Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười, 2011

Cảm giác

Truyện Ngắn

TRẦN MINH NGUYỆT

 

 

Cái cảm giác đó lại đến, Tâm cảm thấy lâng lâng như đang bước vào ngưỡng cửa của hư không – cõi bình yên nhẹ tênh như gió thoảng.  Mọi điều hiện ra, mờ ảo, quyến rủ – thực thực, hư hư – chơi vơi, lơ lửng. Lúc trước, phải lâu lắm cái cảm giác này mới ùa đến bên nỗi chán chường cô độc , còn bây giờ hầu như nó đến liên tục với cô, nó cắn rứt, tàn phá cơ thể cô, nó làm cô mất ngủ hằng đêm. Trái tim trước kia vốn có hàng trăm, hàng vạn ngọn đèn lung linh chiếu sáng, vậy mà theo thời gian những ngọn đèn này dần tắt, giờ chỉ còn le lói ánh sáng mờ ảo của những ngọn đèn cuối cùng. Cái ánh sáng bàng bạc, hiu hắt ấy không đủ làm ấm lòng, làm tan đi lớp băng giá lạnh trong tim mà theo thời gian ngày càng dày và cứng như những lớp băng vĩnh cữu trong lâu đài của “ Bà chúa Tuyết”.

                      

Cái cảm giác cũng lớn dần theo năm tháng của cuộc đời Tâm; cô cảm nhận thấy rất rõ ràng như vậy. Như đã nhìn thấy hoa trái quanh vườn thay dổi hình dạng và sắc mầu qua ngày tháng. Lúc Tâm còn nhỏ, nó nằm ở đâu đó trong tim, nó vô hình, vô ảnh và biết cách ẩn mình rất kĩ đến nỗi cô chỉ lờ mờ nhận ra nó. Đó là những cảm giác vui buồn lẫn lộn mà mỗi buổi chiều Tâm thơ thẩn trước sân nhà gởi hồn trôi theo những làn mây nhẹ trên không, hoặc những cơn gió lùa trên ngọn tre trước ngõ. Phía xa xa là núi đồi, là con đường cái quan mòn nhẵn trơ vơ…

Trong cái cảm giác đó, Tâm “ thấy” mình là một tiểu thư sống trong một gia đình quyền quý được cưng chiều hết mực. Cô lộng lẫy trong những bộ đầm sa tanh, gấm vóc đủ màu. Một bàn ăn với nhiều món ăn mùi vị hấp dẫn như gà quay, tôm hấp, thịt bò lụi… và trái cây đủ loại được bày ra đầy bàn. Cô muốn ăn gì cũng được. Vậy mà cái cảm giác đó lại đột nhiên biến mất, như cơn gió thốc qua – cô lại trở về với mình trong bộ đồ vải tám cũ rách, và cái bụng đang cồn cào vì đói.

Trên đường đi học. Tâm lại bất chợt lạc vào một hành tinh lạ, ở nơi đó không có bóng người, nhưng có rất nhiều hoa đẹp, mà mỗi hoa có một hương sắc riêng, rất đặc biệt mà Tâm chưa hề được thấy lần nào.. Tâm quanh quẩn bên khóm hoa có tên là “ Thông Minh “ vì cô thích mùi hương dịu dàng quyến rũ của nó. Sau đó cô cũng tìm được đường ra khỏi hành tinh huyền ảo ấy, và đến trường như bao ngày khác; nhưng cũng từ đó Tâm trở nên thông minh tuyệt đỉnh, cô có thể làm được những bài toán dù khó đến đâu, và có thể trả lời tất cả những câu hỏi mà các thầy giáo, cô giáo trong trường đặt ra cho cô. Bạn bè và các anh chị trong trường nhìn cô ngưỡng mộ, cái biệt danh “ ngớ ngẩn” dành cho cô không còn nữa. Các bạn trong lớp cho cô chơi cùng, cô không phải đứng ngoài mà nhìn họ chơi nữa. Và Tâm vui nhất là cha, mẹ bây giờ có thể tự hào về đứa con gái của mình, không còn nét buồn, nét giận trên gương mặt mỗi khi bạn bè , hay hàng xóm láng giềng nói về cô nữa.

Cái tuổi thần tiên của Tâm trôi qua lặng lờ, êm đềm như vậy đó. Rồi cũng đến ngày Tâm vào cấp ba, cái cảm giác lạ lẩm vẫn theo cô như bóng với hình, nhưng nó chỉ là những ý nghĩ thoảng qua trong đầu mà thôi. Không miên man. Hay đưa đẩy, dẫn dắt dài lâu như trước.

Rồi vào buổi chiều mùa đông, không gian buốt lạnh – đó là năm Tâm đang theo học lớp 10, thì đột nhiên nó lại xuất hiện. Trở về một cách khẻ khàng đến nỗi Tâm cũng không hề hay biết từng bước chân len nhẹ vào đầu mình. Hôm đó lớp của Tâm đang làm lao động thì trời đổ mưa, những cơn mưa mùa Đông dai dẳng như không bao giờ dứt. Cô và các bạn trong lớp nép mình dưới mái hiên của dãy hành lang trường học. Cô say sưa ngắm nhìn những giọt mưa rơi trên mái tôn, nước bắn ra như những hạt kim cương long lanh, huyền ảo. Tâm thấy mình mặc một chiếc áo ấm len màu đỏ rất đẹp, cô ôm chiếc cặp màu đen thả bộ trên con đường về nhà. Cô xinh và dể thương đến nỗi ai trên đường cũng quay lại nhìn cô và mỉm cười thân thiện. Trời đang lạnh nhưng cô cảm thấy ấm áp làm sao. Cô về tới nhà thì trời cũng vừa chập choạng tối, trong nhà mẹ cô đang đúc bánh xèo, mùi thơm bay ra đến tận ngõ. Cô cất cặp và ngồi xuống bên cạnh lò cuốn bánh với rau sống và một lát khế chua, chấm vào nước mấm ớt tỏi, chanh đường đã được mẹ làm sẳn. Cô đang ăn ngon lành như vậy thì bổng nghe một giọng nói to và sửng sốt: “ Trời ơi! em chưa về sao? Em còn ngồi đây làm gì? Đã tối quá rồi mà? ”. Tâm giật mình và cái cảm giác đẹp, hư ảo kia biến mất. Cô vẫn còn ngồi ở dãy hành lang của trường có một mình, thầy chủ nhiệm của cô đang đứng bên cạnh nhìn cô đầy ngạc nhiên. Trời vẫn mưa, và đã xẩm tối. Cô vội vã chào Thầy chủ nhiệm và đếm bước về nhà trong cơn mưa lạnh buốt…

Ngày khác, thầy giáo Thanh giàng dạy về tác phẩm “ Số Đỏ” của Vũ Trọng Phụng – học xong Tâm và các bạn còn được xuống hội trường xem phim nữa. Đó là lần đầu tiên cô xem những chuyện nam, nữ yêu nhau, hôn nhau và sống thác loạn như vậy. Bạn của Tâm đứa nào cũng cúi đầu, nhắm mắt, còn Tâm thấy lạ cứ lén nhìn, và trong lòng thoáng hiện một chút gì đó ước ao. Những ngày sau, cảm giác mới lạ ấy lại tìm đến cô nhiều hơn. Những giờ giải lao trong lớp, khi bạn bè Tâm tụ tập chuyện trò huyên thuyên thì cô lặng thầm nói chuyện với người yêu trong cảm giác mơ tưởng của mình  Anh ấy rất lịch thiệp, thông minh, và rất mực yêu thương cô – luôn luôn dành cho cô những lời thương yêu, an ủi, và sự đùm bọc chí tình.  Như một tia chớp – Tâm cảm thấy nhói đau ở đầu,  cô bừng tỉnh. Mấy thằng bạn hoang nghịch cùng lớp lại ùa đến, chúng buông lời chọc ghẹo sổ sàng với cô…

Cái cảm giác thời  thời 16, 17 của Tâm không cố định, mà biến đổi luôn. Nó như một dòng chày, qua bao ghềnh thác, hay có lúc êm xuôi giữa dòng suối rộng. Lúc thì Tâm thấy mình là một Thúy Kiều bạc phận, lúc lại là Phăng Tin khóc gởi con cho Giăng Van Giăng, hay là Men Đen với những thí nghiệm di truyền học… Cảm giác lúc đó vui buồn lẫn lộn nhưng đó là cả một thế giới hoàn toàn khác – một thế giới màu hồng với những điều tốt đẹp và đầy hứa hẹn

Tâm bước vào Đại học chỉ với một lượng kiến thức ít ỏi về cuộc đời thực, mà lại quá nhiều những giấc mơ, những cảm giác hão huyền mà cuộc đời thực không xảy ra hoặc chưa từng xảy ra với bất kì ai. Ngày ngày trong khi bạn cùng phòng ngoài giờ học chăm lo nhan sắc của mình, và kiếm một bạn trai cùng trường hay đồng hương để chia sẻ những buồn vui, thì cô lại sống và yêu thương người trong cõi mộng của mình. Và thế là cô trở nên ngơ ngẩn, khép kín – không giống ai. Cuộc sống như một vòng xoáy, nó cuốn cô vào đó, buộc cô phải chạy theo để mình không bị bỏ lại phía sau, nhưng chính cái cảm giác mơ tưởng kín bưng đó nó giữ chặt cô lại trong vỏ ốc của sự tự ti, ngăn cách – và cô không thể khẳng định được chính mình giữa cuộc đời rộng lớn và phức tạp đang xô kéo cuộc đời cô và tất cả mọi người nhu một cơn lũ…

Ra trường sau 4 năm học với mảnh bằng tốt nghiệp loại giỏi.                Tâm được nhận vào làm kế toán trưởng cho công Ty Gỗ Phát Đạt này đã hơn 18 năm rồi. Công ty cách nhà của cô cũng khá xa, gần 30 phút đi xe máy. Những năm đầu tiên trên đường đi đến công ty, Tâm vẫn an nhiên thả hồn mình theo cùng cảnh vật, mây trời, và chìm đắm trong cảm giác – cái cảm giác mà lúc đó nó làm cô cảm thấy vui vẻ, có niềm tin, có động lực hơn trong cuộc sống. Tâm đã tựa vào chúng như một nơi chốn yên bình duy nhất.

Trong những cảm giác dịu kì trong đầu, cô thấy mình được cơ quan cử đi học Thạc sĩ, rồi Tiến sĩ. Những công trình nghiên cứu của cô được ứng dụng nhiều trong đời sống. Cô được các nhà báo phỏng vấn và đưa lên trang nhất của các tờ báo lớn. Cô được mời sang nước ngoài tham dụ các cuộc hội thảo về kế toán tài chính, trao đổi kinh nghiệm với những nhà quản lý khinh tế nước bạn. Tiền Tâm kiếm được nhiều vô kể, cô có một biệt thự thật trang nhã ở trung tâm thành phố, và có một chiếc xe hơi đắt tiền, một tài xế riêng.. Bên cạnh cô, người yêu thương nhất của cô, luôn ủng hộ và thương yêu, chìu chuộng cô hết lòng. Mỗi ngày chủ nhật, cả hai thường cùng nhau đi du lịch, thăm viếng những thắng tích, những nơi yên vắng thơ mộng. Cô được nằm trong vòng tay của anh ấy và hạnh phúc với những nụ hôn ngọt ngào, nóng bỏng…

Có lúc Tâm lại có cái cảm giác, thấy mình quẩn quanh bên những bà xơ, những ni cô để cùng chăm sóc những trẻ em nghèo lang thang không cha, không mẹ. Chúng nhìn cô với ánh mắt biết ơn, và đều vui vẻ hồn nhiên gọi cô bằng  “mẹ “ khi cô dịu dàng ẵm bồng hay trò chuyện thân tình với chúng.. Hằng tháng, Tâm cũng đã dành phần lớn thu nhập để góp phần chung lo cho chúng như một người mẹ sẵn sàng hy sinh cho các con. Cha, mẹ, anh em của cô mỗi người cũng đều có một biệt thự riêng với đầy đủ tiện nghi sinh hoạt và vài người giúp việc. Họ sống trong hạnh phúc ngập tràn, không nhuốm mùi phiền lụy của cuộc sống đời thường như bao người đang kham khổ, nghèo đói chung quanh…

Rồi cảm giác lướt qua, cũng nhẹ nhàng như lúc đến. Tâm trở lại với cuộc đời trước mắt – Tâm vẫn chỉ một mình, vẫn phải cần mẫn lo làm sao có tiền để chi dụng đủ trong tháng.  Làm sao có thêm thu nhập để giúp đỡ cho cha, mẹ bớt khổ và tự lo tốt cho bản thân dường như luôn có sẵn bệnh trong người. Những lúc như vậy Cô thường cười – nụ cười thương hại và nhạo báng, cùng với ý nghĩ : Tâm ơi! Mầy hãy nhìn vào thực tế đi, cảm giác đó chỉ là điều hảo huyền thôi!”. Nhưng sự ngọt ngào của những điều hảo huyền ấy luôn có ma lực hấp dẫn cô, cuốn  hút cô vào vòng xoáy của nổi cô độc  mà cô không làm sao thoát ra được. Bởi vậy, Tâm là người cực kì ít nói, đến công ty chỉ biết có công việc và sống với cảm giác riêng của mình. Rất ít trò chuyện với bạn bè. chỉ mở miệng khi nào công việc cần thiết mà thôi.

Mười tám năm trôi qua là một khoảng thời gian không quá dài nhưng cũng không quá ngắn cho một đời người. Cái cảm giác mông lung cứ ám ảnh vẫn song hành với cô, nhưng cái cảm giác ngọt ngào dần tan biến đi – cô ngày càng cảm thấy cô độc, lẻ loi hơn, Cô lặng lẽ hơn trước, buồn nhiều hơn trước, và những đêm giấc ngủ không đến trọn thường xuyên hơn. Cuộc sống mãi mãi như một vòng xoáy vô hình, vô định – nó cuốn Tâm vào trong đó ngày càng sâu hơn. Nó buộc cô phải chạy, chạy theo để mình không bị bỏ lại phía sau.  Không bị là kẻ luôn đứng bên lề cuộc đời .Cảm giác êm đềm, quyến rủ và lạ lẩm trong cô dần dần tan mất và thay vào đó là những điều trần trụi, cằn khô và phủ phàng. Thực tế – hiện thực đời sống đã khiến cô trở nên lạnh lùng hơn, trống trải hơn. Có lẽ cô đang sa chân trên một con đường với màn sương mờ che phủ, ảo ảnh quyến dụ chập chờn – và cô cứ bước đi mà không hè biết đằng sau đó là những gì và trước mặt rồi sẽ đi về đâu?

Giờ đây Tâm không mơ mộng gì nữa, nhìn mọi người trong công ty ai cũng có gia đình riêng, có đôi có cặp và cứ có thời gian rảnh là họ lại nói về cái tổ ấm riêng của họ, về chồng, và con cái của họ với niềm tự hào và hạnh phúc ngập tràn trên nét mặt. Cô trở nên lặng lẽ hơn, và cái cảm giác lạnh lẽo, cô độc – cái cảm giác là một con người vô thừa nhận lại đến với cô.  Đôi lúc cô cũng mơ một vòng tay ấm áp để tựa đầu vào mỗi lúc buồn hay thất vọng – nhưng đó chỉ là cảm giác thoáng qua trong giờ rảnh rỗi, những lúc chạy xe trên đường.  Khi tối đến, cảm giác hoang mang luôn tồn tại trong đầu, và cô thấy mình thật vô dụng, không biết sống để làm gì. Có lẽ sự cô đơn làm đông cứng tâm hồn của Tâm mất rồi. Cô cảm thấy không được yêu thương, không được tôn trọng, không được giúp đỡ mà chẳng biết nhờ cậy vào đâu? Và cô trở nên chơi vơi, lạc lõng giữa đất trời xa lạ…

Tâm không biết phải làm gì để có thể thoát ra khỏi cái cảm giác đang hiện hữu trong đầu óc cô, nó xuất hiện ở mọi lúc mọi nơi, nó làm cô đau đớn không yên. Nhưng cô vẫn không muốn kết thúc nó, cô vẫn yêu cuộc sống của mình. Cô nhớ câu châm ngôn của Charlie Chaplin Cuộc sống như một màn kịch không có phần tập dượt trước. Bởi vậy: Hãy hát ca, nhảy múa và yêu mỗi một giây phút của cuộc đời bạn trước khi vở kịch hạ màn không một tiếng vỗ tay”.

TRẦN MINH NGUYỆT

Read Full Post »

Phượng muộn

Bạch Xuân Lộc

Qui Nhơn buổi đầu thu,
Trời đang rải sương mù,
Hàng dương vẫn vi vu,
Tôi đi trong sương mù.

Tôi vẫn đi trong sương,
Đâu hay lớp bụi đường?
– Lòng vời vợi nhớ thương,
Tôi mảnh tình tha hương.

Ta chờ nhau – trường cũ,
Chút nắng hờn thu vương.
Ta đưa nhau về biển,
Nhìn núi Hàn buồn thương,

Cành hoa nào nở muộn
Phượng có hờn anh không?
– Không cành hoa nào muộn.
Vẫn là tình xa mong.

Vẫn nở trong lòng ta,
Một màu phượng thiết tha,
Vẫn là niềm yêu cũ,
Của dấu xưa chưa nhòa.

Mời các bạn nghe bản nhạc Phượng Muộn thơ Bạch Xuân Lộc,dòng nhạc Chánh Thiện Lộc và tiếng hát Ca Sĩ Ngoc Trang với sự hòa âm của Nhac Sĩ Ngô Chương

Read Full Post »

Cà phê phi trường

Phanlehue
Người lỗi hẹn
Ly cà phê đắng
Thánh thót giọt buồn
Đếm nỗi cô đơn…
Người lỗi hẹn
Ly cà phê chậm
Giọt nấc nghẹn ngào
Quyện bờ môi!
Đành lỗi hẹn
Chơ vơ…từng bước..
Nắng ấm phi trường
Chẳng xoa dịu trái tim!
Buổi sáng em trở về
Còn vương vị đắng..
Và ..chút mặn thầm lăn xuống môi..!!..
                      QN 09-2011

Read Full Post »

Lời cảm ơn muộn màng

NAM THI

 

Chuyên về nhà sau cuộc họp của Hội Cựu Chiến Binh Xã để chuẩn bị kỷ niệm ngày thành lập QĐND. Những cựu chiến binh thời đánh Mỹ phần nhiều đã già yếu nên lần lượt xin nghỉ và “bàn giao” công việc của Hội cho lớp cựu chiến binh chiến trường Kampuchia như anh, phần đông mới trong ngoài bốn mươi. Vào thời điểm ấy nhiều người còn làm việc, riêng anh đã ra quân, nghỉ mất sức vì là thương binh 2/4. Mảnh đạn cối còn trong hộp sọ vẫn hành anh mỗi khi trở trời.

Nhà của Chuyên nằm trên bờ sông Sài Gòn, tuy cách trụ sở xã khoảng một ki-lô mét  đường chim bay, nhưng anh phải đi xa hơn theo đường vòng trong ấp ra. Đường nhựa chỉ chạy từ liên tỉnh lộ 8 rẽ vào ấp, đến đình Hòa Phú thì bắt đầu con đường đất rải đá chạy ngoằn ngoèo theo bờ con sông Lu, một nhánh phụ, ra đến điểm hợp lưu với sông Sài Gòn. Chiếc xe cúp cánh én của Chuyên tuy cũ nhưng lại dễ lái trên con đường gồ ghề trơn trợt đó. Hai bên đường mọc đầy lau sậy và cỏ Mỹ cao ngang tầm người. Chuyên yêu con đường hoang sơ vắng vẻ ấy, bốn mùa ngát hương cỏ dại và lộng gió.

Những năm gần đây cánh đồng lúa giáp bờ sông được quy hoạch thành đất vườn trồng cây lâu năm nên người ta bắt đầu trồng cây ăn trái thay thế lúa nước. Khi anh mới từ nội thành chuyển về đây bốn năm trước, cả vùng chỉ có vài căn nhà lá, nhưng nay đã có nhiều nhà cấp ba, cấp bốn lợp ngói, lợp tole. Nhiều “đại gia” từ thành phố về mua hằng mẫu đất để làm nhà nghỉ và đầu cơ đất đai. Họ bỏ tiền kéo điện hạ thế, rải đá con đường cho ô-tô chạy được bất kể mưa nắng. Chuyên không chỉ được “ăn theo” các tiện nghi đó mà còn được thuê trông nom nhà cửa, vườn cây, ao cá cho họ.

Sau khi ra quân, anh sống với cha mẹ trong nội thành một thời gian. Anh không kiếm được việc làm phù hợp vì lúc ấy vết thương ở đầu thường xuyên hành hạ. Một đồng đội cũ của anh quê ở ấpHòa Phú nầy khuyên anh nên về sống ở nông thôn sẽ tốt cho sức khỏe của anh hơn. Thật ra, lý do chính anh bỏ thành phố vì anh không chịu được cảnh ăn không ngồi rồi, trở thánh gánh nặng cho cha mẹ, anh em. Anh cảm thấy lạc lõng, dư thừa ngay trong gia đình mình. Những năm tháng trong quân ngũ anh luôn có đồng đội, sống chết có nhau. Hơn nữa, anh là một trung đội trưởng dày dạn chiến trường, được anh em yêu thương kính nể. Lòng tự trọng thúc giục anh phải ra sống tự lập.

Người đồng đội giúp Chuyên mua lại mảnh đất trên bờ sông Sài Gòn, gia đình và đơn vị cũ giúp dựng căn nhà lợp lá dừa và những vật dụng sinh hoạt cần thiết. Thời gian đầu anh vẫn ở chính trong nội thành, nhưng dần dần anh chuyển hẳn về căn nhà “riêng” của mình để chăm sóc ao cá và hai con bò cái giống. Đó là vốn liếng ban đầu. Với tiền trợ cấp thương binh, tiền thù lao của mấy đại gia chủ đất và hoa lợi thu được, cuộc sống của anh đã ổn định. Người thân trong gia đình và bạn bè khuyên anh kiếm vợ để có người “hôm sớm lúc về già” nhưng anh chỉ lắc đầu. Không phải anh không mơ ước một mái ấm nhưng ở tuổi anh tuy chưa già nhưng đã quá lứa thì tìm đâu ra người phù hợp. Có thể cũng có ai đó có cảm tình với anh vì dẫu sao anh cũng là một người đàn ông cao ráo, lịch sự, có học nhưng thương tật của anh làm họ nản lòng. Trước khi nhập ngũ anh cũng trải qua vài mối tình học trò nhưng chuyện ấy đã lùi xa trong ký ức nhạt nhòa. Anh không những đã quen với cuộc sống độc thân, mà thậm chí còn tránh xa những tác động làm xáo trộn nó.

Lúc đầu, nhà của anh nằm thoi loi giữa đồng ruộng, sông nước. Gần đây anh mới có hàng xóm. Đó là cô giáo Minh và cậu con trai nhỏ. Minh là con gái của người nông dân đã bán đất cho anh trước đây. Nghe nói Minh thôi chồng, dắt con về sống với cha mẹ một thời gian rồi được cha cho đất cất nhà ra riêng. Anh chưa bao giờ qua thăm nhà Minh. Thản hoặc, có tình cờ gặp nhau giữa đường họ cũng chỉ chào nhau. Ấy thế mà đã có lời xì xầm ngoài Ủy ban rằng anh và Minh sắp đậu gạo nấu cơm chung. Có người còn chêm “ nồi tròn úp vung tròn, nồi méo úp vung méo”. Anh hơi bực mình vì sự ám chỉ anh và Minh là loại nồi méo, vung méo…

Anh về đến nhà lúc gần 5 giờ chiều. Thấy trong nồi còn cơm nguội đủ ăn bữa tối, anh cho ít nước vào cơm và cắm điện hâm nóng. Rồi anh xúc thức ăn ra ao vãi cho cá. Lũ cá rô phi háu ăn cỡi len nhau giành mồi làm mặt nước ao sủi bọt. Anh lấy vợt bắt hai con bằng bàn tay và hái thêm mớ đọt rau muống mọc quanh bờ ao. Cá rô phi chiên xù, rau muống luộc, nước luộc rau làm canh. Một bữa cơm tối không đến nỗi tệ. Tuy vậy, ăn mãi món cá cũng ngán, nên anh tính mai sẽ ra chợ mua ít thịt để đổi khẩu vị. Hơn nữa, ba ngày rồi con chó Ky bỏ ăn, có lẽ nó cũng chán món cá chan nước rau muống như anh.

Thỉnh thoảng con Ky vẫn bỏ ăn như vậy, có khi do bịnh hoặc do nó mãi bận vào trong ấp tìm bạn tình. Nhưng lần nầy nó bỏ ăn lâu quá khiến anh áy náy. Thật ra, Minh mới là chủ của Ky, nhưng từ hơn năm nay nó vẫn ăn bữa trưa với anh. Vì hai nhà chỉ cách nhau hàng rào trúc thưa nên con Ky vẫn qua lại nhà anh dễ dàng. Lần đầu thấy nó thực lòng anh không biết chó của ai nhưng khi anh huýt sáo gọi, nó chạy lại ngoắc đuôi. Sẵn có mấy cục xíu quách còn lại từ bữa nhậu hôm trước anh ném cho nó. Và hai bên làm quen và thân thiện với nhau từ đó. Sở dĩ anh biết được tên nó vì thường nghe  chủ nó gọi. Hai mẹ con Minh thường nghỉ trưa ở nhà cha mẹ trong ấp nên anh trở thành “bảo mẫu” của Ky. Buổi trưa anh thường treo võng nghỉ lưng dưới gốc xoài và Ky khoanh đuôi nằm bên cạnh. Chiều tối, nghe tiếng máy xe của mẹ con Minh nó mới chạy về với chủ.

Có lần Minh đi làm sớm quên tắt bóng điện trước nhà, Chuyên chợt nghĩ một trò vui. Anh viết một mảnh giấy nhỏ nhắc Minh nhớ tắt đèn, xếp lại cho vào túi nylon nhỏ cột vào dây đeo cổ của Ky. Sáng hôm sau, như thói quen Ky chạy sang nhà anh mang theo “thông điệp” của chủ nó: “ Cảm ơn ông láng giềng nhắc nhở. Tôi cũng biết lâu nay con Ky ăn nhờ nhà anh. Cảm ơn anh lần nữa. Minh”. Kể từ đó, mỗi khi họ cần thông tin lẫn nhau đều nhờ Ky, một giao liên hoàn toàn đáng tin cậy. Lần gần đây nhất, Minh viết cho anh: “ Mấy bữa nay trời nóng quá, chắc anh bị đau đầu nên không nghe anh mở TV xem bóng đá?. Anh ở một mình nên cẩn thận…Minh”. Quả thật, thứ bảy tuần rồi anh đau đầu như búa bổ, phải uống thuốc ngủ và lên giường từ sớm, bỏ không xem bóng đá Anh mà anh vẫn ghiền.

Chuyên chuẩn bị ăn cơm thì nghe tiếng Minh gọi anh từ bên kia hàng rào trúc. Đây là lần đầu tiên Minh trực tiếp gọi như thế nên anh đoán ắt hẳn có việc quan trọng. Anh vội chạy ra. Minh nói vọng sang:

– Anh Chuyên ơi, con Ky đau nặng, bỏ ăn mấy bữa nay. Nó nằm một chỗ, coi bộ yếu lắm. Anh qua xem thử thế nào.

– Vậy hã. Hèn chi mấy bữa nay không thấy nó qua bên tôi. Tôi qua liền.

Chuyên chạy vào nhà, mặc vội cái áo rồi vạch hàng rào qua nhà Minh. Cô dẫn anh đến chỗ Ky nằm ở nhà bếp. Nó nằm khoanh trên tấm bao bố. Anh ngồi xuống bên nó. Nó nhìn anh yếu ớt. Minh cho biết hôm qua nó nôn mửa và tiêu chảy. Anh thoáng ân hận, lẽ ra anh phải đi tìm nó sớm hơn khi không thấy nó qua nhà anh mấy hôm rồi.

Anh bảo Minh nấu cho nó ít cháo loãng xem thử nó có uống được không vì xem ra nó mất nhiều nước do tiêu chảy. Anh quay về nhà lấy xe chạy vào ấp mua thuốc thú y. Hai mươi phút sau mang thuốc về, tự tay tiêm cho Ky như anh vẫn quen chữa bịnh cho bò, heo. Anh lấy ít muối và  đường pha dung dịch mặn ngọt rồi dùng muỗng đút cho nó. Dung dịch nầy giúp giữ nước cho cơ thể, trước đây anh vẫn thấy y tá đơn vị sử dụng.

Khoảng nửa giờ sau, Ky có vẻ tươi tỉnh hơn và ăn được một ít cháo loãng. Minh đắp cho nó bằng tấm mền cũ. Chuyên thấy có thể yên tâm ra về.

– Tôi về đây. Có lẽ nó qua khỏi. Nếu nó còn yếu, mai tôi nhờ thú y chuyền nước biển cho nó.

Minh vỗ đầu con Ky.

– Xin lỗi Ky, tao vô tình quá.

Khi anh đứng dậy ra về thì Minh khẽ bảo:

– Anh ở lại ăn cơm với em cho vui. Tối nay cu Tâm ở lại trong nhà ngoại.

Anh chưa kịp nói lời từ chối thì Minh đã nắm tay anh đưa ra nhà trước, rót nước cho anh uống và bảo anh đợi cô dọn cơm…

Sáng sớm hôm sau Chuyên sang thăm con Ky. Nó vẫn còn yếu nhưng đã biết ngoắc đuôi mừng. Anh nói nhỏ với nó: “ Tao cảm ơn mày, Ky à”. Lúc ấy, Minh đang pha hai phin café ở chiếc bàn ăn nhỏ. Mùi café thơm ngào ngạt…***

* Nam Thi

12-9-2011

Read Full Post »

Ủy ban Nobel Na Uy lúc 4h chiều nay (7/10 – giờ VN,) tuyên bố, giải Nobel hòa bình 2011 được chia đều thành 3 phần, cho  Ellen Johnson Sirleaf, Leymah Gbowee và Tawakkul Karman vì những nỗ lực phi bạo lực vì sự an toàn của phụ nữ và quyền được tham gia đầy đủ vào việc xây dựng hòa bình của phụ nữ.



3 người được giải thưởng Nobel Hòa bình 2011 từ trái sang phải: Ellen Johnson Sirleaf, Leymah Gbowee và Tawakkul Karman


“Chúng ta không thể đạt được dân chủ và hòa bình lâu dài trong một thế giới nếu như phụ nữ không có những cơ hội như của đàn ông cũng như không có được ảnh hưởng tới mọi tầng lớp xã hội.

Tháng 10/2000, Hội đồng bảo an LHQ thông qua nghị quyết 1325. Nghị quyết này lần đầu tiên đề cập tới bạo lực chống phụ nữ trong các cuộc xung đột vũ trang là vấn đề an ninh quốc tế. Nó nhấn mạnh việc phụ nữ phải trở thành một nhân tố tương đương đàn ông trong tiến trình hòa bình và những hoạt động hòa bình nói chung.

Ellen Johnson Sirleaf là nữ Tổng thống châu Phi đầu tiên được bầu một cách dân chủ. Kể từ khi nhậm chức năm 2006, bà đã đóng góp cho việc bảo đảm hòa bình ở Liberia, thúc đẩy kinh tế và phát triển xã hội, củng cố vai trò phụ nữ.

Leymah Gbowee đã huy động và tổ chức phụ nữ ở các sắc tộc và tôn giáo giúp chấm dứt cuộc chiến lâu dài ở Liberia, và bảo đảm cho sự tham gia của phụ nữ vào quá trình bầu cử. Kể từ đó, bà Leymah cũng nỗ lực thúc đẩy sự ảnh hưởng của phụ nữ ở Tây Phi trong và sau chiến tranh.

Trong tình trạng khó khăn nhất, trước và trong “mùa xuân Ả rập”, Tawakkul Karman đã giữ một vai trò đi đầu trong cuộc đấu tranh vì quyền phụ nữ và dân chủ, hòa bình ở Yemen.

Ủy ban Nobel Na Uy hy vọng giải thưởng dành cho Ellen Johnson Sirleaf, Leymah Gbowee và Tawakkul Karman sẽ giúp chấm dứt sự đàn áp phụ nữ vẫn đang diễn ra ở nhiều nước và hiện thực hóa những tiềm năng to lớn về dân chủ và hòa bình mà phụ nữ có thể đại diện.

Theo dõi công bố giải Nobel

Các giải Nobel 2011 đã được công bố gồm giải y học, vật lý và văn chương.

Ba nhà khoa học Mỹ, Luxembourg và Canada đã chia nhau giải thưởng Nobel 2011 trong lĩnh vực y tế nhờ những nghiên cứu liên quan đến cơ chế miễn dịch. Theo đó, nhà khoa học Mỹ Bruce Beutler, nhà khoa học gốc Luxembourg Jules Hoffmann được tôn vinh nhờ những phát hiện quan trọng liên quan đến việc hoạt hóa cơ chế miễn dịch bẩm sinh còn chuyên gia Ralph Steinman người Canada giành giải thưởng nhờ phát hiện về tế bào đuôi gai và vai trò của nó đối với miễn dịch thích ứng.

Về giải Nobel Vật lý 2011, Ủy ban Nobel thông báo, Giáo sư Saul Perlmutter và hai Giáo sư Brian P.Schmidt, Adam G.Riess đã giành giải thưởng nhờ nghiên cứu về siêu tinh và vũ trụ. Trái với suy đoán trước đó của giới truyền thông về việc Giải Nobel 2011 sẽ được trao cho nghiên cứu “hạt rối” trong lượng tử, kết quả năm nay hoàn toàn tôn vinh các chuyên gia không gian và vũ trụ học.  Theo Ủy ban Nobel, Schmidt, Riess và Perlmutter được giải do những phát hiện của họ đã giúp “hé lộ nhiều điều về vũ trụ mà trước đây giới khoa học chưa từng biết đến”.

Năm nay, giải Nobel Văn chương đã quay trở lại với quê hương của nó, kể từ năm 1974. Nhà thơ Tomas Transtromer, 80 tuổi, người Thụy Điển, đoạt giải thưởng danh giá này “vì đã đem đến cho chúng ta đường vào thực tại đầy tươi mới bằng những hình ảnh cô đọng, huyền ảo”.

Hoài Linh (Theo Nobel.org)

Read Full Post »

           Trần Ba
Công bằng mà nói, nó học giỏi, thông minh, có kiến thức và ham đọc sách.  Nó kể chuyện rất hay. Trong trạng thái nửa tỉnh nửa say, nó kể và phân tích quan điểm triết học, luận về nhân sinh quan rất bài bản dù là chuyện tiếu lâm bình thường hay chuyện chính trị xã hội. Và, nó chỉ nói nhiều, ba hoa , khi uống rượu đã ngà ngà say.
           Tôi  nhớ nhất là chuyện nó kể về Khuất Nguyên, nhân ngày Tết Đoan Ngọ năm một ngàn chín trăm tám mươi. Tôi chưa đọc câu chuyện ấy và không biết nó có thêm thắt gì không. Nó kể  thế này : “ Ngày xưa Khuất Nguyên vì ngán ngẫm cái cảnh nhiễu nhương chốn quan trường đã cởi áo từ quan, lang thang ngao du sơn thủy. Một hôm gặp người bạn cùng nhau chén thù chén tạc, ông bộc lộ những nỗi niềm của mình :
               Đời đục cả chỉ mình ta trong
               Đời say cả chỉ mình ta tỉnh
               Nên ta buồn ta đi lang thang
     Người bạn của ông lại cho rằng :
               Đời đục cả sao anh không khuấy thêm bùn vỗ thêm sóng
               Đời say cả sao anh không ăn cả men húp cả bã
               Tội tình gì anh đi lang thang
 
              
 Khuất Nguyên không như vậy. Ông đã nhảy xuống sông tự vẫn”.
            Riêng tôi không biết rượu có trên trái đất này từ bao giờ, nhưng từ khi còn ngồi ghế nhà trường phổ thông, tôi luôn nghĩ rượu là để dùng cho mục đích sang trọng, lễ nghĩa như người xưa đã dạy: “ Vô tửu bất thành lễ”. Thời phong kiến, từ quan lại đến các tướng khi lập được công trạng đều được nhà vua ban rượu trọng thưởng. Ly rượu đó đã trở thành niềm mơ ước của nhiều bậc đại thần. Và, hồi đó tôi cũng nghĩ rằng, rượu chỉ dành cho những người có học, có chữ nghĩa, hoặc là những thi sĩ, văn nhân.
Ở làng tôi, vào những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước,  vào đêm giao thừa, tôi, nó và bạn bè cùng trang lứa quần tụ với nhau uống rượu, ngâm thơ và đàn hát đến hai, ba giờ sáng mới về nhà. Người ta thường nói, rượu vào lời ra, nhưng chúng tôi không bao giờ xúc phạm nhau, ngược lại còn thương yêu nhau hơn. Có chuyện thật vui – uống rượu ; thật buồn cũng lấy rượu để giải sầu. Uống riết rồi quen. Và, tôi luôn dành những tình cảm ưu ái đối với người uống rượu. Ai chê người uống rượu dẫn đến những chuyện ồn ào trong gia đình, làm rối an ninh trật tự trong làng xóm, thậm chí có hành vi nguy hiểm có thể dẫn đến gây án mạng, không hiểu sao lúc đó  tôi kịch liệt phản đối và nói rằng rượu không có lỗi. Có thể người ta bức xúc một điều gì đó với người thân của mình nên có những lời nói và hành vi quá trớn mà thôi…vân vân và vân vân. Tôi cho rằng uống rượu làm người ta thông minh hơn, đôi lúc thăng hoa, có những câu thơ hay, ý tưởng mới lạ, dễ thương và thật lòng với nhau hơn.
             Phải nói là tôi dành tình cảm đối với người uống rượu cũng được một thời gian khá dài. Đến khi làng tôi có nhiều người uống rượu hơn, chuyện ồn ào vì rượu cũng xảy ra nhiều hơn. Người lớn say, chửi con cháu. Con cháu say, chửi người lớn. Chửi đã, tìm người gây sự, đánh lộn. Thực tế ấy đã làm tôi phải im lặng khi trong làng có chuyện gây gỗ từ rượu.Và tôi cũng bắt đầu dè dặt hơn với người uống rượu. Rồi chuyện uống rượu lên tới đỉnh điểm khi nó không còn kể chuyện khi say rượu nữa mà trở chứng chửi thiên hạ. Khi nó say, nó chửi cả làng xóm, ông nội của nó cũng không tránh khỏi. Hôm trước nó chửi, hôm sau, nó mang một góc rượu đến nhà để xin lỗi, thế là xong. Lâu rồi thành quen. Thấy ai cũng nhịn, nó càng lấn tới, khi có dịp chỉ uống một vài ly thì nó đã quậy tưng lên. Mỗi khi gặp anh em bè bạn có chuyện gì vui muốn gọi nó thì đứa nào cũng lắc đầu ngài ngại, không khéo lại rách việc. Riêng tôi thì không nghĩ như vậy. Chỉ đến khi chuyện xảy ra vào chiều mồng hai tết của hai mươi năm về trước. Nó và anh em trên quê xuống thị trấn thăm xuân, ghé lại nhà tôi. Gặp nhau tay bắt mặt mừng, và tết nữa nên không khí vui như ngày hội. Không ngờ ly rượu mới chạy giáp quận hai vòng thì nó bắt đầu chửi, chửi từ trên xuống dưới, chửi không chừa một ai. Giận quá, tôi quăng ly uống rượu ra đường, đập bể cái bình củ tỏi rót rượu, đổ luôn cái canh năm lít rượu đặt ăn tết. Tôi vừa khóc vừa nói với anh em bạn bè là sẽ không bao giờ uống rượu. Và tôi không nhìn mặt nó nữa. Từ đó về sau, mỗi lần về quê ăn giỗ hay đám tiệc, tôi không chịu ngồi chung bàn với nó. Còn khi ngồi chơi với mấy người bạn, nó vào thì tôi đứng dậy xin phép về vì có công việc khômg thể tiếp tục ở lại. Ai cũng biết tôi không muốn chạm mặt với nó nên không nói gì. Tết đến, nó đến nhà ba má tôi chúc xuân, tôi tránh mặt và nói em tôi ra tiếp. Đôi khi tôi về quê thấy nó say, quần chẳng ra quần, áo chẳng ra áo, đứng chận xe qua lại quai tay múa chân như một thằng điên, không ra thể thống gì hết. Dù rất buồn nhưng tôi vờ như không thấy, lách xe vượt qua, coi như chưa gặp nó. Do đặc thù của công việc, tôi hay về các xã và thường đến các cơ quan trong huyện, khi nghe người ta bình phẩm về chuyện uống rượu của nó, mặc dù còn giận nó nhưng tôi vẫn cho rằng nó là thằng bạn tốt của tôi, chỉ có điều khi  rượu vào nó không kiểm soát được lý trí. Và tôi cũng không nói với ai, cũng vì chuyện quậy của nó, hai đứa không ngó mặt cũng chẳng chào hỏi  nhau ròng rã đến bốn năm, tức là tính đến cái ngày nó xuống nhà tôi mời về ăn đám giỗ ba nó.     Lâu ngày không gặp, bữa đó trông nó chỉnh tề ra phết. Áo trắng bỏ trong quần, giày xăng-đan, trên khuôn mặt tròn tròn của nó có chiếc kính cận trông rất sang trọng và ra vẻ học thức. Tôi nắm chặt tay nó một cách sung sướng như tìm lại được một cái gì rất quý mà mình đã bỏ quên lâu ngày rồi. Và, đến lúc đó tôi đã nhận ra cái tình bạn của hai đứa không thể xóa đi như lau một vết bẩn trên bàn, mà đó là một chuỗi dài những kỷ niệm buồn vui của cuộc đời. Cũng cầm một chai rượu lẻ, nhưng nó không hề nhắc chuyện bốn năm về trước nó quậy tại nhà tôi, mà nói một cách trịnh trọng :
–         Ngày mai là ngày giỗ ông già mình. Mình có làm một mâm cơm. Mời bạn về uống chén rượu.
–         Sao  giống đi nói vợ vậy, thằng quỷ?
Tôi nhớ, cũng gần mười lăm năm rồi, hai thằng hai chiếc xe đạp ra nhà người bà con của nó ở thôn bên cạnh để gặp người con gái mà sau này nó cưới làm vợ, quần áo của nó còn xấu và luộm thuộm hơn nhiều so với lúc này. Tôi lại nắm tay nó, lắc lắc và nói :
–         Được rồi, mai mình về.
        Đêm hôm đó, tôi cứ trằn trọc mãi. Đã bốn năm rồi còn gì. Nếu không về thì anh em sẽ cho rằng mình quá cố chấp, hơn nữa nó cũng buồn, bởi vì trong đám bạn, dù sao tôi với nó là thân nhau nhất. Từ bé đã coi nhau như anh em ruột, chia nhau từng viên kẹo cà, từng khúc mía bẻ trộm, rủ nhau ra mương tát cá, bắt cua, chiều chiều ra gò đánh trổng, thả diều…Hồi đó đứa nào đụng đến tôi là có nó, đụng đến nó là tôi nhảy vô. Bà con trong xóm gọi hai đứa là cặp bài trùng. Ngày nó đi coi mắt vợ cũng chỉ có tôi đi với nó, đám cưới của nó tại cơ quan tôi cũng làm công tác tổ chức, chuẩn bị nội dung từ A đến Z. Thân nhau là thế nhưng khi nghĩ đến chuyện nó uống rượu rồi quậy, người tôi như nóng lên, tức không chịu được. Rồi, không biết tôi chìm vào giấc ngủ vào lúc nào và mơ thấy nó cùng ngồi uống rượu với tôi. Nó ngâm thơ, tôi đệm đàn. Khi nó và tôi đã muốn say, tôi kể chuyện Khuất Nguyên, chuyện mà ngày xưa nó thường hay kể cho tôi và bạn bè nghe.
                – Hay, hay, mày tìm chuyện ở đâu mà hay thế ?- Nó vỗ đùi thật mạnh.
           – Thì chuyện mày từng kể cho bạn bè nghe chứ tìm ở đâu.
           – Thật thế sao ?- Nó ngơ ngác như người vừa từ trên mây rớt xuống.
           –   Mày uống quá nên quên hết, lại còn thật với giả.
           –   Vậy mày thấy tao giống ai ?
           –    Mày không giống ai hết. Mày không đủ đức hạnh để giống        Khuất Nguyên, và tầm của mày cũng không thể như bạn của ông ta.
         Bỗng dưng nó khóc, khóc như một đứa trẻ. Tôi giật mình thức giấc vì tiếng gà gáy sớm. Ngoài đường đã có tiếng người đi chợ. Trời chưa rõ mặt người, khoảng hơn một tiếng đồng hồ nữa mới sáng hẳn. Và tôi không ngủ thêm được nữa, nằm suy nghĩ về cái giấc mơ không trọn vẹn vừa mới đến. Tôi nghĩ, có lẽ rượu đã làm trí nhớ của nó giảm đi. Nó quên nhiều lắm. Nếu nó nhớ mình từng là một học sinh rất giỏi Pháp văn đã dịch tác phẩm  “Những Người Khốn Khổ “ của Victor Hugo từ bản tiếng Pháp ra tiếng Việt, thì nó đâu phải uống vô là chửi tất tần tật như một thằng khùng. Bởi niềm tự hào của bản thân, của cái tôi – không đẻ ra tiền, nhưng đó là hạnh phúc của con người! Rượu làm cho nó mất nhiều quá. Tôi giận nó thì ít, chỉ bốn năm thôi, nhưng tiếc cho nó thì nhiều. Mà xã hội này đâu chỉ một mình nó uống rượu. Sao nó lại phải như vậy? Tôi để ngõ câu hỏi ấy chờ dịp thuận tiện, vui vẻ sẽ hỏi nó.
            Do bận công việc đột xuất của cơ quan, tôi về muộn. Tôi bước vào cửa và chào mọi người.  Rượu đã bắt đầu thấm vào nó,  người nó đã nghiêng qua ngã lại, nhưng nó cũng kịp nhận ra tôi, tràn tới ôm chầm lấy tôi.
–         Mấy thằng bạn quan nó không về thì cũng đành chứ mày không về là tao buồn lắm.
–         Sao mày lại nói vậy?  Mày có nhà cửa, cuộc sống thoải mái như hôm nay chẳng phải nhờ mấy ảnh sao! Mày tính cái đất này được mấy người như mày? Kể cả chuyện uống rượu như mày, làng này chỉ có một.
Mọi người nghe vậy đều tỏ vẻ ái ngại dò xét phản ứng của nó ra sao, nhưng ai cũng biết đó là thực tế. Ngoài chế độ chung, nó còn được ưu ái hổ trợ nhiều mặt, vì nó có bạn là doanh nhân giàu có cỡ của huyện, đặc biệt là anh bạn đang làm lãnh đạo huyện- rất thương và giúp đỡ nó rất nhiều. Thực ra, khi tôi nói như vậy, nhân lúc có rượu- nó sẵn sàng chửi vào mặt tôi theo kiểu cả vú lấp miệng em, nhưng ngược lại nó như tỉnh hẳn, lại còn pha tiếu lâm, đánh trống lảng :
–         Em sợ anh hai mà! Mời anh hai ngồi.
       Tôi biết nó không  sợ ai cả, ít nhất là trong cái huyện này. Có điều  nó không muốn căng thẳng kéo dài giữa tôi và nó nên nó mới xuống mời tôi về ăn giỗ, chỉ vậy thôi. Và sau này tôi cũng không còn quan tâm chuyện nó say rượu nữa, bởi mỗi đứa có nhận thức và cuộc sống riêng. Tôi cũng chỉ tiếc vì nó là thằng giỏi về chữ nghĩa so với bạn bè cùng trang lứa trong làng. Tôi không tin rượu lại có tác dụng ghê gớm đến như vậy. Rượu có thể làm ta say, nhưng làm sao có thể thay đổi được bản chất con người? Có lần tôi hỏi tại rượu hay tại nó thì nó trả lời- do say quá nên tao có nhớ, có biết gì đâu. Bao năm qua, nó và nhiều người hay nói như vậy- tại rượu chứ không phải tại bản thân mình muốn thế. Những giọt nước trong có men sóng sánh thơm nồng và cay cay kia lại sai khiến được con người sao? Bây giờ nghĩ lại tôi thấy thương nó, vì đời  nó  rút cuộc lại  chỉ cứ chạy vòng vòng quanh cái ly rượu vô tri mà thôi. Đôi lúc – tôi lại nghĩ: “ Nó kết thân với ruợu, không rời xa được rượu , có lẽ rượu đã “ nói thay “ cho nó bao điều sâu khuất nhất tận  đáy  lòng  chăng? ”

Read Full Post »

Nỗi Lòng

Yến Du


Sao anh chỉ hiểu những gì em đã nói
Mà không biết có một điều em giấu kín trong tim
Khi vạt nắng mong manh của hoàng hôn như đang pha thêm sắc màu tim tím
Em tự hỏi  lòng mình có bao giờ  anh  nhớ đến em không

Chưa phải một nửa của nhau nhưng em cứ lặng thầm xây mộng
Mộng thật bình thường mà khoảng cách hư – thực lại quá xa
Anh đâu thể là cơn gió thoảng ngang qua cuộc đời chỉ làm rụng rơi vài chiếc lá
Anh để lại hồn em một vệt dài nhung nhớ ….anh ơi

Như sao Hôm sao Mai chưa từng gặp nhau nên mỏi mòn mong đợi
Em ngóng chờ anh – em ngóng cả trong mơ
Em viết về anh với những câu thơ có vầng trăng cong vênh vì nỗi buồn  và trăn trở
Có cánh đồng tình yêu khô khan đang khao khát gọi mưa về

Em không hiểu tại sao em nghĩ đến anh nhiều như thế
Một môi cười hay một ánh mắt bâng quơ
Anh ở trong em như mặt trời luôn mọc ở phía Đông đầu ngày rực rỡ
Như cả một điều đã từ lâu em giấu mãi …….anh ơi !

05/10/2011

Read Full Post »

(NLĐO) – Viện Hàn lâm Thụy Điển hôm 6-10 đã quyết định trao giải Nobel Văn học 2011 cho nhà thơ nước chủ nhà Tomas Tranströmer sau khi ca ngợi ông đã “cho chúng ta một cách tiếp cận mới mẻ với thực tại thông qua những hình ảnh súc tích và tinh khôi”.

Kết quả này không gây nhiều ngạc nhiên vì nhà thơ Tranströmer được xem là một trong những ứng viên sáng giá nhất cho giải Nobel Văn chương 2011 trước khi giải thưởng này được công bố.
Ông Tranströmer trở thành người châu Âu thứ 8 giành giải Nobel Văn chương trong 10 năm qua.
Nhà thơ Tomas Tranströmer
Ảnh: The Guardian
Ông Tomas Tranströmer sinh tại Stockholm vào ngày 15-4-1931. Năm 1956, ông lấy bằng cử nhân nghệ thuật tại Đại học Stockholm, nơi ông theo học lịch sử văn chương và thơ, lịch sử tôn giáo và tâm lý học.
Tuyển tập thơ đầu tiên của ông – 17 Dikter –  được xuất bản vào năm 1954 khi ông còn học đại học. Các tuyển tập thơ sau đó, như Hemligheter på vägen (1958) và Klangar och spår (1966), phản ánh về những chuyến đi của ông đến bán đảo Balkan, Tây Ban Nha và châu Phi. Các bài thơ trong tuyển tập Östersjöar (1974) mô tả lịch sử của tôn giáo ở vùng Baltic thông qua cuộc xung đột giữa biển cả và đất liền.
Năm 1990, một cơn đột quỵ đã ảnh hưởng đến khả năng nói chuyện của ông nhưng vẫn không ngăn được ông sáng tác thơ. Tuyển tập thơ Sorgegondolen của ông đã bán được 30.000 bản trong lần xuất bản năm 1996.
Ông Tranströmer mô tả những bài thơ của mình như là “những nơi gặp gỡ”. Theo ông, “đó là nơi ánh sáng và bóng tối, nội tâm và ngoại cảnh va chạm vào nhau để tạo ra một kết nối đột ngột với thế giới, lịch sử và bản thân chúng ta”.
Các tác phẩm của ông Tranströmer đã được dịch sang 50 ngôn ngữ.
H.Phương (Theo Nobelprize.org, The Guardian)

Read Full Post »

Bình Định bấy giờ chỉ có một nhóm người mà các bạn yêu thơ do Trần Thống ở Kiên Mỹ đại diện, đặt tên là “Bàn Thành tứ hữu”. Nhóm thơ gồm có: Hàn – Chế – Yến – Quách. Bốn người này mang tên một con vật trong bộ Tứ linh. Hàn Mặc Tử là Rồng, Chế Lan Viên là Phượng, Yến Lan là Lân, Quách Tấn là Rùa.

Cửa Đông-thành Bình Định,

Bấy lâu nay, giới văn học thường nhắc đến nhóm thơ tiền chiến của Thành Đồ Bàn (tức Bình Định xưa). Vì biết tôi là con gái của “con Lân” trong nhóm “Tứ linh”, Có người hỏi: “Thế nào là Trường thơ Bình Định? Vì sao gọi các cụ ấy là Tứ linh?…”.

Theo sự hiểu biết hạn hẹp, qua những bức thư của bác Quách Tấn gửi cho ba tôi – nhà thơ Yến Lan – tôi xin phép thông tin lại để các bạn yêu thơ hiểu thêm về cái nôi thơ mà người đời thường tâm đắc “Bình Định là đất võ mà ẩn chứa trong mình những bí ẩn về văn chương”.

Trong bức thư đề  “Nha Trang lập xuân 88”, bác Quách bức xúc viết: “Rất tiếc là không có người có đủ tài, học, tâm, chí để cùng nhau khai thác kho tàng Văn hóa của Bình Định. Tôi nhận thấy phần đông anh em làm văn nghệ vì danh, vì lợi hơn là vì bổn phận thiêng liêng. An Nhơn có nhiều nhân vật văn học và lịch sử lắm, chú và anh em văn sĩ đừng phụ cổ nhân…”.

Theo bác Quách: “Không có Trường thơ Bình Định, chỉ có Trường thơ loạn gồm: Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Yến Lan. Trường thơ này không thể trở thành Trường thơ Bình Định được”.

Bình Định bấy giờ chỉ có một nhóm người mà các bạn yêu thơ do Trần Thống ở Kiên Mỹ đại diện, đặt tên là “Bàn Thành tứ hữu”. Nhóm thơ gồm có: Hàn – Chế – Yến – Quách. Bốn người này mang tên một con vật trong bộ Tứ linh. Hàn Mặc Tử là Rồng, Chế Lan Viên là Phượng, Yến Lan là Lân, Quách Tấn là Rùa.

Có câu thơ bằng tiếng Hán của Nguyễn Đức Sung:

Tấn bộ bồng lai lạc cảnh khoan
Hoan tình hội họp tứ thi lang
Trí hân khôi thỏa tâm hoài vọng
Lang phóng hương nồng nhập tiểu bang

Tạm dịch:

Tấn tới bồng lai vui cảnh tiên
Hoan tình họp mặt bốn hữu thi
Trí sáng đẹp lòng bao mong nhớ
Lan tỏa hương nồng nhập xứ men

(Ghi chú: Bốn chữ đầu của từng câu là tên của bốn nhà thơ nhắc tới trên. Hoan (Phan Ngọc Hoan) là tên thật của Chế Lan Viên, Trí (Nguyễn Trọng Trí) là tên thật của Hàn Mặc Tử).

Và người đầu tiên đưa tên của nhóm Tứ linh vào thi đàn thời bấy giờ là nhà phê bình văn học Hoài Thanh.

Còn tại sao ông Trí lấy bút danh Hàn Mặc Tử: Bút danh đầu tiên và cũng khá nổi tiếng của ông là Phong Trần. Nhưng nhiều người thấy dáng dấp thư sinh của ông nên trêu “người mảnh mai như cậu làm sao chịu đựng được phong trần, nó lại không hợp với vóc dáng của cậu”. Sau đó ông lại đổi là Hàn Mạc Tử (tức rèm lạnh).

Nhưng bác Tấn vẫn chưa chịu: “Đã có rèm thêm bóng trăng vào, hỏi còn cảnh nào nên thơ bằng”. Ông Trí ngẫm nghĩ rồi lấy bút ra vạch thêm vành trăng non vào đầu chữ A. Chỉ thêm một cái dấu mà nghĩa khác hẳn: Hàn Mạc Tử = Rèm Lạnh giờ thành Hàn Mặc Tử tức Bút Mực

Bút danh của chú Hoan ban đầu là Chế Bồng Hoan. Một hôm biết ba tôi sắp đi xuống Qui Nhơn để học, chú đến chùa Ông thăm, thấy trời tối mà ông nội tôi vẫn thắp đèn tưới cây, và ba tôi ngâm nga:

Rồi đây mỗi ngả một thân đơn
Con ngọn đèn xanh, cha mảnh vườn
Đêm lụi, đèn tàn ai gạt bấc
Vườn lan ai ấy tưới thay con.

Nghe xong chú Hoan cảm động quá nói: “Mình muốn làm một cái gì đó để kỷ niệm câu thơ của cậu”. Nghĩ một lát chú Hoan reo to: “À mình sẽ đổi bút danh thành Chế Lan Viên”. Ba tôi cũng thấy đó là ý hay nên đồng ý ngay. Và thế là từ đó trên thi đàn Việt Nam xuất hiện bút danh mới: Chế Lan Viên.

Về bút danh của ba tôi thì nhiều người biết rồi. Lúc đầu ông dùng bút danh có khi là Xuân Khai, có khi Thọ Lâm. Còn Yến Lan là tên ghép của hai giai nhân. Trong lớp ông dạy có hai cô gái trông khá xinh, chơi thân nhau, một tên là Yến, một là Lan. Họ thường thì thầm: “Tao, mày chơi thân với nhau như vầy sau này chỉ lấy một chồng”. Ba tôi nghe được thấy câu chuyện của hai người hay hay nên quyết định đổi bút danh Xuân Khai thành Yến Lan. 

Tuy xuất thân và trưởng thành từ Gò Bồi – Bình Định, nhưng nhà thơ Xuân Diệu ban đầu không nhập vào nhóm này. Bác Tấn nói vui: “Xuân Diệu đấm Hàn, thoi Yến, đá Quách, từ biệt quê hương để ra Hà Nội bắt tay với Huy Cận lập thành nhóm Huy – Xuân”.

Tại Thu Xà – Quảng Ngãi, nhà thơ Bích Khê lẻ loi, cô quạnh đành lui vào Bình Định cùng bốn chàng thi sĩ nọ lập thành nhóm Ngũ hành. Nhóm Ngũ hành tuy mới thành lập nhưng họ rất tâm đầu ý hợp. Chỉ có bác Tấn ở Nha Trang nhưng họ vẫn thường xuyên vào, ra để thăm nhau.

Ông cụ tôi tâm sự: “Bình Định là nơi phối hợp để thành quả trứng còn Nha Trang là lò ấp trứng. Tôi và các bạn đã gửi lại Nha Trang một thời tâm đắc và tuổi trẻ đam mê, làm sao quên được những ngày tháng cùng nhau học hỏi, vui chơi, nghiên cứu thơ đường, học chữ Hán”.

Một thời gian ngắn, Hàn Mặc Tử bị trọng bệnh rồi mất, ông hưởng dương 28 tuổi. Chẳng bao lâu sau Bích Khê lâm bệnh nặng (lao). Cả nhóm bàn đưa Bích Khê vào Nha Trang tìm cách nuôi nhau. Họ góp tiền thuê một nhà ở phường Củi cho Bích Khê ở.

Vì lòng tốt của bạn, được một thời gian Bích Khê lại lặng lẽ bỏ ra đi. Nhà thơ Nguyễn Đình đã tìm lại được Bích Khê. Sau khi bàn bạc kỹ, nhóm quyết định đưa ông ra Huế chữa trị và an dưỡng. Về kinh tế, tùy theo hoàn cảnh từng người mà góp tiền nuôi Bích Khê.

Chú Chế Lan Viên phải nuôi cha mẹ góp 10 đồng, bác Quách 20 đồng, chú Nguyễn Đình 20 đồng, vì không vướng bận gì nên ba tôi góp 30 đồng. Như vậy mỗi tháng nhà thơ Bích Khê nhận được 80 đồng, theo tôi biết đó là số tiền rất lớn, cơm tháng hồi đó chỉ có 4 đồng. Tất cả việc thu và gửi tiền ra Bệnh viện Paskiê cho chú Bích Khê đều do vợ bác Tấn đảm nhận.

Một thời gian sau ba tôi nhận được một lá thư viết bằng bút chì:

“Yến Lan

Mình rất cảm ơn cậu và các bạn đã chăm lo cho mình. Bây giờ mình không thể chịu đựng được nữa, mình đành vĩnh biệt cuộc sống, vĩnh biệt bạn bè”.

Thời gian sau, không biết năm nào nhà thơ Xuân Diệu trở về Bình Định, nhập vào nhóm Ngũ hành để thành nhóm Lục căn (Nhãn – Nhỉ – Tỷ – Thiệt – Thân – ý). Tôi không biết ai mang bí danh của những bộ phận này vì tên nhóm ít ai nhắc đến .

Trong nhóm này chú Xuân Diệu là khôn ngoan nhất, bác Quách Tấn thường trêu: “Thằng Diệu nó chẳng cho ai xem thứ gì khi chưa in thành chữ trên báo bao giờ”. Nhưng điều này bác lại cho là đúng và đó là kinh nghiệm quý báu trong sáng tác, vì thời gian sau này bác bị người khác đứng tên trong nhiều bài viết của mình!

Lâm Bích Thuỷ

Read Full Post »

Ru

Phan Minh Chính

Ngoan ngoan

em ngủ giấc nồng

Bâng khuâng ,

Anh viết

Đôi dòng tà dương

Tóc dài

xỏa kín đêm sương

nửa khuya trăng rụng

bên đường

buồu thiu

Ngoan ngoan

Em ngủ giấc chiều

Mênh mang sóng vỗ phù kiều

mưa bay

Nụ cười

che nửa bàn tay

Giữa lòng hiu quạnh

Rơi

đầy

tiếng chim .

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »