Feeds:
Bài viết
Bình luận

Phan Trường Nghị

Tháp Thầy Bói tọa lạc trên một cụm đá nổi lên giữa đầm Thị Nại, từ lâu đã là một danh thắng của TP Quy Nhơn. Xung quanh nguồn gốc địa danh này có nhiều giả thuyết khác nhau. Cùng với đó cũng có một số thông tin lịch sử thiết nghĩ rất nên nhắc lại để ít nhất có thể tăng thêm phần thú vị cho du khách khi đến tham quan nơi này.

1. Trong tác phẩm Nước Non Bình Định, Quách Tấn viết: “Trong đầm ở phía Tây, gần phía Qui Nhơn nổi lên một cụm đá rộng, chừng một vài sào và cao chỉ trên mặt nước chừng một thước, một thước rưỡi khi thủy triều lên. Người ta gọi là tháp Thầy Bói. Không hiểu tại sao lại gọi thế. Có người bảo rằng xưa kia có một bốc sư bói hay như thần, xây một tòa tháp tại đó. Ai muốn hỏi phải chịu khó đi thuyền ra. Sau khi bốc sư qua đời, tháp không có người coi ngó bị sóng gió phá hoại. Hiện trên mỏm đá có một miếu nhỏ do anh em ghe thuyền lập để thờ thủy thần”…

Tháp Thầy Bói. Ảnh: QUỐC TUYÊN

Nhưng khoảng trăm năm trước đó, quãng năm 1870, sách Đại Nam Nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn khi mô tả đầm Biển Cạn – một tên gọi cổ xưa của đầm Thị Nại – đã chép như sau: “Nước đầm đổ vào cửa Thị Nại, trong đầm có một núi nhỏ tục gọi Tháp Thầy Bói, phía tả là Gành Hổ, phía hữu là Bãi Nhạn. Lại phía tả có Vũng Tàu, Gành Triều, là Bãi Sò, là Mũi Cổ Rùa, phía Bắc có thôn Huỳnh Giản”.

Điểm dễ nhận ra là ở khu vực quanh tháp Thầy Bói có một số địa danh có tên: Bãi Nhạn, bãi Sò, gành Hổ, mũi Cổ Rùa… cho thấy những địa danh quanh đây hầu như đều gắn liền với tên các con vật. Có con sống trên cạn (hổ), con dưới nước (sò), con ở trên không (nhạn), có con vừa ở đất vừa ở nước (rùa). Thế nên địa danh tháp Thầy Bói còn có thêm một cách giải thích khác, theo đó rất có thể đã trùng lặp với tên một loài chim là chim thầy bói, còn gọi là chim bói cá – loài chim thường tụ ở các gành đá để bắt mồi. Cụm đá nhô lên giữa đầm Thị Nại trông như ngọn tháp mà thành tên. Xem ra nó hợp lý hơn là chuyện có ông thầy bói trú ngụ ở am giữa đầm mà rồi thành tên địa danh.

Vậy cái am/miếu xây dựng trên cụm đá giữa đầm có từ lúc nào? Tục thờ cúng thần vật của người Việt đã có từ ngàn xưa, ngư dân quanh đầm Thị Nại sống nhờ vào con tôm con cá đâu chỉ mới gần đây. Chuyện dân gian tự xây một cái am để thờ thủy thần, cầu cho suôn sẻ hằng năm mưu sinh là chuyện thường có. Có lẽ từ khi có người định cư và lấy sông, biển đầm làm chốn mưu sinh, am/miếu cũng đã có ngay sau đó không lâu.

2. Vào thời Tây Sơn, có một sứ đoàn người Anh đến Quy Nhơn xin yết kiến vua Thái Đức Nguyễn Nhạc, đặt vấn đề bang giao, thông thương, trao đổi hàng hóa. Trưởng đoàn sứ đoàn này Charles Chapman sau đã tường trình lại chuyến đi này cho Toàn quyền Anh và Công ty Đông Ấn thuộc Anh ở Bengal, trong đó có đề cập việc vua Thái Đức Nguyễn Nhạc đã tổ chức một buổi hiến tế ở vịnh Quy Nhơn hôm 26 tháng 7 năm 1778. Đoạn tường thuật như sau: “Trên đường từ triều về chúng tôi gặp nhà vua vượt qua. Nhận được vài tin xấu về lực lượng thuyền chiến ở Đồng Nai, ông sắp sửa cử hành nghi thức hiến tế tại một ngôi miếu ở trong vịnh nơi tàu của chúng tôi neo đậu” (British Mission to CochinChina). 

Charles Chapman kể: “Sau đó chúng tôi trông thấy ông vượt sông và cập bờ tại đền thờ. Ông ở trong một chiếc thuyền có mái che, cùng tham dự có 5 hoặc 6 thuyền chèo với chừng 200 người”.

Thử hình dung nơi vua Thái Đức tổ chức hiến tế là một ngôi đền ở giữa vịnh Quy Nhơn, thì đó có lẽ không thể khác hơn chính là cái am/miếu trên cụm đá giữa đầm Thị Nại. Nói cách khác tháp Thầy Bói với đời sống, sinh hoạt tâm linh đã xuất hiện trong thời Tây Sơn. Đoạn tường trình trên cũng hé ra thêm một chi tiết vua Thái Đức Nguyễn Nhạc “nhận được tin xấu ở Đồng Nai”, nói cách khác chính là sự biến liên quan đến đội quân Tây Sơn ở Gia Định.

Nguyên tháng 2 năm Mậu Tuất 1778, vua Thái Đức Nguyễn Nhạc sai Tổng đốc Chu, Tư khấu Uy (Oai) từ Phiên Trấn (Gia Định) đánh phá ra các địa phương ven sông, phái Hộ giá Phạm Ngạn từ Quy Nhơn vào Bình Thuận, đem thủy sư đánh lấy Trấn Biên (Biên Hòa). Bấy giờ Nguyễn Ánh xưng vương, được quân Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhơn hỗ trợ, tổ chức phản công. Tin tức xấu khiến một ông vua phải cử hành một nghi thức như thế phải tương đối lớn, trong khung thời gian ấy chính là việc tổn thất thủy binh và Tư khấu Oai bị quân Đông Sơn chém chết trong chiến trận Bến Nghé tháng 5 năm Mậu Tuất. Và như thế có thể thấy rằng từ thời Tây Sơn, am/miếu trên cụm đá giữa đầm Thị Nại – nơi mà ngày nay ta quen gọi là tháp Thầy Bói, đã có vị trí không hề tầm thường.

3.Tháp Thầy Bói hiện nay chưa là di tích tâm linh, nhưng ngoài ngôi miếu xưa nay đã được sửa sang lại, một vài công trình nhỏ khác mang dáng dấp kiến trúc tín ngưỡng đã mọc lên. Những công trình trên cụm đá giữa đầm không còn mang ý nghĩa cầu an cho việc mưu sinh sông nước, để ngư dân thêm niềm tin khi vượt qua đầu sóng ngọn gió; chúng cũng không phải là nơi ghi nhớ cho biết bao xương trắng trầm lắng dưới đáy đầm từ những cuộc lửa binh giữa hai phe Nguyễn Tây Sơn và Nguyễn Gia Miêu. Cũng không mấy người nhớ đến việc vua Thái Đức Nguyễn Nhạc từng thực hiện nghi thức hiến tế, nhang khói tưởng nhớ cho binh lính của ông nằm xuống ở Gia Định năm 1778. Một điểm đến thu hút nhiều du khách có lẽ nên được hoàn chỉnh thông tin giới thiệu để tránh việc vẽ vời ly kỳ hóa, hoặc dị đoan hóa một danh thắng ở sát bên trung tâm TP Quy Nhơn.

PHAN TRƯỜNG NGHỊ

Nguồn Báo Bình Định

Cánh chim di

Nguyên Hạ Lê Nguyễn

Những ngày tháng hạ rồi cũng qua nhanh khi những đứa bé được cha mẹ chuẩn bị cho những bộ quần áo mới, những tập vở tinh khôi để bước vào niên học mới.

Tháng Tám luôn bắt đầu niên học mới ở nơi này, khác với quê tôi ngày xưa niên học mới bắt đầu thừ tháng Chín…

Sáng hôm nay con đường quen thuộc mọi ngày lại có thêm bóng dáng của người đàn bà mặc chiếc áo màu xanh lá mạ non đứng chỉ đường cho đám nhỏ tung tăng trở lại trường..

.Mùa hè đã qua nhanh vậy sao???các cháu tôi đã trở lại trường sau hai tháng Hè ngơi nghỉ.

Buổi sáng nào , tôi vẫn còn nhìn thấy con chim Robin đàng sau nhà vẫn chạy ra vào bên chiếc nhà gỗ sơn màu xanh đỏ, vẫn hót vang bên ngôi nhà bé xíu mà chủ nhân đã dọn dẹp sẵn chào đón chim trở về sau mùa đông giá, những con chim màu vàng nâu, có một mảng yếm màu hoàng yến đeo trước ngực như dải yếm đào của cô gái Bắc quê tôi…

.Mỗi buổi sáng ngồi bình yên bên ly cà phê sángsau khu vườn nhà còn đẫm sương , hình ảnh thân thương nhất trong tôi vẫn là hình dáng nhỏ nhắn của con chim Robin mà tôi đã nhìn thấy nó từ hai năm qua…

Khi tôi dọn đến căn nhà này, hình ảnh thân thương nhất cho tôi mỗi buổi sáng vẫn là nó, nhảy nhót líu lo, cất tiếng ríu rít như mời gọi những bạn bè thân quen , nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng con chim nào khác bay về…

Qua mùa sau, tôi bắt đầu để ý đến nó như một thân quen không thể thiếu, tôi tìm mua một cái nhà lớn hơn, sơn màu thắm tươi hơn….Và hàng bao sáng ngồi chờ bóng chim về mỏi mắt, tai chờ , dạ trông ngóng.

Niềm vui đến với tôi khi một buổi sáng nào chợt nhận ra đôi chim đã trở về của đầu mùa hè năm ấy, không phải một con mà là hai con…thật là tuyệt vời khi nhìn thấy hai cái trứng màu xám nằm giữa mấy mảnh rơm khô giữa bộn bề những sợi lông óng ả…

Một gia đình bé nhỏ thành hình, một niềm vui nhân rộng trong âm hưởng của một bản đồng ca khi mỗi sáng lặng thầm trong niềm vui sẻ chia ấm áp bốn con chim làm bầu bạn trong những sáng tinh khôi.

Rồi những ngày chớm Thu, khi những đợt gió heo may về ve vuốt bờ cỏ úa, khi ngọn gió thu làm rơi rớt những chiếc lá phong trên bờ cỏ, khi những con sóc vẫn tung tăng nhặt những trái chín của cây hồng giòn sau nhà…gia đình chim đã biến mất tự bao giờ, chúng ra đi mà không hề báo cho người bạn già thinh lặng ngắm nhìn sẻ chia với chúng từng viên thóc, hột đậu be bé mỗi ngày, không cả một lời giã biệt…thật thế sao chim ?

Tôi lặng thầm đem cất chiếc nhà bé con của gia đình chim vào một xó, chuẩn bị cho mùa nắng ấm năm sau….gia đình chim không biết bay về trốn lạnh ở nơi đâu???xứ sở nào cho chim đến, phố phường nào đón bước chim di.

Sáng hôm nay vẫn một ngày bắt đầu bằng ly cà phê lặng thầm buổi sáng, lười nhác lãng quên, tiếc nuối bâng quơ, nhớ man mác tiếng chim kêu ríu rít, chỉ còn chăng chút gió heo may xua đuổi những cánh chim đi tìm nơi trốn lạnh, chỉ còn gió và sự trống vắng lặng thầm trong nỗi xáo xác khôn nguôi

Thời tiết thay đổi, tuổi già chất chồng cũng thay đổi theo trời nắng bỗng mưa sa…những cơn ho khan tìm về và hai bàn tay lạnh cóng…tôi nằm miệt mài giữa chăn gối bộn bề…và he hé bên trong cửa sổ nhìn ra khu vườn mỏi mắt….

Gió về đâu sau những cánh chim di

Hình hài em tôi không sao kịp nhớ

Giấu vào tim cùng ánh mặt trời

Buổi sáng nào

Ly cà phê một mình ngọt đắng

Chợt trời chiều khuất nẻo nắng xưa

Những con đường nửa quên nửa nhớ

Cánh chim di không nhớ tuổi tên

Chim đi không gởi một câu chào

lặng thầm tôi nhắn lời hỏi chim

Biết chăng vườn cũ kẻ ngóng tin

Chờ nghe tiếng hót …mong tin trở về

Rồi từng năm khi bắt đầu cơn nắng hạ, nắng chói chang, mặt trời vút lên cao…

Tôi lại sẽ hoan hỉ treo lên ngôi nhà nhỏ đón đôi chim thân quen về trú ngụ, vẫn ríu rít khúc hoan ca mỗi sáng cùng nắng mai, nhưng không thể nào nhận ra em…

Có phải là em của mùa năm trước, không thể nào phân biệt khuôn mặt của những bóng chim di.

Tôi vẫn hằng mong cho mùa hạ qua thật chậm cho những ngày nắng nóng mãi thật dài ra để mỗi ngày được nhìn gia đình chim ấm áp trong ngôi nhà thầm lặng, cho buổi sáng nào tôi cũng được dõi bóng đôi chim tự tình bên nhau, mong cho mùa Thu chậm trở về và mùa Đông giá thôi quay lại,

Tôi muốn thay đổi cả thời tiết của bốn mùa mưa nắng, không còn muốn nhìn thấy một chớm Thu về và lạnh giá của mùa Đông.

Trong cái huyễn hoặc của tiết trời trở gió, trong sợi heo may, tôi chợt ngậm ngùi thương xót và bỗng nhớ mãi cánh chim di, có phải là những cánh thiên di trong truyền thuyết, bay bổng giữa trời xa tránh cái lạnh mùa Đông ở nơi đây…có phải chim bay về nơi cố xứ trong sự mong ước , hoài niệm của một hồi ức nhỏ nhoi.

Chim bay về bến sông xưa

Đò chiều gát mái

cát vàng buồn tênh

Lặng thầm con nước triều lên

Chim về cõi ấy

Trốn cơn gió cuồng

Những mùa hạ trở về, những cánh chim lại quay về nơi nắng ấm xưa…nhưng có một thời gian chờ mỏi mòn mà chim không trở lại, ngôi nhà chim bé nhỏ vắng mãi bóng chim di…những cánh chim di bây giờ cũng giống con người…vẫn yếu hèn và trốn chạy, hững hờ và lạnh lẽo tựa mùa đông giá đến từng năm…và trong sâu thẳm của tâm linh, chim có biết rằng cũng có một sinh linh đang lặng thằm trong nỗi nhớ bóng chim di với tâm tình sâu lắng một tình thâm.

Bóng thiên di dãy chết giữa trời đông khi không đủ sức bay qua hết đại dương để tránh cơn cuồng nộ, buồn thương thay cánh chim di đơn lẻ giữa cuồng phong. bóng chim thì mịt mù xa thẳm cõi nhân gian.

Con người khi đã bay xa …có mấy ai tìm về chốn cũ…còn bóng chim thì biết nẻo tìm về ???

Tại sao và tại vì sao??? Tôi bỗng chợt so sánh giữa con người và những cánh chim trong nỗi buồn man mác vào một sáng chớm thu nơi chỗ của mình.

Atlanta( Những ngày tháng Tám)

NGuyên Hạ_ Lê Nguyễn

Sài Gòn

Âu Thị Phục An

.

Sài Gòn

điếu thuốc lá trên môi

ly cà phê đắng nghét

sáng,

lần thứ mười lăm

ta ngồi đợi

ồn ào ngày lên

bụi bặm bay lên

xe cộ hồn nhiên

trưa,

ghế đá công viên

thả giấc ngủ giữa quẩn quanh định mệnh

giữa ngàn ngàn giọt nắng vô tư

bên nhà thờ đức bà

trái tim ta cầu nguyện

sài gòn nồng nàn

ướt át bờ môi con gái

rượu

sóng sánh ánh đèn đêm

honey honey

khóe mắt nhung mềm

thơ dại

gọi lòng

ta hớn hở

yêu em

rồi bỏ lại nhiều ngày điên

bên triền dốc tối

ẩm ướt thu

rộn ràng

giông bão đi qua

cuốn theo

mùa đã hết

con thú già chợt quên

và ngủ

vùi trong ký ức

sài gòn đêm

hoan lạc

Lâm Bích Thủy

.

Cuộc gặp định mệnh giữa ba tôi và Hàn Mặc Tử

Tôi không tin tạo hóa sinh ra trái đất thì đấng thiêng liêng tối cao nào đó định cho chỗ này là địa linh nhân kiệt, chỗ kia là đất dữ. Nhưng tôi lại tin lời người xưa nói “nếu có duyên với nhau thì sẽ tụ lại”. Nói đâu xa; đấy chính Bình Định quê tôi là đất của sự tụ nhân, tụ thủy, là địa linh nhân kiệt với danh xưng là “Đất võ trời văn” thật 100% . Được như vậy người Bình Định luôn mang ơn sự đóng góp nhân tài từ các tỉnh bạn như Nghệ An với họ Hồ đã đưa người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ – Quang Trung; quê Hà Tĩnh với duyên kỳ ngộ cha Đàng Ngoài mẹ ở Đàng Trong đã cho quê tôi nhà thơ tình Xuân Diệu”; và cảm ơn đất Quảng Trị đã đưa đến một Chế Lan Viên với những sáng tạo mới mẻ, hiện đại nhất trong bút pháp”. cảm ơn đất Quảng Bình đã tặng một Hàn Mặc Tử để rồi có cuộc gặp gỡ giữa ba tôi-nhà thơ Yến Lan và Hàn Mặc Tử định mệnh làm nên nhóm thơ “Bàn Thành tứ hữu” đã mang đến những giá trị nhân văn sâu sắc làm rạng danh cho quê hương Bình Định…:

Cuộc gặp mặt này được ba tôi kể lại:

– Một sáng chủ nhật, khoảng giữa năm 1930, tôi đang chép lại bài thơ mới làm hôm qua, thì nghe tiếng gọi ngoài cổng chính.

Tôi nghĩ: chắc là có khách lạ muốn đến thăm đền (vì người quen tất phải biết ngõ phụ luôn mở rộng ở phía Bắc của góc tường thành) Tôi bước ra, nghe tiếng của hai trang nam tử. Biết là người xa đến vãn cảnh, tôi chào, rồi chỉ hướng cho họ vào đền. Khách mặc âu phục sang trọng: Một, hơi lớn tuổi, nói giọng Bắc, rất chỉnh tề trong bộ Tropical, một là thanh niên mặc nguyên bộ tơ De-ligaon, đội mũ Panama. Đang đi, người trẻ tuổi bỗng ngoặc sang phải, lối hàng rào chè, rẽ sang một góc sân. Ở đó có cây lựu lớn đang nở hoa đỏ rực. Anh níu bẻ một nụ rồi tặng cho người bạn đồng hành, miệng đọc câu Kiều:

Ngoài hiên quyên đã gọi hè

Đầu tường lửa lựu lập lè đơm bông

Rõ ràng là những vị khách thuộc loại hào hoa, ít gặp ở đây. Vừa lúc ấy cha tôi bước ra, hướng dẫn họ đến bên tấm bia đá và mở cửa mời vào chính điện. Tôi trở lại tràng kỷ, làm tiếp công việc bỏ dở. Được một chốc hai người đi xuống. Cha tôi đưa họ vào nghĩa tự, mời ngồi trên tràng kỷ và đưa mắt bảo tôi xuống nhà lấy bộ bình trà bằng sứ chuyên dùng tiếp khách quí. Có lẽ tờ giấy mà tôi còn bỏ ngỏ trên bàn có những dòng chữ và cách trình bày giống dạng một bài thơ đã làm cho người trẻ tuổi chú ý. Anh hỏi tôi:

– Cậu đang chép thơ à? Tôi bẽn lẽn gật đầu:

– Dạ, vâng.

– Thơ của bác hay thơ của cậu đấy?

– Dạ thơ của tôi. Im lặng một chốc, anh lại hỏi:

– Cậu làm thơ lâu chưa? Đã đăng ở đâu chưa?

– Tôi mới võ vẽ, cũng có bài được đăng báo.

– Cậu lấy bút danh là gì?

– Tôi ký Xuân Khai. Người trẻ tuổi vui hẳn lên, anh cười:- Vậy tôi với cậu là đồng nghiệp với nhau. Xin tự giới thiệu, tôi là Phong Trần, là Hàn Mặc Tử. Anh quay sang người trung niên, vẻ quí trọng:

– Vị này là nhà văn, tác giả “Kép Tư Bền”, tập truyện ngắn vừa mới xuất bản đang được cả nước hoan nghênh. Tôi thốt lên một tiếng “À” vui vẻ:

– Hóa ra ông là nhà văn Nguyễn Công Hoan. Tôi đã đọc và đã biết nhiều về ông, nhất là trong cuộc bút chiến với báo Phong Hóa, Ngày Nay về tập chuyện dài “Lá ngọc cành vàng “của ông

Lúc ấy nhà văn Nguyễn Công Hoan như tự nhiên có thêm những cảm xúc không ngờ. Ông nhìn tôi một cách triều mến.

Hàn Mặc Tử thì gật đầu thích thú, anh tiếp lời:- Nhân đây ông làm một cuộc viễn du từ Bắc vào Nam để tạ lòng ủng hộ của tác giả mà mình hâm mộ. Hôm nay tôi đưa ông lên thăm một vài cảnh đẹp ở đây, rồi sẽ lên Phú Phong, mảnh đất lịch sử của quê ta. Nhân dịp này ta làm quen với nhau vậy. Tôi đang sống với gia đình tại 20 đường Khải Định-Qui Nhơn. Có đi Qui Nhơn mời cậu ghé chơi, chúng ta là đồng nghiệp với nhau mà.

Chúng tôi gắn bó với nhau từ buổi ấy. Tôi kể chuyện này với Chế. Chế cho biết đã quen với Tử rồi và cũng muốn có dịp nào đó sẽ giới thiệu tôi với anh.

Sống giữa lòng Bình Định, những chiều hiu hiu nắng quái, tôi và Chế Lan Viên thường lên lầu cửa Đông mà hai đứa tôi gọi là lầu tư tưởng, phóng tầm mắt nhìn bao quát thị trấn, rồi vọng đến những chân trời xa tắp, lòng ngậm ngùi cho mảnh đất quê hương đã trải qua lắm cuộc đổi thay. Có lúc chúng tôi nghĩ xa hơn đến các triều đại của quá khứ, từng nối tiếp nhau đến sự thăng trầm biến thiên của lịch sử, rồi bàn nhau cùng viết về cảnh điêu tàn, những cuộc đời dâu bể. Hoan đi sâu vào sự đau thương, tàn tạ, thịnh vượng, làm sống lại những lễ hội, sinh ca của các hệ tộc quyền quí, rồi binh biến máu lửa thay cho một thuở thanh bình. Tập thơ của Chế, tên “Điêu tàn”.

Thành Đồ Bàn cũng thôi không nức nở

Trong sương mờ huyền ảo lắng tai nghe

Từ một làng xa xôi bao tiếng mõ

Tan dần trong im lặng của đồng quê..

Tập thơ của tôi là “Giếng loạn”. Nghe tôi đôi lần đề cập đến “Giếng loạn” Tử rất muốn xem (lúc này anh đang bệnh). Tôi mang xuống cho anh. Khoảng một tuần sau, Tử đưa trả bản thảo và nói:- Tôi đã xem hết tập thơ rồi. Có một số xúc cảm nên cố làm một bài riêng tặng cậu. Anh lấy ở túi áo ra trao cho tôi và trân trọng nói: – Đây cứ coi như một bài bạt sơ khảo; mà tôi thấy cái nhan đề không ổn. Sao cậu không viết là “Giếng lạng” lại viết là “Giếng loạn”? Tôi đáp: “Có vấn đề về ngôn ngữ tôi muốn thảo luận với anh đấy.”

Rồi tôi và Tử bàn nhau hồi lâu, sau cùng thống nhất là “Giếng loạn”. Loạn ở đây là loạn lạc, đầy đủ ý nghĩa hơn, lạng là bỏ hoang. Bài thơ Tử tặng tôi chính là bài “Trăng tự tử” mang dáng dấp của một bài bạt cho cả tập thơ. Tôi đã có chủ ý sẽ in nó vào tập “Giếng loạn” khi xuất bản. Nhưng bản chép tay ấy với cả tập thơ bị thất lạc, lúc đi sơ tán, ngày Pháp mở chiến dịch Át-lăng đánh vào Qui Nhơn. Bản in trên các sách hiện nay là bản lưu từ trong xấp di cảo do anh Quách Tấn giữ.

Buổi sáng hôm ấy, tôi nhớ dường như sáng 28 Tết âm lịch, năm 1938. Tôi và Chế Lan Viên đến thăm anh. Khi ấy bệnh Tử đã nặng! Mới bước vào cổng nhà, tự dưng tôi có cảm giác căn nhà hiu quạnh quá. Thấy chúng tôi, mẹ Tử bước ra thềm hè, rơm rớm nước mắt:

-Trí đi rồi các anh à! Cò bót không cho nó ở nhà nữa, vì sợ lây bệnh, bắt phải đưa vào Qui Hòa, Tết nhất đến nơi rồi, nếu đưa nó vào trong ấy thì tội lắm. Nhà cập rập quá, nên lén gửi tạm nó vào trong xóm Động. Các anh có đi thăm thì em Hành đưa đi. Nó vừa chạy đâu đó.

Đợi lâu không gặp Hành, hai đứa tôi hỏi thăm vào xóm Động. Đấy là cái xóm nhỏ của những người lao động nghèo, nằm trên một bãi cát rộng mênh mông, khoảng khu VI Qui Nhơn bây giờ. Nhà ở chỉ là những túp lều dựng tạm bợ trên cát, không có nền. Đồ đạc, giường, tủ, bàn, ghế cứ đặt nguyên trên cát. Đường đi vào cũng quanh quất cơ hồ khó tìm ra.

Chúng tôi vào một cái chòi lợp tranh nhỏ hơn một cái chái bếp. Nóc chòi được chống lên bằng hai cây cột tre. Một tấm phên ngắn dọc theo chiều dài của nóc, ngăn chòi làm hai: nửa trước sinh hoạt bình thường, nửa sau hình như có đặt một chiếc chõng tre với lỉnh kỉnh những thúng mủng..

Trước tấm phên là cái bàn ọp ẹp, chỉ còn lại một chân trước nối với một khúc củi đẻo từ chảng ba, hai chân sau cột vào hai cọc tre chống mái nhà, Tử đang ở trong ấy (đây là nhà của một phu kéo xe). Nghe tiếng chúng tôi, Tử chậm rãi bước ra, vẻ mệt nhọc:

– Hai cậu vào tới đây sao…?

Hoan và tôi ngồi trên ngạch cửa làm bằng một khúc tre, xoay lưng ra ngoài, trò chuyện với anh. Tử gầy, trông hốc hác lắm Anh không vui như mọi khi.

Đang nói chuyện thì có bà cụ đem cho anh hai quả keo chín, Tử nhìn hai đứa tôi:- Thứ này mình thích lắm. Mấy năm còn khỏe, mình thường xách ná cao su đi bắn. Có khi đạn rớt vào nhà Tây, mình ba chân bốn cẳng chạy nhanh như sóc. Thế mà bây giờ .!.Anh thở dài.

Chúng tôi nói chuyện cho tới giờ tan tầm, thì có một bé trai xách làn cơm vào (chắc là em Hành) Khi cái xách cơm đặt nghiêng nghiêng trên bàn, em lẫn ra phía sau. Tử vẫn giữ cái vẻ thản nhiên, gợi thêm một vài ý nhỏ về thi ca sách vở. Sợ anh mệt và cũng quá giờ chúng tôi đứng lên tạm biệt. Tử nhìn, đôi mắt anh buồn vời vợi

Sau này, mới biết sau cái Tết ấy, gia đình còn cố giấu anh ở mấy nơi nữa rồi mới vào Qui Hòa.

Khi Tử mất, mỗi lần nhớ tới anh, tôi lại ngậm ngùi đọc “Những giọt lệ” của anh

Trời hởi! Bao giờ tôi chết đi

Bao giờ tôi hết được yêu vì

Bao giờ mặt nhật tan thành máu

Và khối lòng tôi cứng tựa si?

Họ đã xa rồi khôn níu lại

Lòng thương chưa đã, mến chưa bưa

Người đi, một nửa hồn tôi mất

Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?

Ai đem tôi bỏ xuống trời sâu

Sao bông phượng nở trong màu huyết

Nhỏ xuông lòng tôi những giọt châu!

Tôi không biết anh viết bài thơ này để nói đến một tình huống nào. Có người bảo là anh viết để than thở về một mối tình trong bao nhiêu mối tình dang dở của mình. Nhưng tôi cứ nghĩ cảm xúc đó bắt nguồn từ buổi sáng hôm ấy, buổi sáng mà tôi và Hoan còn ngồi bên Tử, trong túp lều đơn sơ ở xóm Động…

Quả thật tôi không ngờ, lần chia tay ấy là lần vĩnh biệt.

Giả dụ

Hồ Tịnh Văn

.

Giả dụ lòng anh hình chữ nhật

Em sẽ đem chiều rộng cộng chiều dài

Nếu anh bảo chu vi là sở thích

Em sẽ dùng tổng thể để nhân hai

Giả dụ lòng anh là quyển vở

Chữ viết lên tha thiết những trang lòng

Em sợ lắm nhìn lâu không dám mở

Bởi lo rằng giấy có thấm tình không?

Giả dụ một đêm mùa khô hạn

Lòng em khát cháy những ngọt ngào

Anh là mưa tưới tâm hồn lãng mạn

Cho trái tim yêu dào dạt những dâng trào

Lòng em chín mời lòng anh thưởng thức

Trái thơm ngon em vẫn để dành

Rồi một ngày em mang ra mời mọc

Hai đứa mình tan biến giữa mông mênh.

CÀ PHÊ VÀ NỖI NHỚ

Cà phê một mình

Giữa phố phường đông đúc…

Em nhớ anh!

Ly cà phê Sài Gòn và nỗi nhớ xanh

Hàng phi lao trước biển

Nơi em đến

Là nơi không anh.

Thêm một đêm

em trằn trọc!

Thêm một đêm

thiếu giấc mộng lành!

Chỉ có dáng hình anh án ngữ

Chỉ có đôi mắt anh xoay tròn nỗi nhớ

Chỉ có cặp môi tình khao khát trao anh!

Đêm nay

Em lại nhớ anh

Cơn mưa rả rích

Cơn gió lay rụng tấm chân tình

Chỉ còn em và nỗi nhớ

Tròng trành

Cõi không anh…

Gọi

Phạm Minh Châu

Sự giằng co ở giữa khoảng không

chỉ gió, mây và hơi nước

những thực thể được coi là vi sinh vật

đã ngấm đầy thời gian

dòng nước trôi đi, mây trôi đi

bởi vận hành của gió

sự nghiêng đã tạo thành độ dốc

cho dòng chảy không thôi

.

Phiến đá trầm ngâm

đối diện

Không nhận ra

trong thế giới con người

còn ẩn đó đây chất của loài quỷ dữ

hành trình triệu năm chỗ thiếu, chỗ thừa

thành bão nổi

xin một phút ăn năn và thú tội

để lòng thanh cao

xin ước mơ bay đến những vì sao

dẫu biết là xa lắm

Gọi những linh hồn còn chút cơ may

còn được chở che trong vòng tay ấm

được hiện thân

.

Xin gửi ngày mai

phảng phất vô hình

lời giải bày thánh thiện

xin chữ lành

dài như sông, như biển

như lòng mẹ bao dung

bởi cuộc đời có có, không không

để thanh thản hướng về phía trước

sự nhắm mắt cho người nhận thức

nghiền ngẫm nhân sinh

.

Nếu không có chiến tranh

thì chẳng có khái niệm hòa bình

và thế giới chỉ có màu xanh thơ, nhạc

anh và em cùng nắm tay ngân nga câu hát

ca ngợi sự mềm mỏng của tình yêu

để tháng ngày được sống bên nhau

để tồn tại cuộc đời là không vô nghĩa

đêm mùa đông

dậy,

thắp cho nhau một chút lửa

Chờ…

nắng lên./

Thơ Cao Hoàng Từ Đoan

.

1-

ráng chiều

rớt xuống thinh không

nắng mong manh quá,

tang bồng nơi đâu??

tôi còn

khép nép bên cầu

căng khung vẽ trộm mắt màu hoàng hôn

.

2-

rối lòng , em mượn thơ làm rượu

rải trên sóng mắt mà đưa hương

anh ạ! một ngày vừa ghé đến

bình minh là cổng, mở thiên đường ..

.

3-

à chia tay nhau rồi đó

mà,

chiều lạ nhỉ

con gió im thinh!?

chẳng níu dang dở chúng mình

để ta,người ấy..

bóng hình mờ phai

là chia tay nhau hở ai…

gió sao không nhắn

chờ mai

hẹn ngày..

chưa kịp nhờ gió tỏ bày

chiều nay chan lệ,

ơ hay!

một người..

.

4-

ước là cơn mưa nhỏ

rơi bên hiên, vội vàng

hồn nhiên như hoa cỏ,

nheo mắt cười mà thôi..

.

ngang qua con đường nắng

thấy mùa hạ đến gần

ngang qua bậc thềm vắng

hoa lòng rụng đầy sân..

.

chiều rưng rưng cánh khói

nghe sao nhớ một người!

có nhũng điều khó nói

hồn như một bài thơ

.

5-

đê𝚖 𝚋𝚞ô𝚗𝚐 𝚖ộ𝚝 𝚝𝚒ế𝚗𝚐 𝚝𝚑ở 𝚍à𝚒

𝚌𝚑ừ𝚗𝚐 𝚗𝚑ư 𝚗ỗ𝚒 𝚗𝚑ớ 𝚛ơ𝚒 𝚗𝚐𝚘à𝚒 𝚑𝚒ê𝚗 , 𝚖ư𝚊..

𝚕á 𝚖ù𝚊 𝚝𝚑𝚞 𝚕ạ𝚌

𝚗𝚐õ 𝚝𝚑ư𝚊

𝚑𝚊𝚢 𝚊𝚗𝚑 𝚖ộ𝚗𝚐 𝚟ớ𝚒 𝚗𝚐ườ𝚒 𝚡ư𝚊 𝚝𝚑ì 𝚝𝚑ầ𝚖!?

𝚝𝚑á𝚗𝚐 𝚋ả𝚢 𝚟ề 𝚔𝚑ô𝚗𝚐 𝚝𝚑𝚊𝚗𝚑 â𝚖

𝚎𝚖 ươ𝚖 𝚗ố𝚝 𝚑ạ𝚝 𝚝ừ 𝚝â𝚖 𝚗𝚐𝚞𝚢ệ𝚗 𝚌ầ𝚞

𝚝𝚑ô𝚒 𝚊𝚗𝚑 đừ𝚗𝚐 𝚗ữ𝚊

â𝚞 𝚜ầ𝚞

𝚗𝚐ủ 𝚗𝚐𝚘𝚊𝚗 𝚗𝚑e 𝚖ộ𝚗𝚐

𝚋𝚊𝚗 đầ𝚞,

đầ𝚞 𝚝𝚒ê𝚗..

.

6-

“𝚗𝚐ủ đ𝚒 , 𝚗𝚐ủ 𝚗𝚑ữ𝚗𝚐 𝚟ầ𝚗 𝚝𝚑ơ

𝚗𝚐ủ 𝚌𝚑𝚘 𝚜𝚊𝚢 𝚖ộ𝚗𝚐 𝚖𝚘𝚗𝚐 𝚌𝚑ờ 𝚝𝚛ă𝚖 𝚗ă𝚖”

( NBV)

.

từ thơ tôi hoá điên rồ

ôi người dành dỗ ngôn từ

ghi ơn!

mai về cắn nát nỗi hờn

mà thôi buồn đã từng cơn chín già.

Khi ta hôn nhau

Tần Hoài Dạ Vũ

Khi ta hôn nhau trời đất cũng bàng hoàng

Mây xuống thấp và cuộc đời nín thở

Em cởi áo lòng thế gian chín đỏ

Anh rùng mình quỳ gối tạ hồng ân

.

Hãy hôn đi hôn lại đến ngàn lần

Đồi trăng mọc và suối hoa thổn thức

Tình đã đẹp trong vòng tay hiện thực

Hạnh phúc nào không rực lửa đam mê

.

Say gối chăn mùa xuân mới trở về

Em thảng thốt níu vai đời mê đắm

Con trăng sáng phia chân trời xa thẳm

Soi lòng ta rạo rực buổi quên đời

.

Có ai về dạo lại khúc đàn hơi

Chiều nín thở và đêm xanh tiếng hát

Hương hoa quỳnh dịu dàng môi thơm mát

Ta hôn nhau trời đất biết giao hòa

.

Ta hôn nhau cho đời hóa bao la!

Một tình tiết lạ

Một truyện ngắn UKRAINE

VOLODYMYR VYNNYCHENKO

(Ukraine)

Truyện ngắn

Một tình tiết lạ

HIẾU TÂN dịch

Tại sao tim tôi thắt lại khi nó nhìn thấy cái đẹp? Tại sao tôi muốn ôm đầu bằng hai bàn tay và khóc bằng những giọt nước mắt nóng bỏng? Tại sao? Và tại sao trong những giọt nước mắt ấy có cả dịu êm, vui sướng, buồn đau và vô vọng?

Nhưng tôi biết. Bây giờ chắc chắn tôi biết, nhưng cho đến cái đêm hôm ấy, ngay cả chính cái đêm ấy, khi cái tình tiết chưa ai từng biết, vô nghĩa ấy xảy ra cho tôi – tôi vẫn chưa biết. Tôi nghĩ rằng Natalie vẫn chưa biết. Mà nàng cũng không cần biết.

Nỗi buồn dẫn tôi đến với Natalie. Tôi thấy nàng lần đầu trên tàu điện. Tôi đang đọc báo thì nàng bước vào toa. Báo viết đủ thứ nhưng không có gì dính với hạnh phúc – người ta giết người khác như thế nào, người ta tự giết mình như thế nào, người ta trộm cắp, giết nhau, gào khóc, lừa bịp như thế nào, tóm lại, mọi thứ không có gì dính dáng đến hạnh phúc và tiếng cười (bạn có nhận thấy báo chí không bao giờ viết về chúng hay không?) Tôi đọc tất cả những cái ấy và trở nên vô cảm. Nhưng khi nàng bước vào, khi mắt nàng chạm mắt tôi trong thoáng chốc, tim tôi bỗng lịm đi. Tôi thấy buồn vô hạn. Tự nhiên tôi muốn ôm người ngồi cạnh, béo phị vì ham ăn, và hôn vào cái cổ ba ngấn của anh ta. Tôi muốn hai tay che mặt, ngồi thụt xuống, lắng nghe tiếng chuông khao khát, nỗi khao khát chưa từng biết, ngọt ngào trong tim tôi.

Và sau đó tất cả những cái ấy luôn sống lại trong tôi khi tôi đắm đuối nhìn Natalie. Thậm chí ngay cả khi tôi ôm nàng lần đầu tiên, khi thân thể nàng run rẩy trong tay tôi, ngay cả khi ấy nữa, nỗi buồn cũng không rời khỏi tim tôi. Nó không rời đi, nó chỉ trốn khỏi ngọn lửa khao khát.

Và Natalie, ngay cả bây giờ, nàng vẫn không biết tại sao khi nhìn cái đẹp tim ta lại buồn đến vậy, lại đầy khao khát, lại thích thú một cách đau đớn đến vậy. Nàng biết nàng có một sắc đẹp tuyệt với, ờ, điều ấy thì nàng biết chắc.

Chính đêm ấy, nàng bảo tôi: “Anh nghĩ em không biết giá trị của em à? Nếu em muốn, ngay ngày mai em có thể có một chiếc ôtô.” (Nàng thích ôtô lắm lắm.) “Anh không tin em à? Sao anh lại cười? Tôi tin nàng. Tôi cười vì một lý do hoàn toàn khác. “Và em sẽ có! Em chán ngấy phải ăn khoai tây và khoác chỉ một chiếc áo khoác rồi.” (Chúng tôi đang ở trong tình trạng như thế: ăn khoai tây và chỉ có một chiếc áo khoác.) “Những ước mơ ngu ngốc của anh làm em bực mình. Vâng, em bực mình. Em nói thẳng với anh như thế đấy. Em không phải một bà thánh….Lạy Chúa. Hãy cho em tiền và không phải những bài hát. Tiền! Anh có hiểu không?” Nàng chưa bao giờ thật sự nói thẳng ra như vậy. Tôi đang ngồi cúi gục đầu, đến lúc đó tôi ngẩng lên và nhìn Natalie. Ôi, nàng đẹp biết bao! Lạy Chúa nàng đẹp đến mức tôi muốn đập đầu tôi vào mép bàn cho nó vỡ toác ra, như chiếc bình hoa vô dụng kia. “Thế nào, sao anh cứ nhìn trừng trừng thế. Anh sắp giảng đạo về chù nghĩa khuyển nho chăng? Cứ giảng đi! Em không thánh thiện. Em phát cáu khi phải tỏ ra thánh thiện. Em không làm được. Em cần tiền, thế thôi. Những lý tưởng, những khao khát tìm tòi, những tinh thần và những hành động cao cả xin anh cứ giữ cho riêng anh. Những cái ấy không hợp với em. Thế đấy. Cái gì? Anh chưa từng mong cái đó à?” Tất nhiên tôi chưa từng mong cái đó. Có lẽ…có lẽ tôi có mong, bởi vì tại sao nó buồn thế, tại sao trái tim tôi thắt lại nghẹn ngào khi nhìn vẻ đẹp của thân thể nàng. Tôi không nói thêm gì nữa với nàng. Thậm chí tôi lặng lẽ ra khỏi nhà mà không mang theo áo khoác.

Trời đã về khuya. Trên đường phố có sương mù. Nó bao bọc những bóng đèn như những chiếc khăn quàng của phụ nữ. Khách đi đường bước hối hả, cổ áo dựng lên và hai tay đút túi. Họ biết rõ họ đi đâu. Nhưng tôi không biết, nên tôi không vội. Tôi thậm chí không đút tay vào túi và kéo cổ áo lên. Tôi chỉ mỉm cười. Nhưng nếu có ai đó lấy nụ cười ra khỏi môi tôi và nấu chảy nó trong một thứ gì đó mà họ có thể nấu chảy cả tiếng cười lẫn tiếng khóc, thì nụ cười của tôi có lẽ không có vẻ là một cái cười. Tôi dừng lại trên một góc phố. Tôi thường đợi Natalie ở đấy. Chúng tôi cùng bước đi, ôm chặt nhau. Cũng ở đây thường xuất hiện một bóng người mà vừa trông thấy, trái tim tôi thắt lại vì thương xót và một nỗi sợ khinh khi.

Phải, chúng tôi thường qua đây. Chúng tôi hối hả về nhà. Một đĩa khoai tây nguội và một chiếc áo khoác đang đợi chúng tôi ở nhà.

Còn bây giờ, tôi đi đâu bây giờ? Dù sao, chắc chắn là không phải đi kiếm tiến. Đương nhiên là thế. Nhưng, dù sao, đi đâu? Sương mù làm đường phố ẩm ướt, nhớp nháp, lạnh lẽo nhưng dẫu sao vẫn ấm hơn tảng băng đang đè trĩu trong ngực tôi. Và tôi lại đi dọc đường phố, trong sương mù.

Bỗng nhiên có bóng người áp sát tôi. Tôi nhìn quanh. Vẫn là cái sinh linh mà chúng tôi thường gặp trên những phố này. Vẫn là cái sinh linh xấu xí, tội nghiệp đã gợi lên trong chúng tôi nỗi sợ hãi bí mật và khi ấy chỉ muốn níu chặt nhau hơn.

Ả luôn luôn xuất hiện bất ngờ thế nào đó ở cùng một nơi hoang vắng. Chúng tôi không nghĩ ả là gái điếm, mặc dù chúng tôi thường thấy ả vỗ nhẹ vào khách đi đường như ra hiệu. Nhưng khách qua đường sau khi liếc nhìn lập tưc quay người bước đi. Chúng tôi thường nói chuyện về ả, và Natalie luôn hỏi liệu có người đàn ông nào đi với một sinh linh ghê rợn như ả không, một bóng ma.

Quả thật, ả giống như một bóng ma, như sự hiện hình của một gái điếm, như cái biểu tượng ghê sợ của cái nghề đáng nguyền rủa ấy. Ả luôn luôn mặc một thứ không thay đổi, như thể ả đã bước đi ở đây hằng đêm trong nhiều năm. Và quả vậy, một con ma cần gì thay quần áo? Luôn luôn vẫn là chiếc áo choàng dài mầu xám ấy, các nếp gấp của nó không lay chuyển khi ả bước đi dưới những bức tường, dọc theo những cánh cửa câm lặng khóa kín, và những tủ kính của các cửa hàng. Luôn luôn trong chiếc mũ cổ lỗ xẫm màu, từ đó buông xuống tấm mạng che mặt dày màu xám, và luôn luôn có một chiếc dù trong tay ả.

Một hôm chúng tôi gặp ả dưới một cây đèn đường. Một khuôn mặt xấu xí liếc nhìn chúng tôi qua tấm mạng che mặt, xấu đến mức tôi thấy chân mình bủn rủn. Nó tái nhợt, với cặp mắt mệt mỏi, trang điểm như mọi cô gái điếm, với cặp môi đỏ chót giống như của một xác chết.

Tại sao ả đi dưới những bức tường, trong bóng tối? Có thể có người đàn ông nào đi với ả chăng? Natalie ngờ điều ấy. Tôi nhìn quanh một lần nữa và nhìn thẳng vào mặt ả. Khuôn mặt hoàn toàn phù hợp với những gì trong tim tôi.

Nhưng lúc này tất cả những gì mà tôi cần là hôn lên khuôn mặt ấy và khám phá ra rằng sinh linh này có thể làm cho tôi vui.

“Chào ông,” cô ta nói giọng thì thào hết sức véo von.

“Chào cô,” tôi to giọng trả lời, miệng luôn mỉm cười.

Cô ta chăm chú nhìn nụ cười của tôi, lướt nhìn khắp mặt tôi, ngực tôi bằng đôi mắt mở to trân trân và hỏi bằng giọng đều đều êm dịu:

“Ông ra đây đi dạo phải không ạ?”

Tôi phá lên cười.

“Tất nhiên tôi đi dạo. Tôi thích ra đây khi đẹp trời.”

Một lần nữa cô ta dán cặp mắt cá chết lên người tôi. Trên khuôn mặt cô ta, cứng đơ như chết, không một chi tiết nào cử động, như thể cô ta đã quen với kiểu cười đó, quen với những quý ông từ thiện “ra phố khi trời đẹp” như thế này.

“Đi với em chứ?” Cô ta hếch mặt lên.

“Đi đâu?”

“Sao lại đi đâu. Về nhà em.”

Cô ta nhìn tôi “Anh không biết thật à?”

Tôi cũng nhìn cô ta. Một người qua đường cầm ô đi qua liếc nhìn lại chúng tôi. Hắn nhìn cô ta, nhìn nhanh sang tôi và tôi đọc được trên mặt hắn vẻ ngạc nhiên, khinh bỉ và thương hại đối với tôi.

Và Natalie sẽ nói sao đây?

“Có đi không?” cô ta hỏi lại, đầu cúi xuống.

Bỗng nhiên tôi thấy ớn lạnh như thể sương mù tràn vào óc tôi, không phải vì tôi chỉ mặc một chiếc áo khoác duy nhất, mà còn vì điều gì khác, cái điều có thể khiến người ở xích đạo ớn lạnh.

“Tôi không có tiền.” Tôi nói giọng buồn và lạnh lùng.

“Anh có thể trả tôi lúc khác cũng được.”

Hừ. Con ma này quyết chiếm chỗ của Natalie đây. Tuyệt. “Nào, đi” tôi nói.

Cô ta xoay người và bước đi hầu như không một tiếng động, dẫm lên những vũng nước trên vỉa hè. Chiếc áo choàng màu xám, giống như một tấm vải phủ quan tài, thẳng đuột không hề lắc lư, quệt xuống đất.

Tôi mỉm cười và quả quyết đi theo cô ta. Chúng tôi không phải đi lâu.

Cô ta sống trên tầng 6, trong một căn áp mái, trong một phòng nhỏ có bức tường cắt một nửa và trên nó căng một tấm vải che. Một góc phòng bị bưng kín bằng một tấm khăn trải giường mầu xám, góc khác kê một chiếc giường, rộng và êm. Nhiều tranh khắc treo trên tường.

Chúng chủ yếu là những bức ảnh chụp các họa phẩm cổ điển. Nhiều bức của Rodin. Tôi nhận ra ngay. Cô ấy lấy chúng ở đâu, cô ma này, và không biết chúng có ích gì cho cô?

“Cô có nhiều tranh khắc thế?” Tôi nói.

Cô nhìn tôi hơi sợ hãi, như thể tôi muốn lấy đi những bức tranh này của cô.

“Cô thích chúng hay đây là quà tặng?”

“Em thích chúng.” Cô ta nói dịu dàng và bắt đầu vội vã cởi váy áo.

Tôi ngồi trên chiếc ghế đẩu cạnh bàn và tựa đầu lên cánh tay. Tôi không muốn cười nữa. Tôi muốn… Không! kết thúc đi!

“Anh buồn à?” tôi nghe bên cạnh tôi tiếng thì thào êm dịu.

Tôi ngẩng đầu lên và cười vào mặt cô.

“Tại sao tôi phải buồn? Vì tôi đã lên đến tầng 6? Đấy vẫn chưa phải là vấn đề lớn. Còn có những cái tồi tệ hơn. Được. Chúng ta sẽ đi ngủ chứ? Tuyệt…ở đây yên lặng lắm. Nhưng cái gì ở trong góc kia? Một chiếc giường thứ hai chăng? Chắc cho những vị khách đặc biệt?”

“Không. Quần áo em treo ở đấy.”

“Quần áo à? Cũng thế cả thôi. Thậm chí một trái tim treo ở đó tôi cũng cóc quan tâm. Nhổ lên tất cả mọi thứ, và thế đấy. Được không?”

“Được,” cô ta đáp và nhìn tôi rất chăm chú. Chúa ơi, cô ta có đôi mắt đẹp quá… Không, không phải đôi mắt, cái biểu cảm. Mắt cô xấu, như mắt cá, không gì sửa chữa được điều ấy. Nhưng cái biểu cảm của chúng thì đẹp. Ôi, nếu mắt Natalie cũng có biểu cảm như thế. Nhưng – để làm gì!

“À, thế nghĩa là tôi phải cởi quần áo. Tuyệt. Cô có nhiều khách không ?”

“Không, không nhiều lắm…”

“Không nhiều lắm? Thì cũng thế cả thôi” Nhưng, có lẽ tôi nên cầm lấy mũ và bỏ đi?

“Em xấu lắm nên ít người đến với em..”

“Thật ư?” Nhưng Natalie đẹp đến nỗi…

Trái tim tôi đầy đau đớn đến nỗi tôi tưởng rơi xuống tận đáy và tôi muốn quào sàn nhà bằng những ngón tay co quắp.

Tôi nhăn nhở cười với cô. Tôi không nghĩ cô có thể đọc ra niềm vui mừng trong cái cười ấy.

Cẩn trọng, nhu mì, cô chạm vào cánh tay tôi và dịu dàng vuốt ve nó.

Và thật lạ lùng, tôi thấy ấm bên trong và cảm thấy tiếc cho tôi.

“Với ai cô cũng mơn trớn thế này à?”

“Những người đang buồn.”

Không, nhất định có cái gì đó tuyệt vời trong giọng nói của cô, một cái gì nhu mì, nhưng là cái đến từ một sự thấu hiểu sâu sắc.

“Tại sao cô nghĩ là tôi đang buồn?”

Cô mỉm cười và không nói một lời cô bước ra xa, đến cạnh bàn và nghĩ ngợi. Ánh sáng từ ngọn đèn lọc qua chiếc chao đèn mầu lục tỏa xuống khuôn mặt xấu xí của cô một màu lục ngả xám. Trông cô giống như một xác chết đăm chiêu suy nghĩ về cuộc sống đã qua của nó qua làn sương mờ im lặng của quan tài mà trông thấy mọi thứ, hiểu và buồn một nỗi buồn hiền lành nhỏ nhoi tội nghiệp.

“Những người đang buồn có thể hiểu nhau”. Và khi nói thế, cô nhìn tôi vẻ tội lỗi và sợ hãi, sợ bởi vì cô dám so sánh tôi với cô.

Tôi đứng bật dậy và bước quanh phòng. Sao tôi muốn đến thế lấy hai tay đè mạnh lên ngực để ép bật ra cái khỏi đó cái cục gì nó đang chẹn ngạt tôi, như cho xì hơi ra khỏi một quả bóng. Trời ơi, sao ngạt thế.

“Nghe này! Cô có chút rượu nào không?”

“Không , em không có rượu”

“Nhưng vậy thì…” Có lẽ cô ấy có sợi dây thừng. Nhưng thôi, chết tiệt..

“Được. Sao cô không cởi ra? Cởi ra”

“Em còn phải tắt đèn.” Cô ta nói dịu dàng. Tôi nhìn cô. Đúng thật, cô ta không thể cởi quần áo dưới ánh sáng. Nhưng đó lại là điều tôi tuyệt đối cần.

“Sao lại tắt đèn? Không cần thiết. Tôi không thích tối. Tôi thích ánh sáng, tiếng cười, hạnh phúc.” Và tôi thậm chí bật cười.

“Sao cô nhìn tôi như thế? Cô không tin tôi à? Tôi nói có gì lạ đâu? Mọi người đều thích ánh sáng và hạnh phúc. Chắc cô có nến. Mang lại đây. Chúng ta sẽ thắp nến ở mọi góc. Sao cho ánh sáng xuyên vào mắt. Sao cho mọi vật đều được nhìn thấy. Trong mọi góc, hai, ba ngọn nến. Trút bỏ quần áo ra. .. từ góc ấy. Ánh sáng trong mọi xó xỉnh.”

Và tôi nắm mép tấm khăn trải giường mầu xám, kéo tuột nó ra. Đúng lúc ấy, có một tiếng thét vút lên sau lưng tôi, và tôi đứng chết lặng với góc khăn trải giường trong tay! Trong góc, trên hai chiếc rương nhỏ, đứng một pho tượng làm dở dang. Đó là tượng một người đàn bà xấu xí, xấu đến mức tôi không thể nào rời mắt khỏi nó. Đó là một cái gì nhức nhối, một cái gì bất ngờ, quyến rũ một cách kỳ lạ, đáng sợ nhưng đồng thời tràn đầy một nỗi đau thầm lặng, ngọt ngào khát khao bí ẩn. Tôi nhìm quanh tìm chủ nhân, cô ta đang đứng sau lưng tôi, mỉm một nụ cười âu sầu như có lỗi.

Cô rất giống người dàn bà đó.

“Có ai đã tạc nó ở đây?”

Không trả lời, cô cố lấy lại tấm khăn trải giường từ tay tôi và che lên tác phẩm ấy.

“Khoan đã.” Tôi nóng nảy gạt cô ra. “Nói cho tôi biết ai đã làm cái này?”

Cô ta trở nên tức giận. Mặt cô có nét biểu cảm đúng như nét mặt người phụ nữ kia, thậm chí những đôi môi mím lại một cách đau đớn và quyến rũ giống nhau. Một kiểu đẹp ngự trên những đường nét nhăn nheo, xấu xí ấy. Đúng, đúng, nó đẹp thật. Nó là cái gì khó tin, phi lý, nhưng đây là cái đẹp thật sự.

“Tôi đang tạc nó…” cô ta nói, mắt nhìn vào khuôn mặt người phụ nữ. Người phụ nữ nhìn cô, dường như họ hiểu nhau.

“Cô?… Chính cô?”

Con ma mỉm cười. Có cái gì đó đã xảy ra với cô, một loại biến đổi. Tội lỗi và sợ hãi biến đi đâu mất. Cô cúi đầu, nói chậm rãi.

“Có thể nó là chính tôi. Có thể nó là cái gì đó có trong mọi người. Không phải thế sao?”

Và ngửng phắt đầu lên, cô ấy nhìn tôi. Tôi chuyển mắt nhìn sang pho tượng. Thật sự có một cái gì thân quen trong đó, một cái gì gần gũi. Thật sự…

“Đây là một tác phẩm đẹp” tôi lầm bầm.

Tôi muốn nói một điều gì khác nũa, nhưng không biết nói gì

“Anh nghĩ thế à?”

“Vâng, tôi nghĩ thế.”

Ôi cái gì thân quen đến thế trong khuôn mặt này? Đôi mắt? Đôi vú chảy xệ khô héo vì sự chất phác và những rối loạn của trái tim, quai hàm trẹo đi vì bản năng thú vật? Cái miệng hé lộ nỗi đau bị tổn thương? Hay là sự khao khát kia, nỗi khao khát hiền lành, tối tăm, bí ẩn ấy – tìm một chỗ nơi nào đó giữa những vành môi, nơi nào đó dưới vầng trán thấp giữa đôi mắt sụp xuống kia?

Tôi lấy chiếc ghế đẩu, ngồi xuống và bắt đầu ngắm cái hình dáng tuyệt mỹ. Cái nhìn chăm chăm của nó qua vai tôi, găm vào một nơi nào đó, tới bóng ma kia, như thể cô ta bất cẩn và nghiêm túc để cho mình bị quan sát kỹ, đúng như tôi mong muốn.

Cả ba chúng tôi cùng im lặng. Một miếng đất sét đắp pho tượng rơi từ đầu gối nó xuống sàn. Đôi chân trông là lạ và khó tin, nhưng chắc chắn chúng là những đường nét đang tồn tại. Một dáng hình như thế này không thể thấy được, thế nhưng chúng đã được thấy. Nó có trong mỗi chúng ta. Thậm chí…

Bỗng nhiên ý ấy đập vào tôi. Nó giống Natalie.

Hết sức rối loạn, tôi nhảy bật lên khỏi ghế và bắt đầu nhìn tác phẩm ngu ngốc này! Thật ngu xuẩn! Thế nào? Ở đâu? Thật vớ vẩn! Con ma nhanh nhẹn chạm vào cánh tay tôi. Tôi nhìn quanh.

“Nó làm anh chán ngấy phải không?”

Tôi lại ngồi xuống. Thật vớ vẩn. Tôi nghĩ quá nhiều đến Natalie và nàng hiện ra trong một hình dáng ghê sợ như thế này. Tôi mỉm cười.

“Bức tượng của em đã làm anh chán ngấy.”

“Nó thật sự tuyệt diệu. Có một cái gì đó trong nó… Cô làm nó có lâu không ?”

“Sáu tháng”

Thật sự cái vật ghê gớm này hút người ta đến nó. Nó kéo mắt anh, nó kéo tim anh và hơi thở của anh đến với nó băng vẻ đẹp mê hồn và nỗi khát khao của nó; sự xấu xí và thảm hại của nó.

“Tôi muốn tạo hình một con người.”

“Một con người?”

Tôi quay đầu nhìn lại “bóng ma” từ đầu đến chân. Bây giờ cái miệng cô ta có một nét biểu cảm có trên người phụ nữ kia. Cô ấy đã nhìn vào gương khi nặn đôi môi này. Và cô ta cho bức tượng hình ảnh đôi mắt của chính cô. Và cái mũi tẹt kia giống như một quả mận bị ép.

“Cái đẹp này và cái xấu này có trong tất cả mọi người… trong mọi hình thức… Nhưng nó nhất định phải có. Chẳng phải sao?”

Tôi không nói.

“Nhất định phải có…Cả cái đẹp lẫn cái xấu… chỉ đôi khi cái đẹp bị giấu kín đến nỗi không thể thấy nó. Hoặc cái xấu ẩn dưới cái đẹp. Tôi muốn cho chúng bộc lộ cùng nhau… hay là tôi không nên?”

Cô ta hay nói “tôi có nên không?” Dù thế nào tôi vẫn im lặng và nhìn tác phẩm của cô. Nhìn càng lâu, tôi càng thấy trong lòng ấm áp và thoải mái. Như có một cái gì bóp nghẹt tôi, thổi phồng tôi, không cho tôi thở dễ dàng, đang từ từ thoát khỏi tôi qua một cái lỗ nhỏ.

Cảm giác thật diệu kỳ, và tôi không muốn cưỡng lại nó. Ôi, không! Tôi muôn nghe điệu nhạc ấy, cái giọng hơi vỡ ra dường như được bọc bằng một lớp men bạc, giọng của một người đàn bà đẹp. Tôi không muốn cử động để khỏi làm vỡ mất cái bình lặng của đêm, trong đó dường như chỉ có ba chúng tôi tồn tại cùng với cái ánh sáng dìu dịu của ngọn đèn trên bàn. Các góc của căn phòng này được bọc bằng sự hài hòa buồn bã của cái đẹp và cái xấu, ở trung tâm của cái thành phố khổng lồ tối đen đang ngủ say này.

Những đường nét của pho tượng kỳ lạ này toát ra một nỗi khao khát trò chơi hão huyền của cuộc sống. Cô gái đứng bên tôi, giọng của cô là giọng của pho tượng ấy. Trong tim tôi nỗi buồn thức dậy.

“Anh là nghệ sĩ phải không ?”

“Phải, tôi là một nghệ sĩ.”

“Em nhìn biết ngay. Em rất vui mừng. Em đã muốn trưng bày nó từ lâu. Nhưng em không thể… bây giờ em mới thấy những gì em làm là đúng. Em hạnh phúc.”

Cô xúc động. Cô ước vài bước về một bên, quay lại, xoa xoa hai tay. Rồi cô dịu dàng chạm vai tôi.

“Anh buồn à?”

Tôi gật đầu, mặc dù tôi không còn buồn nữa.

“Có phải điều gì đó làm anh chán. Tha lỗi cho em, vì em đã yêu cầu anh chuyện đó… Em thích anh.”

Tôi thích nghe nói thế dù tôi không rung động.

Cô im lặng.

“Anh có bao giờ cảm thấy tất cả mọi khốn khổ là một hình thức của cái xấu không ?…”

Tôi không động đậy. Tôi không muốn để cô nói, để cái giọng vỡ, khao khát ấy tiếp tục sau lưng tôi.

“Em luôn cảm thấy rằng… đó là lý do tại sao những người xấu xí lại thường bất hạnh đến thế… Xấu xí không phải chỉ trên mặt… Tất cả đều xấu.. Em không đúng à?”

Tôi thở dài sâu. Người đàn bà này biết nỗi buồn. Cô ta biết cái ý nghĩ về nó. Có lẽ cô ta thường xuyên nhìn nó kỹ quá như nhìn vào một vết thương.

“Sao anh không nói?”

Bỗng nhiên tất cả chuyện này trở nên tuyệt diệu. Bóng ma này, căn phòng được trang hoàng thanh nhã với thị hiếu nghệ sĩ này, những bức tranh, và bức tượng bị che khuất sau tấm khăn trải giường. Tôi đứng lên và lướt nhìn cô chủ nhà của tôi từ chân đến đầu. Cô đứng, hai cánh tay buông thõng bên mình, chăm chăm nhìn tác phẩm của cô. Đôi mắt cô mang cùng nỗi đau buồn như bức tượng của cô. Bản thân cô là một tác phẩm.

“Cô làm có lâu không ?”

Cô thở dài và quay mặt về phía tôi.

“Anh nói gì? Em xin lỗi, em không …”

“Tôi nói – Cô làm việc này có lâu không?”

“Việc gì?”

“Việc đắp tượng, tất nhiên.”

“Không, không lâu, chưa đến một năm”

“Và… làm gái?”

Cô ta cúi đầu xuống.

“Em không tìm được việc nào mà em có thể đi làm vào ban đêm”

“Không tôi không hỏi chuyện đó. Tôi hỏi cô vào nghề ấy đã lâu chưa?”

Tôi nói với cô như một quan tòa. Và cô ấy cảm thấy tôi có quyền nói với cô như vậy. Nhưng tại sao?

“Em đã làm nghề ấy ngay từ khi em bắt đầu làm bức tượng này.”

“Và cô làm tượng vào ban ngày.”

“Vâng.”

Tại sao tôi hỏi cô tất cả những chuyện ấy? Có trời biết. Tôi lại ngồi xuống ghế, tựa đầu lên lưng ghế, và không cử động. Ở nơi nào đó trong xưởng vẽ không người, Natalie đang ngủ. Cứ để cho nàng ngủ. Ngày mai nàng sẽ thấy sự đánh giá sắc đẹp của nàng. Cứ để cho nàng thấy.

“Nghe này” Tôi bỗng nhiên ngẩng đầu lên, “Có phải cô cố cho tôi thấy sự thống nhất của cái đẹp và cái xấu để thấy trong cái hình thức đẹp bề ngoài cái xấu bên trong bộc lộ ra, phải không ?”

“Không em không muốn cố theo cách ấy. Khó hơn nhiều.”

“Khó hơn? Hừ! Ừ khó hơn, đúng. .. nhưng nó có nhiều tác động hơn”

“Oh…nhiều hơn…”

“Nó phải gợi lên một nỗi buồn cùng cực. Nó phải gây ra rối loạn đau đớn ở tâm một sự kết hợp như thế, đúng không? để cho một vẻ đẹp như thế, một sự kết hợp như thế, sao cho người ta có thế thấy… Không! tôi nói không đúng… tôi không thể nghĩ… nhưng bây giờ tôi hiểu. Bây giờ tôi đã hiểu.”

Và tôi lại ngả đầu tựa lên vai ghế. Bây giờ tôi đã thật sự hiểu, rằng ngay cả trong những khoảnh khắc hạnh phúc thuần khiết nhất với sắc đẹp của Natalie, trái tim tôi bị bóp nghẹt bởi một nỗi buồn, nỗi khát khao chưa từng biết khiến tôi muốn khóc lên bằng những giọt nước mắt nóng hổi cho ai đó hay cái gì đó, và tại sao trong những giọt nước mắt đó có cả cái dịu dàng và hạnh phúc và nỗi đau và vô vọng.

Hiếu Tân dịch theo bản tiếng Anh (dịch từ tiếng Ukraine) của L. Hirna và D. Struk