Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Trần Huiền Ân’

Câu chuyện thầy trò

TRUYỆN NGẮN CỦA TRẦN HUIỀN ÂN

– Ông thầy không ở trong hàng lớn tuổi, không phải là giới trẻ mới tốt nghiệp sư phạm, cũng chưa tới khoảng trung niên, chỉ ở khoảng giữa hai thế hệ này, nhưng hội đủ đức tính của cả ba, chẳng những hội đủ mà còn vượt trội. Nghiêm nghị đạo mạo hơn các thầy lớn tuổi, vui vẻ hoạt bát hơn các thầy trẻ và chững chạc mực thước hơn các thầy trung niên. (more…)

Read Full Post »

TRUYỆN NGẮN CỦA TRẦN HUIỀN ÂN

 

Thương em, anh cũng muốn qua
Sợ cọp núi Lá, sợ ma Bãi Điều

Người thứ nhất kể, rằng chính mắt ông ta trông thấy rõ ràng. Năm ấy, Pháp từ Ma-Rắc tấn công xuống, lúc tản cư không kịp chạy theo mọi người, gia đình ông phải ngủ tại Bãi Điều. Bốn bề là rừng hoang. Nửa đêm, ông ngồi dậy đốt điếu thuốc thì trông thấy họ. Ông sợ quá, nhưng im lặng chờ đợi, không dám đánh thức vợ con, nghĩ rằng sẽ sẽ gieo cho đàn bà và trẻ thơ nỗi hải hùng. (more…)

Read Full Post »

Trời xanh

Trần Huiền Ân

Trời đã xanh màu xanh hôm qua

Đôi bờ sông rộng rợp vàng hoa

Người xưa mắt biếc mưa thu nhỏ

Ẩn chút sương khuya tím nụ cà

. (more…)

Read Full Post »

 

Trần Huiền Ân

Xe đang bon bon trên đường nhựa nóng bỏng, lòng ta bỗng nhẹ xuống khi nhìn thấy từ xa những rặng dừa xanh. Dừa xanh dọc theo bờ biển xanh: Sông Cầu.

Người Pháp chọn Sông Cầu  làm tỉnh lị Phú Yên phải chăng cho hợp với kinh đô Huế? Phải chăng, coi việc đi cai trị Đông Dương là được đi an dưỡng, tắm biển, phơi nắng, thở hít không khí trong lành? Để tạo cho Sông Cầu một bề thế, trong phạm vi nhỏ hẹp này họ đã phóng nhiều con đường ngang dọc, trồng cây, trồng hoa. Sông Cầu có sông, nhưng sông nhỏ quá nên không được để ý đến. Người ta chỉ biết có biển với những bãi thấp, cát mịn. Sông Cầu cũng đáng gọi là một Beau Rivage nhưng cái tên ấy đã bị đàn anh Nha Trang giành mất. Công sứ Phú Yên A. Laborde viết trên tạp chí Đô thành hiếu cổ (BAVH số 4 quý 4/1929) lời vị tiền nhiêm của ông năm 1890: “Sông Cầu là một  trong những cảng đẹp nhất thế giới với sức chứa hàng trăm con tàu. Nó được coi như cảng chính của Trung Kỳ” và đưa ra nhận xét: “Có thể ông Công sứ này hơi cường điệu nhưng phải nhận thấy rằng vịnh lớn này với những đáy từ 5 đến 15m có thể trở thành một cảng an toàn và còn thuận tiện hơn cảng Qui Nhơn nơi mà lối vào ngày càng trở nên khó khăn. Chắc chắn là sau khi hoàn thành  những quốc lộ và đường địa phương đi lại thuận tiện thì Sông Cầu được ưa chuộng hơn Qui Nhơn vì nó thuận tiện hơn trong việc đi đến La Hai, và nhất là Củng Sơn, cánh cửa thông thương với Kon Tum và Đắc Lắc”.

Tỉnh, nơi các quan Nam triều làm việc đóng ở phía tây, trong thành, thâm nghiêm kín cổng cao tường. Bây giờ dinh Tuần vũ, dinh Án sát trơ trọi nền sân, một đoạn tường ngắn, hành cung còn lại mấy trụ biểu đắp hình rồng chầu. Tòa, nơi các quan “bảo hộ” Pháp làm việc ở phía đông với những kiến trúc mới hoàn toàn không để lại dấu vết. Lứa học  trò trường tỉnh hồi ấy, tuy mới lớp nhất đều lớn tuổi, lớn xác, vẫn giữ một chút ngơ ngác nhà quê, đi trên con đường râm mát ngơ ngác nhìn dinh ông Sứ, ông Phó sứ, hàng hoa rực đỏ mùa hè. Cũng từ chút nhà quê ấy, trong mắt họ, con gái Sông Cầu, người đẹp xứ dừa sao mà đoan trang đài các.

Dẫu sao, sau An Thổ và Vũng Lấm, Sông Cầu cũng có hơn 50 năm là tỉnh lị, từ đời Thành Thái đến tháng 8/1945. Cho nên khi nhường địa vị cho Tuy Hòa, Sông Cầu vẫn cố giữ vững tư thế của mình trong nét trang nghiêm đạo mạo. Một chút trầm tư trước biển dâu của một người từng trải. Không như Vũng Lấm, khi nhường địa vị cho Sông Cầu là nhường tất cả.

Bây giờ dáng xưa của Sông Cầu đã chôn vùi theo vàng son quá khứ, nhưng trong xu thế phát triển mới Sông Cầu đang hồi sinh. Nhiều công sở, nhiều nhà cửa được xây dựng, phố xá đông thêm, Sông Cầu thành chật chội hơn, bớt đi vẻ quý phái ngày nào. Bây giờ Sông Cầu không còn loại tương ngon của chùa Thiên Thai đã đi vào ca dao:

Rủ lên Đá Trắng ăn xoài

Muốn ăn tương ngọt Thiên Thai thiếu gì

 

Tuy vậy khi đến Sông Cầu ta vẫn được hưởng không khí mát lành, được nếm nhiều món đặc sản biển và những chiếc bánh “phu thê”  bằng bột múc  ngọt và giòn trong chiếc hộp vuông vức, nhỏ nhắn hai nắp úp lại, có người nghĩ là tượng trưng âm dương kết hợp.

Thật ra tìm trong phạm vi phố phường thì Sông Cầu chỉ có vài nét xinh xinh thôi. Cũng như đầm Ô Loan, cái đẹp của Sông Cầu là cái đẹp tổng thể. Tất cả một màu xanh. Trời xanh. Núi xanh. Biển xanh. Dừa xanh. Mùa hạ nắng xanh. Mùa đông mưa xanh. Cái đẹp ấy phải đứng ở tầm cao xa phóng mắt nhìn xuống. Qua khỏi đèo Gành Đỏ ta đã bắt đầu cảm nhận và tới đỉnh đèo Dốc Găng ta thấy hiện diện đầy đủ sự thanh thoát của Sông Cầu xưa và nay, cũ và mới…

Trần Huiền Ân

Read Full Post »

Tiếng mõ gió

Trần Huiền Ân

Tôi lại trở về xóm Đá như lời tự hứa vào mỗi mùa hè. Cái âm thanh đầu tiên mà tôi bắt gặp khi còn cách xóm không xa, đi qua một giồng đế rộng, là tiếng mõ gió lốc cốc, lốc cốc… đều đều.

Ở đây ruộng nằm dưới chân đồi, quanh co theo chân đồi, chiều rộng chỉ là một đám, chiều dài nhìn trên bản đồ giống như một cây bàn chải, hết chĩa bên này lại chĩa sang bên nọ. Bởi ruộng hẹp và kéo dài nên không gọi là cánh đồng mà gọi là dây ruộng.

Ngày trước, sau khi gieo sạ hoặc đồng thời với lúc cấy mạ người ta dùng những tàu lá chuối khô giăng thành đường rào ba tầng dộc theo bờ ruộng, chân đồi, gọi là dây bẹo để ngăn cản thú rừng vào phá hại hoa màu. Giữa ruộng dựng những con bù nhìn tay chân bằng bẹ chuối tươi trắng sáng, thân hình mặc áo rách, trên đầu đội nón mê. Sau đó, từ khi lúa xanh đến khi lúa chín phải làm chòi, ban đêm có người đến canh giữ. Người ta còn làm những chiếc mõ gió, dùng mõ tre buộc thêm chiếc dùi, gắn vào chong chóng trên ngọn cây tre cao cắm rải rác. Khi trời nổi gió, chong chóng quay, dùi đánh vào mõ vang lên lốc cốc những tràng dài.

Tôi thật sự nghi ngờ tác dụng của mõ gió. Chẳng biết nó có làm cho thú rừng sợ hay không, chứ đối với lũ chim trời hình như là vô hiệu. Khi lúa chín chim dồng dộc về lót ổ từng hàng dài dọc theo ruộng. Và nhiều loại chim nữa bay từng đàn thật đông sà xuống ruộng rồi bay lên. Lúc này đám trẻ con được đưa hết ra ruộng, một số trên chòi cao, một số dọc bờ, gõ mõ, giật bò cạp, la hét “hoại huơ”… hoa tay múa chân, làm đủ trò mà lũ chim trời lì lợm vẫn cứ lì lợm, từng đàn sà xuống, bay lên , ríu rít vui đùa thưởng thức những hạt lúa vừa chín ngọt ngào hương thơm, phớt lờ việc có mặt canh giữ của con người.

Sự bất lực của lũ trẻ được xác nhận qua câu đồng dao:

Đuổi chim thì đuổi hoại huơ

            Chim ăn hết lúa còn xơ đem về

Đối với tôi, tiếng mõ gió trong cái nắng bớt phần gay gắt nhờ những cơn gió nghe thật dịu dàng, cũng lên bổng xuống trầm, khi khoan khi nhặt, khi mạnh khi yếu… như muốn ru ta vào giấc ngủ khi ta cần phải thức. Còn giấc ngủ nào êm đềm hơn những giấc ngủ buổi trưa trên chòi cao? Những giồng đế ngút xa tầm mắt, những khóm rừng xanh đậm màu lá, gió lồng lộng ngược xuôi và tiếng mõ gió từng hồi nối nhau, lớn rồi nhỏ, nhỏ rồi lớn.

Bây giờ lũ chim trời có còn từng đàn đông như lá rụng ngày dông bão, ríu rít reo ca? Người nông dân có còn phải bận tâm với hàng dây bẹo, với những loại mõ sử dụng tay người và sức nước, sức gió? Nơi gốc đa, gò cỏ… lũ trẻ con có còn u quạ, đá bò, đánh trổng, cờ gánh, cờ chém, bàn cờ vẽ bằng nét than trên mặt đá? Khi phải bỏ đi những trò chơi giản dị cũ, các em có được những trò chơi nào mới nhằm giúp trí tuệ được nâng cao, cơ thể thêm rắn rỏi?

Cho nên, tôi không khỏi lấy làm lạ khi trở về xóm Đá. Nơi dây ruộng ấy gốc rạ đã khô, có tiếng mõ gió lốc cốc nhẹ nhàng. Ai đã dựng một cột tre, chỉ có một mà thôi, chắc là để vui chơi chứ không phải để xua đuổi thú rừng. Vậy thì chiếc mõ gió này chỉ đơn thuần là một nhạc cụ.

Vâng, có lẽ vậy, là nhạc cụ của một nghệ sĩ dân gian tạo ra. Dù đuôi chong chóng bằng rơm đã xác xơ, cùi cụt, sức gió không còn mạnh, nhưng lóng tre thêm khô dưới nắng làm cho tiếng mõ càng trầm, càng giòn, không kêu lớn nhưng vang xa và thấm sâu. Vang xa ra khắp giồng đế đồi tranh. Thấm sâu vào lòng tôi, đánh thức dậy những kỉ niệm ấu thời như ngọn đèn con chong đợi được vặn lên bừng sáng…

Tuy Hoà

Read Full Post »

Ta ngồi lại soi xuống dòng suối rách
Vốc nước lên kỳ cọ mặt mày
Hồi ta ra đi hai bàn tay trắng
Giờ ta trở về trắng hai bàn tay
Giá như người xưa…gác gươm sườn đá
Tháo đôi giày cỏ thả trôi
Cởi áo vắt vai cười ha hả
Vời trông bốn hướng đất trời
Ta, một kẻ hèn – kẻ hèn đời mới
Hèn, không đáng mặt kẻ hèn
Đức bạc tài sơ, bảy chìm ba nổi
Sao còn vất vả đua chen ?
Dãy đồi bên kia là lau là cỏ
Có cây đa già tỏa mát trăm năm
Giá như người xưa … cùng bầy trẻ nhỏ
(Mặc áo Huyền Đoan đội mũ Chương Phủ)
Múa ca vui với trăng rằm
Ta còn gì chăng ? Trái tim nguội lạnh
Ta còn gì chăng ? Khối óc rỗng không
Tầm mắt yếu không đủ nhìn cuối dặm
Đâu bóng con trâu nhòa nhạt giữa đồng
Mặt sạm da mồi tóc râu ngã bạc
Ta trở về quê lỡ thợ lỡ thầy
Muốn theo Lão Tiều non Du hái củi
Sợ lưỡi rìu làm chảy máu thân cây

.

BÀI HÁT NGÀY VỀ CỦA TRẦN HUIỀN ÂN

CUỘC HÀNH TRÌNH THẦM LẶNG TRỞ VỀ CHƠN TÂM
            TÔI  có duyên được đọc thơ Trần Huiền Ân từ những sáng tác đầu tiên trên tạp chí Bách Khoa, tập thơ đầu tay THUYỀN GIẤY, cho đến những sáng tác đều đặn, những tập thơ vừa được xuất bản trong vài năm gần đây. Bên cạnh cái duyên thơ ấy, tôi cũng được có cái duyên quen biết, thân tình với anh (và cả gia đình) trong những năm tôi về dạy học tại Tuy Hòa, Phú Yên. Chính vì nhờ hai “trợ duyên” đặc biệt, thâm sâu ấy tôi rất hiểu anh và thơ anh… Bài thơ “Bài hát ngày về” đã thực sự làm cho tôi thấy được cái mới, cái chuyển hóa tâm thức trong anh đang nẩy mầm, đang có chiều hướng về tâm linh, về bản chất hồn nhiên – về cái sinh hoạt nhiệm màu mà theo tư tưởng Đạo Phật gọi là  “Phật Tánh”, và nhà Thiền gọi là  “Bản lai diện mục” của chính mỗi con người, mà  với cái tâm điên đảo, lăng xăng dính mắc… không thể hiểu và tìm thấy ra được.
          Nhà thơ đã bắt đầu có giây phút (hay chỉ vài “sát na” thôi) nhìn lại nội tâm, nhìn lại “cái đích thực là mình,  tuy rằng cái tâm (hay dòng sông dòng suối tâm linh) có vì bao đổi thay, bao gian truân của cõi đời vô thường bị gần khô cạn:
Ta  ngồi lại  soi  xuống dòng suối rách
Vốc nước lên kỳ cọ mặt mày.
          Đúng là anh đã có giây phút tuyệt vời mà không phải ai cũng có thể làm được. Có ai trong chúng ta có giây phút nhìn lại tận cội nguồn của chính tâm ta, để tự xét, tự hỏi một cách trung thực, nhi nhiên như thế chăng ? Kỳ cọ mặt mình cũng chính là kỳ cọ Tâm mình.
          Anh cũng đã nhận ra, sau khi cái Tâm đang dần trở lại trong sáng qua cái sát na “đốn ngộ” tự tâm: Rằng đời người là quá ngắn ngủi, trăm năm ở cõi ta bà cũng chỉ như “mộng, huyễn, bào, ảnh”, con người đến với cõi trần với hai tay trắng và lúc trở về với hư vô, cũng chỉ có từng ấy mà thôi ! Đó là  “Tánh KHÔNG”, cốt lõi của Phật giáo.
          Tôi cho giây phút chánh niệm ấy vô cùng quý báu bởi vì, tu sĩ quên cả đời học tập kinh sách, qua bao giới luật khổ hạnh, cũng chỉ mong “tự chứng” được như thế : Lòng từ bi chân chánh cũng bắt nguồn từ đó.
          Bắt nguồn từ cái “thức tỉnh” (hay nói theo Đạo Phật là giác ngộ ban đầu) nhà thơ đã ngược dòng thời gian (thời gian của tâm linh) để tự vấn lòng mình:
                             Giá như người xưa … gác gươm sườn đá
                             Tháo đôi giày cỏ thả trôi
                             Cởi áo vắt vai cười ha hả
                             Vời trông bốn hướng đất trời…
          Lại có chút lòng tự sám hối :giá như người xưa”. Nếu “người xưa” (một hình ảnh phân thân của tác giả ở quá khứ) sớm tỉnh giác, sớm hiểu ra cõi đời là “xuân sinh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàn”, là “vô thường và vô ngã”, tất cả pháp hữu vi đều giả tạm (Kinh Kim Cang Bát Nhã : “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”. Kinh Đại Thừa Kim Cang : “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh, như lộ diệc, như điệm”), thì đã sớm trở về với cội nguồn trong sáng, an tịnh của Tâm mình rồi. Đã “cởi áo vắt vai… vời trông bốn hướng…”.
          Nhưng thực tế thì không được như vậy. Hay nói theo triết lý nhà Phật thì nhà thơ đã bị “bức màn vô minh từ muôn ngàn kiếp” che phủ… Rồi phải tranh giành, bon chen, được mất, thành bại… Cuối cùng, khi chợt tỉnh “giấc mộng Nam Kha” ấy thì “Ta một kẻ hèn”. Ý chữ “kẻ hèn” ở đây phải được hiểu : Ta đã mù quáng vì vô minh, tham ái, sân si, nên không hiểu ra được cái Tâm thanh tịnh bản nhiên, hằng có, hằng sáng trong ta đã bao lâu, để không xứng đáng với “con người đích thực” như gã cùng tử con nhà giàu sang quyền quý đã “quên hạt châu vô giá trong thân” để đi lang thang sống đói khổ trong “Phẩm Thí Du” của “Kinh Pháp Hoa” vậy.
                             Ta, một kẻ hèn – kẻ hèn đời mới
                             Hèn, không đáng mặt kẻ hèn
                             Đức bạc tài sơ, bảy chìm ba nổi
                             Sao còn vất vả đua chen ?
          Tôi đã rất kinh ngạc và thích thú, khi được nghe lời tâm sự (cũng là lời tự thú, lời sám hối) quá đỗi khe khắt, nghiêm túc, tận cùng nỗi “tỉnh thức” của mình. Đúng như lời các vị Thiền sư đã từng nói : “Có giác mới có ngộ”. Không giác thì chẳng bao giờ ngộ được. Ấy là lẽ huyền nhiệm không thể lấy lời lẽ, ngôn từ mà bàn luận vậy ! Có thể gọi đó là “Trí tuệ vô lậu”.
          Sau giây phút “phản tỉnh” với tâm mình một cách rất trung thực, rất can đảm (vì không phải ai cũng dễ làm), nhà thơ đã lóe sáng niềm vui, niềm an lạc – có thể gọi là “Pháp hỉ” (nhờ hiểu theo Phật pháp mà có niềm vui, hạnh phúc).
                             Dãy đồi bên kia là lau là cỏ
                             Có cây đa già tỏa mát trăm năm.
          Kinh Phật có dạy : “Biển khổ mênh mông, quay đầu là bén”. Bên này là vô minh, bên kia là giác ngộ. Chỉ biết hướng về, quay lại – hay vượt qua “bên kia đồi” là sẽ có an vui, thanh tịnh, sẽ không còn quay lăn trong sinh tử luân hồi, không còn “hơn, thua, được, mất”, không còn có khổ đau, phiền não do tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến quấy nhiễu …
          Ở đây, qua đến giai đoạn tâm thức đã có chút lóe sáng, chút thanh tịnh hồn nhiên, mà nhà thơ vẫn hãy còn bị ray rứt, áy náy, hoang mang về “cái nghiệp” cũ của mình một cách hết sức đáng trân trọng :
                             Giá như người  xưa … cùng bầy trẻ nhỏ
                             (Mặc áo Huyền Đoan đội mũ Chương Phủ)
                             Múa ca vui với trăng rằm.
          Nếu như (lại nếu như) thuở xưa sớm tỉnh giác, sớm hiểu “tất cả các hành đều vô thường và khổ đau” (Kinh Pháp cú), mặc áo Thiền, đội mũ Lão Trang vui với thiên hiên, hoa lá, với “ánh trăng rằm” tròn đầy chưa từng thiếu mất của Phật Tánh, thì đâu có nỗi trầm luân, đâu còn sinh tử luân hồi nữa? Hình tượng “Trăng Rằm” trong từ ngữ Phật giáo Đức Phật thường chỉ cho “bản tâm, chơn như” của mỗi con người. Vui với cái “chơn như” hằng hữu trong sáng, tròn đầy ấy – thì có niềm vui nào lớn hơn đâu?
          Lại có sự soi xét, nhìn lại thấu đáo từ chính con người mình, chính sinh hoạt tâm linh đã từng dính mắc, nhiễm ô với danh lợi bấy lâu, để tuổi già gần kề, sự vô thường biến đổi đang tiến đến hủy diệt thân tâm, mới chợt biết :
                             Ta còn gì chăng ? Trái tim nguội lạnh
                             Ta còn gì chăng ? Khối óc rỗng không
                             Tầm mắt yếu không đủ nhìn cuối dặm
                             Đâu bóng con trâu nhòa nhạt giữa đồng?
          Cái “” và cái “không” ở đây phải hiểu là có phước đức, trí huệ, và không có phước đức, trí huệ, chứ chẳng phải là sự “có không” thường tình (được tính theo tiền bạc, tài sản, địa vị …). Đây là một cách “phản quan tự kỷ” nghiêm khắc thấu đạt tôn chỉ Thiền. Tự nhận mình là “đức mỏng tài hèn” hay “không có gì cả”, lời thơ tuy có hơi cường điệu (mà tính chất cuả thi ca là vậy) nhưng cho người đọc biết, nhà thơ đã có giây phút trực nhận của “trí huệ vô lậu”, đã theo cách nhìn của Đạo Phật, là nhà thơ đã “có” từ cái “không” rồi vậy!
          Hình ảnh “bóng con trâu” đã nói lên rõ nét sự quay lại, trở về, tìm kiếm chân tâm bị phủ lấp, lu mờ, nhưng buồn tiếc thay – nhà thơ đã phân vân chưa thấu rõ “đâu bóng con trâu nhòa nhạt giữa đồng”. Trong nhà Thiền, người tu Phật (hay chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo) đều phải biết mười bức tranh tu Thiền nổi tiếng “thập mục ngưu đồ”. Kẻ chăn trâu (là chính ta) đi tìm trâu, chăn giữ trâu, hàng phục trâu và đồng nhất với trâu (Tâm) là con đường đi đến giải thoát, an lạc, mà có lẽ tất cả chúng sanh đều ao ước. Tuổi đã về già, sức yếu, mắt mờ… nhà thơ đâu tìm thấy “bóng trâu” rõ ràng nữa để mà chăn giữ, hàng phục, hòa nhập với bản tâm thanh tịnh? Đây là một biểu tỏ thâm tình, chân thực nhìn nhận sự bất lực của chính mình, chứ không khoa trương, lộng ngôn, tự cho là mình đã chứng đạt.
          Đoạn cuối bài thơ làm sáng tỏ lên tâm từ, tâm bao dung, tâm hỉ xả – đây chính là cái còn lại quý báu của con người: “Sợ lưỡi rìu làm chảy máu thân cây”. Tuy nhà thơ không còn gì, có gì, nhưng quả thật anh đã có cái rất lớn, đó là tấm lòng yêu thương bao la đến muôn loài, ngay cả với cỏ cây :
                             Mặt sạm da mồi tóc râu đã bạc
                             Ta trở về quê lỡ thợ lỡ thầy
                             Muốn theo Lão Tiều non Du hái củi
                             Sợ lưỡi rìu làm chảy máu thân cây…
          Chúng ta đã hiểu nhà thơ muốn tâm sự điều này: “Đối với cỏ cây xưa nay được coi là vô tri vô giác, nhưng đã không nỡ “làm chảy máu” chúng – thì với cõi đời, với mọi người, làm sao anh không yêu thương, gắn bó, kiến tạo chúng cho tốt đẹp, để tất cả đều được hạnh phúc, an vui”. Quan yếu là ở cái Tâm từ bi chân chính ấy, chứ không phải ở những khoe trương, thủ đoạn, gian dối để mãi trôi nổi trong sinh tử khổ đau muôn ngàn kiếp.
          Tuy vẫn hiểu rằng từ thơ ca đến đời sống thực là một quãng đường dài, có nhiều đổi thay cách trở – nhưng qua cái phút giây tự vấn, tự soi lại tâm mình của nhà thơ cho ta một niềm tin yêu, rằng anh còn có những thời khắc can đảm, tỉnh giác như tếh trong cuộc đời để rèn luyện tâm mình theo dõi từng bước chân tìm về với chơn tâm, sống trong cuộc đời vô thường ngắn ngủi nhưng vẫn phải làm được đôi điều có ích cho số đông, cho quê nhà…
          Bài thơ thắm đượm sâu sắc tư tưởng Phật giáo, có chút âm hưởng của Lão Trang, là một sự hòa điệu rất vi tế, như cùng một dòng sông. Tóm lại, Bài ca ngày về của Trần Huiền Ân đã cho ta có được giây phút quý báu, để có thể tự nhìn lại đời mình, cõi tâm luôn luôn giao động của mình, để sống cho hữu ích một kiếp người vậy.
                                                         Huệ Thành –MANG VIÊN LONG                                                                                 Quê nhà

Read Full Post »

 Trần Huiền Ân


Chiều nay vợ đi vắng con đi vắng
Thu phân lất phất mưa phùn
Một ve củ tỏi một chén hột mít
Một mình ta ngồi nhắm sương sương

.

Tuổi tác bộn rồi đô xuống dốc
Sương sương không biết xỉn hồi nào
Ta thấy hai bên hai vầng nhật nguyệt
Dưới chân đất rộng trên đầu trời cao

.

Nhịp đôi guốc cùn nghêu ngao ta hát
Bài ca người thuỷ thủ nơi đảo hoang
Ôi gió biển mặn gan mát phổi
Chung quanh ta đầy châu báu bạc vàng

,

Trắc trắc bằng bằng sắp hàng chữ nghĩa
Này niêm này đối này vần
Bẻ đôi luật đường chẻ tư lục bát
Hỏi rằng trị giá mấy đồng cân?

,
Ta không phải là nhà văn nhà vẻ
Ta không phải là nhà thẩn nhà thơ
Gạt phăng trắc bằng ta lam thi sĩ
Nghênh ngang giữa đời dại dột ngu ngơ

,

Xa rồi cố nhân…em A em Z
Xa rồi bằng hữu… anh X anh Y
Vẫn trong lòng ta thị thường bất diệt
Vẫn trong lòng ta thiên tải nhất thì

.

Kính chào cuộc đời- các hiền sĩ tiểu tử
Kính chào cuộc đời- các ti tiện đại nhân
Rồi cũng phải nghe hò xang xế xự
Qua sông Nại Hà nước đục hay trong?

.

Trời cao trên đầu không che riêng ai
Đất rộng dưới chân không chở riêng ai
Hai vầng nhật nguyệt không soi sáng riêng ai
Thì có hề chi mưa nắng đường dài.

( Tuy Hòa )

Read Full Post »