Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Ngô Đình Hải’

Chợ thiệp

Không tính tới lúc Terry Jacks hát “Season in the sun” (1974). Trước đó, Sài Gòn đã có rất nhiều bài hát, Tây Ta có đủ, về “mùa nắng đẹp” Giáng Sinh. Cái mùa mà Sài Gòn hơi se lạnh vào những buổi sớm mai. Những chàng trai, cô gái Sài Gòn cũng điệu đàng hơn một chút, với chiếc áo khoác mỏng nhiều màu sắc bên ngoài chiếc áo chemise, hay áo dài, khi ra phố buổi tối.

Nhạc “Giáng sinh” thì tuỳ, bạn có thể thích thì nghe, không thì thôi! Nhưng có những chỗ bạn phải ghé ít nhất một vài lần trong năm. Nó thuộc về thói quen, về lối sống và văn hóa của người Sài Gòn cũ.

Nó nằm rải rác trong nhà sách, trên hè phố, hay trước dãy tường bên hông những Nhà thờ. Nhiều nhất và cũng đông vui nhất là những con đường nằm cạnh Bưu điện Sàigòn.

Nơi đó bán duy nhất một thứ quen thuộc, quen tới mức không cần tìm hiểu nó có từ đâu và từ hồi nào. Những tấm thiệp. Thiệp Giáng sinh, thiệp Năm mới. Một tờ giấy cứng gấp đôi, bên ngoài in hay vẽ những hình ảnh tuyệt đẹp, nhiều màu sắc, tượng trưng cho một mùa. Phần giấy trắng bên trong là để ghi những lời chúc lành cho nhau.

Người Sài Gòn có thói quen gửi thiệp Giáng sinh, thiệp Năm mới cho bạn bè, người thân. Gần thì trao tay, xa thì nhờ Bưu điện. Cánh thiệp là cách biểu hiện tình thân, là cách kết nối và quan tâm lẫn nhau. Nó như một nhắc nhở, một cách gián tiếp nói rằng tôi vẫn bình an và tôi đang nhớ tới bạn. Những lời cầu chúc tốt đẹp tôi viết gửi trong tấm thiệp là tấm lòng của tôi gửi cho bạn. Nó đáng quý biết chừng nào.

Những tấm thiệp sẽ được cất kỷ trong ngăn kéo, hoặc sẽ được treo lên cây thông Noel, hay cây mai cây đào ngày Tết. Nó vừa để trang trí, vừa để nói lên rằng bạn đang có mặt ở đây, đang cùng với gia đình chúng tôi đón một mùa Giáng Sinh, một Năm mới an lành và hạnh phúc.

Những năm tháng còn đi học, lang thang đi lựa mua thiệp là một cái thú. Người nhận khác nhau, những tấm thiệp và lời chúc bên trong cũng khác nhau. Nhất là gửi thiệp cho người con gái mình yêu thích. Với tôi là thứ khó khăn vô cùng. Phải cân nhắc, phải thận trọng khi viết từng câu, từng chữ. Tới lúc đưa, lúc gửi thiệp cũng hồi hộp. Và rồi nhận lại cũng…hồi hộp!

Cũng không chỉ có thiệp, thân tình hơn, người ta tặng cho nhau những món quà nhỏ. Những món quà mang ý nghĩa riêng tư của người cho và nhận. Sài Gòn không có mùa Đông, mùa Đông ở trong lòng người! Những món quà làm xích lại gần nhau hơn, làm ấm lại cái tình trong chút gió lạnh đầu Đông!…

Giờ thì nhanh gọn hơn nhiều. Có nhớ tới nhau, người ta chỉ cần mở máy vi tính, tìm một cái tên, tìm một tấm hình với lời chúc có sẵn rồi bấm gửi, thế là xong!

Quá tiện lợi và dễ dàng. Dễ tới mức như trả nợ. Người gửi cho có, người nhận thờ ơ.

Chẳng ai quan tâm tới cái đẹp vô hồn của tấm thiệp và những lời chúc sáo ngữ trong đó. Tất cả chỉ còn mang tính hình thức.

Để rồi, nếu như tình cờ nghe được mấy câu hát:

“Mong ước ngày sau như là ngày trước

Tay trong tay nhớ lúc trao thiệp đầu Xuân”*, mới thấy nhớ, thấy tiếc!…

Cái tiện dụng làm mất đi sự rung động, làm tê liệt những cảm xúc. Làm giết chết một thói quen đẹp. Làm mất đi một thứ văn hóa đáng yêu và đầy thi vị…

Chỗ bán thiệp cũng không còn nhiều. Không sao! Tôi sẽ tự đãi mình một bữa tiệc Giáng Sinh, bằng cách xuống phố, tìm mua vài tấm thiệp. Một cái để tặng mình và những cái còn lại dành tặng cho…kỷ niệm!

Vài cái thiệp hình cây thông hay ông già Noel “Merry Christmas And Happy New Year”. Vài cái thiệp tràn ngập những cánh mai vàng rực rỡ, hay hình ảnh: “Có cô con gái nhà ai – Mẹ cho mặc chiếc áo dài đón Xuân…”!

Cũng đáng để làm trong một ngày nắng đẹp, trong đầy rẫy những bất trắc và âu lo thường nhật…

Và nếu như tình cờ, bạn nhận được một tấm thiệp vào dịp Giáng Sinh, Tết… Có nghĩa là ở một nơi nào đó, có người luôn nhớ tới bạn và những câu chữ trong đó là những yêu quý rất thực!…Hãy ôm giữ và trân trọng cái hạnh phúc đó, bạn nhé!

Read Full Post »

Không biết!

Ngô Đình Hải

.

Mưa mấy bữa nay. Mưa từ sáng tới tối. Trời âm u miết. Mưa rừng dai dẳng. Mưa thúi trời thúi đất. Nước chui qua lớp lá rụng, qua đất, đất nhão nhoét. Nước từ chỗ cao dồn xuống thấp, làm thành vũng lớn, như cái bẩy. Kiểu này vô phương ló đầu ra ngoài. Mà ra thì đi đâu? Đạp chưn xuống, cái nào cái nấy lún tới mắt cá, giỡ khỏi lên, lấy gì đi. Kiến rừng bể tổ, gom thành từng giề trôi lều bều, thứ đó mà bám vô được bắp chuối, chun vô quần mà cắn là kêu trời không thấu! Rắn, rít ướt chèm nhẹp, leo lên cây nằm thở, thấy động đậy đớp sãng là chuyện thường! Khỏi đi là cái chắc…

Buổi chiều xuống lẹ, mới đó mà muốn tối. Tiếng mưa, tiếng côn trùng rĩ rã, tiếng cây lá rì rào, buồn muốn đứt ruột. Khác xa với thường ngày, tiếng máy cưa, tiếng turbo hú của mấy chiếc reo nhì kéo gỗ, tiếng gọi nhau dậy một góc rừng, giờ im re. Hắn đứng trong chòi, ngó ra bãi gỗ tròn đầy cứng, kéo dài mút mắt. Cây xếp lỗn nhỗn lên nhau, chẳng ra cái đám ôn gì. Xe lão Hoạch chứ không ai. Với hắn, lão Hoạch như một người anh, một người thầy. Lão Hoạch vui tánh, tốt bụng, nhưng ẩu cũng vô can. Chỗ nào ngon nhứt, tiện nhứt, là lão đổ cây xuống đó. Lúc trước còn Phương trâu đi lơ, nó chịu khó, cây xuống tới đất, còn ra vô cáp tới ngay tưng mới chịu thôi. Giờ thì lão bỏ mặc vậy đó! Anh em cằn nhằn thì lão tỉnh bơ:

– Xe tao…già rồi, theo tụi mày có mà đứt hơi, chừa cho tao một cửa sống với…

Rồi cũng thôi! Anh em mà! Xe nào mà chẳng tính chuyện ăn dầu. Ở rừng, cực như thú! Ngó qua ngó lại có chừng đó mặt, thương nhau không hết nói gì tới chuyện khác. Cái chòi của hắn là cái chợ, cái sòng bài, cái quán nhậu kiêm luôn cái nhà trọ! Tất cả đều miễn phí! Thậm chí đồ gì của hắn trong chòi cũng là của chùa, xài thoải mái!…

Đứng một chập thấy chán, hắn quay vô chòi đốt đèn, nhúm lửa bắc ấm nước trước. Có cái bếp dầu, nhưng hắn thích đốt củi. Củi rừng minh thiên, đốt chừng nào hết! Mùi củi cháy và tiếng nồ lẹt đẹt của cây, làm hắn thấy dễ chịu và bớt lạnh lẽo hơn.

Thiệt ra hồi đầu ở đây tới 3 đứa. Rồi một đứa chịu không nỗi cái không khí của rừng, tự động đua mất. Còn lại hắn với Thanh Phe! Thanh Phe hồi nhỏ ở nhà dòng, dân tu xuất, đờn ca hát xướng thứ gì cũng rành, mà uống rượu cũng thầy chạy! Tháng trước Thanh dính cái tai nạn lãng òm. Thợ cưa ngó ngọn cây, canh hướng gió, mở miệng cưa ngon lành, tới chừng cây ngã, tự nhiên gió đổi chiều, mà gió mạnh. Thanh Phe đứng tuốt luốt ở xa, không hiểu sao lại dính cái cành nhỏ xíu, chui cái rẹt qua đùi ngon ơ! Thanh la như bò rống! Mấy lúc có chuyện như vầy, mới thấy bản lĩnh của lão Hoạch. Lão cưa ngang nhánh cây, để nguyên cái cành ở trong đùi, xé áo băng lại. Nhờ chiếc lô-bồi tháo cái thớt, lấy mỗi đầu kéo, thay cho xe cứu thương, chở Thanh phe đi bịnh viện. Thấy anh em căng thẳng, Lão Hoạch cười:

– Vẫn còn hên, xỉa lên phía trên chút nữa, là nó hết lấy vợ!…

Thanh Phe đi rồi, chỉ còn mình hắn cu- ki trong cái chòi giữa rừng tới nay. Hắn đứng dậy, đi lấy chai rượu làm một ly cho ấm bụng. Gió từ ngoài cửa lùa vô, lưng hắn lạnh toát. Vừa kịp hắn quay lại thì gặp khách đứng lù lù ngay cửa. Một người đàn bà, hắn biết nhờ mái tóc dài loà xoà trước mặt. Trời này mà khách mặc chỉ mỗi cái áo thun xám và cái quần jean mới lạ. Cái áo thun, đúng rồi! Cái áo của hắn, cái áo dính nhựa thông làm thành từng đốm như vẽ bông trước ngực, lầm sao được! Cái áo hắn bỏ quên ngày rời bịnh viện. Giờ cái áo lại trùm lên một vóc dáng quen thuộc, đã ám ảnh hắn nhiều đêm. Hắn kêu lên thảng thốt:

– Chị…Chị…Hạnh!…

Không kịp suy nghĩ, hắn nhào ra cửa. Chị vẫn đứng yên đó, chờ đợi! Hắn chụp lấy tay. Bàn tay lạnh ngắt, chắc tại ở ngoài mưa lâu. Chị nghiêng đầu nhìn hắn và…cười. Nụ cười luôn làm hắn ngây ngất. Có quá nhiều cảm giác đan xen, không biết phải bắt đầu từ đâu. Hắn hỏi dồn, vừa hỏi vừa kéo:

– Sao…Sao chị vô đây được? Sao biết tui ở đây mà kiếm? Lão Hoạch nói hả? Vô nhà đi, vô…

Hắn lôi, chị ngoan ngoản đi theo, không nói tiếng nào. Hắn đưa chị tới ngồi trên khúc gỗ, bên cạnh bếp. Tới lúc này, hắn mới có dịp ngó chị rõ hơn. Mặt chị xanh mét. Cái áo thun ướt sũng, dính sát lên hai bầu vú lồ lộ, phập phồng. Bên ngoài trời đã tối. Từng cơn gió lùa vào mang theo những giọt nước mưa lất phất. Hắn lính quýnh. Chạy ra hạ cái phên che cửa trước. Chạy lại, ấm nước đang sôi. Hắn rót nước nóng ra cái chén, đặt trước mặt chị. Lật đật lục tung trong ba lô, lôi ra cái áo khoác màu đỏ, lấy thêm bộ đồ khô. Hắn đưa hết các thứ cho chị, nhắc:

– Uống nước nóng, thay đồ đi cho khỏi lạnh, nói chuyện sau…

Chị đưa tay đón, nhìn hắn rồi…cười. Nụ cười đã hai năm hắn chưa đước nhìn lại, vẫn không có gì thay đổi, vẫn ngọt ngào, vẫn quyến rũ như ngày nào. Hắn mê nụ cười đó quá! Hắn quay mặt đi để cho chị thay đồ. Hắn nhìn cái bóng chị chập chờn trên vách, lẩm bẩm:

– Hai năm…Hai năm rồi!…

Hơn hai năm trước, đói quá, hắn xin theo phụ lão Hoạch, vô rừng kiếm ít củi về bán. Xe đã có Phương Trâu đi lơ, lão Hoạch vẫn cưu mang thêm hắn. Tiền bán củi được đồng nào, lão cho hắn hết. Không tính toán, không so đo. Lão Hoạch dân xe, không vợ không con, sống qua hai chế độ, lại đi rừng lâu năm nên cứng nghề lắm. Lão chỉ dạy Phương Trâu với hắn rất tận tình. Thậm chí, ăn nhậu cở nào đi nữa, tháng tháng lão cũng bỏ ống chút đỉnh, chừng nào gom đủ tiền thì lo cho Phương Trâu vô trường lái, đặng có cái bằng mà lên tài với người ta, chứ đi lơ biết ngày nào khá. Lão cũng hứa, sau Phương là lo tới hắn. Nhưng chắc tại cái số hắn ăn mày, nên mới đi cây được mấy chục chuyến, tay kéo cáp chưa kịp chai, thì hắn dính sốt rét rừng. Dính nặng!

Nhờ lão Hoạch quen biết, xin xỏ, hắn được vô nằm bịnh viện Tỉnh, tiêu chuẩn công nhân viên. Phòng sốt rét nằm tuốt phía sau, gần dãy nhà xác, vắng hoe!

Sáng, được ăn tô cháo thịt, xong chờ y tá tới độp cho một mũi ký-ninh vô mông. Thứ này khó tan, rút cây kim ra là nổi cục u cứng ngắt, tê buốt nguyên một bên chưn, chiều đổi qua mông kia, độp tiếp mũi nữa, liên tiếp chừng một tuần là hai chưn hắn muốn xụi, đi hết nỗi, mà sốt vẫn hoàn sốt!

Phòng hắn nằm có 2 giường, giường bên kia có một tay người Thượng, vô sau hắn 3 ngày, trụ thêm được 3 ngày nữa, là đi thẳng ra ngõ sau luôn! Trước đây hắn nghe đồn, người Thượng biết nhiều thứ lá cây rừng, đem ngâm rượu uống, khỏi bị sốt rét! Giờ vô đây, hắn mới biết trật lất. Ở rừng mà không bị rét hiếm lắm, nhưng hên xui thôi! Dính rét ác tính như tay người Thượng là đi chắc, có mạnh như trâu, rét vật cũng chết. Còn dính rét như hắn, lai rai ngày có ngày nghỉ, cách ngày hắn lại làm một cử. Một, hai lần đầu chưa biết, tới lần thứ ba là hắn lo thủ trước. Chập tối, nghe ơn ớn lạnh, hắn gom hết mùng mền, trùm lên người, rồi ngồi chịu trận. Lạnh từ trong xương lạnh ra, lạnh tới hai hàm răng đánh bò cạp, người hắn run từng chập, lạnh run không kềm được. Tới chừng hết lạnh qua nóng, nóng dữ dội. Lột hết đồ ra vẫn nóng, mồ hôi mẹ, mồ hôi con tuôn dầm dề! Chịu xong một cử sốt rét, là hắn xuôi tay như thằng chết rồi, hết còn biết gì nữa, mặc kệ cha đời tới đâu thì tới!

Ở bịnh viện, hình như có tới hai y tá trực đêm. Một tay nam ghé qua rất sớm, chủ yếu là ngó coi hắn còn sống không, rồi biến mất. Người nữ y tá thì ghé trể hơn, có khi rất trể. Chị thường ở lại lâu hơn. Dọn giùm hắn cái cà-mên cơm ban chiều, kê lại cho hắn cái gối, kéo lại cho hắn cái áo, cái quần, tả tơi sau cơn rét. Gặp bữa hắn chưa ngủ, mở mắt ra thấy chị, chưa kịp mở miệng thì chị đã cười cười như cảm thông, rồi khoát tay đi mất!

Bữa tự nhiên hắn lên cơn rét trể. Tới tối mới nghe lạnh. Lạnh dã man, lạnh hết biết. Hắn cuộn tròn lại mà run. Lơ mơ thấy chị ngồi bên cạnh, ôm chặt lấy hắn như chuyền thêm hơi ấm! Người hắn run lên từng chập trong tay chị, đầu hắn gục vào trong ngực chị mà thở, cho tới hết cử rét. Hắn bắt đầu nóng hầm hập. Chị đở hắn nằm xuống, cởi bớt đồ, rồi nhẹ nhàng lau mồ hôi trên mặt, trên người hắn, như một người mẹ chăm sóc con đang bịnh. Lần này thì hắn không bỏ lỡ cơ hội, hắn thều thào:

– Cảm ơn chị. Chị trực đêm hả? Chị…

Chị chỉ tay lên ngực áo, có cái tên trên đó:

– Chị…Hạnh…Tui qua được rồi…Tui…

Chi đặt một ngón tay lên miệng hắn như không cho nói, rồi chị cười. Trời ơi! Khi chị cười, mắt, mũi cũng như cười theo. Nụ cười thánh thiện, bao dung và ấm áp biết chừng nào. Nụ cười đẹp nhứt trên đời!

Bất chợt chị cúi xuống, hôn lên khuôn mặt ướt đẫm mồ hôi của hắn. Đầu óc choáng váng tay chân rã rời sau cơn sốt, hắn muốn nhấc tay lên ôm lấy chị mà không dám. Đành nằm yên đưa mắt nhìn chị đi khuất, rồi mang nụ cười của chị vào trong giấc ngủ…

Chiều hôm sau, lão Hoạch ghé, đem cho ổ bánh mì thịt, ly cà phê đá và gói thuốc Vàm cỏ. Ngồi coi hắn ăn, lão hỏi:

– Cắt sốt chưa?

Hắn vừa nhai vừa lắc đầu. Lão Hoạch nhìn quanh thấy không có ai, lôi trong túi áo ra gói giấy nhỏ đặt lên giường:

– Tao gửi về Sài Gòn, mua cho mày một liều Fansidar. Thứ này hồi trước lính Mỹ uống. Giờ hiếm lắm. Chơi luôn một lần ba viên là chắc ăn…

Lão ngắm nghía hắn một lát, tiếp:

– Coi bộ mày tệ quá! Kham nỗi không? Chứ Mỹ thằng nào cũng cả tạ, còn mày…

Hắn cầm gói thuốc, trút hết vô miệng, rót nước uống liền, rồi nằm vật xuống giường. Có gì đâu mà suy nghĩ, cửa nào cũng chết!

Một lát, ngực hắn nghẹn lại, người như hỗng khỏi giường. Hắn còn thấy lão Hoạch ngồi đó, nhìn hắn đăm đăm, và hắn lịm đi! Hắn lơ mơ bay bổng, qua con sông, qua cánh đồng, theo mấy con diều đi…đi…Rồi hắn thấy mình nhỏ lại…nhỏ lại…giữa những hàng cây. Toàn cây và cây. Cây mênh mông. Cây làm thành rừng, cây vây lấy hắn. Cây che chỡ, cây đe doạ…Cây ngã xuống ầm ầm. Người hắn như có ai níu lại, kéo xuống…

Hắn mở mắt. Cái hắn nhìn thấy trước tiên là…nụ cười! Chị Hạnh ngồi bên, hai tay chị giữ chặt lấy hắn mà lắc. Gặp nụ cười đó, hắn biết mình còn sống. Hắn cười lại với chị, rồi thiếp đi tiếp…

Hôm ra viện, lão Hoạch nói với hắn:

– Mày cần dưỡng sức. Quên xe cộ đi. Tao xin được cho mày về bãi gỗ tròn của Công ty rồi. Vô đó mà sống, mà làm quen với rừng. Rừng chịu nuôi mày đã. Khoẻ lại tính sau…

Thế là hắn về cái chòi này. Ở yên được mấy tháng. Gom được ít tiền làm củi. Hắn lên thị trấn, ghé chợ mua cái áo khoác màu đỏ làm quà, rồi chờ tới tối, vô bịnh viện thăm chị Hạnh. Tay bảo vệ già nghe hỏi, ngó hắn lom khom, lắc đầu quay đi. Hắn nằn nì:

– Chị Hạnh y tá, làm ca đêm ở Khoa lây!…

Thấy hắn khẩn khoản thiệt tình, tay bảo vệ thở dài:

– Ừ có, lâu rồi! Mà…mà… hết làm rồi!

– Tui mới nằm đây mấy tháng trước, còn gặp chỉ…

– Đã nói…hết rồi! Hết rồi!

– Biết chỉ ở đâu không?

– Sao tui biết! Trong đó không có ai! Không tin cứ vô coi!

Vô chứ! Vô gấp! Không có ai thiệt! Cả một dãy hành lang vắng lặng, căn phòng hắn nằm trống trơ… Hắn cầm cái áo khoác đỏ trong tay, đứng ngẩn ngơ cho tới khi sương đêm dầy đặc mới chịu về…

Hắn chịu đựng chuyện này đã hai năm. Hắn lên xuống cái bịnh viện nhiều lần và chỉ nhận được những cái lắc đầu! Hắn mang cái thắc mắc suốt hai năm dài và giờ chị lại ở đây, như một phép lạ! Hắn chết trân khi quay lại. Bộ đồ ướt đã trút bỏ xuống chân. Chị trần truồng, chỉ mỗi cái áo đỏ khoác hờ lên người. Chị nhìn hắn cười, nụ cười mời mọc. Ánh lửa đong đưa, ngực chị căng cứng trước mắt hắn thách thức! Hắn nuốt nước miếng, tim hắn đập mạnh. Quá sức chịu đựng của một thằng đàn ông. Hắn gần như bồng lấy chị quăng lên giường, hôn tới tấp lên nụ cười thần thánh trên mặt chị. Chị quấn chặt lấy hắn, thở dồn dập…Bên ngoài mưa vẫn rơi!

Nửa đêm hắn giật mình dậy, chị đang say ngủ. Hắn đốt điếu thuốc, bỏ thêm mấy cây củi vào đống lửa. Ánh sáng bừng lên. Hắn lượm bộ đồ của chị, tính hong cho khô. Cái quần jean ướt mèm, nhưng hai gấu quần không dính một miếng đất! Lạ thiệt chứ! Hắn ngồi lại xuống giường, biết bao nhiêu cái ấm ức, muốn hỏi, nhưng nhìn gương mặt mãn nguyện của chị trong giấc ngủ, hắn lại không đành đánh thức, thôi để sáng vậy…

Sáng nay hắn dậy trể, điều hoàn toàn trái ngược với thói hằng ngày của hắn. Quơ tay qua bên cạnh không thấy chị, cái áo khoác đỏ đưa cho chị, giờ đắp trên người hắn, mùi da thịt của chị còn phảng phất đâu đây! Hắn nhổm dậy hốt hoảng, nhìn quanh chòi cũng không có. Bộ quần áo phơi trên bếp còn nguyên. Hắn dựng tấm phên cửa lên. Mưa đã dứt, mặt trời lấp ló, nắng đã bắt đầu chui qua kẽ lá. Chung quanh hoàn toàn yên ắng. Chị đã đi mất. Đi không mang theo một thứ gì, ngoài con tim của hắn…

Lão Hoạch ực xong ly rượu, rồi nói:

– Vô lý! Tao có biết Hạnh nào đâu mà chỉ đường! Mưa cở đó, đường nào mà vô đây?

– Không biết!…

– Rồi tới hồi ra đi cách nào, đi đâu?

– Không biết!…

– Tao nghi không phải người…

Dám là…là…Mà sao lại là mày? Sao…

Hắn cầm ly rượu, nụ cười của chị hiện lên trong đó sóng sánh, cặp mông tròn và hai đùi kẹp chặt lấy hắn, người chị ưởn lên, co duỗi từng chập. Hắn rùng mình:

– Không biết!…

NĐH

Read Full Post »

Gã kỳ quặc

Ngô Đình Hải

.

đứa con trai nàng gặp

trong đêm lễ Giáng sinh

Chúa ơi! Hắn kỳ quặc

đứng kế mà làm thinh

.

hắn lại còn nhắm mắt

không ngó qua một lẩn

chiếc váy hồng đẹp nhất

đang ở gần, rất gần

.

trong căn nhà của Chúa

nàng cầu nguyện ngày mai

hắn nghe, nhìn ra cửa

“mai qua Giáng sinh rồi”!…

.

Chúa ơi! Hắn đâu biết

hắn may nhất trần gian

đêm nay Chúa mang lại

cho hắn một thiên thần

.

rồi nàng hờn nàng giận

nàng trách hắn vô tình

rồi nàng rơi nước mắt

người đâu mà kỳ quặc!

.

chưa tan lễ hắn đi

chỗ hắn còn hơi ấm

trong chiếc áo học trò

phảng phất mùi chiến y…

NĐH

Read Full Post »

Người tình cũ

Ngô Đình Hải

.

cũng tại những gian nan trong anh

muốn nói cảm ơn em

.

cũng tại những gập ghềnh trong anh

muốn lặng lẽ tìm em

.

cũng tại những sóng gió trong anh

muốn gượng cười với em

.

cũng tại những câu thơ lạc vận trong anh

muốn theo sau lưng em

cũng tại thời trai trẻ trong anh

đã gọi lại tên em

………

“này…

người tình cũ…

chưa quen!”

NĐH

Tranh: HS Đỗ Trung Quân

Có thể là hình vẽ ngẫu hứng

Tất cả cảm xúc:

Read Full Post »

Khi em lên phố thị

Ngô Đình Hải

.

Này em,

người đàn bà đi tìm nhan sắc

bằng những thứ không thuộc về mình

đã che mặt bằng văn tự điếu tang

và nhân danh những điều hoang tưởng

phải chắp nối ước mơ từ hạnh phúc lượm lặt

rồi đánh mất mình bằng ngôn ngữ vô ơn

.

Này em,

người đàn bà mặc áo gấm đi đêm

không nhìn thấy cơn mưa chiều buồn bã

miệng cống tanh nuốt trôi từng chiếc lá

vội vá víu đời bằng thứ rác rưởi lạ xa

.

Này em,

người đàn bà với cái danh xưng

không biết sao con nước lúc ròng lúc lớn

chảy xuôi ngược hai chiều trên một dòng sông

sao con dế mãi nỉ non trên những cánh đồng

và cây lúa làm đòng không có thì con gái

.

Này em,

nếu còn có ngày mai

tôi hứa sẽ quên em

như quên con cá không còn bơi trên biển

như quên một loài cây cỏ tật nguyền

nhánh xương rồng trổ ngược gai vào đất

.

Này em,

người đàn bà không biết khóc

đừng giận,

bởi đơn giản nó chỉ là những lời nói thật.

NĐH

Tranh HS Đỗ Trung Quân

Có thể là hình vẽ ngẫu hứng

Tất cả cảm xúc:

Read Full Post »

Kẻ phản trắc

Ngô Đình Hải

.

Hắn đi kiện. Toà hỏi:

– Kiện ai?

Hắn đáp:

Kiện cái bóng tôi!

– Tội gì?

– Tội phản trắc!

Toà lại hỏi:

– Có nhân chứng không?

Hắn vỗ ngực:

– Có! Ở đây!

Toà nói:

– Ngươi muốn xử cách nào?

Hắn gào lên:

– Treo cổ!…

Kẻ phản trắc phải bị treo cổ!..

– Được, ta sẽ cho cái bóng đối chất với ngươi. Ta sẽ treo cổ kẻ phản trắc! Bất kể kẻ đó là ai.

– Công bằng! Phải như vậy mới công bằng.

Đèn thắp lên, cái bóng được hắn đưa tới trước vành móng ngựa, thản nhiên đứng nghe, không chút gì lo sợ.

Cuộc đối chất bắt đầu.

Hắn nói với cái bóng:

– Ta sinh ra ngươi. Ngươi thuộc về ta!…

Cái bóng ngắt ngang:

– Không đúng! Là ông tự nghĩ, tự cho như vậy. Ông không hề sinh ra thứ gì hết. Thượng đế sinh ra tôi để làm bạn đồng hành với cuộc sống của ông thôi!

Hắn tiếp:

-Ta ở đâu ngươi phải ở đó.

– Đúng!

– Ta làm gì ngươi phải làm theo.

– Đúng!

– Ta vui ta buồn, ngươi cũng phải buồn vui theo…

– Đúng! Tôi là cái bóng của ông. Trước sau vẫn vậy. Vĩnh viễn không thay đổi.

Hắn tiếp:

– Gần đây thì khác! Ngươi không nghe lời ta nữa…

– Không đúng!

– Ngươi không theo ta, không tham dự vào bất kỳ việc gì của ta…

– Không đúng!

– Tới trong giấc ngủ, ngươi cũng không thèm chui vào ta như ngày xưa…

– Không đúng! Tôi vẫn trung thành với ông như ngày nào. Tuyệt đối trung thành. Ông không thấy, không biết, chẳng qua là ông thay đổi. Ông đã mượn áo người khác. Mượn cuộc sống người khác. Ông tình nguyện làm cái bóng của người khác, để hưởng chút vinh quang thừa thãi, chút bổng lộc thừa mứa của họ. Ông tự đánh lừa mình, không phải tôi!

– Không phải ngươi cố tình cho ta thấy, ngươi đang theo một cái hình khác sao? Đồ phản trắc!

– Không đúng! Cái hình tôi theo chính là ông ngày cũ. Chỉ có ông, chính ông đã phản bội con người mình. Chính ông mới là kẻ phản trắc!

Toà nhìn xuống hắn. Bộ quần áo đang mặc. Cái mặt nạ đang đeo. Luôn cả cử chỉ và lời nói của hắn, đều toát ra sự gian trá, bịp bợm.

Toà chỉ tay vào hắn:

– Ta đã thấy! Không cần những thứ cái bóng kể. Chỉ riêng chuyện ngươi nhẫn tâm gạt bỏ, kẻ đi theo mình suốt cuộc đời, đủ thấy ngươi là kẻ bội bạc, kẻ vô lương. Chính ngươi! Ngươi mới là kẻ phản trắc! Kẻ phải treo cổ chính là ngươi, chứ không phải cái bóng!

Mặt trời lên, pháp trường được lập. Hắn đứng trước sợi dây thòng lọng đong đưa. Tiếng trống dồn dập, báo hiệu giờ hành quyết. Hắn sợ hãi, hắn bất động! Chiếc mặt nạ trên mặt rơi xuống. Từ sau lưng hắn, cái bóng nhẹ nhàng bước lên, cho đầu vào trong vòng tròn sợi dây…

NĐH (1/12/2017)

Tranh HS Đỗ Trung Quân

Có thể là tác phẩm nghệ thuật

Read Full Post »

Tiếng gáy

Ngô Đình Hải 

.

Chiều 28 Tết, thằng cháu dưới quê mang lên cho con gà nòi trống, đặng làm thịt cúng 30, đón ông bà. Nó cột 1 chưn bỏ phía sau nhà. Coi như xong, không ai quan tâm tới con gà nữa…

Sáng 29 Tết, hắn dậy sớm. Hồi này hắn hay mang mấy thứ không đâu vào giấc ngủ, chập chờn tới 3,4 giờ sáng là thức. Hắn bắc ấm nước, mở cửa nhìn ra sân sau. Con gà qua một đêm, như đã hồi sức lại sau một chuyến đi dài, đang nghiêng nghiêng cái đầu ngó hắn. Trời vừa ửng sáng. Hắn thảy cho nó nắm gạo, quay vô pha ly cà phê, thì nghe tiếng đập cánh, rồi tiếng gáy vang dội ngoài sân. Thằng cháu cũng lò mò dậy, tiếng còn ngái ngủ, nhưng vẫn không dấu được sự kinh ngạc:

– Ý!…Lạ nghen! Gáy nghe được quá chứ!

Hắn hỏi:

– Là sao?

Thằng cháu nói:

– Con này thua độ, con mua lại của trường gà! Bữa đó, con coi mình, coi chưn, coi vảy thấy ngon lành. Đem xổ với con dưới màu rõ ràng. Vậy mà thua một trận lãng nhách! Đau thấu bà cố luôn…

– Tao hỏi tiếng gáy kìa…

– Thì chắc nó cũng đau, nên thua trận đó về, tắt tiếng luôn! Giờ lên tới trên này nó gáy ngon lành, còn khí thế nữa chứ. Hay là nó biết mai phải chết, nên gáy từ giã!…

Con gà lại gáy, tiếng gáy không một chút e dè, như ngạo nghễ, như thách thức, như muốn lên tiếng về sự có mặt của mình…

Hắn lại hỏi:

– Mà sao thua?

– Cha chủ gà bán độ cậu ơi! Chả chơi chiêu. Ra trường đá thấy thiên hạ kết cái tướng gà, cáp 10 ăn 7, theo nhau nằm cửa trên. Chả ngầm bấm con gà muốn liệt, nhảy không nỗi, dính cựa liên tục. Chứ nó trên chưn, dễ gì thua! Tưởng nó bỏ gáy rồi…

Thằng cháu ngưng ngang, soạn đồ, pha thêm bình trà. Rót cho hắn một chung trước. Chậm rãi hớp một hớp cho thấm giọng rồi mới tiếp:

– Nghĩ mắc cười. Mấy con gà cũng lạ. Thấy mặt là nhào đầu vô đá nhau trối chết, tưởng tranh hùng tranh bá gì, ai dè chỉ để mua vui cho con người. Bị con người lợi dụng bày ra thành trò chơi, để móc túi nhau. Hồi xưa, ra đá, hai con gà như hai võ sĩ thượng đài. Quần nhau từng thế võ, tính toán, cân nhắc từng cái né, cái ra đòn, để thắng đối thủ. Con nào kém tài, chịu không nỗi, thua thì tơi tả chạy, cùng lắm là bị thương nằm bẹp, chứ khó chết lắm! Đá một trận, có khi ba, bốn hồi nhang, cả tiếng đồng hồ.

Thằng cháu rót trà tiếp, chép miệng, ngao ngán:

– Giờ đâu còn…Đá vậy lâu ăn lắm! Cũng bởi tính lợi, tính hại, vì đồng tiền mà ra. Chuốt cựa cho bén cũng xưa rồi. Con người mang cái ác trùm lên mình chúng. Họ gắn thêm cựa sắt, bén nhọn như con dao trong tay người. Hai con gà thản nhiên giết nhau mà không biết. Nhảy mấy cái, cựa đâm thấu tim, chết ngắc. Đá vậy mới mau ăn thua. Rồi cũng vì vậy mà sinh ra tráo trở, gian manh.

Cái thằng, bữa nay mắc chứng gì mà lý sự dữ. Hắn cười:

– Gà không biết nói, chỉ biết gáy, thì nó gáy! Còn hơn người biết nói, mà nói những lời khó nghe mới dị. Để nó đó, tao nuôi cho nó gáy chơi. Lát bây ra chợ, kiếm con khác về mần thịt thế…

Vậy là con gà được sống. Tiếng gáy đã thay đổi số phận của nó. Và rồi những ngày Tết sau đó, mỗi lần nó gáy lại như mang trả cho hắn hình ảnh của ruộng đồng, những ngày Xuân quây quần thời niên thiếu! Từng hình ảnh xưa cũ theo về. Hắn hồi hộp sờ tay lên áo, mường tượng mấy bao lì xì đỏ còn nằm yên trong túi. Hắn như nghe cười, tiếng nói của người đã khuất. Tiếng pháo râm ran, tiếng chúc tụng của người lớn như còn nguyên ở đâu đó. Tiếng reo hò, tiếng chân chạy theo nhau trên đường đê của đám bạn, xúng xính trong bộ quần áo mới. Hắn thấy gian bếp nhà đầy nhóc đồ ăn. Chơi tới chừng nào thấm mệt, chỉ cần chạy ào vô, là có khoanh bánh tét với dưa cải, hay tô cơm nguội, thịt kho hột vịt…

Ăn xong, lại bàn thờ ông Địa đốt cây nhang cầm tay, đi rảo chung quanh vườn, rình coi con gà trống nào đang hung hăng rượt đá mấy con khác, là hắn đốt tặng cho mấy viên pháo mót, nổ hoảng vía chơi…Nhiều, nhiều lắm! Mỗi lần con gà cất tiếng gáy là hắn lại nhớ tới một thứ, liên tu bất tận.

Hắn vui với tất cả những điều này…

Qua tới mùng 8 Tết, con gà không gáy nữa. Nó nằm yên, nhướng con mắt mệt mỏi nhìn hắn, khi hắn tới gần. Vết thương của trận chiến cũ đã không buông tha nó. Hắn bồng nó trên tay, vuốt ve đám lông trên lưng nó, rồi thầm thì:

– Cảm ơn mùa Xuân của mày…

NĐH

hình: internet

Có thể là hình ảnh về gà chọi

Read Full Post »

Ngô Đình Hải 

(Tranh Đinh Trường Chinh)

Có thằng đệ, trước đi phụ xe tải cho hắn. Anh em no đói có nhau. Thân không vợ con, hắn thương thằng nhỏ như con, chỉ dạy tận tình. Dạo đó xe hiếm, toàn xe quốc doanh. Kiếm được cái bằng lái đã trần thân, có được cái xe chạy kiếm cơm là phước đức ông bà để lại! Tiền lương tháng, xí nghiệp trả, của ai nấy lấy. Xe ra tới đường là xe của hắn, hắn chịu trách nhiệm. Mất mát, hư hỏng, tai nạn…mọi thứ đều đổ lên đầu hắn. Thế nên tiền chở hàng thêm, tiền bán dầu dư, hắn muốn xử sao là chuyện của hắn, lơ xe miễn ý kiến. Hắn chia cho thằng đệ rất ít, phần của hắn cũng không hơn gì. Tới ăn nhậu hắn cũng hạn chế tối đa. Dư được đồng nào, hắn cất hết vô trong cái hộp thiếc, để bên dưới ghế ngồi. Chuyện để dành chút đỉnh phòng khi đau ốm, hay có sự cố là chuyện tất nhiên, ai cũng phải vậy, nhứt là với loại kiếm miếng ăn ngoài đường như tụi hắn. Hắn không nói ra, thằng đệ cũng chớ có mà dám hỏi. Chỉ âm thầm chịu đựng, chấp nhận thiệt thòi hơn khi có dịp tâm sự với mấy đứa đi phụ xe khác trong xí nghiệp. Hắn mặc kệ. Hiểu cũng được, mà không hiểu cũng không sao! Hắn tính rồi, chỉ cần gom đủ tiền là hắn xin cho nó vô trường lái liền, 18 tháng ăn học ở trường chứ ít ỏi gì. Ai nuôi? Ai đóng tiền học? Học xong, lấy bằng rồi, cũng phải chừa một ít để xin xỏ, để kiếm xe chạy cho bằng chị bằng em. Đi lơ miết biết chừng nào khá!…

Vậy mà, đùng một cái, thằng nhỏ xin nghỉ. Hắn tưởng nó giận hắn chuyện tiền nong, so bì ít nhiều mà đòi bỏ nghề. Cực chẳng đã, hắn mới nói chuyện để dành tiền làm gì cho nó nghe.

Thằng nhỏ ứa nước mắt, nhưng nó vẫn nói nghề xe cực quá, còn nguy hiểm, nó nhắm kham không nổi. Để nó đi kiếm nghề khác mẩn ăn. 

Tự nhiên hắn thấy buồn ngang xương. Thôi kệ, nó đã muốn vậy, nghề không muốn nhận nó, giữ nó lại cái kết cuộc cũng chẳng tốt lành gì. Chữ nghĩa thằng nhỏ nhiều hơn hắn, nó còn trẻ, hy vọng đồi nghề sẽ khá hơn!…

Hôm thằng nhỏ nhận quyết đinh thôi việc của xí nghiệp, hắn nghỉ chạy, dẹp xe. Thằng nhỏ lấy nước rửa, rồi rị mọ lau từng ngóc ngách trong xe, như để nói lời chia tay. Hắn mặc kệ cho nó làm. Chiều lại, đợi nó lau xong, hắn mở tấm nệm ghế ngồi, lôi cái hộp thiếc đựng tiền để dành cầm theo, trước khi ra quán nhậu quen. Hắn nói với nó:

– Bữa nay mày có quyền uống thoải mái, sức uống được bao nhiêu cứ uống!

Cái tưởng chừng như đơn giản này lại là thứ tối kỵ trước đây, hắn luôn nhắc và không cho phép nó hay chính mình được làm. 

Thằng đệ ngồi uống, hắn lấy tiền trong hộp thiếc ra đếm, cẩn thận từng tờ một. 

Bỏ lại vô hộp một ít, còn bao nhiêu hắn đưa hết qua phía nó:

– Tiền của xe để lại. Tiền này trước để dành lo cho mày vô trường lái. Giờ không cần nữa. Nó là của mày, cầm lấy làm vốn. Khi nào rảnh nhớ ghé về thăm tao là được…

Sau bữa đó, thằng đệ đi biệt, không tin không tức gì. Hắn và chiếc xe vẫn tiếp tục cuộc sống thường nhật của mình. Xí nghiệp đưa đứa khác theo phụ, hắn lắc đầu không cần, mình hắn cân hết. Hắn bắt đầu uống rượu nhiều hơn. Sống hoang đàng hơn, tiền bỏ vô hộp thiếc để dành cũng thưa dần, thậm chí nhiều khi không bỏ luôn. Có quái gì phải lo nữa đâu!

Mới đó mà gần 20 năm. Hắn cũng đã mấy lần thay xe khác, cái hộp thiếc vẫn đi theo và nằm đúng vô chỗ của nó. Rồi cũng tới tuổi hưu. Ngày hắn giao xe cho xí nghiệp để nghỉ. Anh em xe hùn lại mua tặng hắn cái điện thoại di động, cho dễ liên lạc. Hắn nhận, cười:

– Có nhậu nhớ a-lô nghen!

Chỉ có vậy. Hắn rời nơi đã gắn bó với gần hết cuộc đời mình nhẹ tênh. Mỗi bộ đồ và cái hộp thiếc đi theo…

Nghỉ lại thì lúc trước thằng đệ cũng có cái lý của nó. Nghề xe coi vậy chứ bạc lắm. Buông xe ra, bước xuống đất, là huề trớt. Cái kiếm được trên đường trả lại cho đường sạch nhách. Cái vô-lăng tròn vo, xoay tới xoay lui, buông ra cũng trở về như cũ, y chang như cuộc đời cầm lái của hắn vậy. Có cha tài xế nào mà về chiều có của ăn của để đâu!…

Gần Tết, buổi sáng trời trở lạnh. Hắn ho sù sụ, ngực rát rạt. Bao nhiêu sức lực phung phí từ hồi còn ôm xe, cộng với mấy đợt covid, làm hắn xuống thấy rõ. 

Điện thoại reng. Hắn giật mình khi nghe tiếng thằng đệ:

– A lô! Ông thầy khỏe không? 

– Trời đất! Khoẻ!…Khoẻ!…Mày đang ở đâu? Sao…Sao biết số của tao?

– Dễ ẹt! Điện hỏi xí nghiệp chứ đâu! Tui ở xa lắm, Móng Cái lận, tuốt gần biên giới. Để đó nói sau đi. Ông thầy bắn cái tài khoản qua đây, tui gửi ít tiền xài tết!…

– Cái…Cái gì?…Số tài khoản hả? Tao làm gì có cái đó! Hồi nào tới giờ có xài gì tới nó đâu?…

– Lạc hậu thiệt chứ! Thôi bắn cái số chứng minh với cái số nhà cho tui cũng được, tui gửi bưu điện cho, ra đó lãnh nha!…

Chưa kịp hỏi thêm thì nó đã tắt máy. Chiều 23 Tết, hắn ôm cục tiền cúa nó gửi, mới lãnh ở bưu điện về. Nhiều, nhiều quá, tới mấy chục triệu! Hắn mở nắp cái hộp thiếc, ngó mấy đồng bạc ít ỏi còn lại, rồi bỏ luôn cọc tiền vô đó. 

Ngoài đường xôn xao chợ búa. Người ta đang mua sắm đón Tết.

Hắn rót cho mình ly rượu, uống khan. Hơi rượu xộc lên mũi, hắn nghe hai mắt cay xè. Hắn nhớ tới những cái Tết trên đường, những lúc xe giao hàng xong không về kịp. Nhứt là cái lần có thằng nhỏ. Chiều 30, tấp xe vô chân đèo. Con đường vắng thấy sợ. Giờ này có mấy ai ra đường. Cúng xe xong, thì trời sụp tối. Xe trống, hai thầy trò leo lên thùng xe ngồi ăn. Thằng nhỏ bất ngờ lôi ra chai rượu tây, có hiệu đàng hoàng, không biết nó mua hồi nào. Hắn buột miệng:

– Sang dữ bây!…

Nó cười:

– Kệ, Tết mà…Thà trâu bò đạp chết, chứ để ruồi muỗi cắn chết đau lắm ông thầy ơi!…

Lần đầu tiên trong đời, hắn kể cho người khác nghe, chuyện một đứa nhỏ mồ côi, lê lết ở bến xe cho tới ngày làm tài xế như thế nào. Thằng nhỏ nắm lấy bàn tay chai sần của hắn, đặt cái ly rượu lên đó. Hắn hỏi:

– Còn mày, sao không chịu học hành, theo nghề này chi?

– Tui khác! Tui có cha mẹ anh em, có nhà cửa, có đi học. Cái gì cũng có! Cái có nhiều nhứt là cái nghèo! Mà nghèo hoài chịu sao thấu!…

Hắn bật cười. Hắn thấy vui với cái cách nói chuyện văn chương của thằng đệ. Chai rượu có bao nhiêu đâu mà đêm đó hắn say quắc…

Hắn cầm cái hộp thiếc đầy tiên lên ngắm nghía. Lớp sơn bên ngoài tróc gần hết, dễ chừng nó theo hắn mấy chục năm rồi còn gì. Hắn lại cầm cọc tiền lên tay. Bất chợt hắn nói như nói với cái hộp:

– Mày thấy đó! Má! Tao cần nó vác cái mặt về thăm tao, chứ cần chó gì cái thứ này…

NĐH

Read Full Post »

Ngô Đình Hải

Chất xong mấy cây mai, cho quá giang xe tải về trồng lại. Ba Đực thở phào. Mai năm nay đẹp, giá lại thấp hơn năm ngoái, vậy mà ít khách. Chắc năm rồi làm ăn khó, người ta để tiền, mua những thứ cần thiết hơn cho ba ngày Tết. Tánh Ba Đực ngang, đói thì chịu, nhứt định không phá gía! Công lao cực khổ cả năm trời, bán đổ bán tháo lão xót, thà đem về dưỡng cho năm sau…

Đã quá trưa 30, chợ bắt đầu thưa người. Ba Đực đứng tần ngần ngắm hai cây mai đẹp nhứt để lại, hy vọng từ giờ tới chiều, có người mua, vớt cú chót rồi về. Lão lẩm nhẩm hát, bài hát lão thích nhứt hồi trẻ: “Nếu mai không nở, anh đâu biết xuân về hay chưa…”*

Có mai nở là có mùa xuân. Thấy mai là thấy Tết. Ba Đực nhớ những ngày ở rừng. Những ngày ở gần cái chết. Sự sống ở màu vàng mai, làm thoát ra khỏi cái u ám, cái tối tăm đe doạ của bạt ngàn cây lá. Mai không có mùi thơm. Mai mang mùi bình yên, mùi của sự sống. Cái mùi làm cho buổi sớm thanh thản, nhẹ nhàng hơn. Ba Đực không ngửi mà cảm thấy rất rõ, sau mỗi phiên gác đêm, trong cái chòi nhỏ ven rừng. Mùi mai trong gió, trong hơi thở của rừng. Ba Đực mang theo, làm thành cái nghề mới.

Tiếng con Lành phía sau:

– Dọn sớm vậy cậu Ba?

– Ừa, sớm gì nữa, cho nó đỡ cực! Sớm là bây kìa. Bữa nay cũng mần nữa ha?

– Làm gì có, thiên hạ về với gia đình hết rồi, ế độ ra chơi với cậu thôi… – Cúng kiến gì chưa? – Chưa cậu ơi, còn cậu?

– Qua hả? Khoẻ re, có một mình với mấy con chó, về tới dưới, mần thịt con gà là xong. Mình nghèo, lo kiếm ăn, ông bà khuất mày, khuất mặt, đâu có chấp! Lành im lặng một lát, rồi ngập ngừng: – Tui cũng mình ên! Buồn đứt ruột! Vô tui chơi đi cậu Ba, chiều về…

– Thôi! Qua già rồi…

– Đừng thôi mà cậu Ba, cậu làm không được thì tui…làm cho cậu! Tui năn nỉ mà…Coi như xả xui cuối năm đi cậu…

Vừa nói, Lành vừa nắm tay Ba Đực lắc lắc. Thấy con nhỏ gần muốn khóc, Ba Đực cầm lòng không đặng. Lão ngó ra chỗ khác, rồi gật:

– Vô trước đi, chút qua vô

– Thiệt nghen, thề nghen cậu Ba…

Ba Đực lại gật lia lịa. Lành đi khuất, tự nhiên lão cũng thấy bồn chồn. Lâu rồi, không gần đàn bà, giờ nhắc cũng thèm. Hồi thiếu uý, dính hết 1 năm cải tạo! Ba Đực mới 22, ra tù lủi về quê, sống cu ky với mấy công ruộng, ông bà gìa để lại. Anh em tứ tán, thân ai nấy lo. Có con bồ thì vượt biên mất biệt! Ba Đực chán đời, ở vậy mà sống.

Làm ruộng thất, Ba Đực lên vườn, trồng mai bán Tết, cũng có ăn. Năm nào 23 Tết, đem mấy chục gốc mai lên đúng chỗ này, ăn dầm nằm dề, bán lai rai tới 30 thì rút. Ngồi bán ngắm thiên hạ sắm Tết cũng vui. Riết rồi ghiền cái không khí Tết của chợ. Mấy năm trước không, năm nay lại có thêm con Lành. Chỗ Ba Đực bán, nhè ngay đầu hẻm nhà trọ của nó. Lành bán bia ôm và đi khách luôn ở cái quán tuốt ngoài đường rầy xe lửa. Chiều qua, quán nghỉ. Lành lang thang chán, mò về ngang qua chỗ bán mai của Ba Đực.

Đúng lúc lão đang nướng con khô sặc ăn cơm. Mùi thơm lừng. Con Lành ghé vô làm quen, rồi ăn cơm với lão luôn. Chập tối, khách coi mai đông, nó cũng líu lo chào mời, phụ với Ba Đực tới khuya, còn tự nguyện đi mua cho lão tô mì gõ, rồi mới chịu đi ngủ… Ngồi trầm ngâm một lát, chừng như hài lòng với quyết định của mình. Ba Đực đứng phắt dậy, gửi 2 cây mai cho bạn hàng bên cạnh. Dắt chiếc Dream dông xuống dốc Cầu Bông, mua con vịt quay, mấy ổ bánh mì với lít rượu đế. Về lại chỗ bán. Ba Đực cột thêm miếng ván phía sau yên, chất một cây lên đó. Còn lại một cây, Ba Đực lục túi lấy cuốn sổ, kiếm cái số nhà, rồi kêu tay xe ôm quen. Tay này ngày thường chở người. Tết chở cây kiểng kiếm ăn. Ba Đực đưa cho hắn tiền và cái địa chỉ, dặn: –

Nói với thầy Tân là cây mai này tui biếu thầy chơi Tết. Chúc thầy ăn Tết vui vẻ, năm sau gặp.

Ba Đực chỉ mới biết thầy Tân mấy năm sau này. Lần nào lên bán cũng gặp. Thầy có vẽ thích và rành về mai. Chắc hồi trẻ phong lưu lắm. Có thầy ghé qua, Ba Đực cũng pha ấm trà mời. Rảnh thì tiếp chuyện, không thì thầy cứ ngồi đó, nhâm nhi trà mà ngắm mai thoải mái. Thầy Tân nói hồi chiến tranh, gia đình thầy không còn ai trong cái Tết năm nào. Thầy lưu lạc luôn từ đó! Cái ấm cúng, cái hạnh phúc của gia đình thầy, như chỉ chờ mai nở mà hiện về. Ngồi giữa những chậu mai đầy hoa của Ba Đực, thầy như sống lại được những ngày tháng êm đềm cũ. Chỉ có vậy, chưa bao giờ nghe thầy hỏi mua. Mai bây giờ là cái thú, cái khoe sự sung túc. Ba Đực biết thầy Tân thích lắm. Ra ngồi chơi thôi, mỗi lần Ba Đực bán đi cây mai đẹp nào, khách chở đi. Thầy Tân đều ngó theo, ánh mắt đầy tiếc rẻ. Nhưng mai quá mắc, mua không nổi so với hoàn cảnh của thầy hiện nay. Ba Đực biết, thầy Tân mượn cớ, có buôn bán, làm ăn gì đâu, mà nhờ mai nở rộ, đặng cầu tài cầu lộc, rồi làm bộ ngó lơ, nuốt nước miếng mà nhịn…

Chào từ giả và chúc tết bạn hàng chung quanh xong. Ba Đực chậm rãi chở cây mai còn lại vô nhà Lành. Hẻm nhỏ, người ta ngồi đầy bên sòng cắc-tê, sì-dách, bầu cua lộ thiên. Phải khó khăn lắm, Ba Đực mới chui vô được tới nơi. Lành đứng đợi sẵn lão trước cửa. Chậu mai bỏ xuống choán gần hết nửa đường đi. Cũng chướng, nhưng thây kệ, Tết mà. Cả con hẻm sáng rực. Lành ngó cây mai, ngó lão, ngạc nhiên. Ba Đực cười: – Để chưng cho có 3 ngày Tết! Căn nhà nhỏ xíu, trống hốc trống hoác. Một cái bàn gỗ ọp ẹp kê sát vách làm bàn thờ. Trên có hình người phụ nữ và cái hủ cốt. Ba Đực để con vịt quay, chai rượu và mấy ổ bánh mì lên đó. Không có giường, chỉ có chiếc chiếu, chắc mới được trãi ra, ngay dưới chân bàn.

– Bà già tui đó, chết năm rồi… – Đốt nhang đi. Có gì cúng nấy!

Lành vói tay cài chốt cửa, thấy Ba Đực nhìn chiếc chiếu có vẽ ngần ngại, nó cười: – Không sao, bà già… quen rồi!… Mùi nhang hăng hắc làm căn phòng thêm ngột ngạt. Ba Đực xá mấy xá, lẩm bẩm mấy câu với người phụ nữ trong hình. Quay lại, con Lành đã cởi quần áo từ hồi nào. Nó kéo Ba Đực nằm xuống, vuốt ve khắp người lão. Thằng đàn ông trong người Ba Đực trỗi dậy. Lão nhìn con Lành nằm tênh hênh bên cạnh. Ngực phập phồng, hai cái đùi bắt chéo, nhô đám lông đen ra ngoài khiêu khích. Con Lành chờ đợi, nó sợ Ba Đực đổi ý, sợ lão từ chối. Sợ bất kỳ cái khái niệm đạo đức nào, bất chợt trỗi dậy trong người lão. Chút…tự ái nghề nghiệp. Cái nghề chết tiệt! Cái nghề được nhắc đến giữa thương cảm và khinh bỉ. Cái nghề luôn bị kẻ nhân danh sự cao cả, cúi xuống nhìn như một thứ rác rưởi. Ba Đực khác. Cái nông dân trong lão nghĩ suy rất đơn giản. Con Lành bán thân như lão bán mai vậy. Ai thích, ai cần thì mua. Sòng phẳng. Mua trong thích thú, vui vẻ, lão sướng. Mua mà ngắm nghía, nâng niu từng cánh hoa, để thấy hết cái đẹp, cái hồn của hoa. Rẻ một chút, lão cũng bán. Còn ngược lại, chờ cái thế kẹt, tàn chợ hoa Tết của lão như bữa nay, mà chê bai, dè bĩu, ép gía, trả tiền như ban ơn. Thứ đó không biết chơi, lão cóc cần. Ba Đực bán mai là bán nguyên cây. Bán cái công cưa cành, tỉa nhánh làm thành cái tướng, cái nổi trội của cây mai giữa muôn ngàn cây khác. Không phải gía, lão đem về. Ăn Tết nghèo thêm một chút, thiếu thốn một chút, đã sao! Tết quê thì có sắm sửa gì đâu. Mồi nhậu thì minh thiên. Chủ yếu là lo cúng kiến cho phải đạo. Ba Đực ngó con Lành, ngó quanh cái phòng lần nữa. Lão chợt xót. Lão nửa muốn nằm úp lên cái thân thể đó, nửa ái ngại muốn đứng lên. Lại lo con Lành tự ái, tưởng lão chê, nó tủi thân. Tội! Ngày mai là ngày đầu năm. Tống cựu nghinh tân. Con Lành thì tân nổi gì, cựu hơn, tơi tả hơn thì có. Lành cứ lặng im vuốt ve Ba Đực. Lành đang rách, đang cần tiền. Nhưng không hiểu sao, giờ này, nằm đây, Lành lại thấy khang khác. Cái hơi đàn ông không còn là để chịu đựng, để chán chường, mà lại là thứ để che chở, để an ủi. Lành chờ cái ôm của Ba Đực. Cái ôm không cần tính tiền! Phần Ba Đực cũng thấy lạ với mình. Ngay từ đầu Ba Đực đã không muốn vô đây. Lão quen sống cu ky một mình, không có đàn bà lâu lắm rồi. Ở quê loay hoay từ sáng tới chiều, hể chịu làm là làm không hết chuyện, làm cho quên ngày tháng, quên cái thiếu thốn, trống vắng trong căn nhà. Tối lại, lai rai vài ly cho dễ ngủ. Tới chừng thấy cần có người bên cạnh, giựt mình ngó lại thì gìa cha nó rồi, thôi nhịn luôn… Bữa nay, con Lành làm lão cao hứng, lão muốn tự thưởng cho mình, một ngày không như mọi ngày cũng đáng. Ba Đực ngó mặt con Lành, ngó cặp mắt lim dim của nó thấy cũng ngộ, lão không đành lòng, lão không muốn nó buồn. Lão ôm lấy nó, lão quên hết chuyện đời, hì hục thở. Lành rướn người, nhích tới nhích lui, đụng chân bàn, cái hủ cốt khua lộp cộp trên đầu… Lâu lắm, Ba Đực mới hoàn hồn. Lành vẫn để mình trần, ngồi tiếp rượu với lão. Nó uống cũng ngọt sớt. Ba Đực thấy vui, thấy bớt lẽ loi hơn mọi năm, bớt chán chường hơn khi nghĩ tới lúc phải về căn nhà với miếng vườn dưới quê. Lành xé cái đùi vịt quay đưa cho lão:

– Ở dưới quê ăn Tết chắc vui hơn trên này hé cậu Ba?

Ở đây buồn lắm, Tết đâu có ai đi chơi bời. Mấy đứa kế bên về quê hết rồi. Tui mà có quê, tui về liền… Ba Đực gạt ngang:

– Tầm phào! Sao không có? Con người mà không có quê hương, xứ sở đâu phải con người. Lành bật cười, cười mà như khóc:

– Tui nè, cậu Ba. Nhiều khi tui cũng không biết tui phải người không nữa. Người sao khổ quá vậy! – Tầm bậy, sông có khúc người có lúc…

– Lúc nào không biết, chứ tới giờ thì… Lành ngưng ngang. Nó rót đầy chung rượu, cầm hai tay đưa Ba Đực đàng hoàng. Chờ lão uống xong, Lành rót cho mình, nó uống còn lẹ hơn Ba Đực. Đặt cái chung xuống chiếu, Lành ngó Ba Đực:

– Để tui kể cho cậu Ba nghe. Bà già tui bỏ quê, lên ở đợ trên này. Thằng chủ nhà, tức là ông gìa tui đó, rù quến quất cho một bụng. Chả hoảng, lập kế cho con vợ đánh ghen, đuổi bà già ra khỏi nhà. Về không được, ở lại lấy gì ăn. Sanh tui xong, bả làm gái nuôi tui. Lớn lên tui làm gái nuôi lại bả. Bà già tui nói “Thà của mình đem bán nuôi thân, còn hơn cho không nó, đã nhục còn mang tiếng ngu, tới quê cũng không dám về”. Tui hỏi “Quê đâu? Mắc mớ gì không về”. Bả nói “Mình nhục đủ rồi, làm nhục ông bà mang tội”. Vậy đó, rốt cuộc quê ngoại, quê nội gì cũng không biết, không có. Tui là cái giống gì, cậu Ba?

Ba Đực im lặng, con Lành kể, lão rót rượu uống. Lành ngưng nói, lặng thinh tiếp rượu Ba Đực. Lão uống tới đâu nó theo tới đó. Chai rượu cạn queo. Ba Đực lôi hết tiền bán mai ra đếm, lẳng lặng đặt một nửa dưới lư hương, nói trống không:

– Ăn Tết vui vẻ… Lúc Ba Đực dắt xe ra, trời đã sẩm tối. Chậu mai trước nhà biến mất. Lành gào lên chửi. Có tiếng giang hồ lao xao:

– Đám Út Nhanh chơi rồi, khỏi kiếm! Ba Đực đẩy Lành vô nhà, kêu đóng cửa lại, lão cười rất nhẹ nhàng với đám đông:

– Chậu mai tệ gì cũng bạc triệu, nói nó đừng bán rẻ quá. Uổng!….

Ra khỏi hẻm. Ba Đực còn tần ngần chưa muốn đi. Còn mấy tiếng nữa là Giao thừa, là hết một năm, là già thêm một tuổi. Ba Đực thở dài, nổ máy. Day lại thấy con Lành tất tả chạy ra, nhảy thót lên xe ngồi. Nó kiếm đâu ra bộ bà ba màu mỡ gà, coi hiền khô. Ba Đực giương mắt ngó, Lành cười: –

Của bà già để dành, đặng về quê, mà chưa bận lần nào… – ….

– Tui về với cậu… – ….

– Thì cũng có người phụ cậu mần con gà, bắc nồi cơm cúng, hay uống rượu với cậu. Lẹ đi, trời tối rồi…

Ba Đực ngước nhìn trời. Ừ, tối. Tối như đêm ba mươi là cùng. Rồi ngày mai trời sẽ sáng. Chắc chắn như vậy…

Ngô Đình Hải

(*Đồn vắng chiều xuân-Trần thiện Thanh)

Read Full Post »

Rượu Xuân

Ngô Đình Hải

chai rượu mới vừa mở nắp

ta uống trong ngày đầu năm

thoảng hương dậy thì con gái

mùi này lâu không thấy mặt

.

chắc xuân ngó ta thấy ghét

nên ít khi ghé hỏi thăm

ngày em bỏ ta đi mất

bàn tay rót rượu bỗng run

.

rượu thì ngày nào chẳng gặp

có uống được nữa hay không

mà xuân tới lui bất tận

còn em biền biệt mù tăm

.

thì rót cho đầy cái nhớ

rồi mơ em về qua ngỏ

nghiêng ly nhìn em thật gần

trong màu hoàng hôn tím đỏ

.

chai rượu còn hơn phân nửa

xuân hỏi uống thêm làm gì

ta chợt khom người xuống mửa

thấy ngày xuân vụn trong thơ

Read Full Post »

Older Posts »