Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘QUẾ SƠN’

 aaa

Tác giả: WILLIAM FAULKNER, Nobel văn học 1949.

Người dịch: Quế Sơn

(Dịch theo nguyên tác tiếng Anh “Light in August”, Nxb Random House, The Modern Library, New York, Mỹ, ấn bản năm 1950.)

Nhật Chiêu viết Lời giới thiệu (“Hào quang của Faulkner”) và Lời bạt (“Faulkner, con người và thời gian”).

Thuộc Tủ sách Tinh hoa Văn học, do PHƯƠNG NAM BOOK và Nhà xuất bản HỘI NHÀ VĂN liên kết xuất bản, 2013, 674 trang.

Các trích đoạn dưới đây (“Lời giới thiệu” và Chương 10) đã có sự đồng ý của Phương Nam Book.

Read Full Post »

Dịch giả Quế Sơn trò chuyện về tiểu thuyết nổi tiếng của William Faulkner, Nobel văn chương năm 1949. Lần đầu tiên cuốn sách được dịch sang tiếng Việt.***
 
– Anh đang dịch những trang cuối của “Nắng tháng tám” và anh từng chia sẻ, sau khi dịch xong, anh bị ấn tượng mạnh đến mức không muốn đọc những cuốn sách khác. Vì sao thế?
– Tôi bị rúng động bởi nội dung đầy chất nhân văn của tiểu thuyết này. Cốt truyện có vẻ đơn giản nhưng càng đọc càng thấy tác giả dẫn ta đi sâu vào những nỗi đau sâu thẳm trong nội tâm con người trong một bối cảnh xã hội ngột ngạt.
Cũng như trong cuốn Âm thanh và cuồng nộ (The sound and the fury) trước đó, trong Nắng tháng támFaulkner không sử dụng lối kể truyện đơn tuyến, sắp xếp các tình tiết theo thời gian, ông chọn lối trình bày khá phức tạp, theo cấu trúc vòng tròn, tức là bắt đầu kể câu chuyện khi nó gần kết thúc rồi mới quay ngược về các tình tiết trong quá khứ để rồi chấm dứt nó ở chương cuối. Và cùng lúc, ông cũng sử dụng một cách tuyệt vời các kỹ thuật tiểu thuyết tân kỳ như đồng hiện, như độc thoại nội tâm, như đa bội điểm nhìn.
dich-gia-que-son-jpg-1363161707_500x0
Tôi chỉ muốn nói thêm là tôi trả lời câu hỏi với tư cách khiêm tốn của một người dịch, tôi không phải là nhà phê bình hay nghiên cứu về Faulkner. (more…)

Read Full Post »

Thơ Quế Sơn

VÔ ĐỀ
.
Thương ai còn tuổi má hồng
Ngày vui qua có còn không tiếng cười
Tôi đi qua mấy phương trời
Vẫn thương tiếng thở ngậm ngùi của ai.
.

Read Full Post »

Về với bóng mình

Quế Sơn

 
Mùa thu về dịu dàng bên cửa sổ
Lá hoe vàng xôn xao nói cười trong gió
Nỗi tiếc thương vô danh nào chợt đến âm thầm
Khiến tôi giật mình xấu hổ.

Read Full Post »

Đêm và trần nhà màu trắng

Quế Sơn

Sao em chưa về đã hết mùa dã thú

Những con đường lầy lội dẫn mưa đi…

. (more…)

Read Full Post »


QUẾ SƠN

Natsume Soseki (Hạ-mục Thấu-thạch, 1867-1916) là một nhà văn lớn vào cuối thời Minh-trị Duy tân, được xem là “một trong ba cột trụ của văn học hiện đại Nhật Bản” bên cạnh Mori Ogai (Sâm Âu-ngoại, 1862-1922) và Akutagawa Ryunosuke (Giới-xuyên Long-chi-giới, 1892-1927). Chân dung của ông được Nhà nước Nhật chọn in trên tờ bạc 1000 Yen, được phát hành liên tục từ năm 1984 đến 2004. Ngôi nhà ông ở trọ khi du học ở Luân Đôn trong những năm đầu thế kỷ hai mươi, từ lâu đã thành nhà lưu niệm Soseki ở ngay thủ đô nước Anh, mở cửa cho du khách vào thăm viếng.

Ông được chính phủ Nhật thời Minh-trị gởi sang Anh học với mục đích trở thành “học giả Nhật đầu tiên của nước Nhật về văn học nước Anh”, và quả thật, sau khi về nước, ông giảng dạy và nghiên cứu về văn học Anh ở ngôi trường cũ của mình, danh giá bậc nhất đất nước, là Đông Kinh Đế quốc Đại học, nhưng chỉ vài năm sau ông lại từ chức để dành thời gian và tâm lực cho việc sáng tác. Và ông đã miệt mài làm việc cho tới khi chết vì bệnh loét dạ dày, để lại một di sản đồ sộ và đa dạng gồm hàng chục tiểu thuyết, hàng trăm bài thơ haiku, truyện ngắn, tiểu luận văn học…

Các chủ đề thường thấy trong các tác phẩm của Soseki là những nỗi đau khổ nội tâm và sự cô đơn, cách ly của giới trí thức trong bối cảnh xã hội hiện đại hóa (vào thời buổi đó, là đồng nghĩa với Tây phương hóa) quá nhanh, gây ra những đụng độ khó tránh khỏi giữa văn hóa truyền thống và văn hóa du nhập, là sự xung đột giữa nghĩa vụ và dục vọng, là sự đối mặt giữa lòng trung thành với tập thể và tâm thức tự do của cá nhân. Và thông qua các chủ đề này, Soseki biểu lộ thái độ khinh bỉ đối với lối bắt chước “giống như khỉ” văn hóa phương Tây và cái nhìn bi quan về bản chất con người.

Ghi lại các thông tin trên chỉ để nói là, với sự ra mắt gần đây của bản dịch công phu và trau chuốt, “Gối đầu lên cỏ” (“Kusamakura”, xuất bản năm 1906, nghĩa đen là “gối cỏ”, nghĩa bóng trong thi ca Nhật là “cuộc lữ” như trong cuốn nhật ký thơ “Lối lên miền Oku” của bậc thầy haiku là Matsuo Basho (Tùng-vĩ Ba-tiêu,1644-94), người đọc có dịp khám phá một khuôn mặt tinh hoa của nền văn học hiện đại của nước Nhật mà tới nay, sau hơn một thế kỷ, công chúng Nhật vẫn còn tìm đọc. Tiểu thuyết này, tuy thuộc dòng văn học trữ tình, tức nặng phần biểu hiện những cảm xúc của con người, lại không kể ra một chuyện tình yêu nào cả. Nó chỉ đơn giản kể câu chuyện một chàng họa sĩ từ kinh đô lên vùng núi hẻo lánh nhưng đẹp đẽ để tìm cảm hứng sáng tạo, dừng chân nhiều ngày ở một quán trọ có suối nước nóng trong một sơn thôn vắng vẻ. Và chính nơi đây, trong không gian mùa xuân hoa tươi lá thắm, chàng đã gặp nàng Nami, và theo lời giới thiệu của Nhật Chiêu, nhà nghiên cứu văn học Nhật Bản, “một người đẹp u uẩn với tâm hồn mù sương. Tên nàng là ‘diễm ảo’. Nàng như một làn hương thu hút những cánh bướm ấn tượng. Mà không có tình yêu nào hết. Cốt truyện dường như rỗng rang. Rồi một hôm, dung nhan nàng ánh lên một niềm xúc động bất ngờ trên sân ga. Và bức tranh trong tâm hồn họa sĩ cuối cùng đã tiếp nhận nét thần.”

Cái hay của “Gối đầu lên cỏ” không nằm ở câu chuyện với nhiều tình tiết hấp dẫn hay gây bất ngờ nhưng ở sự hòa quyện độc đáo giữa cảm xúc, suy tưởng và miêu tả thiên nhiên. Soseki là người từng hấp thụ văn học cổ điển Trung Quốc, say mê văn hóa truyền thống Nhật Bản và hiểu biết sâu sắc văn học, nghệ thuật nước Anh nên có lẽ không lạ gì khi ông đem nỗi đam mê cùng những ảnh hưởng đó vào truyện một cách tinh tế và thông suốt. Ông còn kết hợp các vẻ đẹp của hội họa nước Anh và thi ca Nhật Bản.

Nàng Nami bí ẩn đó đã gợi lên trong tâm trí chàng họa sĩ bức tranh “Ophelia” của danh họa người Anh John Millais, vẽ hồi giữa thế kỷ 19. (Bạn đọc có thể vào trang mạng Wikipedia để xem tuyệt tác này. Ophelia là tên nhân vật nữ chính trong vở bi kịch lừng danh “Hamlet” của William Shakespeare.) Trong thời gian dừng chân ở quán trọ, tìm đến thiên nhiên kỳ ảo để gây cảm hứng, chàng hầu như không vẽ được bức tranh nào, nhưng chàng lại làm được rất nhiều thơ, và những bài thơ này trở thành bộ phận không thể tách rời của tiểu thuyết. Rồi xen kẽ giữa những bài thơ đó là sự trầm tư mặc tưởng về nghệ thuật, trong cả hai mặt sáng tạo và cảm thụ; về sự khác biệt giữa thơ và họa; về cảm thức của người nghệ sĩ trong cuộc sống vốn dĩ bất an mà trong đó cái đẹp lúc nào cũng mong manh. Và tác giả không ngần ngại, trong những suy tưởng của nhân vật, đưa ra các lời thơ, các quan điểm của các nghệ sĩ đã thành danh trong lịch sử như Vương Duy, Đào Uyên Minh, Bạch Cư Dị, Basho, Oscar Wilde, Henrik Ibsen… để làm rõ thêm nhận định của mình.

“Gối đầu lên cỏ” là một bản hợp âm của cảm xúc và lý lẽ, hòa quyện nhau một cách tinh diệu, và cần được nghe chậm, chậm như khi ta trò chuyện trong buổi trà với một cao tăng.

Để chấm dứt, có lẽ không gì vui vui hơn là trích ra đây lời nhận xét hóm hỉnh của nhân vật chính: “…Không chỉ tấm thảm này mà mọi thứ đồ dùng của Trung Hoa đều đơn điệu và kém hấp dẫn. Phải thừa nhận rằng những vật dụng như thế chỉ có thể là sản phẩm của một dân tộc kiên nhẫn nhưng kém thông minh. Chúng chỉ có giá trị ở chỗ khiến người xem sửng sốt và kinh ngạc. Đồ mỹ nghệ Nhật Bản thì thể hiện một thái độ hết sức cẩn trọng, giống như sự cảnh giác của một kẻ chuyên móc túi. Sản phẩm của phương Tây thì hoành tráng và tinh xảo nhưng không thể nào thoát được vẻ trần tục. Đó là những suy nghĩ đầu tiên khi tôi ngồi vào bàn uống trà.” (trang 132)

“Gối đầu lên cỏ”, Lam Anh dịch từ nguyên tác tiếng Nhật, Phương Nam Book và NXB Hội Nhà Văn xuất bản, 2012, 230 trang.***

QUẾ SƠN

*** Bài này đã đăng trên báo Tuổi Trẻ ngày 27-4-2012, trong mục “Thế giới sách” nhưng được rút gọn gần một nửa vì khuôn khổ tờ báo hàng ngày có giới hạn. Đây là bản đầy đủ.

Read Full Post »

Tác giả : Alessandro Baricco
Người dịch : Quế Sơn
Nhà xuất bản Trẻ, năm 2000, 130 trang.
Nguyên tác tiếng Ý ”SETA”, nhà xuất bản R.C.S., Milan, Ý, 1996.
Bản tiếng Việt dựa trên bản tiếng Pháp, ”SOIE”, nhà xuất bản Albin Michel, Paris, 1997 và tham khảo bản tiếng Ý.
(Chú ý: Xin đừng lộn với cuốn “Lụa” cũng của A. Baricco do người khác dịch và do công ty văn hóa Nhã Nam (Hà Nội) xuất bản năm 2007.)
Bản in của Nxb Trẻ đã tuyệt bản, nhưng nếu thích, các bạn có thể đọc nó toàn bộ trên mạng : http://www.vnfreelance.net/pub/Lua.pdf   hay vào Google tìm thì có vài bản khác dễ đọc hơn.

Quế Sơn-Ngô Bảo Châu-Phan Việt

(more…)

Read Full Post »

« Newer Posts