Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Thơ ca’ Category

Lâm Bích Thủy

.

Cuộc gặp định mệnh giữa ba tôi và Hàn Mặc Tử

Tôi không tin tạo hóa sinh ra trái đất thì đấng thiêng liêng tối cao nào đó định cho chỗ này là địa linh nhân kiệt, chỗ kia là đất dữ. Nhưng tôi lại tin lời người xưa nói “nếu có duyên với nhau thì sẽ tụ lại”. Nói đâu xa; đấy chính Bình Định quê tôi là đất của sự tụ nhân, tụ thủy, là địa linh nhân kiệt với danh xưng là “Đất võ trời văn” thật 100% . Được như vậy người Bình Định luôn mang ơn sự đóng góp nhân tài từ các tỉnh bạn như Nghệ An với họ Hồ đã đưa người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ – Quang Trung; quê Hà Tĩnh với duyên kỳ ngộ cha Đàng Ngoài mẹ ở Đàng Trong đã cho quê tôi nhà thơ tình Xuân Diệu”; và cảm ơn đất Quảng Trị đã đưa đến một Chế Lan Viên với những sáng tạo mới mẻ, hiện đại nhất trong bút pháp”. cảm ơn đất Quảng Bình đã tặng một Hàn Mặc Tử để rồi có cuộc gặp gỡ giữa ba tôi-nhà thơ Yến Lan và Hàn Mặc Tử định mệnh làm nên nhóm thơ “Bàn Thành tứ hữu” đã mang đến những giá trị nhân văn sâu sắc làm rạng danh cho quê hương Bình Định…:

Cuộc gặp mặt này được ba tôi kể lại:

– Một sáng chủ nhật, khoảng giữa năm 1930, tôi đang chép lại bài thơ mới làm hôm qua, thì nghe tiếng gọi ngoài cổng chính.

Tôi nghĩ: chắc là có khách lạ muốn đến thăm đền (vì người quen tất phải biết ngõ phụ luôn mở rộng ở phía Bắc của góc tường thành) Tôi bước ra, nghe tiếng của hai trang nam tử. Biết là người xa đến vãn cảnh, tôi chào, rồi chỉ hướng cho họ vào đền. Khách mặc âu phục sang trọng: Một, hơi lớn tuổi, nói giọng Bắc, rất chỉnh tề trong bộ Tropical, một là thanh niên mặc nguyên bộ tơ De-ligaon, đội mũ Panama. Đang đi, người trẻ tuổi bỗng ngoặc sang phải, lối hàng rào chè, rẽ sang một góc sân. Ở đó có cây lựu lớn đang nở hoa đỏ rực. Anh níu bẻ một nụ rồi tặng cho người bạn đồng hành, miệng đọc câu Kiều:

Ngoài hiên quyên đã gọi hè

Đầu tường lửa lựu lập lè đơm bông

Rõ ràng là những vị khách thuộc loại hào hoa, ít gặp ở đây. Vừa lúc ấy cha tôi bước ra, hướng dẫn họ đến bên tấm bia đá và mở cửa mời vào chính điện. Tôi trở lại tràng kỷ, làm tiếp công việc bỏ dở. Được một chốc hai người đi xuống. Cha tôi đưa họ vào nghĩa tự, mời ngồi trên tràng kỷ và đưa mắt bảo tôi xuống nhà lấy bộ bình trà bằng sứ chuyên dùng tiếp khách quí. Có lẽ tờ giấy mà tôi còn bỏ ngỏ trên bàn có những dòng chữ và cách trình bày giống dạng một bài thơ đã làm cho người trẻ tuổi chú ý. Anh hỏi tôi:

– Cậu đang chép thơ à? Tôi bẽn lẽn gật đầu:

– Dạ, vâng.

– Thơ của bác hay thơ của cậu đấy?

– Dạ thơ của tôi. Im lặng một chốc, anh lại hỏi:

– Cậu làm thơ lâu chưa? Đã đăng ở đâu chưa?

– Tôi mới võ vẽ, cũng có bài được đăng báo.

– Cậu lấy bút danh là gì?

– Tôi ký Xuân Khai. Người trẻ tuổi vui hẳn lên, anh cười:- Vậy tôi với cậu là đồng nghiệp với nhau. Xin tự giới thiệu, tôi là Phong Trần, là Hàn Mặc Tử. Anh quay sang người trung niên, vẻ quí trọng:

– Vị này là nhà văn, tác giả “Kép Tư Bền”, tập truyện ngắn vừa mới xuất bản đang được cả nước hoan nghênh. Tôi thốt lên một tiếng “À” vui vẻ:

– Hóa ra ông là nhà văn Nguyễn Công Hoan. Tôi đã đọc và đã biết nhiều về ông, nhất là trong cuộc bút chiến với báo Phong Hóa, Ngày Nay về tập chuyện dài “Lá ngọc cành vàng “của ông

Lúc ấy nhà văn Nguyễn Công Hoan như tự nhiên có thêm những cảm xúc không ngờ. Ông nhìn tôi một cách triều mến.

Hàn Mặc Tử thì gật đầu thích thú, anh tiếp lời:- Nhân đây ông làm một cuộc viễn du từ Bắc vào Nam để tạ lòng ủng hộ của tác giả mà mình hâm mộ. Hôm nay tôi đưa ông lên thăm một vài cảnh đẹp ở đây, rồi sẽ lên Phú Phong, mảnh đất lịch sử của quê ta. Nhân dịp này ta làm quen với nhau vậy. Tôi đang sống với gia đình tại 20 đường Khải Định-Qui Nhơn. Có đi Qui Nhơn mời cậu ghé chơi, chúng ta là đồng nghiệp với nhau mà.

Chúng tôi gắn bó với nhau từ buổi ấy. Tôi kể chuyện này với Chế. Chế cho biết đã quen với Tử rồi và cũng muốn có dịp nào đó sẽ giới thiệu tôi với anh.

Sống giữa lòng Bình Định, những chiều hiu hiu nắng quái, tôi và Chế Lan Viên thường lên lầu cửa Đông mà hai đứa tôi gọi là lầu tư tưởng, phóng tầm mắt nhìn bao quát thị trấn, rồi vọng đến những chân trời xa tắp, lòng ngậm ngùi cho mảnh đất quê hương đã trải qua lắm cuộc đổi thay. Có lúc chúng tôi nghĩ xa hơn đến các triều đại của quá khứ, từng nối tiếp nhau đến sự thăng trầm biến thiên của lịch sử, rồi bàn nhau cùng viết về cảnh điêu tàn, những cuộc đời dâu bể. Hoan đi sâu vào sự đau thương, tàn tạ, thịnh vượng, làm sống lại những lễ hội, sinh ca của các hệ tộc quyền quí, rồi binh biến máu lửa thay cho một thuở thanh bình. Tập thơ của Chế, tên “Điêu tàn”.

Thành Đồ Bàn cũng thôi không nức nở

Trong sương mờ huyền ảo lắng tai nghe

Từ một làng xa xôi bao tiếng mõ

Tan dần trong im lặng của đồng quê..

Tập thơ của tôi là “Giếng loạn”. Nghe tôi đôi lần đề cập đến “Giếng loạn” Tử rất muốn xem (lúc này anh đang bệnh). Tôi mang xuống cho anh. Khoảng một tuần sau, Tử đưa trả bản thảo và nói:- Tôi đã xem hết tập thơ rồi. Có một số xúc cảm nên cố làm một bài riêng tặng cậu. Anh lấy ở túi áo ra trao cho tôi và trân trọng nói: – Đây cứ coi như một bài bạt sơ khảo; mà tôi thấy cái nhan đề không ổn. Sao cậu không viết là “Giếng lạng” lại viết là “Giếng loạn”? Tôi đáp: “Có vấn đề về ngôn ngữ tôi muốn thảo luận với anh đấy.”

Rồi tôi và Tử bàn nhau hồi lâu, sau cùng thống nhất là “Giếng loạn”. Loạn ở đây là loạn lạc, đầy đủ ý nghĩa hơn, lạng là bỏ hoang. Bài thơ Tử tặng tôi chính là bài “Trăng tự tử” mang dáng dấp của một bài bạt cho cả tập thơ. Tôi đã có chủ ý sẽ in nó vào tập “Giếng loạn” khi xuất bản. Nhưng bản chép tay ấy với cả tập thơ bị thất lạc, lúc đi sơ tán, ngày Pháp mở chiến dịch Át-lăng đánh vào Qui Nhơn. Bản in trên các sách hiện nay là bản lưu từ trong xấp di cảo do anh Quách Tấn giữ.

Buổi sáng hôm ấy, tôi nhớ dường như sáng 28 Tết âm lịch, năm 1938. Tôi và Chế Lan Viên đến thăm anh. Khi ấy bệnh Tử đã nặng! Mới bước vào cổng nhà, tự dưng tôi có cảm giác căn nhà hiu quạnh quá. Thấy chúng tôi, mẹ Tử bước ra thềm hè, rơm rớm nước mắt:

-Trí đi rồi các anh à! Cò bót không cho nó ở nhà nữa, vì sợ lây bệnh, bắt phải đưa vào Qui Hòa, Tết nhất đến nơi rồi, nếu đưa nó vào trong ấy thì tội lắm. Nhà cập rập quá, nên lén gửi tạm nó vào trong xóm Động. Các anh có đi thăm thì em Hành đưa đi. Nó vừa chạy đâu đó.

Đợi lâu không gặp Hành, hai đứa tôi hỏi thăm vào xóm Động. Đấy là cái xóm nhỏ của những người lao động nghèo, nằm trên một bãi cát rộng mênh mông, khoảng khu VI Qui Nhơn bây giờ. Nhà ở chỉ là những túp lều dựng tạm bợ trên cát, không có nền. Đồ đạc, giường, tủ, bàn, ghế cứ đặt nguyên trên cát. Đường đi vào cũng quanh quất cơ hồ khó tìm ra.

Chúng tôi vào một cái chòi lợp tranh nhỏ hơn một cái chái bếp. Nóc chòi được chống lên bằng hai cây cột tre. Một tấm phên ngắn dọc theo chiều dài của nóc, ngăn chòi làm hai: nửa trước sinh hoạt bình thường, nửa sau hình như có đặt một chiếc chõng tre với lỉnh kỉnh những thúng mủng..

Trước tấm phên là cái bàn ọp ẹp, chỉ còn lại một chân trước nối với một khúc củi đẻo từ chảng ba, hai chân sau cột vào hai cọc tre chống mái nhà, Tử đang ở trong ấy (đây là nhà của một phu kéo xe). Nghe tiếng chúng tôi, Tử chậm rãi bước ra, vẻ mệt nhọc:

– Hai cậu vào tới đây sao…?

Hoan và tôi ngồi trên ngạch cửa làm bằng một khúc tre, xoay lưng ra ngoài, trò chuyện với anh. Tử gầy, trông hốc hác lắm Anh không vui như mọi khi.

Đang nói chuyện thì có bà cụ đem cho anh hai quả keo chín, Tử nhìn hai đứa tôi:- Thứ này mình thích lắm. Mấy năm còn khỏe, mình thường xách ná cao su đi bắn. Có khi đạn rớt vào nhà Tây, mình ba chân bốn cẳng chạy nhanh như sóc. Thế mà bây giờ .!.Anh thở dài.

Chúng tôi nói chuyện cho tới giờ tan tầm, thì có một bé trai xách làn cơm vào (chắc là em Hành) Khi cái xách cơm đặt nghiêng nghiêng trên bàn, em lẫn ra phía sau. Tử vẫn giữ cái vẻ thản nhiên, gợi thêm một vài ý nhỏ về thi ca sách vở. Sợ anh mệt và cũng quá giờ chúng tôi đứng lên tạm biệt. Tử nhìn, đôi mắt anh buồn vời vợi

Sau này, mới biết sau cái Tết ấy, gia đình còn cố giấu anh ở mấy nơi nữa rồi mới vào Qui Hòa.

Khi Tử mất, mỗi lần nhớ tới anh, tôi lại ngậm ngùi đọc “Những giọt lệ” của anh

Trời hởi! Bao giờ tôi chết đi

Bao giờ tôi hết được yêu vì

Bao giờ mặt nhật tan thành máu

Và khối lòng tôi cứng tựa si?

Họ đã xa rồi khôn níu lại

Lòng thương chưa đã, mến chưa bưa

Người đi, một nửa hồn tôi mất

Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?

Ai đem tôi bỏ xuống trời sâu

Sao bông phượng nở trong màu huyết

Nhỏ xuông lòng tôi những giọt châu!

Tôi không biết anh viết bài thơ này để nói đến một tình huống nào. Có người bảo là anh viết để than thở về một mối tình trong bao nhiêu mối tình dang dở của mình. Nhưng tôi cứ nghĩ cảm xúc đó bắt nguồn từ buổi sáng hôm ấy, buổi sáng mà tôi và Hoan còn ngồi bên Tử, trong túp lều đơn sơ ở xóm Động…

Quả thật tôi không ngờ, lần chia tay ấy là lần vĩnh biệt.

Read Full Post »

Giả dụ

Hồ Tịnh Văn

.

Giả dụ lòng anh hình chữ nhật

Em sẽ đem chiều rộng cộng chiều dài

Nếu anh bảo chu vi là sở thích

Em sẽ dùng tổng thể để nhân hai

Giả dụ lòng anh là quyển vở

Chữ viết lên tha thiết những trang lòng

Em sợ lắm nhìn lâu không dám mở

Bởi lo rằng giấy có thấm tình không?

Giả dụ một đêm mùa khô hạn

Lòng em khát cháy những ngọt ngào

Anh là mưa tưới tâm hồn lãng mạn

Cho trái tim yêu dào dạt những dâng trào

Lòng em chín mời lòng anh thưởng thức

Trái thơm ngon em vẫn để dành

Rồi một ngày em mang ra mời mọc

Hai đứa mình tan biến giữa mông mênh.

CÀ PHÊ VÀ NỖI NHỚ

Cà phê một mình

Giữa phố phường đông đúc…

Em nhớ anh!

Ly cà phê Sài Gòn và nỗi nhớ xanh

Hàng phi lao trước biển

Nơi em đến

Là nơi không anh.

Thêm một đêm

em trằn trọc!

Thêm một đêm

thiếu giấc mộng lành!

Chỉ có dáng hình anh án ngữ

Chỉ có đôi mắt anh xoay tròn nỗi nhớ

Chỉ có cặp môi tình khao khát trao anh!

Đêm nay

Em lại nhớ anh

Cơn mưa rả rích

Cơn gió lay rụng tấm chân tình

Chỉ còn em và nỗi nhớ

Tròng trành

Cõi không anh…

Read Full Post »

Gọi

Phạm Minh Châu

Sự giằng co ở giữa khoảng không

chỉ gió, mây và hơi nước

những thực thể được coi là vi sinh vật

đã ngấm đầy thời gian

dòng nước trôi đi, mây trôi đi

bởi vận hành của gió

sự nghiêng đã tạo thành độ dốc

cho dòng chảy không thôi

.

Phiến đá trầm ngâm

đối diện

Không nhận ra

trong thế giới con người

còn ẩn đó đây chất của loài quỷ dữ

hành trình triệu năm chỗ thiếu, chỗ thừa

thành bão nổi

xin một phút ăn năn và thú tội

để lòng thanh cao

xin ước mơ bay đến những vì sao

dẫu biết là xa lắm

Gọi những linh hồn còn chút cơ may

còn được chở che trong vòng tay ấm

được hiện thân

.

Xin gửi ngày mai

phảng phất vô hình

lời giải bày thánh thiện

xin chữ lành

dài như sông, như biển

như lòng mẹ bao dung

bởi cuộc đời có có, không không

để thanh thản hướng về phía trước

sự nhắm mắt cho người nhận thức

nghiền ngẫm nhân sinh

.

Nếu không có chiến tranh

thì chẳng có khái niệm hòa bình

và thế giới chỉ có màu xanh thơ, nhạc

anh và em cùng nắm tay ngân nga câu hát

ca ngợi sự mềm mỏng của tình yêu

để tháng ngày được sống bên nhau

để tồn tại cuộc đời là không vô nghĩa

đêm mùa đông

dậy,

thắp cho nhau một chút lửa

Chờ…

nắng lên./

Read Full Post »

.

1-

ráng chiều

rớt xuống thinh không

nắng mong manh quá,

tang bồng nơi đâu??

tôi còn

khép nép bên cầu

căng khung vẽ trộm mắt màu hoàng hôn

.

2-

rối lòng , em mượn thơ làm rượu

rải trên sóng mắt mà đưa hương

anh ạ! một ngày vừa ghé đến

bình minh là cổng, mở thiên đường ..

.

3-

à chia tay nhau rồi đó

mà,

chiều lạ nhỉ

con gió im thinh!?

chẳng níu dang dở chúng mình

để ta,người ấy..

bóng hình mờ phai

là chia tay nhau hở ai…

gió sao không nhắn

chờ mai

hẹn ngày..

chưa kịp nhờ gió tỏ bày

chiều nay chan lệ,

ơ hay!

một người..

.

4-

ước là cơn mưa nhỏ

rơi bên hiên, vội vàng

hồn nhiên như hoa cỏ,

nheo mắt cười mà thôi..

.

ngang qua con đường nắng

thấy mùa hạ đến gần

ngang qua bậc thềm vắng

hoa lòng rụng đầy sân..

.

chiều rưng rưng cánh khói

nghe sao nhớ một người!

có nhũng điều khó nói

hồn như một bài thơ

.

5-

đê𝚖 𝚋𝚞ô𝚗𝚐 𝚖ộ𝚝 𝚝𝚒ế𝚗𝚐 𝚝𝚑ở 𝚍à𝚒

𝚌𝚑ừ𝚗𝚐 𝚗𝚑ư 𝚗ỗ𝚒 𝚗𝚑ớ 𝚛ơ𝚒 𝚗𝚐𝚘à𝚒 𝚑𝚒ê𝚗 , 𝚖ư𝚊..

𝚕á 𝚖ù𝚊 𝚝𝚑𝚞 𝚕ạ𝚌

𝚗𝚐õ 𝚝𝚑ư𝚊

𝚑𝚊𝚢 𝚊𝚗𝚑 𝚖ộ𝚗𝚐 𝚟ớ𝚒 𝚗𝚐ườ𝚒 𝚡ư𝚊 𝚝𝚑ì 𝚝𝚑ầ𝚖!?

𝚝𝚑á𝚗𝚐 𝚋ả𝚢 𝚟ề 𝚔𝚑ô𝚗𝚐 𝚝𝚑𝚊𝚗𝚑 â𝚖

𝚎𝚖 ươ𝚖 𝚗ố𝚝 𝚑ạ𝚝 𝚝ừ 𝚝â𝚖 𝚗𝚐𝚞𝚢ệ𝚗 𝚌ầ𝚞

𝚝𝚑ô𝚒 𝚊𝚗𝚑 đừ𝚗𝚐 𝚗ữ𝚊

â𝚞 𝚜ầ𝚞

𝚗𝚐ủ 𝚗𝚐𝚘𝚊𝚗 𝚗𝚑e 𝚖ộ𝚗𝚐

𝚋𝚊𝚗 đầ𝚞,

đầ𝚞 𝚝𝚒ê𝚗..

.

6-

“𝚗𝚐ủ đ𝚒 , 𝚗𝚐ủ 𝚗𝚑ữ𝚗𝚐 𝚟ầ𝚗 𝚝𝚑ơ

𝚗𝚐ủ 𝚌𝚑𝚘 𝚜𝚊𝚢 𝚖ộ𝚗𝚐 𝚖𝚘𝚗𝚐 𝚌𝚑ờ 𝚝𝚛ă𝚖 𝚗ă𝚖”

( NBV)

.

từ thơ tôi hoá điên rồ

ôi người dành dỗ ngôn từ

ghi ơn!

mai về cắn nát nỗi hờn

mà thôi buồn đã từng cơn chín già.

Read Full Post »

Khi ta hôn nhau

Tần Hoài Dạ Vũ

Khi ta hôn nhau trời đất cũng bàng hoàng

Mây xuống thấp và cuộc đời nín thở

Em cởi áo lòng thế gian chín đỏ

Anh rùng mình quỳ gối tạ hồng ân

.

Hãy hôn đi hôn lại đến ngàn lần

Đồi trăng mọc và suối hoa thổn thức

Tình đã đẹp trong vòng tay hiện thực

Hạnh phúc nào không rực lửa đam mê

.

Say gối chăn mùa xuân mới trở về

Em thảng thốt níu vai đời mê đắm

Con trăng sáng phia chân trời xa thẳm

Soi lòng ta rạo rực buổi quên đời

.

Có ai về dạo lại khúc đàn hơi

Chiều nín thở và đêm xanh tiếng hát

Hương hoa quỳnh dịu dàng môi thơm mát

Ta hôn nhau trời đất biết giao hòa

.

Ta hôn nhau cho đời hóa bao la!

Read Full Post »

Lê Trung Tín

.

Anh không ở đầu đường

Nhưng chính xác anh là dân xó chợ

Cả một đời anh, anh còn mắc nợ

Giữa mùi cá tanh nồng

Mẹ nuôi anh lớn lên…

,

Bây giờ Mẹ đã đi xa

Chợ đã thành công viên

Anh đã thành ông già gần sáu mươi tuổi đời mục rữa

Anh quay về xóm chợ ngày xưa

Lùi lũi, cô đơn trong căn phòng ngày xưa Mẹ cũng nằm một mình như vậy

Cũng chờ ngày người thân đưa tay vẫy

Anh sẽ nở nụ cười

Không thở nữa

Ra đi

Chuyện luân hồi, kể mãi, mà chi…

Read Full Post »

Trần Vấn Lệ

.

Hôm nay đưa người mất vào cái nhà hỏa thiêu.  Buổi sáng không phải chiều, sao mình buồn ứa lệ?

Bây giờ đang cuộc Lễ, các Sư Thầy tụng Kinh, chiêng, trống, mỏ xập xình, nghe được tiếng nước mắt…

Nghe cái buồn co thắt…nó đau đớn lạ lùng.  Bạn mình vẫn dửng dưng, nhắm mắt và im lặng!

Nhà tang lễ ấm ấm cái hơi người rợn người…

*

Ở nơi không tiếng cười.  Thấy nhau thôi là đủ.  Đưa người đi cho có chút nghĩa tình dương gian…

Cơn mưa bay nhẹ nhàng trên nghĩa trang bát ngát.  Mưa hình như có hạt vang vang trên mái ô…

Hơn mười người đi đưa.  Lặng thầm không ai nói, đến chỗ không ai đợi chỉ hương trầm ngán nghê…

Trầm ngán nghê bay trong lãnh cung

Hương thơm bối rối ngọt vô cùng… (*)

.*) Thơ Hàn Mạc Tử

Read Full Post »

Lê Anh Hoài

.

tôi cô đơn trên xô pha

không ai mơi tôi đi ăn cơm

anh cô đơn trên ngôi cao

sao không ru tôi trưa nay

.

hình ảnh một nhà văn trong em là gì

với tôi là một khuôn mặt ưu tư

nhà văn tiếc thay không phải là diễn viên phim cấp ba

thu nhập không bằng

diễn viên phim cấp ba không khuôn mặt

chỉ cần bộ đồ nghề

đồ sộ vô ưu

chẳng muốn ăn trưa cùng một nhà văn nhiều chuyện

.

lấy nắng cầu mưa

lấy khát thèm cầu thanh cao

lấy sự khiếp nhược làm bệ đỡ trường tồn

lấy lũ ngây ngô bầu nhà hiền triết

lấy lễ lạt rườm rà tuyên bố sự sai trái giản đơn

.

anh quốc phục ngũ thân

em nhất nhật thất thân

tứ tử mì tôm đè tứ quý bộ trưởng

bóng đè chữ

ú ớ chương hồi

l.a.h 31.5-7.6 hanoi

Read Full Post »

Nụ hôn

Nguyễn Thị Ánh Huỳnh

.

Nhớ tối nào

anh hôn em

bầm dập cả trăng non

.

giữa trưa nắng

anh hôn em

trời đất tối mù

.

trong đêm đen

không có anh

em vẫn được hôn

.

sáng thức dậy

chẳng có ai hôn ai

ngoài ban mai

đang hôn từng giọt sương

sắp khóc

.

anh ơi

đôi môi anh giờ cất đâu 

khi gió cồn cào hôn nước

ước gì trời rét

để em được gói đôi môi mình

vào chiếc khăn len.

Read Full Post »

12 giờ khuya

Âu Thị Phục An

.

nỗi bất an chồm dậy

quá khứ bịt mắt

dòng máu luân lưu qua trái tim bầm dập

.

những kẻ đã đi qua đời tôi

đã vào cuối đường hầm

cuộc chia ly có trật tự

.

tiếng than khóc trên những nấm mồ

bao giờ cũng vậy

là khóc cho chính mình

.

tiếng gõ của đồng hồ

thắp nén nhang khuya

tôi gọi hồn ảo ảnh

.

thời khắc giữa hai miền

là cái chợp mắt bất chợt

cái ngáp nửa đêm

.

làm giật mình chiếc bóng . . .

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »