Nhật Chiêu
Trong nền thơ ca Hàn Quốc cũng như Việt Nam, nữ lưu là một dòng thơ lạ. Lạ vì tính chất thiểu số của nó, lạ vì vẻ đẹp trần thế của nó và lạ vì phong cách mới mẻ của nó. Như một dòng thơ huyền thoại.
Huyền thoại ?
Giữa một thưở mà người nữ không có quyền biết chữ thì các nàng thơ hiếm hoi ấy, ở Hàn Quốc cũng như ở Việt Nam, đã làm cho chữ nghĩa ca hát về tấm thân mình, về tấm linh hồn của mình.
Như người cổ sơ đã dùng trăng sao và cỏ cây mà sáng tạo ra huyền thoại.
Các nhà thơ nữ đã tự dùng bản thân mình mà sáng tạo ra huyền thoại, dù không tự ý thức.
Vì thế có huyền thoại Hwang Chin – I (Hoàng Chân Y) ở Hàn Quốc vào nửa đầu thế kỷ mười sáu.
Vì thế có huyền thoại Hồ Xuân Hương ở Việt Nam vào giữa thế kỷ mười tám và mười chín.
Trong tinh thần của thơ ca tương chiếu, tôi sẽ đem hai cuộc đời phong ba đó, hai tài sắc diễm ảo đó lại gần nhau để cái đẹp này soi rọi cái đẹp kia.
HOÀNG CHÂN Y VÀ CUỘC ĐỜI KISAENG.
Như Tiết Đào đời Đường ở Trung Quốc, Hoàng Chân Y là một kỹ nữ. Ở Hàn Quốc, kỹ nữ được gọi là kisaeng (kỹ sinh) và Hoàng Chân Y là kisaeng nổi tiếng nhất. Nàng sống và chết trong khoảng thời gian từ 1502 đến 1544. Thường thì người ta chỉ dựa vào những năm tháng mà nàng giao du thân thiết với các văn nhân tên tuổi đương thời để phóng đoán niên đại của nàng. Cũng như giống như trường hợp Hồ Xuân Hương ở Việt Nam.
Quê hương nàng là Songdo (Tùng Đô), nơi có dòng thác Bakyon (Phác Uyên) hùng vĩ, một con thác sẽ đổ vào thơ ca của nàng tiếng reo của nó và tên tuổi nó sẽ đứng cạnh bên nàng như kỳ quan đứng cạnh kỳ quan.
Quả thật vậy, Songdo được truyền tụng rằng có ba cái nhất, gọi là “Tùng Đô tam tuyệt”, đó là Hoàng Chân Y, danh sĩ So Kyong – Dok (Từ Cảnh Đức) và thác Bakyon (Phác Uyên). Tất nhiên đó là khi Hoàng Chân Y đã trưởng thành và nổi danh tài sắc, khi nàng đã đến với So Kyong – Dok như một người học trò, một mối quan hệ phảng phất màu sắc tình yêu lý tưỡng nhưng vẫn là “sư đệ quan hệ” và người ta nói rằng So Kyong – Dok là người đàn ông duy nhất thời đó không sa ngã trước nhan sắc Hoàng Chân Y dù ở gần kề nàng!
Hoàng Chân Y từ nhỏ đã làu thông tứ thư ngũ kinh và thành thạo các bộ môn thơ ca, thư pháp và âm luật; đó là một điều hiếm thấy trong một thế giới mà phụ nữ bị cấm đến gần “cây hiểu biết” vì học vấn là ưu quyền đặc lợi của đàn ông. Nên biết rằng cho mãi đến thế kỷ mười tám mà một học giả được trọng vọng là Yi Ik (Lý Dực) còn to tiếng: “Học vấn là chuyện của đàn ông. Đàn bà chỉ cần học câu tiết hạnh nếu bất tuân, chắc chắn làm ô danh gia đình mà thôi” !
May cho Hoàng Chân Y có người cha là một tiến sĩ (Jinsa) mà đầu óc và trái tim hẳn là không chật hẹp như vậy, người đã lấy mẹ nàng làm thiếp.
Chân Y từng mang biệt hiệu là Chinnang (Chân Nương) và khi trở thành kỹ nữ thi kỹ danh là Myongwol (Minh Nguyệt), vầng trăng sáng.
Người ta nói rằng việc Chân Y làm kỹ nữ bắt nguồn từ một biến cố như sau : Có một nho sinh vì quá tương tư nàng đã lâm bệnh mà chết. Theo di ngôn, cỗ quan tài được rước qua nhà Chân Y trên đường ra nghĩa trang. Nhưng đến trước cổng nhà nàng thì quan tài dừng lại, không chịu nhúc nhích. Chân Y phải xuất hiện, lấy váy lót của mình phủ lên áo quan mới làm chuyển động được nó và đám tang mới có thể tiếp tục lên đường. Đó là điềm triệu, như người ta tin, báo hiệu Chân Y là người của Kỹ giới (Kikae)!.
Sau đó, Chân Y giao lưu với các danh sĩ đương thời, lôi cuốn họ bằng thi tài và nhan sắc của mình, được xưng tụng là “Nàng Tiên” (Tiên Nữ), Dung nhan dù không trang điểm vẫn vượt xa mọi kỹ nữ. Do đó những phàm phu tục tử không dám đến gần nàng. Thơ ca ca ngợi ca nàng có câu :
Nàng làm cho Phật sống phá giới, hiểu đời
Nàng làm cho Nước Xanh ngưng hẳn dòng trôi …
“Phật sống” và “Nước xanh” liên quan đến hai nhân vật như sau :
Người thứ nhất là Ji Jok (Tri Túc), một thiền sư đã tu tập trên mười năm ở núi Chonma (Thiên Mã Sơn), được xưng tụng là Phật sống (Sinh Phật) nhưng rồi điên đảo thần hồn trước nhan sắc nàng Tiên mà phá giới, bỏ chùa.
Người thứ hai là Byok Kyesu (Bích Khê Thủ ), một học giả uyên thâm đến Songdo và cả quyết rắng nhan sắc đẹp mọi phụ nữ trên đời là vô nghĩa đối với ông. Trong bữa tiệc của giới quý tộc chào đón ông, Hoàng Chân Y xuất hiện. Mọi người ngây ngất, chỉ mỗi Byok Kyesu là dường như thờ ơ. Chân Y bất ngờ ca ngâm một bài thơ Sijo nàng vừa soạn để trêu chọc kẻ cố ý vô tình lại mang tên là Suối Xanh ấy. Y là Suối Xanh, còn nàng là Trăng Sáng và hai hình ảnh đó làm nên tứ của bài thơ :
Núi biếc, suối xanh ơi
chớ cuống ngạo mà trôi.
Một khi ra đến biển
thì biết làm sao lui.
Núi đồi đầy trăng sáng
chi bằng lãng đãng chơi [1]
Bài thơ kỳ tuyệt và cái duyên dáng của Chân Y đã làm Bok Kyesu thay dổi cái nhìn đối với nữ sắc. Suối Xanh và Trăng Sáng từ đó trở thành tình nhân. Và dường như thơ Chân Y từ đó thường có nước xanh trôi.
Nhưng thơ nàng trao đổi với thầy mình là So Kyong – Dok vẫn được biết đến nhiều hơn. Người ta cho rằng nàng có tình ý với ông và một đêm mưa gió, nàng lên núi ghé vào thảm am của thầy. Ông đọc kinh sách suốt đêm và nàng đàng nằm ngủ dưới chân thầy. Khi thức giấc, nàng càng ngưỡng mộ thầy hơn xưa.
Dù vậy, hai bài Sijo sau đây của So Kyong – Dok đã bộc lộ tình yêu của ông với Chân Y :
Trái tim điên rồi
chờ ai trong núi
Mây trôi mây trôi
và khi gió thổi
Dường như em tới
lá rơi lá rơi.
Đâu là bí ẩn
ôi em tuyệt trần.
Ta càng bạc tóc
em càng thanh tân.
Trò cười ta đấy
theo em khắp cùng !
Để trả lời thầy và để ca ngợi ông, Chân Y soạn bài Sijo sau :
Núi vẫn là núi xưa
nước không là nước cũ.
Nước ngày đêm lữ thứ
đâu có còn như xưa
Người tuấn tài như nước
đi là đi không về.
Sống trong thời phong kiến đầy lễ nghĩa nhưng Hoàng Chân Y lại đề xuất những tư tưởng và lối sống quá táo bạo, vượt xa thời đại. Đặc biệt là quan niệm về tình yêu (ái tình quan).
Có lẽ Chân Y là người đầu tiên ở Hàn Quốc chủ trương cái gọi là “Hôn nhân định kỳ”, tức kiểu kết hôn không kéo dài suốt đời mà có thời gian hạn định. Và nàng đã thực thi điều đó với Yi Sajong (Lý Tư Chánh ?), người làm chồng nàng đúng sáu năm. Sau đó, nàng hồn nhiên ra đi và du hành khắp chốn nước non.
Có một thư sinh khác là So Seyang (Thư Thế Nhượng) tuyên bố với Chân Y rằng một người đàn ông mà lụy vì nữ sắc thì không còn là đàn ông. Được thôi ! Chân Y đề nghị anh ta sống với mình chỉ một tháng thôi và sau đó cứ tha hồ làm đàn ông. Chuyện đã diễn ra như thế.
Hết một tháng, Chân Y làm một bài thơ Phụng biệt bằng chữ Hán. Nghe nàng đọc xong bài thơ dưới ánh trăng, con người đó năn nỉ nàng ở lại, y không cần làm đàn ông hay làm trượng phu gì nữa. Bài Hanshi (Hán thi) ấy như sau:
PHỤNG BIỆT THƯ THẾ NHƯỢNG
Nguyệt hạ ngô đồng tận
Sương trung dã cúc hoàng
Lâu cao thiên nhất xích.
Nhân tuý tửu tam thương.
Lưu thuỷ hoà cầm lãnh.
Mai hoa nhập địch hương.
Minh triêu tương biệt hậu.
Tình dữ bích ba trường.
Dịch thơ :
PHỤNG BIỆT SO SEYANG
Dưới trăng, lá ngô đồng rụng.
Trong sương, hoa dã cúc tàn.
Chén nồng, ta say tuý luý
Lầu cao, trời bén tấc gang.
Hương mơ lẫn vào sáo trúc.
Nước trôi mát tận cung đàn
Sớm mai đời ta chia biệt
Tình xanh vô tận sóng xanh.
Không chỉ về tình yêu, đời sống mà Hoàng Chân Y còn có những quan niệm độc đáo về cái chết. Nàng để lại di ngôn cho đám tang của mình: Không được khóc mà hãy hồn nhiên đàn hát, không được chôn trong núi mà để thi hài ngoài đại lộ. Hoàng Chân Y muốn được trò chuyện với mọi người ngay cả sau khi chết.
Và ngay cả sau khi chết, tình yêu cũng tiếp tục tìm kiếm nàng. Nhà thơ lừng danh Im Che (Lâm Đễ : 1549 – 1587) bấy lâu nghe tiếng nàng, thực hiện một chuyến hành hương hương thơ ca và tình yêu đến Songdo. Nhưng đến nơi thì Chân Y đã chết. Đau buồn cho nỗi vô duyên, anh ra viếng mộ nàng và đề lên mộ chí bài Sijo bất hủ của mình:
Giữa núi đồi ngập cỏ
em nằm ngủ mấy thu ?
Chỉ còn xương cốt lạnh
dung nhan xưa tuyệt mù
Chén rượu này em hỡi
ta uống một mình ư ?
HỒ XUÂN HƯƠNG: CUỘC ĐỜI VÀ CHIẾC BÁCH LÊNH ĐÊNH
Để phỏng đoán niên đại về Hoàng Chân Y, người ta dựa vào những quan hệ của nàng : với Kyong – Dok, với Seyang…
Cũng vậy, dựa vào những quan hệ của Hồ Xuân Hương với Nguyễn Du, Tốn Phong Thị, Trần Phúc Hiển…, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã phỏng ước như sau (lược thuật):
– Năm sinh của Hồ Xuân Hương 1771
– Kết bạn thơ với Nguyễn Du 1790 – 1793
– Với Mai Sơn Phủ 1799 – 1801
– Với Tốn Phong Thị 1807 – 1808
– Với Trần Quang Tinh 1808 – 1809
– Với Trần Phúc Hiển 1813
– Làm vợ lẽ của Trần Phúc Hiển 1816
– Trần Phúc Hiển bị xử tử 1819
– Năm Hồ Xuân Hương mất 1821 hay 1822
Nếu những phỏng đoán về niên đại của hai nàng thơ là chính xác thì Hồ Xuân Hương sinh sau Hoàng Chân Y những 270 năm. Nhưng cách biệt đó cũng không chênh lệch gì lắm trong thời đại phong kiến chịu sự thống trị của tư tưởng Nho giáo. Cả hai đều là nạn nhân và đều là kẻ phản kháng của hoàn cảnh “nam tôn nữ ti”.
Cả hai đều mất ở độ tuổi quá niên: Chân Y ở tuổi 42 và Hồ Xuân Hương ở tuổi 50 sau khi cả hai đều trải qua cuộc sống đầy bấp bênh như chiếc bách giữa dòng. Và đúng thế, cả hai đều dùng hình ảnh “chiếc bách” để ám chỉ cuộc đời mình :
Xuân Hương :
Chiếc bách buồn về phận nỗi nênh
Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh
Lưng khoang tình nghĩa dường lai láng.
Nửa mạn phong ba luống bập bềnh.
Chân Y :
Một con thuyền bách trắng
Trên sóng biếc lênh đênh
Trải qua bao năm tháng.
Ai đầu tiên lên thuyền ?
Tuy vậy, cuộc sống của Chân Y gắn bó với Songdo (Tùng Đô), còn gọi là Kaesung (Khai Thành) cũng như cuộc sống của Hồ Xuân Hương gắn bó vời thành Thăng Long. Và nếu như Chân Y được xưng tụng là một trong “Tùng Đô tam tuyệt” thì Hồ Xuân Hương cũng được bạn bè ca ngợi “Tao thần” (thần thơ) :
Tao đàn đàn thượng xuất tao thần…
Mai hoa độc chiếm để thành xuân.
(Tao đàn mới xuất hiện một thần thơ
Thành xuân độc chiếm cánh hoa mơ)
Cả Chân Y và Xuân Hương đều tài giỏi hơn người, đều xuất sắc về kiến thức, làm thơ bằng tiếng mẹ đẻ cũng dễ dàng như làm thơ chữ Hán.
Chân Y nổi tiếng về sắc đẹp tuyệt mỹ, thường được gọi là “Tiên Nữ”. Xuân Hương không được ca ngợi như vậy nhưng thỉnh thoảng thơ ca người ta tặng nàng vẫn có những lời tán tụng như “Tiên dung”, “Mỹ nhân”.
Nghê vũ tiên dung vân thượng kiến
(Dáng tiên kỳ ảo hiện trên mây)
Trúc lý phùng nghinh đối mỹ nhân
(Bên trúc ta mừng đón mỹ nhân)
Những lời tán tụng trên đều của Tốn Phong Thị, người đề tựa tập thơ Lưu hương ký của Hồ Xuân Hương. Dù chàng có quá lời đi chăng nữa, nhan sắc Xuân Hương là đáng kể.
Xuân thân gia đình của hai nàng thơ cũng giống nhau. Cha của Chân Y là một tiến sĩ. Cha của Xuân Hương là một thầy đồ tên là Hồ Sỹ Danh. Và hai người mẹ đều là hầu thiếp.
Xuân Hương không trở thành kỹ nữ như Chân Y nhưng cũng có đôi tài liệu như Xuân đường đàm thoại và một bài ca trù nói đến một Hồ Xuân Hương kỹ nữ; tuy nhiên đó là những tài liệu không đáng tin. Theo bài ca trù thì Hồ Xuân Hương là kỹ nữ ở Đại An, Nam Định :
Trong Đại An có nàng danh nữ
Hồ Xuân Hương là Nam Quốc Thúy Kiều…
Chỉ có thể nói rằng trong khi huyền thoại hoá Xuân Hương, người ta không quên kỹ nữ hoá nàng. Có thể thơ ca và cuộc sống phóng khoáng của nàng đã gợi lên sự tưởng tượng đó. Chi tiết này dù sao cũng làm Xuân Hương và Chân Y càng gần gũi nhau hơn nữa.
Trong khi kỹ danh của Chân Y là Myongwol (Minh Nguyệt) thì Xuân Hương lấy tên nơi ở là Cổ Nguyệt Đường làm hiệu. Dường như cả hai đều rất yêu trăng, thích nhắc đến trăng trong thơ của mình.
Cuộc sống đa sắc đa tình của Chân Y và Xuân Hương khiến họ có một điểm đặc biệt giống nhau và cả hai đều có vô số bạn thơ, bạn tình. Và cả hai đều không có một cuộc hôn nhân lâu dài nào ; ở Chân Y là sáu năm theo ý muốn của nàng, ở Xuân Hương chưa đầy ba năm do chồng phạm pháp mà phải tử hình.
Trong xã hội đề cao tiết hạnh phụ nữ và cho phép đa thê, Chân Y và Xuân Hương dường như mốn dành lấy một lối sống khác thường : đa tình. Và do tài sắc hơn người, họ đã sống như họ nghĩ, ít mang lốt đạo đức giả như đàn ông. Đàn ông mà họ quan hệ thì nhiều loại.
Có người họ kính trọng, ngưỡng mộ. Ở Chân Y, đó là thầy So Kyong – Dok. Ở Xuân Hương, đó có thể là Nguyễn Du.
Có người là nhà sư tu hành lâu năm. Ở Chân Y, đó là một thiền sư mà nàng làm cho phải phá giới. Ở Xuân Hương, đó là vài nhà sư mà nàng diễu là “ Cái kiếp tu hành nặng đá đeo”.
Có người là một học giả vô tình. Ở Chân Y, đó là Byok Kyesu, chàng Suối Xanh. Ở Chân Hương, có thể là anh chàng nào đó trong bài Mời trầu mà nàng nhắn nhủ : Đừng xanh như lá, bạc như vôi.
Có người là một thư sinh kiêu ngạo không muốn lụy vì nữ sắc. Ở Chân Y, đó là So Seyang (Thư Thế Nhượng) và nàng đã làm cho anh hiểu anh có thật sự là đàn ông hay không. Ở Chân Hương, đó có thể là Chiêu Hổ mà nàng thường trêu chọc.
Và còn nhiều người nữa. Chân Y có người bạn thơ nào tâm đắc như Xuân Hương có Tốn Phong Thị Không? Nếu như Im Che (Lâm Đễ) đến sớm hơn, chắc hẳn Chân Y cũng trao thơ cho chàng đề tựa !
Nhưng Im Che đến muộn, chỉ còn biết khóc bên mồ Chân Y. Ở Việt Nam, ông hoàng Miên Thẩm (con vua Minh Mệnh) có nỗi lòng của Im Che không khi nhắc đến ngôi mồ Xuân Hương bên Hồ Tây (?) :
Trụy phấn tàn chi thổ nhất doanh
Xuân Hương qui kứ thảo thanh thanh
U hồn đáo để kim như túy
Kỷ độ xuân phong xuy bất tinh
Dịch thơ :
Nhạt phấn tàn son một nấm mồ
Nàng Xuân Hương mất, cỏ xanh thơ
U hồn đang vẫn say mơ ấy
Mặc gió xuân lên, vẫn lặng lờ !
Cả hai lúc sống đều sống đam mê với tình yêu, với thơ ca. Khi thân xác cả hai không còn nữa thi thơ ca và tình yêu mãi mãi sẽ còn xoay quanh họ.
Người nữ từ nghìn xưa đã là một huyền thoại. Có một huyền thoại tối và một huyền thoại sáng.
Huyền thoại tối là người ta không muốn nhìn nhận họ bình đẳng với người nam, dìm họ vào bóng tối, tước mất cuộc sống đời của họ : đó là huyền thoại nam tôn nữ ti.
Huyền thoại sáng là người ta chỉ muốn nhìn thấy họ ở phương tiện sắc đẹp, dìm họ vào sắc đẹp, định chuẩn mực về thể hình cho họ, tước mất tâm hồn của họ : đó là huyền thoại trai tài gái sắc.
Nhưng người phụ nữ với đời sống thật sự, đời sống đầy đủ và đời sống thăng băng ở đâu?
Người phụ nữ ấy ở đâu?
Đó có phải là hình ảnh người nữ mà Hoàng Chân Y muốn tìm kiếm, muốn thể hiện?
Và Hồ Xuân Hương cũng thế, muốn tìm kiếm, muốn thể hiện hình ảnh người nữ ấy ?
Chân Y và Xuân Hương sống thực đến nỗi người ta không tin là có thể có những người con gái như vậy trên đời. Thế là họ trở nên mơ hồ, không có căn cước xác thực.
Họ dùng bản thân mình để sống chứ không phải để tạo ra huyền thoại, nhưng không ngờ chính vì vậy mà một huyền thoại[2] mới lại sinh ra.
THƠ CA VÀ CÁI HỒNG NHAN
Thơ ca của Chân Y và Xuân Hương đều rất tinh tế và không hạn định đề tài. Nhưng chủ đề của họ cũng có thể định danh là “ cái hồng nhan”(chữ của Xuân Hương : Trơ cái hồng nhan với nước non), một “ cái” gì đó cụ thể, trần thế, va chạm được chứ không phải là những “ kiếp”, những ” phận” trừu tượng, siêu hình, ước lệ.
Về lượng, tác phẩm của Chân Y truyền lại thật quá ít ỏi, chỉ có sáu bài thơ tiếng Hàn theo thể Sijo (Thời điệu) và tám bài Hanshi (Hán thi). Chỉ bấy nhiêu đó mà được xếp vào hàng đầu của thơ ca Hàn quốc thì quả là điều ngoại lệ !
Thơ Xuân hương không đến nỗi ít. Ngoài mấy mươi bài thơ Nôm truyền tụng còn có cả tập thơ của dân tộc mình, họ mới thật sự là thiên tài. Người ta quen gọi Xuân Hương là “ bà chúa Nôm”. Chân Y cũng đáng được gọi là “ bà chúa thơ Sijo”.
Với sự phát minh của chữ phiên âm Hangul vào năm 1446, văn chương Hàn quốc bằng tiếng mẹ đẻ mới thật sự nở rộ. Dù giỏi nho sĩ vẫn tiếp tục sử dụng Hán văn (Hanmun), những người phụ nữ có học từ đấy hào hứng đón nhận chữ Hangul mà thư từ hoặc sáng tác đến nỗi thứ chữ ấy bị gọi là amgul (chữ đàn bà).
Dù vậy, trong hơn 4000 bài Sijo cổ điển còn giữ được cũng chỉ có 92 bài là có thể thuộc về tác giả nữ lưu. Như thế đã là may mắn trong một không gian văn hoá thù địch với sự học vấn của phụ nữ.
Sijo là thể thơ dân tộc được yêu thích nhất ở Hàn Quốc. Mỗi bài Sijo có khoảng 45 âm tiết và được xếp thành ba hàng dài. Nó thường tương đương với sáu câu thơ ngắn trong tiếng Việt.
Ở Việt Nam, Chữ Nôm tuy không giản dị và hoàn chỉnh như chữ Hangul nhưng cũng thúc đẩy văn chương dân tộc thực hiện một bước tiến dài, nhất là sau cuộc Đại phá quân Thanh vào năm 1789, người ta chứng kiến một mùa thơ Nôm tưng bừng ngoạn mục.
Thơ Nôm không chỉ là lục bát với Nguyễn Du, song thất với các khúc ngâm mà còn là thơ nôm Đường luật với Hồ Xuân Hương. Lạ một điều là thơ Xuân Hương làm theo thể ngoại lai, nó lại nôm na một cách đáng yêu, đầy màu sắc Việt Nam hơn thơ làm theo các thể loại dân tộc của nhiều người khác.
Cả Chân Y và Xuân Hương đều nổi tiếng về diệu tài sử dụng ngôn ngữ dân tộc đầy tinh tế, thuần khiết, độc đáo và tuyệt vời. Vì thế cả hai đều khó dịch sang tiếng nước ngoài.
Một bài Sijo của Chân Y thử dịch thì cũng được như thế này:
Ôi trái tim tôi
sẽ phải nhớ nhung người
Nếu xưa đừng điên dại
hẳn giữ anh không rời
Đẩy anh vào xa biệt
tôi có biết tình tôi
Người ta nhận thấy rằng ngôn từ bài thơ này giản dị và thuần Hàn đến nỗi toàn bài thơ chỉ có một chữ Hán, đó là chữ “ tình” (chong) nằm ở câu cuối và đó là một chữ Hán rất quen thuộc.
Đọc lại bài Mời trầu của Hồ Xuân Hương xem :
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
Này của Xuân Hương đã quệt rồi
Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá, bạc như vôi
Ngoại trừ tên Xuân Hương, toàn bài có thể nói rất hiếm từ Hán Việt. Vả lại chữ “ duyên” gần như mất hẳn nguồn gốc khi nằm trong tổ hợp “duyên nhau”.
Chân Y còn là nhà thơ có khả năng sáng tạo những từ láy âm tuyệt diệu như trong bài Sijo nổi tiếng nhất của nàng:
Tôi bẻ gập đôi
tấm lưng đêm đông chí
Ấp iu ủ vào chăn ấm
thoảng hơi mùa xuân tôi
Rồi có khi nào anh tới
mênh mang trang trải đêm đời.
Trong nguyên ngữ ba câu, từ láy âm “sơri sơn” đặt trong hàng đầu và “kubi kubi” đặt vào hàng cuối. Theo sự phân tích của Kichung Kim thì :
“ Sơri sơri và kubi kubi thể hiện hai động tác đổi hướng : Sơri sơri diễn tả tình cảm cũng như hành động liên tục gấp xếp một cái gì đó rất chu đáo, trong khi kubi kubi diễn tả tình cảm cũng như hành động mở phơi một cái gì đó cho dài ra. Cả hai chuyển tải nỗi khát khao mong đợi người tình của nhà thơ trong suốt những đêm dài mùa đông tăm tối cũng như niềm hân hoan chờ đón người yêu trở về cùng với mùa xuân”.
Tất nhiên những từ láy ấy không thể dịch được, các bản dịch Anh, Pháp bài thơ này cũng cho thấy điều đó. Tôi chỉ cố gắng gợi lên phần nào âm hưởng ấy bằng những tổ hợp từ “ ấp iu ủ vào “ và mênh mông trang trải”.
Dùng từ láy âm là sở trường của Hồ Xuân Hương. Như trong bài Đánh đu :
Trai du gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng
Bốn mảnh quần hồng bay phới phới
Đôi hàng chân ngọc duỗi song song
Tuy có đôi điều gần gũi như vậy, song nghệ thuật của hình tượng trong thơ Chân Y và Xuân Hương rất khác nhau. Điều này nổi bật nhất trong cách nhìn thiên nhiên của đôi bên.
Cũng là hình tượng nước non và trăng đêm nhưng ở Chân Y và Xuân Hương, cái được biểu đạt đi theo những hướng riêng biệt.
Ở Chân Y, con người được chuyển hoá thành thiên nhiên : Tôi là núi, người tình của tôi là nước. . .
Ở Xuân Hương thì ngược lại, thiên nhiên được chuyển hoá thành con người : khe núi có thể thành ra cửa mình, nước có thể thành ra giọt ái ân.
Một bài Sijo khác của Chân Y về nước non :
Núi lam là tim tôi
nước xanh là tình người
Núi lam thì biến đổi
Nước xanh thì cứ trôi
Vẫn còn thương nhớ núi
Nên nước lại qui hồi
Và đây, non nước trong bài Kẽm Trống của Xuân Hương :
Hai bên thì núi, giữa thì sông
Có phải đây là Kẽm Trống không?
Gió giật sườn non khua lắc cắc
Sóng dồn mặt nước vỗ long bong
Ở trong hang núi còn hơi hẹp
Ra khỏi đầu non đã rộng thùng
Qua cửa mình ơi nên ngắm lại
Nào ai có biết nỗi bưng bồng
Hình tượng trong thơ Chân Y qui chiếu theo cái đẹp cổ điển trong khi hình tượng trong thơ Xuân Hương qui chiếu theo cái đẹp dân gian. Một cái đẹp tĩnh, một cái đẹp động. Núi và nước của Chân Y có mặt bằng màu sắc êm dịu, lặnglẽ. Núi và nước của Xuân Hương thì có mặt bằng sự vang vọng, là thơ của sấm động và trống rung.
Với thiên nhiên là vậy mà với “ cái hồng nhan” cũng thế, mỗi người tự tình một cách. Lời tự tình trong thơ Sijo của Chân Y như sau :
Tôi chưa từng thất hẹn
Cũng chưa biết dối người
Mà sao anh không tới
Canh tàn, trăng cũng trôi
Trong gió thu lá rụng
Tôi biết làm chi tôi ?
Cái hồng nhan trong cô đơn được Chân Y diễn tả bằng nỗi ngậm ngùi và tàn phai: đêm thì tàn, trăng thì lặn, lá thì rơi – thế còn tôi ?
Lời tự tình của Xuân Hương thì khắc khoải, day dứt, nồng cháy và mỉa mai : trơ cái hồng nhan.
Canh khya văng vẳng trống canh dồn.
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn
Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con !
Người con gái, ngay cả đó là Chân Y và Xuân Hương, lúc nào cũng buộc phải chờ đợi, nghĩa là phải tùy thuộc đến nỗi “ trơ cả cái hồng nhan”, đến nỗi “ tôi biết làm chi tôi”. Hai người con gái tài hoa ấy đều tự gọi mình là Nguyệt (Minh Nguyệt và Cổ Nguyệt), như thể xem trăng là biểu tượng đời mình.
“Canh tàn, trăng cũng trôi”, tôi dịch từ mấy chữ nguyên văn của Chân Y là “Nguyệt trầm tam canh “. Chân Y đương là vầng trăng sáng chói (Minh Nguyệt) nhưng nàng đủ thông minh để biết rằng nguyệt có thể trầm bất kỳ lúc nào, rằng cái hồng nhan có thể bị bỏ rơi trong đêm tàn, trong gió thu lá rụng.
Xuân Hương cũng thấy rõ cái nguy cơ của “ vầng trăng bóng xế”. Kìa, thời gian đang đuổi theo cái hồng nhan với tiếng trống canh khủng khiếp khua dồn dập của nó. Thời gian đuổi dồn và cái hồng nhan tự ý thức được sự trơ lạnh của mình giữa non nước thiên nhiên. Cùng với tiếng trống rợn người, những đám rêu thời gian bắt đầu phủ giăng mặt đất của đời nàng. Và đá bắt đầu dựng lên như bia mộ ở dưới chân mây, đá đang lan dần bóng chết. Những từ “ hương”, “ trăng”, “ xuân” trong bài như xoáy vào bản thân nhà thơ, một cái hồng nhan đứng vượt thời đại nhưng vẫn sợ thời gian. Câu “ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại” vừa chỉ những mùa xuân thay nhau, hối hả trôi qua, vừa để lộ sự xao xuyến trong lòng và cái dáng độc hành bơ vơ, quẩn bước của người con gái lỡ làng tương ứng với những mùa thu lá rụng và cảm thức “tôi biết làm chi tôi” của Hoàng Chân Y.
Ngoài những lời tự tình chân phương ấy, Chân Y và Xuân Hương cũng thường làm thơ chữ Hán. Trong Hán thi, Chân Y mở rộng đề tài hơn nhưng phong cách thì cũng không mấy khác biệt. Trái lại, thơ chữ Hán của Xuân Hương có phần xa lạ về tình điệu với thơ Nôm của chính nàng.
Đây là bài tứ tuyệt Vịnh bán nguyệt của Chân Y :
Thùy đoạn Côn lôn ngọc
Tài thành Chức Nữ sơ
Khiên Ngưu nhất khứ hậu
Sầu trịch bích không hư
Dịch thơ:
Côn Lôn ai đẽo ngọc
Cho Chức Nữ lược huyền
Ngưu Lang từ đi mất
Sầu ném vào vô biên.
Một vầng trăng khuyết cô đơn, đó là chiến lược mà Chức Nữ (người con gái muôn đời) đã ném vào hư không xanh thẳm khi vắng biệt tình nhân. Đó là chiếc lược mà Hoàng Chân Y đã ném vào cõi thơ.
Thơ có màu sắc huyền thoại như vậy, đôi khi ta cũng bắt gặp trong thơ chữ Hán của Xuân Hương, như mấy câu trong bài thất ngôn bát cú Bán chẩm thư hoài:
Ngâm khách hữu thần lai sắc tướng
Tình ma vô lực khước sầu binh
Khâm trung bán sấu phong lưu cốt
Tháp thượng bình phân hải giác tình.
Dịch thơ :
Bạn hát có thần cùng họp mặt
Ma tình không sức đuổi sầu binh
Trong chăn gầy nửa thân thanh lịch
Trên chiếu chia đều phận nổi nênh.
(Bùi Hạnh Cẩn dịch)
Cái hồng nhan dường như là nơi thích hợp nhất cho Tình Ma và Sầu Binh tranh chấp. Và giường chiếu (tháp) nàng dường như là một góc biển (hải giác) của tình yêu.
Nếu như trong thơ chữ Hán, Chân Y hết lời ca ngợi vẻ đẹp kỳ diệu của thiên nhiên nơi quê hương mình thì Xuân Hương lại càng có nhiều tụng ca cho phong cảnh đất nước như Đồ Sơn, Hoa Phong (Vịnh Hạ Long…) Cả hai đều tán tụng cảnh sắc Trung Quốc như thói thường. Chỉ riêng việc du sơn ngoạn thủy thôi, Chân Y và Xuân Hương đã là những người con gái hiếm có thời xưa.
Chúng ta còn nhớ thác Bakyon (Phác Uyên) là một kỳ quan như Chân Y là một kỳ quan ở Songdo (Tùng Đô). Vậy thì Chân Y đã viết về bạn mình là thác Phác Uyên như sau:
PHÁC UYÊN BỘC BỐ
Nhất phái trường thiên phún hác lung
Long tưu bách nhận thủy tông tông
Normal 0 false false false EN-US X-NONE X-NONE MicrosoftInternetExplorer4 /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:”Table Normal”; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-priority:99; mso-style-qformat:yes; mso-style-parent:””; mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt; mso-para-margin-top:0in; mso-para-margin-right:0in; mso-para-margin-bottom:auto; mso-para-margin-left:0in; text-align:justify; line-height:150%; mso-pagination:widow-orphan; font-size:13.0pt; mso-bidi-font-size:11.0pt; font-family:”Times New Roman”,”serif”; mso-bidi-font-family:”Times New Roman”; mso-bidi-theme-font:minor-bidi;} Phi tuyền đảo tả nghi ngân hán
Nô bộc hoành thùy uyển bạch hồng
Bao loạn đình trì di đỗng phủ
Châu xuân ngọc toái triệt tình không
Du nhân mạc đạo Lư Sơn thắng
Tu thức Thiên Ma quán Hải Đông.
Dịch thơ:
Núi đá trời xa đổ một dòng
Ào ào trăm thước nước reo ngông
Suối bay đảo ngược rừng ngân hán
Thác giận nằm ngang tưởng ráng hồng
Hang động phủ tràn theo sấm dậy
Hạt châu nghiền sáng ánh trời trong
Khách du đừng nói Lư Sơn tuyệt
Có biết nơi này nhất Hải Đông?
Và đây là một trong 6 bài về vịnh Hạ Long của Hồ Xuân Hương :
ĐỘ HOA PHONG
Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong
Tiễu bích đan nhai xuất thủy trung
Thủy thế mỗi tùy sơn diện chuyển
Sơn hình tà kháo thủy môn thông
Ngư long tạp xứ thu yên bạc
Âu lộ tề phi tịch chiếu hồng
Ngọc động vân phòng tam bách lục
Bất tri thùy thị Thủy Tinh cung?
Dịch thơ:
Cánh buồm thư thả vượt Hoa Phong
Vách đá cheo leo dựng giữa dòng
Nước uốn thế theo bờ núi lượn
Non nghiêng mình xuống cửa duềnh thông
Cá rồng lẩn quất hơi thu nhạt
Cò diệc bay chung nắng xế hồng
Hang ngọc buồng mây băm sáu thứ
Biết đâu là chốn Thủy Tinh cung?
Cả hai bài đều bắt được cái hồn của cảnh, một bên là hồn thác, một bên là hồn vịnh. Hồn thác cho nên mới có “ào ào trăm thước”, “suối bay đảo ngược”, “thác giận nằm ngang”, “hạt châu nghiền sáng”… Hồn vịnh cho nên mới có “nước uốn thế”, “non nghiêng mình”, “cá rồng lẩn quất”, “cò diệc bay chung”… Nếu như Chân Y kết bài với niềm kiêu hãnh về cái đẹp của quê hương thì Xuân Hương chỉ mỉm cười tinh nghịch hỏi về “hang”, về “buồng”, về “cung”… Tuy có khác với thơ Nôm nhưng trong thơ chữ Hán, người đọc đôi khi vẫn bắt gặp một thoáng Xuân Hương, một thoáng nụ cười diễu cợt của một hồng nhan thiên tài ném xuống cuộc đời dưới thấp!
Mặc cho nhiều điểm khác nhau, Chân Y vẫn là một tâm tình rất gần gũi với Xuân Hương.
Tôi thích hình dung ở một kiếp khác, Hoàng Chân Y và Hồ Xuân Hương là một đôi hồng nhan tri kỷ.
Nhật Chiêu
[1] Các bài thơ Sijo của Hwang Chin – I mà chúng tôi dịch sang tiếng Việt chủ yếu dựa vào các bản Anh dịch và Pháp dịch. Ngoài ra chúng tôi có nhờ cô Lim Bora, sinh viên người Hàn quốc, giúp đối chiếu với nguyên tác tiếng Hàn, từ đó chúng tôi sửa chữa thêm cho hoàn chỉnh. Cô Lim cũng tìm giúp tài liệu, dịch một số văn bản tiếng Hàn liên quan đến Hwang Chin – I. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với sự nhiệt tình, tận tâm của cô. N.C
[2] Chúng ta có thể dùng chữ “ huyền thoại” theo hai nghĩa :
1. Điều không thực, lừa mị.
2. Chiều kích phi thường, huyền diệu.
Nguồn: Nhiều tác giả (2003), Văn học so sánh Nghiên cứu và dịch thuật, Nxb ĐHQG Hà Nội

Mình mong mõi văn học Đông Nam Á sẽ được biết nhiều hơn với mọi người Mai Hoa à !
Đọc,mở tầm mắt ra ít nhiều.
Cảm ơn Phú Phong nhiều
Một cuộc đời như huyền thoại
Bài viết hay
Nữ sĩ Hoàng Chân Y hay quá . Thơ anh Chiêu dịch cũng hay
Bài nghiên cứu đọc bổ ích,thú vị.
Cảm ơn bạn đã ghé vào đọc
So sánh trong văn học giúp chúng ta hiểu rõ đặc trưng văn học của mỗi nước,nhưng quan trọng hơn giúp chúng ta định vị lại mình
Đúng là mình chẳng biết gì về thế giới chung quanh
Cám ơn anh Nhật Chiêu vì bài viết cực kỳ tài hoa và vô cùng thú vị. Tư liệu hết sức phong phú… Các bản dịch thơ hay, rất hay! Đọc rất thích và bổ ích! Nhất là qua góc nhìn đối chiếu, thoáng mà sâu sắc, đã làm sáng tỏ thêm nhiều điều về hai nữ sĩ tài hoa Hàn – Việt – Hoàng Chân Y – Hồ Xuân Hương…
Anh CQV ơi anh làm mình nở mũi đấy. Chỉ vì mình quá yêu hai hồng nhan ấy thôi mà !
Một bài viết sắc sảo, rõ ràng và lôi cuốn lắm anh Nhật Chiêu ơi (tôi đọc đến 2 lần liên tiếp), chứa đựng những so sánh tinh tế và thú vị của hai người nữ tài sắc “cùng một lứa bên trời lận đận”, cùng các bài thơ dịch vẫn mang được sức truyền cảm lay động cõi lòng người đọc.
“Cùng một lứa bên trời lận đận”.Đúng vậy anh Quế Sơn à,cái lận đận của tài sắc đáng yêu
Bài “nguyên cứu văn học” của Anh Nhật Chiêu về hai nữ sĩ nổi tiếng Hàn_Việt (Hoàng Chân Y & Hồ Xuân Hương) trong bối cảnh lịch sử Trung đại(Á Đông), nặng quan niệm độc tôn “Trọng nam khinh nữ” _ Bằng lối “so sánh”qua những nét “tương đồng & khác biệt” giữa hai nền văn hóa, đã khắc họa nổi bật tính cách và cuộc đời tài hoa của hai nữ sĩ, đọng lại trong lòng người đọc đầy sự cảm thông & ngưỡng mộ!
Cảm ơn Anh NC về bài viết dễ hiểu, súc tích & độc đáo!
Cảm thông và ngưỡng mộ cho những bậc nữ lưu kỳ diệu, đó là điều đáng nói anh Nguyễn Ngọc Thơ nhỉ !
CUỘC ĐỜI NHÀ THƠ HOÀNG CHÂN Y CÒN LY KỲ HƠN TIỂU THUYẾT
Đôi khi tiểu thuyết còn thua cuộc đời là vậy !
Hoàng Chân Y từ nhỏ đã làu thông tứ thư ngũ kinh
________
Người Hàn quốc hình như không học tứ thư ngũ kinh như người Việt !
Ôi! ai nói vậy?
Văn viết hay quá
Đọc nghiên cứu mà giống như đọc một bài văn hay. Lối viết này thật dễ cảm dễ thấm
Viết giản dị dễ hiểu mà truyền tãi rất nhiều thông tin quí về một dòng văn học còn mới lạ với chúng ta
Bản dịch thơ hay,vừa thoát ý vừa giữ được phần nào nét văn hóa xứ Hàn
Cứ tưởng chỉ có nước mình mới có Hồ Xuân Hương
Ngoài bầu trời có cả một bầu trời .Cảm ơn bài viết thú vị
Một nhân vật hồng nhan tuyệt vời
“Xưa nay thanh khí lẽ hằng
Một giây buộc lại ai dằng cho ra ”
Posted by 123.20.41.89 via http://webwarper.net, created by AlgART: http://algart.net/
This is added while posting a message to avoid misusing the service
Cám ơn bạn lemongthang nhé !
Tư liệu văn học rất quí khi muốn nghiên cứu về văn học Đông Á
Một tác giả văn học độc đáo lần đầu tiên biết đến. Cảm ơn nhà nghiên cứu Nhật Chiêu
Từ góc nhìn so sánh có thể hiểu thêm về những nét độc đáo của văn học Á đông. Đây là một hướng nghiên cứu phù hợp
Công phu và rất nghiêm túc,rất bổ ích
Bài nghiên cứu đã mở ra một hướng mới thú vị vô cùng
Người ta nói rằng việc Chân Y làm kỹ nữ bắt nguồn từ một biến cố như sau : Có một nho sinh vì quá tương tư nàng đã lâm bệnh mà chết. Theo di ngôn, cỗ quan tài được rước qua nhà Chân Y trên đường ra nghĩa trang. Nhưng đến trước cổng nhà nàng thì quan tài dừng lại, không chịu nhúc nhích. Chân Y phải xuất hiện, lấy váy lót của mình phủ lên áo quan mới làm chuyển động được nó và đám tang mới có thể tiếp tục lên đường. Đó là điềm triệu, như người ta tin, báo hiệu Chân Y là người của Kỹ giới (Kikae)!.
_________
Một huyền thoại quá hay
Cảm ơn tác giả về một bài viết hay
Xin nghiêng mình trước bài viết rất ư phong phú từ nội dung đến hình thức về hai nữ sĩ Hàn – Việt (Chân Y và Hồ xuân Hương)
Bài viết đã chứng tỏ kiên thức sâu rộng của tác giả Nhật Chiêu, giúp độc giả bình thường thêm sự hiểu biết và giúp những ai đang học môn Văn có thêm tài liệu cho môn học của mình.
Thỉnh thoảng Xứ Nẫu có những bài nghiên cứu như vầy thật vô cùng hữu ích.
Cám ơn ông Nhật Chiêu nhiều lắm nha.
Chào nhà văn Nhật Chiêu![Nhân sinh quan mỗi thời mỗi khác!/Cái dị biệt kỳ thị.thường ác cảm./Hiếm cái nhìn thân thiện từ tâm?/”Nữ lưu ….Hạng tầm thường ngàn năm”/Hồ Xuân Hương,Chân Y tài nhân/Sắc tài hồng nhan, thân phận lận đận../Huyền thoại như gởi tin nhắn../”Tài hoa mệnh bạc! Có gì sướng thân???Cái nhìn thời nầy về nữ lưu ..Thoáng hơn?Nhưng chưa hẳn là giống như nam?Trừ khi nước thuộc chế độ mẫu hệ..Tôi nghĩ thế!Bởi ..Ảnh hưởng ngàn năm văn hóa Trung Hoa!?Trong bài viết ..Qua giọng văn Tôi cũng thấp thoáng thấy điều đó..Dù rất nhẹ nhàng có 1 chút tôn ti nam và nữ Nhưng phải công nhận đàn Ông bao giờ cũng hay hơn phụ nữ.Chẵng hạn như bài viết trên pha chút huyền thoại .Nói chung bài viết rất hay,tình tiết hợp lý!Tôi rất thích đọc các bài viết như thế!
Rất cảm ơn về lời khen của người xa xứ nhưng rất “hương tâm “