Ngô Đình Hải
.
Hẻm nhỏ, lại là hẻm cụt. Nhà cũng nhỏ san sát nhau. Hai nhà đối diện nhau cái lối đi chỉ vừa đủ cho hai người qua lọt. Chỗ ăn ở còn thiếu, kiếm đâu ra cái sân với cổng rào! Đứng nhà bên này qua nhà bên kia, phước từ trước ra sau. Ban ngày còn nhịp đập người qua lại. Chiều tối, người ta kéo nhau ra chật cứng, con nít chơi một chỗ, đàn ông tụm nhau lại lai rai, bàn chuyện …thế sự, đàn bà thì ngồi ngay trước cửa tám chuyện gía cả, chợ búa. Người không rõ mắc bệnh vô nghĩa!
Hẻm lâu đời, dân tứ quê hương về từ hồi non hồi nào, đeo nhau mà sống, rồi ở miết suy ai chịu tới đi. Lâu hai, ba đời thì như nhà thầy giáo Lân. Mới lắm như vợ chồng con Bé Ba cơm tấm cũng có gần hai chiến năm!
Ở lâu, tới số nhà mình “bộ” mấy cũng không ai nhớ. Khách lạ cứ tới đầu hẻm, réo một cái tên, là có người liền kề. Tới cách sống cũng gần như nhau.
Đàn ông làm đủ thứ nghề, đàn bà thì đu ra cái chợ chồm hổm, gần khu gò mả mà kiếm ăn. Chợ không có tên, nhưng mua thứ gì cũng có. Người mua, người bán quá quen nhau, bữa trưa nào hụt mua thiếu cũng được. Một phần đời của dân trong hẻm gửi ở chợ này.
Nhà giáo Lân cuối hẻm. Gọi thầy, là trước đây đã dạy, sau “giảm biên chế” về bán vé số, cũng ngay trên chợ, tránh xa sự trợ giúp trong vòng xin vui lòng. Được cái, trong xóm ai cần gì, liên can tới chữ nghĩa, giáo Lân cân tuốt. Viết giùm cái đơn, khai xin cái lý lịch hay chiều tối, dạy thêm cho mấy đứa nhỏ còn đi học trong xóm, giáo Lân đều làm tới nơi tới chốn. Tất cả đều là…miễn phí! Bù lại, chiều nào tan chợ, giáo Lân cũng có tô bún hay rào cơm tấm ế của xóm chợ cho. “Mồ côi” vợ, sống cu ki một mình, coi như cũng tạm ổn. Sống bất cứ ngày nào tính ngày đó.
Chợ Xóm có cái giờ sống riêng. Tối 8,9 giờ, xóm đã im re, 2,3 giờ sáng mới lục đục lên đèn, những cái bếp lửa tối. Bún riêu, phở, bún bò, cơm tấm, xôi,…mạnh ai ai nấu, để đáp trả mang ra chợ bán.
Giáo Lân cũng không ngoại lệ. Khuya dậy, nấu ấm nước, pha ly cà phê, bắc cái ngồi trước cửa. Ngồi trong cái vũng tối lấp lánh ánh sáng của một số nhà bên cạnh. Thoải mái nghỉ ngơi. Lẫn trong cái mùi đất, mùi sương còn sớm trên cây cỏ là mùi hương, quế của nhà con lành đang nấu phở, mùi cay nồng của ớt sa tế cho bát bún bò của nhà thằng Tý.
Giáo Lân cho qua hết. Lão chờ cái khác! Một chút nhẹ nhàng hơn, lãng mạn hơn, len lỏi đưa vào mũi. Cái mùi thanh thoát như con gái mười tám. Cái mùi vượt qua những thứ tầm thường, luôn ở trên vị trí của mình. Cái mùi như những chuyến xe đưa quà Lân về thời thơ mộng! Cái mùi nối liền cánh đồng lúa ngút ngàn với con diều của Lân trong những thời kỳ nghỉ hè thuở nhỏ. Cái mùi không thể trộn lẫn ở bất cứ đâu! New new model! Mùi của những hột ngọc nhỏ trắng phau, thơm phức, bốc lên từ cái bếp nấu xôi của bà Bé! Không có mùi hương quyến rũ và gần gũi hơn nó.
Hãy thở cho no nê cái mùi thanh bạch đó, cho tới khi nó không còn mảnh nào trong không khí nữa. Giáo Lân mới đốt cháy thuốc và thưởng thức ly cà phê đột phá của mình, trong cái tiếc rẻ, như người vừa tỉnh sau cơn mộng đẹp, hay vừa để trượt khỏi tay một phần đời của mình…
Bà Bé bán xôi trên chợ, ở đó mấy căn. Hai đứa con gái lớn sẽ đi may ở Khu Công nghiệp, cuối tuần mới về. Mình bà loay hoay với nếp với đậu. Chỉ có hai thứ xôi duy nhứt. Xôi đậu xanh, đậu đập, ăn với muối mè, đường cát.
Xôi nấu xong, phê ra hai thúng, hai đầu gánh. Gói mồi nóng đầu tiên, gói bảo hiểm, tặng cho bộ Lân trước, rồi mới phải bó lên chợ. Xôi ghi sổ, năm nửa tháng trả một lần. Giáo Lân lo nợ tiền, còn bà Bé nhớ gói xôi. Hai thứ gói thay đổi, mỗi ngày một gói khác nhau. Vậy mà giáo dục Lân ăn ghiền, ăn không biết chán…
Cái gì lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ thành thói quen. Nghèo cũng là một thói quen quen thuộc của khu chợ. Người ta chấp nhận tự quên đi nhiều thứ, để bằng lòng với cái mắt trước.
Đã nói là dân tứ xứ mà. Trung,Nam,Bắc có đủ. Đạo gì cũng được, thờ cúng ai cũng có cái gì khác nhau đâu! Đàn ông chỉ cầu mong cho có đủ sức để ra đường kiếm ăn, đàn bà cầu từng buổi chợ đông để ngày mai còn mua bán tiếp.
Rốt cuộc, nghèo thì đã nghèo rồi, cực cũng đã cực rồi. Dân trong hẻm chỉ như vậy là được.
Dịch cả tháng này, mỗi ngày trên mỗi lan rộng. Ngó đâu cũng được tìm thấy. Người lớn đi về tĩnh lặng. Trẻ con lẩn trốn trong nhà. Hẻm vắng hơn và tiếng ồn ào hơn. Gánh xôi bấp bênh. Bánh chè chao đảo. Ế thì tặng về cả nhà ăn thay cơm, mai lại nấu lại bán. Chợ còn đó, lo gì đói! Lo lắng và sợ hãi là những thứ xa xa, rảnh rỗi mà quan tâm tới nó.
Cho tới bữa sáng có ánh sáng đóng cửa cửa hàng vì có người bị nhiễm bệnh. Thu nhỏ lại, rào kín bưng. Con hẻm tối nay sáng đèn hơn, trùm nền sáng nặng nề thứ nhẹ lên mọi thứ. Y tế mới xuống thử nghiệm, im lặng không ra đường, chờ kết quả. Chưa ai chịu đi ngủ, mà mai có cần dậy sớm đâu? Người ngồi trước nhà, miệng che khẩu trang thì thầm bàn tán. Những tiên đoán chờ đợi và cái nghi hoặc cứ đeo đẳng, tăng dần cho đến muộn.
Đêm Yên Thắng, cái Yên Thắng không bình thường trước lúc cô độc. Giáo Lân không thể ngủ được. Chờ, không biết chờ gì. Lâu dài, có tiếng nhím xe tình thương ngoài đường vọng lại. Ngày mai chắc chắn sẽ là một ngày dài lắm đây. Chợ nghỉ, dậy sớm làm gì? Nhà thằng Tý, con lành, bà Bé dậy sớm làm gì? Không có xôi thì chiên cơm nguội. Nhiêu đó mà thắc mắc, thoải mái, lạ thiệt chứ! Cứ như vậy mà nó hành giáo Lân gần trắng đêm. Cho tới khi mũi lão như nở ra, mắt lão như sáng lên. Lão nằm hít đầy đệm lót kẹp, cái mùi thơm quen thuộc đang len qua khe cửa, chui tọt vào trong mùng. Cái mùi mơ hồ như những câu chuyện cổ tích lão nghe hồi nhỏ. Các mục phù thuỷ, công chúa, hoàng tử theo cái mùi xưa và quyến rũ đó, làm giáo Lân quà đi…
Có tiếng kêu cửa. Giáo Lân bùng nổ. Bà Bé cầm tay cầm Xôi còn bốc khói:
– Bin nay không có bán! Còn ít nếp với đậu tôi nấu cho hết. Thầy Hai ăn đi, Xôi mới nấu xong còn nóng, không có thiết đâu…
Giáo Lân chấm ra. Người ta giang dây kín con hẻm từ ai hồi đáp:
– Cám ơn bà. Bịnh tật có ai muốn đâu. Sống chết có số. Trời kêu ai ai dạ…
Bóng mờ, đã bóng những chiếc áo xanh, áo trắng ngoài đầu hẻm. Giáo Lân kéo ngồi ngồi cứng ra ngoài, bốc tay từng miếng xô đưa lên ngôn thật chậm, như lịch từng ngày trong đời mình. Buồn với vui, nếp với đậu, ngọt ngào như nhau.
Ngoài hẻm, y tế đang gọi từng người, sắp xếp đồ đồ đi cách ly. Có tên con Lành, bà Bé và hình như có cả tên tuổi.
Giáo Lân vẫn bốc xôi, vẫn bột đều đều. Lão già rồi, inu vàng gì. Cuối cùng quá già thấy mình như cây tôi già, vỏ bong tróc xì vì mưa nắng trước hẻm. Nó ở đó lâu quá rồi, giờ bứng mang đi nơi khác, chắc chắn có gì sống nổi!
Ngày mai, ngày mờ hay những ngày còn lại, biết đâu…Ừ! Biết đâu cái mùi đã già đi qua biết bao nhiêu phiền muộn không còn nữa. Hay sẽ không tìm thấy lão nữa. Cũng có thể không tìm thấy lão trên cõi đời này, nên trôi dần, trôi dần vào dòng sông xưa xưa. Dòng sông mang cái mùi…Cổ tích!
NĐH