Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Hàn Mặc Tử’

Chế Diễm Trâm

Năm 1936: năm định mệnh trong đời người, đời thơ Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) khi ông phát hiện bị mắc bệnh phong, một trong những căn bệnh hiểm nghèo thời bấy giờ, nhất là mặc cảm bị ghê sợ, bị xa lánh. Nàng Mộng Cầm, người yêu của Hàn Mặc Tử, bỏ đi lấy chồng. Bao khổ đau ập xuống, chồng chất… Nhưng dường như trong tận cùng bất hạnh, “thiên tài Tử bộc phát, thơ Tử mở ra một chân trời mới lạ hẳn.”([1]) (more…)

Advertisements

Read Full Post »

Nhật Chiêu

Ánh sáng lạ nhất trong thơ ca tiền bán thế kỷ hai mươi ở bán đảo Triều Tiên là HAN YONG-UN (1879-1944) và ở bán đảo Đông Dương là HÀN MẶC TỬ (1912-1940).

Thơ ca của họ vừa sâu thẳm những tố chất truyền thống Đông Á vừa dậy lên những làn sóng mới bất ngờ đến kinh ngạc.

Thoạt nhìn, Han Yong-Un (Hàn Long Vân) và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ rất khác biệt ngoài yếu tố vừa kể trên.

Song, khi đặt thơ họ bên nhau thì trong ánh sáng tương chiếu, ta sẽ khám phá ra những điệu thơ đồng dạng.

Sự đồng điệu lớn nhất của họ thể hiện ở “niềm im lặng” trong thơ.

Thơ của họ là một thứ ngôn ngữ đang tìm kiếm niềm im lặng.

Phong trào Thơ Mới của hai xứ (Hàn và Việt) có nhiều tài năng. Đương thời họ nổi bật hơn hai nhà thơ họ Hàn mà ta đang đối chiếu.

Nhưng rồi ta biết, bây giờ và tương lai, hai cái bóng của Hàn Long Vân và Hàn Mặc Tử  ngày càng lớn dậy trong nền thơ ca Đông Á.

Niềm im lặng trong thơ họ tỏa sáng. Đó là niềm im lặng tạo nên ý nghĩa (a kind of silence of signification) nói theo Roland Barthes.

***

Han Yong-Un là một thiền sư, một chiến sĩ, học giả, nhà văn, nhà tiên tri, nhưng trước tiên và trên hết, ông là một nhà thơ.

Ông qui y năm 1905 với pháp hiệu là Manhae (Vạn Hải).

Hàn là một trong 33 chí sĩ lãnh đạo phong trào độc lập của Hàn Quốc năm 1919 chống ách đô hộ của Nhật.

Ông viết nhiều tiểu luận về Phật giáo và sáng tác với nhiều thể văn khác nhau.

Kiệt tác của Hàn Long Vân là tập thơ Niềm im lặng của Tình yêu (Nim ui chimmuk, 1926), niềm tự hào của thơ mới Hàn Quốc, gồm 90 bài thơ xuôi (thơ tự do).

Khác hẳn Hàn Long Vân, nhà thơ Hàn Mặc Tử có một cuộc đời ngắn ngủi và bệnh tật. Hoạt động chủ yếu của Tử là viết báo và làm thơ, ngoại trừ thời gian ngắn có quan hệ với chí sĩ Phan Bội Châu ở Bến Ngự (vì thế mà bị Pháp xóa tên khỏi danh sách du học). Tử vướng phải bệnh phong từ năm 24 tuổi. Bốn năm sau, ông vào nhà thương phong Quy Hòa. Dù vậy, Tử có cuộc đời tình ái thuộc vào loại nổi tiếng nhất trong thơ ca Việt Nam. Nhưng đối với đời, Tử là Người Thơ, chỉ thế mà thôi. Tài thơ ấy bộc lộ qua các thi phẩm nổi tiếng Gái quê, Chơi giữa mùa trăng, Đau thương, Xuân như ý.

Tại sao Hàn Long Vân gọi tập thơ của mình là Niềm im lặng của Tình yêu (Nim ui chimmuk)? Chữ NIM (Tình yêu) mà nhà thơ dùng ở đây là một đại từ đa nghĩa, nhiều chiều, ta sẽ bàn sau.

Trước tiên, là “niềm im lặng” (chimmuk: trầm mặc).

Trước mọi tiếng ồn, âm thanh tất nhiên là im lặng. Phật được gọi là MUNI, người im lặng.

Theo dịch giả Francisca Cho, niềm im lặng ở đây có thể được diễn giải như sau: “Niềm im lặng tìm kiếm một bờ cõi nghệ thuật xuyên lịch sử để nói với tất cả những ai đang ước vọng. Manhae từng dùng tất cả thể loại văn chương có sẵn, kể cả chính luận và tiểu thuyết từng kỳ. Tuy nhiên, chính là thơ ca của niềm im lặng khởi từ nguồn triết lý Phật giáo dung hợp với tình thế lịch sử riêng biệt của mình mà nâng lên thành cuộc trầm mặc trong động lực phổ quát của ước ao. Niềm im lặng vận hành xuyên qua lịch sử cá nhân để tự vượt mình mà đến với sự thấu thị tôn giáo và thẩm mỹ”(1).

Hàn Mặc Tử cũng thường nói về người thơ như một “người nín lặng”. Trong bài tựa Thơ Điên năm 1938, ông viết:

“Người thơ chính là khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo.

Trên đầu người là biển cả vô biên và vô lượng… Người nín lặng để mà nghe tiếng trăng reo vang vang như tiếng châu báu vỡ lở”.

Người thơ im lặng đến mức Tử phải tự hỏi:

Người thơ chưa thấy ra đời nhỉ?

(Cuối thu)

Và nếu như Hàn Long Vân khởi đi từ nguồn triết lý Phật giáo dung hợp với tình thế lịch sử của mình thì điều đó cũng không xa trường hợp Hàn Mặc Tử.

Trong bài tản văn Chiêm bao với sự thực, Tử viết: “Và tôi sẽ ký thuyết minh một cách rất nhà Phật là sắc cũng như không, chết cũng như sống, gần cũng như xa và hư cũng như thực…”.

Tất nhiên, tư tưởng Thiền của Hàn Long Vân và tư tưởng tôn giáo của Hàn Mặc Tử có nhiều điều khác biệt.

Thiền của Long Vân kết hợp với tinh thần dân chủ và tự do hiện đại.

Tư tưởng tôn giáo của Tử là phối sắc của Phật, Đạo và Chúa.

Tất cả điều đó lọc qua thần trí cá nhân của hai nhà thơ, tạo nên thơ ca của niềm im lặng.

Niềm im lặng ấy trong văn chương là một cái gì rất cũ mà cũng rất mới. Thơ Vương Duy đời Đường, thơ văn Lý Trần ở Việt Nam…

Văn chương đương đại cũng đi đến niềm im lặng ấy theo cách thế của mình. Chẳng thế mà Gerard Genette khi nói về Những niềm im lặng của Flaubert đã quả quyết rằng:

“Ngôn ngữ chỉ tự mình trở nên văn chương phải trả giá bằng cách tự mình chết đi, vì nó phải đánh mất ý nghĩa của nó để đạt tới niềm im lặng của tác phẩm nghệ thuật. Hơn nữa, cuộc đảo hoán này, cuộc xoay chuyển ngôn ngữ thành niềm im lặng này đối với chúng ta hôm nay, là yếu tính của văn chương”(2).

Nhưng im lặng cũng như chân không trong văn chương không phải là sự bất động, cái chết hay sự trống rỗng.

Đây là một niềm im lặng mà Han Yong-Un gợi nên:

Lá ngô đồng bay lặng lờ qua không gian lặng gió – đó là dấu chân ai?

Tương tự thế, đây là câu thơ của Tử:

Ai đi lẳng lặng trên làn nước…

Không nói không rằng nín cả hơi!

Niềm im lặng mà cả hai tạo nên là cả một thế giới huyền bí.

“Dấu chân ai” của Long Vân và “ai đi” của Tử vừa có vừa không, vừa hư vừa thực. Ai ở đây không chỉ là sáng tạo của nhà thơ mà còn là phải nhận được hồi đáp sáng tạo của người đọc.

Nói theo Jeon Bo Sam, viện trưởng viện nghiên cứu tư tưởng Han Yong-Un, thì: “Niềm im lặng ở đây không đơn giản là thiếu vắng tiếng động, mà đó là một tiếng kêu mới, vang ngân đến tận đôi tai của chúng ta”(3).

Tiếng kêu mới (un nouveau cri)! Phải rồi, đó là tân thanh của Nguyễn Du. Tiếng kêu mới của mọi nhà thơ xứng danh thi sĩ. Nhà thơ, đó là người biết tạo nên khúc tân thanh từ những niềm im lặng của con người.

Niềm im lặng ở đây là một nghịch lý. Niềm im lặng là cái ẩn giấu trong ngôn ngữ, là cái không nói ra. Và khi ta cảm nhận được niềm im lặng ấy rồi thì ta cũng sẽ tìm thấy một thứ ngôn ngữ ẩn giấu trong đó. Cái ẩn giấu là cái vô hình. Ngôn ngữ dừng lại trong im lặng để cái vô hình ấy lan dần. Từ đó mà niềm im lặng cất lên tiếng hát.

Thơ ca như vậy biến nhà thơ và người đọc trở thành kẻ chiêm nghiệm và trầm mặc.

Chúng ta có thể tìm kiếm niềm im lặng ấy qua những ngấn tích sau đây trong thơ Han Yong-Un là Hàn Mặc Tử:

– Niềm im lặng của Nim và Ai

Thơ Han Yong-un là cuộc trò chuyện bất tận với Nim. Đó là Nim bên trong tâm hồn ông. Nên cuộc trò chuyện ấy biến thành cuộc độc thoại nội tâm.

Hàn Mặc Tử cũng thường trò chuyện với một đối tượng trữ tình là Ai. Ai đó là người yêu dấu, là một hồn linh huyền bí mà cũng có thể là một cái tôi khác của nhà thơ.

– Niềm im lặng của Trăng và Thơ

Đây là niềm im lặng của thiên nhiên và cái đẹp. Hình ảnh thiên nhiên vừa phù du vừa vĩnh cửu, vừa bình yên vừa biến ảo luôn luôn được biểu hiện trong ngôn ngữ của hai nhà thơ. Và bản thân thơ ca, người thơ, bản thân cái đẹp cũng trở thành tiêu điểm trong cuộc hành trình của họ.

– Tình yêu của niềm im lặng

Niềm im lặng sâu thẳm nhất là cái chết. Đối với hai nhà thơ tâm linh này, cái chết không đối lập với đời sống. Hơn nữa, trong cái chết và im lặng có đời sống và tình yêu.

1. NIỀM IM LẶNG CỦA NIM VÀ AI

Tập thơ Niềm im lặng của Nim xuất hiện vào những năm 20 thế kỷ trước đáp ứng đòi hỏi của một thực tại đang cần một tiếng thơ mới ở Hàn Quốc. Tuy phong trào Thơ Mới đã được thiết lập từ năm 1908 với bài Từ biển cả đến trẻ thơ của Choe Namson, nhưng cả Choe cũng như các thi sĩ Chu Yohan, Kim Ok và Kim Sowol, dù sáng tạo nhiều bài thơ được mọi người yêu thích, cái trữ tình của họ vẫn thiếu chiều sâu tư tưởng, thiếu một triết lý giúp nó kết nối mộng và thực.

Với Niềm im lặng của Nim, Han Yong-Un đã giải thoát cho dòng thơ đương đại đang có nguy cơ tắc nghẽn bằng một thứ thơ tự do mới lạ, vừa trữ tình vừa tâm linh, vừa thực tại vừa huyền bí, mà chẳng cần mô phỏng các trào lưu văn học phương Tây. Tất nhiên, không phải tác phẩm của họ không chịu ảnh hưởng từ bên ngoài. Bản dịchGitanjali (Thơ Dâng) của R. Tagore phổ biến ở Hàn Quốc vào năm 1923 cũng như nhiều tập thơ khác của thi hào Ấn Độ đã gây cảm hứng nồng nhiệt; đó là thơ soi chiếu thực tại huyền bí bằng giọng điệu của tình yêu. Trong Niềm im lặng của Nim có thể nghe thấy dư vang của Gitanjali và Người giữ vườn.

Ở Ấn Độ, Tagore là một thánh sư (Gurudeva), còn ở Hàn Quốc, Han Yong-Un là một cao tăng, một thiền sư. Tập thơ Niềm im lặng của Nim với chín mươi bài thơ được soạn ra như để làm mới lại khái niệm Nim, một đại từ có ý nghĩa rất đặc biệt và biến hóa trong tiếng Hàn. Trong thơ tình, Nim là người yêu, bạn tình. Trong thơ đạo lý, Nim là minh chủ, là nhà vua. Trong thơ tôn giáo, Nim là Phật, Chúa, Vĩnh cửu.

Có thể nói NIM vừa là chủ thể vừa là đối tượng trong tình yêu, là chính bản thân tình yêu. Do đó, đất nước, cuộc đời, cái linh thiêng… đều có thể gọi là Nim. Tùy trường hợp, có thể dịch Nim sang tiếng Việt là ngài, người, ai, anh, em…

Với Hàn, “đó là một điều ta ước vọng”.

Vậy thì Nim là du khách, ta là con thuyền:

Ta là con thuyền

Em là du khách

Em bước lên ta bàn chân bùn lấm

Ta ôm em mà thầm lặng băng sông

Khi ta ôm em, dù sâu hay cạn

Dù nước kia chảy xiết thế nào

Ta vẫn không ngừng vượt sóng…

(Bài 14)

Đó là một người khách huyền bí. Gần cũng như xa. Có mặt cũng như vắng mặt. Người khách của niềm im lặng. Ta là kẻ đưa đón, kẻ chờ đợi. Ta sẽ già. Còn người khách thì vĩnh cửu.

Người đọc có quyền nhìn thấy người khách như mình muốn, như bạn tình, như lịch sử, như lý tưởng, như thần linh… Và có thể đọc bài thơ như một độc thoại nội tâm.

Vậy thì, Nim là của ta nhưng Nim cũng thuộc về mọi người. Trong bài Ngộ nhận, Nim lại là một vầng trăng non đang lượn lờ trên cành cây cao. Và khi ta năn nỉ Nim hãy xuống đi cho thì nàng nói:

Nào phải em không muốn xuống đâu,

Nhưng em là Nim của mọi người, anh ạ

Phải đâu muốn từ chối lời anh mời gọi ngát thơm hơi…

(Bài 26)

Sau đó, vầng trăng non im lặng nhìn ta qua cửa sổ. Và trái tim ta run lên khiếp sợ.

Cuối bài Niềm im lặng của một người tình là một điệu buồn:

Tình ta đi rồi nhưng ta đâu muốn

Bài tình ca ta hát phong kín niềm im lặng của tình yêu

(Bài 1)

Từ đại từ NIM của Hàn Long Vân đến với đại từ AI của Hàn Mặc Tử dường như là một con đường của im lặng và đau thương.

Bắt đầu bằng một “ai” đầy quyền lực của tình yêu:

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu

Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?

(Những giọt lệ)

Kẻ mà có thể đày đọa tôi, ném tôi xuống “dưới trời sâu” chỉ có thể là nữ chúa của cõi tình.

Và đây là ai như một nghệ sĩ thượng thặng, sáng tạo từ lụa trời, chim bay, mây, lệ đến cô liêu, thu vàng, sao lạ… mà chờ đợi một tri kỷ là người thơ.

Lụa trời ai dệt với ai căng

Ai thả chim bay đến Quảng Hàn…

Thu héo nấc thành những tiếng khô

Một vì sao lạ mọc phương mô?

Người thơ chưa thấy ra đời nhỉ?

Trinh bạch ai chôn tận đáy mồ?

(Cuối thu)

Niềm im lặng của mùa thu vừa được sáng tạo với bãi cô liêu, với buồn phơn phớt, với vắng trơ vơ, với cây mảnh khảnh được thể hiện qua “những tiếng khô”, những âm thanh khô, những điệu hát khô.

Rồi “ai” chính là hồn để tôi dắt đi chơi, dẫn hồn đi suốt đêm. Hai chúng tôi cùng im lặng, cùng gào thét. Gọi là chúng tôi nhưng nào biết ai là ai.

Hồn là ai? Là ai? Tôi chẳng biết,

Hồn theo tôi như muốn cợt tôi chơi

Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười,

Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng…

Hai chúng tôi lặng yên trong thổn thức.

(Hồn là ai?)

Ta muốn níu hồn ai đương hiển hiện

Trong lòng và đang tắm máu sông ta.

Ta muốn vớt ai ra ngoài sóng điện,

Để nhìn em sắc mặt với làn da.

(Biển hồn ta)

Đó chỉ là một ảo giác? Không đâu, đó là một thứ “ai” chỉ có trong thơ Hàn Mặc Tử. Cái ai của đau thương tuyệt đỉnh. Làm sao vớt được cái đau thương? Với Tử, toàn bộ thực tại là đau thương.

Đến mức không còn ai hay ta nữa. Chỉ còn lại cái đau thương. Lẳng lặng, ngậm miệng, nín hơi.

Ai đi lẳng lặng trên làn nước,

Với lại ai ngồi khít cạnh tôi?

Mà sao ngậm cứng thơ đầy miệng,

Không nói không rằng nín cả hơi!

Chao ôi! Ghê quá trong tư tưởng

Một vũng cô liêu cũ vạn đời

(Cô liêu)

Chỉ còn lại im lặng một vũng cô liêu. Không còn ai nữa. Người thơ như chưa từng ra đời. Ngôn ngữ trở về với im lặng, với trinh bạch, với cái chết.

Để chỉ còn lại âm thanh của linh hồn:

Tiếng rú hồn tôi xô vỡ sóng

Rung tầng không khí, bạt vi lô.

(Cô liêu)

Cũng trong đêm cô liêu, nhà thơ Han Yong-Un cảm thấy:

Trên trời không có trăng

Dưới đất thì lặng gió

Cõi người ta im lặng

Cả tôi cũng vô hồn.

(Bài 6)

Cái đau thương của Hàn Mặc Tử và niềm im lặng của Han Yong-Un gặp nhau trong đêm cô liêu.

2. NIỀM IM LẶNG CỦA TRĂNG VÀ THƠ

Trăng là ánh sáng, là hào quang của thơ Hàn Mặc Tử. Trong một đêm xuân đầy trăng, nhà thơ cảm thấy thiên nhiên “giàu sang hơn Thượng Đế”.

Trăng là ngôi vị tối thượng trong thơ Tử. đó không còn là thơ nói về trăng. Đó là thơ viết thẳng lên trăng. Đó là ngôn từ hóa trăng:

Xin tha thứ những câu thơ tội lỗi

Của bàn tay thi sĩ kẻ lên trăng…

(Đêm xuân cầu nguyện)

Dù thơ Hàn Long Vân không có nhiều trăng nhưng ông cũng hình dung trăng như là Nim của mọi người, một Chúa Tình. Ở đây, trăng chính là tình yêu:

Xuống đi em, ta sợ

Sao em cứ lượn lờ trên cành cao đó?

Vầng trăng non trên cành liễu cười nhẹ đáp:

“Nào phải em không muốn xuống đâu,

Nhưng em là Nim của mọi người, anh ạ…

(Bài 26)

Cũng có khi, Han Yong-Un hình dung trăng như một người tình nam nhi:

Vầng trăng chiếu sáng, em nhớ anh quá.

Năm trước, em thấy mặt anh như trăng:

Và đêm nay trăng hóa thành mặt anh đấy.

Bởi mặt anh là trăng, mặt em cũng thế…

(Bài 58)

Rất giống tứ thơ của Tử:

Không gian đầy đặc toàn trăng cả:

Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng

(Huyền ảo)

Người trăng ăn vận toàn trăng cả

(Say trăng)

Bỗng đêm nay, trước cửa bóng trăng quỳ,

Sấp mặt xuống uốn mình theo dáng liễu…

Em, hãy nhập hồn em trong bóng nguyệt.

(Hãy nhập hồn em)

Trong tâm trí cô liêu của Hàn Mặc Tử có ba ngôi tối thượng, đó là

TRĂNG – THƠ – TÌNH

(ĐAU           THƯƠNG)

Trong đau thương, ông sống với tam vị nhất thể đó, với ba nguồn mạch đó.

Đo từ ngọn cỏ tới cung trăng,

Những sợi hào quang vạn thước vàng.

Bắt! Bắt! Thơ bay trong gió loạn

Để xem tình tứ nặng bao cân.

Tôi ước ao là tôi ước ao,

Tình tôi vô lượng sẽ dâng cao

Như bông trăng nở, bông trăng nở

Những cánh bông thơ trắng ngạt ngào.

(Ước ao)

Dường như trong thơ Han Yong-Un, theo tôi thì tam vị nhất thể nếu muốn có thể hình dung như sau:

NGÃ – TÌNH YÊU – VŨ TRỤ

(                   NIM                    )

Han Yong-Un từng viết:

“Niềm tin Phật giáo là một niềm tin vào ngã. Đó là một ngã thấu nhập vô số ngã khác, sự vật khác. Nói rõ hơn, mỗi người đều có khả năng cá thể hóa vũ trụ đồng thời vũ trụ hóa cá thể”(4).

Chính vì thế mà thơ ca Han Yong-Un vừa chan chứa tính siêu nghiệm tôn giáo vừa nóng ấm tính cụ thể lịch sử.

Cuộc đời, tôn giáo và thơ ca của Hàn Mặc Tử cũng vậy, được bọc trong một thứ ánh sáng rất lạ nhưng sống động niềm đau thương nhân thế rất thật:

Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm,

Cho trăng ngập trăng dồn lên tới ngực…

(Hồn là ai?)

Han Yong-Un cũng thể hiện rất thực một linh hồn đau thương:

Linh hồn tội nghiệp cháy trong lửa cuồng

Tìm thế giới mới trong niềm tuyệt vọng đóng băng

Ôi bông hoa sa mạc

Ôi trăng đầy của đêm không trăng

Gương mặt tình yêu của tôi ơi!

(Bài 33)

Cả hai nhà thơ dắt linh hồn đến đối diện với cái chết, với một ánh-trăng-không-trăng, với niềm im lặng, với THƠ.

Theo Han Yong-Un:

Hiện hữu của Tình yêu, cả đôi mắt và tâm hồn của Nim

  cũng không biết nổi…

Bí ẩn của Tình yêu thì chỉ có… giấc ngủ của Nim và mơ tưởng

 của thi nhân mới biết được mà thôi

(Bài 29)

Hàn Mặc Tử:

Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu…

(Thánh nữ đồng trinh Maria)

Thơ ca của Yong-Un và Tử có thể nói là một thứ thơ ca tự ý thức, một thứ thơ ca tự qui chiếu. Thơ và Người Thơ nhiều lần trở thành đề tài, trở thành hình tượng trong thơ ca của họ. thơ tự soi gương, tự phản ánh như châu ngọc trong lưới trời Đế Thích.

Hàn Mặc Tử viết:

Thuở ấy càn khôn mới dựng nên,

Mùa thơ chưa gặt tốt tươi lên,

Người thơ phong vận như thơ ấy

Nào đã ra đời ngọc biết tên.

(Xuân đầu tiên)

Còn HanYong-Un:

Ánh tà dương như bàn tay ngọc đang mơn trớn lòng trời vô tận

Như gót sen vàng dạo biển vô biên, đó là bài thơ ai?

(Bài 3)

Thơ hay người thơ ở đây không chỉ là ngôn ngữ mà còn là im lặng. Hơn nữa, đó còn là hiện tượng của sáng tạo, hiện tượng của khởi nguyên, hiện tượng của vô tận.

Thơ của họ đầy những trầm tư mặc tưởng về bản thân hiện tượng thơ ca.

Đó là thơ của thơ.

3. TÌNH YÊU CỦA NIỀM IM LẶNG

Tình yêu của niềm im lặng là tình yêu của vô biên và vĩnh cửu. Đó cũng là tình yêu của cái chết, điều mà Han Yong-Un diễn đạt rất tinh tế như sau:

Hãy đến đây trong cánh tay em, bờ ngực em dịu mềm chờ đón.

Nếu ai đuổi bắt anh, hãy tựa đầu vào ngực em.

Dù dịu dàng như nước, nó là gươm vàng và khiên thép chở che anh

Dù ngực em có tơi bời dưới vó ngựa như hoa, mái đầu anh cũng

      không rơi khỏi nó…

(Bài 85)

Vào tận cái chết của cô gái cũng là một tứ thơ của Hàn Mặc Tử nhưng không phải là trốn lánh một kẻ đuổi bắt nào, mà “cốt để dò xem tình ý lạ”:

Xác cô thơm quá, thơm hơn ngọc,

Cả một mùa xuân đã hiện hình.

Thinh sắc cơ hồ lưu luyến mãi,

Chết rồi, xiêm áo trắng như tinh.

(Cô gái đồng trinh)

Và nhà thơ khám phá được điều gì? “Té ra nàng sắp sửa yêu ta”. Bí mật của cái chết ấy là có một tình yêu sắp sửa. Khi Nàng ngủ, Nàng chết thì như Nim của Han Yong-Un, đó là lúc bí ẩn của tình yêu mới thể hiện. Cả một mùa xuân đã hiện hình!

Càng đọc hai nhà thơ họ Hàn, càng thấy ánh sáng kỳ lạ của họ tương chiếu, một điều đáng kinh ngạc!

Tình yêu của niềm im lặng cũng có thể là tình yêu cách xa hàng thế giới, tình yêu của mộng, một tứ thơ rất quen thuộc trong thơ Hàn Mặc Tử và Han Yong-Un.

Hàn Mặc Tử viết:

Anh đứng cách xa hàng thế giới,

Lặng nhìn trong mộng miệng em cười

(Lưu luyến)

Ôi muôn năm! Giấc mộng đã đời chưa?

Lúc ấy sóng triều rên rỉ chưa bưa,

Cứ nhắm mắt, cứ yêu nhau như chết.

(Đôi ta)

Một mai kia ở bên khe nước ngọc,

Với sao sương, anh nằm chết như trăng

(Duyên kỳ ngộ)

Với Han Yong-Un, tình yêu của niềm im lặng thể hiện bằng nghịch lý, những nghịch lý tựa công án Thiền:

Giọng nói em là “im lặng” chứ?

Khi em ngừng hát, tôi nghe giai điệu sáng trong hơn

Giọng em là “lặng im”.

 

Gương mặt em là “bóng tối” phải không?

Khi tôi nhắm mắt tôi lại, gương mặt em tôi thấy sáng ngời hơn!

Gương mặt em là “bóng tối”.

Cái bóng của em là “ánh sáng” ư?

Sau khi trăng lặn rồi, bóng em chiếu vào khung cửa tối.

Bóng của em là ánh sáng, em ơi!

(Bài 63)

Chỉ trong niềm im lặng, tình yêu mới có thể hiện lên như giai điệu không giai điệu và ánh sáng không ánh sáng. Niềm im lặng là một phương tiện thiện xảo để tâm truyền tâm.

Niềm nghịch lý ấy cũng phảng phất trong thơ Hàn Mặc Tử:

Càng xa nhau càng thấy được gần nhau

(Đánh lừa)

Và trong miệng ngậm câu ca huyền bí

Và trong tay nắm một nạm hào quang…

(Thánh nữ đồng trinh Maria)

Niềm nghịch lý ấy gắn với thân thế của ông, chứng bệnh của ông đến nỗi ông từng gọi tập “Đau Thương” của mình là “Thơ Điên”.

Hàn Mặc Tử trải nghiệm đau thương bằng cả hồn lẫn xác, bằng cả điên lẫn tỉnh, bằng cả mơ lẫn thực. Thơ được phóng xuất ra từ đấy, được phóng xuất ra như thế. Trong ngôn ngữ và cả trong im lặng.

Nguồn thơ đó băng ra từ tiếng kêu thống thiết và lâm lụy của đời mà vẫn đầy yêu thương.

Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế.

(Thánh nữ đồng trinh Maria)

Thơ ca Han Yong-un biến niềm im lặng thành một ngôn ngữ mới, thành bóng tối, thành ánh sáng, thành tình yêu, thành cái đẹp.

Thế giới của hai nhà thơ tạo dựng bằng truyền thống tâm linh phương Đông lẫn phương Tây, bằng phương tiện thiện xảo và hình thức tự do của văn chương hiện đại, bằng tình yêu vũ trụ tương lai1

____________

(1) Francisca Cho (dịch và giới thiệu), Everything yearned for: Manhae’s poems of love and longing, Wisdom Publications,USA, 2005, tr.131, 132.

(2) Gerard Genette, Les Silences de Flaubert. Dẫn theo bản Anh dịch Madame Bovary, Bantam classic, 2005, tr.473.

(3) Jeon Bo Sam (giới thiệu), Le silence de Nim, Editions Autres Temps, 1996, tr.20.

(4) Nae ka mitnun Pulgyo (Những niềm tin Phật giáo của tôi), dẫn theo Francisca Cho, tlđd.

CHÚ DẪN

Tất cả thơ Han Yong-un trích dẫn trong bài viết đều do người viết chuyển ngữ sang tiếng Việt dựa vào các bản dịch Anh, Pháp sau đây:

1. Le Silence de Nim, bản dịch của Kim Hyeon-ju và Pierre Mesini, Editions Autres Temps, Seoul, 1996.

2. Meditations of the lover, bản dịch của Younghill Kang và Frances Keely, Yonsei University Press, Seoul, 1970.

3. Love’s silence and other Poems, bản dịch của Jaihiun Kim và Ronald B. Hatch.

4. Everything yearned for, bản dịch của Francisca Cho, Wisdom Publications, USA, 2005.

5. The silences of love, bản dịch của Sammy E. Solberg, The University Press of Hawaii, 1978.

Ngoài năm bản dịch Anh, Pháp trên, chúng tôi có tham khảo hai bản tiếng Việt:

1. Tìm hiểu tập thơ Niềm im lặng của tình yêu của Bùi Phan Anh Thư, trường Đại học Dân lập ngoại ngữ -tin học TP. HCM, 2002 (GV hướng dẫn: Phan Nhật Chiêu. Đây là công trình nghiên cứu và dịch đầy đủ tập Niềm im lặng của tình yêu đầu tiên ở ViệtNam).

2. Sự im lặng của tình yêu, bản dịch của Lê Đăng Hoan, NXB Văn học, Hà Nội, 2006. Dịch giả chuyển ngữ 80 bài, để lại 10 bài không dịch.

Read Full Post »

Ngọc Hằng

Trăng nửa canh

Chong đèn đọc thơ thi sĩ

Hàn Mặc Tử

Tôi toát mồ hôi-Lặng ngưng hơi thở

Hóa cùng người bay giữa đêm thanh

Trăng xanh trăng xanh

Người là ai

Tôi kẻ hậu sinh

Xin chia cùng thống khổ

Trói cuộc đời trong giấc mơ điên

Thể phách tinh anh

Vũ trụ không-hình

Lấy cô đơn làm người tri kỷ

Read Full Post »

 Nếu như du khách đã quá quen thuộc với các tour du lịch Vũng Tàu, Nha Trang, Bình Thuận thì Quy Nhơn sẽ là điểm đến hấp dẫn cho những người yêu thích biển và sự bình yên.

Nằm ở phía Đông Nam tỉnh Bình Định, một bên là biển Đông vỗ về, 1 bên là núi biếc trùng điệp, thành phố Quy Nhơn mang một vẻ đẹp hoang sơ mà rực rỡ say lòng người.
Quy Nhơn trải dài theo hình cánh cung, ôm lấy bờ biển cát vàng óng ánh như tình nhân. 1 bên là biển rộng sóng vỗ rì rào, 1 bên là các dãy khách sạn, khu resort cao cấp hướng mình đón gió biển. Từ đây, có thể nhìn thấy những hàng dừa xanh đu đưa theo gió, phóng tầm nhìn ra xa 1 chút sẽ thấy một màu xanh đại dương tươi mát hòa với màu trời trong vắt như ngọc.
Sau khi chọn cho mình một chỗ dừng chân bên bờ biển, du khách có thể bắt đầu chuyến du lịch với bãi tắm Hoàng Hậu nên thơ dưới chân đồi Thi Nhân.
Cách trung tâm thành phố Quy Nhơn tầm 2 đến 3 Km, nằm trong khu du lịch Ghành Ráng, bãi tắm Hoàng Hậu đẹp một cách kiêu sa, đài cát.  Bãi tắm Hoàng Hậu hay còn gọi là bãi Trứng là một bãi biển rộng lớn với những viên đá xanh hình tròn, mặt nhẵn như quả trứng với đủ mọi kích cỡ xếp lên nhau trên bãi biển. Phía trước bãi là những tượng đá thiên nhiên chắn sóng, tạo nên 1 vùng nước lặng. Quý khách có thể tắm biển, xây lâu đài cát hoặc nhặt những viên đá lạ mắt về làm quà cho người thận.
Cao cao phía trên bãi tắm Hoàng hậu là đồi thi nhân, nơi đặt mộ nhà thơ Hàn Mặc Tử. Đồi thi nhân tĩnh lặng, đắm mình trong không gian thơ mộng và chan chứa tình. Hàng năm, vào ngày tết nguyên tiêu(ngày 15 tháng 1), đồi thi nhân lại tổ chức lễ hội thơ để vừa tưởng nhớ nhà thơ Hàn Mạc Tử, Yến Lan vừa vinh danh những tài năng thơ phú của tỉnh nhà.
Dưới chân đồi Thi nhân là làng phong Quy Hòa. Ở đây có hàng trăm ngôi nhà của các bệnh nhân phong được xây dựng từ hơn 80 năm trước. Mỗi ngôi nhà có 1 kiến trúc riêng, nhưng tất thảy đều toát lên vẻ mộc mạc, giản dị và yên bình đến nao lòng người. Có thể nói, khu điều trị phong Quy Hòa là một trong những bệnh viện đẹp và độc đáo nhất thế giới.
Trong làng phong Quy Hòa còn có khu vườn tượng độc đáo. Những bức tượng bán thân của các danh y lỗi lạc được đặt cạnh nhau dưới bóng phi lao rì rào vừa toát lên vẻ uyên bác, vừa lại thanh bình quá đỗi.
Đến Quy Nhơn mà không 1 lần đặt chân lên cầu Thị Nại là 1 điều vô cùng thiếu sót. Đây là cây cầu vượt biển dài nhất Việt Nam, nằm trong hệ thống cầu đường Nhơn Hội dài gần 7 Km nối liền thành phố Quy Nhơn với bán đảo Phương Mai.
Người Quy Nhơn mỗi khi muốn ngắm nhìn thành phố sẽ chạy xe lên con đường Quy Nhơn-Sông Cầu. Từ trên cao phóng tầm mắt xuống sẽ thu về toàn cảnh thành phố nhỏ bé yên bình như tranh vẽ, trong đáy mắt là một màu xanh của cây trái mượt mà, xanh của biển rộng, trong vắt màu trời.
Đêm Quy Nhơn không ồn ào, toàn thành phố chìm trong ánh đèn vàng dịu dàng ấm áp. Thành phố về đêm như đóa hoa quỳnh âm thầm nở bung, khoe ra vẻ đẹp kiều diễm cùng hương thơm ngọt ngào. Du khách có thể chọn cho mình 1 quán café bên bờ biển để ngắm nhìn biển đêm điểm xuyến ánh đèn đánh cá ngòai khơi lấp lánh.
Bãi biển cũng là 1 nơi thú vị về đêm với các trò chơi tập thể như đốt lửa trại, kéo co, hay đơn giản chỉ là những bữa tiệc barbecue bên bờ biển, cùng gia đình người thân quay quần nướng lên những món hải sản thơm lừng.
Những người yêu nhau lỡ ghé chân đến Quy Nhơn vào đêm trăng rằm sẽ không bỏ lỡ cơ hội nắm tay nhau bước đi trên bờ cát trắng mịn màng, dưới ánh trăng vàng tận hưởng dư vị ngọt ngào, lãng mạn của tình nhân.
Đã đến Quy Nhơn rồi nhất định phải đi cù lao xanh. Cù Lao Xanh còn gọi là đảo Vân Phi là một hải đảo nằm gần vịnh Xuân Đài, thuộc xã Nhơn Châu cách thành phố Quy Nhơn chừng 13 hải lý về phía Đông Nam.
Du khách có thể đến mũi Hàm Tử để đón thuyền ra Cù Lao Xanh, mất khoảng gần 2h đồng hồ là có thể đặt chân lên cù lao xanh mướt một màu này.
Không biết cái tên “Cù lao xanh” có tự bao giờ, chỉ biết rằng trên bản đồ địa chính quốc gia nó nhỏ hơn một hạt đậu xanh nổi trên mặt biển.
Bên cạnh một Quy Nhơn đô thị đang từng ngày thay da đổi thịt, vẫn luôn còn đó 1 Quy Nhơn dịu dàng đằm thắm, đẹp đến nao lòng người, luôn sẵn sang chào đón bước chân bạn ghé qua.
Khiếu Nguyệt
Nguồn: aFamily

Read Full Post »


Quách Tấn

 

 

Hàn Mặc Tử rất chú trọng về âm nhạc và màu sắc. Đó chính vì tâm hồn Tử có nhiều trạng thái cá biệt, nhiều khi rất bí ẩn u huyền; để diễn tả, phải dùng màu sắc, hình ảnh và âm nhạc–nhất là âm nhạc, vì chỉ có âm nhạc mới diễn tả nổi những cái sâu xa, thầm kín, những cái tế nhị, u ẩn của một tâm hồn.

Nhiều khi Tử phải bỏ nghĩa thông thường của chữ, bỏ cả văn phạm của câu, để cho thanh âm tiết tấu phù hợp với những biến chuyển, những rung động, những xao xuyến của tâm hồn–một tâm hồn mênh mông và đối với chúng ta có phần xa lạ–mà văn tự chính xác nhiều khi không diễn tả được thấu đáo, không diễn đạt đúng ý muốn của người thơ. Cho nên xem thơ Hàn Mặc Tử, nhiều khi không nên chấp ở chữ mà hại lời, không nên chấp ở lời mà hại ý. Và muốn nhận thức tình ý trong thơ được đầy đủ, thì phải thưởng thức nhạc thơ trước nhất, vì trong thơ Tử, nhạc đi trước mà ý theo sau, và có khi ý không ở trong lời mà ở trong nhạc.

Trong tâm hồn Tử, không có những bức thành kiên cố ngăn cách tôn giáo của mình và tôn giáo của người, nhất là đối với Phật giáo. Vì không có những bức thành kiên cố ngăn cách giữa tôn giáo mình và tôn giáo người, nên Tử đã đi tìm nguồn cảm hứng trong Đạo Bồ Đề. Và mặc dù tự xưng mình là “Thi sĩ của đạo quân Thánh Giá”, Tử vẫn không ngần ngại đem những từ ngữ, những hình ảnh của Phật giáo và dùng trong văn thơ mình, dùng cả vào trong những bài có tinh thần Thiên Chúa giáo nhiều nhất. Như bài Thánh Nữ Đồng Trinh là một.

Bài này Là những lời Tử dâng lên Đức Maria để ca ngợi “ơn phước cả”, mà Thánh Nữ đã ban cho Tử trong “cơn lâm lụy”. Trong bài có những chữ “Từ Bi”, “ba ngàn thế giới”, là chữ của nhà Phật, dùng một cách sướng khoái:

Lạy Bà là Đấng tinh truyền thánh vẹn

Giàu nhân đức, giầu muôn hộc từ bi

Tôi ưa nhìn Bắc đẩu rạng bình minh

Chiếu cùng hết khắp ba ngàn thế giới

 

Hai chữ “Từ bi”, còn thấy dùng trong nhiều bài khác:

Thơ tôi thường huyền diệu

Mọc lên đạo từ bi

(Cao Hứng)

Trời từ bi cảm động ứa sương mờ

Sai gió lại lay hồn trong kẽ lá

(Hãy Nhập Hồn Em)

Nhiều từ ngữ khác của Phật giáo, như “hằng hà sa số” “mười phương” cũng thường gặp trong thơ Tử:

Mây vẽ hằng hà sa số lệ

Là nguồn ly biệt giữa cô đơn

(Cuối Thu)

Đóng cửa mười phương lại

Dồn ánh sáng vào đây

(Điềm lạ)

Trời như hớp phải hơi men ngan ngát

Đắm muôn nghìn tinh lạc xuống mười phương

(Nguồn thơm)

Nhưng đó chỉ là những dấu tích bên ngoài. Trong thơ Hàn Mặc Tử có nhiều bài chịu ảnh hưởng cả hình thức lẫn tinh thần Phật giáo:

Bay từ Đao Lỵ đến trời Đâu Suất,

Và lùa theo không biết mấy là hương.

(Phan Thiết)

Trở lại trời tu luyện với muôn đêm,

Hớp tinh khí lâu năm thành chánh quả.

(Phan Thiết)

Ngoài những ngôn ngữ phổ thông của nhà Phật, như “thành chánh quả”, “sông Hằng”, Tử vãi tung thơ lên tận sông Hằng (Phan Thiết). Ngoài những hình ảnh đẹp đẽ của trời “Đao Lỵ”, trời “Đâu Suất” – những cõi Phật xa xăm, đầy nhạc, đầy hương, đầy ánh trăng–chúng ta nhận thấy trong bài Phan Thiết, thuyết nghiệp báo và thuyết luân hồi được thi vị hóa một cách tài tình: con chim Phụng Hoàng vì Sân Si mà phải đoạn, và khi trở lại trời tu luyện thành chánh quả rồi, mà vì tập khí chưa tiêu trừ trọn vẹn, nên phải trở xuống trần gian, “nơi đã khóc đã yêu đương da diết” để mà “chôn hận nghìn thu” và “sầu muộn ngất ngư”.

Trong bài Phan Thiết, chúng ta còn nhận thấy rằng Hàn Mặc Tử đã nhìn đời bằng con mắt giác ngộ: những hiện tượng trong cõi đời này đều là những tuồng ảo hóa:

Sao tan tành rơi xuống vũng chiêm bao,

Trăng tan tành rơi xuống một cù lao

Hoá đại điện đã rất nên tráng lệ

(Phan Thiết)

Và cõi đời này–mà Phan Thiết là tượng trưng–là nơi đau khổ, là nơi “chôn hận nghìn thu”, là nơi “sầu muộn ngất ngư”. Vì nhận biết cõi đời là giả tạo, là nơi khổ lụy, Tử đi tìm nơi giải thoát và đã tìm thấy Cực Lạc Quốc Độ của Phật A Di Đà.

Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi miền

(Ngoài vũ trụ)

Cả trời bỗng nổi lên muôn điệu nhạc

Rất trọng vọng, rất thơm tho, man mác

Rất phương phi trên hết cả anh hoa

(Ra đời)

Vì muôn kinh dồn dập cõi thơm tho,

Thêm nghĩa lý sáng trưng như thất bảo

(Đêm xuân cầu nguyện)

Những “ánh sáng vô cùng” “sáng láng cả mọi miền”, những tiếng “nhạc thiêng liêng dồn trỗi khắp hư linh”, những điệu nhạc “rất trọng vọng, rất thơm tho, man mác” những “cây bằng gấm và lòng sông bằng ngọc”, ở trong Tử là vang bóng của “vô lượng quang” của “thiên nhạc”, của “hoa sen đủ màu sắc và đủ hào quang mọc trong ao Thất bảo” trên thế giới Cực Lạc mà Tử đã nhìn qua kinh A Di Đà.

Tinh thần Phật giáo còn ảnh hưởng trong nhiều văn thơ của Tử, nhưng nhiều khi hoặc quá tiềm tàng, hoặc bị hình ảnh thơ lấn đi, nên chúng ta không thấy nếu chúng ta không chú ý, không lưu tâm. “Ôi trời hạo nhiên đây không phải là công trình châu báu của Người sao? Lòng vô lượng đây không phải do phép màu nhiệm của Đấng Vô Thỉ Vô Chung?” (bài tựa Xuân Như Ý). Đó chẳng phải là chữ Tâm được thi vị hóa bằng những hình ảnh tượng trưng? Hàn Mặc Tử đã xác nhận tính chất vô thỉ vô chung của Tâm (lòng vô lượng), mà biểu hiện mầu nhiệm là Mùa xuân thơm tho, trong đẹp, tràn lan khắp không gian (trời muôn trời) chen lấn vô tận hồn tạo vật, và tồn tại cùng thời gian (năm muôn năm). Nhưng vì là một tín đồ Thiên Chúa Giáo, Tử đã quan niệm cái Tâm bất sanh bất diệt là Đấng Vô Thỉ Vô chung, và coi những hiện tượng do “lòng vô lượng” đã “đưa ra” kia là “công trình châu báu” của Đức Chúa Trời, nên Tử “cao rao danh Cha cả sáng”. Như thế Hàn Mặc Tử có phải là một nhà thơ của đạo Thiên Chúa? Nghĩa là Tử phải có một tín đồ dùng thơ để phụng sự tôn giáo mình? Thưa không phải. Tử tìm vào Đạo – Đạo Thiên Chúa cũng như Đạo Phật chỉ để tìm nguồn cảm hứng, để tìm nguồn an ủi khi bị tình đời phụ rẫy hoặc thể xác dày vò. Lý tưởng chính của Tử là Thơ. Tôn giáo chỉ là những yếu tố phụ vào để làm cho thơ thêm giầu sang và trọng vọng. Do đó nhiều khi bị hứng thơ lôi cuốn, Tử đã thốt ra những lời có thể gọi là “phạm thượng” đối với những Đấng Thiêng Liêng mà Tử phụng thờ. Ví dụ đương quỳ trước Thánh Nữ Maria để ca ngợi ơn cứu nạn, mà Tử dám nói:

Tôi cảm động rưng rưng hai hàng lệ;

Dòng thao thao bất tuyệt của nguồn thơ

Bút tôi reo như châu ngọc đền vua

Thật chẳng khác nào đứng nói cùng một người ngang hàng ngang lứa hoặc Nàng Thơ! Thậm chí trong khi cầu nguyện lúc đêm xuân, mà chàng vẫn để tứ thơ ngang tàng theo hứng:

Ta chắp tay lạy quỳ hoan hảo,

Ngửa trông cao cầu nguyện trắng không gian,

Để vừa dâng vừa hiệp bốn mùa xuân

Nở một lượt giàu sang hơn Thượng Đế

(Đêm xuân cầu nguyện).

Nghĩ đến những gì “giàu sang hơn Thượng Đế”, Tử biết là một tội lỗi lớn, nên tiếp đó chàng van lơn thầm nguyện:

Tôi van lơn, thánh nguyện Chúa Giêsu

Ban ơn xuống cho mùa xuân hôn phối

Xin tha thứ những câu thơ tội lỗi

Lời xưng tội vẫn không thật nghiêm trang thành kính! Trong khi viết những lời tạ tội, Tử đã nghĩ đến thơ nhiều hơn nghĩ đến Chúa, mặc dù Tử luôn luôn thờ Chúa trên thơ.

Còn đối với Đạo Phật? Hàn Mặc Tử đi vào Đạo Từ Bi không phải để tu, mà cũng không phải để tìm hiểu những gì cao siêu huyền diệu. Tử vào Đạo Từ Bi cũng như một lãng nhân vào vườn hoa nghìn hương muôn sắc. Vào không phải với mục đích của nhà vạn vật học hay nhà làm vườn, mà vào với tấm lòng con nhà nghệ sĩ khoáng đạt phong lưu. Vào để thưởng thức những cái Đẹp khác thường vừa giàu sang vừa thanh thoát. Hoa có bao nhiêu hương giống, cũng không cần biết. Vườn hoa có tự bao giờ và rộng đến đâu, cũng không cần biết nốt. Mà chỉ biết rằng có nhiều hương lạ, nhiều sắc lạ, và chỉ biết trải lòng mênh mông. Rồi những gì đã thấm vào tâm khảm thỉnh thoảng trào ra ngọn bút những lúc Thơ về, khi thì đượm đà, khi thì phảng phất, khi thì hiển hiện, khi thì ẩn tàng và tràn ra một cách tự nhiên, khiến lắm lúc nhà thơ rưởng rằng đó là do mình sáng tạo ra chớ không ngờ rằng mình đã chịu ảnh hưởng,

Và tất cả những gì đã thâu nhập được trong tôn giáo, trong Phật giáo, cũng như trong Thiên Chúa Giáo – một khi đã vào thơ Tử thì không còn giữ nguyên chất, vì đã bị tâm hồn Tử biến thể, pha trộn theo quan niệm và sở thích của mình. Tử thường nói cùng bạn rằng: “Tôi lợi dụng văn chương và triết lý nhà Phật để làm thơ mà thôi. Tôi dung hòa cả hai thể văn và tôn giáo: Thiên Chúa và nhà Phật. Đó chính là muốn làm giầu cho nền văn chương chung.”

Bởi vậy, khi đọc Hàn Mặc Tử, chúng ta nên mở tấm lòng cho rộng rãi, đừng chấp về mặt tư tưởng cũng như về mặt ngôn từ, thì mới dễ cảm động cùng con người thơ phức tạp, mới tận hưởng được tất cả những gì sâu kín ẩn khuất dưới những hàng mây ráng lung linh.

(Nha Trang, mùa xuân Tân Sửu, 1961)

Read Full Post »

TTO – Những tảng đá núi nhấp nhô, ngổn ngang giữa ngàn lớp sóng vỗ; cỏ cây ướt đẫm sau những trận mưa bất chợt; mặt nước biển xanh màu ngọc bích bên dải cát mịn… Tất cả tạo nên một Ghềnh Ráng nguyên sơ, một bức tranh sơn thủy hữu tình kỳ vĩ và thơ mộng.

Câu cá ngày biển động tại bãi tắm Tiên Sa

Ghềnh Ráng là một quần thể sơn thạch của dãy núi Xuân Vân chạy đến sát chân biển phía nam thành phố Quy Nhơn, Bình Định. Điểm xuất phát lý tưởng để khám phá danh thắng này là những bãi tắm kéo dài từ đường An Dương Vương đến đường Hàn Mặc Tử – nơi có cổng chào tham quan Ghềnh Ráng.

Dọc bờ biển, khách có thể khám phá cuộc sống của người dân làm nghề chài lưới, giăng câu, hay vào những buổi trưa, chiều nằm tắm nắng trên dải cát mịn, lắng nghe sóng vỗ rì rào.

Từ cổng tham quan Ghềnh Ráng, con đường nhựa sẽ đưa du khách lên đồi Thi Nhân, viếng thăm nơi an nghỉ của nhà thơ Hàn Mặc Tử. Ấy là một ngôi mộ được xây trên một gò cao, lưng dựa vào núi, mặt quay ra biển, với cỏ cây bao quanh gợi lên trang đời và sự nghiệp dang dở của người thi sĩ tài danh, bạc mệnh.

Những ai yêu thơ Hàn Mặc Tử đều biết vào những năm tháng cuối đời, thi sĩ họ Hàn đã sống cùng căn bệnh hiểm nghèo trong trại phong Quy Hòa. Và thiên nhiên Ghềnh Ráng đã tiếp thêm nguồn cảm hứng cho ông viết lên những áng thơ bất hủ trước lúc đi xa.

Ngày nay, để tưởng nhớ những đóng góp của ông, bên đồi Thi Nhân còn có khu trưng bày cuộc đời và thi ca của nhà thơ, có dịch vụ bút lửa Zũ Kha ghi lại những áng thơ nổi tiếng trên những thớ gỗ mộc như món quà tri ân với những người yêu thơ Hàn Mặc Tử.

Khung cảnh hữu tình dọc bờ biển đường An Dương Vương kéo dài đến khu du lịch Ghềnh Ráng – Ảnh: Tiến Thành
Khám phá cuộc sống của người dân bản địa – Ảnh: Tiến Thành
Mộ thi sĩ Hàn Mặc Tử nằm bình yên giữa đất trời, cỏ cây – Ảnh: Tiến Thành

Men theo con đường đất uốn lượn theo triền núi, du khách sẽ chiêm ngưỡng những tác phẩm điêu khắc mà tạo hóa đã ban tặng cho Ghềnh Ráng.

Đó là bãi tắm Hoàng Hậu với những khối sơn thạch nhiều hình dạng, kích thước khác nhau. Là bãi Ðá Trứng rộng chừng hơn 100m2 bày la liệt những hòn đá xanh hình tròn, mặt nhẵn như quả trứng đùa giỡn cùng sóng biển. Là đá Vọng Phu được sóng và gió biển tạc khắc như hình dáng người vợ ngóng chồng. Hay đá có hình sư tử dũng mãnh vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt” hàng trăm năm nay trước sóng gió biển Đông…

Từ bãi tắm Hoàng Hậu, đi tiếp 1.000m nữa, du khách sẽ đặt chân đến bãi Tiên Sa. Đây cũng là điểm cuối của hành trình khám phá Ghềnh Ráng với câu chuyện đậm màu sắc huyền thoại.

Gian hàng trưng bày thơ Hàn Mặc Tử bằng bút lửa của nghệ nhân Dzũ Kha – Ảnh: Tiến Thành

Chuyện rằng, ngày xưa ở Bồng Sơn có người con gái xinh đẹp, nết na. Cô và một chàng trai trong làng đã thầm yêu nhau. Nhưng rồi tiếng đồn về nhan sắc của nàng đã lọt đến tai một viên quan hám sắc và độc ác. Hắn cho người theo dõi và tìm mọi cách chiếm đoạt nàng. Để giữ trọn lòng chung thủy với người yêu, nàng khóc lạy cha mẹ, từ biệt chàng trai rồi bỏ làng trốn vào Quy Nhơn.

Biết tin, viên quan huyện lập tức sai tùy tùng đuổi theo. Tới Ghềnh Ráng thì trời nổi dông bão, cô gái biến mất trong đêm mưa gió tầm tã. Bọn chúng lùng sục khắp nơi nhưng không tìm ra dấu vết gì nên cho rằng cô gái đã liều thân nhảy xuống biển cả, đành tức tối trở về chịu tội với quan trên.

Chàng trai mất người yêu cũng chạy vào tìm kiếm. Anh leo hết tảng đá này đến tảng đá khác cất tiếng gọi người yêu. Tiếng anh tha thiết vang động khắp núi rừng và biển cả, nhưng trong đêm tối, anh chỉ thấy hình bóng người yêu thấp thoáng ẩn hiện, khi tha thướt trên rừng, khi nhấp nhô theo sóng biển như tiếc thương, vẫy gọi.

Từ đó, mỗi khi chớp sáng trên Ghềnh Ráng, người trong vùng lại ngước tìm hình bóng cô gái thấp thoáng hiện lên. Vì vậy chốn này được gọi là Ghềnh Ráng – Tiên Sa…

Sóng biển nô đùa trên bãi Đá Trứng – Ảnh: Tiến Thành
Khối đá núi có hình thù kỳ dị tại bãi tắm Hoàng Hậu – Ảnh: Tiến Thành
Đá Vọng Phu – Ảnh: Tiến Thành
TP Quy Nhơn nhìn từ đường lên đỉnh Xuân Vân – Ảnh: Tiến Thành

Với du khách ưa thích mạo hiểm, một chuyến trekking hoặc leo lên đỉnh Xuân Vân hiểm trở nhìn bốn bề cảnh vật: phía nam với những dãy núi trùng điệp chạy dọc ven biển đến tận Quy Hòa, phía bắc là dải cát vàng chạy dọc biển và nhà cửa thành phố Quy Nhơn, phía đông và tây là biển cả và bán đảo Phương Mai, đầm Thị Nại… có lẽ sẽ không gì thú vị bằng.

TIẾN THÀN

Read Full Post »

Bình Định bấy giờ chỉ có một nhóm người mà các bạn yêu thơ do Trần Thống ở Kiên Mỹ đại diện, đặt tên là “Bàn Thành tứ hữu”. Nhóm thơ gồm có: Hàn – Chế – Yến – Quách. Bốn người này mang tên một con vật trong bộ Tứ linh. Hàn Mặc Tử là Rồng, Chế Lan Viên là Phượng, Yến Lan là Lân, Quách Tấn là Rùa.

Cửa Đông-thành Bình Định,

Bấy lâu nay, giới văn học thường nhắc đến nhóm thơ tiền chiến của Thành Đồ Bàn (tức Bình Định xưa). Vì biết tôi là con gái của “con Lân” trong nhóm “Tứ linh”, Có người hỏi: “Thế nào là Trường thơ Bình Định? Vì sao gọi các cụ ấy là Tứ linh?…”.

Theo sự hiểu biết hạn hẹp, qua những bức thư của bác Quách Tấn gửi cho ba tôi – nhà thơ Yến Lan – tôi xin phép thông tin lại để các bạn yêu thơ hiểu thêm về cái nôi thơ mà người đời thường tâm đắc “Bình Định là đất võ mà ẩn chứa trong mình những bí ẩn về văn chương”.

Trong bức thư đề  “Nha Trang lập xuân 88”, bác Quách bức xúc viết: “Rất tiếc là không có người có đủ tài, học, tâm, chí để cùng nhau khai thác kho tàng Văn hóa của Bình Định. Tôi nhận thấy phần đông anh em làm văn nghệ vì danh, vì lợi hơn là vì bổn phận thiêng liêng. An Nhơn có nhiều nhân vật văn học và lịch sử lắm, chú và anh em văn sĩ đừng phụ cổ nhân…”.

Theo bác Quách: “Không có Trường thơ Bình Định, chỉ có Trường thơ loạn gồm: Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Yến Lan. Trường thơ này không thể trở thành Trường thơ Bình Định được”.

Bình Định bấy giờ chỉ có một nhóm người mà các bạn yêu thơ do Trần Thống ở Kiên Mỹ đại diện, đặt tên là “Bàn Thành tứ hữu”. Nhóm thơ gồm có: Hàn – Chế – Yến – Quách. Bốn người này mang tên một con vật trong bộ Tứ linh. Hàn Mặc Tử là Rồng, Chế Lan Viên là Phượng, Yến Lan là Lân, Quách Tấn là Rùa.

Có câu thơ bằng tiếng Hán của Nguyễn Đức Sung:

Tấn bộ bồng lai lạc cảnh khoan
Hoan tình hội họp tứ thi lang
Trí hân khôi thỏa tâm hoài vọng
Lang phóng hương nồng nhập tiểu bang

Tạm dịch:

Tấn tới bồng lai vui cảnh tiên
Hoan tình họp mặt bốn hữu thi
Trí sáng đẹp lòng bao mong nhớ
Lan tỏa hương nồng nhập xứ men

(Ghi chú: Bốn chữ đầu của từng câu là tên của bốn nhà thơ nhắc tới trên. Hoan (Phan Ngọc Hoan) là tên thật của Chế Lan Viên, Trí (Nguyễn Trọng Trí) là tên thật của Hàn Mặc Tử).

Và người đầu tiên đưa tên của nhóm Tứ linh vào thi đàn thời bấy giờ là nhà phê bình văn học Hoài Thanh.

Còn tại sao ông Trí lấy bút danh Hàn Mặc Tử: Bút danh đầu tiên và cũng khá nổi tiếng của ông là Phong Trần. Nhưng nhiều người thấy dáng dấp thư sinh của ông nên trêu “người mảnh mai như cậu làm sao chịu đựng được phong trần, nó lại không hợp với vóc dáng của cậu”. Sau đó ông lại đổi là Hàn Mạc Tử (tức rèm lạnh).

Nhưng bác Tấn vẫn chưa chịu: “Đã có rèm thêm bóng trăng vào, hỏi còn cảnh nào nên thơ bằng”. Ông Trí ngẫm nghĩ rồi lấy bút ra vạch thêm vành trăng non vào đầu chữ A. Chỉ thêm một cái dấu mà nghĩa khác hẳn: Hàn Mạc Tử = Rèm Lạnh giờ thành Hàn Mặc Tử tức Bút Mực

Bút danh của chú Hoan ban đầu là Chế Bồng Hoan. Một hôm biết ba tôi sắp đi xuống Qui Nhơn để học, chú đến chùa Ông thăm, thấy trời tối mà ông nội tôi vẫn thắp đèn tưới cây, và ba tôi ngâm nga:

Rồi đây mỗi ngả một thân đơn
Con ngọn đèn xanh, cha mảnh vườn
Đêm lụi, đèn tàn ai gạt bấc
Vườn lan ai ấy tưới thay con.

Nghe xong chú Hoan cảm động quá nói: “Mình muốn làm một cái gì đó để kỷ niệm câu thơ của cậu”. Nghĩ một lát chú Hoan reo to: “À mình sẽ đổi bút danh thành Chế Lan Viên”. Ba tôi cũng thấy đó là ý hay nên đồng ý ngay. Và thế là từ đó trên thi đàn Việt Nam xuất hiện bút danh mới: Chế Lan Viên.

Về bút danh của ba tôi thì nhiều người biết rồi. Lúc đầu ông dùng bút danh có khi là Xuân Khai, có khi Thọ Lâm. Còn Yến Lan là tên ghép của hai giai nhân. Trong lớp ông dạy có hai cô gái trông khá xinh, chơi thân nhau, một tên là Yến, một là Lan. Họ thường thì thầm: “Tao, mày chơi thân với nhau như vầy sau này chỉ lấy một chồng”. Ba tôi nghe được thấy câu chuyện của hai người hay hay nên quyết định đổi bút danh Xuân Khai thành Yến Lan. 

Tuy xuất thân và trưởng thành từ Gò Bồi – Bình Định, nhưng nhà thơ Xuân Diệu ban đầu không nhập vào nhóm này. Bác Tấn nói vui: “Xuân Diệu đấm Hàn, thoi Yến, đá Quách, từ biệt quê hương để ra Hà Nội bắt tay với Huy Cận lập thành nhóm Huy – Xuân”.

Tại Thu Xà – Quảng Ngãi, nhà thơ Bích Khê lẻ loi, cô quạnh đành lui vào Bình Định cùng bốn chàng thi sĩ nọ lập thành nhóm Ngũ hành. Nhóm Ngũ hành tuy mới thành lập nhưng họ rất tâm đầu ý hợp. Chỉ có bác Tấn ở Nha Trang nhưng họ vẫn thường xuyên vào, ra để thăm nhau.

Ông cụ tôi tâm sự: “Bình Định là nơi phối hợp để thành quả trứng còn Nha Trang là lò ấp trứng. Tôi và các bạn đã gửi lại Nha Trang một thời tâm đắc và tuổi trẻ đam mê, làm sao quên được những ngày tháng cùng nhau học hỏi, vui chơi, nghiên cứu thơ đường, học chữ Hán”.

Một thời gian ngắn, Hàn Mặc Tử bị trọng bệnh rồi mất, ông hưởng dương 28 tuổi. Chẳng bao lâu sau Bích Khê lâm bệnh nặng (lao). Cả nhóm bàn đưa Bích Khê vào Nha Trang tìm cách nuôi nhau. Họ góp tiền thuê một nhà ở phường Củi cho Bích Khê ở.

Vì lòng tốt của bạn, được một thời gian Bích Khê lại lặng lẽ bỏ ra đi. Nhà thơ Nguyễn Đình đã tìm lại được Bích Khê. Sau khi bàn bạc kỹ, nhóm quyết định đưa ông ra Huế chữa trị và an dưỡng. Về kinh tế, tùy theo hoàn cảnh từng người mà góp tiền nuôi Bích Khê.

Chú Chế Lan Viên phải nuôi cha mẹ góp 10 đồng, bác Quách 20 đồng, chú Nguyễn Đình 20 đồng, vì không vướng bận gì nên ba tôi góp 30 đồng. Như vậy mỗi tháng nhà thơ Bích Khê nhận được 80 đồng, theo tôi biết đó là số tiền rất lớn, cơm tháng hồi đó chỉ có 4 đồng. Tất cả việc thu và gửi tiền ra Bệnh viện Paskiê cho chú Bích Khê đều do vợ bác Tấn đảm nhận.

Một thời gian sau ba tôi nhận được một lá thư viết bằng bút chì:

“Yến Lan

Mình rất cảm ơn cậu và các bạn đã chăm lo cho mình. Bây giờ mình không thể chịu đựng được nữa, mình đành vĩnh biệt cuộc sống, vĩnh biệt bạn bè”.

Thời gian sau, không biết năm nào nhà thơ Xuân Diệu trở về Bình Định, nhập vào nhóm Ngũ hành để thành nhóm Lục căn (Nhãn – Nhỉ – Tỷ – Thiệt – Thân – ý). Tôi không biết ai mang bí danh của những bộ phận này vì tên nhóm ít ai nhắc đến .

Trong nhóm này chú Xuân Diệu là khôn ngoan nhất, bác Quách Tấn thường trêu: “Thằng Diệu nó chẳng cho ai xem thứ gì khi chưa in thành chữ trên báo bao giờ”. Nhưng điều này bác lại cho là đúng và đó là kinh nghiệm quý báu trong sáng tác, vì thời gian sau này bác bị người khác đứng tên trong nhiều bài viết của mình!

Lâm Bích Thuỷ

Read Full Post »