7 người. Anh gọi ly cà phê sữa, và 2 điếu thuốc “con mèo”, mời người bạn bên cạnh một điếu. Anh mù bán vé số, nhưng lại chơi số… đề. Trông anh thoải mái, lạc quan khi bàn đề với bạn, mặc dù chiều qua anh không trúng. Nếu chiều nay trúng đề anh sẽ mua những gì, những gì…Ước mơ giản dị và bé nhỏ quá !. Anh chơi đề cũng nhỏ thôi (chừng 10 – 20 ngàn đồng) và chỉ đánh hai số cuối. Tôi hỏi anh “ Tại sao bán vé số mà lại chơi đề?”. Anh nói : “ Chơi đề dễ trúng hơn”.
Trước 75, ngoại trừ nhà giàu ở SG mua biệt thự ở ĐL nghỉ mát, chứ nói chung, cư dân ĐL không giàu, nhưng họ sống thư thả, không bon chen, hối hả theo đời cơm áo. Bốn giờ sáng ở ĐL là thời khắc hơi sớm để bắt đầu một ngày làm việc. Nếu gọi là tiêu biểu cho phong cách người ĐL, theo tôi, thì anh mù bán vé số đó là tiêu biểu cho người ĐL (gốc) đấy, chứ không phải nói tới ĐL là cảnh đẹp nên thơ, đồi núi chập chùng hay cái buồn lặng lẽ đâu.
Tôi viết bài “Kiều lão ĐL” cách đây 6 tháng, nhưng chỉ được nửa chừng, rồi bỏ đó, không sao viết tiếp được cho đến khi nghe vợ chồng anh bạn hát karaoke bài “Biển nhớ”, cảm hứng mới kết nối lại được.
Đâu có khó để phát hiện một bài tùy bút chỉ thuần “tô đậm” chữ nghĩa. Viết tùy bút khó “ăn gian” cảm xúc lắm, phải thế không ông “Lắc Kiu” ?
Mình thấy Đà Lạt bây giờ cũng chẳng khác gì sài gòn,ồn ào nắng nóng và cả kẹt xe….thảm !
Hu hu ….ai bảo đi làm gì !
Xin nói thêm tác giả viết rất có nghề.
Đà Lạt bây giờ không còn là Đà Lạt thuở nào nữa rồi…tiếc thật .
Đà Lạt bây giờ chán lắm
Tui cũng đồng ý với bạn…chán thật !
@Song Thư, Thúy Loan:
Trích:”Đà Lạt bây giờ chán lắm” , chán về cái gì hả bạn? con người?phong cảnh? cuộc sống?Thật ra Đà lạt có phải là chốn để…”tìm vui” đâu? Cũng đâu có gì tồn tại mãi được! Nếu may mắn đến đúng nơi, gặp đúng người, đúng thời gian bạn vẫn có thể tìm lại một chút “hồn” Đà Lạt lẫn khuất đâu đó, không đủ để “vui” sao? Với tôi, Đà Lạt bây giờ y như ” một kiều lão trong chiếc áo lông đi mượn”, mặc “vừa” sao được? Hy vọng lần tới lên Đà Lạt, các bạn sẽ vui hơn chăng?
“Người… vui cảnh có… buồn đâu bao giờ ?” (Cải tiến !)
Hôm nay có việc bận , không kịp mở máy để xem , đến bây giờ đọc thấy bài viết của VTT hay quá định còm ; nhưng nhìn lại thấy các trưởng lão còm hay , nếu không gọi là ngang ngữa với bài viết .Thôi cho phép muổng dựa cột lắng nghe vậy
Bài viết như một “lát cắt” Đà Lạt Xưa&nay , đọc cũng thấy … buồn buồn cho người Đà Lạt và cho cả khách vãng du tìm “hơi ấm” cũ trong khí lạnh sương mờ…
Anh VTT viết như trải lòng giữa không gian Đà Lạt “đôi bờ thương nhớ” đọng đầy nuốc tiếc , bâng khuâng…
Giọng văn biểu cảm,lôi cuốn…có lẽ xen lẫn “chút tình” riêng của Tác Giả gởi trao…Ai?
Cám ơn ông Vinh Rùa đã load bản nhạc “Bên ni bên nớ”. Khi viết bài “Kiều lão”, tôi đã nghe… “nẫu” cả người bản nhạc này, bản nhạc mà tôi còn mắc nợ, chưa thanh toán xong.
Tôi kể thêm cho mấy Nẫu nghe một chút, coi như phần…”ngoại truyện”
Đà Lạt bây giờ ồn ào, chèo quéo, đua chen, … cho xứng tầm với đô thị du lịch. Lên Đà Lạt chơi vài ngày thì vui, nhưng ở luôn thì buồn, buồn lắm…Cái yên tĩnh nửa vời và cái nhộn nhịp nửa vời của Đà lạt làm mình khó chịu, giống như đi massage gặp thợ đấm bóp yếu tay nghề.
Đã hơn hai năm rồi, tôi không gặp lại Kiều lão và cô SV phụ mẹ bán xắp xắp nữa, dù rằng thỉnh thoảng có đi lang bang chỗ đó. Nhưng hai hình ảnh tương phản đó đã ám ánh tôi giửa cái còn và cái mất của Đà lạt, mà Kiều lão là người gục đầu theo số phận, còn cô SV kia chỉ là sự níu kéo trong tuyệt vọng. Cái hồn Đà Lạt đang mờ dần… Cứ hỏi dân ĐL (gốc) thử xem.
A.Yersin được xem là người khám phá ra Đà Lạt, và ông đã đề nghị xây TP. Đà Lạt ở khu vực Dankia – Xã Lát, đoạn đường lên Suối Vàng, chứ không phải chỗ Đà Lạt hiện nay. Mới đây, nghe nói người ta lại định xây 1 Đà lạt (phẩy), quanh nơi Yersin đề nghị.
“….Bên tê,thành phố tráng lệ; giai nhân nằm khoe loã thể_Bên ni, phố vắng ôi lòng ngoại ô…”_hiểu rồi, anh chai!(bây giờ thì…2in1 có ở khắp mọi nơi).Hôm nào có dịp “Cà-rà”_nhất định_anh chai phải “làm” cho được:
“…..Đêm ni ai say đất lở; em ơi có nghe rạn vỡ(?); vạn mảnh ly tan theo chuỗi cười…” nhen_anh chai?
VR tui nghĩ…đây,không là một “tạp” mà mà một “tản mạn”_trong đó, “Tôi” chính là “VTT” vậy?Cho nên,cái “đoạn” trao đổi với “kẻ ăn sương”ngoài ba mươi”(“Tôi”_thấy 35 thay vì 53 ?)không thấy nói đến: “Tôi” sao không mở lòng “từ tâm” nhỉ?Hay những câu nói…đại loại: “Giúp” ai cũng vậy, giúp em_em cảm ơn!(“qua ngày,đoạn tháng”; còn phải trả tiền…thuê “đồ” nữa chứ?).”Tôi” có thấy là: Có “lắng nghe” nhưng chưa “thấu hiểu” không?
VR lại tâm đắc(ghiền) với “Bên ni,bên nớ” cùng những scène “tản mạn” của bài viết….Nghe lại(nhai đi nhai lại)_anh nhé?(Vũ Thế Thành còn là “tay” Cà-rà-Ô-kê có… “nghề” lắm đó; hôm nào… “xả_làm lại” chứ?)
Hôm trước 4,5 ngày ở Đàlạt, duy nhất có một đêm gặp sương mù, coi như may mắn được Đàlạt đãi khách phương xa. Không phải dường như mà là chậm thực sự, người Đàlạt chậm rãi với mọi thứ, kể cả chính cuộc đời họ. Tôi coi như Đàlạt mắc nợ mình một thời trai trẻ nên năm nào cũng về đòi lại, càng tìm càng thấy mất. Biết sao được. Thôi thì ông Thành nói thay, đỡ buồn, đỡ tiếc.
Ai mắc nợ ai, ông Hải? Mỗi lần ông lên trển, Đà Lạt báo động đấy.
Báo động….buồn!!! vì thấy hỗng có….ớt bay đi chung, thiếu tay “gầy độ” lackiu nên kêu réo dzẫy thôi!!! Hihihihi
Viết xong, có người nhắc VTT bỏ quên “mùa thu chết” ở đâu mất?….
Tôi biết ai nhắc rồi. Nhắn với bà NĐH dùm, đừng mang “mùa thu chết” ra nhát ma tôi nữa, để tôi trọn kiếp…tu hành
Tui là ngừ “ngoại đạo” mà cũng… “hỉu lơ mơ” rằng: “mấy ông” định cho… “thanh lý”_hình như_ “Thu Đalat” nào đó chăng? Tậu lẫu quá!
Bài viết KIỀU LÃO ĐÀ LẠT hay quá.Anh VTT thể hiện một cái nhìn buồn, một sự tiếc nuối về ĐL rất chân tình. Năm 1978 nguyentiet lên ĐL lần đầu tiên và cái cảm xúc bây giờ vẫn không quên đó là tiếng nói nhỏ nhẹ, giọng nói dịu dàng và cách giao tiếp rất lịch sự của một người đàn bà trung niên mua bán vặt ở bến xe ĐL.Một sự ngạc nhiên thú vị và rồi một tình cảm thân thiện đã để lại ấn tượng sâu trong lòng mình: Người ĐL rất lịch sự, đẹp,hiếu khách ,sống đàng hoàng dù là dân buôn bán. Cách đây chừng nửa tháng nguyentiet lại đến thăm ĐL lần thứ ba sau hơn 30 năm . NT cố tìm lại giọng nói ấy, cách giao tiếp ấy và nhất là đôi má trắng hồng nổi rõ đường gân máu trên da của các cô gái ĐL năm nào nhưng…chưa gặp. Có lẻ mình không may mắn gặp được người ĐL gốc như anh VTT đã nói . Nói gì nói NT vẫn rất thích ĐL, một thành phố với khí hậu mát mẻ nhất là những cảnh đẹp thiên nhiên, những cánh rừng thông bạt ngàn vi vút gió , những vườn hoa rực rỡ sắc màu…nó làm cho con người dịu dàng hơn , dễ gần nhau hơn và
dễ yêu người hơn!Năm tháng đổi thay thì tất cả cũng sẽ đổi thay cho dù có làm ta tiếc nhớ phải không anh VTT? Cám ơn anh đã cho NT những cảm xúc dễ chịu khi đọc bài viết của anh ( vì cách viết lôi cuốn và cả cái hồn của bài viết nữa ). Chúc anh vui.
Ba mươi năm sau, bạn về ĐL lo đi lùng “cái ngọn”, làm sao tìm được cái gốc” , ha…ha….
Hé lô Mít tơ Vũ Thế Thành !
Bài tạp bút này cũng hay. Tui thích cái góc nhìn & cái giọng…lựng khựng mà…thâm thâm của anh !
Ai cũng có quyền hoài cổ nhưng cuộc sống phải rời bỏ cái cổ, dầu miễn cưỡng hay tự nguyện. Không chỉ Đà Lạt mà Huế, Hà Nội, Sài Gòn hay Quy Nhơn,… cũng thế: cái cổ đang thu hẹp, teo tóp, nhạt nhòa, lần lượt biến mất.
Không chỉ cái “vật thể” biến đổi mà cái “phi vật thể” cũng biến thiên tuy chậm hơn. Nói cho công bằng, thay thế cái “cổ” chưa chắc đã tốt, đẹp hơn và cũng có thể không xấu, tệ hơn nhưng sự thay thế là không thể ngăn cản, không thể đảo ngược và “chẳng đặng đừng”.
VTT đang tình tang tang tính về Đà Lạt xưa và nay, về người Đà Lat “gộc” và mới. Tác giả đùng từ “gốc” ( dấu sắc), còn tôi thấy “gộc” ( dấu nặng) hay hơn, mặc dầu hai từ đó cùng một nghĩa. Bởi dân miền Trung nói: gốc cây, gốc gác, nhưng “gộc” để chỉ nguồn cội, bản địa. Cũng dễ hiểu vì Đà Lạt là miền Trung “nối dài” kể từ khi John A. Yersin tìm ra nó và biến nó thành một thành phố Tây (thuộc địa, sic). Gốc của Dalat (viết kiểu Tây) nó như thế, thì phải thay đổi thôi, ngay cả cái tên cũng trở thành Đà Lạt ( Việt Nam hóa), huống hồ…
Viết “lang thang”, tang tình tang tính với sự đời, với cuộc đời VTT là tay tổ. Tôi “chủ quan” thấy thế, không biết có ai phản đối không.
Có. Tui. hihi…
Bài viết tôi thấy gây xúc động, và anh Thuận Nghĩa “com” ngắn gọn nhưng lúc nào cũng thấu đáo, có lẽ nhờ sự suy nghiệm lâu ngày của anh.
Tên đầy đủ của ông Yersin là Alexandre Émile Jean Yersin (1863-1943), tên thường dùng là Alexandre, chứ không phải John A.
Có điều ít ai để ý là ông là người Thụy Sĩ thuộc vùng nói tiếng Pháp (gọi là la Romandie), sinh ra, lớn lên và học Y khoa ở đó, chứ không phải người Pháp gốc. Ông đã nhập quốc tịch Pháp (1888) để có thể hành nghề bác sĩ ở Pháp (theo quy định hồi đó) khi ông làm việc cho Viện Pasteur mới thành lập ở Paris. Trong lịch sử, một triết gia chính trị và giáo dục danh tiếng cũng bị “gọi” nhầm là người Pháp là Jean-Jacques Rousseau (ông này cũng người Thụy Sĩ nói tiếng Pháp, chính xác hơn là dân Genève).
A.Yersin sang Đông Dương thuộc Pháp làm bác sĩ cho hãng tàu thủy Messageries Maritimes vài năm, trên các chuyến tàu chạy đường Sài Gòn-Manila và Sài Gòn-Hải Phòng những năm đầu 1890…
Ông là một trong những người sáng lập ra trường Y khoa Hà Nội (1902) và là người hiệu trưởng đầu tiên cho tới năm 1904.
Hiện nay có một trường đại học tư ở Đà Lạt và một trường quốc tế Pháp (tiểu và trung học, thuộc chính phủ Pháp) ở Hà Nội mang tên ông.
Những công lao lớn của ông đối với nhân loại hay đối với Đà Lạt, Nha Trang thì phần lớn ai cũng biết.
Quế Sơn
Cảm ơn anh Quế Sơn về hiệu đính tên của A.E.J.Yersin.
Có câu châm ngôn thế này (hình như là của bà G. Sand) ” Giản dị là điều khó nhất trên đời: đó là sự giới hạn tột cùng của sự từng trải và là nỗ lực cuối cùng của thiên tài” . Ông Năm (Yersin) đã chạm tới giới hạn đó.
Xin trích di chúc của ông Năm: ” Tôi muốn được chôn ở Suối Dầu. Yêu cầu ông Bùi Quang Phương giữ tôi lại tại Nha Trang, đừng cho ai đem tôi đi nơi khác. Mọi tài sản còn lại xin tặng hết cho viện Pasteur Nha Trang, và những người cộng sự lâu năm. Đám táng làm giản dị, không huy hoàng không điếu văn “
Trích : ” thay thế cái “cổ” chưa chắc đã tốt, đẹp hơn và cũng có thể không xấu, tệ hơn nhưng sự thay thế là không thể ngăn cản, không thể đảo ngược và “chẳng đặng đừng”
Hè…hè… Cách biện minh hay nhất cho sự phá hoại là … “chẳng đặng đừng”
Đà Lạt vốn được xây để người Pháp nghỉ mát trong không gian Pháp mà không cần về Pháp, vì thời ấy phải đi bằng tàu thủy mấy tuần chứ không chỉ bay cái vù bằng Airbus hay Boeing trong 12 giờ. Dường như các biệt thự (nghe nói có trên 400 bản thiết kế) mang phong cách kiến trúc của nhiều vùng khác nhau trên đất Pháp. Sau người Pháp đến lượt những người quý phái Sài Gòn làm chủ nhân, đa số theo văn hóa Pháp.
Đùng một cái đổi chủ, thật ra không có ai làm chủ thực sự. Chồng chung chết chả có mẹ nào khóc. Mục đích sử dụng thay đổi, người sử dụng thay đổi, chi phí duy tu bảo dưỡng thiếu. Thế là tiêu. Nói “phá hoại” cũng tội. Mấy cái biệt thự đẹp đẽ ở đường Trần Hưng Đạo (dường như là 7) đổi chủ mấy lần nhưng lần cuối tôi lên Đà Lạt cách đây mấy năm đã trở thành những “kiều lão”. Không biết bây giờ có đại gia nào thương hoa tiếc nguyệt nhận về đại tu chưa.
Khách sạn Sofitel, Novitel ( Palace và Dalat) thay áo mới do ngẫu hứng của ông chủ DHL, rủi cái tình duyên đang nồng ấm thì ông ấy tử nạn máy bay mất xác, để lại dự án của ông như đứa con rơi và nghe nói lại đổi chủ. Người Singapore cũng rút khỏi Suối vàng từ khủng hoảng 1997. Không biết đã có nhà đầu tư phiêu lưu nào “dzô” chưa. Người đẹp vẫn còn ngủ mê trong rừng Dankia.
Đà Lạt vô phương cứu chữa vì một thời gian dài phát triển hỗn man (chaostic development) như các thành phố khác – nhận xét đó là của một kiến trúc sư nổi tiếng. Chả ai có ý “phá” nhưng Đà Lạt tự “hoại”. Tội thiệt.
Tôi có dịp thăm Genting resort ở Malaysia, cũng cao tương tự như Đà Lạt, nhưng chỉ là một khu nghỉ trên những đỉnh núi chứ không phải một thành phố trên cao nguyên như Đà Lạt. Nhưng Genting trẻ trung, sôi động. Còn Đà Lạt của ta sao giống cặp vợ chồng già trong bài của VTT, hoài cổ (vẫn đọc báo Pháp), bịnh hoạn, dở hơi…Hình tượng rất tiêu biểu – có thể làm biểu tượng cho Đà lạt chăng?
Đà Lạt không còn là “xứ hoa đào”, giản đơn vì hoa đào đã già cỗi và chết gần hết, sắp tuyệt chủng rồi. Có thể nay mai Đà Lạt là “xứ hoa sữa” chăng?
Ai biết được?
Chào anh VTT,
Bài viết chẳng tạp chút nào! Sao anh cho là tạp? Hay vì là tác giả?
Tôi thấy ĐL quyến rũ quá! Cả trong đời thường, cả những nổi niềm, không chỉ của người ĐL! Một người tha hương nghĩ về ĐL hình như còn hơn nhiều người bản xứ! Đọc KLĐL tôi chợt thấy tôi cũng muốn lão, kiểu lão “đàn ông”; rót một ly, hít một hơi và nhóp nhép mảnh đời đã trôi qua, ở đâu đó, một miền giống giống như ĐL của anh!
Bài viết đọc dễ chịu quá! Tự nhiên tôi lại vẩn vơ rồi!
Dzậy mà tui cứ tưởng kiểu lão “đàn ông” là rút (không phải rót) ra…hai trem chứ ! khekhekhe…Hết vẩn vơ chưa, lão hungPt ?
Bạn muốn làm “Kiều lão đàn ông”? Cho tôi xin…. Đừng tàn phá thêm ĐL nữa. Thôi, rót một ly, và UỐNG một hơi ( chứ hít một hơi thầy…kỳ kỳ)
Chào anh Vũ Thế Thành,
Dalat thành phố của tình yêu, người muôn năm cũ chừ đâu tá?
Hậu quả của sự quy hoạch lệch hướng và cơ chế thị trường là vậy, tiếc?
Đi và cảm nhận, bánh xe lịch sử còn lăn, con dốc già rồi sẽ mang nhiều bóng ma nếu không giữ được bản sắc riêng của mình phải không anh?
Một bút ký đáng đọc. Cám ơn anh.
VTT đã tâm tình về Đà Lạt, hồn của “những người muôn năm cũ”…. đọc lên thấy như ý mình vậy, ….
kì thật, những người từng ghé Đà Lạt khoảng nhiều năm trước đây, ai cũng bảo là Đà Lạt bây giờ không như Đà Lạt xưa, những cây Thông dường như cũng thưa dần hơn….
biết nói sao đây nhỉ, rêu thấy bài viết này hay quá, rêu đọc xong rồi mà lặng ngắt một hồi..!!!
bài viết đã hay mà lồng thêm vô bài hát cũng tuyệt vời.. !!!
“hồn ở đâu bây giờ” hả Riu?
hihi, thể xác này đây mà không biết hồn ở đâu nữa hen ! bớ ba hồn chín dzía…
“hồn ở đâu bây giờ” hả Riu?
__________________________
Dzậy chớ Ngô Đình Hải “chú mục”dzô cái gì? “Hồn” na “Xác”?Khai…thiệt i ?
Posted by 222.253.95.2 via http://webwarper.net, created by AlgART: http://algart.net/
This is added while posting a message to avoid misusing the service
Ông Dzua rình gửi cái gì dzẫy na? Mở có thấy gì đâu nè!
Đó là “địa chỉ” khi “leo rào” nó ăn theo(hổng xoá được).Nhưng, tui hỏi ông “một đường” mà lại trả lời “một nẻo” là sao?(Cái dzụ Riu í ?)
Bút ký VTT Thành viết hay quá…đã cho thằng tui biết thêm ĐL ngày xưa_sao bây giờ…không còn mộng mơ gì hết trọi dzẫy…
http://nhacso.net/nghe-nhac/da-lat-hoang-hon.XVlXUkJY.html
Ai biểi lên Dalat mà không có đôi làm chi mà than?