Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn xuôi’ Category

Điều ước

VÕ HẠNH

"Thiếu nữ , chim và hoa hồng".tranh sơn mài Dương Tuấn Kiệt

 – Nếu có một điều ước trở thành hiện thực thì em sẽ ước mơ gì?

– Ước được một lần sống cho riêng mình mà không sợ làm tổn thương đến người thân. Ước được một lần trả tự do cho cảm xúc yêu thương mà không sợ ai phán xét và cũng không phải phán xét chính mình… Còn anh ?

– Anh ước được một lần đi đến tận cùng cảm xúc yêu thương với em. Ước được sống một ngày bên em với tất cả yêu thương… háo hức và đam mê… của cả trăm năm… gộp lại…

– Em! Anh chờ đợi em đã quá lâu rồi.

– Xin anh…

– Hãy đến với anh đi! Mình sẽ thực hiện điều ước. Em! Mười năm rồi!

– Xin anh đừng vậy mà…

Cách xa hàng mấy trăm cây số, Vĩnh vẫn nghe rất rõ tiếng nấc nghẹn của San. Luôn là sự day dứt, trăn trở.

**

****

 

Vĩnh gặp San tại một đợt Hội thảo. Ấn tượng đầu tiên về San là cái hiền lành, khép nép khiến Vĩnh thấy thương hại. Trong đêm liên hoan chia tay, San ngồi ở một góc khuất, e dè. “Sao không ra nhập cuộc vui cùng anh em hả cô bé?”. “Em… hơi đau đầu”. Vĩnh nhận ra mặt San đang đỏ ửng, có lẽ vì cốc bia không từ chối được ban nãy. “Đi với anh đến chỗ này em sẽ thấy dễ chịu ngay”.

Vĩnh đưa San ra biển. Trăng đầu tháng hanh gầy. Biển vắng. Những đôi tình nhân đã lần lượt rời chỗ hẹn. Chỉ còn lại sóng khẽ rì rào đủ nhường không gian cho tiếng cười trong veo, nhảy nhót sau chân Vĩnh.

– Sao không đi ngang hàng cùng anh?

– Em thích đi theo chiếc bóng của anh.

– Làm chiếc bóng của anh chứ?

Tiếng cười bỗng ngưng bặt. Sóng cũng thôi rì rào… Vĩnh cầm lấy tay San. Một cái rụt nhẹ… lưng chừng… và rồi hơi ấm dần lên, mềm mại, dịu dàng trong bàn tay Vĩnh. Biển hát lời của thơ nhạc.

**

****

Vĩnh hay ra biển hơn. Những lúc kết thúc công việc căng thẳng. Những đêm trăng đầu tháng hanh gầy. Với Vĩnh, biển giờ đây không chỉ có sóng mà còn có tiếng cười trong veo dễ mến, có cái rụt nhẹ của bàn tay khiến Vĩnh muốn nắm giữ chặt hơn, có cái e ấp dịu dàng, tin cậy của người con gái khiến Vĩnh muốn trân trọng và giữ gìn, có câu chuyện San kể bên ghềnh đá về chàng trai chăn cừu và cô chủ nhỏ một đêm trên đỉnh núi dưới đám cưới của những vì sao lung linh, khiến Vĩnh nhận ra sự thánh thiện của tâm hồn ngay trong những ham muốn trần tục và rất đời thường, có giây phút được ngã đầu thấy sự bình yên thanh thản, có cái thắt lòng trước câu  tưởng như bất chợt, bâng quơ mà không thể quên: “Em là gì của anh?”. “Là một góc bé nhỏ trong trái tim anh, một phần của cuộc đời anh”. “Vậy cũng quá nhiều rồi anh nhỉ!”. Tưởng San dỗi hờn, Vĩnh dỗ dành “Anh sẽ cho hết phần đời còn lại nếu em muốn”. “Điều đó đâu dễ dàng, mình chẳng còn tự do. Hãy cho em yêu anh theo cách của riêng mình.”. “Cách của riêng em là thế nào ?”.Không sở hữu anh cho riêng mình, nhưng luôn hướng về anh, sẻ chia cùng anh mọi buồn vui trong cuộc sống và luôn cầu nguyện cho anh được hạnh phúc”. “Đừng lo gì cho anh  mà hãy cầu mong cho em được mạnh mẽ hơn, dám nghĩ và dám sống cho mình, dám làm những điều em cho là đúng và cần thiết. Đừng quá khắt khe với bản thân mình. Cũng đừng lo gánh hết lên vai điều tiếng của miệng thế. Cuộc sống vốn không tồn tại những cái hoàn hảo, nên cũng không cần em buộc mình phải hoàn hảo đâu. Thời gian không chờ đợi. Tuổi trẻ của em cũng không hai lần trở lại. Đừng để phải hối tiếc khi ta đã về già”. “Em không biết tình yêu của mình là đúng hay sai ?”. San bao giờ cũng vậy, luôn dằn vặt, phán xét mình khiến Vĩnh  khổ sở trong những lần hẹn hò hiếm hoi ngắn ngủi. Yêu thương nhớ nhung, đam mê chờ đợi nhưng cứ phải cố kiếm lòng vì ánh mắt biết nói của San “Xin anh!… Em sợ!”

**

****

Không biết bao lâu rồi San không nhắn tin cũng không gọi điện, Vĩnh cũng không thấy nôn nao chờ đợi. Những dự án, những hợp đồng liên tiếp cuốn xoáy. Đôi lúc ngưng việc, Vĩnh có nghĩ đến San nhưng lại tự nhủ nên chăng cứ để yêu thương lặng dần đi. Vĩnh muốn trả San về với cuộc sống cũ của mình, bình yên, an phận với những gì tạo hóa đã sắp đặt. Chỉ đôi chút vòng vèo, chùng chình trên đường đời đã khiến San phải luôn dằn vặt, day dứt phán xét mình. Nếu một lần “chặt xích” trả tự do cho đam mê thì thời gian còn lại, cuộc sống của San sẽ không dễ dàng. Vĩnh lo sợ…

“Anh có còn nhớ đến điều ước không?”, tin nhắn của San đến không đúng lúc. Vĩnh không có tâm trạng để nói chuyện yêu đương. Một dự án của công ti do anh phụ trách gặp sự cố và đang có nguy cơ bị phía đối tác hủy hợp đồng.“Anh rất bận!”. Vĩnh nhắn trả gọn ghẽ rồi khóa máy. Chẳng còn khái niệm về thời gian.

– Sao hôm nay về khuya thế chú Vĩnh? Đã hơn 11 giờ rồi”- bác bảo vệ  mở cổng khi vừa trông thấy Vĩnh.

– Thế à!- Vĩnh vẫn còn đang lơ lửng trên mây

Phố xá vắng tanh. Vĩnh cứ chạy xe lòng vòng và rồi không biết tại sao mình đang đứng trước biển. Bà cụ bán hàng nước bên hàng dương thu dọn quán muộn hơn mọi khi cứ luôn miệng xuýt xoa bảo tội nghiệp cái nhà chị ấy, chắc là ở xa đến, thấy bảo đi thăm người quen gọi điện mãi mà vẫn không được, đợi từ chiều giờ, chẳng biết đi đâu nữa, khổ quá…

Vĩnh bừng tỉnh. Linh tính… anh mở máy. Một tin nhắn đến: “Em đến thăm anh. Nhưng sao yêu thương cứ như rót vào thinh không thế này…”

Vĩnh thấy mình đang bị cháy. Những vết chân nhỏ liu xiu giữa khoảng đêm mênh mông hun hút càng đốt Vĩnh hừng hực. “San ơi, em đang ở đâu? Hãy nghe máy đi em! Xin đừng hành hạ anh nữa mà! Có biết là anh đang rất nhớ em không?”

Năm phút… mười phút… bằng cả chiều dài thế kỉ. Chưa bao giờ Vĩnh thấy mình yếu đuối như lúc này… và… điện thoại rung lên, Vĩnh hóa thành trẻ con, van vỉ: “Em đang ở đâu? Đừng trốn anh nữa mà! Cầu xin em đó!”

Một khoảng lặng tê người… “Là em đây mà. Anh đang ở đâu? Về nhà nhanh đi! Con sốt cao lắm, mình em chẳng biết làm sao nữa…”

Vĩnh rệu rã. Đổ bệt xuống cát. Một cơn sóng nhỏ xô bờ kéo những vết chân liu xiu ra xa. Xa tít.

Dưới hàng dương bên cạnh đó, San cũng vỡ vụn. Dỗi hờn. Kiếm tìm. Dỗ dành… đều đã kết thúc, nghiệt ngã. Càng cố nén lòng càng ứ nghẹn. Bao nhiêu nước mắt cứ lặng lẽ chảy vào trong.

Read Full Post »

Đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, ca khúc Ngày xưa Hoàng Thị (thơ Phạm Thiên Thư, Phạm Duy phổ nhạc) đã từng gây xôn xao trong đời sống âm nhạc miền Nam. Cả thơ lẫn nhạc đều rất tuyệt vời…
Bìa bản nhạc Ngày xưa Hoàng Thị và Chân dung Phạm Thiên Thư – Ảnh: H.Đ.N

Từ tiếng hát cao vút của Thái Thanh, những ca từ của Ngày xưa Hoàng Thị chấp chới đi vào hồn người: “Em tan trường về,  đường mưa nho nhỏ. Chim non lề đường, nằm im giấu mỏ. Anh theo Ngọ về, gót giày lặng lẽ đường quê…”. Phải nói rằng, dạo đó thơ Phạm Thiên Thư là hiện tượng, bởi sau thành công của Ngày xưa Hoàng Thị, nhạc sĩ Phạm Duy phổ thêm liên tiếp những ca khúc từ thơ Phạm Thiên Thư: Đưa em tìm động hoa vàng, Em lễ chùa này, Gọi em là đóa hoa sầu… Người ta đua nhau tìm đọc thơ Phạm Thiên Thư – một tu sĩ Phật giáo – bởi hơi hướm thơ vừa nhuốm mùi thiền vừa vương tình trần. Thơ lục bát của Phạm Thiên Thư quá hay mà thơ 4 chữ (như bài Ngày xưa Hoàng Thị) lại cũng tuyệt… Chẳng thế mà tập thơ Đoạn trường vô thanh (hậu Kiều) của ông được trao Giải nhất văn chương – thể loại trường ca (Sài Gòn – năm 1973)… Rồi người ta đoán già, đoán non cô Hoàng Thị Ngọ là ai mà có sức hấp dẫn đến thế, khiến cho người thơ đã nương cửa Phật vẫn phải vướng mùi tục lụy?

“Anh tìm theo Ngọ…”

Phải đến 40 năm sau tôi mới có dịp diện kiến nhà thơ Phạm Thiên Thư, khác với những gì tôi mường tượng: tác giả Ngày xưa Hoàng Thị không mang dáng dấp thư sinh, nho nhã mà đẹp như một… “lão ngoan đồng”. Ông hiện là chủ quán cà phê Hoa Vàng ở cư xá Bắc Hải (Q.10, TP.HCM), tên quán chắc là để nhắc nhớ đến ca khúc Đưa em tìm động hoa vàng nổi tiếng một thời? Câu đầu tiên ông “chào” tôi là một câu lục bát: “Dễ gì được một vần thơ/Mà nghe nghiệp chướng, lại ngờ tiền oan”. Rồi ông kể về Ngọ: “Rất đơn giản, tôi tuổi Thìn (1940), còn cô ấy tuổi Ngọ (1942) cho nên được bố mẹ đặt luôn tên là Ngọ. Cách nhau 2 tuổi nhưng học cùng lớp đệ tam (lớp 10 bây giờ) ở trường Trung học Văn Lang (khu Tân Định). Ngọ có dáng người thanh mảnh với mái tóc dài thả ngang vai. Mỗi khi xếp hàng vào lớp, cô ấy đứng đầu hàng bên nữ, tôi đứng cuối hàng bên nam, tha hồ ngắm… Vào lớp, cô ấy ngồi bàn đầu, tôi bàn cuối. Ngọ học rất giỏi, còn tôi chỉ giỏi… đánh lộn (gia đình tôi vốn có truyền thống võ thuật). Có lần thầy giáo gọi tôi lên trả bài, tôi không thuộc nhưng thay vì lên tận bàn thầy giáo trên bục giảng, tôi chỉ đi đến ngang chỗ Ngọ ngồi thì dừng lại. Ngọ biết ý, mở cuốn tập ra cho tôi… liếc, đọc vanh vách!

Nhà tôi ở đường Trần Khát Chân, nhà Ngọ ở Trần Quang Khải, cũng cùng khu Tân Định nên đi về chung đường. Mỗi lần tan trường, cô ấy ôm cặp đi trước, tôi lẽo đẽo theo sau. Tóc Ngọ bay bay trên đôi vai gầy nhỏ nhắn. Có những hôm trời mưa lất phất, cô ấy đưa cặp lên che ngang đầu. Tôi thấy thương quá, muốn làm một cử chỉ gì đó như là để chở che nhưng… thở mạnh còn không dám, nói chi là…

Đậu tú tài xong tôi vào Đại học Vạn Hạnh”… “Tại sao ông lại trở thành tu sĩ Phật giáo?”. “À, như đã nói, gia đình tôi vốn có truyền thống con nhà võ, từng lập “Học hội Hồ Quý Ly” quy tụ cả trăm người, khiến chính quyền miền Nam lúc ấy nghi ngờ, phải giải tán. Năm 1964 tôi “trôi dạt” vào “ăn cơm chay” ở các chùa: Vạn Thọ (Q.1), Kỳ Quang, Bà Đầm (Q.Phú Nhuận), rồi Đại học Vạn Hạnh… Cho dù đã nương thân vào cửa chùa nhưng mỗi lần đi ngang qua con đường cũ, hình ảnh cô học trò ôm cặp, tóc dài bay bay trong gió vẫn thấp thoáng đâu đây… Và rồi những tứ thơ tràn về: “Em tan trường về/Đường mưa nho nhỏ/Chim non giấu mỏ/Dưới cội hoa vàng/Bước em thênh thang/Áo tà nguyệt bạch/Ôm nghiêng cặp sách/Vai nhỏ tóc dài… Em tan trường về/Cuối đường mây đỏ/Anh tìm theo Ngọ/Dáng lau lách buồn… Em tan trường về/Đường mưa nho nhỏ/Trao vội chùm hoa/Ép vào cuối vở/Thương ơi vạn thuở… Ôi mối tình đầu/Như đi trên cát/Bước nhẹ mà sâu… Mười năm rồi Ngọ/Tình cờ qua đây/Cây xưa vẫn gầy/Phơi nghiêng dáng đỏ/Áo em ngày nọ/Phai nhạt mấy màu/Chân theo tìm nhau/Còn là vang vọng… Dáng ai nho nhỏ/Trong cõi xa vời/Tình ơi… Tình ơi!”…

“Tại sao nhạc sĩ Phạm Duy biết thơ ông để phổ nhạc?”. “Là thế này, năm 1968, tôi có ra tập thơ đượm mùi thiền Phật giáo, in rất ít, chỉ để tặng bạn bè. Cụ Nguyễn Đức Quỳnh (nhà văn) đọc thấy thích mới giới thiệu với nhạc sĩ Phạm Duy, và nhạc sĩ đã phổ 10 bài đạo ca của tôi. Đó là cái duyên để đến năm 1971, nhạc sĩ Phạm Duy lại phổ nhạc bài Ngày xưa Hoàng Thị. Lạ một điều là bà xã tôi bây giờ lại rất giống Ngọ, có thể nói là một chín, một mười”.

Người viết tuy ngồi trong (động) Hoa Vàng nhưng tiếc ngẩn ngơ vì không được may mắn diện kiến nữ chủ nhân để ít ra cũng có thể hình dung được một nhan sắc thuở nào…

Hà Đình Nguyên

Read Full Post »

Nam Hoài (Nguyễn Hoài Nam)

Mấy năm rồi, tôi vẫn vẽ đều, và tranh cũng đôi lúc bán được.

Tôi đã không biết đến một nhà phê bình nào cả, rằng tranh phải sao mới là hay, và thế nào thì bị coi là dở. Tôi chỉ vẽ vì phải sống, và đã sống được bằng nghề. Trước khi phải tốn tiền cho màu và cọ, tôi phải đi kẻ biển, vẽ bảng số xe, cắt chữ…

Ngày nay, bán được nhiều tranh chưa có nghĩa là hay, và cũng thế, tranh hay chưa chắc đã bán được.

Đúng là tôi vẽ chưa hay, nhưng tranh của tôi bán chạy. Tranh vẽ để đẩy đi nhanh, thì chỉ có loại hàng mỹ nghệ. Ừ thì tôi nhằm vào lớp những người mới vừa giầu lên. Họ mua tranh không phải để giữ lại làm của, chỉ vì treo lên thế mới sang, mới đúng kiểu phòng khách . Giá tranh vì vậy cứ đứng ở cái tầm ấy, dễ vẽ dễ mua. Người ta vẫn gọi là tranh chợ. Những tranh kiểu này, tiền làm khung còn mắc hơn tiền tranh.

Ơn trời, vợ tôi bây giờ không dám quăng đi những mẩu vẽ phác của tôi nữa. Em vuốt chúng lại cho thẳng, cẩn thận để lại trên giá vẽ . Lâu rồi, em không còn giục tôi phải đi ăn cơm cho đúng giờ, hay phải tắm liền đi không lại cảm. Biết tôi đã vẽ là lúc đang có hứng, dù ngày hay đêm, em cũng chỉ nhắc tôi: Anh bệnh rồi đó. Có chuyện gì lại khổ vợ con. Người ta có thể chưa khổ hẳn vì nghèo, nhưng sẽ khổ ngay nếu ngày mai chưa có tiền đi chợ. Gạo ăn đong là thế.

Vợ tôi đã bắt đầu hiểu một ít về tranh pháo, nhưng tôi biết chắc là từ bé đến giờ, trừ những bài phải học thuộc lòng thời đi học, chưa bao giờ em thích thơ cả. Cũng may, nghề vẽ coi vậy mà được hơn, vì văn thơ mà bị chê, bị “đánh” thì rồi có thể đau mà muốn chết đi được. Cái sự bị chê của nghề vẽ nó đến chậm hơn, khi ta chợt biết là mình dở thì đã già rồi. Tuổi già không cho phép ta buông bỏ cái gì, vì không còn kịp để làm lại một cái khác. Nên ta vẫn cứ tiếp tục dở như thế, y như cũ.

Bạn nói với tôi: ông yêu nghề, say nghề, làm nhiều, nhưng không có tài. Tiếc cho ông, nhưng cũng đừng nản, vì ông ở trong cái số nhiều. Cứ vẽ thế đi. Tôi cãi lại bạn: chưa làm được gì nhưng đã làm, thì là quý rồi, ông ạ. Ông cứ thử vẽ đi, như tôi xem.

Tranh vẽ để sống và tranh vẽ cho mình rất khác nhau. Họa sĩ vẫn có chốn riêng của mình, để làm cái mình thích, làm cái chưa làm được. Người ta sẽ phán rằng đó là cách để thoát vào một cõi khác, để trốn mình, và chỉ có mình ta nơi ấy, ta mới được là ta. Tôi chẳng trốn ai cả, nhưng sẽ làm vậy nếu hai tháng liền không nộp đủ lương cho vợ.

Nên bạn vẫn khen là tôi vẽ đều tay.

Đến một lúc nào đó, ta có thể muốn được nghỉ ngơi đôi chút. Và được làm thật cái mình thích. Nó là cái không bán được, và phải được làm khi không bị ai nhắc về cái nợ áo cơm. Thật không có gì thú hơn. Và tôi bắt đầu với chân dung tự họa. Người ta thường làm thế khi đã có một chút danh. Tôi không thấy xấu hổ về điều này. Khi đã là gì đó, đã nổi lên, ai cũng muốn để đời gương mặt của mình. Có thể không được nhiều người thích, nhưng ngày sau còn có cái để mà bàn. Thì tôi cũng đâu có ngại gì.

-Anh cứ vẽ anh đi, nhưng để cho xong thì em thấy còn lâu đấy. Tôi biết vợ thương tôi, tránh cho tôi phải nhớ là mình vốn xấu trai. Lại nữa, em sẽ không bao giờ nói là tôi chẳng có tài. Tôi biết vợ tôi luôn nhớ, là tháng này tôi sẽ phải làm xong cái gì, vì đã có đơn đặt hàng từ trước cả rồi. Vợ tôi chỉ sợ tôi sẽ bỏ thời giờ vào đó nhiều hơn cái mức cần. Và nồi cơm vì vậy cũng sẽ vơi đi. Nên tôi phải tạm gác lại cái mà tôi thích. Cái cần của tôi bây giờ là cái cần của người khác, của người đã bỏ tiền ra đặt tranh tôi . Áo tứ thân, nón lá, giếng làng, phố cổ, rồng phượng, hoa văn, gạch non gạch già, loằng ngoằng thư pháp…

Vậy là tôi đành để “tôi” lại đấy. Tôi vẽ “nàng”.

…Trong đời, có nhiều lúc ta lẫn lộn về thời khắc. Tôi không nhớ được là ngày ấy hay bây giờ, đang buổi sáng, hay chiều tối. Tôi chỉ thấy là mình đang sung sướng. Nàng của tôi mặc áo dài. Bao nhiêu đó là đủ để tôi vẽ không biết mệt. Tôi như nghe thấy từng giọt nhỏ mồ hôi đang lăn nhẹ trên cổ em.

Áo dài thật khó vẽ . Vì chính nó luôn đẹp, bút mực đã khó tả nổi, thì cọ vẽ càng khó hơn. Đó là cái cuốn hút từ dưới lớp vải mỏng của cái quần dài.

Tôi đưa cây cọ qua lại mà chưa bắt đầu gì cả, dấu không cho em biết là tôi đang ngắm em. Phải thuộc từng nếp gấp, để rồi sau đó chỉ vẽ bằng trí nhớ thôi, mới lột được cái thần. Bây giờ em đang có hình hài mà như không có. Và tôi chỉ cần cái cảm nhận này, đủ để phác được thật nhanh chân dung em. Trong một lúc, tôi quên là không cần phải cố nhiều đến vậy, vì tranh chợ đâu cần phải quá hay. Không, tôi phải vượt qua cái ngưỡng đó. Tôi không muốn là tới lúc này, tôi vẫn đứng ở chỗ của họa sĩ hạng hai.

Diễm nghiêng đầu nhìn tôi, nói như thật:

-Em biết tỏng anh ra rồi.

Tôi vẫn im lặng. Đừng làm rối anh.

Nhưng Diễm luôn là người không vừa:

-Em biết anh cũng chẳng sắt đá gì …

Đã bảo mà. Chẳng người mẫu nào nhiều lời như em.

-Anh có tin là anh coi cũng được không. Có nét đấy. Em mà vẽ anh, thì ối người phải mất tiền. Coi kìa, cái mặt khó đăm đăm, cá tính đấy. Em thích.

Diễm cứ lấp lửng, chẳng biết em thích tranh tôi hay là thích tôi. Nhưng tôi là người biết sợ. Vì ai mà phải có cái mặt khó nhìn vậy, thì em biết rồi. Trước mặt Diễm, tôi mà tỏ ra bắt được của là chết chắc. Diễm có biết là mỗi ngày, người nào vẫn hỏi anh: sắp xong chưa không. Kỳ này, cả hai con đóng học phí một lần đấy anh ạ. À, xăng lên tới mười chín ngàn rồi.

Ừ, nhớ rồi vợ ạ. Thì đang vẽ đây mà.

Diễm vẫn không chịu ngừng lại:

– Anh. Hiếm gặp đấy. Nếu không rung lên, thì sẽ chẳng bao giờ làm gì được đâu.

Bực quá. Cây muốn lặng rồi, sao gió chẳng đừng. Nếu không có bà ấy ở đây, thì đừng bảo là anh nhát. Nhìn tôi, Diễm hiểu ngay tôi định nói gì:

– Chị ấy đi rồi. Cứ tin em đi. Vì hôm nay em bận đồ, có nude đâu mà lo.

Em thêm:

– Mà có gì thì vẫn có sao. Cùng lắm thì là yêu chứ gì.

Thôi, hay là anh đừng vẽ áo dài nữa. Áo tứ thân – nhưng hai dây, e ấp, hay hơn nhiều, new, lại dễ bán.

Chẳng cần đợi ý của tôi thế nào, em đã có ngay cái mẫu mới. Mẫu này biểu cảm hơn nhiều, nên họa sỹ tôi cũng phải theo đà thôi. Dựng hình thì lâu, chứ xóa đi thì chỉ cần cái cọ lớn. Tôi liền có một bản phác mới.

Diễm lại nói, tôi không biết em đọc ở đâu ra, cái chuyện mà chính tay trong nghề như tôi mà chưa từng biết:

– Tại sao đặt tên tranh là “Nụ hôn” mà chỉ vẽ có một mắt, vì khi ấy còn thấy gì nữa. Con mắt còn lại vẫn phải mở, để trông chừng xem liệu có ai thấy không!.

Diễm đã không còn ngồi ở đó từ lúc nào.

-Để em thử, xem anh còn thấy gì. Chán anh.

Liền đó tôi bị ngạt thở. Tôi đã không biết sau đó mặn ngọt thế nào, thấy hay không thấy, là đêm hay là ngày… Tôi như bị kéo tuột xuống , một nơi nào sâu lắm. Tôi trôi như thế mãi mà không thể thoát ra được. Thà rằng chạm tới đáy cho rồi đi, cứ rơi mãi thế này thật không chịu nổi.

Bỗng nghe giọng ai thật quen :

– Em, em nào?. Con nào?.

Trước khi bị chết ngạt, tôi còn kịp la lên : Không phải tôi. Cái tật tôi quen chối . Chẳng biết ất giáp thế nào, cứ chối đã. Chính Mậu tiên sinh đã dặn kỹ: Tốt nhất là đừng nhớ tên ai, cứ gọi chung là em.

Tôi gạt cái chân của vợ đang đè nặng lên cổ tôi, và kịp biết lúc này đã gần sáng rồi. Anh mơ gì mà không la cho to hẳn lên, cứ em em trong cổ họng. Tôi hiểu ngay là đã sơ sẩy vừa gọi tên ai rồi. Tôi đã mơ như thế, và còn nhiều nữa, nhưng tôi sẽ không kể ra hết đâu.

Thế. Đừng hòng bắt vở anh. Tôi cười để khỏi phải trả lời. Sao thì em biết rồi, còn phải hỏi. Em, có thể là mai lan cúc trúc, cũng có thể là vợ anh.

– Em!

-Ừ. Vợ tôi tỏ ra rộng lượng:

-Anh làm em sợ. La cứ như bị chết đuối ấy.

-Thì em bỏ nốt cái chân kia ra.

…Tôi không có ý còn muốn nằm nán lại, để khỏi bỏ dở cuộc mơ. Vợ tôi đã đi ra, tôi nghe không lầm, là em đang đọc thơ:

Những nỗi buồn

không chịu gọi tên …

Em làm thơ từ khi nào vậy. Nhưng đó thật là một gợi ý hay. Chắc em đang tính chép nó vào đâu đó, không thì lại quên. Dào, già rồi còn thơ thẩn …

…Sáng hôm sau, tôi thấy cái vỏ thuốc lá mà tôi mang về hồi hôm, được vợ tôi đặt ngay ngắn trên giá vẽ. Ngoài vỏ bao có những dòng nguệch ngoạc của tôi, viết trong lúc chưa say: Những nỗi buồn không chịu gọi tên.

 

 

namkts57

Read Full Post »

Vũ Thế Thành

“….Ông già cháo huyết hay bà cháo lòng có khác gì “những người muôn năm cũ” ? Họ là phần ký ức nhỏ trong một khoảng hành trình nào đó  của đời người. Khoảng  hành trình này đầy nhọc nhằn biến động, gắn liền với bao chuyện vụn vặt, không sao quên được… Nhớ đâu viết đó…”

Xe cháo huyết…đêm

Mùa đông 75, Sàigòn lạnh khủng khiếp, lòng người cũng..lạnh. Chiều xuống là… nhậu.  Còn biết làm gì lúc đó bây giờ? Nuối tiếc quá khứ, hoang mang với hiện tại và nghi ngờ tương lai… Vô vài xị với bè bạn cho ngấm mùi đời. Nửa đêm lửng lơ đạp xe về nhà, táp vô xe cháo huyết  gần trường Lê Bảo Tịnh, đường Trương Minh Giảng (bây giờ là Lê Văn Sỹ). Chủ quán, một ông già Tàu, không biết nấu cháo kiểu gì, mà ngon kinh khủng…

Cháo huyết ngon, ngon  từ  cháo tới huyết. Cháo ngọt thịt và huyết mềm và dai, với vài khoanh chào cháo quẩy mỏng dính …Cho ớt bằm thiệt cay… ấm lòng kẻ say xỉn..  Hình như cháo huyết này được nấu với tôm khô và mực khô, cháo đã ngon, mà sao miếng huyết vừa dai vừa mềm thế !

Ông già Tàu tính kỹ, kích thước tô cháo nhỏ xíu, cháo múc chỉ tới nửa tô. Phải ăn tới 5 tô mới tạm đủ… Hôm nào hẻo “đạn”, thì kêu một tô, cho ớt thiệt cay, uống nhiều trà đá, cũng đỡ vã.

Mười năm sau, ông già Tàu không bán nữa, để  xe cháo lại vợ chồng người con trai. Thằng con vẫn nhận ra… khách quen,  bàn tay múc cháo của nó nhuần nhuyễn như ông già, vẫn “cháo nửa tô”, đúng chuẩn !

Rồi mười năm sau nữa, vật đổi sao dời… xây cất nhiều, cảnh đổi thay,  chẳng biết xe cháo trôi dạt về đâu…

Năm nay Sàigòn lạnh, lạnh bất thường. Mỗi tối, tôi vẫn đi bộ qua con đường cũ, đôi khi nhớ ông già Tàu, nhớ “cháo nửa tô”, nhớ ớt cay che khuất cơn đói, nhớ cả tâm trạng của thằng say xỉn lỡ cỡ…

Tôi có thể nói mà không lưỡng lự, cháo huyết ở đó ngon, chắc chắn ngon nhất đời…

Quán cháo lòng … chiều

Gọi là quán cho bảnh, chứ  đó chỉ là cái…sạp, ngó xéo sang  chợ Đa Kao ở đường Nguyễn Huy Tự.  Quán chỉ bán buổi chiều, từ 2 giờ đến 5 giờ là vãn.

Bà chủ quán trạc 35, chưa chồng, chảnh,… Khách chiều bả, chưa thấy bả chiều khách. Mặt lạnh, ít cười. Ít không có nghĩa là không, thỉnh thoảng cũng thấy cười với…đàn ông.

Cháo lòng là phải đủ bộ: huyết, tim, gan, phèo, phổi,… Huyết không có gì đặc biệt, thua xa cháo huyết đêm trên kia, nhưng tim gan phèo phổi, bả cắt nhát nào ra nhát nấy, to và dày… Dồi bà này làm mới …tuyệt! Khúc dồi to như… ống nước, và chỉ nhồi thịt, chiên dòn, ăn đã không chịu được, nhất là những khúc đầu dồi.… Khách thích, muốn mua chỉ cháo và dồi. Không bán! Chảnh thế đó!

Cháo hầm xương, nên ngọt, nhưng hậu vị không dai dẳng như  cháo huyết hầm tôm khô mực khô nói trên… Cháo lòng ăn với hành củ  tím thái mỏng, ngâm dấm, ớt bằm,…

Cháo ngon, nhưng hơi đắt, tới 4 đồng/ tô. Lương tôi hồi đó 73 đồng, trừ tiền gạo, nhu yếu phẩm này nọ, còn chừng 35 đồng, làm sao đủ… nhậu cho cả tháng đây ?

Tiêu chuẩn tháng, gạo (13kg), đường (500 gr), bột ngọt (50gr), thịt mỡ (600gr),.. mang về nộp cho bà già gọi là…trả hiếu (để tối về còn có cơm nguội lục ăn). Còn mấy thứ khác thẩy ra chợ trời tuốt. Thuốc lá đen (3 gói), đẩy ra lấy thuốc rê hút.  Sữa hộp (condensed milk), làm phòng lab, nên Nhà nước “bồi dưỡng độc hại” mỗi tháng 1 hộp. May quá bà già tôi không biết uống sữa, nên sữa cũng chạy ra chợ trời luôn… Đẩy “hàng” ra chợ trời hồi đó cũng dễ, có bà bán thuốc lá ngồi trước cổng cơ quan (đối diện chợ Đa Kao) thu gom,…đắt rẻ 1 chút, thôi kệ, hơi đâu trả giá…

Tô cháo lòng 4 đồng là xa xí phẩm. Thèm, nhiều khi thèm,  xuân thu nhị kỳ mới dám rớ tới. Hồi đó thèm đủ thứ, thèm thịt, thèm cá, thèm chả lụa, thèm phở, thèm điếu thuốc thơm,… Coi như trên đời không có protein. Bỏ hết ! Nhịn hết ! Nhưng nhịn rượu, thì không. Mỗi tối, không ngồi bên quán cóc, không đong đưa vài ly rượu, không san qua xẻ lại nỗi lòng với mấy thằng bạn, người đi kẻ ở, tù tội chín phương, lừa vàng mất bạc, tình người điên đảo,.. Không ngấm qua men rượu, không nói được ra lời, làm sao ngủ được, sức đâu mà  chịu  nổi những bế tắc trước mắt, những giả dối của ngày mai khi bước chân vào cơ quan…

Lương kỹ sư hồi đó đại khái là vậy, được Đảng và Nhà nước “nâng niu”trên giấy. Thời hậu chiến mà. Nghị quyết của đảng phán rằng : “…trong ba dòng thác cách mạng, thì cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt”… Thứ then chốt này được “ưu đãi” đại khái, còn sống sao thì mặc xác. Mỗi năm ôm một đề tài nghiên cứu cấp Bộ, sáng chiều mặc áo blouse (bảnh à nghen !), nghía qua nghía lại mấy cái ống nghiệm, becher, burrette.., tối về đi “cảo” xích lô kiếm tiền… nhậu. Thường thì tôi đi dạy luyện thi đại học nhiều hơn. Hồi đó chưa có…lò, nên chỉ dạy kèm, dạy nhóm. Học trò đa phần là con cán bộ từ rừng, trình độ cũng… rừng, dạy phải hạ thấp, hạ thấp nữa, căn bản của căn bản. Vậy mà tụi nó đậu, đậu Y Dược hẳn hòi. Thế mới tài! Những đứa khá, phải cho bài tập riêng, khó hơn nhiều. Hôm thi về, đưa giấy nháp khoe “thầy”. Perfect!  Thế  mà rớt. Tối đó, thầy trò ngồi quán cà phê. Buồn ứa nước mắt! Tương lai tắt ngỏm. Mấy em bây giờ ở đâu? Vái Trời, mấy em đang ở bên kia… đại dương.

Viết tới đây bỗng dưng khựng lại. Đang nói tới cháo lòng heo, sao lại quay sang nói lòng…người thế này?  Thôi trở lại lòng…heo.

Quán cháo lòng nằm ngay trước cửa cơ quan tôi, coi như chòm xóm, vậy mà lâu lâu cũng phải “hót” bả một chút mới được việc. Bà chủ coi chảnh, nhưng cũng có khi dễ chịu. Cuối tháng lãnh lương, cỡ 2 giờ chiều, đang dọn hàng còn ít khách, tôi ra quán gạ bả :

– Chị cười, sao tôi thấy ngồ ngộ…

– Ngộ cái gì ?

– Ngộ là đẹp đó, chẳng lẽ tui nói huych toẹt ra. Chị coi được mắt, làm đồ mồi ngon,  sao giờ chưa chịu lấy chồng? Thằng nào phụ chị, đâu chị nói tui nghe thử, tui đá cho nó mấy cái…

Thế là bả xả ra hàng chùm hàng loạt, nào là bả  đào hoa thế nào, nào là thằng nào thầm yêu trộm nhớ mà bả không chịu,..bla…bla….

Khách tới đông, tôi xin kiếu vô làm việc lại, nhưng không quên dặn nhỏ bà chủ “ Hôm nay, tui lãnh lương, đãi mấy thằng bạn nhậu. Tui quảng cáo món dồi chiên của chị quá xá… Chị bán cho tui 1 tô, không lấy cháo, chỉ  lấy lòng và dồi, càng nhiều đầu dồi càng tốt. Cho vào bao nylon, lát về tui lấy…”.

Chất lượng hàng hóa hôm đó, ngon rẻ đẹp bền (bền là lần sau mua cũng khuyến mãi như thế), vượt trên mức mong đợi.

Lắm khi tôi tự hỏi, phịa đại một câu, vô thưởng vô phạt, làm người khác vui sướng, mà mình cũng có lợi, có phải là hành vi…đạo đức? Thế giới này cả ngàn nhánh khổ rồi. Giây phút nào buồn? Giây phút nào vui đây?

Năm 84, tôi chuyển chỗ làm khác, chỉ thỉnh thoảng mới ghé quán cháo lòng Đa Kao. Giữa thập niên 90, trở  lại quán cũ, thì người khác ngồi bán. Nghe nói, bà chủ cũ chơi đề, vỡ hụi hay sao đó, đã bỏ đi xa rồi.. .

Cháo lòng Đa Kao bây giờ vẫn còn, nhưng không ngon như hồi xưa nữa, nước cháo nhạt, dồi cắn mà nghe thịt.. rã rời…

Ông già cháo huyết hay bà cháo lòng có khác gì “những người muôn năm cũ”? Họ  là phần ký ức nhỏ trong một khoảng hành trình nào đó của đời người. Khoảng hành trình này đầy nhọc nhằn biến động, gắn liền với bao chuyện vụn vặt, không sao quên được… Nhớ đâu viết đó…

Lúc đầu định viết “Món ăn dĩ vãng”, viết hết đủ món, viết một lần cho xong, nhưng mới viết tới cháo huyết cháo lòng đã thấy dài, đã thấy mỏi..tay. Rồi tôi sẽ viết tiếp nếu còn người muốn…đọc. Mà dù không còn người đọc, tôi cũng viết. Viết để trả nợ quá khứ, một quá khứ chẳng đâu vào đâu.

Còn  sò lông, còn gỏi khô bò, còn thịt cầy, còn bia lên cơn, còn  rượu Cây Lý,… Những thứ này xa lắc rồi. Mấy ai còn nhớ đâu, nhưng có khi lại thấy chúng gần, thật gần…tưởng chừng như mới đâu đây thôi, như hôm nay tôi ngồi viết bài này. Chạm tay vào dĩ vãng, sao thấy ngậm ngùi quá !

Quá gần mà cũng quá xa… Thời gian lãnh đạm với mọi biến cố.

Vũ Thế Thành

.

Read Full Post »

Bến nước mười ba

TRẦN MINH NGUYỆT

Cúc giật mình tỉnh dậy, cô mơ hồ không biết đã là mấy giờ nhưng nghe ngoài trời vẫn còn mưa, tiếng ếch nhái râm ran đó đây vẳng lại.như khúc nhạc buồn hiu quạnh muôn thuở của đồng quê. Không hiểu sao, Cúc rất sợ đêm đen, và rất sợ nghe những âm thanh hoang dã quen thuộc não lòng kia. Bóng tối và tiếng côn trùng, tiếng ếch gọi bầy giữa trời khuya, dường như luôn gợi cho Cúc nhớ lại một quãng đời chìm nổi lao đao đã qua…

Cúc lấy chồng muộn – nhà chồng cô ở giữa cánh đồng hoang vắng, rải rác xung quanh mấy nóc nhà thưa thớt. Chồng của cô là một người nhu nhược không có chính kiến gì của riêng mình cả, mọi chuyện lớn nhỏ anh ta đều nghe theo lời ba. và mấy đứa em. Trong gia đình cô là con dâu, là chị dâu – xét cho cùng, cũng chỉ là người ngoài tộc không hơn không kém. Cúc biết rất rõ điều đó, nhưng thuyền đời đã neo bến rồi, cô biết làm sao?
Ngay tuần đầu tiên về nhà chồng, tình cờ Cúc đã có cuộc nói chuyện qua điện thoại với cô gái mà cô ta tự xưng là người tình cũ của Trứ – chồng cô.
Giọng một cô gái trong trẻo, nũng nịu:
–    Anh ơi! Mấy hôm nay anh bận lắm hay sao mà không lên thăm em?
Cúc im lặng một lúc – trả lời :
–    Anh Trứ có việc phải đi ra ngoài rồi. Xin lỗi! Lúc nào về tôi nói anh ấy gọi lại cho cô nhé?
Vẫn giọng dịu dàng của cô gái
–    Dạ! vậy cũng được, nhưng cô là ai? Sao cô cầm máy của anh Trứ?
Cúc thành thật:
–    Tôi là vợ anh ấy…
Có tiếng cười khe khẻ ở đầu dây bên kia
–    Chị hỏi vậy thôi? Chứ chị biết em là ai rồi? Em là Trúc hay Trang vậy? ( tên của hai đứa em chồng cô).
Hơi ngạc nhiên nhưng giọng Cúc vẫn điềm tĩnh :
–    Tôi nói thật mà, tôi là vợ của anh Trứ. Chúng tôi mới kết hôn hơn một tuần nay …
Giọng cô gái bỗng đổi khác – trủng thấp, bàng hoàng:
–    Cô không nói đùa với tôi chứ? Cô quen anh Trứ khi nào mà kết hôn mau vậy?
Cúc khẻ cười:
– Tôi quen anh ấy chỉ hơn một tháng thôi, cũng là duyên phận thôi cô ạ.- Cúc ngập ngừng – Nhưng mà cô là ai?
Một giọng nói rõ to, như thét vào tai cô:
–    Tôi là người yêu của anh ấy, cô nghe rõ không? Chúng tôi quen nhau đã hơn hai năm rồi? Cô là ai mà dám chen ngang vào để phá hạnh phúc của tôi hả?
Cúc cảm thấy bất ngờ – hơi xao động, nhưng vẫn gắng giữ giọng bình tĩnh:
–    Tôi có biết cô là ai đâu? – nhếch cười – mà tôi có cướp tình yêu của của cô đâu chứ?  Gia đình anh Trứ xin hỏi cưới tôi đàng hoàng mà? Cô muốn nói gì thì đợi anh ấy về rồi hỏi đi? Tôi xin lỗi…
Dứt lời, Cúc cúp máy. Cúc cảm thấy một nỗi băn khoăn thắt thỏm dấy lên trong lòng mỗi lúc một lớn dần. Nó như đang chẹn ngang ngực cô, khiến cô cảm thấy khó thở! Cúc lẩm bẩm : “ Sao lại có chuyện lạ lùng vậy? Vậy là Trứ đã lừa dối mình thật sao? “
Từ đó trở đi, hễ cứ vào giữa đêm khuya, hay những ngày rằm, mồng một đầu tháng – cô ta dùng những lời lẽ chửi rủa cay độc nhất với vợ chồng cô. Cúc nhớ như in hai câu nguyền rủa mà cô ta hay lập lại : “ Cô xấu quá, không kiếm được ai nên cô dùng tiền mua anh ấy phải không? Đồ trơ trẽn, đồ thâm độc, cô mà có chết thì âm phủ cũng không chứa cô”. Và “ Tôi nguyền rủa cho hai người tuyệt tử, tuyệt tôn, cả đời khổ sở, bất an cho đến chết”. Cúc đã nhiều lần khuyên và năn nỉ Trứ đổi sim điện thoại đi để không còn bị nghe những lời hồ đồ sân giận kia, nhưng chồng cô mê tín không chịu thay sim mới vì anh ta cho rằng: “ Sim anh  dùng là sim ăn nên làm ra, hợp với ngày sinh, tháng đẻ của mình, đổi sẽ xui lắm em à! ”. Để trấn an Cúc, Trứ chỉ đồng ý tắt máy khi bắt đầu đi ngủ!
Trong nhà, Trúc và Trang – hai đứa em chồng, đã lớn mà vẫn chưa lập gia đình. Không phải chúng không tìm được ai cho mình, mà chỉ vì nghe cha  bảo phải ở vậy lo làm nuôi cho mấy đứa em trai ăn học đến nơi đến chốn đã, mà không dám bảy tỏ ý kiến gì riêng của mình. Trong nhà này, không có tiếng nói của Trang, Trúc hay cô – mà chỉ có  tiếng nói người cha – tiếp theo là Trứ, và mấy đứa em trai của Trứ mà thôi – chỉ có đàn ông là có quyền quyết định mọi chuyện lớn nhỏ cho tất cả mà thôi.
Tuy được nuôi chìu mọi thứ, nhưng đứa em trai út học hành không ra gì, năm nào cũng phải thi lên lớp hoặc Trứ phải đến từng nhà giáo viên xin thêm điểm. mà tính ngang ngược, hung dữ không ai trong nhà trị nổi. Nó hành hung Trang và Trúc – thậm chí cả Trứ, để đòi tiền mỗi ngày. Nếu không kịp đưa cho là nó đập phá nhà cửa, và đòi xua đuổi hết thảy mọi người. Nó xách đồ đạc, áo quần của Trang và Trúc và đôi khi của cả Cúc nữa – ném ra đường,  Cảnh nhà xào xáo, bất hạnh như vậy thì có ai dám đến hỏi hai người em  của Trứ làm vợ nữa đâu? Người xưa thường bảo, nếp nhà không có, thì làm sao có được nếp người?  Tuổi xuân  của Trang và Trúc cứ thế trôi đi – Trúc và Trang chỉ còn biết âm thầm giữ lại cho mình chữ tình mơ mộng trong lòng mà thôi, còn cuộc tình thật đã bị sự vô tâm của người cha, sự yếu hèn nhu nhược của người anh, và sự độc ác, ích kỉ của những đứa em lấy mất đi rồi.

Năm Trúc 30 tuổi – cô  thương một người ở huyện bên, được gia đình hai bên chấp nhận. Những tưởng mọi chuyện sẽ xuôi chèo mát mái, rồi cô cũng sẽ có một gia đình êm ấm như Trâm, nhưng thêm một lần nữa – chính Trâm – cô em ruột của Trúc, đã ngăn cản không cho đám cưới kia diễn ra. ( Trâm là em kề Trúc nhưng đã lấy chồng trước hai chị vì Trâm ở nhà không làm được gì, không giỏi giang như Trúc và Trang). Không ai hiểu vì lý do gì Trâm lại đặt điều nói xấu Trúc với gia đình người yêu của cô. Vậy là cuối năm đó người cô yêu đi lấy vợ khác. Trúc vẫn một mình lặng lẽ, và không còn dịp nào để nhắc đến chuyện chồng, con nữa.
Trang cũng có nhiều lần yêu, nhưng bến hạnh phúc của cô cũng xa vời không đến được. Cô yêu Linh, và gia đình Linh đã mời gia đình cô qua thăm nhà để bàn tính chuyện hôn nhân. Nhưng gia đình cô ngày nào cũng cải lộn, rối ren, ai mà có thời gian quan tâm đến thân phận của cô nữa đâu? Ba, mẹ Linh chờ một tháng, rồi hai tháng, cũng không thấy ai qua thăm nhà – dù đã cho Linh đi mời mấy lần. Họ tự ái, không chấp nhận Trang nữa, bắt Linh đi cưới một cô gái khác trong làng.
Bẵng đi một thời gian khá lâu  –  một hôm, Cúc đi làm về thấy trong nhà có người đàn ông lạ, Trang cười rạng rỡ – giói thiệu với cô là bạn trai của mình. Bữa ăn tối diễn ra trong không khí thật tẻ nhạt, dường như không ai muốn chào đón, thân thiện với người con trai lạ tên là Cường kia? Thấy vậy, Cúc phải tìm chuyện để hỏi, tìm chuyện để nói cho anh ta bớt ngượng, được tự nhiên – và cô em chồng của cô bớt khó xử. Người con trai ở chơi với Trang, với gia đình cô hai ngày và từ giả về quê, với lời hứa hẹn là mồng ba Tết sẽ đưa ba vào thăm nhà tiến hành lễ hỏi.. Nhưng anh ta ra đi và mang theo luôn lời hứa kia, bỏ lại Trang mong ngóng từng ngày. Mồng mười tết, Trang buồn đi xem bói, bà thầy bói lẻo mép ác tâm đã phán rằng: “ Anh ta có quay trở lại tìm Trang nhưng gặp một người phụ nữ khác trong gia đình ngăn cản nên thôi ”. Và bà còn nói thêm: “ Anh ta rất thương yêu người phụ nữ ấy… ”. Thế là mọi nỗi nghi ngờ đều đổ dồn cho Cúc, vì trong ngôi nhà này ngoài Trang ra chỉ có Cúc là đối xử tốt với Cường hai hôm anh ta có mặt ở đây mà  thôi.
Trang  gào khóc :
–    Tôi biết là ai trong cái nhà này làm chuyện đó rồi? Đồ tồi bại, người yêu của người khác mà cũng muốn cướp…
Ba chồng Cúc đột nhiên nhìn thẳng vào mặt cô và hỏi:
–    Hôm mồng ba, chồng con đi thăm xuân bạn bè, đồng nghiệp con không đi cùng, sau đó con đi đâu suốt buổi chiều vậy?
–    Thì con cũng đi thăm bạn cùng công ty mà – Cúc cố bình tĩnh trả lời
–    Em đi thăm những ai? – Chồng cô chen ngang
Cúc cảm thấy mọi người nghi ngờ mình, cô cảm thấy như nghẹt thở, cô hét lên:
–    Tôi thăm ai là chuyện của tôi? Tôi có quyền mà, nhưng tôi nói để mấy người biết, tôi không làm ba cái chuyện trái đạo lí nhơ nhớp như vậy đâu?
Chồng cô quát to:
– Em im đi, nếu không có ý gì, sao em lại thân thiết nói chuyện với thằng đó như vậy? Và mồng ba nó vào, mồng ba em lại đi hết cả một buổi chiều, như vậy là thế nào?
Cúc không ngờ Trứ lại cư xử với cô như vậy. Không nói thêm một lời nào, cô chạy vào buồng, đóng sập cửa lại – bỏ mặc Trang lăn khóc, chửi rủa, và những lời lẽ cay độc của người chồng đầu ấp tay gối kia như ngọn lửa gặp cơn gió dữ.

.
Đứa em trai út của Trứ ngày càng hung tàn hơn – nó đánh đập hết thảy những người trong nhà không kể giờ giấc nào. Ban đầu, Cúc đưa tiền cho nó để được yên thân, nhưng càng ngày nó càng đòi nhiều hơn, cô không còn đủ tiền để đưa nữa – nó đập nát đồ đạc trong buồng hai vợ chồng cô, và đuổi tất cả mọi người ra đường. Cúc rất muốn về nhà mẹ, nhưng cha, và chồng cô không cho bảo như vậy là làm xấu hổ cho họ, với lại cô cũng không muốn cha, mẹ cô biết mà đau lòng. Đành phải ăn bờ ngủ bụi thường xuyên.
Cúc có thai, cô muốn thuê nhà ở gần công ty để dưỡng thai, và tiện việc đi làm – nhất là được yên thân mà nuôi con – nhưng cả cha chồng, và chồng cô đều phản đối. Chồng cô bảo: “ Cô muốn mướn nhà ở riêng để dễ bề trai gái hả? Bà thầy bói đã nói với tôi về cô rồi: “ Cô gái ấy đa tình, có nhiều người thương, cô ta rất dễ phản bội, ngoại tình! ”. Vì vậy cô phải đi về mỗi ngày ở nhà này nếu cô muốn còn là vợ tôi…”. Sau đó không lâu, không hiểu vì đoạn đường đi làm xa, vì nỗi buồn lo thường xuyên ám ảnh, hay vì lời nguyền rủa “ tuyệt tử, tuyệt tôn” hiểm độc của cô nhân tình ngày nào mà cái thai bốn tháng trong bụng Cúc còn không giữ được,  đã chết lưu .
Trong nỗi đau buồn vì mất con của Cúc – Trứ hầu như không quan tâm gì đến cô.  Anh hay đem Cúc ra so sánh với hết người này đến người khác. Và có lúc còn lớn tiếng nói: “ Sai lầm lớn nhất của anh là cưới cô ”. Chưa hết, một hôm Trứ còn bảo thẳng với cô :  Anh đã có một đứa con trai trước khi cưới cô, nhưng vì mẹ nó không nghề nghiệp. chỉ bán gánh bún rêu thôi nên ba anh không chấp nhận. Anh thuyết phục cô chấp nhận cho anh đi lại với người phụ nữ kia, để con anh được nhận tổ tông, dòng họ…
Đến ngày ba chồng cô ngã bệnh, nằm liệt giường đã mấy hôm, nhưng mấy anh chị em chỉ lo cải vả, chạnh chọe nhau, không ai lo chạy chữa thuốc men gì cho ông cả –  lại tin lời của bà thầy bói nào đó bảo thằng út bị ma nhập, nên quay về phá nhà, dẫn đến ba chồng phải đau như vậy chứ không sao. Không cần thuốc men gì cả. Phải bầy mâm cổ cúng vái ba ngày ba đêm sẽ khỏi bệnh ngay thôi. Sau khi ba chồng cô mất, mấy anh em lại liên kết lại đổ tội cho Cúc, bảo rằng cô khắc tuổi với ông dẫn đến hại ông chết.  Như bao lần – Cúc không dám cải lại. Cô thầm nghĩ: Lý lẽ, sự thật – không hề có ở nơi con người mù quáng, mà không còn có trái tim!
Sau khi cúng ba ngày của cha chồng, Trứ đuổi cô ra khỏi nhà .
Anh ta nói:
–    Cô còn ở đây làm gì? Cha tôi mất rồi, tôi không muốn sự hiện diện của cô trong ngôi nhà này nữa. Cô hãy về nhà của cô đi?
–    Nhưng vì sao vậy? Em cũng hết lòng vì cái gia đình này mà, giờ ba mới mất sao anh lại đuổi em? – Nước mắt Cúc ràn rụa.
–    Lúc ba tôi còn sống, cô không lo được gì cho ông, ngay cả một chén cháo cũng không nấu được, cô xung khắc làm hại chết ba tôi rồi, cô còn muốn ở lại ngôi nhà này sao?
Không thể chịu đựng thêm nữa, Cúc nức nở – nói gằn từng tiếng trong cơn uất hận::
–    Tôi không làm ba ông chết, mà ông ấy chết là bỡi sự bất hiếu, ích kỉ, nhu nhược, mù quáng của anh, em nhà ông. Có ngày nào mà anh em ông để cho ba yên đâu, lúc nào cũng đánh lộn, cơm ăn bữa đói, bữa no, ngủ thì khi bờ, khi bụi. và đến khi ngã xuống đau, anh em ông lại hùa nhau tin vào bói toán, không lo chữa trị cho ba viên thuốc nào, thì sao quay lại trách tôi chứ?
Trứ đập tay xuống bàn, giận dữ hét lớn:
– Cô ra khỏi nhà tôi mau, Tôi chỉ có một người cha thôi, còn vợ thì tôi tìm đâu mà chẳng có, cô không lo được cho cha tôi, mà còn hỗn hào như vậy à? Cha tôi mới chết mà cô đã làm loạn hết lên rồi.
Cúc nói như người say – giọng ráo hoảnh :
–    Ông và anh em ông trách tôi chưa từng nấu cháo cho ba? Nói vậy cũng nghe được à?  Từ ngày tôi về làm dâu cái nhà này, tôi phải ngày hai buổi nai lưng ra làm kiếm tiền để lo cho cái gia đình này, mấy anh em của ông ở nhà cả mà, có ai làm gì ra tiền đâu? Không nấu cháo cho ba được hay sao?
Ở nhà ngoài, mấy đứa em chồng cô dấm dẳng chửi bới, mạt sát cô.
Trứ giơ tay lên định tát vào mặt Cúc nhưng nghĩ sao lại thôi – anh bỏ đi ra ngoài đóng sầm cửa lại.
Điện thoại reo – ba Cúc gọi. Ông  bảo cô  hãy lo thu xếp đồ về nhà ngay. Cúc không biết Trứ đã điện thoại nói gì với ba cô, mà giọng ông buồn buồn: “ Con về nhà mình đi, đừng ở đó nữa, người ta đã xua đuổi như vậy rồi, con còn luyến tiếc gì nữa? ”. Cúc thẩn thờ đứng dậy – bước vào buồng – xếp vội đồ đạc.  Ngay tối hôm ấy –  Cúc rời khỏi ngôi nhà như chốn địa ngục kia…

Cúc về lại nhà mình, cô cảm thấy vừa buồn nản, vừa thất vọng – nhưng tình cảm ấy không còn bám theo cô lâu – nó đã bị chai lì đi từ bao tháng năm – đổi lại, là một cảm giác an bình , nhẹ nhỏm – không còn phải chịu đè nén ấm ức, nơm nớp lo âu – hay luôn bị dày vò, ray rức nữa. Và cô đâm ra sợ những con người trong cái gia đình u ám kia – sợ cả người chồng bạc nhược hẹp hòi – cô tự hứa – sẽ không bao giờ quay trở lại chốn tối tăm ngục tù đó nữa. Cô muốn tự do. Thong dong với cuộc sống hiện tại không còn dài của đời cô. Cúc nghĩ: “ Thà  lênh đênh giữa dòng nước xoáy, còn hơn phải cập bến tình ngầu đục nhơ nhớp cheo leo như vậy !”.
Điện thoại bổng báo lại có tin nhắn. Là của Trứ. Từ ngày li hôn đến nay, ngày nào anh ta cũng nhắn tin cho Cúc cả. Trong tin nhắn lúc nào anh ta cũng nói là rất ân hận, và yêu thương cô nhiều, muốn cùng cô đi hết quảng đời cuối. Vậy mà hôm nay anh lại tráo trở gởi tin : “ Anh sắp cưới vợ, một người vợ ngoan hiền , có nghề nghiệp đảm bảo –  biết nghe lời chồng chứ không bướng bỉnh hư đốn như cô đâu! ”. Một thoáng buồn. Và, Cúc cảm thấy thương xót cho người phụ nữ sắp đi qua đời Trứ – sẽ tấp vào người chồng nhu nhược, ích kỷ và ác tâm như anh ! Rồi cuộc đời sẽ ra sao nơi cái bến ngầu đục thù hận, ích kỷ ấy? Cúc thở dài – nhớ đến lời của người xưa: “ Đời người con gái mười hai bến nước, tìm được bến trong thì suốt đời hạnh phúc, còn phải bến đục thì khổ cả một đời… ”.

Cúc chợt mỉm cười – một niềm vui lóe lên trong tâm hồn cô như tia chớp cực mạnh giữa màn đêm dày đặc : Riêng Cúc, cô sẽ chọn cho mình bến nước thứ mười ba…

TRẦN MINH NGUYỆT

Read Full Post »

Mộng trong giấc mộng

             Trương Văn Dân

Khi tỉnh giấc, tôi không nhớ gì về mùi vị của nụ hôn đêm ấy, nhưng chẳng sao quên nỗi rạo rực của mình như cậu thanh niên vừa bước qua lứa tuổi dậy thì. Toàn thân  lâng lâng, tôi như chiếc bong bóng lờ lững trên mây, lòng miên man với cảm giác diệu kỳ của kẻ vừa giã từ cõi thực. Điều kỳ lạ ấy bắt nguồn và phát xuất từ đâu, khi nó đã quá xa cái thời mới lớn và dĩ nhiên sự tiếp xúc của đôi môi hôm ấy không phải là nụ hôn đầu? Cái gì đã khiến một người đã dạn dày mưa nắng như tôi, lòng bỗng nhiên chùng xuống trong vòng tay của người con gái đang chập chững bước những bước đầu vào cõi yêu đương?
Chìm trong không gian mờ ảo của hoàng hôn đang bắt đầu buông xuống, tôi không còn can đảm nhìn sâu vào hai nguồn sáng hình hạnh nhân đang phát ra những tia thơ ngây và cuồng nhiệt. Khuôn mặt nàng lấp lánh như gương, trên đó có đôi môi mọng đỏ khi tôi vừa buông ra để chiêm ngưỡng trong một giây ngắn ngủi. Mùi thơm da thịt của nàng làm tôi ngây ngất và tôi như hoàn toàn lịm đi trong nỗi đam mê và cuối cùng chỉ còn nhớ là mí mắt của nàng mở ra, khép lại để vĩnh viễn nhốt mình bằng chiếc vòng kim cô tình ái.
Mặn? Ngọt? Đó là dư vị của hương thơm hay mật đắng? Nó mơ hồ hay cụ thể ra sao tôi không còn nhớ, nhưng tôi biết là từ nụ hôn ấy, cuộc đời tôi và nàng đang đi vào một khúc quanh; nó sẽ dẫn về đâu, chưa biết, chỉ biết là từ ngã ấy, hai cuộc đời đã được nối với nhau bằng những sợi tơ định mệnh. Linh cảm ấy khiến lòng tôi vừa vui vừa buồn và tâm trạng phức tạp  đã khiến tôi muốn bước ra ngoài giới hạn của cuộc phiêu lưu…nhưng cũng chính lúc đó, tôi bỗng nhận ra là quá trễ, và trong khoảnh khắc trôi qua tưởng chừng ngắn ngủi, chúng tôi đã cùng bay bằng vận tốc  ánh sáng một quãng không gian bất tận.
Nhưng rồi cũng đến lúc chúng tôi phải buông ra, thẹn thùng và say đắm nhìn nhau trong một thứ ánh sáng của buổi chiều đang tắt nắng.
Lúc ấy, tiếng chim chiều bay về tổ  đang quang quác trên cao.
&


Tôi không nhớ mùi vị của nụ hôn nhưng khi người con gái sắp quay đi thì dường như mình vừa cảm thấy dư vị của nó mằn mặn rồi để lại chút gì đăng đắng trên đầu lưỡi. Tôi khẽ khàng bóp nhẹ đôi bàn tay khẳng khiu nhưng mềm mại của nàng, quyến luyến vuốt ve cánh tay dài đang buông xuôi trong giây phút giã từ như một sự chạy trốn, để chợt nhận ra rằng nụ hôn đầu nhưng có dáng dấp của một cuộc chia ly.Tiếng guốc của nàng đều đều đập lên nền đất và từ từ lan xa, nhưng  âm vang của nó như vẫn còn vang vọng mãi trong nỗi trống trải của trái tim tôi.
Tôi đứng bất động nhìn theo thân hình mảnh khảnh đang hối hả bước đi, như không dám quay đầu lại. Gió thổi vi vu làm tà áo dài màu hoàng yến lất phất bay lên mà nàng không buồn giữ lại; và hình ảnh ấy ngưng lại một khoảng rất lâu trong mắt. Bất giác thở dài, tôi không còn nhớ là đã bao nhiêu năm, một hình ảnh tương tự như thế đã từng in đậm  vào lòng mình, khắc ghi từ bấy đến nay, và giờ dường như hai hình ảnh ấy đang bắt đầu chồng lên rồi cuối cùng chập vào nhau.
Hai hình ảnh xưa, nay chồng lên rồi nhập vào nhau, phát ra những đợt sóng,lan xa…tưởng chừng như biến mất…nhưng thoắt một cái, chuỗi âm thanh từ cõi xa xôi của ký ức bỗng vọng về như tiếng rền trong thạch động…bất giác gợi lại trong lòng tôi những  kỷ niệm tưởng đã ngủ quên một thời.
Người con gái xa xưa, từ lâu tôi cứ ngỡ là đã không còn nữa, đã thuộc về một đời sống khác, đâu đó còn ở lại trên quê hương, hay cũng như tôi, lẫn lộn trong đám người chạy loạn… không biết trôi dạt về đâu, thoát ra được nước ngoài hay bất hạnh bỏ thân giữa trùng dương giá lạnh? Nàng còn sống hay đã chết? Có còn nghĩ đến tôi hay đã vĩnh viễn quên, an phận với chồng con, và kỷ niệm xưa đã mãi mãi phai mờ? Thời thế đổi thay, bao nhiêu biến cố dồn dập đổ lên đời sống, tôi sẽ không bao giờ oán trách vì năm tháng dạy cho tôi là mỗi người đều có một hoàn cảnh cho riêng mình và không phải lúc nào cũng có thể làm chủ được tình thế.
Bao năm rồi tôi không một tin tức của nàng !
Thân nhân, bạn bè từ khi khoiù lửa bùng lên đều tán loạn, táo tác như bầy ong vỡ tổ và  dung mạo người xưa xa vời rồi bặt tăm, giống như hòn sỏi rơi xuống mặt hồ, chìm xuống đáy rồi âm thầm trả lại sự tĩnh lặng cho mặt nước. Nhưng trong chuyến về thăm ngắn ngủi và…thoắt một cái, trong giấc mơ đêm ấy, những bọt nước từ dưới tầng sâu lại đột ngột sủi lên, rồi trong khối cầu ngũ sắc của bọt bong bóng có mang theo hình ảnh của  tà áo dài phất phơ trong gió .
Tất cả những ảo giác đó làm gợn lên trong lòng tôi những con sóng, lan xa và lan ra mãi.

Thời gian từ cuộc chia tay ấy đến nay đã xa, xa lắm. Mọi vật đều đã đổi thay. Cố nhân ra sao tôi không hề biết, còn tôi thì như cành cây bị bứng  rễ  rồi tiếp tục gửi thân nơi đất khách quê người.
Người xưa…có làn da trắng, cặp mắt đen huyền và  thân hình mảnh khảnh, luôn tha thướt yêu kiều trong chiếc áo dài màu cỏ biếc. Ở nàng có cái gì đó cứ bắt tôi phải quan tâm và ước muốn được chở che, bảo bọc. “Mãi mãi anh sẽ không bao giờ làm những gì mà em không thích” tôi thường thì thầm vào tai nàng như thế và nàng thường nhìn sâu vào mắt tôi, cảm động.“Em cũng xin hứa là sẽ không bao giờ để anh buồn, nhưng anh phải nói cho em biết những gì  làm  phật ý để em cố tránh”.
Làm sao tôi quên nổi kỷ niệm một đêm trăng sáng bên nàng. Tiếng nói ấm áp của nàng như vẫn còn văng vẳng đâu đây.“Lên thành phố mới có hai năm mà có lúc em tưởng mình đã quên là trên trời còn những đêm trăng sáng. Trăng ở quê em đẹp lắm, khi trăng lên thì sáng cả bầu trời chứ chẳng phải chiếu sáng nơi này mà đẫm tối nơi kia. Lúc ở quê, em  và bạn bè thường ra bến sông La Ngà, ngắm mặt nước lấp lánh như muôn ngàn vảy bạc”.  Tôi nhớ đã quay lại nhìn nàng. Khuôn mặt trái xoan ướt đẫm ánh trăng cũng đang ngước nhìn tôi. Trong đôi mắt của nàng, tôi như thấy hai vì sao đang long lanh chiếu sáng. Ánh trăng đêm huyền diệu đêm ấy đã xoá tan những nhọc nhằn và bất trắc của đời sống. Một đêm yên bình. Có cái gì huyền ảo  trong không khí và tôi có cảm giác như vừa trút bỏ những phiền lụy  để bay về một chân trời mơ ước, trong đó chẳng còn đạn bom, súng nổ, trong đó không còn những toan tính thấp hèn hay những tan tác đổi đời, những cuộc chia xa.

Tình yêu đầu đời của chúng tôi trong sáng và đẹp như thơ, tôi luôn nhắc nàng hãy nghĩ đến tôi mỗi khi gặp buồn bã khó khăn, để trút bỏ những ưu tư sầu muộn hay có thể ẩn mình như con tàu tránh bão trong vùng vịnh an lành. Nàng đã cảm động xiết bao, chỉ tiếc là ông trời quá quắt đã không cho tôi giữ tròn lời hứa, rồi chúng tôi mất nhau, trong những ngày tao loạn của biến cố 1975.
Sau đêm trăng huyền diệu đó, chúng tôi còn gặp lại nhau vào một buổi chiều…mà có lẽ không ai nghĩ đó là lần cuối  thấy nhau. Và, có lẽ từ nỗi đau âm ỉ ấy mà hình ảnh tà áo dài thướt tha bay trong nắng chiều tuy chỉ thoáng qua mắt tôi trong khoảnh khắc mà ăn sâu vào trí nhớ suốt cả đời người.

Đời sống của tôi và  nàng từ đó đã hoàn toàn thay đổi.
Trong cuộc sống quay cuồng vật chất của xã hội phương Tây, tôi bị đời bắt phải lao theo nhịp sống xô bồ, nhưng cũng có lúc tìm ra vài phút giây bình lặng và chợt nghĩ đến nàng; cái nhớ không quay quắt làm mất ăn mất ngủ, nhẹ nhàng nhưng ngấm sâu vào máu thịt. Hoặc cũng có lúc vì tình cờ bắt gặp một dáng dấp yêu kiều, một nụ cười, khoé mắt, một vạt áo dài, mái tóc của ai đó trong một  dáng đi hao hao từa tựa …hình ảnh người xưa chợt trở lại trong lòng tôi như một gợi nhớ không thể phôi phai.
Đó là những kỷ niệm êm ái…và ngọt ngào nhất mà tiềm thức đã cất giữ trong một ngăn nào đó của tâm hồn mà tôi đã mang theo như một thứ hành trang trong những năm tháng sống ở xứ người. Nó đẹp đến nỗi có lần tôi nghĩ, nếu có thể mãi mãi mang theo một hình ảnh trong tim suốt cuộc nhân sinh thì tôi sẽ chọn lấy vóc dáng thon thả của nàng bước trên thảm cỏ  xanh  và những vạt áo dài phất phơ bay trong nắng chiều còn vương lại.
&

Sau bao năm, trong giấc mơ tôi đã gặp lại nàng, cũng chiếc áo dài tha thướt, cũng cái nhìn đoan trang và nụ cười dễ mến,  tựu  trung thì đây vẫn là một hình ảnh cũ, chỉ khác là người con gái trong giấc chiêm bao hãy còn rất trẻ, còn tôi thì tóc đã điểm sương và tâm hồn thì dạn dày mưa nắng. Tôi trở lại quê hương, để đặt lại vấn đề an nghỉ cuối đời vì mệt mỏi sau nhiều cuộc hành trình vinh nhục ở  những nơi chẳng phải quê mình. Tôi sẽ tìm thấy gì ở đây sau nhiều năm xa xứ? Mọi vật đâu có còn như xưa, tất cả đã đổi thay và lòng tôi cũng đã nhiều thay đổi. Nhưng dẫu sao thì  tôi cũng dễ dàng chấp nhận, vì cuối cùng cũng quay về nơi tôi mở mắt chào đời, nghe lại tiếng hò điệu hát đã ru tôi  suốt quãng đời thơ ấu. Tôi mong là mình sẽ không đến nỗi bơ vơ như nơi chốn nào bên bờ Địa Trung Hải, xin cảm ơn mảnh đất đã cưu mang và nuôi sống tôi từ bấy đến nay, nhưng tuổi đời sắp chất chồng đã không giúp tôi hội nhập như xưa. Những năm tháng sau này tôi đã chiêm nghiệm  rồi ngán ngẩm cái đời sống lạc lõng, không hội nhập của người già, và nếp sống điên cuồng, thực dụng quá đáng của  lớp trẻ. Mọi vinh nhục, mất còn, thành công, thất bại, bây giờ đối với tôi, chúng chẳng còn mang sức quyến rũ như xưa. Trong tôi chỉ còn nỗi ngậm ngùi và xót xa của người con xa xứ, rồi chợt  nhớ  hai câu thơ  của Nguyên Sa :
Một đời phơ phất hành nhân
Thấy còn, thấy hết, cuối cùng thấy đau
Rồi tự hỏi lòng, suốt những tháng năm qua mình đã mất và được gì ?

-Anh nói gì cho em nghe đi !
Trong giấc mơ, lúc mông lung nhìn vào khoảng trống, tiếng thỏ thẻ của nàng đã làm tôi giật mình quay lại. Khi thấy đôi mắt  mở to, tôi bất giác rùng mình vì  thấy trong đó cái chiều sâu mênh mang của linh hồn người con gái trẻ, trong đó có một niềm vui vừa mãnh liệt vừa hoang dại. Tôi sẽ phải nói gì với em đây? Thế giới của em và của tôi vô cùng khác biệt, những gì tôi sẽ kể hay nói cho em, có thể em sẽ hiểu, nhưng làm sao thấu được ; lẽ đơn giản  bỡi vì  em chưa từng sống những kinh nghiệm đó. Tôi tuyệt nhiên không biết nói gì, chỉ im lặng nắm lấy bàn tay bé nhỏ của em, đặt lên đó một chiếc hôn rất khẽ.
Khi ngẩng lên nhìn khuôn mặt của người con gái, màu da  trắng mịn, không một vết nhăn ở bất cứ nơi đâu, lòng tôi vừa thoáng một chút ganh tị, vừa mơ hồ nuối tiếc cái tuổi xuân không còn nữa của mình rồi bất giác áy náy vì mới tạo nên một nếp gấp trong tâm hồn son trẻ của nàng. Lòng bỗng dâng lên một niềm hối hận. Người con gái hiện ra trong giấc mộng Trang Sinh hãy còn quá trẻ, có lẽ chưa có nhiều sầu muộn cho hiện tại hay mang nhiều lo lắng cho tương lai, và chắc chắn quan hệ trong phút giây ngắn ngủi nầy là vết rạn đầu  tiên mà nàng vừa hứng chịu mà có thể chính tôi là tác nhân của vết xước đầu đời.
Niềm ân hận dâng trào trong tôi. Tôi muốn tự trách mình. Phải chăng tôi vừa mở toang cánh cửa  quá khứ, cố níu vào hình ảnh người xưa như cái nạng  để chống cho khỏi ngã vào tình cảm của người con gái trẻ? Điều xảy ra là mộng hay thực? Tôi và nàng vì đâu lại gặp nhau trong giấc mộng oái ăm, của người đã đi gần đến cuối quãng đường đời, còn kẻ khác hãy còn đang khập khễnh bước những bước đầu tiên? Người con gái ấy là một người hoàn toàn khác hay chỉ là hình ảnh người xưa đã dừng lại trong lòng tôi, khi thời gian bên ngoài vẫn ào ào tuôn chảy, bỡi thế những nếp gấp của thời gian không ghi lại dấu vết nào trên khuôn mặt kiều diễm của nàng? Người mới hay cố nhân? Sự khác biệt tuổi đời là thực hay chỉ là ảo ảnh? Những câu hỏi dồn dập đến rồi đi, không tìm được câu trả lời.
Mở ra cánh cửa quá khứ, tiềm thức tôi muốn biện minh điều chi hay sợ phải “yêu” nàng? Bao nhiêu dư luận phán xét sẽ nổ ra nếu không dừng chân kịp? Nhưng thật ra, nghĩ cho cùng, thì giữa tôi và nàng chẳng có rào cản nào quan trọng, ngoại trừ sự chênh lệch tuổi tác ; và thấy mình  không nên xem nặng quy ước xã hội hay ép mình theo thói quen suy nghĩ của người đời.Nhưng vấn đề có thể nằm ở chỗ khác : Liệu người con gái “này” có thể thay thế cái khoảng trống mênh mông mà từ bao nhiêu năm cuộc đời đã để lại cho tôi? Rồi chợt nghĩ đến những kinh nghiệm khác biệt về môi trường và kinh nghiệm sống của hai người, đến tương lai mờ mịt của những ngày sắp tới…tôi lại giật mình, thấy như đời mình vừa bước hụt một bước, lại chông chênh sắp hụt thêm bước nữa.

Lúc đặt môi lên trán trong chiếc hôn từ giã, tôi thoáng thấy hai hàng mi cong và dài của người con gái mở ra rồi buông hờ như phó mặc cho số phận…và cũng chính trong khoảnh khắc chênh vênh giữa mộng và thực đó, tôi thấy đôi mắt nàng long lanh, đẫm ướt. Những ngấn lệ ấy là niềm vui? nỗi buồn? Hay chính là sự hoà hợp của hạnh phúc lẫn thương đau, của tiếng cười, giọng khóc luôn ẩn tàng trong quyến rũ muôn đời của  đam mê và vực thẳm? Dường như trong giây phút mơ màng, tôi đã thì thầm : chuyện đôi ta giống như tiểu thuyết …rồi nghe tiếng đáp lại của nàng giống như tiếng nấc : em hy vọng là nó sẽ không có một đoạn kết bi thương.
Tôi cũng muốn một đoạn kết nhân hậu, sắp nói lên như thế nhưng tôi lại lặng im khi hình dung về những ngày sắp tới. Tôi sẽ phải làm gì? Và nàng sẽ ra sao? Xung quanh tôi, đời sống còn bao nhiêu hệ luỵ, những mạng nhện chằng chịt xung quanh cuộc đời tôi, mà mỗi đầu mối đều có liên quan đến một số vấn đề. Tôi có thể cắt bỏ tất cả? Đoạn tuyệt với quá khứ?  Quên bẵng hiện tại? Và có thể chỉ nghĩ đến một tương lai, bên nàng? Nghĩ thế, băn khoăn đến thế  nhưng liệu tôi có đủ can đảm để  chối từ một cơ hội sống những xúc cảm bồng bột của thời mới lớn mà cuộc đời đã dành cho tôi và nàng ? Tôi sẽ phải từ bỏ niềm ước mơ của  kẻ đã từng trải những tháng ngày gian nan nơi xứ lạ, khi tri thiên mệnh gắng quay về cố quận để tìm phương thuốc trường sinh? Hay sẽ lao vào cuộc tình “mới”, như gã lái đò lưng còng tóc bạc, sau bao năm chẳng thèm đếm xỉa đến thác ghềnh, bỗng một hôm sóng gió bừng bừng réo gọi, chợt thấy máu mình nóng lại rồi khăn gói lên đường để tìm lại sức sống ào ạt của biển khơi …nhưng cuối cùng bão táp sẽ chẳng buông tha  kẻ không tự lượng sức mình?

Tôi lặng người, châm một điếu thuốc, hờ hững gắn lên môi, nhìn khói bay lãng đãng lên bầu trời xám xịt vì những đám mây đen đang ùn ùn kéo đến rồi bất giác buông ra một tiếng thở dài. Tôi thừa biết những giới hạn của ước mơ và quá hiểu là chuyện đời còn rất nhiều điều đang nằm ngoài tầm tay của mình.

Trương Văn Dân

Viết tặng B T
Milano 13-11-2003

Read Full Post »

Sáu Bẹo

Truyện Ngắn

Mang Viên Long

 

Picasso, Người đàn ông đội mũ

 

 

 

 

 

      Khi học đến lớp ba trường làng – năm 1957, Sáu Bẹo mới có ý thức rõ ràng hơn về cái tên “ Bẹo “ không đẹp của mình! Trước đó, dù lũ bạn thường chọc ghẹo – ngay trong lớp học, đôi khi thầy cô cũng lấy làm lạ về cái tên “ Bẹo “ khó nghe, vô tình hỏi – nhưng Sáu Bẹo chỉ tủm tỉm cười, rồi lãng tránh! Sáu Bẹo thường nghĩ: Nếu cha mình lúc ấy thay dấu “ nặng” ( Bẹo ) thành dấu huyền ( Bèo ), dấu “sắc“ ( Béo ) hay dấu “hỏi” ( Bẻo) thì cũng không thể hơn! Sáu biết cha cũng là thầy dạy học ở sơ cấp, có vốn chữ Hán được ông nội Hương Kiểm chỉ dạy, nhưng sao lại hết chữ để đặt tên cho đứa con trai duy nhất của mình đứng sau ba người con gái toàn là tên đẹp vậy ( Thanh Trúc, Cẩm Hương, Thiên Lý)?

       Sáu Bẹo cảm thấy ngượng ngùng khi hỏi cha – nên hỏi mẹ: “ Sao mẹ đặt tên cho con ai ai cũng kêu xấu cả vậy? “ – “ Vì con là cháu nội đích tôn, nên ông nội đã đặt cho con, mẹ không dám cải! “.  Một lần, Sáu Bẹo mạnh dạn hỏi cha: “  Cháu nội đích tôn phải đặt tên xấu vậy hở cha? “- “ Không phải cháu đích tôn là phải đặt tên xấu đâu! ““ Nhưng sao tên con kỳ vậy? ““ Vì ông bà nội quá thương yêu con nên đặt vậy thôi ba cũng không dám trái lời ““ Mẹ bảo không dám cải, cha  cũng không dám trái lời, con không hiểu sao ông bà nội kỳ lạ vậy? “ – “ Ông bà nội chỉ có mỗi mình ba là trai, ba cũng chỉ có con là trai – nên ông bà “ sợ “ đặt tên đẹp sẽ khó nuôi, thấy con thường nũng niu khóc đòi nên gọi là “ Bẹo “ – thằng cu Bẹo, nghe cũng dễ thương mà! “

        Lớn lên, học qua bậc trung học đệ nhất cấp, Sáu Bẹo không còn dịp để nghĩ về cái tên của mình nữa, vì đã nghỉ học. Đó là vào năm sau vụ đảo chánh lật đổ gia đình ông Ngô Đình Diệm 1963 – quê của Sáu Bẹo chộn rộn, cuộc sống cũng thay đổi, ngày càng thêm khó khăn – còn Sáu Bẹo thi vào khóa sư phạm cấp tốc không đổ, nên Sáu Bẹo phải nghỉ học. Ba năm sau, trúng tuổi lính, Sáu Bẹo được dưa vào trường hạ sĩ quan Đông Đế, ra trường với “ cánh gà “ ở vai áo, binh chủng thiết giáp. Năm 68, sau biến cố Mậu Thân – cha Sáu Bẹo gọi về cưới vợ – là cô Hương, đang làm cô đỡ hương thôn ở xã. Không đẹp nhưng có duyên thầm, giỏi giang, mạnh khỏe, có tay nghề vững vàng được bà con trong xã thương mến. Ông Hương Kiểm cưới vợ cho Sáu Bẹo là muốn cột chân Sáu lại, nhưng Sáu cứ lần lữa, hẹn dịp…Tình yêu trong buổi giao thời chưa đủ sức nặng để níu chân Sáu Bẹo lại chăng?

          Năm 1970, Hương sinh đứa con gài đầu lòng. Sáu Bẹo mãi dong ruỗi trên chiếc xe bọc thép tận miền rừng núi Dakto; đã gởi thư về dặn đặt tên “Mận”.  Ông còn dặn thêm : “… Em đẻ được đứa nào, cứ lấy tên cây trái trong vườn nhà mình mà đặt tên nhé? “. Chiến tranh ngày càng lan nhanh, khốc liệt – cha Sáu Bẹo nhiều phen bảo Sáu Bẹo đào ngũ, nhưng phải đợi đến năm 72, khi Hương sinh đứa con gái thứ hai ( đặt tên Đào ) – không có Sáu Bẹo ở nhà, Sáu Bẹo mới trốn về.

            Hương rất mắn đẻ, sau Đào là cậu con trai trường. tên là Lê. Sau Lê, cứ cách hai ba năm, Hương lại đẻ lên tiếp thêm bốn cậu con trai nữa: Cam, Lựu, Chanh, Quýt. Quýt – cậu con trai út, sinh vào năm 83 nhưng trong 7 người con ( cả trai và gái ) chỉ có Mận và Lê là rất giống Sáu Bẹo; còn năm người con kia – mỗi đứa một khuôn mặt! Điều làm cho cả xóm Thượng Tây thường xầm xì bàn tán là nét mặt mỗi đứa, đều rất giống những người đàn ông trong xóm Thượng Tây này! Giống đến nỗi như khuôn đúc vậy. Từ khuôn mặt, chân tay, dáng vóc như “ cắt để “ vào, không lẫn vào đâu được.  

             Có lẽ Sáu Bẹo cũng nhận ra điều lạ thường ấy trước tiên, nhưng ông không hề mở miệng. Vẫn yêu thương, chăm sóc – lo lắng từng miếng ăn, tấm áo, ốm đau – cho đến chuyện học hành của các con, như nhau. Ra khỏi nhà, đi làm – Sáu Bẹo thường nghe bạn bè chặn hỏi. chọc quê: “ Tao thấy mấy đứa nhỏ sau này đâu phải  là con của mầy? Mầy không có con mắt hay sao vậy? “. Sáu Bẹo phớt lờ – chỉ cười: “ Nghé ai vào chuồng nhà mình là của mình thôi! “.

           Mấy bà ở xóm Thượng Tây được dịp ngồi tụm lại lúc rảnh rổi để tám chuyện về mấy đứa con của Sáu không dứt : Đứa nào giống cha phó chủ nhiệm hợp tác xã, con nào giống ông công an thôn, thằng nào giống gã nào vân vân – đôi lúc nói ngay trước mặt Hương và Sáu Bẹo nữa, nhưng Sáu chằng hề để tai vào. Hương thấy chồng thản nhiên trước mọi lời dị nghị, dè bỉm, cũng lặng yên theo Sáu không tỏ thái độ gì. Có phải vì e sợ bà con dòm ngó, theo dõi – mà Hương đã chỉ sinh cho mỗi người một đứa con thôi? Năm đúa con – là năm người, năm khuôn mặt khác nhau?    

Khi Sáu Bẹo cưới vợ cho Chanh – làm sui đám thứ sáu, ở làng Hạ Đông – người con dâu kề út nầy đi đâu cũng bị mấy bà ở chợ Xổm níu áo, kề tai nói nhỏ: “ Cha chồng mày đâu phải là Sáu Bẹo! Là ông Tám Hùng ở cuối xóm đây này! Mày ghé thăm, rồi xem thử có giống thằng Chanh không nhé? “. Vợ Chanh im lặng, về nhà thủ thỉ với chồng: “ Anh ơi! Em đi đâu cũng nghe mấy bà nói anh không phải là con của cha đây – mà là…”. Chanh vừa nghe vợ nói – gạt phăng đi: “ Đó là chuyện của người lớn, anh không biết! Anh chỉ biết anh được sinh ra ở nhà này, cha đã lo lắng, chăm sóc, thương yêu anh hết lòng. Anh không cần biết “ cha” nào khác! Nếu có, cũng là quân bạc tình, đểu giả!”.

             Sáu Bẹo ngoài việc đi làm thuê hằng ngày, và Hương có mặt ở trạm xá một buổi – hai vợ chồng còn làm thêm tám sào ruộng. Cả hai cùng ra đồng, sạ lúa, làm cỏ, tát nước – rồi đến mùa thu hoạch cùng nhau cắt và gánh về, ít thuê mướn ai. Buổi trưa,  cần ở lại ngoài ruộng, Sái Bẹo thường là người chạy về nhà mang cơm nước ra cho vợ. Có hôm, để dành được chút ít – ông ghé chợ Xổm cuốn thêm cho Hương một cuốn bánh xèo, hay cuốn thịt trứng . Có bà trông thấy, tọc mạch hỏi : “ Hai vợ chồng mà cuốn một cuốn thì ai ăn ai nhịn vậy anh Sáu? “ . Sáu Bẹo cười hà hà: “ Tôi đâu thèm ăn ngữ này? Nếu ăn, thì tám cuốn cũng không đủ mà! “. Lúc cầm cuốn bánh ra đi, Sáu Bẹo nhỏ giọng: “ Đàn bà sinh đẻ khó khổ, mất sức lắm. Ngoài trạm ngoài đồng về là lăng xăng lo cơm nước, quêt dọn, gà heo. Đêm đến, con đau – con khóc, phải thức ẵm bồng… Còn đàn ông ấy à? Về đến nhà rửa chân tay xong là leo phóc lên võng nằm toòng tengNhà con đông vậy, bà ấy có gì mà ăn thêm đâu?”.

              Chuyện Sáu Bẹo chạy đi cắt bè lá chuối quấn trên lưng Hương cho mưa khỏi ướt khi cùng đi làm ngoài đồng bất chợt cơn mưa dông ập đến, đã được mấy bà Xóm Thượng Tây truyền đi nhanh chóng khắp xã!

Và, dường như là “phóng viên nhà nghề” – chuyện nhà của vợ chồng Sáu Bẹo luôn được mấy bà xóm Thượng Tây dòm ngó. Nhỏ to – “ cập nhật “ hằng ngày. Ngay chuyện Sáu Bẹo mới ăn giỗ tối qua về, say – thốc mữa cả nhà; Hương đã nhẹ nhàng săn sóc Sáu Bẹo ra sao, lau dọn nhà cửa sạch sẽ thế nào, treo mùng cho Sáu Bẹo ngủ v v v – cũng đều được mấy bà bàn tán một cách hăng hái.

              

 

 

 

 

              Khu vườn rộng lớn, cùng với ngôi nhà từ đường dòng họ Võ được vợ chồng Sáu Bẹo và các con, cháu chăm sóc rất chu đáo.  Những ngày giỗ, kỵ – Hương và đám con – dâu. rể – cháu nội ngoại – đều chung lo tươm tất, trang trọng. Sáu Bẹo chỉ làm một việc là mặc áo thụng xanh lên đèn, rót trà – lễ cúng.  Sau ông, lần lượt đến Hương, các con trai, gái rể, dâu – cháu nội ngoại răm rắp thứ tự dâng hương ông bà…Ông bà đang ngồi ở trên cao chắc cũng không ngờ trong đám con cháu ngoan ngoãn, lễ phép ấy, có đứa không cùng huyết thống với mình? Mà có cần cùng dòng máu nhà họ Võ không? Sáu Bẹo cũng không hề thắc mắc, và luôn tin rằng – tình thương yêu của chúng sẽ cảm hóa được vong linh người mất hơn là người cùng dòng máu mà tẻ nhạt, thờ ơ – chỉ lo làm giàu, chẳng nghĩ gì đến ông bà, cha mẹ?!

                 Ngoại trừ Đào có chồng xa, theo về nhà chồng ở Vinh Thạnh – mấy người con còn lại, Sáu Bẹo đều chia cho một khu đất trong vườn, xây nhà – chia sẻ vật dụng sinh hoạt như nhau. Không đúa nào hơn đúa nào cả. Ai làm thêm có tiền, muốn mua sắm gì, tùy ý. Do vậy, mấy anh chị em sống quanh quẩn bên nhau, yêu thương, chia sớt cho nhau – như lúc còn sống chung một nhà. Bà con cả xómThượng Tây nhìn vào, dần dần cảm phục, không còn bàn tán ra vào chuyện con cái của Sáu Bẹo nữa! Sau thằng Quýt, bà Hương không còn sanh thêm đúa nào. Bảy đứa con – một đời đàn bà, đã khiến bà tự cảm thấy quá đủ chăng? Riêng Sáu Bẹo – có lần nói đùa với vợ : “ Vườn nhà ta còn nào Ổi, Xoài, Mít…sao bà không sanh thêm cho vui? “

             Sau ngày đám cưới Quýt – làm sui đám cuối cùng, chứng đau tức bên ngực trái thường xuyên hơn, kéo dài lâu hơn – Sáu Bẹo phải nghỉ hằn ở nhà, không đi nhận việc làm xa nữa. Mận nói : “ Cha nên nghỉ bớt việc đi! Lũ con lo cho cha được mà! “. Lê – trưởng nam, thường lập lại: “ Đời cha đã khổ nhiều vì các con rồi! Cha còn khỏe ngày nào, hưởng vui ngày đó. Mai kia, đau nặng, nằm xuống – còn vui thú gì đâu? “. Quýt thêm vào: ” Lúc ấy, cha còn có ăn uống được gì nữa đâu? Mà có muốn ăn, cũng đâu ăn được? Có muốn đi chơi xa, thăm bạn bè, cũng đâu có ngồi xe được nữa, mà cha ham công tiếc việc? Cha còn sống khỏe bên tụi con ngày nào, là mừng còn hơn cho vàng mà! “. Cô dâu thứ ba – vợ của Lựu, cũng góp ý: “  Bây giờ cha còn ăn uống được, không cho ăn. Mai kia cha đau nặng, ăn làm sao? Có cúng giỗ linh đình, cũng chỉ để che mắt thiên hạ mà thôi!”

              Sáu Bẹo nghỉ việc vì theo dõi biết sức khỏe của mình hao mòn dần, bệnh tim trở nặng hơn – chứ chẳng phải vì những lời can dán, an ủi của các con. Cũng từ dạo ấy – các con Sáu Bẹo luôn dành cho ông sự quan tâm chăm sóc đặc biệt: Khi thì mấy lạng thịt bò, chục trứng vịt lộn, cuốn bánh nem chả,  lát cá thu, và trong túi ông thường xuyên có tiền để chi dùng tùy ý! Đứa con nào gởi cho gì – ông cũng đều nhận, không quan tâm ít nhiều, không hề từ chối. Sáu Bẹo thường nói với hàng xóm: “ Con chúng thương gởi cho gì, thì nhận cho chúng vui. chứ tôi đâu thèm ăn món gì nữa? Cơm rau mắm cho chắt ruột thôi…”. Mà thật vậy, sau khi các con đi rồi – Sáu Bẹo đưa hết cho bà Hương. Ngay cả cuốn bánh dành cho riêng ông. Nói: “ Bà đi chợ mua thứ gì cũng được miễn bà thích, về ăn! Tôi không thèm thứ gì đâu! “. Ông chìa cuốn bánh ra trước mặt Hương: “ Bà ăn giùm tôi cuốn bánh này đi! Tôi chỉ cần rau mắm, hay dưa cải kho thịt ba chỉ là ngon lắm rồi! Tôi không ưa mấy món này…” – Ông thường dặn khi bà cắp rổ đi chợ: “ Hôm nào có mắm cua ngon, bà mua cho tôi một chai, ăn với rau lan luột nhé?  Còn bà ra chợ, có bún giò cháo lòng gì ngon thì nên ăn để khỏi mất công mua về nấu nướng phiền lắm! “. 

              Sau khi Sáu Bẹo bị cơn đột quỵ bị ngất xỉu phải chở đi bệnh viện tỉnh cấp cứu, các con ông đề nghị đưa ông vào viện tim thành phố – để giải phẩu, ông quyết không chịu. Ông trả lời con: “ Ba già rồi, sống thêm vài ba năm – đâu có ích gì mà các con phải mất cả trăm triệu bạc trong lúc còn khổ vậy?  Chi bằng, các con để dành – sau này cha có mất đi – có mà lo cho các con. lo cho mẹ để bà ấy đỡ khổ! Bà ấy đã khổ vì các con nhiều rồi. mà vắng cha – ai chăm sóc cho mẹ con đây “.

             Mấy anh chị em Mận bàn tính nhau, thuê một chiếc xe 12 chỗ ngồi – mời Sáu Bẹo và mẹ đi chơi một buổi. Sáu Bẹo nghe vậy – cười: “ Các con cho cha với mẹ mầy đi thăm lăng Quang Trung, thăm cầu Nhơn Hội, thăm chùa Long Khánh rồi về”.  Sáu Bẹo ngồi trước xe, nhìn ngó quang cảnh, cảm thấy sự đổi thay trong bao nhiêu năm thật xa lạ, và nhanh chóng, mà nghĩ đến đời người. Cuộc đời đổi thay cũng thật nhanh chóng!

             Sau ngày đi chơi xa vài hôm – một buổi sáng sớm, khi ăn xong bát cháo đậu xanh bà Hương mang vào buồng – Sáu Bẹo gọi: “ Mẹ con Mận ơi! “

–         Có chuyện gì vậy ông?

–          Có chút chuyện…

–         Mà chuyện gì? –  bà Hương đon đả bước vào buồng, ngồi yên trên chiếc dựa dựa vẫn dành cho bà mỗi lần vào chăm sóc, trò chuyện vời ông. Nhìn gương mặt Sáu Bẹo xanh tái.

–         Bà gọi hết mấy đứa nhỏ về gặp tôi, bà nhé?

–         Lại có chuyện gi?

–         Có chuyện – Giọng Sáu yếu dần, ông cảm thấy hơi thở nặng nề, chùng thấp.

            Chưa có đứa nào ra khỏi nhà đi làm – nên chỉ nửa giờ sau, là đã có mặt trong buồng ông đầy đủ. Riêng Đào, khi nhận được điện của Lê đã hẹn sẽ nhờ xe thồ chở về ngay vì chuyến xe duy nhất từ VĩnhThanh về thành phố chưa đến giờ khởi hành.

            Có lẽ nghe được tiếng ồn – Sáu Bẹo hé mở đôi mắt lờ đờ, liếc nhìn một vòng hết thảy đám con cháu. Ông khép mắt lại. Gắng giữ hơi thở đều. Bàn tay mặt áp lên ngực trái.

  –   Các con đã dủ hết chưa?

               –   Dạ, đủ hết rồi! Bà Hương đắp khẻ.

               –   Thằng Lê đâu?

               –   Thưa, có con đây…

               –   Con bưng ảnh cha đi trước nhé?

               –   Dạ !

               –  Thằng Hưng con mày và thằng Tấn con thằng Cam đi hai bên, một đứa bưng khay hương đèn, một đứa bưng khay hoa nước…

               –   Dạ!

               –   Con trai, cháu trai đi bên trái quan tài..

               –   Dạ!

               –   Con  gái, cháu gái đi bên phải quan tài…

               –   Dạ!

               –   Mẹ mày đi sau sát quan tài…

               –   Da!

               –   Tất cả không được khóc…

               –   Dạ…

               –   Các con nghe rõ chưa?

               –   Thưa rõ…

               –   Ngay từ bây giờ, các con – các cháu, hãy niệm Phật đi! Cha  sắp đi đây, ông đi đây…

                Sáu Bẹo nhếch môi – dường như một nụ cười. Nét mặt bình thản.

–         Vĩnh biệt bà, Hương ơi! – Sáu Bẹo khẻ hé mở đôi mắt, rồi từ từ khép lại…

         Tiếng niệm Phật của đám con cháu Sáu Bẹo rền vang – khơi động một góc xóm Thượng Tây còn yên tĩnh…

 

 

 

         Mặc dù Sáu Bẹo đã vắng bóng trong ngôi nhà này, nhưng với bà Hương – Sạo Bẹo vẫn còn đó. Ông vẫn còn nằm toòng teng trên võng, ngồi xếp bằng trên tấm phảng uống trà, hay cùng bà ngồi ăn nơi chiếc bàn vuông nhỏ nhắn kia…Mỗi sáng, bà đều dậy thật sớm – chạy đi mua khi bánh hỏi, bánh ướt, bánh xèo – khi thì tô cháo, hộp xôi; về đặt ở chiếc bàn vuông trước bàn thờ Sáu Bẹo – thắp hương, mời ông ăn. Bà cùng ngồi ăn với ông cho đến hết bữa. Phần trong chén Sáu Bẹo – bà ăn sau cùng. Trước khi dọn mâm thức ăn, bà đốt cho ông điếu thuốc Basto đỏ, cắm vào lư hương. Một ngày ba lần – bà không bỏ sót bữa nào – cho dầu là ngày đau yếu…

         

Read Full Post »

Người đàn bà khóc

LƯU THỊ MƯỜI

Tranh Nguyễn Trung

Miên không biết người đàn bà ấy đẹp hay xấu. Nhưng chắc là đẹp! Dáng người thanh thoát thế kia mà!

Hồi vợ chồng Miên mới chuyển về đây, chưa gặp chị lần nào đã thấy xót xa…

Gã chồng vừa chửi vừa đánh:“Mầy giấu tiền chi? Mầy còn muốn gì? Ăn ngon, mặc đẹp, mọi thứ trong nhà không thiếu, nhìn xem xung quanh có ai ở không, ăn trắng mặt trơn như mầy? Lại còn dám bòn tiền chợ? Gửi cho con mầy hay cho cha nó? Mà con mầy làm gì có cha? Đồ đĩ… Tiền tao làm bằng mồ hôi nước mắt để mầy phá à?”.  Và kèm theo đó là tiếng thụi thụi, đầu đập vào tường cùng những tiếng gằn: “Qua mặt. Phá này. Lộng hành này”… Chắc chị đau lắm! Vậy mà không  một lời kêu khóc, một tiếng rên la… Hàng xóm  đứng ngoài cổng nhìn vào, gặp ánh nhìn lừ lừ, thách thức của gã, chẳng ai có ý định vào can… Nghe tiếng thằng bé vừa khóc vừa xin mà nao lòng: “Ba tha cho mẹ, đừng bắt mẹ quỳ nữa…”. Sao sống khổ sở vậy chị?

Chuyện không phải của mình vẫn khiến Miên trằn trọc. Quân xót xa thở dài: “Thôi em, bớt đa mang đi. Mỗi người một số phận. Đừng trăn trở quá chỉ khổ thân…”. Ừ! Mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi cảnh. Có giúp được gì cho người ta đâu mà đa cảm thêm nhọc thân giữa bộn bề cuộc sống này? Sao vẫn nhói lòng quá đỗi…

*

*     *

Miên chưa một lần nhìn rõ mặt chị, dù sống chung trong cùng một con hẻm nhỏ xíu của cái thị trấn bé tí như cây kẹo mút.

Ngày trước người ta gọi nơi này là xóm Trại. Dân ngụ cư đến đây chiếm đất và dựng tạm lều trại để sống những ngày sơ tán. Giờ, nó thuộc thị trấn. Chỉ cách nhau khoảng vài trăm mét nhưng đi về phía nam, ra khỏi đường bê tông là bộ mặt của phố thị, còn đi ngược lại phía nhà Miên, lội qua suối lại là sự hoang vu, khô cằn của đất hoang và xa hơn nữa là cánh đồng rộng mênh mông. Nhà Miên chếch với nhà người đàn bà ấy không đầy trăm mét, mỗi ngày ít nhất bốn lượt đi về, vậy mà chưa bao giờ Miên thấy rõ mặt chị… Bước ra khỏi nhà, chị đội nón, ra khỏi ngõ có khăn che… Căn nhà chị thì giống một pháo đài nhỏ kiên cố để bảo vệ hơn là để sống. Gã chồng chị nghe nói đã bỏ cả khối tiền để xây dựng tường rào cổng ngõ bịt bùng, chỉ chừa vài lỗ nhỏ như để thông hơi, nhìn chả ra lối kiến trúc gì… Ở cái nơi còn đậm chất quê này thì căn nhà ấy hoàn toàn lạ lùng và biệt lập… Xung quanh hàng xóm nhiều nhà chỉ có mấy cây chè thưa để phân cách…

Rất nhiều lần đi bộ ban đêm, ngang tường rào nhà chị, Miên đều cố tình ngó vào những lỗ nhỏ bằng nắm tay ấy, nhìn chị ngồi may vá quần áo, làn da trắng xanh xao, gương mặt hơi gầy… nhưng đường nét gương mặt thì chịu! Cứ mờ ảo, nhạt nhòa… Ánh điện sáng trưng mà như giữa khói sương… Lạ thật! Nào phải tại bộn bề, gấp gáp của cuộc sống nên mọi người lướt qua nhau… Mà vợ chồng Miên đã chuyển đến sống ở đây hơn  năm trời chứ ít! Gương mặt mơ hồ ấy ám ảnh Miên trong cả những giấc mơ…

*

*       *

Chị thường bê thúng rác qua bãi đất trống bên kia suối đốt. Miên có lần tò mò đi theo, định lân la vài câu trò chuyện làm quen nhưng chỉ nhận được cái gật đầu không mặn mà lắm, đến khẩu trang che mặt cũng chẳng lấy xuống làm Miên ngại chả dám hỏi han gì nữa… Sau này thành lệ, Miên để ý thấy chiều nào chị cũng qua bên kia suối đổ rác, dù có lúc trong thúng chỉ lèo tèo mớ lá khô…

Người trong xóm kháo nhau, gã chồng chị giàu kếch xù nhờ việc mua bán rắn độc, mua một bán mười, nhưng lại tính toán từng nghìn cho những việc chi li… Có lần Miên chứng kiến cảnh hắn đôi co còn hơn một mụ đàn bà lắm lời với người đi thu tiền rác hàng tháng chỉ vì mười nghìn đồng: “Nhà này không đăng ký đổ rác, có rác ra suối đổ, chẳng việc gì phải nộp tiền…”   

Miên chưa bao giờ lội bộ qua khu đất bên kia suối. Người sống trong hẻm nhỏ này cũng chẳng thấy ai sang. Suối cách nhà cô một mảnh vườn hoang, quanh năm cạn nước trừ mùa mưa lũ. Nghe Quân bảo bên đó là khu đất hoang rộng ngút ngàn của cặp vợ chồng trẻ nào đó đã bỏ xứ đi từ lâu. Cỏ dại mọc kín lối đi. Mấy bụi tre gai góc chằng chịt. Có thêm một cây hoa cổ thụ khá lớn mà hỏi chẳng ai biết tên. Cứ khoảng gần hè, cây lại trổ hoa. Ở nhà Miên trông sang rực rỡ một màu đỏ ối nhưng mùi của nó thì kinh khủng, cứ thum thủm như con gì chết. Mỗi lần hoa rộ đúng lúc gió nam là nhà Miên hứng trọn thứ mùi khó thở ấy cả tuần lễ. Vậy là Miên bặt ý định qua thử  bên ấy… Giá có nhiều hoa dại đẹp chắc Miên cũng đã lội sang những chiều rỗi rãi…

*

*      *

Ở người đàn bà ấy có điều gì trông rất mong manh, dễ vỡ làm Miên hay nghĩ tới. Dẫu chưa một lần đối diện, chưa một lần nghe giọng nói của chị ngoài những cái gật đầu chào hỏi và ánh nhìn lạnh lùng nhưng Miên biết mình thương chị. Còn cái gã chồng thì cô lại ghét. Vừa ghét vừa tởm! Ngay từ ấn tượng đầu tiên và mấy lần gặp sau này cũng vậy… Ngày vợ chồng Miên dọn đồ đến ở có mời cả xóm sang dùng một bữa cơm ra mắt. Chị không đến. Chị chưa từng đến nhà ai từ ngày về đây làm vợ gã. Gã chồng thì có. Ăn uống xồm xoàm. Ánh nhìn khỉnh khỉnh. Khuôn mặt mập ú. Đôi tay dạng ra khệnh khạng. Dáng vẻ trịch thượng. Nụ cười nham nhở. Cả cái cách gã đến bên Miên cụng ly cũng thấy khả ố thế nào: “Cưới hỏi gì chưa mà dọn về ở chung? Hay là ở đâu kéo đến đây mua nhà sống chui? Nghệ sỹ mấy cô lắm khi nghĩ thấy sợ!” Nói xong gã cười hềnh hệch như tự thưởng cho câu dí dỏm của mình… Miên muốn đập cái ly vào khuôn mặt mập ú ấy may mà có Quân đến xuề xòa giúp cô tránh sang bàn bên cạnh… Vậy mà nụ cười nham nhở, nhầy nhụa với hàm răng cáu bẩn của gã ám ảnh Miên mất mấy tuần… Có lần đang kề cận chồng, chợt liên tưởng đến những cái răng vàng xỉn, dơ dáy Miên lại buồn nôn, nụ hôn cũng nhạt thếch tự lúc nào khiến Quân hiểu lầm thở dài quay mặt vào tường…

Miên thường dậy sớm đi bộ vào buổi sáng sớm. Phía trước cổng, gã chắc chắn nhìn thấy Miên, vậy mà vẫn điềm nhiên đứng làm cái việc lẽ ra phải vào nhà vệ sinh. Chỉ cách cái cổng sắt và mấy bước chân, cô xấu hổ quay lưng nhưng thứ âm thanh xồ xồ vẫn còn vọng lại. Lần khác, Miên nghe gã chửi vợ khi thấy chị sẵn tay dọn dẹp luôn đọạn đường bê tông phía nhà hàng xóm: “Mầy rảnh chắc? Đi dô, ai biểu quét dùm, rảnh dô nhà ngủ cho mập thây còn được việc hơn”. Chị lẳng lặng nghe theo không một tiếng nhỏ to… Miên bất bình đứng trố mắt nhìn, gã chỉ đáp lại bằng cái nhếch mép miệt thị, ánh mắt như muốn nhắc: “Việc gì đến nhà cô, cô họa sỹ dở hơi”. Miên vẫn cố nhìn vào trong nhà, hình như qua làn kính mờ đục có ánh mắt dõi theo đồng cảm…

*

*       *

Nghe đâu gã cũng yêu vợ con  lắm! Yêu theo cách của gã. Chuyện chợ búa, mua sắm trong nhà, gã gần như lo tất. Hàng xóm nhiều người xuýt xoa: “Vợ thằng Đô may mắn thiệt nghen! Không phải bươn chải lại được thảnh thơi ăn sung mặc sướng“. Thằng con riêng với vợ trước học lớp 10. Muốn gì được đấy! Nhưng gã nói là phải nghe. Nửa lời đáp trả chỉ có chết. Gã không đánh mà cột treo lên xà nhà… Chị và thằng bé sau – con chị với gã – cũng được yêu theo kiểu ấy… Mỗi lần trúng một vụ rắn, gã mua về hàng loạt quần áo, đồ ăn bổ dưỡng… Những thứ mà công nhân viên chức như Miên chỉ dám đụng tới khi nào con đau ốm… Nhà gã những ngày ấy tràn ngập tiếng cười, tiếng nhạc ầm ĩ của thằng lớn, tiếng bi bô của thằng bé và to nhất là tiếng cười nói của gã, tuyệt chẳng nghe nửa lời của chị. Mặc gã oang oang: “Mẹ Tý thay tiếp bộ này coi. Đẹp! Đẹp lắm! Rồi, bộ này nữa. Đấy, cứ diện vào là mướt mát ngay, nhìn sướng con mắt. Mẹ, bọn gái Đèo Nhông cũng chỉ có bôi son trát phấn cùng mấy bộ đồ hở hang là hơn thôi. Đẹp cứt gì!”

Thỉnh thoảng gã đi chơi gái. Mỗi lần về, chệnh choạng say từ đầu ngõ: “Khốn kiếp! Bọn điếm chỉ vòi tiền là giỏi. Đĩ chết bà! Mấy thằng bạn hàng chết tiệt! Làm ông mất mấy chai!”. Lặng nghe xem có tiếng trách móc, hay ít thì cũng than thân trách phận… Mà hình như cả những ấm ức thầm cũng không… Miên hay có ý nghĩ, chị như là con ở, một con ở được ăn ngon, mặc đẹp, phải lên giường và sinh con cho gã.

Có tối, không ngủ được, Miên kéo Quân dạo bộ dọc con hẻm nhỏ. Chưa tới 10 giờ mà xóm đã vắng tanh… Đến gần nhà chị, Miên nghe rất rõ tiếng thở hổn hển, tiếng cào cấu, tiếng quần áo bị xé toạt, tiếng kêu rên khoái lạc, và những âm thanh hùng hục đầy thô bạo của gã chồng… Quân vội vàng kéo tay cô quay về. Nhà gã sát đường, căn phòng phía sau thằng con lớn còn chong điện để học bài… Không dưng lại nghĩ thương chị. Chắc đang quay mặt vào tường cho nước mắt lặng lẽ rơi…

*

*       *

Một lần hiếm hoi Miên gặp chị đi chợ (lâu nay gã chồng tự đi hoặc nhờ người quen bán hàng ở chợ mua, thằng con lớn ra xách về). Có lẽ hôm ấy gã đau.“Chị đi chợ sớm thế?”. Lặng lẽ, gật đầu: “Vâng, chào cô”, giọng Bắc rất nhẹ và ấm. Thoáng trong mắt chị chút ngập ngừng như là muốn được sẻ chia. Rồi thôi. Chỉ thêm một cái gật chào lịch sự. Chị mất hút giữa đám người ồn ào. Đông đúc thế này mà!… Dáng chị lạc lõng cùng giỏ thức ăn đầy ắp… Thôi, ít ra chị không khổ vì phải bon chen… Người như chị có thể nào bon chen?

Cái ý định lấy chị làm cảm hứng cho bức chân dung “Người Đàn Bà Khóc” cứ thôi thúc mấy lần vẫn không thành. Chiều, Miên ôm giá vẽ ra ngoài vườn. Định ghi lại một cái gì đó về người đàn bà luôn khiến cô trăn trở. Ý tưởng có sẵn trong đầu. Đường nét cũng định hình. Mà mãi chẳng khắc họa được gương mặt. Biết chẳng tập trung gì được đành lang thang…

*

*        *

– Chị Hoài không phải người ở mình hả bác Tư?

– Nó ở tận ngoài Bắc lận. Nghe đâu hồi mới lớn hư đốn thế nào không chồng mà chửa, có đứa con gái riêng bảy, tám tuổi rồi. Gửi lại cho ông bà ngoại nuôi.

– Chị ấy có hay về thăm nó không bác?

– Dễ mà đi với thằng Đô Rắn. Với lại tiền đâu mà đi. Ăn sung, mặc sướng nhưng tiền thì thằng chồng giữ rịt. Một ngàn cũng không…

– Làm sao người như chị mà lại gặp gã nhỉ?

– Gặp gỡ gì! Ba con Hoài là bạn hàng bán rắn cho thằng Đô. Thấy thằng này vợ chết, con gái mình thì lỡ làng nên đẩy đi luôn chứ cưới hỏi gì đâu. Sợ ê mặt! Mà hồi trước tay này cũng nghèo xơ xác. Vợ trước chết vì không có tiền thuốc men đầy đủ, bỏ lại nó với thằng cu lớn bây giờ đó. Gặp con này hạp tuổi hay sao mà mua bán thấy phất quá trời!

– Thấy chị sống khổ sở quá bác?

– Không phải lăn lộn kiếm sống là còn sướng chán chứ khổ sở gì cô ơi!

*

*        *

Dạo này gã chồng mang rắn sang tận biên giới cho bạn hàng mới. Những buổi chiều bên kia bờ suối của chị dài hơn. Miên cũng đã xin nghỉ phép năm cùng Quân về quê mấy tuần. Căn nhà im ỉm khóa cửa nhờ bác Tư trông coi hộ… Đường sang bên kia suối càng thêm vắng vẻ…

*

*     *

Ngày Miên quay về con hẻm nhỏ lại phải chứng kiến một cảnh rất đau lòng, đau như chính mình bị chà đạp… Gã chồng lôi chị ra giữa sân, cầm kéo cắt bộ đồ trên người chị từng nhát, từng nhát… vừa cắt vừa nghiến răng chì chiết, lăn nhục: “Nó có gì mà tao không có. Đồ đĩ. Mầy thèm lắm sao? Mầy nằm với nó mấy lần? Ở đâu? Trong nhà tao hay ngoài suối?…” và kèm theo là những ngôn từ thô tục không thể nghe được. Chị rũ rượi giữa sân, tả tơi, xơ xác… không thoát được bàn tay thô bạo của gã để chạy đến với thằng bé đang khiếp đảm vì sợ… Vĩnh viễn cả Miên và những người trong con hẻm nhỏ không bao giờ biết được đúng hay không những lời thóa mạ của gã… Rằng bắt được chị tằng tịu với một người hàng rong… Rằng người đàn ông đó đã mấy lần ghé đến nhà chị lúc gã chồng còn ở tận vùng biên giới xa xôi… Rằng đó chính là người cũ đã bao năm lưu lạc của chị… Bà Tư thì cam đoan thấy rõ ràng ánh mắt chị biết cười, long lanh như người đang yêu khi đi đổ rác một buổi chiều. Cô Tám ve chai thì nói như đinh đóng cột rằng nghe chị hát khe khẽ khi đang dọn quét trong sân… Miên không biết, không biết một chút gì cả trong mấy tuần nghỉ phép… Chỉ biết rất rõ ràng về nỗi đau mà chị đang phải oằn mình nhận lấy… Cả đám người hiếu kỳ, kẻ cười người thương cũng chẳng xông vào được vì gã khóa cổng thật chặt… Đến khi Quân và mấy người hàng xóm dọa báo chính quyền đến gã mới chịu buông tay… Trên người chị đã chẳng còn một mảnh vải che thân… Miên không thể quên được gương mặt chị lúc ấy… Đau đớn, tái tê, nhẫn nhục, cam chịu … Lần đầu tiên nhìn rõ mặt chị là thế này đây!

*

*         *

Rất nhiều đêm đang ngủ chợt choàng tỉnh bởi thân hình nằm bẹp trước sân quằn quại, đớn đau, ê chề… Miên lay chồng: “Em lo chị ấy không chịu đựng nổi…” Nằm xuống rồi mà nỗi sợ mơ hồ vẫn len lỏi…

Chị sang bên kia suối, Miên trông thấy chị, lướt qua Miên, rất nhẹ nhàng. Ơ! Sao chị chẳng nói năng chi? Không cả cái gật nhẹ như vẫn thường. Lẽ nào không thấy Miên? “Mà tối thế này, làm gì bên ấy chị ơi?” Miên đuổi theo, đuổi theo… “Chờ em với!” Chị vẫn cứ lướt đi. Nhanh quá! Miên không theo kịp rồi! Chị đến bên gốc hoa cổ thụ… À! Miên hiểu rồi. Sự quạnh quẽ và mô đất cao dưới gốc cây cùng chị hoài niệm về những tháng ngày xa lơ xa lắc chứ gì? Nơi ấy có cha mẹ chị, có những ký ức tuổi thơ, có khúc ruột chị buộc lòng rứt bỏ từ khi nó chỉ mới bập bẹ tiếng: Mẹ… Mẹ… và có cả một nỗi đau của thời con gái… Chị không thể quên được dù vì nó mà chị phải bỏ xứ thế này, đúng không? Sao chị không về mà thăm, cứ u uẩn mãi trong lòng làm gì? Có ai  sẻ chia cùng chị… Thằng cu lên năm chỉ là lý do để chị tồn tại nơi này, nhưng chắc chắn lại làm chị quặn lòng vì một núm ruột khác đang lẻ loi… Ơ! Sao chị lại thở dài? Chị khóc ư? Chị nhớ con bé, nhớ dại người? Nó thế nào rồi? Gầy rộc? Ngơ ngác? Mà làm sao chị hình dung được mặt mũi nó? Bảy năm trời chứ ít! Thảng thốt! Hớt hải! Ôm chầm! Chỉ chạm phải lồng ngực cùng với nỗi đau… Chọn đứa nào, bỏ đứa nào? Chị tính không ra? Cuộc đời  thật lắm nỗi bi ai! “Kìa, đi đâu thế, chị ơi? Sao không nói chuyện cùng em? Đợi em đã!” Ôi! Vực đâu thế này? Vực thẳm sâu hun hút… Miên chưa bao giờ nghe Quân bảo bên kia suối có vực sâu kia mà! “Không được! Chị ơi! Ngừng lại đi!” Em kêu to thế mà, chị không nghe sao? “Ngừng lại đi! Đừng! Rơi xuống bây giờ. Chị ơi!”

– Miên! Miên! Sao thế em? Em gặp ác mộng à?

– Chị ấy rơi xuống vực rồi anh ơi! Sâu, sâu lắm! Chị ấy chết mất!

– Vực nào? Miên. Dậy đi em. Sốt cao thế này!

Giật mình. Choàng tỉnh. Mồ hôi ướt đẫm…

*

*        *

Chiều, đang ở cơ quan, tự nhiên Miên bồn chồn, ruột gan nóng như lửa đốt, cứ nghĩ đến giấc mơ đêm qua… Gấp vội vàng mấy giấy tờ quan trọng, vội vã xin về sớm… Không kịp nữa rồi… Bác Tư hớt hải chạy đến khi Miên vừa tới đầu ngõ: “Con Hoài tự vẫn rồi cô ơi! Nó treo cổ ngoài suối…”  Miên khụy người … Có phải là sự giải thoát không hả chị? Gã chồng gục đầu nơi gốc hoa cổ thụ. Ân hận? Đớn đau?

*

*          *

Tiễn đưa chị một chiều mưa lạnh lẽo. Vài người họ hàng, Miên và bà con trong con hẻm nhỏ. Con bé mà chị luôn day dứt vì đã bỏ rơi cũng kịp vào. Dậy mà ôm nó vào lòng đi chị! Vành khăn trắng che phủ gương mặt gầy guộc của bé chị thấy không? Nghe như có tiếng thở dài lặng lẽ thoảng trong mưa…

Khu đất phía bên kia suối càng thêm hiu quạnh. Người trong xóm chặt cây hoa lạ đốt theo chị nhân ngày cúng tuần… Không chịu nổi tiếng thở dài và ánh mắt ngẩn ngơ của vợ những chiều làm về, tranh thủ mấy ngày nghỉ, Quân gọi thợ đến xây cao bức tường phía suối. Từ vườn nhà Miên nhìn qua không còn thấy cái màu đỏ ối mỗi độ hè sang….

Miên ngày vẫn bốn lượt đi về trên con hẻm nhỏ… Bức chân dung “Người Đàn Bà Khóc” nằm lăn lóc, dở dang…

L.T.M

Read Full Post »

Tác giả : Victor SEGALEN (1878-1919)
Người dịch : Quế Sơn  (Dịch theo nguyên tác tiếng Pháp :”René Leys”, ấn bản năm 2000)
Nhà Xuất bản TRẺ, 2011.

Đây là quyển nhật ký hư cấu của Victor Segalen ghi lại những cuộc phiêu lưu kỳ lạ của René Leys trong bối cảnh một triều đại Mãn Thanh suy tàn. Chàng trai trẻ Leys có những tố chất mà Segalen không có để thâm nhập vào thế giới quyền quý Mãn Thanh. Để thực hiện giấc mơ của mình là vào Tử Cấm Thành, quan sát thâm cung từ bên trong, Segalen tự đặt mình vào vai của Leys bằng liệu pháp tưởng tượng. Làm như vậy Segalen không ngờ rằng sống một cuộc sống khác theo lời kể của người khác là một quá trình đầy rủi ro và nguy hiểm, cho cả người nghe và người kể chuyện. Khi đọc quyển sách này, bạn đang tự đặt mình vào vai của Segalen, người tự đặt mình vào vai Leys để khám phá thế giới Mãn Thanh qua hai lần liệu pháp tưởng tượng. Một chút rủi ro nguy hiểm còn lại, bạn hãy lấy nó làm niềm vui. Cuốn sách thuộc Tủ sách Cánh cửa mở rộng – Tủ sách hợp tác giữa nhà toán học Ngô Bảo Châu và nhà văn Phan Việt với Nhà xuất bản Trẻ. (Lời giới thiệu ngắn của NXB Trẻ trên trang mạng http://www.nxbtre.com.vn)

Mời các bạn “Xứ Nẫu” đọc hai trích đoạn của cuốn tiểu thuyết viết cách đây gần một thế kỷ, 1916, (và xuất bản lần đầu năm 1923, sau khi tác giả qua đời) nhưng không mất đi tính hiện đại và cách tân của nó. Segalen là một bác sĩ hải quân Pháp, nhưng sống ở Bắc Kinh nhiều năm, trở thành một nhà khảo cổ học có tiếng tăm trong cuộc khai quật các di tích của Tần Thủy Hoàng. Ông cũng là một nhà thơ : tập “Stèles” (Bia mộ) của ông, tuy lúc đầu in ra chỉ có 81 bản, nhưng nhiều năm sau được các nhà thơ lớn của Pháp hết lòng ngưỡng mộ.
Số phận của tiểu thuyết “René Leys” cũng khá lạ kỳ, không khác gì cái chết bí ẩn trong rừng khi đi dạo của Segalen : Nó chỉ được tái bản lần đầu vào năm1971, gần 50 năm chìm trong bóng tối, và dấy lên làn sóng hâm mộ và tìm hiểu về tác giả ở Pháp cũng như ở các nước khác. Tên ông được chọn đặt tên cho một đại học ở Bordeaux (Pháp).
(Quế Sơn, người dịch, 23-12-2011)
Bắc Kinh, 20 tháng 3, 1911
— Thế là tôi sẽ không biết gì hơn nữa. Tôi không cố nài; tôi sẽ lui ra… một cách kính cẩn, cứ cho là như vậy, và tất nhiên đi thụt lùi theo Triều nghi, vì đây là Hoàng Cung; một cuộc bệ kiến đã không được ban, và sẽ không bao giờ được ban nữa…
Chính bằng lời thú nhận này – lố bịch hay khách khí, tùy theo cách nhìn nhận – mà tôi đành kết thúc cuốn nhật ký này, trước khi viết quá nhiều, dù tôi từng hy vọng biến nó thành một cuốn sách. Sách cũng sẽ không có. (Vậy thì một quyển sách chết đi chỉ còn lại một cái tựa đẹp: “Cuốn Sách chưa từng hiện hữu!”).
Tôi cứ tưởng là đã nắm được nó, “hoàn chỉnh” hơn, dễ bán được hơn bất cứ cuốn tiểu thuyết có bản quyền nào, cô đọng hơn bất kỳ sự kết tụ nào khác của những cái gọi là tư liệu con người. Hay hơn bất cứ câu chuyện tưởng tượng nào, mỗi cú nhảy vào thực tại của nó sẽ mang quyền năng của toàn bộ ma lực bị giam hãm trong những bờ thành này… nơi tôi sẽ không bao giờ vào được.
Không ai có thể phủ nhận Bắc Kinh là một kiệt tác của sự thành tựu đầy bí ẩn. Và trước hết, tam trùng thành quách của nó thì không tuân theo các qui tắc của các đám đông đã vào sổ bộ, cũng như không đáp ứng các nhu cầu cư trú của những con người ăn ở nơi đây. Bởi vậy, kinh đô của Đế chế lớn nhất Thiên hạ đã được xây dựng cho chính nó, được vẽ ra như một bàn cờ ở cực bắc vùng bình nguyên hoàng thổ, với những bức tường thành ngay ngắn bao quanh, với những con đường rộng cắt ngang, lại được kẻ ô với những ngõ ngách thẳng góc, rồi được kiến tạo liền một mạch từ đầu đến cuối một cách hoành tráng…Tiếp theo, những người sống bám vào nó, các thần dân Trung Hoa đó mà, đến cư ngụ, rồi cuối cùng thì họ tràn ra các khu ngoại ô ám muội. Nhưng cái hình vuông chính, tức khu thành Thát Đát – Mãn Châu tới nay vẫn còn là một nơi trú ngụ tốt đẹp cho những kẻ chinh phục – và cho giấc mơ này…
Bên trong, tận cùng trung tâm của Hoàng Cung có một khuôn mặt: một đứa trẻ con-người lớn, Hoàng đế, Vua cõi trần và Con của Trời (mà mọi người, và các nhà báo trên thế giới cứ ngoan cố gọi tên là “Quang Tự”, đó chỉ là niên hiệu trong thời gian ông ở ngôi thôi, tức là từ năm 1875 đến 1908). Ông đã sống thực sự, dưới cái tên sinh thời của mình mà không ai dám gọi… Ngài – và vì không thể gọi tên ông, tôi đành thêm vào cái đại từ châu Âu đó tất cả sự tôn kính của điệu bộ Mãn Châu (hai ống tay áo đưa lên cao cùng hai nắm tay chắp lại trước trán cúi thấp) để chỉ Ngài… Trong cõi nhân sinh, Ngài vẫn là hình ảnh và biểu tượng hóa thân của kẻ bi thống nhất và tất phải chết hơn bất kỳ ai khác. — Người ta quy cho Ngài những hành động bất khả… và cũng có thể ngài đã thực sự làm những việc này.Tôi tin chắc rằng Ngài đã chết vì mười chứng bệnh hoàn toàn tự nhiên (ngày nay không ai còn chết vì những bệnh này nữa), nhưng trước hết vì chứng bệnh thứ mười một (không mấy người thấu hiểu) là chứng làm Hoàng đế – tức là nạn nhân được tiền định từ cả bốn ngàn năm để làm kẻ hiến sinh trung gian giữa Thiên đình và Dân gian dưới cõi trần…
… và nơi chốn ngài hiến sinh, cái khu vực chung quanh có tường cao bọc kín mà người ta giam hãm con người Ngài – cái Tử Cấm Thành đang giương thành lũy chặn bước chân tôi – đã trở thành sân khấu duy nhất khả dĩ cho tấn tuồng này, cho Câu chuyện này, cho cuốn sách này, vì nếu không có Ngài, thì nó chẳng còn lý do gì để tồn tại…
Thế nhưng, tôi đã cố gắng hết sức để đón nhận sự Hiện diện của Ngài, để nối lại với nhau, ở bên ngoài tường thành, những hé lộ mang tính hồi ức về “Đại Nội”. Về việc này, tôi trông cậy vào sự thâm nhập nhờ nghề nghiệp chuyên môn của các bác sĩ châu Âu cùng chủng tộc với tôi. Họ ở đó kìa, sinh sống và hành nghề dọc theo “đường Công sứ quán”, ngay chỗ đầu xả các ống cống ngầm từ Hoàng Cung ra, họ sẵn sàng len lỏi qua bất cứ khe nứt nào, và một khi đã vào được bên trong, thì sẵn sàng ra tay đâm sau lưng, với tình đồng nghiệp rất ư là thắm thiết, bất cứ người nào tìm cách vào đó như họ. Một hôm Hoàng thượng cho vời viên bác sĩ của một nước nào đó, và Công sứ quán của nước đó được dịp huênh hoang, a, chỉ mình ta thôi, được lãnh trách nhiệm chăm sóc Thánh thể. Hai hay nhiều bác sĩ tầm cỡ “Cao đơn hoàn tán” sẽ cùng lúc tự tâng bốc là chỉ có riêng mình được triệu vào, được hỏi ý kiến thôi, và trở thành mục tiêu gièm pha duy nhất của tất cả thầy thuốc còn lại khác. Và họ nhìn nhau mặt lạnh như tiền. Ôi, chính họ là những người trung gian mà tôi đã phải tiếp cận đấy. Tôi thấy lo sợ là mình sẽ vấp phải bí mật y khoa khi hỏi han chuyện này, việc nọ. Nhưng họ chỉ tiết lộ vài điều vô thưởng vô phạt dính dáng đến nghề nghiệp thôi… Các báo cáo của họ đều viết trên cùng một thứ giấy, với cùng những từ ngữ đao to búa lớn hợp vệ sinh mà họ phô ra một cách khó coi, và làm khổ bất cứ tên khách hàng trưởng giả nào của mình! Họ xác nhận rằng Ngài, đấng Chí tôn, bị nghi là mang những khuyết tật trẻ con, những thứ mà một tên hậu duệ hỗn hào nào cũng có thể trút tội lên đầu cha mẹ mình… Họ kết luận rằng đó là sự biến chất tai hại… Tóm lại, Thiên Tử càng ngày càng suy nhược, héo hon vì một chứng bệnh… di truyền!
Thấy tởm lợm vì sự dốt nát phạm thượng của các tên đồng hương của mình, tôi đành quay sang phía khác: các viên Thái giám bản xứ. Đây là một phường hội khác, cũng danh giá không kém, nhưng khép kín hơn, độc quyền hơn. Không phải ai muốn vào thì cứ thong dong bước vào đâu: người ta đòi hỏi trước hết phải có bằng cấp. Các chức vụ thì rất hạn chế, với một vài sửa đổi dành cho ngoại lệ. Chính nhờ vậy mà tư cách làm cha được cho phép ở các thái giám cấp cao, còn sự phản bội thì ở mọi cấp.
Tôi đã tìm cách mua chuộc một trong các nhân vật này. Nhưng kết quả không tương xứng với số tiền bỏ ra: tưởng gì chứ tôi biết quá nhiều về mấy cái giai thoại nhàm chán mà báo chí địa phương khai thác để nuôi dưỡng các trang báo; và thật tình mà nói, tôi đã không thu thập được một bí mật phòng the nào. Tôi không trách giận các anh thái giám này đâu: phòng the, với định nghĩa là rèm và một khoảng phòng cạnh giường, rất có thể là không tồn tại trong Nội Cung.
Chỉ còn các bác sĩ Trung Hoa. Được trang bị với những công thức pha chế nước ngoài nhưng trung thành với toàn bộ dược liệu bản địa có sẵn, họ rất đỗi tự hào về kiến thức đáng gờm như con dao hai lưỡi của mình. Một trong những thầy thuốc giỏi nhất, sau một bữa ăn tối ngon lành tại nhà tôi – cũng chính bằng cách nấu ăn nửa Pháp, nửa Bắc Kinh đó – đã vui lòng kể lại, diễn tả bằng điệu bộ sống động trước mắt tôi, cố làm cho tôi hình dung ra cảnh này: một cuộc chẩn bệnh ngay trong lòng Nội Cung. Viên bác sĩ quỳ cúi đầu sau khi đã thực hiện ba lần khấu đầu ba cái. Hoàng đế, và Lão Thái hậu đáng sợ, thì ngồi cao hơn tất cả các tầm mắt. Khi được hỏi, viên bác sĩ không dám mở miệng để nói. Họ ép ông nói. Vậy là, một cách cực kỳ kính cẩn ông hỏi “Long thể Bệ hạ bất an ở phần nào…”
Lão Phật gia uy nghiêm trả lời thay Ngài “rằng tâm dịch khuấy động dưới lớp bì phu của Hoàng thượng…”
Viên bác sĩ lại cực kỳ kính cẩn đề nghị món thuốc nào đó. Ông đã quên mất là thuốc gì (dĩ nhiên, không được là thuốc uống của nước ngoài! – người ta hẳn sẽ kết ông nào là tội phản bội, nào là tội âm mưu đầu độc; lại càng không phải là loại hoàn tán Trung Hoa! – bởi vì người ta triệu ông đến là do kiến thức y khoa học ở nước ngoài của ông kia mà).
Tuy nhiên ông vẫn nhớ chính xác cái ấn tượng chủ quan sau:
“Đối với tôi đầu ông ta có vẻ như không đứng vững trên cổ…”
Ông đã nhớ được điều đó. Tôi chúc mừng ông. Nhưng chuyện chỉ có vậy.
Chuyện chỉ có vậy thôi. Bỏ cuộc sao? Tôi tự cho mình một cơ may cuối cùng để thâm nhập vào Đại Nội. Đó là dùng đến ngôn ngữ của nó là tiếng “Quan thoại miền Hoa Bắc” khó học. Và từ rày về sau, tôi sẽ không cần đến bất cứ tên mối lái nào, bất cứ tên thái giám nào; tôi sẽ chờ cơ hội trực tiếp cho phép tôi…
Nói, hay làm… điều gì cơ chứ? Tôi cũng chưa biết. Để phòng xa, tôi bám chặt vào cái cơ may này và tôi lao đầu vào học từ vựng “Quan thoại” với tất cả sức lực của một kẻ tuyệt vọng. Người ta thường nói là phải dành cả đời, từ tuổi thơ cho đến tuổi già, mới có thể viết và làm luận văn như một tên tú tài tỉnh lẻ, a, thì cũng có thể như thế. Trên thực tế, thiên hạ mở miệng phun ra điều này quá dễ dãi. Tôi có ý thức về các thành tích của mình. Tôi có thể tán gẫu, tôi có thể đàm luận, tôi đã có thể diễn đạt được hầu như mọi thứ. Tôi không biết phải khen ngợi ai hay cái gì đây: chính tôi, tiếng Quan thoại, hay gia sư của tôi. Ngược với mọi lô-gích, ngay giữa đất Trung Hoa, tôi đã chọn một người nước ngoài làm gia sư, một tên rợ không có văn hóa Thánh hiền, và còn hay hơn nữa chứ, một anh chàng người Bỉ trẻ tuổi! Chàng ta có năng khiếu lạ lùng là học tất cả mọi thứ một cách dễ dàng, và có lẽ dạy lại cho người khác mọi thứ cũng dễ dàng như thế, đó là điều làm tôi thích thú vô cùng. Chính thức thì chàng giữ ghế giáo sư môn “Kinh tế Chính trị” ở trường Quốc Tử Giám. Ở bất cứ đâu khác thì chuyện này có thể làm tôi lo ngại đấy… Nhưng chúng tôi đã thỏa thuận rằng để thông hiểu nhau hơn, chúng tôi sẽ chỉ nói tiếng Trung với nhau.
Chàng gia sư của tôi có lẽ sẽ cực kỳ ngạc nhiên khi biết mục đích thực sự các buổi nói chuyện giữa chàng và tôi. Chàng là đứa con ngoan ngoãn của người chủ cửa hàng thực phẩm tuyệt vời ở khu Công sứ quán. Trước đây thì tôi không nhận ra chàng bên cạnh mấy cái cân trong tiệm của ông bố khi vào mua đồ. Nhưng chàng nói với một sự kính trọng sâu sắc về cha mình, về việc buôn bán, gia đình, “tiền tiết kiệm”, về đầy tớ, ngựa xe, về những nguyên tắc của cha. Chàng rõ ràng tin rằng ở Bắc Kinh người ta không thể có một cách sống nào đáng trọng hơn cách sống của cha mình… Thích văn chương, chàng đang đọc lại Paul Féval.
Nếu tôi thành công, ừ, nếu tôi vào đến… nơi mà tôi không còn hy vọng vào đến thì chàng sẽ là người đầu tiên kinh ngạc trước sự thành công của tôi, và cả kinh hãi nữa khi phát hiện ra phần mình trong đó… mặc dù như tôi đã nói, tôi khó có khả năng thành công.
Chàng là một thầy giáo giỏi. Tôi đã thuê chàng dạy thêm một tháng nữa. Và ngay đây tôi nói trước là tôi từ bỏ mọi kỳ vọng.
(Chương đầu, từ trang 5 đến 14)

……………………….
X…— Tin vặt trong một tờ nhật báo ở Bắc Kinh: “Binh biến ở tỉnh Hồ Bắc: Sư đoàn Mười đóng ở Vũ Xương vừa đốt phá Nha môn của quan Tổng đốc. Ngài Tổng đốc – đúng là hay thật – đã bỏ trốn. Bọn phiến loạn đã nắm giữ được lực lượng pháo binh và pháo kích các phòng tuyến ở Hán Dương. Trong các nhượng địa châu Âu ở Hán Khẩu, người ta bắt đầu lo sợ…”
Ba thành phố này, hay nói cho đúng hơn, “Tam cấp Thành” này, quá nổi tiếng ở châu Âu nhờ cuốn “Anticipations” của Wells ban cho vị trí lỗ rốn trong nước Trung Hoa. Và với tám triệu (không có bằng cớ) cư dân, ba thành phố này, dù muốn hay không cũng đều là những địa phương cần phải tính đến trong nền chính trị Trung Quốc. Vả lại, cuộc nổi loạn này thì thuộc loại “quân sự” với súng máy và đại bác… Còn nghiêm trọng hơn câu nói lịch sử trước đó nhiều: Đây là một cuộc cách mạng!
Nhưng không thể nào có “cách mạng” ở Trung Quốc được. Ngay cả một cuộc nổi dậy cũng chỉ mới được gọi là có thể! Tuy vậy tôi phải nói chuyện này với René Leys. Chàng là người duy nhất có thể cho tôi biết tầm quan trọng của biến cố “nổi dậy” đó. Chàng cũng là người liên can trực tiếp nếu người ta tấn công vào những triều thần của Đế chế. Vì xét cho cùng, như là thủ trưởng Mật Vụ và Người Tình của Hoàng hậu, chỉ mình chàng – tôi sẽ nói với chàng – phải trả giá đắt gấp đôi, thậm chí gấp mười lần nếu sự trả thù xảy ra.
Tôi không hỏi chàng gì cả, tôi muốn chờ đúng dịp khi chàng có mặt để nghe ý kiến của chàng về chuyện trên. Và chàng đến gặp tôi một cách cực kỳ bí ẩn. Chàng tỏ ra rất ít quan tâm đến một ngày tháng châu Âu nào đó – ngày 11 tháng 10 năm 1911 là ngày sinh nhật tôi chẳng hạn, hình như vậy, và là ngày lễ thánh năm thứ ba mươi lăm của tôi – hơn là việc tổ chức liên hoan mừng nó theo kiểu Trung Hoa: chàng khẳng định dành cho tôi “buổi trình diễn” không phải ở rạp hát mà là ở nhà tôi. Chàng tỏ ra vui sướng với ý định của mình. Chàng hứa với tôi là sẽ có những diễn viên hàng đầu, được trả công cao nhất. Chàng cho tôi biết tên vở tuồng: “Cuộc gặp gỡ trong ruộng dâu”. Chàng đã trả tiền cho đám gia nhân của tôi để họ dựng lên một bệ cao dựa vào bức tường phía tây của sân trong nhà tôi. Rồi chàng đi ra ngoài, khuôn mặt hớn hở một cách thành thật mà từ lâu lắm rồi tôi không thấy chàng biểu lộ.
Hai giờ sau, chàng trở về, đi sau một nhóm tứ tấu gồm một đàn nhị, bộ phách, rồi chiêng, Hoàng đế của cả ban nhạc, và một thứ kèn có âm trầm thường dùng để báo hiệu là các Hoàng thân đang bước vào sảnh. Cuối cùng là chính chàng, đi cùng với các bạn “của mình”.
Tôi thấy vui gặp lại họ. “Đại Kính Tử” và “Tiểu Điệt”, cháu thứ mấy của ông Thân Vương nào đó… Nhưng tất cả đám người này đã biến mất vào trong nhà chái mà tôi thường dùng làm kho chứa các bộ yên ngựa. Một lát sau, ban nhạc ngồi ở cuối sân khấu bắt đầu so dây, chỉnh âm trong tiếng ầm ĩ lạc điệu. Rồi bất ngờ trước mặt tôi, khán giả độc nhất, cuộc biểu diễn bắt đầu! Điều đó coi như là… A, lần này tôi biết rõ điều đó coi như là gì: gánh hát của René Leys và các bạn chàng… Một tổ chức mật vụ mới, chắc là thế… Họ trình diễn, họ múa xoay người trên mũi chân, họ thủ vai một cách chính xác, chuyên nghiệp. Đây nữa, vẫn là những cuộc tỉ thí – bắt buộc đấy – những khúc mở màn, rồi tái đấu, rồi lầm lẫn, nhưng vẫn giữ theo nguyên tắc. Nhờ thụ giáo tốt trước đây, tôi biết rất chính xác khi nào thì nên vỗ tay tán thưởng; – và từ cuống họng tôi phát ra mạnh mẽ và đúng lúc, tiếng “haaảo a!” thay cho tất cả những tiếng vỗ tay om sòm kiểu Paris hay tất cả những tiếng huýt gió chói tai kiểu Mỹ!
René Leys quả thật là dễ mến khi cho tôi xem tuồng tại nhà như thế. Thế thì tôi dại gì mà đắn đo với những tiếng “haaảo a!” của mình. Chàng chỉ cho tôi một người trong bọn họ, người bạn diễn mà giọng nói bị khàn lắm rồi:
– Đúng vậy! chính là người được trả tiền cao nhất đó, vì giọng của anh ta sẽ mau đứt thôi!
Khi chàng đến lại bên cạnh tôi – khiêm tốn, mặt đã lau sạch phấn sáp, mồ hôi còn rịn đôi chút, nhưng hãnh diện và thỏa mãn – tôi biết việc trước tiên là tôi phải khen ngợi chàng… nhưng cũng có cái gì đó đã làm tôi phật lòng, làm tôi bối rối… tại sao phài giấu chàng điều mà tôi đang nghĩ chứ? Thế là tôi nói ra: trong sự trình diễn của chàng có chút gì đó của một diễn viên xoàng nhưng hợm hĩnh, có chút gì đó là nhảm nhí – nhất là ở Trung Quốc – làm tôi thấy khó chịu.
Chàng trả lời, cực kỳ tự tin:
– Ông biết đấy, chính là vì Nàng mê tuồng hết cỡ nói! Nàng bắt tôi hứa sẽ sắm vai này. Ông nói là tôi diễn hay trước ông – a, đó là tất cả những gì tôi muốn nghe đấy. Nhưng tôi phải diễn trước Nàng,… vào ngày kia.
Nàng à? Và tôi lặp lại rất to, vô ý tứ:
– Trước Nàng,… Nàng nào? Trước ai đây?
René Leys không tỏ ra do dự chút nào.
– Trước “Nàng thứ nhất” của tôi. Nàng “kia” thì không thể yêu cầu gì cả.
Chàng trai trẻ này hạnh phúc và đắc thắng làm sao, khi đánh số tình yêu của mình như thế! Cầu cho chế độ đa thê thống trị lâu dài giữa những viên chức thánh thiện nhất của Quốc gia! Tôi hẳn là không thể hình dung ra là Nàng, với các yếu tố đế chế của mình, bị hạ xuống chỉ còn là con số số học. Thế nhưng, René Leys có lý. Vì sự đúng mực, nàng tì thiếp được ban tặng, được chấp nhận, được chiếm hữu, được “khai bảo” đó vẫn là con số hai được ghi theo cột trong hệ thống kế toán mới này.
Tuy nhiên, một cách đứng đắn, tôi muốn chỉ trích chàng, hạ chàng xuống cùng một mẫu số chung, cùng các thừa số chung, nhưng… cách mạng! Trong Hoàng Cung, người ta nói gì về những chuyện xảy ra hiện nay – trong những ngày mà chúng ta sống đây, ở Tam cấp Thành Vũ Xương, Hán Dương và Hán Khẩu?
Nhưng chàng bỏ đi, chân bước nhẹ nhàng, sau khi hạ màn buổi diễn. (Một cử chỉ không thể dịch ra trong ngôn ngữ sân khấu Trung Hoa!) Chàng rất ý thức về việc đã sắm rất tốt “vai diễn của mình trước tôi”. Chàng sẽ an tâm diễn kịch cho Nàng mà không thấy sợ, từ nay về sau. Chàng bỏ đi, bước chân nghe như mãn nguyện.
Tất cả những gì còn lại là cuộc nổi dậy bên sông Dương Tử. Diễn ra cách đây chính xác là một ngàn cây số, ở miền Nam, cuộc nổi dậy ở cũng hơi xa đấy. Và nhìn từ đây, tức từ giữa sân trong nhà tôi, cùng với những phong cách kịch nghệ thanh lịch, thì cũng hơi… tỉnh lẻ.
(Trích từ trang 235 đến 240)

____________

(Chủ thích của người dịch)

[1]  Thành Bắc Kinh được làm mới, mở rộng thêm từ khi Hoàng đế Vĩnh Lạc nhà Minh (tức Minh Thành tổ, ở ngôi 1403-1424) cho dời đô từ Nam Kinh (Kim Lăng) lên. Khi người Mãn Châu chinh phục được Trung Hoa, lập nên triều Thanh (1664-1911), họ cũng chọn nơi này làm kinh đô và không thay đổi gì nhiều về mặt kiến trúc. Nhưng họ dồn người tộc Hán mà họ cai trị ra ở Ngoại Thành (nên khu thành này được người phương Tây quen gọi là “Chinese City” hay “Ville chinoise”), và chỉ để cho người Mãn Châu và đồng minh tin cậy của họ là người Mông Cổ (Tatar, tức Thát Đát) ở trong Nội Thành (mà người phương Tây gọi là “Tatar hay Manchu City”, hay “Ville tartare hay mandchoue”).

Thành cổ Bắc Kinh, vào thời điểm của truyện này (1911, năm cuối cùng của Thanh triều), vẫn giữ diện mạo như xưa, vẫn được phân thành bốn vòng thành, kể từ trong ra ngoài:

1.Cung Thành hay Hoàng Cung, tức Tử Cấm Thành. (Tử là màu tía, vì các bức tường cao sơn màu tía bao quanh cấm thành), do Nguyễn An, (1381-1453), một nhà kiến trúc người Việt bị nhà Minh bắt về Trung Hoa và bị thiến thành hoạn quan, vẽ kiểu và chỉ huy công trình xây cất. Nó có hình chữ nhật, rộng 72 ha, 980 cung và 8707 gian phòng. Còn gọi là Đại Nội hay Nội Cung. Ngày nay gọi là Cố cung.

2. Hoàng Thành, gọi là “hoàng” vì mái các cung điện được lợp bằng ngói lưu li màu vàng, màu chỉ dành cho nhà vua, bao bọc xung quanh Tử Cấm Thành.

3. Nội Thành, hình vuông, mỗi chiều dài khoảng 6 cây số, nằm bao quanh Hoàng thành. Vào gần cuối thế kỷ 19, nhờ vũ lực, các cường quốc phương Tây (và Nhật Bản sau đó) đã thiết lập được “Khu Công sứ quán” ở phía Đông Nam và để cho kiều dân mình đến sinh sống ở đó.

4. Ngoại Thành, nằm ở phía Nam Nội Thành, có hình chữ nhật, dài 8, ngang 3 cây số. Ở đây có Thiên Đàn và đàn Tiên Nông nằm gần nhau.

2.  Hoàng đế Quang Tự, tên là Tái Điềm, lên ngôi năm 1875 khi mới bốn tuổi, dưới sự nhiếp chính của Thái Hậu Từ Hi. Sau cuộc cải cách chính trị “Bách nhật Duy tân” (hay “Chính biến Mậu Tuất”, 1898) thất bại, ông bị Từ Hi hạ ngục cho đến khi chết (1908).

3.Ngày trước, tên thật của bất cứ nhà vua nào đều không được nói (hay viết) ra, nếu có là “phạm húy”, một tội nặng.

4 .Nguyên văn: Rue des Légations, là phố tập trung các sứ bộ ngoại giao nước ngoài, nằm trong khu thành Thát Đát, về phía đông nam Tử Cấm Thành. Nó được hưởng qui chế đặc biệt là trị ngoại pháp quyền (exterritorialité). Đây là nơi tập trung nhiều người nước ngoài. Kiến trúc và tiện nghi theo kiểu phương Tây.

5. Có lẽ tác giả muốn nói đến “yêm cát thư” (giấy chứng nhận đã bị thiến) mà các người muốn làm thái giám phải trình ra khi xin việc.

6. Tức Thái hậu Từ Hi (1835-1908), xuất thân là một phi tần của vua Hàm Phong (trị vì 1851-61), được lên làm hoàng hậu nhờ sinh con trai. Sau khi Hàm Phong qua đời, bà trở thành thái hậu vì con trai là vua Đồng Trị nối ngôi mới có sáu tuổi. Bà “thùy liêm thính chính” (rủ màn nghe việc nước), tức là ngồi sau rèm khi họp triều để nghe các quan báo cáo, bàn cãi và quyết định các việc chính trị. Và với danh nghĩa nhiếp chính này, bà một mình thống trị Trung Quốc suốt 48 năm đầy biến động và loạn lạc, qua hai đời vua Đồng Trị và Quang Tự, cho đến khi chết lúc 73 tuổi, chỉ 5 năm trước khi Thanh triều cáo chung.

7. Tiếng tôn xưng Từ Hi khi bà về già.

8. Người Trung Quốc ngày trước thường nhìn người nước ngoài như “man di mọi rợ”. Người da trắng thì bị gọi là “bạch quỉ”, “ngoại di”, “ngoại quỉ”, “rợ” (barbare)…

9. Paul Féval (1816-87), nhà văn Pháp chuyên viết truyện kiếm hiệp hay truyện lâm ly thống thiết đăng dần từng kỳ trên báo.

10  Đây là màn mở đầu cuộc Cách mạng Tân Hợi,1911 (gọi là “Song Thập”, tức ngày 10 tháng 10 năm 1911)…

11 .Vũ Xương (Wuchang), Hán Dương (Hanyang) và Hán Khẩu (Hankou) là ba thành phố nằm sát nhau, bên sông Dương Tử, ngay giữa nước Trung Hoa; cả ba sau này hợp thành đại đô thị Vũ Hán (Wuhan).

12. Herbert George Wells (1866-1946), nhà văn người Anh, được mệnh danh là một trong những “cha đẻ của khoa học viễn tưởng”. “Anticipations” (Những sự dự đoán) là tên gọi tắt của một tác phẩm của ông, được bán chạy khi ra đời năm 1901, dự đoán những tiến bô khoa học, kỹ thuật… của thế giới vào năm 2000.

13.  Tác giả nhắc đến câu nói nổi tiếng trong cuộc Đại Cách mạng Pháp 1789. Sau khi nhà ngục Bastille (Paris) bị dân chúng tràn vào phá bỏ (ngày 14-7-1789, sau này thành ngày quốc khánh Pháp), vua Louis thứ 16 đang trị vì hỏi: “Đó là một cuộc nổi loạn hay sao?” và Công tước De la Rochefoucault-Liancourt trả lời: “Tâu Bệ hạ, không đâu, đó là một cuộc cách mạng.” Ba năm rưỡi sau, ông vua này bị đưa lên đoạn đầu đài.

14.“Cuộc gặp gỡ trong ruộng dâu” là một vở tuồng nổi tiếng trong kịch mục đời nhà Nguyên, kể chuyện một người chồng trở về nhà với vợ sau hai mươi năm xa cách, nhưng muốn thử lòng chung thủy của nàng bằng cách không cho nàng biết mình là ai.

15.Nguyên văn “K’ai-paolée” (kai bao, tức khai bảo), có nghĩa mở tã lót, tã bọc (của cô gái còn trinh).

Read Full Post »

Thời gian

BAN MAI

 

 

Tranh Kieron Williamson ,nước Anh ,8 tuổi

 

Một lần anh hỏi Ước mơ của tôi là gì? Tôi chợt nhớ đến mùa hè xa…

Năm 1980, chị em tôi tíu tít khi ông Chín từ Sài Gòn về Quy Nhơn. Chúng tôi thích thú, cái gì ông cũng biết, đêm nào chúng tôi cũng cùng ông ra bờ biển hóng gió và chơi nhảy sóng. Nhìn trời đêm lấp lánh, ông dạy cho chúng tôi cách nhận ra những chòm sao. Nào là chòm sao Lạp Hộ dễ nhận thấy nhất trên bầu trời. Trong thần thoại Hy Lạp, Lạp Hộ là người khổng lồ cầm quả chùy thần. Còn đây là chòm sao Nhân Mã tốt bụng sáng rực rỡ phương Nam. Tôi nhìn theo tay ông chỉ mà không thể phân biệt được chòm sao nào với chòm sao nào. Ông còn tập chúng tôi truyền tin bằng tín hiệu Morse và Semaphore, tín hiệu thường liên lạc giữa các tàu trên đại dương. Ước mơ của cháu là gì? Ông hỏi. Thời gian đó, tôi đang nghiền ngẫm tủ sách Học làm người của Nguyễn Hiến Lê và say mê những tác phẩm kể về cuộc đời của các vĩ nhân. Tôi đọc hết những gì tôi bắt gặp trong tủ sách. Công thần Nguyễn Trãi nước Việt, tể tướng Ngũ Tử Tư nước Tàu, thủ tướng Ấn Độ Gandhi, tổng thống nước Mỹ Roosevelt, nữ bác học Marie Curie… Tôi thường mơ về họ. Nên khi ông hỏi, tôi nói không suy nghĩ: Cháu sẽ bay vào vũ trụ khám phá các vì sao. Ông bật cười sang sảng, tiếng cười ông ngân vang, òa vỡ trên từng lớp sóng. Sóng uốn đến tận giải ngân hà.

 

Một buổi tối, chúng tôi thấy ba mẹ căng thẳng, mẹ tấm tức khóc – ông Chín mất rồi, sau chuyến vượt biển. Chị em tôi bàng hoàng. Mấy đêm liền tôi không ngủ, tôi lên sân thượng nhìn trời đêm lấp lánh, tôi nhớ đến những chòm sao của ông ngày trước. Đây là sao Oméga trong chòm sao Nhân Mã, cụm sao già sáng nhất trên trời. Ước mơ của cháu là gì? Cháu sẽ là nữ phi hành gia đầu tiên bay vào vũ trụ. Đó là ước mơ can đảm nhất mà ông từng nghe. Ước mơ của tôi vỡ tan sau tiếng cười của ông ngày ấy.

 

Giờ đây, tôi chỉ mơ ước làm một con người bình dị trên trái đất này, sống hết mình với cuộc đời để đi trọn một kiếp người. Điều mơ ước nhỏ nhoi ấy, liệu tôi có thực hiện được không? Anh và tôi, những ngã rẻ của cuộc đời.

 

Có lần tôi nghe tiếng anh gọi, tôi chạy tìm nhưng không thấy đường đi, một bức tường nước thẳng đứng chắn lối qua sông. Người ta nói, tôi phải lên tầng tháp bên sông cầu nguyện, ở đó sẽ có câu trả lời. Tôi chạy lên thang gác lên những tầng tháp, nhìn vào đâu cũng bắt gặp những căn phòng trống, không bóng dáng, không gương mặt, không một nét người. Tôi chạy và chạy, tôi dừng chân khi chạm một căn phòng lạ. Giữa phòng là một hồ nước, trôi bềnh bồng hai chiếc giường tre, xung quanh hoa sứ trắng bập bềnh, hai đôi nam nữ đang nằm ngủ yên trên hai chiếc chõng tre ấy, gương mặt bình thản, thiên thần. Tôi thành tâm cầu nguyện và chạy xuống thang gác, đã gần hết giờ qua sông, bức tường nước đã biến mất, người lái đò đang đợi tôi. Tôi cặp bến và thấy mình đứng trên bến xe, ba và một người chị của tôi đang mong ngóng, tiếng ba nói, trễ giờ rồi con, mau lên đi.

 

Tam Đảo, 7g30 sáng.

 

Tôi choàng tỉnh, trễ rồi Tâm ơi, tôi hét lên khi nhìn đồng hồ. 8g phải có mặt tại hội trường. Cả hai cuống quýt mặc quần áo, và chạy lên tầng 3 vào phòng ăn sáng. Cả đoàn bật cười khi thấy chúng tôi vào. Đêm đầu tiên, cả đoàn hốt hoảng khi nghe tiếng Tâm thét trong hành lang, điện khách sạn bị cúp, ngọn nến leo lét trên vách tường, Tâm run rẩy khi thấy một bóng đen bên ngoài khung cửa. Khách sạn dựa lưng vào vách núi, trong khuôn viên của một giáo đường. Tôi liên tưởng đến truyện đường rừng, những thước phim kinh dị, đêm đen lạnh với gió hú trong những vòm cây. Giấc ngủ chập chờn, tôi thấy bóng các giáo sĩ lướt qua dãy hành lang dài hun hút.

Dự án về môi trường làm việc và thảo luận trong các buổi sáng, giấc chiều chúng tôi được tự do. Những buổi chiều, nắng trên từng con dốc nhỏ. Tôi lang thang trên những con đường vắng, quanh co. Không khí mát lạnh và ngập đầy hương rừng. Tôi dừng lại một quán ven đường, người ta bán sáp mật ong ngâm rượu, chuối rừng ngâm rượu, vài túi thổ cẩm. Ở đây có một giáo đường Pháp xây dựng từ đầu thế kỷ và hàng trăm ngôi biệt thư bằng đá nhưng đã bị Việt Minh phá hủy trong trận Vĩnh Yên. Một ông già người bản địa nói. Trời ơi, tiếc ơi là tiếc, tôi than. Ước gì còn những ngôi biệt thự này thì đẹp biết bao. Dấu tích còn sót lại mà thỉnh thoảng tôi nhìn thấy là những bức tường đỗ nát đầy rêu phong, cỏ mọc ngút ngàn. Chung quanh tôi bạt ngàn lá rừng và hoa dại mọc dầy trên các vách. Những khách sạn mới được xây chen chúc dựa lưng vào núi, đủ phong cách không ai chịu nhường ai. Khách sạn Thế giới xanh diêm dúa bên cạnh Nhà nghỉ Bộ Kế hoạch-Tài chính thô sơ, khách sạn Star tân thời bên cạnh Nhà nghỉ Văn phòng Chính phủ lạc hậu, khách sạn Hoa Hồng xuống cấp, khách sạn Hương Rừng quyến rũ, cảnh vật bị phá hủy vì những kiểu kiến trúc thiếu thẩm mỹ, phô trương. Từ cửa sổ phòng mình, nhìn toàn cảnh Tam Đảo, tôi thích thú khi phát hiện một ngôi biệt thự màu trắng đã cũ nằm ẩn mình thật xa trên núi cao, có lẽ từ thời Tây. Tôi phấn khích rủ Tâm hôm nào được nghỉ sớm, mình lên trên ấy. Tâm la, Mai leo tuốt trên đó, chắc khuya mình mới về, nhìn vậy nhưng xa lắm. Sương mù dày đặc không thấy đường đâu, nhưng hấp dẫn quá…Tôi nói.

Cơm chiều xong đã 7g tối, tôi và Tâm – cô bạn cùng phòng dân miền Tây – đi dạo trên con dốc vắng. Đêm sáng lạnh vì ánh trăng non, chúng tôi ngồi uống cà phê bên dòng suối dưới con dốc ven đường. Quán cà phê Internet đường truyền chập chờn, làm khách nước ngoài chán ngán bỏ về. Cà phê miền Bắc quá tệ, không thể tìm đâu ra được hương vị thơm nồng, đậm đặc, dẻo ngọt như cà phê Pleiku, tôi vừa uống ở quán Tân Tây Nguyên hai tuần trước. Pleiku mưa tuôn xối xả, ngồi trên chòi cao, gió tạt ướt cả áo, cả nhóm vừa uống vừa run vì lạnh. Nhưng thỏa mãn vì cà phê quá ngon không uổng công cả bọn cuốc bộ mấy cây số, cũng đường đèo dốc như Tam Đảo.

Đêm khuya, không khí và khung cảnh nơi này thật huyền ảo. Gần đến rằm Vu Lan tháng 7, trăng giát vàng lóng lánh mặt suối. Tôi ước gì anh có mặt ở đây, anh sẽ yêu tiếng suối đang róc rách chảy, âm thanh vỡ òa của nước tuôn giữa các khe đá trong đêm vắng nghe như tiếng hát.

Côn Sơn có suối, tiếng nước chảy rì rầm, ta coi làm đàn cầm…Côn Sơn của Nguyễn Trãi cách đây hơn 500 năm và Tam Đảo thế kỷ 21 có khác gì nhau đâu, thiên nhiên muôn đời vẫn vậy. Còn tôi và anh có vậy không?

 

Ngày anh trở về chịu tang cha, tôi không hề hay biết. “Mẹ ơi, có chú nào đó đến tìm mẹ ở nhà ngoại”. Tôi lặng người khi nhìn thấy anh ngồi bên cạnh mẹ tôi trong im lặng. Một cảm giác choáng ngộp bao phủ lấy hồn tôi, tôi gần như ngã quỵ chỉ lí nhí “xin lỗi” rồi chạy vào nhà sau, úp mặt vào làn nước cố trấn tĩnh tâm hồn mình nhưng nước mắt cứ trào rơi. Anh về rồi đó sao, đã bao nhiêu đêm tôi mơ về điều ấy… Ngày anh vượt biển, tôi 18 tuổi, tình cảm học trò chưa từng một lần dám nói tiếng yêu thương, chưa từng chạm khẽ tay nhau, có chăng là những ánh mắt. Vì anh tôi khước từ tất cả, những năm học đại học là những năm đợi chờ, những lá thư của anh là niềm hạnh phúc trong tôi. Rồi một ngày, anh viết: “Đừng bao giờ nghĩ đến chuyện vượt biển đó là điều nguy hiểm, hãy quên anh đi”. Ngày ấy, tôi tuổi hai mươi. Lúc đó, tôi vẫn còn là một cô bé đầy kiêu hãnh. Lòng tự trọng bị tổn thương. Tôi cứ nghĩ rằng anh đã có bạn mới nên không muốn gặp mình…. Sau tang cha, anh ở lại một tháng. Tôi không dám một mình đến thăm. Lần lữa mãi cho đến ngày cuối cùng, tôi điện thoại, hẹn ngày mai sẽ đến…. Tôi đứng lặng bên cánh cổng đã khép, giờ này cả nhà anh đang ở phi trường. Tôi đã đến trễ hay cố tình đến trễ? Tôi đẩy cửa bước vào khu vườn, đứng chôn chân trên bậc thềm phòng anh. Cửa đã khóa. Tôi dựa lưng vào khóm trúc, có còn ai nữa không, còn ai nữa không? Cũng trong căn phòng này, ngày xưa tôi thường đến mượn sách, chúng tôi thường nói chuyện trên trời dưới nước, không đâu vào đâu. Sau ngày anh ra đi, những lúc buồn, tôi thường đến thăm cha anh, và xin ông cho tôi ngồi im lặng trong căn phòng này. Một chái hiên nhỏ, phía trước có mấy khóm trúc và lan.

 

Tôi biết anh đau khổ khi trở về chịu tang cha và người mình yêu không đến gặp. Và tôi cũng biết vì sao mình không thể gặp riêng anh. Ngày cũ đã thật xa.

 

Sáng nay, cả đoàn dậy thật sớm để đi leo núi, lên trên đỉnh Tháp truyền hình và đi Thác Bạc. 7g sáng nắng vàng trải thảm lên những con đường nhỏ, trời thật mát. Minh chụp cho chúng tôi mấy tấm hình thật đẹp bên những con dốc. Không khí thật trong lành. Tâm bỗng la lên: “Nhìn kìa Mai ơi, hoa gì mà lạ quá vậy?”. Một vạt đồi sáng rực dưới nắng mai, bởi những màu trắng, đỏ chen chúc. “Bác ơi, hoa gì vậy bác?”. Tôi hỏi một người đàn bà địa phương đang nhặt ngọn susu cho vào mẹt thúng ven đường – món rau thôn quê của Tam Đảo – bà dừng tay, trả lời: “Đó là hoa phù dung. Khi mới nở hoa màu trắng tinh sau một thời gian hoa chuyển sang màu hồng, và khi tàn nó trở thành màu đỏ tươi như máu”. Cuộc đời của loài hoa này, sao giống cuộc đời con người quá vậy, tôi nghĩ. Khi vừa ra đời con người thật trinh trắng, trải qua bao đổi thay, tâm hồn họ cũng bao biến đổi, đến lúc sắp lìa xa cõi đời, con người vẫn còn cố gắng để lại trên đời giọt máu của thân phận mình, chứng tích của một lần có mặt trên thế gian. Số kiếp con người như một loài hoa, dù mong manh nhưng con người vẫn quả quyết không khuất phục tạo hóa.

 

Tôi nhát gan, cái gì cũng sợ. Tôi sợ rắn, sợ vắt và sợ đủ thứ những con côn trùng có thể bám vào cơ thể mình, nên vào rừng tôi che chắn cẩn thận. Mới một phần ba đoạn đường tôi bắt đầu vứt bỏ khăn choàng, áo khoác, mồ hôi tôi túa đầm đìa. Trên núi cây rừng giăng kín và sương phủ mờ, tôi vẫn thấy cơ thể nóng bức, mặc dù bên ngoài hơi sương thấm ướt. Những chú bướm trắng đu mình từng lớp trên những nhánh lá. Tại sao nhiều con nằm chồng lên nhau trên một búp lá như vậy, nó không bay lượn như dưới đồng bằng. Ủ ấm chăng? Hay là mùa giao phối. Tôi thắc mắc. Tôi gặp một nhóm nhà sinh vật học người Tân Tây Lan đang dùng vợt bắt côn trùng. Và suýt bật cười khi thấy ba ông cán bộ bụng to thở dốc, bên cạnh là một người địa phương quang gánh ba lô và thức ăn cho họ, có lẽ dân “Gà Công nghiệp”. Đi một hồi, nhìn quanh không còn ai, tôi và Tâm ngồi nghỉ trên đường ống dây điện cáp quang. Phía trên chắc Ban tổ chức đã lên đến đỉnh, có lẽ mình là người cuối cùng. Ồ không, Tâm mừng quá reo lên dưới mình còn có người nữa Mai ơi. Tôi nhìn xuống nhóm đại học Cần Thơ đang cố bò lên. Nhiều người liếng thoắng: Tụi em lạc đường, phải rẽ qua đền Mẫu thờ Bà Chúa Ngàn. Rằm tháng 7 mà chị, dân dưới núi leo lên đi lễ đông ơi là đông. Tụi em được phát “oản” đây nè. Đây là lần đầu tiên tôi thấy bánh “oản” miền Bắc. Lộc ở chùa phát cho các tín lễ. Ừ hôm nay là 14, lễ Vu Lan, ngày Ngưu Lang – Chức Nữ gặp nhau. Không biết trên Tam Đảo này có cầu Ô Thước cho hai kẻ yêu nhau tìm gặp.

 

… Mai cổ điển quá đi, cô bạn học ngày xưa của tôi cười ngất, tôi cảm thấy bối rối. Bây giờ làm gì có cầu Ô Thước cho hai kẻ yêu nhau tìm gặp. Ngày xưa Ngưu Lang-Chức Nữ yêu nhau say đắm, mỏi mòn chờ đợi đến rằm tháng 7 mới được gặp nhau. Ngày nay hai kẻ yêu nhau ở hai đầu trái đất, chỉ cần một giây bấm máy điện thoại là có thể nói chuyện bất tật. Cuộc sống là một vòng xoay chuyển động không ngừng, H mới từ Cali về, hai đứa ngồi cả buổi nói chuyện tào lao. Tình yêu bây giờ không còn lãng mạn như ngày xưa nữa, H không thấy văn chương Việt Nam đầy dẫy những cảnh sex rẻ tiền đó sao. Vấn đề sex. Trên mạng người ta vứt bộ phận sinh dục nam, nữ vào mặt độc giả chan chát, đọc vào mình thật sự không tin nổi. Tiếng Việt tinh tế, trong sáng của mình đi đâu rồi? Hồ Xuân Hương ngày xưa vẫn viết về sex  nhưng mình thấy thanh không tục. Quan niệm của H thì sao? H nghĩ trong văn chương càng có nhiều giọng văn càng phong phú. Mình đồng ý điều ấy, nhưng có cần phải đầy nhục cảm thô thiển như vậy không. Cái quan trọng là nhà văn phải viết về vấn đề ấy cho tới và có nghệ thuật để người đọc không cảm thấy tầm thường và dung tục. Rừng Nauy của Murakami Haruki cũng sex dữ dội, nhưng đọc mình thấy hay và tức cười nữa, vì Haruki dẫn dắt diễn biến câu chuyện hợp lý người đọc không thấy bị ngượng ngùng trước những cảnh sex rất tự nhiên.

 

Còn quan niệm tình dục ở bên ngoài thì sao? có còn người con gái hiện đại nào suốt đời chỉ quan hệ một người đàn ông? Và sự chung thủy. H nghĩ ở bên ngoài tụi mình quan niệm tình dục tự do và thoáng hơn. Chuyện tình cảm gắn với tình dục bao giờ cũng rắc rối, chỉ cần đừng làm cho người khác đau khổ là không vấn đề gì. Ngoài những quan hệ gây đau khổ cho người khác, thì H nghĩ đó là tự do của họ, và nhiều khi như thế càng tốt đẹp hơn cho cuộc đời. Tôi ngạc nhiên, thích là quan hệ sao, dù đã có gia đình? Cũng còn tùy. Có người dễ dàng ngủ hết người này đến người khác, có người cũng không dễ dàng như vậy đâu. Họ rất coi trọng gia đình. Dân da trắng cũng vậy, cũng tùy người. H cũng đã từng nghĩ mình có khả năng tách quan hệ tình cảm ra khỏi quan hệ thể xác nhưng sau mình biết là mình không có khả năng đó. Thấy người khác hấp dẫn mà người đó không phải là chồng hay vợ của mình là chuyện thường tình, rất con người. Nếu mình không có như thế thì một là mình quá đè nén, hai là mình không thành thật với chính mình.

Tôi im lặng. Tôi hiểu những điều H nói, và dù sao tôi cũng là một phụ nữ Việt, mà người phụ nữ Việt thường luôn đè nén cảm xúc.

 

Tình yêu, tôi biết không phải bao giờ cũng trường tồn mãi mãi, đó chỉ là lý thuyết, nó biến chuyển, thay đổi cung bậc theo thời gian, theo nhận thức của con người trong từng năm tháng. Tùy thuộc rất nhiều vào cách ứng xử của người bạn đời. Tình yêu như mầm cây, người làm vườn phải biết cách chăm sóc, nếu không mầm cây sẽ chết.

Còn tình dục thì sao? Với tôi, tình dục là vấn đề hết sức thiêng liêng. Nó không thể nào là vì bản năng chỉ để thỏa mãn thể xác, và nó cũng không thể xảy ra dễ dàng cho bất cứ một ai. Giữ mình là ý thức tự trọng phải có của một người con gái. Tình dục là nghi lễ của tình yêu và nó chỉ được xảy ra khi hai tâm hồn cùng hòa một nhip. Tôi chắc là H cũng chưa thể hiểu mình. Dĩ nhiên, tình yêu và tình dục là một không thể tách rời. Khi yêu nhau người ta khao khát nhau, nhưng cuộc đời không bao giờ như mình suy nghĩ.

 

…Một ngàn năm trăm ba mươi bảy bậc, tôi và Tâm nhẩm tính, vậy là đã đến đích. Thật sảng khoái.

Trời mù sương không thể nhìn thấy gì ở phía dưới, chỉ là mây và mây. Mây bồng bềnh khắp chốn. Tôi như người trong mơ. Thời gian nơi đây như ngưng đọng. Có phải tôi đang trở về thời thiên cổ và chợt hiểu vì sao nửa thế kỷ trước Đoàn Phú Tứ đã mượn màu thời gian và hương thời gian để tâm tình với người xưa: …Ngàn xưa không lạnh nữa Tần Phi, ta lặng dâng nàng, trời mây phảng phất nhuốm thời gian…

 

Chuyến tập huấn của tôi ngày mai kết thúc. Nhưng tôi sẽ nhớ mãi cảm giác bềnh bồng khi đứng trên những tầng mây. Có một ai đó đã nói, khi bạn bước ra ngoài vũ trụ, nhìn lại quả đất bạn sẽ thấy trái đất mình nhỏ bé vô cùng. Nhân loại như một ngôi nhà chung mà biên giới giữa các quốc gia không còn ý nghĩa nữa. Tôi và anh, những người cùng thế hệ tứ tán khắp phương trời, thất lạc nhau trong cuộc bể dâu, điều gì đã xảy ra… Đồng hồ của chúng ta cũng đã quá trưa, chẳng còn bao lâu nữa tất cả rồi cũng sẽ chìm trôi.

 

Màu thời gian không xanh, màu thời gian tím ngát, hương thời gian không nồng, hương thời gian thanh thanh… Tôi ngước mắt lên ngắm nhìn những lượn mây trắng xóa uốn ngang đầu mình. Lớp sóng thời gian kết bằng mây chẳng khác những lượn triều./.

 

1/2010

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »