Tạp nham bút của Sáu Quỷnh
Bên Trời Tây thấy người ta chấm điểm hay xài chữ A, B, C…tính A đứng nhứt rồi kế tiếp theo vần bảng chữ cái, điểm hơn chữ này chút nhưng chưa được chữ cao hơn cho thêm dấu cộng phía trên đầu bên phải. Coi tivi thấy có kênh K cộng, kênh này cần tiền mua mới coi được, trộm nghĩ chắc A cộng mới miễn phí nhưng từ A tới K khá xa biết bao giờ được (?). Ở Trời Ta có quảng cáo bán hàng khuyết mãi mua hai tặng một lại trộm nghĩ nôm na mua hai được cộng một. Sáu Quỷnh thấy dấu cộng hay quá miễn đừng cộng…nợ của mình nó mới rầu. Hứng chí, bắt chước “mần thầy” xài dấu cộng chơi nhưng là thầy lang…bang, hổm trước lang thang Sài Gòn cùng hai bánh nay cộng thêm một thành ba bánh cho nó…oai, nó oách.
Cái chiếc xe ba bánh gắn bó một thời với Sáu tui là thuở ban ngày vận quần áo tươm tất ngồi ghế giảng đường, lúc rảnh rổi hay đêm tối thay màu cũ cũ nhảy lên nó lòng vòng đường phố Sài Gòn khiếm vài khách đi xe gọi làm vài cuốc kiếm chút đỉnh trang trải các loại tiền cần phải có, tiền ăn tiền ở tiền vở tiền tập…đó là chiếc xe ba bánh xích lô đạp, nếu ba bánh mà quay đều tới nay tính cũng hai mươi mấy năm cộng thành ba chục. Chiếc xích lô đạp chắc không cần phải tả, ăn sâu vào dân ta từ lâu ai mà hổng biết, tới giờ còn chạy cũng nhiều. Chiếc xích lô máy nay mới hiếm, xích lô máy dáng dấp tương tự nhưng thấp và thô cứng, hầu như cái gì cũng to lớn hơn. Xích lô máy, xích lô đạp chở hàng chở người, chở người ngày nắng ngày mưa kéo mui che khách, ngày trời đẹp, đêm dịu mát xếp mui coi như xe…mui trần, khách lẫn người đạp có vui cùng vui gió trăng sao. Xích lô máy tiếng nổ rần rần nghe kinh hồn vía, Sáu tui có ông anh lính chiến, một bữa đêm đang ngủ bất thần vùng vậy chui xuống gầm giường lảm nhảm không ra tiếng, thấy lạ lôi ổng ra tưởng bị quáng gà định lấy cái rế lót nồi cơm úp lên đầu, theo cách dân gian luu truyền, lúc đây nhà Quỷnh tui còn nấu bếp than củi, xuống bếp lên ổng tỉnh lại nói nghe tiếng xe xích lô giựt mình ngỡ tiếng đại liên bắn tràng tràng nhảy vô hầm núp, gần cả chục năm vẫn còn bị ám ảnh trận mạc, ác liệt chiến sự đau thương. Tỉnh ra rồi mà mồ hôi mồ kê còn vã ra như tắm hơn tui đạp xích lô lên dốc cầu, dốc nào cao phải nhảy xuống đẩy bộ, quá nữa nhích hổng nổi chạy trước cảng mà kéo, xuống dốc đôi lúc nguy hiểm, chở hai người cỡ…tạ rưỡi đang nhấp nhấp chưa kịp nhảy lên đạp, nặng đầu quá thắng không kịp, xe tuông tuông chúc xuống luôn, bánh sau…nhổng lên trời, biết đạp xích lô hông? đã đời xúi quẩy chuyện xảy ra thường tình “ở huyện”, nói vậy thôi chớ hồi đó ít ai chửi bới lắm, nhiều người đi xe thấy tội dân xích lô cho thêm tiền hoài, người thiếu tiền năn nỉ ỉ ôi cái tội khổ cũng không ít. Quỷnh tui nhớ một lần gặp hai cô mặc áo dài xúng xính xinh duyên, kỳ kèo trả giá cả buổi mới xong nghĩ thầm đồ xí xọn thời buổi khó khăn bày đặt điệu đàng, đã vậy còn bắt chạy ngang trường Văn Khoa cũ tới nhà thờ Đức Bà chớ từ Gò Vấp đi thẳng đọt đường Nguyễn Kiệm qua Phan Đình Phùng tới Hai Bà Trưng coi như tới, đi trò chuyện vài câu sau mới biết hai bà chị đi lễ, hỏi đi chi xa vậy hổng sợ tốn tiền hả, mới biết cớ là đi lễ thôi thiệt ra nhớ những con đường, nhớ trường xưa đang học dang dở, giải phóng khó khăn buột phải nghỉ, ngày đó đi học áo dài chải chuốt sành điệu lắm, đến nơi trả tiền…ôi thôi trả luôn gấp đôi nói nghe ăn nói dáng vẻ biết sinh viên rồi quày quả quay đầu te te chạy mất tăm, vừ ngỡ ngàng vừa quần áo lượm thượm đâu dám rượt theo vào chốn tôn nghiêm, Quỷnh tui đành chờ ý đặng chở về, chờ mãi lạ sao chẳng thấy đâu đành để trở thành kỷ niệm, kể cũng khó phai. Tính ra đạp xe xích lô không khó lắm siêng tập vài bữa là chạy ngon ơ, biết có phải vậy hông mà cũng chở khách lại hổng được gọi là…bác tài như tài xế xe hơi, gọi là dân xích lô, đạp xích lô còn cách lớn kêu ông nhỏ kêu thằng. Thằng Sáu tui hôm nọ trời nhá nhem đang mon men sau một “đồng nghiệp” lưng đã còm sát phía trước, xa xa có người kêu ê, ngoắc ngoắc, nghĩ còn sức dài vai rộng hơn định lướt qua…giựt mối, lúc song song liếc coi “cha già” nào yếu quá, Trời ơi! Dưới cái nón lụp sụp là gương mặt của…ông thầy dạy mình thời tiểu học, ngày đó gọi là giáo sư, chào thầy, “cha già” gật đầu liền quay ngoắc dấu mặt ý muốn chạy nhanh luôn qua chỗ khách đón, sững sờ bờ dậu thằng tui bụng dạ nỡ nào…về sau thầy trò thành…cố tri. Những đêm, thầy tui chỉ đạp xe ban đêm, điều mặc cảm này đâu cần nói ra cũng hiểu, khi ế khách quá hay chạy cũng tàm tạm thầy trò ghé mấy quán ven đường, khá thì mần chút bia gọi vui lúc bấy giờ là bia lên cơn, khi chai Chương Dương, bia bốc, khi bình bia hơi, vật vã thì vài xị rượu đế mà nhỏ to “tâm sự chúng mình”, phét chuyện đời, thời sự thế cuộc…Một hai năm sau có thêm bạn đạp xe nhưng bớt…tiền, nghèo khó với nhau nương tựa hổng hết lấy đâu thù hằn, bớt tiền bởi đôi lúc đông vui rôm rả làm tới tới, nhớ mấy lần vui như hội vậy là cùng cáp đua ba bánh chạy chỉ hai bánh, nghiêng xe dở một bánh trước còn một bánh và bánh sau, chạy xiên chạy xẹo có lúc lộn nhào, thầy tui làm trọng tài bởi ai dám để thầy “hun” cột điện, đua nhưng thắng thua không cần tính toán, kiếm tiếng cười đóng khung dòng suy nghĩ bộn bề.“Hội xích lô” thầy trò khá nhiều hoàn cảnh không ai giống ai, người bộ đội phục viên về không nghề nghiệp, người nhân sĩ chế độ cũ, người nhân viên viên chức đương tại làm thêm, người chạy xe chuyên nghiệp mưu sinh…Có người chạy xe xích lô lang thang đón khách, có người ngồi cố định vài chỗ đợi chờ, có người vào bến bãi chờ tới phiên, chở mối…“Hội” ngày nào nay đã tứ tán, thầy đã quá vãng về miền cực lạc, chiếc xích lô của tui cũng theo thầy đến bến thiên cổ. Xích lô đạp ngày nay còn đó, mỗi khi nhìn thấy Quỷnh tui vẫn nao nao lòng, một số “lên đời” chở khách du lịch xe láng cóng, bóng nước inox tập trung khu trung tâm.
Ba bánh cũng có đạp cũng có máy là chiếc xe ba gác cái thùng vuông vức, không tròn tròn uống lượn như xích lô. Ba gác chỉ chở hàng , một thời “ngang tàng” tung hoành khắp chốn chở bất cứ thứ gì, từ hàng gọn nhẹ tới cồng kềnh, tole sắt năm bảy có cả chục thước là bình thường. Nay đã cấm nhiều, ba gác máy còn ít chạy ở ven ven ngoại thành, ba gác đạp chủ yếu chở hàng bán rong…
Thay cho chiếc ba gác máy chở hàng một dạo rầm rộ vài năm về trước nay còn xài là chiếc ba bánh do Trung Quốc sản xuất. Chiếc này có đầu trước nối thùng sau, xe đi trước tiếng theo sau, chạy cái vù qua nhanh nghe cái ào mới tới, để giựt mình ở lại với kẻ chậm lụt, rục rịch như rùa Sáu Quỷnh tui.
Giống kiểu đầu trước nối thùng sau nhưng thùng có mui là chiếc Lambro 550, có từ rất lâu trước năm 1975, sau không thấy nhập nữa, xe chạy chở khách chở hàng cho tới những năm gần đây mới hết. Nghe tên xe nghĩ ngay của nước Ý, xe Ý sản xất thường kiểu xe tròn tròn bầu bầu có lồi chỗ này chỗ kia, kêu gọn là xe lam, đầu xe bầu tròn không cửa, ra vô qua lại thoải mái như…chốn không người, một bánh giữa đầu có vè lồi về trước giông giống mỏ két, tay lái ngang có số và côn như chiếc Vespa, giò đạp dưới chỗ ngồi lái là một băng nệm ngang cabin, hai bên bác tài chở thêm được hai người. Phía sau thùng hai bánh hai bên, hợp thành ba bánh, hai băng nệm sát vách hai bên thùng, thiết kế chở mười người, chính giữ trống để đồ. Những năm 80,90 thế kỷ 20 xe cộ hiếm hoi chiếc xe lam gồng mình, nhét ghế xúp cả người đu sau xe có lúc lên gấp đôi, hai mươi chẳn, móc thêm vài giỏ hàng khiến chiếc lam ngược với chiếc xích lô Sáu Qỷnh chở nặng, nặng “đít” nhổng đầu cũng là chuyện thường tình “ở huyện”. Những năm này chạy chiếc xe lam lâu lâu thấy có…bà…bác tài xế, bà bác tài chạy thấy “ngầu” hơn đàn ông liền. Xe lam đạp máy nổ giòn tan bon bon pành pành, chạy kêu ro ro ngang dọc phố phường oanh liệt, “yến oanh” nay còn đâu cất tiếng, đã liệt mất tiêu rồi, “xuống đời” chớ hổng như xích lô được “lên đời”, còn vài chiếc cà tàng làng nhàng chở…rác.
Cộng thêm một bánh thành ba bánh, Sài Gòn còn có những chiếc xe chắp cánh cho những đôi chân khiếm khuyết. Có những chiếc sáng tạo từ xe hai bánh gắn máy chạy vi vu đó đây ngày ngày tháng tháng, sáng sáng chiều chiều…không thể nào bó…chân ta được từ những đôi tay khéo léo, kéo cuộc đời hướng về phía trước. Sáu Quỷnh này Khâm phục lắm thay!

Út Quỷnh ơi,
Cộng Một của Út làm chị nhớ lung tung những kỹ niệm ngày nào, nhớ xe xích lô máy mỗi sáng chờ trước cổng chở hàng cho má chị đi bán, nhớ xích lô đạp của những người bạn thất cơ lở vận sau 75, nhớ xe lam ngồi chen chít qua cầu chữ Y. Cứ mỗi cái tên là mỗi nổi nhớ, mỗi cái cộng một tiếng thở dài mà không biết tại sao (chắc tại già rồi nên hay thở dài chăng?).
Út viết mới đọc nghe như cà rởn, lưng tửng chẳng đâu vào đâu, chừng hết bài rồi mới nghe “thấm” vị chua chat của cuộc đời. Có đọc cho “bà già” nghe không? Để bác biết “thằng Út” cũng biết vọng hoài quá khứ chứ đâu phải chỉ biết xin tiền uống rượu say xỉn hòai đâu.
Sáu Quỷnh viết thât thú vị! Rằng hay thì thật là hay. Nhưng nghe ngậm đắng nuốt cay thế nào…
Chào Sáu Quỷnh!
Đọc cái tựa tui tưởng sắp nghe chuyện ..mình thành..thành..đôi! Ai dè gặp món xích lô! Anh tui ngày đó chơi món này, nhưng sao chiều về thấy lão nhừ căm chớ hông hồn nhiên lãng mạn như Sáu đâu! Lão cứ kiềng riềng vụ chổng khu lên dốc..lão còn nói xe gì lạ, cứ mỗi lần kéo thắng lại thấy..kỳ kỳ!!!
Nghĩ mà thương Sáu ơi!
chào Anh Sáu Quỷnh!Xe!Nếu truy gốc- sự phát minh-dường ba bánh rồi đổi tới đổi lui cho tiện lợi thích hợp theo thời -theo giai đoạn phương tiện cần và có ?-Xe tồn tại lâu nhất vẫn là hai bánh?-Như chuyện sự tích Ông Bà Táo?Bàn tay và khối óc con người luôn tuyệt vời phải không Anh?
Đọc “Cộng một” dù có cho là tạp nham… cũng thấm hòa tươi cả làng, cười đau hóm hỉnh, nhưng ngấm nhất cái dấu + “néo nhau” là hỉ hả rồi, anh Sáu Quỷnh ơi!
Cứ mường tượng, gã “xích lô” gò lưng chở hai “ẻm” dạo nhà thờ Đức Bà mà nghe trong lòng sướng tủm tỉm, đạp tới xì… mồ hôi hột là nhớ đời phải hông?
_ Cụng cái, lì một lam nè!
Nhung chiec xe doi voi minh rat nhieu ky niem
Viết dí dõm
Chào Sáu Quýnh ,
Cảm ơn bạn cho tôi đọc Cộng một ,
tạp nham bút , không tạp nham chút nào ! rất nhân văn .
Chúc vui.
Xe xích lô cũng là đặc sản của saigon,nên sữ dụng để phục vụ du lịch
Tạp nham mà vui
Minh cung da co thoi dap xich lo trong thoi gian 76-79,rat dong cam voi ban