Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Trương Văn Dân’

 Trương Văn Dân

Truớc khi bạn đọc bước vào tập truyện, chúng tôi xin được kể một câu chuyện trong thần thoại Hy Lạp. Câu chuyện mà Apuleio mở đầu trong Biến Thể (Metamorfosi) đã cho rằng “Câu chuyện cổ tích đẹp nhất từng được viết”. Đó là Thiên tình sử của thần Cupido (“Tình yêu”) và nàng Psyche (“Tâm hồn”). Câu chuyện đại khái thì có nhiều người biết, nhưng ở đây nó sẽ được kể lại ở dạng ngắn gọn đầy đủ nhất có thể viết được để nói lên khát vọng của nhân loại luôn muốn có cuộc sống hài hòa trong đời sống tình cảm. Câu chuyện có cả  yêu thương và oán giận, ngưỡng mộ và ganh ghét, âm mưu và trừng phạt, niềm tin và lừa dối… những va chạm không tránh khỏi trong mái gia đình.

Nhưng “Tình yêu” không thể là “Tình yêu” khi không có “Tâm hồn”, vì thế “Tình yêu” đã tha thứ và phải tìm lại “Tâm hồn” và đấu tranh cho “Tâm hồn” được vĩnh viễn gắn bó với “Tình yêu”!

Chúng ta hãy cùng dõi theo cuộc hành trình gian nan và vất vả của Tình yêu (Amore) tìm đến với Tâm hồn (Psyche) rồi Tâm hồn cũng lại phải đi tìm lại Tình yêu. Nhưng cuối cùng lòng tin trong sáng, sự trung thực, ý chí quyết tâm bảo vệ tình yêu nàng đã chiến thắng, hàn gắn lại được những rạn nứt nên các vị thần đã ban cho họ cuộc sống hạnh phúc trong thế giới vĩnh hằng.

        Thiên tình sử của thần Cupido và nàng Psyche [1]

Ngày xưa ở xứ Hy Lạp cổ đại có một ông vua và hoàng hậu sống với nhau rất hạnh phúc. Họ có ba cô con gái xinh đẹp mà cô út – tên là Psyche (nghĩa là “Tâm hồn”) – có sắc đẹp không bút mực nào diễn tả. Ba chị em thường mơ về người chồng tương lai. Người chị cả nói: chồng chị sẽ là một vị tướng nổi tiếng và chị sẽ cho các em thấy những cuộc chinh phục lớn nhất của chàng. Người thứ hai nói chồng của tôi sẽ rất giàu có nên tôi sẽ ăn mặc với lụa tốt và đồ trang sức đẹp nhất. Còn em Psyche, chồng em sẽ như thế nào? Tất cả những gì em muốn là một người chồng biết cưng chiều và tình yêu của chàng mang lại cho em hạnh phúc.

Nhiều người từ các vương quốc xa đã phải đi một hành trình dài chỉ để được thấy Psyche và xem đây là tạo vật xinh đẹp nhất trần gian. Điều này làm hai bà chị đố kỵ và tức tối. Vì tôn sùng Psyche trẻ đẹp nên việc thờ phụng nữ thần Venus  ( Vệ Nữ  hay Aphrodite)  bị sao nhãng. Các cống phẩm trước đây được dâng cho nữ thần bây giờ thưa thớt và ngôi đền của bà trống rỗng. Việc này làm bà  tức giận nên quyết định trừng phạt cô gái người trần mắt thịt kia.

Thần Vệ Nữ liền gọi con trai của mình là thần tình yêu Cupido (hay các tên gọi khác là Amore, Eros, Tình yêu )  và bảo: “Con hãy làm sao cho Psyche yêu một kẻ hèn mạt nhất và suốt đời bất hạnh với hắn!”. “Dạ con sẽ nghe lời mẹ! ”

Thần Cupido là người bắn cung còn đáng sợ hơn cả thần mặt trời Apollo, bởi vì những mũi tên của Apollo chỉ lấy đi mạng sống của con người, còn mũi tên của thần Ái tình lại là những mũi tên vô hình,  nhưng có thể mang đến niềm vui và khổ đau cho suốt cả đời người.

Thần Cupido bay đi thực hiện điều mẹ chàng ra lệnh nhưng kết quả không như mong muốn của thần Vệ Nữ. Khi đột nhâp vào hoàng cung và nhìn thấy Psyche đang ngủ, Cupido vô cùng kinh ngạc bởi vẻ đẹp của nàng nên đã bị mê hoặc đến mức mất tập trung và khi nàng trở mình thì anh bị một mũi tên… tự bắn trúng mình, khiến anh yêu nàng như điên dại. Tình yêu nàng đã bao trùm lấy trọn con tim của vị thần tình ái. Thần Cupido nhất quyết rằng người đẹp này phải là vợ mình và đã làm mọi cách để tất cả các chàng trai khác phải rời bỏ nàng.

Đã không thể hoàn thành nhiệm vụ của mẹ đã giao mà từ đó,  Cupido lại vương bận mối tơ lòng. Chàng lẳng lặng trở về cõi thần tiên mà chẳng nói gì về những gì vừa xảy ra. Thần Venus chờ tin và khi bà biết Psyche đã may mắn thoát được mũi tên của Cupido, liền buông lời nguyền rủa.

            Psyche không hay biết gì nên vẫn tiếp tục cuộc sống của mình nhưng có một điều lạ là dù xinh đẹp và được yêu nhưng vẫn chưa có ai cầu hôn trong khi hai cô chị có  rất nhiều người theo đuổi. Hai chị bèn trêu cho hả giận “Này cô em, sao em được mọi người thích mà đến giờ em vẫn chưa lập gia đình vậy? Xem hai chị nè, đã kết hôn hạnh phúc với những người đàn ông cao quý”.

  “Em không lo vì sẽ sớm xuất hiện người cầu hôn xứng đáng với trái tim của em”. Nhưng sau đó chẳng có một kẻ nào dám đến cầu hôn nàng. Nhà vua thực sự rất lo cho con gái út vì ngài không biết thiếu người cầu hôn là do Cupido  đã làm cho  tất cả đàn ông không được đánh thức tình yêu với Psyche. Thế là nàng Psyche phải sống trong cảnh cô đơn. Nàng chẳng yêu ai cũng không ai yêu được nàng. Bởi vì Cupidon đã giữ lại những mũi tên yêu.

Tình hình đó làm cho vua cha và hoàng hậu rất đỗi lo lắng. Họ chỉ còn cách đến đền thờ thần  tiên tri xin ban cho một lời chỉ dẫn và thật ác nghiệt vì thần đã phán truyền  như sau: “Psyche sẽ có một người chồng!  Đó là một con mãng xà có cánh, sức mạnh còn hơn các vị thần. Chồng nàng sẽ đón nàng đi vào một đêm khuya. Hãy mặc cho nàng đồ cưới, đưa nàng lên đỉnh đồi cao và để nàng ở lại đó một mình. Nếu không làm đúng như vậy thì chưa biết những tai họa gì sẽ giáng xuống đầu thần dân xứ này.”

Đức vua trở về thuật lại lời phán truyền của thần tiên tri cho mọi người biết. Cả kinh thành vang lên tiếng khóc than thảm thiết.    

Nhưng 2 cô chị của Psyche thuyết phục vua nên  tuân theo lời của thần tiên tri là hy sinh Psyche để tránh cơn thịnh nộ của mãng xà và sự diệt vong của tất cả dân trong thành phố.

Người ta đành sắm sửa lễ vật tiễn đưa Psyche. Còn nàng, tuy cũng không cầm được nước mắt nhưng vẫn cố gắng trấn tĩnh để an ủi vua cha và hoàng hậu:

– Xin cha mẹ bớt đau buồn! Nếu con phải lấy một người chồng hung ác thì cũng để cứu đô thành ta thoát khỏi tai họa. Nhưng sẽ có ngày con về thăm lại cha mẹ.

Lễ tiễn đưa nàng, một cô dâu về nhà chồng mà cử hành như một lễ tang. Từ cô dâu cho đến những người đưa tiễn đều mặc tang phục.

 Một đoàn người rất dài đã tiễn nàng lên núi để làm vợ mãng xà có cánh theo như lời phán truyền và bỏ nàng bơ vơ bên bờ vực.

Psyche ngồi chờ trên đỉnh đồi cao. Chút ánh sáng mờ nhạt cuối cùng của một ngày đang tắt. Bóng tối trùm lên cảnh vật làm nàng sợ hãi,  hai tay ôm lấy mặt khóc. Đêm càng về khuya, nàng càng khiếp đảm. Chỉ một tiếng động nhỏ trong bóng đen cũng làm nàng giật mình run rẩy, lo âu.

Dĩ nhiên, Cupido luôn theo dõi mọi bước chân của nàng.

 Rồi một làn gió nhẹ thổi làm Psyche cảm thấy khoan khoái. Làn gió như một bàn tay dịu hiền mơn man, ve vuốt trên người nàng.

Đó là hơi thở hiền hòa của thần Zéphyr, ngọn gió dịu dàng làm cho người nàng tỉnh táo trở lại. Tự dưng nàng cảm thấy thư thái và người nhẹ tênh, bay lâng lâng trong gió. “Vậy là con mãng xà đến đón ta ư?” Nàng tự hỏi và đưa mắt nhìn quanh nhưng không thấy gì hết. Rồi cảm giác là mình từ trên cao hạ xuống.

Psyche đặt chân xuống một cánh đồng cỏ mượt như nhung. Nàng mệt mỏi nên lăn ra thảm cỏ êm ngủ thiếp trong hương thơm ngào ngạt. Tỉnh dậy nàng thấy mình đang ở bên một con sông nước trong xanh, trước mặt là một tòa lâu đài uy nghi lộng lẫy. Những cột vàng, mái bạc, tường đồng và thềm đá hoa cương sáng lên ngời ngợi. Psyche đi đến trước tòa lâu đài. Nàng không thấy bóng một ai. Trong khi còn đang ngỡ ngàng thì nghe văng vẳng bên tai một giọng nói dịu dàng, ấm cúng: “Tòa nhà này là của nàng, xin hãy bước vào trong, đừng sợ hãi. Không một ai ở đây là người ác. Xin nàng cứ yên tâm nghỉ ngơi và tự nhiên như khi ở nhà, mọi việc đã có người lo liệu chu tất”.

Psyche nghe theo, mạnh dạn đi vào lâu đài. Mọi thứ đều sang trọng, quý giá và đẹp đẽ hết mức. Nàng chưa bao giờ được tắm trong một phòng tắm lộng lẫy như ở đây. Nàng cũng chưa từng bao giờ được dự một bữa tiệc với những món ăn ngon và mới lạ như ở đây. Trong khi nàng ăn, tiếng đàn ca từ đâu vẳng đến nghe như không cách bàn ăn của nàng bao xa, nhưng không tài nào nhìn thấy một ai. Cứ xem cung cách sống của chủ nhân và cách đối xử với nàng, Psyche đoán chắc không thể nào là một con quái vật. Trái lại chồng nàng chính là một người xinh đẹp, tài năng và lịch thiệp như nàng hằng mơ ước.

Nhưng nàng cũng không sao biết mặt người chồng. Chàng chỉ đến với nàng khi màn đêm đã buông và ra đi trước khi trời sáng. đã dặn đi dặn lại Psyche không được nghe theo ai mà tìm cách biết mặt chồng. “Ngày mà em biết mặt ta” chàng nói, “cũng là ngày chúng ta xa cách nhau vĩnh viễn”. Psyché hứa sẽ tuân theo lời căn dặn.

Khi nàng đã quen với hạnh phúc, nàng lại nghĩ nhiều về cha mẹ đang tưởng nàng mất tích và để tang, còn những người chị đang sống đời trần tục trong khi nàng sống như một nữ thần.

Điều đó khiến nàng cảm thấy không được an tâm. Một đêm, Psyche kể cho Cupido nghe những nỗi buồn trong lòng và cầu xin được gặp những người thân.

Cupido thương vợ nên bảo sáng hôm sau, Psyche sẽ được gặp lại các chị.    

Trong khi Psyche mừng rỡ thì Cupido buồn rầu nghĩ đến chuyện không hay có thể sẽ xảy ra vì chuyện viếng thăm này.

 Đêm hôm đó thần gió Zéphyr đưa hai người chị tới thảm cỏ bên bờ sông. Và sáng hôm sau hai người chị vào trong tòa lâu đài thăm em gái. Nói sao được hết nỗi vui mừng cảm động của ba chị em khi gặp lại nhau. Psyche ôm xiết hai chị trong vòng tay, nước mắt trào ra vì sung sướng. Nàng dẫn hai chị đi thăm tòa lâu đài, chỉ cho họ xem những đồ đạc sang trọng, quý giá. Nàng mời hai chị những bữa ăn thịnh soạn. Hai chị của Psyche được nghe tiếng đàn ca du dương trong khi ăn, được thưởng thức đủ thứ của ngon vật lạ, nhưng suốt từ lúc hai người chị tới không thấy mặt cậu em rể đâu. Lúc đón cũng không có, bữa ăn cũng không. Điều này khiến hai người thắc mắc. Psyche bịa ra chuyện chồng mình từ mấy hôm nay bận đi săn với bạn trong một khu rừng cách đây khá xa. Tiệc tàn, ngày hết, Psyche gửi quà về biếu cha mẹ và tặng hai chị nhiều báu vật. Hai người chị ra về và hoàn toàn vừa lòng với cách tiếp đãi của cô em. Tuy nhiên trong trái tim của họ nảy ra một sự so sánh và thèm muốn cuộc sống cao quý đó.

Trong trái tim họ bùng lên một âm mưu nham hiểm.

Đó là sự ghen tị xấu xa mà loài người đã mắc phải, khiến cho các vị thần giận dữ.

Tối hôm đó, Cupido nói rằng ba chị em đã gặp nhau như thế là đủ, rằng từ nay trở đi không nên mời hai chị tới viếng thăm lần nữa. Psyche vâng dạ nhưng chỉ ít lâu sau nàng lại nằn nì xin chồng cho phép để hai chị tới thăm mình nữa. Cupido dứt khoát không chấp thuận nhưng trước vẻ mặt âu sầu của vợ thì cuối cùng chàng đành phải chiều theo.

Đúng là cái sự khóc của đàn bà cũng là một sức mạnh, sức mạnh mang tai họa.    

Ngọn gió Zéphyr lại đưa hai người chị tới thăm em. Trong câu chuyện hàn huyên lần này, hai người chị rất thắc mắc về sự vắng mặt của cậu em rể, Psyche lúng túng, không biết biện hộ thế nào. Một người chị bèn ghé vào tai nàng nói:

– Có lẽ đúng như lời truyền phán của thần tiên tri đấy! Chồng em là một con mãng xà, vì thế cậu ấy không dám ra mặt tiếp chúng tôi.

Người chị kia bèn chêm vào:

– Sớm muộn gì rồi cũng có ngày giống yêu quái ấy sẽ hiện nguyên hình nuốt em vào bụng. Người sao lại có thể sống chung với mãng xà đời đời kiếp kiếp được?

Những lời nói đó làm bùng lên trong trái tim Psyché một nỗi hồ nghi và một sự lo âu khôn tả. Bao nhiêu hy vọng về người chồng không chân dung, luôn hình dung ra chàng là một người xinh đẹp, tài năng và lịch thiệp… bỗng sụp đổ. “Hình như hai chị nói đúng. Nếu không, tại sao anh chỉ gặp mình vào lúc đêm khuya và ra đi trước khi trời sáng? Đúng là chàng sợ bị lộ cái hình thù gớm ghiếc?” Psyche ngồi thừ ra một hồi lâu rồi khóc nấc lên:

– Các chị ơi! Có lẽ đúng như thế. Các chị bảo em phải tính sao bây giờ?

Đây chính là lúc hai người chị chờ đợi. Họ làm ra vẻ đăm chiêu suy nghĩ một lối thoát cho em, nhưng thực ra câu trả lời đã được chuẩn bị từ lâu.

– Em cứ giấu ở trong phòng một cái đèn và một con dao thật sắc nhọn. Lừa cho lúc hắn ngủ say em thắp đèn và cầm dao thọc cho hắn một nhát. Nhớ thọc vào chỗ hiểm thì hắn mới chết ngay được. Chỉ có cách ấy thì mới cứu được mình và tất cả những của cải của hắn sẽ là của em, rồi các chị đến đón em về. Chị em ta sống chết có nhau.

Và các chị được thần gió Zéphyr đưa về, còn Psyche ở lại với biết bao giằng xé trong tim. “Giết chết chàng ư? Chàng đối xử với ta không có điều gì đáng chê trách, chàng là người chồng yêu quý, lẽ nào ta lại… Không, không, ta không thể giết chàng. Nhưng nếu chàng là một con quái vật thì sao? Không giết nó thì nó cũng giết mình. Nhưng nào ta đã trông thấy con quái ấy đâu? Lấy gì làm bằng cớ rằng một người yêu mến ta rất mực, tôn trọng ta, đối xử với ta không hề thô bạo lại là một con quái vật?”

Cứ thế những ý nghĩ vật lộn với nhau trong trái tim Psyche. Nàng không dám giết chồng, nhưng phải xem thử chàng là người hay quái vật? Nàng coi đó là quyết định khôn ngoan.

Đêm hôm ấy chờ cho chồng ngủ say, Psyche cố lấy hết can đảm tay cầm đèn đi nhìn chàng đang ngủ. Nàng suýt kêu trời. Không, đó là một chàng trai tuấn tú, xinh đẹp khác thường, đẹp đến nỗi trong cả những giấc mơ cũng chưa từng bao giờ tưởng tượng nổi ra một chàng trai đẹp đẽ và, cân đối đến thế. Psyche sững sờ trước vẻ đẹp của chồng. Mái tóc của chàng ánh vàng như tia nắng mặt trời và từ đôi vai mọc ra đôi cánh bảy sắc cầu vồng. Psyche hối hận về những gì đã nghĩ oan cho chồng. Nàng quỳ xuống bên giường, ghé sát đèn để nhìn cho rõ hơn. Hồi hộp lẫn nơm nớp lo âu khiến đôi tay nàng run rẩy. Và khi nàng cúi xuống thì những giọt dầu nóng từ chiếc đèn cũng nghiêng theo và rớt xuống vai chồng. Chàng giật mình tỉnh dậy. Và nhìn thấy ngọn đèn sáng trong tay vợ.

Psyche đã không giữ lời, không trung thực, không tin chàng. Không nói một lời, Cupido liền bay như một luồng gió, bỏ về đỉnh Olympus.

Ngay lập tức, Psyche vứt đèn cố đuổi theo, quên hết mọi nỗi hiểm nguy. Cuối cùng nàng ngã sóng xoài, bất tỉnh trên mặt đất. Nàng chỉ nghe như chàng nói lại là rất đau buồn phải ra đi vì “Tình yêu chẳng thể nào hiện hữu khi không có lòng tin và sự trung thực!” Chỉ mấy lời ngắn ngủi rồi Cupido biến mất.

Psyche bàng hoàng, suy nghĩ: “Chồng mình là vị thần Tình yêu! Trời! Chàng đã “trừng phạt” ta bằng sự xa cách, nhưng dù phải đi khắp cùng trời cuối đất ta cũng phải tìm chàng cho bằng được.

Khi tỉnh lại, nàng chỉ một mình. Cả khu vườn cùng với tòa lâu đài cũng đã biến mất.

Từ đó bắt đầu cuộc hành trình của Psyche đi tìm Cupido. Psyche đi, tìm ở đâu, nàng cũng không biết nhưng nàng nhất định là sẽ tìm được chàng.

Còn chàng Cupido bị vết bỏng ở vai nên phải bay về nhà để xin mẹ chữa. Lúc ấy nữ thần Vénus mới biết con trai mình đã chẳng thi hành lệnh mà lại còn yêu Psyché. Giận dữ, Vénus bỏ mặc cậu con trai đang đau đớn, khóa chặt cửa phòng nhốt Cupido và bay đi tìm Psyche để trừng phạt cho bõ ghét.

Nàng Psyche đau khổ trong bước đường phiêu bạt và không quên cầu xin các vị thần tha thứ cho tội lỗi của mình, giúp mình đi tìm lại được Cupido. Nhưng các vị thần đều lảng tránh vì sợ phiền phức với Vénus. “Chẳng được gì có khi còn mang vạ vào thân…”, nên Psyche không xin được sự trợ giúp nào. Cuối cùng nàng thấy chỉ còn cách là cầu xin nữ thần Vénus nguôi giận và nguyện làm tôi tớ cho bà. Thế là Psyche không đi tìm Cupido nữa mà quyết đi tìm Vénus.

Lại những ngày dầm mưa dãi nắng. Lại những ngày vượt núi xuyên rừng, đói cơm, khát nước, nhưng khó khăn chẳng làm cho Psyche nản lòng. Nàng tự nhủ: “Ta yêu chàng chân thành và tình yêu sẽ cho ta sức mạnh. Nếu chẳng may ta có chết trước khi gặp lại chàng thì điều đó cũng giúp chàng hiểu thấu tấm lòng trong sáng của ta”. Và Psyche tin sẽ được nữ thần Vénus tha thứ. Cuối cùng họ đã gặp nhau. Vénus cười một cách khinh thị và thách thức:

– Trời! Sao con dấn thân vào một công việc vô hy vọng như vậy? Con định đi tìm người chồng mà con đã chẳng tin yêu, người chồng đã bị con làm bỏng nặng, nó chẳng buồn gặp lại con nữa đâu. Dù sao thì con cũng phải biết mình biết người chứ. Ta nói thật, con xấu và vô duyên đến nỗi chẳng đứa nào dám yêu đâu!

Psyche đáp lại:

– Hỡi nữ thần Vénus có sắc đẹp không ai sánh nổi! Xin nữ thần hãy tha thứ cho kẻ hèn mọn này đã đem lòng kính yêu Cupido. Bởi một người phàm tục không thể kết duyên với một vị thần bất tử, trừ khi các vị thần gia ân cho phép. Đó là luật lệ của các vị thần đã ban xuống cho thế giới loài người đoản mệnh. Nhưng dù sao con cũng đã kính yêu chàng Cupido nên con sẵn sàng chịu đựng mọi nỗi gian truân, thử thách. Xin nữ thần hãy cho phép con được gặp chàng.

Nữ thần Vénus lạnh lùng nhìn cô:

– Được, ta sẽ xem ngươi có thể chịu đựng được gì để chuộc cái tội phạm thượng.

Nói rồi bà lấy một nắm hạt gạo, hạt mì, hạt đỗ, hạt ngô… trộn lại với nhau và bảo Psyche phải nhặt và tách riêng chúng ra. Công việc phải làm xong trước khi tắt nắng. Nói xong Vénus ra đi.

Psyche ngồi lại một mình với một đống hạt lẫn lộn. Dù nàng có mười mắt, mười tay thì cũng không thể hoàn thành công việc trước khi nắng tắt. Nàng cũng chẳng biết nên bắt đầu từ đâu. Nhưng khi nàng ngồi tuyệt vọng thì có vô số những con vật màu đen, bò ra từ những kẽ nứt của ngôi đền và tiến đến gần nàng. Nàng nhận ra một đội quân kiến khổng lồ. “Anh chị em ơi! Hãy đến giúp người thiếu nữ xinh đẹp và đau khổ này!”.  Thế là tất cả cùng xúm lại tách các hạt  với một sự chăm chỉ và kỷ luật nên khi nữ thần Aphrodite quay lại thì thấy công việc đã được làm xong.

 Vénus thấy thế càng thêm căm tức. Nữ thần bảo Psyche: “Chưa hết!” Vénus bẻ cho Psyche một miếng bánh mì để ăn bữa chiều và lệnh cho nàng đêm đó phải ngủ dưới đất còn bà thì trở về ngủ trên đệm ấm. Nằm trên giường Vénus nghĩ cách bắt Psyche chịu đựng nhiều thử thách, sao cho cái sắc đẹp đáng ghét kia mau chóng tàn phai thì mới hả giận. Nữ thần còn phải nhốt chặt Cupido để con không thể ra ngoài gặp Psyche. Mà dẫu có gặp lại Psyche thì lúc đó cô đã không còn xinh đẹp nữa. Cuối cùng chỉ có Vénus mới là nữ thần có sắc đẹp lộng lẫy nhất không biết đến sự tàn phai của tuổi già.

Sáng hôm sau, nữ thần Venus đưa nàng đến bên bờ của một con sông và chỉ cho nàng thấy cánh rừng bên kia: “Hãy đến khu rừng đằng kia nơi đàn cừu có bộ lông vàng thường gặm cỏ và mang về cho ta một bộ lông vàng của con cừu nếu không thì ngươi  đừng bao giờ quay lại đây nữa”. Ðiều này có vẻ không khó khăn và Psyche ngoan ngoãn vâng lệnh nữ thần và sẵn sàng lội qua sông.

Nhưng khi thần Venus biến mất thì những cây sậy rung lên xào xạc làm nổi bong bóng lên mặt nước và những vị thần sông thầm thì với nàng: “Ðừng chủ quan Psyche, phải cẩn thận. Lũ cừu này không hiền đâu. Khi mặt trời lên cao, chúng sẽ trở nên hung dữ như lửa nhưng khi chiều tối thì chúng sẽ nằm ngủ dưới những bóng cây. Lúc đó nàng có thể bơi qua sông mà không phải lo sợ để nhặt lấy những bộ lông vàng.”

Cám ơn những lời chỉ dạy của thần sông, Psyche ngồi nghỉ và sau đó bơi qua sông, làm theo lời chỉ dẫn. Tờ mờ sáng, nàng quay trở về đền thờ Venus trên tay ôm những bộ lông cừu lấp lánh.

Vénus nhận báu vật nhưng trong lòng lại nảy ra một ý đồ nham hiểm mới. Nữ thần bảo:

– Lại có ai giúp cô làm việc này chứ gì? Thôi được, ta sẽ giao cho cô một công việc nữa! Thế này nhé! Cô có nhìn thấy dòng nước đang đổ từ trên ngọn núi cao kia xuống không? Đó là đầu nguồn của con sông Styx, cô hãy đến đó múc về cho ta đầy một bình nước này.

Khi Psyche ôm chiếc bình pha lê đứng dưới chân núi nhìn lên đỉnh vách đá cao dựng đứng thì lòng vô cùng tuyệt vọng. Triền núi cao và đá tai mèo trùng trùng điệp điệp như những lưỡi cưa khổng lồ trải dài đến tận đầu nguồn. Lại còn những tảng đá rêu trơn và thác nước đổ xuống mạnh như sấm sét… Có thoát chết khi đi thì khi về cũng đến vỡ bình, què quặt. May thay vừa lúc ấy có một con đại bàng bay ngang qua. Đại bàng chộp lấy chiếc bình pha lê rồi bay lên đỉnh múc đầy nước xuống trao cho nàng.

Nhưng Vénus vẫn không buông tha người thiếu nữ. Nữ thần lại giao cho nàng phải thực hiện một công việc nữa, một công việc khó khăn và nguy hiểm gấp bội phần so với các công việc trước. Nữ thần giao cho Psyche một cái hộp bảo nàng xuống vương quốc của thần Pluton (Hadès) người cai quản âm phủ, gặp nàng Proserpine (Perséphone) cầu xin nàng ban cho một chút sắc đẹp để bỏ vào trong cái hộp nhỏ. Vénus dặn Psyche phải van xin tha thiết, phải nói sao cho Proserpine biết và thông cảm là hiện nay bà rất cần mà đang bận săn sóc đứa con bị ốm .

Psyche hiểu rằng chẳng có con người nào đi xuống âm phủ mà lại có thể sống sót để trở về. Nhưng nàng vẫn ra đi, tìm đường xuống thế giới của thần Pluton. Nàng đi hỏi mà chẳng ai biết đường. Chỉ có một chiếc tháp cổ hoang phế xót thương nên đã gọi và chỉ đường xuống âm phủ.

– Trước tiên nàng phải đi vào một lỗ hổng lớn và sâu để vào trong lòng đất. Cứ đi mãi cho đến khi gặp một con sông chắn ngang, nàng sẽ phải qua nó để đi tiếp. Ở bờ sông có người lái đò Charon lầm lì và nghiệt ngã. Nàng cứ bước xuống và đưa cho lão ta một đồng tiền là lão sẽ chở nàng sang bên kia sông. Từ đây có một con đường thẳng tắp dẫn đến cung điện của Proserpine. Gác cổng là con chó ngao Cerbère ba đầu dữ tợn, cổ chó là một lũ rắn độc lúc nào cũng ngóc đầu lên phun phì phì. Nàng cứ bình tâm đi đến gần và vứt cho nó một chiếc bánh ngọt. Thế là nó để cho nàng đi.

Psyche chân thành cảm ơn ngọn tháp già tốt bụng hiểu biết lắm chuyện của thế gian. Bây giờ chỉ còn việc lo liệu những thứ cần thiết cho cuộc hành trình vào thế giới của những linh hồn.

Nàng ngỡ rằng sẽ rất khó khăn, ai ngờ chỉ cần cầu xin là thần Proserpine đã vui lòng ban cho nàng chiếc hộp chứa sắc đẹp và gửi lời hỏi thăm đến nữ thần Venus. Bà còn chúc cậu con trai cưng của Vénus chóng bình phục.

Cầm chiếc hộp kín đựng sắc đẹp, nàng vô cùng sung sướng trở về với dương gian, nghĩ đến phút được Vénus cho gặp lại Cupido. Nàng chắc rằng đây là thử thách cuối cùng mà nàng phải chịu đựng.

Thế rồi nàng nghĩ đến cái hộp. “Sắc đẹp có hình thù như thế nào mà nữ thần Proserpine lại có thể bỏ vào trong cái hộp này? Psyche cầm hộp lắc lắc. Không thấy có tiếng động. “Nếu là bột hay là hạt thì thế nào cũng có tiếng động. Hay nó là sáp ong? Hay là ta cứ mở ra xem”. Psyche cũng muốn lấy một chút để bồi đắp cho sắc đẹp của mình. Cupido sẽ sung sướng khi gặp lại vợ đẹp hơn xưa. Psyche mở ra. Thật lạ lùng! Nàng thất vọng hoàn toàn! Một chiếc hộp không! Tuy nhiên có một thứ mà Psyche không thấy. Đó là một luồng hơi lạnh, thứ âm khí nặng nề của thế giới những người chết, bốc lên. Và chỉ một lát Psyche thấy trong người ngây ngất, đứng không vững nữa.

Nàng ngã gục xuống chìm vào trong một giấc ngủ triền miên. Đúng vào lúc tình cảnh nguy ngập này thì, may thay, thần Tình yêu-Cupido xuất hiện. Vết thương của chàng đã lành và chàng muốn gặp lại Psyche. Phòng bị khóa nên chàng đã phá cửa sổ để thoát ra. Sự thật là khó ai giam giữ được Tình yêu, vì Tình yêu ngay từ khi ra đời đã có cánh.  

Cupido đã dùng đôi cánh bay đi tìm Psyche. Chàng tìm thấy nàng nằm ngủ say, chiếc hộp vứt ở bên, nên lập tức thu hồi giấc ngủ đang đè nặng lên mi mắt của Psyche nhốt vào trong hộp, tiếp đó dùng mũi tên nhọn của mình châm vào người Psyche để đánh thức nàng dậy.

Kể sao cho xiết nỗi vui mừng của Psyche! Nàng ôm lấy đầu chàng áp vào ngực và nước mắt tuôn trào. Nàng đưa hai tay vuốt lên khuôn mặt, vầng trán cao đẹp và mái tóc mềm mại của chàng. Cupido trách vợ đã tò mò để xảy ra tai họa. Và chàng giục Psyche đem ngay chiếc hộp về dâng cho nữ thần Vénus còn chàng phải ra đi ngay vì phải làm ngay một công việc quan trọng và khẩn cấp. Chàng nói với vợ:

– Chúng ta sẽ gặp lại nhau và chắc rằng lần này sẽ ở bên nhau mãi mãi, chẳng ai có thể chia lìa hai mình được nữa.

 Cupido đi đâu? Chàng bay lên thế giới thiên đình để nhờ thần Jupiter (hay thần Zeus) can thiệp. Phải trình bày chuyện này đến thần Jupiter thì nữ thần Vénus mới không bày ra các thử thách  để hành hạ Psyche và hai vợ chồng mới có thể đoàn tụ.

Cupido tường trình đầu đuôi câu chuyện và xin thần Jupiter rộng lượng cho phép Psyche được kết hôn với mình. Nghe xong câu chuyện thần Jupiter liền cười và bảo:

– Nhà ngươi đã gây cho ta biết bao chuyện lôi thôi, phiền hà hết chỗ nói vì những mũi tên vô hình của nhà ngươi. Nhưng dù sao thì nhà ngươi cũng đã chịu đau khổ thì cũng như chịu sự trừng phạt rồi. Ta sẽ giúp cho nhà ngươi được toại nguyện.

Ngay sau đó thần Jupiter cho mời toàn thể các vị thần đến họp kể cả nữ thần Vénus. Ngài lên tiếng trước:

– Ta được biết thần Cupido đã đem lòng yêu mến và ăn ở với một người con gái trần thế là Psyche nên nữ thần Vénus đã bắt cô gái phải chịu đựng cảnh chia ly, đày đọa. Ta muốn chấm dứt sự bất công đó và tác thành cho họ. Ta cũng muốn các thần ban cho nàng Psyche được hưởng đặc ân bất tử để được sánh ngang với các vị thần. Vậy ai có chủ kiến gì xin cứ tự nhiên bày tỏ.

Các vị thần đều đồng thanh tán thưởng thiện ý cao cả của đấng chí tôn Jupiter. Thần Mercure (Hermès) được lệnh xuống trần đưa nàng Psyche lên thiên đình. Đích thân thần Jupiter ban cho nàng rượu thánh, một loại phấn hoa (ambrosia) và thức ăn thần nên từ đôi vai của nàng mọc ra đôi cánh sáng rực rỡ giống thần Cupido và thế là nàng công chúa Psyche đã trở thành một nữ thần bất tử.

Một đám cưới vô cùng trọng thể kết thúc cho số phận gian truân của nàng Psyche. Nữ thần Vénus lúc này tỏ ra hài lòng vì đã có một vị nữ thần xinh đẹp làm dâu. Thật là một kết thúc tốt đẹp.

Người xưa kể… là từ đó trở đi, nữ thần Vénus cũng như Cupido đều bận việc gia đình nên ít xuống trần để gây ra những vụ “đau tim”, “điên đầu” cho những người trần thế.

 Tuy nhiên có lúc họ vẫn xuống, nên còn khá nhiều người trần phải chịu đựng nỗi gian lao và đau khổ trong “tình trường”!

 Một đám cưới hạnh phúc diễn ra và đứa con của Cupido và Psyche sau này chính là thần Voluptas – thần Gợi cảm.

Psyche et L’Amour, tranh của William-Adolphe Bouguereau   

                                                      Amore (Cupido) và Psiche bức  tượng nổi tiếng của Antonio Canova.


[1] Còn gọi là Eros e Psiche hay Amore e Psiche – https://www.youtube.com/watch?v=826j28mVZrw

Read Full Post »

Trương Văn Dân

.

  Quãng thời gian dài 50 năm như dồn lại trong tích tắc! Nước mắt chỉ chực trào ra còn trái tim đập liên hồi như con chim đang sải cánh bay qua eo biển.  

Mở cái hộp giấy bị quên lãng sau những đợt chuyển nhà, trước mắt tôi hiện ra một túi ny lông mà khi trút ra bên trong có một chồng thư cũ.

Những bức thư của gia đình mà chủ yếu là những bức thư của ba tôi đã gửi trong suốt 36 năm tôi sống ở nước ngoài, cho đến ngày ông mất.

Tôi như chợt thấy một đời người dồn lại.

Chính vào giây phút đó, tôi ý thức rõ ràng rằng những người tuy đã mất đi nhưng vẫn còn hiện hữu, ở đây, lúc này, tuy vắng mặt mà hiện diện cùng tôi.

 Tất nhiên tôi không thể nhìn thấy họ như bóng dáng xưa. Nhưng nếu hiểu theo lời của thiền sư Thích Nhất Hạnh thì: “Ngày mai, tôi sẽ tiếp tục hiện diện. Nhưng bạn sẽ phải rất cẩn thận mới có thể nhìn thấy tôi. Tôi sẽ là một bông hoa hay một chiếc lá. Tôi sẽ ở trong những hình dáng đó và vẫn gửi cho bạn một lời chào. Nếu bạn đủ nhận biết, bạn sẽ nhận ra tôi, và bạn có thể mỉm cười với tôi. Tôi sẽ rất hạnh phúc ”.

                                        &

 Năm mươi năm dồn nén như một chiếc lò xo, nhưng khi bung ra thì những  gì xảy ra trong suốt quãng thời gian đó đồng loạt thức dậy. Chập chờn nhảy múa trong một bầu trời đầy sương mù của ký ức.

Chỉ là một tình cờ hay có một sự sắp xếp nào đó của hoá công? Cách đây mấy tháng, một người bạn mất liên lạc hơn 40 năm tình cờ thấy và kết bạn với tôi trên Facebook. Dũng tìm được tôi nhờ đọc một bài báo trên BBC[1] tiếng việt  kể về chuyến bay vào tâm dịch Italia để gặp Elena ngay khi nước này dịch Covid.19 đang bùng phát mãnh liệt mà phần lớn các chuyến bay về Milano đều bị huỷ bỏ.

Mấy tuần sau anh gửi qua email mấy tấm hình mà tôi đã quên đi, không còn nhớ. Đó là bức hình chụp vào sáng ngày 21/12/1971  khi chúng tôi, một nhóm sinh viên 13 người vừa đặt chân đến sân bay quốc tế Fiumicino ở Roma.  

    Đoàn “nai vàng ngơ ngác” đến sân bay Fiumicino, Roma 21.12.1971. Ngày đầu ở Ý.

 Nhìn bức ảnh, cảm xúc trong buổi chiều 50 năm trước như vừa trỗi dậy. Những thanh niên lần đầu xuất ngoại, làm quen, nói cười rối rít, ai cũng cố tỏ ra mình cứng rắn để che giấu những lo âu về con đường trước mặt. Mặt đăm chiêu, ngồi trịnh trọng trên chuyến bay Air Vietnam từ Sài Gòn qua Bangkok. Thế nhưng lớp vỏ mạnh mẽ như lớp sáp tan chảy khi máy bay cất cánh. Tiếng nhạc trong khoang đang mở to lời hát  “Bài không tên số 2” của Vũ Thành An: “Xin một lần xiết tay nhau một lần cuối cho nhau, Xin một lần vẫy tay chào thôi dòng đời đó cuốn người theo” thì có tiếng thút thít từ các ghế ngồi. Một người, hai người… rồi tất cả đưa mắt nhìn nhau, khuôn mặt nhạt nhoà.

           Chờ cảm xúc lắng xuống, tôi ngồi nghĩ lại. Sau bao năm vật đổi sao dời,  tuy khởi điểm là đi chung một chuyến tàu nhưng dòng đời đã cuốn chúng tôi, mỗi người trôi theo một định mệnh khác nhau.  Ai thuận buồm, ai ngược gió, quay cuồng “như lá úa trong cơn mưa chiều…” thành công hay thất bại gì thì cũng chìm trong bể khổ của đời.

                                            

Bắt đầu từ chuyến bay định mệnh ấy là những ngày tháng xa quê hương, bè bạn và những người thân.  Mọi gian khổ vất vả thì chịu được mà sự cô đơn, trống vắng thì nó mênh mang mà  không biết tỏ bày hay chia sẻ cùng ai.

Niềm an ủi lúc đó là được nghe một giọng nói thân quen, nhưng đó là điều không tưởng. Sinh viên thì nhà làm gì  có điện thoại mà gọi bằng gettone qua điện thoại công cộng, chi phí một cuộc gọi đường dài có khi bằng sinh hoạt cả tháng!

Gettone là đồng xu nhỏ, có một rảnh ở giữa và bỏ lên một khe nằm trên máy điện thoại. Sau khi kết nối nó sẽ rớt vào máy, thời gian rớt được tính bằng khoảng cách từ nơi gọi đến nơi nhận. Gần chậm, xa mau. Khi gọi xa thì tiếng gettone rơi nhanh như nhịp tim người gọi. Khi thời lượng tương ứng với số tiền trả sắp hết máy rung chuông báo, nếu không nạp kịp gettone là cuộc gọi bị ngắt!

 Thập niên 1970 tôi thường gọi Elena bằng cách này. Ngày nào ăn chiều xong chúng tôi cũng nói chuyện với nhau vài phút, nhưng cũng có khi cao hứng, nói với nhau cả nửa tiếng hay nhiều hơn. Vì là điện thoại công cộng nên có nhiều người khác đứng chờ bên ngoài. Có khi sốt ruột họ gõ cửa cabin hối thúc. Đứng bên trong, tôi xoè bàn tay trái đang nắm một mớ gettone, nhìn thấy, họ lắc đầu, miệng làu bàu rồi bỏ đi tìm máy khác!

Những khi nói nhiều, tiếng gettone rơi làm mình chóng mặt mà ở đầu giây bên kia còn  nghe tiếng mẹ Elena mắng: nói gì mà lâu dữ vậy!

Vì gọi điện khó khăn và đắt đỏ như thế nên mỗi khi gọi bạn bè ở xa như Pháp, Đức, Thụy Sĩ… thì chúng tôi xem như mời bạn cà phê, nói lâu hơn là xem như mời bữa ăn trưa, liên lục địa.

Vào năm 1981, lần đầu tiên tôi hẹn hai em Xuân, Minh vừa mới định cư ở Sidney (Úc) đến nhà cô dượng Tàu Năm để chờ nghe điện thoại, giọng chúng tôi run lên vì hơn 10 năm anh em mới nghe được giọng nói của nhau. Người nghe, kẻ nói đều đã chuẩn bị sẵn nội dung, tranh thủ nói nhanh để nói được nhiều!

                                                &

Những bức thư cất giữ trong chừng ấy năm làm tôi nhớ tới một thời đã qua và âm hưởng vẫn còn đọng tới bây giờ. Nó như những chiếc cầu cho tôi nối lại với cuộc đời chìm sâu trong kỷ niệm.  Mỗi khi nhận được thư của ba tôi, có khi viết tay, có khi đánh máy, tôi thường đọc đi đọc lại nhiều lần, dù đó là những bức thư thật dài, có khi hơn 10 trang giấy. Ba tôi đánh máy rất nhanh, còn viết thì thư ông chỉ có tôi là đọc  “ro ro” còn các em tôi thì vừa đọc vừa phải… đoán.

Sau khi buông thư tôi thường nằm dài suy nghĩ. Có khi tôi nghe như từ những bức thư đang thở ra hơi thở của ba tôi và trên sàn nhà đang thầm thì bước chân của ông, rõ ràng đến nỗi tôi suýt buột miệng gọi ông. Có khi tôi chăng nghe mà chỉ thấy những khuôn mặt xa xôi hiện về. Nhạt nhòa, nhưng vẫn thấy ba má và tất cả  các anh em Hiếu, Nga, Nguyệt, Xuân, Minh và tôi đang ngồi chen chúc quanh bàn ăn ấm cúng. Có lúc tôi mơ chân trần bước đi trên cát biển Qui nhơn, thỉnh thoảng ra mé nước nghe sóng vỗ dưới chân. Tuổi thơ của tôi đã trôi như một dòng sông và những lúc lặng lẽ ấy chỉ còn lại những hoài niệm mà thời gian đã mang đi xa lắc.  Đôi lúc tôi thấy tiếc nuối nhưng chỉ một thoáng thôi, vì nhiều nỗi lo toan khi nhìn đến thực tại nơi đất khách.

          Những ngày sau 1975 thời gian rảnh rổi không nhiều vì từ một chàng công tử vô tư tôi phải vừa làm vừa học. Áp lực kinh tế, học hành, tôi phải thanh thủ học trên xe bus lúc đông người mỗi khi đi đến chỗ làm hay lúc về nhà.

          Trong những lúc mềm lòng, tôi rất cần một bàn tay để nắm. Nghe được một giọng nói thân thương, không cần họ làm gì để giúp mà chỉ cần biết có ai đó quan tâm đến mình.

 Nhưng xung quanh nào có ai đâu! Không có sự chọn lựa nào khác là tự bước đi bằng đôi chân, nhận lấy trách nhiệm cho cuộc sống và tương lai của mình.

Hồi đó, trong suốt bao nhiêu năm… tôi mong chờ những bức thư như một bộ hành mơ nguồn nước trong sa mạc. Gửi thư đi, trung bình 3 tháng mới nhận được trả lời. Biết thế, nhưng viết xong thì ngày nào cũng chờ. Mỗi sáng ra khỏi nhà đều nhìn vào hộp thư, dù biết chắc là không có mà lòng vẫn hụt hẫng.

Những bức thư thường làm tôi bâng khuâng, rộn ràng, đầy ắp niềm vui song cũng man mác, bồi hồi.

Vì những điều kiện khách quan nên tôi không được sống gần ba mình. Thế nhưng trong thời gian ít ỏi đó những bài học của ông vẫn theo tôi suốt cuộc đời. Những lời dạy từ  nhỏ vẫn ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành nhân cách cũng như quan niệm về cuộc sống.

Trong thư, ba dặn ra xứ người con sẽ phải hoà nhập vào văn hoá và xã hội mới nhưng đừng để bị làm mờ cái gốc của mình.

Tôi nằm lòng lời căn dặn đó. Sống nhiều năm ở trời Tây, mà khi về Việt Nam ít ai nhận ra tôi là “Việt Kiều” vì  phong cách dân dã chân quê, như bùn đất quê hương vẫn còn bám từ bấy đến nay. Tuy đã từng ngắm tuyết ở trời Âu nhưng cũng đã từng tắm truồng trên dòng sông Côn; Từng ở khách sạn 5 sao lộng lẫy ở nước ngoài nhưng cũng đã từng ăn bát cơm nóng nấu trong nồi đất vào ngày mưa ở Vĩnh Thạnh, nhìn gió núi lùa qua cửa sổ, thấy người thân ở quê ngoại rét run người với chiếc áo phong phanh… bấy nhiêu năm, tuy sống xa nhà mà nề nếp, thói quen, tính cách của ngày xưa vẫn con đậm nét.  Tiếng Việt của tôi vẫn như xưa,  thời gian đầu có chút bỡ ngỡ về vài từ mới nhưng chỉ nghe qua một lần là nhớ, và tuy sống ở nước ngoài 50 năm nhưng tôi chưa bao giờ        “độn” thêm từ ngoại quốc nào trong giao tiếp, tôi nghĩ viết “chúc mừng năm mới” là đủ nghĩa chứ thấy không cần phải viết “happy new year” làm gì.

Có thể nói cái tâm là ba tôi đã dạy cho tôi. Sau 1975, ông biết tôi sẽ gặp khó khăn và những buồn phiền không thể tránh: “Đã làm người, thì con phải chấp nhận gánh vác. Đôi khi còn phải gánh cả những việc oan ức…” “ Nhưng dù thế nào cũng không được thù hận và đánh mất niềm tin vào tính thiện lương của con người ”. “ Nếu có điều kiện thì cứ giúp người, thà bị sai lầm còn hơn là ân hận ”..

             Trong những bức thư ấy có điều tôi hiểu ngay nhưng cũng có những lời dạy, mà mãi nhiều năm sau, quá tuổi 60, nghiệm ra tôi mới hiểu. “Sống là phải làm tốt vai trò và bổn phận của mình trong xã hội, nhưng cố bỏ cái tôi để sống an nhiên và hạnh phúc với chính mình.” “ Tài năng gì cũng chỉ là bọt bèo. Đừng kiêu căng hay đuổi theo ảo ảnh; Danh tiếng, địa vị gì cũng đều phụ thuộc vào lời khen chê của kẻ khác. Đừng để tâm trí mình dao động vì những việc nằm ngoài tầm kiểm soát đó để không bị biến thành con rối của miệng đời.”

          …Rồi biến cố đau buồn.  Vẫn còn trẻ và đẹp nhưng  trái tim ông đã lặng lẽ ngừng đập. Ông chỉ sống vừa đủ lâu để thấy những thay đổi của đất nước và lòng người.

Nhưng ba tôi không mất. Ông chỉ nằm an nghỉ trong trái tim tôi mà thôi.

                                                &

Những bức thư ấy là những nhịp cầu nối liền khoảng cách và kết nối tình thân. Xa bỗng hóa gần.

 Ngày xưa… liên lạc với nhau rất khó! Nhưng hôm nay, với phương tiện sẵn sàng, mọi cuộc gọi đều tức thời và miễn phí nhưng con người lại ít kết nối với nhau! Ai cũng than rằng mình rất “bận”. Là không có thời gian? Nhưng có thực là chúng ta bận đến nỗi  đến không thể gửi một tin nhắn vài phút để hỏi thăm, để biết là mình đang nghĩ đến và chia sẻ với người thân?

 Đúng là cuộc sống hôm nay tất bật, nhưng một cuộc gọi, một tin nhắn để biết rằng đang nghĩ đến nhau là luôn cần thiết.

           Với một khoảng cách quá xa, có khi cách nhau nửa vòng trái đất, thì một tin nhắn có nghĩa là ta vẫn hiện diện khi… đang vắng mặt. Người ở xa cũng không đòi hỏi gì nhiều. Một cuộc gọi ngẫu nhiên, để một thoáng quên đi những bận bịu cơm áo thường ngày hay tạm quên đi những muộn phiền không đáng nhớ. Nghe giọng một người quen ở xa là một niềm an ủi. Biết rằng trên đời này còn có ai đó nhớ đến mình.

           Gọi thăm thôi. Cần chi mục đích? Vì thực ra mục đích quý báu nhất là thăm hỏi mà không có mục đích nào.

          Nhưng dường như mỗi cuộc gặp gỡ, mỗi cú điện thoại đều vì một điều gì. Không cần, không liên lạc!

 Ngày nay, con người thực dụng nên cân đong đo đếm tình cảm bằng những điều kiện sinh tồn chăng? Đôi lúc vì dửng dưng mà ta làm nhạt nhòa những tình cảm đẹp, đánh mất những hạnh phúc giản đơn.

Với các lý do “gần như” hợp lý, nhiều người biện minh cho sự bận rộn vì nỗi lo cơm áo, mà thực tế là trên mạng xã hội hằng ngày họ vẫn đưa hình khoe con khoe cháu, tiệc tùng ăn uống hay hiện diện ở các địa điểm du lịch đấy thôi.

 Hãy sử dụng tốt thời gian vì không ai biết mình sẽ còn bao lâu nữa.

Hơn hai năm bị mắc kẹt Covid ở Ý, tôi đã nhận ra: có một số người nếu không chủ động tìm, họ chẳng bao giờ hỏi đến. Nhờ thời gian đó mà hiểu ai mới thật sự là người quan tâm đến mình.

May là suốt những ngày bị cách ly ở Milano vì  Covid.19… tôi đã sống toàn tâm toàn ý với tình yêu văn chương. Đọc và viết rất nhiều. Tôi dành trọn ngày đêm để viết những quyển sách của mình, thi thoảng sửa lại một vài truyện ngắn hay dịch vài đoạn văn hay. Trên bàn làm việc luôn có một bình hoa nhỏ đa sắc mà Elena đã trang điểm cho không gian sáng tác. Phòng làm việc có một cửa sổ lớn nhìn ra ngoài, bầu trời có khi xám xịt, có lúc trong sáng tùy theo mùa. Những lúc nghĩ ngợi, tôi thường nhìn cây lê đơm hoa trắng muốt báo  mùa xuân, rồi hoa rụng báo mùa hè, rồi lại lá lại vàng để báo thu sang, sau đó thì trút lá, cành trần trụi trong sương tuyết khi một mùa đông đang đến. Hoa lê trắng còn nở lần thứ hai để mùa xuân khác đến rồi sẽ sớm trôi qua vào mùa hè, mùa thu và mùa đông thứ hai. Thế giới, ký ức về Việt Nam như càng ngày càng xa.

 Thế rồi, đùng một cái, ánh sáng như chói chang rực rỡ hơn từ cái thế giới sáng tạo chiếu vào cái không gian chật hẹp tù túng của những ngày bị cách ly, khi tiểu thuyết Ước Hẹn Cuối Cùng bước vào giai đọan cuối. Nhìn khuôn mặt rạng rỡ của tôi, Elena liền hỏi: anh viết xong rồi hả? Năm mươi năm qua, không cảm xúc nào của tôi mà không bị vợ mình phát hiện.  Suốt hơn hai năm tôi đắm mình cho tiểu thuyết, miệt mài buồn vui hạnh phúc khổ đau cùng nhân vật. Câu chuyện trong tiểu thuyết vô vàn đắm say mà cũng đầy thăng trầm, sầu khổ. Nhưng câu trả lời của tôi là một tràng cười. Điều kỳ lạ là tiếng cười của mình làm tôi kinh ngạc. Cảm tưởng như 50 năm về trước tôi đã nghe chính giọng của mình trong một máy ghi âm trên băng casette. Lúc đầu tôi hoàn toàn không nhận ra, tuy nó đúng là giọng của tôi, nhưng đó là cái giọng mà người khác nghe chứ không phải cái giọng mà bản thân tôi nghe được như máu thịt đến từ bên trong của con người mình.

Suốt hai năm qua tôi âm thầm và im lặng làm bạn cùng nhân vật, hòa mình với những đau thương, chết chóc nên tôi như đã quên đi thực tại. Cười như thế nào? Và bây giờ giống như lần đầu tiên tôi nghe tiếng mình cười.

Lệnh giãn cách lúc này đang nới lỏng và sắp chấm hết. Tôi sẽ được tự do bay về Việt Nam để gặp lại bạn bè và lo việc in ấn tác phẩm tâm huyết của mình. Thế nhưng khi dịch bản thảo ra tiếng Ý- L’ultima promessa- cho hai người  bạn thân thì họ khuyên nên in trước bằng tiếng Ý vì bối cảnh tiểu thuyết ở Milano và những vấn đề liên quan đến văn hóa và luật pháp ở Ý…

 Tôi sẽ làm gì với ánh sáng chói chang của những ngày “tự do” sắp tới? Tôi sẽ làm gì với những thói quen cũ, gặp gỡ bạn bè bị gián đoạn sau một thời gian dài? Một quyển sách sắp in không thể trả lại cho tôi những ngày bị cướp mất vì đại dịch. Nó như một đứa con sắp được sinh ra, cần phải chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ, giúp nó tránh những cạm bẫy, những phê phán, đố kỵ hay yêu thương chào đón… tất cả những hệ quả mà mình đã mường tượng trong lúc hình thành câu chữ. Vâng, tôi biết khi sách ra đời, nó cũng không thể nào tránh được những hệ lụy như một con người, cái đề tài mà trước đây tôi đã từng trăn trở khi viết tiểu thuyết Trò chuyện với thiên thần.

Milano 10.2022

https://www.facebook.com/xuan.truong.967/posts/pfbid0FFTLTjRWF37HZZ7whyzECQncZH9cqc2TJEJAjwz4v8YikkQsxPgBSmNcCQjhuEbVl?__cft__%5B0%5D=AZXOaD3iPbWlIZ5AIea8MECNklMIFJ0Ti9GhCtunxL4PA-TDtYexTC6F36mv9Pca7oI-5VctPQ2lOvdNtZfG1bOEnfcNafnmm2JgRxlSGGq7hmnklU6CG_PFgprfTlcjmL6bDXKZ7CemgErqv7JcUZg7jKyEDPxzDXY72N_Si0shxg&__cft__%5B1%5D=AZXOaD3iPbWlIZ5AIea8MECNklMIFJ0Ti9GhCtunxL4PA-TDtYexTC6F36mv9Pca7oI-5VctPQ2lOvdNtZfG1bOEnfcNafnmm2JgRxlSGGq7hmnklU6CG_PFgprfTlcjmL6bDXKZ7CemgErqv7JcUZg7jKyEDPxzDXY72N_Si0shxg&__tn__=%2CO%2CP-R%5D-R  19.6.2023

Xuan Truong cùng với Minh Truong và  8 người khác

Một truyện ngắn hay cho ngày Father’s Day của nhà văn Trương văn Dân.  Xin mời đọc:

BỨC ẢNH VÀ CHỒNG THƯ CŨ.

Quãng thời gian dài 50 năm như dồn lại trong tích tắc! Nước mắt chỉ chực trào ra còn trái tim đập liên hồi như con chim đang sải cánh bay qua eo biển.

Mở cái hộp giấy bị quên lãng sau những đợt chuyển nhà, trước mắt tôi hiện ra một túi ny lông mà khi trút ra bên trong có một chồng thư cũ.

Những bức thư của gia đình mà chủ yếu là những bức thư của ba tôi đã gửi trong suốt 36 năm tôi sống ở nước ngoài, cho đến ngày ông mất.


[1] https://www.bbc.com/vietnamese/culture-social-52089979?fbclid=IwAR3B-XnOx36srzUb5qkbVbwLumAjeZvl6Uld_e6QJUDnLQrysJazTeANZlw

Read Full Post »

Elena Pucillo Truong

 

       ( Nguyên tác : Un istante di liberta’)

          Bản dịch của Trương Văn Dân

.

 “ Kính chào bà tiến sĩ De Rossi”

          Tôi vừa bước ra thang máy thì một trong các cô thư ký đã mang đến tách cà phê đầu tiên trong ngày. Tôi nói đầu tiên vì sau đó hãy còn nhiều tách nữa, không biết là bao.

          Một cô thư ký khác vội chạy đến giúp tôi cởi chiếc áo choàng, còn tôi, bó mình trong chiếc tailleur cực kỳ sang trọng, đi vòng qua phía sau vị trí điều hành, đặt chiếc cặp da có đựng notebook lên bàn làm việc.

 Biết bao kẻ muốn được mó tay vào chiếc máy tính cá nhân này! Chỉ cần nhấn vài nút bấm là tất cả những áp phe quan trọng của các công ty lớn, những chuyển dịch hằng triệu đô la  trên sàn chứng khoán sẽ tuần tự hiện lên bằng các mã số, để đảm bảo an toàn.

Một cú nhắp chuột… thế là tất cả những kế hoạch chi tiết và toàn bộ hồ sơ tuyệt mật của công ty Intracodex sẽ nằm gọn trong tay tôi. Định bật máy và liếc mắt vào công việc …nhưng mùi cà phê thơm phức đang kích động khứu giác làm tôi dừng lại.

Cầm tách cà phê nóng, tôi bước đến cạnh bức tường và nhìn xuống dòng đời từ tầng thứ 23! Ở trên đây không bao giờ nghe thấy tiếng ồn đô thị và dường như trong không gian luôn có một lớp sương mù nên quang cảnh trông có vẻ lãng đãng, giống như nhìn từ một giấc mơ.

 Rồi trong lúc áp môi lên tách cà phê lên tôi bất chợt nhìn thấy bóng mình phản chiếu lên tấm kính.

Tôi đang đứng đối diện với tòa nhà bằng kính. Mái tóc đen và dài, chiếc tailleur  trang nhã bó sát người, như thể người thợ may khéo léo ướm xấp vải vào thân mình trước khi đo cắt. Đôi chân khỏe và dài, còn được kéo dài thêm với đôi giày son cao gót. Chuyên nghiệp, quyền hành và nữ tính. Tất cả những vũ khí tối cần cho thế giới này. Thế giới của tôi.

Nhưng nét xanh xao tái nhợt trên khuôn mặt dường như tương phản với đường viền bằng son đỏ trên môi. Hai bờ môi thẳng nếp, mỏng manh mà sắc bén như một lưỡi lam, lạnh lùng như cái nhìn khinh mạn khi tôi quắc mắt. Bỗng dưng tôi không thể nhấm tiếp mùi vị cà phê. Hình như lúc này nó có vị chát của acit.

Phản chiếu trên tấm kính tôi nhìn thấy sau lưng mình cô ba cô thư ký tay cầm xấp hồ sơ đang chờ tôi ký. Cả ba căng thẳng đi qua đi lại sau lưng, hồi hộp chờ tôi quay mặt để trình bày công việc, báo cáo những cú điện thoại, nhắc nhở các cuộc hẹn và chờ tôi ra lệnh…nhưng tôi không thể tách đôi mắt đang nhìn bóng mình trên kính. Tôi không còn nhận ra mình nữa… sao mà tôi có thể biến thành một con người khô cứng và lạnh lùng đến thế?

Mười năm trôi qua như một ánh chớp… và bất thình lình tôi cảm thấy chúng đè nặng lên vai, một con mụ già cáu gắt. A! đúng rồi, đây chính là cái tôi đang nhìn thấy trên kính, một mụ đàn bà khô khốc, khó tính và cáu kỉnh. 

Tất cả bắt đầu như một phản ứng.

“ Con sẽ không bao giờ giống mẹ! ” tôi nghe vọng lại tiếng mình hét vào mặt mẹ. Bà yếu đuối, vâng lời, cam chịu, thụ động và chấp nhận mọi thứ… không bao giờ dám phản ứng, ngay cả những lúc ba tôi đối xử với bà bằng bạo lực, trước khi ruồng bỏ. Thế mà bà vẫn nhẫn nhục và chịu đựng. Rồi, không thèm nói một lời, ông lặng lẽ bỏ đi. Bỏ lại bà một thân một mình với nhiều món nợ. Gồm cả giấy cầm cố căn nhà.

Và chỉ vài ngày sau đó mẹ con tôi phải dọn đi.

Và thế là tôi không thể sống giống mẹ mình. Tôi không cần trái tim. Tôi không còn tình cảm. Chỉ lao đầu vào việc học, làm mọi thứ để tích lũy kinh nghiệm, dẫm đạp lên mọi thứ và mọi người. Tôi là mẫu người đàn bà của sự nghiệp, hay đúng hơn là một gã đàn ông trong thân xác một con đàn bà. Bởi vì tôi không còn giới tính, không có tình yêu; dĩ nhiên tôi vẫn có đàn ông, nhưng họ chỉ là những công cụ để tôi sử dụng rồi quên ngay, vì họ không cho tôi được gì mà tôi cũng chẳng để lại cho họ chút gì.

Cho đến lúc ấy tôi chưa bao giờ dừng lại để nhìn thấy mình đã trở thành người như thế nào. Chắc rồi…tôi đang đứng trên đỉnh cao của danh vọng, vị trí cao ngất mà mọi người thèm muốn… nhưng đó thực ra là thứ danh vọng gì? Bao nhiêu người đang cho rằng tôi đang thành đạt.

Đúng rồi, mà “đạt” được gì? Đã bốn mươi tuổi mà tôi không có một mái gia đình, không có một đứa con, chẳng có một ai đó thỉnh thoảng hỏi tôi có khỏe không và quan tâm đến việc tôi có vui vì những công việc của mình không. Không ai cả. Gia đình, thậm chí một người bạn.

Chậm rãi, tôi xoay lưng lại, thật khó nhọc rời hình ảnh của mình trên kiếng. Bàn tay tôi run rẩy khi đặt tách cà phê lên bàn. Bỗng dưng tôi cảm thấy như có một cơn nôn mửa đang trồi lên từ phía dưới.

Tôi đã không muốn sống như mẹ mình, nhẫn nhục, cam chịu…nhưng vì thế mà tôi đã trở thành một bản sao của ba tôi. Tôi hận ông! Thế nhưng bây giờ tôi thấy mình giống ổng, tôi đã cư xử với mọi người giống ổng, có khi còn tệ hơn.

Đối với tôi không còn ai cả, không một người nào, chẳng chút tình cảm…và tiền bạc thực ra chỉ là một phương tiện để tiếp tục dẫm đạp lên người khác.

Lạnh lùng và minh mẫn, tôi mạnh mẽ bước đến chiếc ghế bành bọc da và chễm chệ thả người lên đó trong lúc ba đôi mắt đang hồi hộp nhìn tôi từ phía bên kia bàn giấy.

“Mấy cô nhìn cái gì? Đặt mọi thứ lên bàn đi. Một lát nữa tôi sẽ gọi!”

Tôi nói to, làm cả bọn giật mình.

Ngay lúc đó tôi cũng chẳng nhớ tên của bọn họ là gì. Tôi chỉ muốn ngồi lại, một mình. Tôi mệt mỏi lắm rồi! Trong lúc ấp đầu vào giữa hai tay, bàn tay áp chặt vào mắt để khỏi phải nhìn thấy sự thật đang phản chiếu từ khung kính. Hằng ngàn khuôn mặt, tất cả đều là những góc cạnh của chính mình. Tất cả để cuối cùng chỉ còn lại một mình. Cô độc. Cô độc trong công việc. Cô độc giữa đám đông. Hoàn toàn cô độc. Cố tình cô độc. Rồi, như bất thình lình, cơn nôn mửa vụt biến thành cơn giận dữ, và bằng tất cả  sức mạnh, tôi cầm lấy chiếc tách cà phê, ném thẳng vào mặt kính.

Vô ích!

Mặt kính chỉ hơi rạn một chút chứ chẳng hề hấn gì. Đó chỉ là hành động vô ích nhằm giải thoát cơn giận. Thôi, đủ rồi! Tôi thấy mình ngạt thở. Tôi không thể nào tiếp tục ngồi đây.

  Phủ vội chiếc áo khoác lên người, tôi cầm chiếc túi xách rồi chạy ào ra thang máy.

Bàn tay run rẩy, tôi nhấn nút đi xuống, im lặng chờ xuống mặt đất, luồn lách giữa dòng người vô danh mà chưa bao giờ tôi muốn thân quen. Ra ngoài thôi, hít chút không khí giữa đất trời mở rộng.

Ánh nắng ngoài đường làm tôi lóa mắt. Một tay che mắt, còn tay kia  nắm chặt bâu áo khoác để che cơn gió lạnh vừa ập đến lúc bước ra khỏi cửa. Cho đến lúc đó, đối với tôi chưa bao giờ có nắng, có mưa, có ánh đỏ hoàng hôn hay tiếng cười, giọng khóc.

Máy bay, điện thoại di động, bàn giấy, máy tính…tất cả khô khan, vô cảm…tôi luôn luôn chạy đua với thời gian mà chẳng biết mình đi đâu, ngược lại, hình như chỉ để rời xa thêm cái cuộc đời mà tôi muốn có mà chỉ lúc này tôi mới biết là mình đã đánh mất. Tôi đã sinh ra mà chưa từng sống và lúc này mới đau đớn nhận ra là cả cuộc đời mình trống rỗng và vô ích.

Thiếu chút nữa là tôi bị một chiếc xe hơi đụng phải. Tôi ngơ ngác không biết mình đang làm gì và cứ băng qua đường mà không nhận biết. Nhưng không phải phản xạ đã giúp tôi tránh được tai nạn… mà có một  bàn tay vừa nắm cánh tay tôi, giật mạnh. Tôi xoay người theo bản năng để nhìn xem đó là ai.

Một đôi mắt màu hạt dẻ là cái đầu tiên mà tôi nhìn thấy. Nhưng nó không xa lạ với tôi. Đó là  đôi mắt của một trong ba cô thư ký…

Sao lại có thể như vậy được?

“ Tôi đây, Lidia đây mà, thưa bà tiến sĩ. Bà theo tôi… chúng ta đến chỗ kia ngồi một lát nhé!”

Như đứa bé, tôi để cô gái kéo mình đến một chiếc băng dài, tâm trạng gần như vui thích vì có một ai đó để ý và quan tâm đến mình.

“ Đây rồi, bà đã đỡ chưa? Có chút nắng nữa. Sau mấy ngày mưa mặt trời sẽ sưởi ấm chúng ta.”   Có lẽ tôi chẳng nghe cô ấy nói gì nhưng tôi bắt đầu thấy mình bình tĩnh lại, giọng nói của cô gái làm tôi an tâm.

Cô ta tiếp tục mà dường như tôi không hiểu hết những gì cô ta nói. Điều bất ngờ là những giọt nước mắt bỗng dưng lăn dài xuống má, chảy xuống cằm và tôi phải dùng bàn tay để lau. Lidia vội lấy khăn giấy và nhẹ nhàng chặm mắt cho tôi. “ Bà cứ để tôi lau cho, còn mấy vết đen nằm dưới mắt nữa kìa!”. Lâu lắm rồi chẳng còn ai  để ý và chăm sóc tôi. “ Bây giờ đỡ rồi đấy. Đi! Chúng ta phải về lại văn phòng …”  

Tôi vùng vẫy, cố gỡ bàn tay của cô gái đang nắm chặt lấy cánh tay mình.

Cô ta giữ lại trong khi tôi cố vùng ra để trốn chạy, thật xa cái tòa tháp mạ vàng lâu nay cứ làm mình ngộp thở.

“ Mình đi lên nhé… còn bao nhiêu việc phải làm. Bao nhiêu hồ sơ đang chờ bà ký….Bà chưa thể  bỏ đi được đâu…”

Bàn tay thép của cô gái như đang siết chặt hơn. Lidia kéo tôi, và từng bước chúng tôi bước vào cửa tháp, bên trong những bức tường bằng kính và tôi như không còn sinh lực, cứ để mặc cho cô ta kéo mình vào bên trong nhà ngục.

Read Full Post »

Elena Pucillo Truong

                                                ( Nguyên tác : l’ultimo calore )

   Bản dịch của Trương Văn Dân

.

            May quá, tôi đã chạy thoát …

Đã từ lâu tôi đã nghĩ đến chuyện trốn chạy vì không thể trải qua một mùa Giáng Sinh nữa trong hoàn cảnh này. Ngay từ lúc đặt chân đến bệnh viện hoành tráng ấy, ý tưởng duy nhất  trong đầu tôi là bỏ trốn. Chạy, thật xa nơi chốn ấy..

Đi chân trần để khỏi gây tiếng  động, một tay tôi cầm đôi giày còn tay kia cầm chiếc gậy và một túi ny-lon, tôi mệt nhọc dò dẫm trong bóng tối của màn đêm.. Chẳng có ai nhìn thấy…. Mấy cô y tá đang bận xem TV hay ăn uống, còn các chú bảo vệ thì đang dúi đầu vào màn hình điện thoại để vi vu trên Facebook… Họ chỉ có thể phát hiện vào sáng mai, khi cô y tá bước vào phòng để đánh thức tôi và khám phá ra là dưới chiếc mền trùm kín, chỉ có hai chiếc gối nằm dưới tấm drap, xếp đặt như một người đang nằm ngủ.


            Bây giờ thì tôi có thể mang đôi giày vào chân và từng bước, từng bước rời xa cái nơi chốn khốn nạn này. Tôi muốn chạy đến khu rừng thông mà hằng ngày thường nhìn thấy qua khung cửa sổ. Chắc chẳng xa gì lắm.

Thời còn trẻ tôi đi khá nhanh, cứ tưởng mình có thể nắm bắt thế giới này trong bàn tay…nhưng giờ đây tôi chỉ là một ông lão già nua. Bệnh tật và cô độc.

Tôi phải làm bất cứ điều gì có thể để có thể trốn khỏi cái bệnh viện, mà thực chất là một nhà ngục nạm vàng. Còn căn nhà của các con thì đúng là địa ngục.

Dĩ nhiên trước đây tôi chưa bao giờ ngờ tới.

Tất cả được bắt đầu sau đám tang của em, em yêu ạ. Trở về nhà, anh chỉ muốn xa cách với tất cả bọn người cứ luôn mồm cười nói, ngồi một mình để ngẫm nghĩ về những gì sẽ xảy đến với mình. Trong anh vẫn còn lòng ham sống nhưng ý nghĩ là em không còn trên đời này nữa làm anh đau đớn. Đau không chịu nổi! Dĩ nhiên anh cũng có thể tự mình nấu ăn, dành thời gian để đọc, để viết, nhưng anh chợt nhận ra là mình không thể nào bước vào căn phòng ngủ, nằm trên chiếc giường mà mình đã từng ôm nhau rồi chìm sâu vào giấc ngủ và thức giấc bằng một nụ hôn. Biết bao lần bàn tay của em sờ soạng nắm lấy tay anh rồi ngủ tiếp, như vừa được  trấn an vì có anh nằm bên cạnh. Bao nhiêu niềm vui và đam mê đã được thắp sáng trong trái tim chúng mình, thay vì suy giảm, chúng lại được tăng lên cùng năm tháng, trong một tình yêu ngày càng khắn khít, thơm ngon như hương vị của một thứ rượu vang được ủ lâu năm trong thùng gỗ quý.

Vì những hoài niệm đau buồn đó nên anh quyết định đóng kín căn phòng bằng ổ khóa. Và ngay từ lúc ấy anh biết mình đang bắt đầu đi vào cõi chết.

Em yêu ơi, em có biết sự cô đơn là một căn bệnh trầm kha? 

Dần dà, mọi người cố gắng thuyết phục anh về sống ở nhà đứa con trai. Và đây chính là bước đầu tiên để anh bị giam trong tù. Anh ngu ngốc quá!

Em yêu ơi, lúc em còn sống, anh chỉ biết đến công việc nhưng chỉ cần nghĩ đời mình có em là anh đã vui rồi. Sau này các con mới xuất hiện, và anh từng nghĩ là chúng sẽ lớn lên như mơ ước của chúng mình. Chỉ đến bây giờ anh mới hiểu là điều đó không bao giờ có. Dù chúng ta đã gieo những hạt mầm đúng đắn, đã cố gắng truyền đạt những giá trị quan trọng về cuộc đời, dạy chúng biết thế nào là lòng bác ái, về tình người và tâm từ bi. Em ơi, anh vừa mới nhận ra là mình đang nói chuyện với em dù biết em không còn trên đời này nữa.

Nhưng có lẽ là em đã may mắn  hơn anh, vì sớm từ giã cõi đời ô trọc này để khỏi phải chứng kiến sự lãnh đạm, sự khinh thường và bạc bẽo của các con. Tất cả mọi đứa, không chừa đứa nào. Ngay cả con gái út cũng không chứng tỏ là trong lòng nó còn chút tình cảm nào.

Tôi đi, như chạy. Mệt lắm, nhưng chắc cũng sắp đến nơi. Tôi bắt đầu nhìn thấy những chóp đỉnh của hàng thông được chiếu sáng bởi một mảnh trăng non. Tiếng rì rào của biển cũng dường như đang vọng tới. Tôi còn nghe được một vị mặn đậm đà của đại dương hòa lẫn với mùi của rừng thông.

Còn nhớ không em, đêm đó, bên bờ biển, chúng mình đã ẩn mình giữa những chiếc thuyền đánh cá để nồng ấm yêu nhau? Bao nhiêu vì sao đang lấp lánh trên bầu trời và mùi thơm của biển cứ hòa trộn vào vị mặn của môi nhau.

Bây giờ thì cũng có những vì sao lấp lánh trên đầu anh, lúc anh ngồi tựa lưng vào một cây thông và hai bàn tay ve vuốt hàng cỏ ướt. Có một bầy đom đóm đang bay giữa những lùm cây. Có phải là em đã mời chúng đến đây, để anh khỏi cô đơn trong buổi tối cuối cùng?

Chính sự cô đơn là điều làm anh đau khổ nhất. Anh liên tục nhìn thấy em bên cạnh mình. Anh kể lể với em về mọi chuyện. Anh thấy thiếu vắng vì không được chạm vào em, cảm nhận được bàn tay mềm mại và êm ái của em thường dịu dàng ve vuốt khuôn mặt anh, nụ hôn của em mỗi sớm mai thức giấc, những chuyện vặt vãnh trong ngày mà chúng mình thường cười đùa như hai kẻ đồng lõa.

Anh không thể tưởng tượng là em sẽ đau đớn như thế nào khi nhìn thấy những đứa con cười chế diễu khi nhìn những bức hình của chúng mình âu yếm bên nhau, chứng kiến những quyển sách yêu thích bị ném đi tung tóe. Chúng đã vứt đi mọi thứ, như loại bỏ mình, bởi vì sự hiện hữu của chúng mình lúc tuổi già đang làm phiền chúng.

Nhưng chỉ còn vài giờ nữa thôi. Anh cũng sẽ không còn nữa. Anh sẽ vĩnh viễn chấm dứt mọi sự phiền hà.

    Đủ rồi! Anh không muốn phung phí những giây phút cuối cùng này để nghĩ đến những kẻ vô tình bạc nghĩa.

    Khô khốc và tham lam, đấy chính là những thứ mà các con đã trở thành.

Anh như vừa nghe lại buổi tranh cãi cuối cùng của chúng :

  • Bác sĩ nói cần cho ổng nhập viện…
  • Vậy là phí bao nhiêu tiền của.
  • Thì dùng tiền mà ổng bả để dành đó…
  • Thế thì còn gì cho bọn mình? Một mớ tiền lẻ à?   Biết đâu thằng cha già vô dụng này chưa chịu chết…và thế là hết sạch…
  • Câm mồm đi. Chính mầy đã bán căn nhà của ổng và còn đang giữ tiền…

         Bao nhiêu điều xấu xa và kinh tởm mà anh đã phải nghe! Thế nhưng anh câm lặng, giả bộ như chẳng hay biết gì. Nhưng đêm đó, vì quá đau đớn mà sức khỏe của anh bị một cơn suy sụp.

  • Bây giờ mình phải làm gì đây? Nếu tao phải mang lão đến bệnh viện thì làm sao có thể tham dự đám cưới của sếp…Thôi, cứ bỏ mặc lão. Nếu lão chết thì càng tốt. Mình tiết kiệm được tiền bạc và thời gian.

            Anh không thể nào chịu nổi sự khốn nạn kinh tởm này. Anh ngồi bật dậy và to giọng nguyền rủa chúng, là anh không muốn ở với chúng thêm một phút nào.

Bọn chúng chỉ khó chịu chứ không có ai giật mình vì phản ứng đột ngột của anh. Một đứa chở anh vào bệnh viện. Và anh biết là định mệnh của mình đã được an bài. Trước hoặc sau gì cũng có một cú đột quỵ, sau đó có thể là bán thân bất toại hay tệ hơn, không thở được, anh sẽ bị đút các loại ống linh tinh để sau đó chết trong đau đớn.

Nhưng nỗi đau lớn nhất vẫn là bị bao vây bởi đám diều hâu tham ác này, chúng đang chờ đợi và thèm rõ dãi đoạn kết đời anh để thừa hưởng gia tài, rồi sau đó còn lớn tiếng rêu rao là đã ở kề cận cha mình cho đến phút lâm chung!

Bọn khốn kiếp! Giả nhân giả nghĩa! 

            Đủ rồi! Đủ rồi! Đã bao lần tôi hét lên như thế, không muốn nghĩ đến, nhưng lại chẳng thể quên. Tôi bắt đầu cầm lấy chai nước và lọ thuốc nằm trong bao nylon. Mình giỏi thật, đã tính toán chi ly mọi thứ từ lâu. Mỗi ngày tôi đều để dành một viên thuốc ngủ, giả bộ như vừa mới uống, ngoan ngoãn thực hành lời căn dặn của các y tá.

Một nắm thuốc trong lòng bàn tay. Một ngụm nước. Môt ngụm nữa. Một cơn ho rồi vận sức nuốt xuống. Được rồi. Bấy nhiêu đó là quá đủ để trái tim già này ngưng đập.

Đêm nay không lạnh lắm. Chỉ có vài cơn gió nhẹ và anh dường như vừa nhìn thấy ánh hồng ở phương Đông.

            Thế nhưng anh muốn tìm một chút hơi ấm. Muốn cảm nhận rằng em đang nằm gọn trong vòng tay anh, giống như bữa chúng mình đi hái cherri, trái chín, mọng đỏ như môi em. Anh vừa ăn, vừa hôn em, nép mình dưới bóng mát những cành cây trĩu quả.

Anh chợt sờ lấy môi mình như thể muốn tìm lại cảm giác đó, nghe lại mùi vị của môi em mềm mại và đỏ mọng…ôi, anh yêu em nhiều lắm… và anh thấy trống vắng làm sao!

            Anh bắt đầu nghe một cảm giác rất lạ trong cơ thể mình. Như một cơn buồn ngủ. Bình minh cũng vừa ló dạng. Ngày đang ửng sáng. Và những vì sao dường như cũng tắt dần. Bỗng anh thấy lạnh. Vội nép mình vào gốc cây để tránh gió. Một cơn rùng mình rất khẽ. Một cảm giác thật lạ lăn trên má, chạy xuống môi. Rồi một hơi ấm ở đâu tràn tới, như thể anh đang nằm giữa vòng tay của ai.  A, hiểu rồi, là em, người yêu quý nhất của anh.

            Cảm ơn em đã không để anh chết một mình. Tìm lại nhau, hạnh phúc biết bao! Và giờ đây, mãi mãi bên nhau.

Read Full Post »

Elena Pucillo Truong

Lại một chuyến đi khác, điểm đến : biển Vũng Tàu.

          Chỉ vài ngày để sống cùng cảm xúc và chọn những niềm vui. Ý định ban đầu là vậy, chương trình đã được sắp xếp nhưng sau đó cũng có một vài thay đổi.

          Phải nói là trong mọi cuộc phiêu lưu, anh em Quán Văn đều vui vẻ vì được sống gần nhau: Những trận cười bất tận, những câu nói trêu ghẹo bạn bè, câu này bất ngờ tiếp theo câu khác… và cuộc chơi chữ nghĩa  thường biến thành một trận bóng bàn thú vị giữa những người yêu văn thơ.

Điều mang lại hương vị cho cuộc chơi chính là sự dí dỏm và trí thông minh ngôn ngữ, của những câu chữ đa nghĩa được tung ra để khiêu khích và chờ đợi câu trả lời, và sau đó là một trận cười  giòn giã.

          Thực ra, là bạn cũng có nghĩa là có chung một thứ ngôn ngữ và chỉ qua một ánh nhìn là có thể hiểu nhau. Một nhóm có thể rất nhỏ hay nới rộng ra nhiều người, và đìều quan trọng chính là sự nối kết giữa những thành viên.

          Nhóm Quán Văn cùng với thời gian đã được mở rộng: Các nhà văn, những nhà thơ, nhà báo, họa sĩ hay nhiếp ảnh, độc giả và cộng tác viên… mỗi người đều tự hòa mình và góp phần chung vui, dưới cái nhìn thân thiện và  minh triết của nhà văn Nguyên Minh.

          Mỗi lần họp mặt đều vui như một truyện cổ tích, tuy nhiên cũng có lúc nỗi buồn hiện lên nét mặt mọi người khi có ai nhắc về một vài người bạn đã không còn nữa. Cuộc sống vẫn tiếp tục đi tới nhưng nhiều khi quá khứ cũng quay lại gây nhiều buồn khổ, còn bây giờ nỗi buồn ấy tuy đã lắng đọng nhưng vẫn còn đấy những tiếc thương. Chỉ cần ai nhắc đến những người bạn ở Pháp, ở Virginia hay ở một địa phương nào khác là trên mắt mọi người đều ươn ướt. Nhưng nỗi buồn rồi cũng vượt qua khi nhớ lại những tiếng cười. Đúng rồi, con người ta hay nhớ về những trận cười, và những khoảng lặng.

Sự yên lặng có thể có nhiều ý nghĩa và có khi đó cũng là những  diễn ngôn sâu sắc.  Nó giúp chúng ta hiểu nhau bằng ánh mắt và bằng cả trái tim.

Đó là tất cả những gì mà tôi suy nghĩ trong suốt chuyến đi và cuối cùng chúng tôi đã đến Vũng Tàu.

 Biển rất đẹp!

Chúng tôi đến vào lúc hoàng hôn và tất cả cùng rời phòng để ra ngồi ở một quán cà phê trên bãi biển để uống một thứ gì. Gió mang mùi biển phả lên người chúng tôi. Bờ biển vắng, chỉ có mấy người đi dọc theo mé nước.

          Một giờ ngồi bên nhau để trò chuyện và thư giãn cho đến khi bóng chiều đổ dài và màn đêm buông xuống. Cũng chính thứ ánh sáng mập mờ và mùi vị của biển như thế này đã đánh thức trí nhớ tôi về một buổi chiều trên bãi biển… rất nhiều năm về trước.

          Chúng tôi hai người cùng nắm tay đi dạo, thỉnh thoảng trao cho nhau những nụ hôn, rồi sau đó nằm nép mình trên vũng cát nhỏ giữa những chiếc thuyền được kéo lên bờ dưới bầu trời đầy sao. Cả hai đều im lặng, lắng nghe tiếng rì rào của biển. Một  giây phút ngắn ngủi nhưng đẹp tuyệt. Và  còn đẹp hơn vì cho đến giờ này chúng tôi vẫn còn sống bên nhau để nhắc về những kỷ niệm. Nhưng lần này chúng tôi không chỉ có nhau mà xung quanh còn có rất nhiều bạn bè thân thiết, có lúc nó cho tôi cảm giác là mình đang sống thật đơn giản nhưng với thật nhiều cảm xúc, như những trẻ em được thầy cô dắt đi du ngoạn.

Buổi sáng chúng tôi thức dậy thật sớm và gần như tất cả đều ra biển để ngắm bình minh. Giữa những đám mây dày, đây rồi, một khối cầu lửa đang từ từ từ xuất hiện, làm bầu trời ửng vàng rồi chiếu xuống mặt biển ở cuối chân trời.

Như những đứa bé, vài người chúng tôi vừa reo hò vừa chạy ào, nhảy ùm xuống biển; Những người khác đang mải miết chụp hình bầu trời màu vàng cam nhờ ánh sáng của bình minh. Trong những lúc đó có nhiều trận cười mà cũng có những khoảng lặng. Nhưng đứng trước sự mênh mông, vào lúc bắt đầu một ngày mới tâm hồn đâu có thể dửng dưng.

Riêng với tôi có lẽ còn hơn thế nữa, vì chúng tôi đang cùng sống lại những giây phút đẹp đẽ và sâu lắng bên nhau, giống như một buổi tối nhiều năm trước dưới bầu trời đầy sao.

          Anh Nguyên Minh ơi, bao giờ Quán Văn chúng ta lại bắt đầu một cuộc phiêu lưu mới nữa?

Sài Gòn 03/05/2016

                   (Trương Văn Dân dịch từ nguyên tác  tiếng Ý: L’alba dorata sul mare)

Read Full Post »

Elena Pucillo Truong

( Nguyên tác : Un dolce sogno d’autunno)

  Bản dịch của Trương Văn Dân

.

Tất cả trắng toát và lạnh lẽo xung quanh tôi. 

Những bức tường  trắng và ngay cả thành giường bằng thép để tôi khỏi ngã.

            Có lẽ vì thế mà tôi rất thích cái cây phong nằm bên ngoài cửa sổ, vật duy nhất cho tôi hay là thời gian vẫn đang trôi. Bên ngoài mọi thứ đang đổi mới và đổi thay.

Có một điều gì đó cũng đang thay đổi trong tôi, nhưng từ từ…chậm rãi, không đau đớn.

Tôi nhớ là khi mình vừa mới đến, căn phòng liền ngập đầy bác sĩ và y tá; tất cả đều rộn ràng chuẩn bị để tấn công căn bệnh một cách quyết liệt, không khoan nhượng.

Nhưng thực ra là cuộc chiến không khoan nhượng đó đang nhắm vào tôi… Không ai hỏi tôi muốn gì. Họ đến vào buổi sáng, viết lên bệnh án cái gì đó, bảo y tá truyền nước biển cho tôi, rồi đi.

Ngày hôm sau cũng thế. Mà thực ra tôi có gì khác nữa đâu để mà chọn lựa.

Từ mấy hôm nay có một người nào đó đến vào buổi sáng… sau đó thì tôi ngủ. Tôi ngủ càng lúc càng nhiều và tôi không thích điều đó.

Không thích vì tôi muốn tưởng tượng hay nhớ về một điều gì, nhưng tôi lại nằm mơ.

Tôi mơ thấy mình bơi lội trong làn nước biển xanh trong mát mẻ, có những tia nắng vàng phản chiếu với những giọt nước mặn trên làn da sạm nắng. Tôi mơ thấy mình đi xe đạp ở miền quê, giữa những cánh đồng lúa xanh rì.

Tôi mơ nhiều thứ, mà rồi khi thức giấc, đôi mắt chỉ nhìn thấy bức tường trắng trước mặt.

Thế là tôi xoay người hướng về phía cửa sổ và nhìn thấy bạn tôi. Đó là người duy nhất có thể hiểu những gì mà tôi cảm nhận. Tôi quan sát đôi bướm đang bay lượn như hai kẻ yêu nhau đang nhảy điệu luân vũ xung quanh bạn ấy. Đúng rồi, tôi muốn mơ thấy mình nhảy múa. Tôi muốn mơ thấy mình ôm hôn một ai đó, say đắm chứ không phải phớt qua như các bạn ở trường. Tôi muốn yêu, dù cũng chẳng biết thế nào là tình yêu. Tôi đã không có thời gian và chắc cũng sẽ không bao giờ có.

Những bác sĩ bước vào phòng tôi, càng ngày họ càng dừng lại ít thời gian, gần như là tôi có thể làm họ bị nhiễm hoặc có khi họ nghĩ, nếu không nhìn thấy tôi  thì cũng giống như chẳng gặp phải vấn đề.

Tôi là một vấn đề! Điều mà không ai có thể chấp nhận. Nếu chết già là một niềm hy vọng thì cái chết của tôi khi chưa tròn 16 tuổi là một sự thật tàn nhẫn, không thể nào chấp nhận.

Nhưng có lẽ nhiều người không hiểu rằng tôi không hề sợ sệt. Người ta có thể dễ dàng chấp nhận khi biết mình sẽ chết. Chỉ khi nào còn hy vọng sống mới làm người ta hoảng sợ. Vì để sống, cần phải phấn đấu, một cách tuyệt vọng và liên tục. Còn tôi thì không muốn phấn đấu nữa rồi.

Tình cảm duy nhất có trong tôi chỉ là  sự cay đắng, bởi vì đối với tôi đáng lý phải là mùa xuân, mùa của hoa hồng, của tình yêu đầu đời, của những điều vô tư và hồn nhiên nhưng thay vào đó chỉ là một cuộc tăng tốc để sớm vào đông. Tôi đã nhìn thấy những chiếc lá nhiều màu trên cành của bạn tôi. Hằng ngày tôi nhìn những chiếc lá thay đổi màu sắc dưới ánh nắng mặt trời càng ngày càng nhạt, hay có khi sáng bóng sau cơn mưa hoặc khẽ lay động vì những cơn gió càng lúc càng lạnh dần.

Lạnh lẽo và băng giá như căn phòng mà họ đang bỏ mặc tôi, một mình.

Bây giờ thì tôi mệt lắm, chỉ muốn ngủ, và mơ.

Mơ thấy mình đang ôm và siết chặt trong vòng tay một đứa bé, rồi đong đưa nó. Mơ thấy mình cẩn thận nắm tay bé, dạy bé chập chững bước đi, từng bước, từng bước hướng về phía cuộc sống.

Mơ thấy mình nằm, ngước mặt lên, nhìn thấy một bầy chim én bay lượn giữa bầu trời ấm áp, xoay tròn trên đỉnh đầu, miệng kêu ríu rít như thể muốn mời tôi nhập bọn, bay theo chúng  trong cuộc hành trình.

Mơ thấy mình nằm dài trên một đống lá khô giòn, những chiếc lá phong của ông bạn ngoài kia, đủ màu sắc từ vàng, đỏ tươi, chuyển sang tím… rồi cuốn người lăn tròn cho đến khi mỏi mệt và nằm dài dưới bóng cây có những cành trơ trọi nhưng luôn sống động.

Nếu có ai đó hỏi thì tôi sẽ trả lời rằng mình chỉ muốn nằm nghỉ dưới bóng của bạn mà thôi. Người duy nhất hiểu được những nỗi sợ hãi của mình. Người duy nhất đã không bỏ rơi tôi.

Có lẽ đấy là cái cách mà tôi sống lại.

            Như thế tôi mơ là mình không thể chết.

Read Full Post »

Tuấn Trần

.
Rơi ra từ căn phòng bài trí trang trọng của một tòa lâu đài cổ kính. “HẠT BỤI” kia đã chọn kiếp “LÊNH ĐÊNH” để rồi một ngày lưu dấu hồn trần nơi “quê người đất khách”. Hẳn là trong sự lựa chọn “nghịch thường” đó, hàm chứa một điều lớn lao địa cửu thiên trường nơi thân mệnh mong manh cánh chuồn. “HẠT BỤI LÊNH ĐÊNH” – ngay từ nhan đề… đã cho thấy sắc tính Á Đông thông dụng. Điều đặc biệt ở đây. Nó được viết bởi ELENA PUCILLO TRƯƠNG một nhà văn, một nhà Khoa học/ học giả Ngữ Văn của Tây Phương – Ý.

Thế nhưng, không nên hiểu nhan đề như sự mô tả/ minh họa thông thường. Đó không phải là bước đời nổi trôi đau đáu về nghìn trùng xa cách, tháng năm thương thầm tiễn biệt. Mà là cái “lênh đênh” để kiếm tìm, để bám chạm, cầm nắm, ôm nâng, “xẻ xan”…. Để thấy trước mắt mình và sau lưng người “Một cuộc đời không bao giờ có những giây phút “không – tình- yêu”. Thế thì tuyệt diệu biết bao!”.

“HẠT BỤI” đã kiên nhẫn, ân cần bén rễ vào cảnh tình, môi sinh, kiến tạo mối cộng sinh đặc biệt – như đã từng trong lịch sử Danh nhân – “Giữa Mạc Tự Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh”. Phải chăng đây là “đóa bách hợp” giữa trời thu hòa bình…

Trên sân khấu Văn chương nước nhà – đương đại, sự góp mặt của nữ văn sĩ Elena Pucillo Truong, đã như một “hạt nắng”, tuy nhỏ nhoi nhưng đủ rọi tin rằng: Tiếng Việt, Văn chương Việt, có khả năng lớn lao chạm cảm đến tận chân trời. Đó là sự tự cất lời, là khả năng thẩm thấu, giao kết, ăn bắt bền chặt của chính bản thân chữ nghĩa – Tiếng Việt, mà ta cứ tưởng quá đỗi gian nan khi ra biển rộng, tạo ra những thách thức hằn hộc trong chuyển ngữ. Nhưng thực tế, Văn chương đâu phải thế, rào cản của nó là ở tâm hồn và trái tim, không phải chờ những phương tiện chuyên chở/ bợ đỡ như truyền thông hay dịch thuật…

Nơi mảnh đất mà nỗi đau thành thực róng riết hơn bất cứ đâu trên địa cầu này, thì việc đồng điệu với những thân phận lòng riêng khi soi tìm để ôm vỗ đôi bờ trong nhau là điều không khó. Và có lẽ, sâu trong tâm thức “áng tóc vàng trữ tình” đó, có đeo mang một nỗi niềm thân phận như “hạt mưa sa”, như “chẽn lúa đòng đòng”, như “bảy nổi ba chìm”… Ấy thế mới có sự cộng hưởng, song trùng cho cùng Tiếng Việt, để rung ngân những sợi đàn lòng trong tỉnh thức: “Sự quên lãng chính là thứ quà tặng quý báu, vì sau nhiều ngày hôn mê, khi tỉnh dậy, bé không còn nhớ gì về những việc đã qua… Thế rồi cuộc đời nó như được tái sinh, khởi đầu bằng sự đón nhận bình yên và thanh thản cùng với gương mặt dịu hiền…”.

Quả thật! cuộc đời của “HẠT BỤI” cũng côi cút, truân chuyên như bao phận nữ nhi thường tình nơi “Cửa Khổng sân Trình” hay một kiếp đời hiu hắt sinh ra trong bối cảnh tử chiến. Tương đồng mật thiết nhất là với tuổi thơ của “Bông hồng nơi chiến hào” (Xuân Quỳnh). “Cô gái tóc vàng” cũng vậy – qua lời tự bạch trầm mặc thấm thía: “Tôi là một đứa bé mồ côi, bị bỏ rơi nơi góc đường trong một thành phố nhỏ… Có ai đó đã nhặt tôi lên và cho tôi ăn uống… Và có lẽ một điều gì đó kinh khủng đã xảy ra và tôi bị đưa vào trại trẻ mồ côi”. Không khuất nhục trước số phận, thiếu nữ bất hạnh kia đã học và học rất giỏi để mong rằng một ngày trở lại với ngôi nhà đầy hương hoa oải hương – nơi mà cô đã được ai đó nhặt lên, chăm nuôi và có những khoảng sống hạnh phúc hiếm có trong một đời người… Đến đây bạn đã hiểu phần nào về sợi dây phép màu đã kết bện mối nhân duyên tưởng “nghịch chiều” này rồi chứ!

Và tất nhiên, quy luật của cuộc sống là quy luật của tình yêu – Bởi “Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi” (Quote: Lưu Quang Vũ). Nên mối lương duyên nặng nghĩa này không thể nằm ngoài hai chữ “yêu nhau”. Những lời “chất vấn ngào ngọt” trào dâng từ dòng chữ thư tay… Tình cảm của “họ” cũng như bao chàng trai, cô gái cùng thời đại, nó được bắt đầu từ những bức thư. Bức thư của “anh” gửi đến nhiều hơn một lần, cùng những lời ân cần và thành thật chính là “căn cứ” xác tín để cho cô gái trẻ “đang chìm trong sự trĩu buồn của thân phận” quyết định “dâu bể xứ người”… Từ khoảnh khắc “…trái tim ngừng đập trong giây phút đôi môi rụt rè đã thấy nhau”, hai số phận đã cùng sang trang…

Có thể nói rằng tình yêu đôi lứa đã trở thành “duyên cớ” để cho cô gái Italia yêu đất, yêu người Bình Định (quê hương của phu quân) – yêu đất yêu người Việt Nam. Tình yêu của Elena Pucillo Truong mang màu sắc hoài cổ, và đó cũng chính là sắc màu chủ đạo của tình yêu Việt Nam. Yêu nét đẹp văn hóa, yêu những mùa qua, yêu giọt cà phê, nữ sĩ đi tìm tình yêu trong tiếng nói người xưa nơi đỉnh núi thiêng, nơi ngôi chùa cổ, qua những cuộc chuyện trò ngõ vắng, lắng nghe thanh âm mưu sinh máu thịt… “Cô gái Italia” kể chuyện rất đôn hậu, tỉ mỉ và đong tình đậm nghĩa về những “cử chỉ” đẹp trong trong đời.

Những đoản khúc ân tình hiện ra chân thực, mang nhân sinh quan nhân văn, nhân bản của người con Lạc Việt. Có thể nói Elena Pucillo Truong đã huyền hòa thẩm sâu trong điệu hồn dân tộc này, mới thể hiện được ánh nhìn bản sắc đậm đà nơi chữ nghĩa đó: “Tôi không thể nào quên cuộc gặp gỡ với bà lão bán nhang… cụ cầm bàn tay tôi ấp giữa hai tay mình… sau đó bà đặt bàn tay bà lên trái tim tôi và sau đó lên trái tim bà… Tôi đáp lại nụ cười của bà bằng một vòng ôm thân thiện và từ ngày đó tôi thường mang theo mình cái cử chỉ che chở ấy trong những lúc gặp khó khăn trong đời”.

Tiếng Việt mà Elena dùng để bộc lộ tình yêu với người Việt rất giản dị, hồn hậu mà thấm lắng sâu sắc. Hòa lẫn trong đó cái “hồn nhiên” như để “yếm thế” nỗi buồn “góc bể chân mây”, nỗi ưu uất phận người bạc lãnh bể dâu: “Đó là cảm giác tuyệt vời mà có lẽ tôi chưa bao giờ được trải nghiệm! cái cảm giác mình vô địch thật hết sức sinh động. Vô địch mà không cần chiến tích, không cần tham gia những trận tranh đua, không cần phải mang trên người chiếc mặt nạ, xa rời cái thế giới mà con người chỉ biết phán xét hay đánh giá vì vẻ ngoài, vì những thứ phô trương, sở hữu chứ không phải nhờ giá trị như mình thực sự có”.

Với giọng trung dung giữa Tự sự và trữ tình tản mạn. Có thể gọi “HẠT BỤI LÊNH ĐÊNH” là những lời tâm sự tỉnh thức khơi mạch nguồn từ “tình yêu”: Tình yêu “chàng”, rồi yêu đất, yêu người và yêu nhân loại. Tình yêu đó được xây dựng từ cốt lõi của đạo lớn/ của đức hạnh rất mực Đông Phương, đã bằng cách nào đó ngẫu nhiên tương phùng với chủ thể – một người phụ nữ tóc vàng, da trắng, mắt xanh. Chị không mang trong mình dòng máu đất Phật nhưng đã sớm trở thành “đồng lõa” của thế giới “Người vẫn ngọt bùi qua muôn nỗi đắng cay” này! Và đi trong ánh sáng “tuệ nhãn”… Để rồi:

Những trang viết của Elena thấm nhuần triết lý Buddha về vô thường và vô ngã – vô sở cầu. Nhận thức được rằng mọi thứ đều mong manh, chóng vánh. Hạnh phúc, nỗi buồn, thậm chí cả ký ức. Tất cả rồi sẽ tan biến như hạt bụi trong đời “tai bay vạ gió”. Nhưng chính vì thế, chị đã học cách yêu thương ngay khi còn có thể. Đó là bước đầu giác ngộ của một tâm hồn đã từng quạnh quẽ. Một tâm hồn không bi lụy, không than van, mà biến sự mong manh thành động lực sống trọn vẹn: “Tiếng nói của một người lạ mặt đã cho tôi cái sức mạnh mà trước đây tôi cứ tưởng là mình không còn nữa. Âm thanh đó còn cho tôi biết là trên đời này tôi không còn cô độc. Nghĩa là tôi cũng có thể có một phần hạnh phúc, tôi phải tin như thế”.

Đọc “HẠT BỤI LÊNH ĐÊNH”, ta không hề tuyệt vọng. Trái lại, cảm giác bình thản, an ủi lan tỏa. Elena nhìn thẳng vào sự “tạm bợ”, “oải mục” kiếp số để đánh thức hi vọng. Biết rồi đây mình cũng sẽ tan biến. Nhưng trước khi hóa hư vô, ta muốn sống như hạt bụi trong nắng – nhỏ bé mà sáng trong. Có phải đó là điều Elena muốn nói… Là triết lý sống đẹp, khích lệ bạn đọc không buông xuôi trước sự vô thường.



Khi đặt tác phẩm trong bối cảnh văn học Việt Nam hiện đại, ta nhận thấy nó góp thêm một tiếng nói cần thiết. Văn học hôm nay đang tìm kiếm những tác phẩm có tầm vóc nhân văn, có triết lý sâu xa mà vẫn dung dị, đời thường – “… trên đường phố không thiếu những người nông dân quang gánh trên vai, chiếc nón lá trên đầu và nụ cười hiền hậu thường trực trên môi”.

“HẠT BỤI LÊNH ĐÊNH” với “dung lượng tinh thần”, không phức tạp về kết cấu, nhưng nhờ chiều sâu tư tưởng và sự đồng cảm rộng rãi, nó đã trở thành một tác phẩm đáng để đọc. Đọc để trở về với chính ta, một thế giới nội tại hoàn kết – trong sự im lặng tĩnh tại “… mở ra cánh cửa của vùng trí tuệ tiềm ẩn, không phán xét và cũng không phân biệt, chỉ đơn giản giúp ta nghe được chính ta, ngoại cảnh và kẻ khác. Đó chính là khám phá được kho tàng giống như lời Phật dạy: “Ai từ bỏ thế giới thì sẽ nghe được âm thanh của niết bàn”.

Đó là một hành trình chiêm nghiệm về thân phận, một lời nhắc nhở về sự vội vã hữu hạn của thời gian trong một đời người đồng thời giục giã yêu thương. Một lần nữa, trước sự thật: chúng ta chỉ là những hạt bụi, bé nhỏ, lênh đênh. Elena ngọt ngào cất tiếng: Nhưng cũng chính vì thế – nhỏ bé và lênh đênh mà ta càng cần yêu, cần sống, cần sẻ chia cho ngay bây dừ…

Không ồn ào, không phô trương, chân phương mà bền vững, như chính hạt bụi – nhỏ nhoi mà bất diệt, gió dập sóng vùi vẫn muôn đời đồng hiện cho cùng cái đẹp…: “Nhiều lần anh nói đùa là anh đã cưới em vì em đã dạy anh nhìn những ánh sao trên bầu trời hay lắng nghe tiếng rì rào của biển và chuyển động của thủy triều, còn em thì nói yêu anh vì sự bền bỉ, tính kiên trì và bằng cách mà chúng ra đã gần gũi và chia sẻ cùng nhau trong từng cảnh ngộ vui buồn”. Trân trọng!

Tuấn Trần

Read Full Post »

Elena Pucillo Truong

( Nguyên tác : Un dolce sogno d’autunno)

​ Bản dịch của Trương Văn Dân

.

Tất cả trắng toát và lạnh lẽo xung quanh tôi.

Những bức tường trắng và ngay cả thành giường bằng thép để tôi khỏi ngã.

​Có lẽ vì thế mà tôi rất thích cái cây phong nằm bên ngoài cửa sổ, vật duy nhất cho tôi hay là thời gian vẫn đang trôi. Bên ngoài mọi thứ đang đổi mới và đổi thay.

Có một điều gì đó cũng đang thay đổi trong tôi, nhưng từ từ…chậm rãi, không đau đớn.

Tôi nhớ là khi mình vừa mới đến, căn phòng liền ngập đầy bác sĩ và y tá; tất cả đều rộn ràng chuẩn bị để tấn công căn bệnh một cách quyết liệt, không khoan nhượng.

Nhưng thực ra là cuộc chiến không khoan nhượng đó đang nhắm vào tôi… Không ai hỏi tôi muốn gì. Họ đến vào buổi sáng, viết lên bệnh án cái gì đó, bảo y tá truyền nước biển cho tôi, rồi đi.

Ngày hôm sau cũng thế. Mà thực ra tôi có gì khác nữa đâu để mà chọn lựa.

Từ mấy hôm nay có một người nào đó đến vào buổi sáng… sau đó thì tôi ngủ. Tôi ngủ càng lúc càng nhiều và tôi không thích điều đó.

Không thích vì tôi muốn tưởng tượng hay nhớ về một điều gì, nhưng tôi lại nằm mơ.

Tôi mơ thấy mình bơi lội trong làn nước biển xanh trong mát mẻ, có những tia nắng vàng phản chiếu với những giọt nước mặn trên làn da sạm nắng. Tôi mơ thấy mình đi xe đạp ở miền quê, giữa những cánh đồng lúa xanh rì.

Tôi mơ nhiều thứ, mà rồi khi thức giấc, đôi mắt chỉ nhìn thấy bức tường trắng trước mặt.

Thế là tôi xoay người hướng về phía cửa sổ và nhìn thấy bạn tôi. Đó là người duy nhất có thể hiểu những gì mà tôi cảm nhận. Tôi quan sát đôi bướm đang bay lượn như hai kẻ yêu nhau đang nhảy điệu luân vũ xung quanh bạn ấy. Đúng rồi, tôi muốn mơ thấy mình nhảy múa. Tôi muốn mơ thấy mình ôm hôn một ai đó, say đắm chứ không phải phớt qua như các bạn ở trường. Tôi muốn yêu, dù cũng chẳng biết thế nào là tình yêu. Tôi đã không có thời gian và chắc cũng sẽ không bao giờ có.

Những bác sĩ bước vào phòng tôi, càng ngày họ càng dừng lại ít thời gian, gần như là tôi có thể làm họ bị nhiễm hoặc có khi họ nghĩ, nếu không nhìn thấy tôi thì cũng giống như chẳng gặp phải vấn đề.

Tôi là một vấn đề! Điều mà không ai có thể chấp nhận. Nếu chết già là một niềm hy vọng thì cái chết của tôi khi chưa tròn 16 tuổi là một sự thật tàn nhẫn, không thể nào chấp nhận.

Nhưng có lẽ nhiều người không hiểu rằng tôi không hề sợ sệt. Người ta có thể dễ dàng chấp nhận khi biết mình sẽ chết. Chỉ khi nào còn hy vọng sống mới làm người ta hoảng sợ. Vì để sống, cần phải phấn đấu, một cách tuyệt vọng và liên tục. Còn tôi thì không muốn phấn đấu nữa rồi.

Tình cảm duy nhất có trong tôi chỉ là sự cay đắng, bởi vì đối với tôi đáng lý phải là mùa xuân, mùa của hoa hồng, của tình yêu đầu đời, của những điều vô tư và hồn nhiên nhưng thay vào đó chỉ là một cuộc tăng tốc để sớm vào đông. Tôi đã nhìn thấy những chiếc lá nhiều màu trên cành của bạn tôi. Hằng ngày tôi nhìn những chiếc lá thay đổi màu sắc dưới ánh nắng mặt trời càng ngày càng nhạt, hay có khi sáng bóng sau cơn mưa hoặc khẽ lay động vì những cơn gió càng lúc càng lạnh dần.

Lạnh lẽo và băng giá như căn phòng mà họ đang bỏ mặc tôi, một mình.

Bây giờ thì tôi mệt lắm, chỉ muốn ngủ, và mơ.

Mơ thấy mình đang ôm và siết chặt trong vòng tay một đứa bé, rồi đong đưa nó. Mơ thấy mình cẩn thận nắm tay bé, dạy bé chập chững bước đi, từng bước, từng bước hướng về phía cuộc sống.

Mơ thấy mình nằm, ngước mặt lên, nhìn thấy một bầy chim én bay lượn giữa bầu trời ấm áp, xoay tròn trên đỉnh đầu, miệng kêu ríu rít như thể muốn mời tôi nhập bọn, bay theo chúng trong cuộc hành trình.

Mơ thấy mình nằm dài trên một đống lá khô giòn, những chiếc lá phong của ông bạn ngoài kia, đủ màu sắc từ vàng, đỏ tươi, chuyển sang tím… rồi cuốn người lăn tròn cho đến khi mỏi mệt và nằm dài dưới bóng cây có những cành trơ trọi nhưng luôn sống động.

Nếu có ai đó hỏi thì tôi sẽ trả lời rằng mình chỉ muốn nằm nghỉ dưới bóng của bạn mà thôi. Người duy nhất hiểu được những nỗi sợ hãi của mình. Người duy nhất đã không bỏ rơi tôi.

Có lẽ đấy là cái cách mà tôi sống lại.

​Như thế tôi mơ là mình không thể chết.

Read Full Post »

Trốn chạy tình yêu

Trương Văn Dân

                                 

        …     

– Vậy bây giờ em phải bù lại quãng thời gian mà em đã làm mình xa nhau mất mấy tuần nay.

– Em mong chờ mà cũng rất sợ tình yêu.

– Không phải tình yêu làm ta đau, mà ta đau vì không có tình yêu. Ta đau vì cảm thấy cô đơn, và sợ hãi là cô đơn sẽ còn kéo dài, mãi mãi. Ta đau vì không được ai lắng nghe, không được ai thấu hiểu. Ta đau vì sợ mất một người mà người ấy không hề sợ mất ta.

          Ta sẽ rất đau khi không có tình yêu, như kẻ đi tìm nắng mà chỉ thấy cơn mưa, con đường trơn trợt mà không có gì bám víu, phải tự dò dẫm, một mình gượng gạo bước đi, cảm thấy bản thân mình chẳng có gì hấp dẫn hay đặc biệt. Và sợ nhất là mình không hề quan trọng cho ai.

– Anh nói đúng. Nhưng lúc ấy thì..

– Thì sao?

– Hạnh phúc bất ngờ và choáng ngợp quá đến độ em không tin được cảm xúc của bản thân luôn đó anh à. Đó là lý do em sợ hãi và tìm cách chạy trốn.

Cảm xúc ghê gớm thật. Em nhủ lòng là sẽ không gặp lại một lần nào nữa. Nhưng về đến nhà thì em nhớ anh quay quắt. Rồi đấu tranh. Rồi quyết tâm. Và cuối cùng là.. đầu hàng!

– Anh hờn suốt thời gian em về lại Pleiku đó..

– Em biết anh buồn chứ! Nhưng em cũng có vui đâu! Em phải cần một thời gian để suy nghĩ về sự trốn chạy của mình. Em không muốn anh hiểu nhiều về em. Em sợ lắm, anh biết không? Tất nhiên, được ai đó hiểu mình là điều quý giá, nhưng đồng thời cũng có sự sụp đổ của những thứ hàng rào che chắn, mất hết mọi khả năng đề kháng, phải đầu hàng và giao trọn cuộc đời cho ai đó. Lúc  đó thú thật là em chưa sẵn sàng. Lúc đó em vẫn còn muốn  sống như những người bình thường, nghĩa là muốn che dấu khuôn mặt thật, muốn mang chiếc mặt nạ mà ai nấy trong xã hội đều cần, mất còn có khả năng nói dối.

Có thể em là người lạ lạ, nhưng em tin có nhiều người không hiểu giá trị của vòng ôm, của nụ hôn. Họ không hiểu là sự im lặng có thể nói  được nhiều điều vì tâm hồn đã hoà nhập với một người nào đó.

          Suốt cả tháng em như kẻ bị thần Cupid bắn phải mũi tên, như kẻ bị nhiễm độc tố của tình yêu,  vật vã, khổ sở và cần phải gặp anh ngay để xin thuốc giải. Không thì chết mất.

– Chỉ có mình mới giải cứu được cho nhau!

– Anh sẽ không biết được cảm xúc của em khi lần đầu mình hôn nhau đâu.

–  Anh cảm được, nhưng em nói đi.

– Không! Mắc cỡ lắm! Anh chỉ cần biết em hạnh phúc thật nhiều khi được yêu thương anh.

Bây giờ thì em có anh và dù em có ngốc nghếch làm ta xa nhau một thời gian nên em biết là trong nỗi nhớ anh thì cái khoảng cách kia mỗi ngày được xích lại gần qua những tin  nhắn đầy yêu thương.

– Anh cũng đang khắc khoải từng giây từng phút đợi em về bù đắp cho anh đây.

– Mình sẽ bù cho nhau 10 lần nhiều hơn!

 Họ hôn nhau dịu dàng. “Anh có nghĩ rằng 2 mình là đôi tình nhân đáng yêu nhất thế gian không? Em nghĩ rằng chẳng có ai nói chuyện giống 2 mình mô.

– Khi người ta cùng cười với nhau thì khó xa nhau lắm!

– Đúng vậy đó, anh à. Không ai xa được người cho ta niềm vui.

–  Anh không biết cảm giác của em hồi mới gặp anh đâu. Anh thú vị lắm. Chưa nói là lạ lẫm đối với em. Anh đưa em từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Sao nói hết được chứ. Mọi thứ từ anh đều mới mẻ, em bị anh cuốn như nam châm, không cưỡng lại được.

– Cưỡng gì, trốn mất tiêu thì có!

– Em xin lỗi anh! Chạy mà có trốn được đâu! Em chạy xa nhưng lúc nào cũng khao khát được ở bên anh. Anh có biết là anh đã quá thân thiết với em không? Anh như một nửa của em. Trốn về Pleiku 4 tuần mà cứ nhớ nụ hôn đầu. Càng cố quên, càng nhớ nhiều. Em thấy mình đang đánh mất một điều gì quý báu nên sau đó cứ suy nghĩ là sẽ về sớm với anh thôi! Em không thể bắt anh chờ khi trái tim em muốn dâng hiến tình yêu cho anh. Anh có biết như rứa là tội cho lòng em lắm không!

– Ui ghét ! ly cà phê thơm ngon, cuối cùng chỉ đọng lại giọt đắng! Ghét thiệt chứ!

– Thôi đừng ghét em nữa nha anh. Bây giờ anh chỉ nên yêu em thêm. Vì em sẽ nói thầm cho anh nghe về tình yêu em dành cho anh. Em nhớ anh da diết như thế nào.

– Không chịu đâu! Lát nữa anh sẽ đưa em ra biển và hét giữa ngàn khơi… Anh yêu em, Anh yêu em… hét thật to để sóng và gió mang tình yêu cua anh ra khắp bốn phương, để mọi người đều hiểu thế nào là tình yêu lớn ở cõi trần.

– Khi xa nhau em mới nhận ra rằng em đã yêu anh rất nhiều. Một buổi tối, ở cách xa nhau, em thường ngồi một mình trên chiếc ghế xích đu trên hiên nhà. Lúc đó hơi ẩm vì trước đấy có mưa to và buốt lạnh, nhưng khi mây đen đã tản đi và em nhìn xuyên qua mây về phía những ngôi sao, tự hỏi liệu có phải mình đã quyết định chạy trốn anh là đúng, hay sai? Đã nhiều ngày em khổ sở với câu hỏi đó – và tối đó còn khổ sở hơn – nhưng cuối cùng, em biết mình sẽ không bao giờ tha thứ cho bản thân nếu để mất anh.

Lúc mới gặp, một khởi đầu bình thường, và mọi chuyện hẳn sẽ bị lãng quên nếu đấy  không phải là anh. Vì sau khi nói chuyện với anh em linh cảm rằng đó là người mà em có dành cả phần đời còn lại để kiếm tìm cũng không bao giờ thấy nữa.

Vì anh là một người đem lại cảm giác dễ chịu và tin yêu cho một người phụ nữ như em.

Chỉ  mới  tiếp xúc mà anh đã có thể hiểu em sâu sắc và em có thể tin tưởng để trải lòng cùng anh. Anh giống như món quà vô giá mà Thượng đế đã ưu ái mang đến cho em vậy.

– Tình yêu có cách cảm nhận riêng của nó. Có những điều chỉ dùng đến con tim để nghe và nói. Vì nhiều khi  ngôn ngữ bằng lời  không phù hợp.

          Thuý nghiêng đầu vào vai Trung.

– Ở Pleiku em rất nhớ cảm giác được ngã đầu vào ngực anh như thế này nè. Anh cực kỳ lãng mạn. Cực kỳ đáng yêu! Em không biết phải nói như thế nào cho anh hiểu cảm giác của em, cái cảm giác khó chịu, mất mát. Như là đau ở đâu đó trong cơ thể mà em không biết là chỗ nào, ở đâu. Khi đó em mới hiểu là lần gặp gỡ ấy quan trọng với em biết nhường nào. Nó cho em biết là em không thể thiếu anh được. Em chỉ cần bên anh  Chỉ chừng đó thôi Trái tim em cần anh. Khi không có anh em  như chỉ có một nửa, không nguyên vẹn.

– Anh hôn vào trái tim em nè! Tình yêu của em là sức mạnh để anh tin yêu cuộc đời.

– Bây giờ em biết, cảm nhận được nỗi đau của nó, không có anh trái tim em chết mất!

– Em làm anh cảm động. Trong quãng đời lạnh giá này mình sẽ luôn sưởi ấm cho nhau, em nhé. Trong đời không dễ gặp được người để yêu thương nhiều như vậy đâu. Khó vô cùng

– Từ nay và mãi mãi về sau em sẽ không ao ước hay hối tiếc điều gì vì em đã có anh để yêu thương. Em tin là mình sẽ hạnh phúc cũng nhau. Sẽ không có ai có thể chia cắt tình yêu này được. Trừ cái chết!

-Em đừng nói đến chết nha em!

–  Dạ! Từ nay em sẽ không để lạc mất anh nữa đâu!

– Anh muốn ôm và giữ em thật chặt. Em đừng xa anh nữa nhé. Điều quý nhất mà ta có thể nhận được từ người mình yêu là thời gian. Không phải là lời nói, không phải  là vàng bạc hay tặng vật. Chỉ là thời gian được ở bên nhau. Vì thời gian là thứ duy nhất không thể quay lại và khi ta trao cho nhau thì nó mãi mãi là của mình, không quan trọng nếu chỉ là một giờ hay cả một đời.

          Dĩ nhiên là bây giờ chúng ta muốn gặp nhau mỗi ngày là không thể được nhưng mình sẽ cố gắng thu xếp nhé.

Đêm đó đánh dấu một bước ngoặc trong cuộc đời của cả hai người.

… 

 Sài gòn 11-2022       ( trích tiểu thuyết Lỗi Định Mệnh, sắp xuất bản)

Read Full Post »

Elena Pucillo Truong

Về giây phút đầu của buổi chiều hôm đó mẹ chỉ nhớ là mình căng mắt nhìn ra bốn hướng và trái tim đập lên loạn xạ. Mẹ tìm con, cố tìm mái tóc dợn sóng của con nổi lên trên tà áo trắng. Mẹ mong nhìn thấy ánh mắt vui mừng của con, hồn nhiên như những bé gái lên mười.

Từ văn phòng về trễ,  mẹ cầm túi thức ăn có một ít trái cây, bánh mì và  mấy hộp sữa cho bữa điểm tâm. Tuy mệt nhọc leo lên cầu thang nhưng mẹ vẫn chuẩn bị sẵn nụ cười để che giấu sự nhọc nhằn sau một ngày buồn bã và nhàm chán. Một nụ cười dành cho con, để con khỏi cảm thấy cái gánh nặng của cuộc  đời buồn bã, con thì thiếu một người cha còn mẹ cũng không có người đàn ông trong mái ấm. Mỗi ngày chúng ta đều sống như một sự thách thức, để tiếp tục, nhưng niềm vui luôn  có trong đôi mắt, một sự đồng loã phát sinh giữa mẹ và con.

          Niềm vui cuối ngày của mẹ là được nhìn thấy con ngồi đợi ở bậc thang trước thềm nhà, miệng ngậm cây bút chì, tay cầm quyển  tập hay có một trang sách mở rộng trên đầu gối; vài sợi tóc lòe xòe trên trán và khuôn mặt rạng rỡ, sống động như chú ngựa con trên thảm cỏ.

Mẹ hổn hển vì leo đến cuối cầu thang. Nhưng không có con ngồi đợi mẹ.

          Run rẩy. Mẹ không mở được cửa! Mẹ bỏ túi thức ăn xuống sàn nhà, mẹ bấm chuông các nhà lân cận. Gọi điện đến trường…

Tất cả đều vô ích.

          Sao lại thế này? con đã biến mất?

          Mẹ lao xuống đường, hỏi tin con ở các cửa hàng thân quen, đến đồn công an, và một nhân viên an ninh khuyên mẹ gọi điện đến bệnh viện trong vùng.

Không kết quả.

          Mãi đến khuya mẹ mới trở về nhà, tuyệt vọng. Trong đêm mẹ không sao ngủ được, mẹ nằm, cửa để mở, hy vọng được nghe bước chân con bước lên cầu thang. Một đêm kinh hoàng, mẹ lục lọi khắp nơi trong nhà xem con có để tờ giấy nhắn nhủ gì không, tìm một vài dấu hiệu mơ hồ nào đó để có thể dắt mẹ  tìm đến bên con. Nhưng hoàn toàn vô vọng.

Đến lúc đó  thì những hồi tưởng từ đâu quay về trong đầu mẹ: buổi sáng trong lúc chải tóc mẹ nghe con khe khẽ hát, con lẩm nhẩm bài thơ, bài học lịch sử hay địa lý gì đó để học thuộc lòng. Rồi sau đó con kể chuyện về bạn bè hay cô giáo. Con, mãi mãi và chỉ con thôi. Con là cuộc đời của mẹ nhưng mẹ không biết con đang ở đâu.

          Sau những tìm kiếm vô ích và vô vọng, mẹ bỗng dưng cảm thấy mình có lỗi. Đáng lý ra mẹ phải đến đón con ở trường và mọi việc đã không thể xảy ra. Những đứa bạn nói rằng đã cùng con leo lên xe buýt, con đã xuống ở trạm dừng gần nhà, con bước đi trên vỉa hè và vẫy tay chào các bạn. Tất cả như mọi lần. Chỉ vài chục mét, đến cửa hàng bách hóa, quẹo trái là con về đến nhà. Ai cũng nói không, nhưng mẹ vẫn cảm thấy mình có lỗi vì có lẽ mẹ đã phải làm một điều gì đó, dù không thể. Mẹ phải làm việc. Mẹ phải cố gắng kiếm tiền để con không thiếu một thứ gì.

            Sau cảm giác tội lỗi thì mẹ bắt đầu có biểu hiện vô cảm. Đi quanh quẩn trong phòng mà chẳng biết thời gian đã trôi qua, ngồi xuống bàn ăn và liên tục nhìn bức hình con trên tờ báo. Mẹ đọc lại tên con, vài chi tiết như chiều cao,  áo quần đang mặc. Mẹ đã ghim tờ thông báo đó lên tủ buffet để bất cứ lúc nào mẹ cũng có thể nhìn thấy.

Mẹ tìm mọi cách để che giấu sự vắng mặt của con trong trái tim mình, và ngày qua ngày, mẹ vẫn tiếp tục chuyện trò với con, như thể con vẫn còn đây, tưởng tượng về những câu chuyện không hề hiện hữu. Vài tháng sau mẹ im, không còn nói nữa. Cuộc đối thoại chỉ có trong đầu mẹ  và mẹ âm thầm bước đi trong các căn phòng, ve vuốt các vật dụng của con, xếp lại hàng trăm lần chiếc áo của con.  

          Mẹ đã trở thành cái bóng của chính mình. Mẹ không ăn. Buổi sáng thức giấc gập mình trên chiếc bàn, nơi mà giấc ngủ đã cho mẹ tạm dừng sự tuyệt vọng.

          Con đang ở đâu? Ở đâu?  Tại vì sao mà con đã không về?

                                                          &&&

          Mẹ yêu ơi, mẹ cứ liên tục hỏi là con đang ở đâu?

          Chắc không xa mẹ lắm đâu, con ở đây,  dưới chân cầu, có lẽ cách mẹ chừng vài kilomét.

          Bọn họ đã ném xác con ngay trong đêm mà con không trở về nhà.

          Con vừa xuống xe buýt và vẫy tay chào bạn bè. Chỉ vài bước là con đến trước cửa hàng tạp hóa. Ông chủ tiệm dường như đang đợi con….

          Con chưa biết phải làm gì thì bị một bàn tay đưa lên bịt miệng, rồi ông chủ kéo con vào phía sau tiệm. Con nghe tiếng đóng cửa và ngay lúc đó con nhìn thấy có mấy người đàn ông như bầy sói đang thở dốc.

  • Xõa tóc ra, mầy sẽ lớn như một cô gái …

Con chẳng hiểu gì cả nhưng linh tính cho hay mình đang là một con thú đang sập bẫy. Hai mắt mở to vì kinh hãi, nước mắt chảy ròng cùng tiếng kêu lạc giọng.

  • Mẹ ơi, mẹ ơi !

Sau đó thì người ta đánh đập con, rồi ép sát người con vào thân hình nhớp nhúa của họ. Hơi thở sặc mùi rượu, họ không chút động lòng trước tiếng khóc tuyệt vọng của con. Họ giữ con bất động. Rồi một cơn đau nhói chạy khắp người con. Con như ngạt thở. Nấc nghẹn theo từng cú ép đẩy của bọn người khốn nạn. Đớn đau lẫn tủi nhục mà trước đó đầu óc non nớt của con chưa  thể nào tưởng tượng.

            Sau đó thì mọi việc chấm dứt. Con không còn là gì, giống như một nùi giẻ để vứt đi. Họ chẳng chút xót thương. Đối với họ con chỉ là một thứ đồ vật, để thõa mãn, dùng xong rồi bỏ. Rồi trong bóng đêm, họ ném xác con xuống dòng sông.

          Giờ thì con ở đây. Nằm giữa những rác rưởi trôi trên sông và những rễ cành lẫn rong rêu đã giữ con lại. Thân xác con chẳng còn lại gì. Chiếc áo trắng đến trường không còn nữa, và giữa những đám rong, những đàn cá bơi lội xuyên qua mái tóc con, còn lũ côn trùng thì nhún nhảy. Đôi mắt của con giờ chỉ là hai lỗ hổng nằm trong hộp sọ, chó dại và chuột nhắt đã ăn mất từ lâu.

          Con rất tiếc đã không thể báo tin sớm cho mẹ về những gì đã xảy ra! Con đã không trốn mẹ, nhưng chính những gã đàn ông mà mẹ nhìn thấy mỗi ngày, họ nhìn mẹ với cái nhìn thương hại, rồi khi mẹ đi qua, họ đưa mắt đồng lõa nhìn nhau như nhắc nhở về những giây phút điên cuồng  khi con lọt vào cạm bẫy.

          Mẹ yêu ơi, con và mẹ có chung một cuộc đời…Người này chỉ sống cho người kia. Thế mà bây giờ bọn khốn nạn đã chia rẽ chúng ta. Con hy vọng là sẽ có một ai đó sẽ tìm thấy thi thể của con. Để chôn cất. Và lúc ấy mẹ sẽ điên lên. Dửng dưng với hết thảy mọi việc xung quanh. Nhưng mẹ sẽ không còn buồn khổ nữa trong sự đợi chờ vô vọng.

                           (Trương Văn Dân dịch từ nguyên tác tiếng Ý : l’attesa)

Read Full Post »

Older Posts »