Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Nhật Chiêu’

Đồng trinh

Nhật Chiêu

1.

 

Ai thế, giọng nói thì thầm trong đêm? Đã mấy đêm rồi, giọng nói bí ẩn cứ thoảng vào tai tôi. Giọng nói là ai và tại sao lại tìm đến đây?

Tôi là… Nhưng em cừ thật, chẳng sợ gì hết! Còn bé thế này, đêm tối thế này. Em đã nghe rõ giọng tôi rồi chứ? (more…)

Read Full Post »

Tờ giấy trắng

Nhật Chiêu

1. Được tin từ quảng trường, rằng có một tờ giấy trắng bay qua đấy, giữa bầu trời hoàng hôn, làm rợp bóng đường phố và gây xôn xao…
Tổng biên tập cử tôi đi điều tra lập tức. (more…)

Read Full Post »

Nhật Chiêu

1. BỨC TRANH

Giữa sa mạc. Để làm dịu cơn khát của mình, chàng hoạ sĩ đã vẽ trên cát một con suối.

Khi chàng bỏ đi, một mạch nước ngầm đã tràn lên bức tranh khe suối ấy.

Đoàn lữ hành đã tìm thấy xác chàng hoạ sĩ cách đó không xa. Dẫu sao đi nữa, họ đã uống nước thoả thuê.

2. CUỐI CÙNG VÀ ĐẦU TIÊN

Giữa cơn hồng thuỷ, nàng tỉnh dậy trên một con thuyền lạ với người đàn ông lạ.

– Tại sao thế này? Anh bắt cóc tôi à?

– Không còn cách nào khác. Bây giờ nàng là người con gái cuối cùng.

Nàng ngồi khóc. Như thể chưa đủ mưa, chưa đủ hồng thuỷ.

Rồi nàng cũng nguôi. Bởi vì, quả thật, nàng cũng không còn cách nào khác.

*

Vài trăm năm sau, nhân gian lại đông đúc như xưa. Họ gọi nàng là người con gái đầu tiên.

3. TIỂU THUYẾT TRINH THÁM

Trong một giấc mơ lâu rồi, tôi bị giết chết.

Đến bây giờ, tôi vẫn còn tìm kiếm kẻ sát nhân.

Y đang chuẩn bị, tôi biết, giết tôi trong những giấc mơ khác.

Dựa vào tin đồn cùng những nguồn tin đáng tin cậy khác nhau, kẻ sát nhân có thể là:

a. Không ai khác ngoài cha tôi

b. Vợ tôi đấy thôi

c. Chính bản thân tôi

Cuộc tìm kiếm của tôi có thể do vậy mà thiếu hiệu quả.

4. TỀ VẬT LUẬN

Trăng đang tan ra, tan cái soi chiếu thành hồ và hồ đang cô đúc, đúc cái long lanh thành trăng.

– Sao hồ mênh mông thế! Trăng ta thấy mình nhỏ nhoi quá!

– Trăng đang mơ rồi đó. Hay hồ ta đang mơ?

5. THẾ GIỚI ẢO

Nàng đang ngồi trước máy tính. Đi ngang bàn nàng, một nam đồng nghiệp nói:

– Lạ quá, tôi thấy chị đang ngồi cắt tóc bên kia đường mới tức thì. Chị không thể nào đi nhanh hơn tôi được!

Nàng ngồi trước máy cả buổi sáng nay chưa hề rời bàn.

Đi ngang bàn nàng, một nữ đồng nghiệp nói:

– Rõ ràng chị ngồi cắt tóc bên kia đường mà, lẽ nào lại đồng thời ngồi đây?

Nhiều ngày nay, nàng không hề đi đâu cắt tóc. Đi ngang bàn nàng, chị tạp vụ nói:

– Thưa cô, cô không phải đang ngồi cắt tóc bên kia đường sao?

Đứng bật dậy, nàng lao ra cửa.

6. GƯƠNG

Lần đầu tiên, có người đưa cho N. một chiếc gương soi. Từ đó, N. luôn mang theo gương bên mình.

“Con người không nên nhìn thấy gương mặt của chính mình. Kẻ phát minh ra gương soi đã đầu độc trái tim người”. Pessoa nói vậy.

Một hôm, N. đánh mất gương. Tìm khắp nơi, cuối cùng chàng đến một dòng suối. Nó giống gương quá. Và chàng trầm mình.

Hóa thân thành gương soi.

7. TÊN TRỘM

Thiền sư đọc cho người đàn ông nghe bài thơ mới vừa soạn xong:

Tên trộm đi rồi

bỏ quên bên cửa sổ

một vầng trăng soi

Bữa sau, người đàn ông trở lại, kể rằng ông cũng vừa bị trộm hồi hôm.

– Tên trộm dường như không lấy gì hết. Nhưng vợ tôi thường ngồi bên cửa sổ thì đã biến mất trong đêm. Không biết có phải là cùng một tên trộm đã viếng nhà thầy không?

Phần đầu truyện liên quan đến thiền sư Ryôkan, tác giả bài thơ lừng danh trên. Phần còn lại có thể là giấc mơ của chính thiền sư, tuy vậy chưa từng có sách nào ghi chép nó.

8. CHIẾC NHẪN

Đi làm về, nàng chưa kịp bước vào nhà thì “Cô là ai?” chồng nàng hỏi.

Trên đường về, nàng đã đánh rơi chiếc nhẫn cưới y như Shakuntala.

Nghe nói nàng đã đi mua chiếc nhẫn khác. Còn chồng nàng thì biệt tích.

9. CÁ DU

Hai con cá du bơi lội dưới sông Hào, nhìn thấy hai người đứng trên cầu.

– Hai người trên ấy đang buồn.

– Đằng ấy không phải là người, sao biết được người buồn?

– Đằng ấy không phải là tớ, sao biết tớ không biết? Tớ bơi giữa sông Hào mà biết thôi.

Nhanh như cắt, một con chim lao xuống nước, đớp gọn hai con cá du.

Cuộc tranh luận đương nhiên là chấm dứt.

10. MỘT CÁCH LỄ ĐỘ

Do nhầm lẫn, y được đưa đến Thiên Đàng. Qua khỏi cổng, y nghe hát:

Chào mừng đến với Cõi Trời!

Ở đây chỉ có niềm vui.

Chưa bao giờ y nghe một tiếng hát buồn đến thế.

“Niềm vui trong ngôn ngữ nơi này chắc là tên khác của nỗi buồn chăng?”

Y thử nói lên ý nghĩ của mình với một thiên thần canh gác. Một cách lễ độ.

Lập tức, y bị tống xuống địa ngục.

Read Full Post »

Nhật Chiêu

1.Lưu đày

Người đàn bà ngoại tình bị trừng phạt: lưu đày trở lại EDEN, nơi không còn trái cấm nữa. (more…)

Read Full Post »

Nhật Chiêu

Nguyên sơ

Sau ái ân,nàng nằm nhắm nghiền mắt.thả mình trong một dư cảm nguyên sơ,thì bỗng nhiên từ cửa sổ vọng lên tiếng rên dữ dội,anh ơi em chết mất,một tiếng rên tội lỗi hoàn hảo phát xuất từ một con vẹt xanh đang đu đưa trong lồng.

Bầu trời

Sau khi bay xa mặt đất,Diều tự bứt giây để lên cao hơn nữa,thế nhưng bầu trời lại đảo lộn bất ngờ

Ma mỹ nữ

Khi Don Quixote chết,cô gái xấu xí từng trú trong mộng của chàng như một giai nhân tuyệt thế quyết định chết theo chàng để có thể biến thành ma mỹ nữ

Mây

Từ cửa sổ trong bóng đêm,đôi khi tôi thấy nàng bay qua tựa như một áng mây nhỏ, đôi khi tôi thấy áng mây bay qua tựa như nàng và tôi bám theo hư ảnh đó như một đứa bé bò theo một quả bóng đang từ từ lên không.

Chí Tôn

Gặp cóc,Trời xin từ nhiệm vì không muốn làm Trời nữa.Cóc khuyên giải ” Cháu bắt chước con người làm gì,như ta đây là Cậu của Trời phải cai quản mưa,nếu ta từ nhiệm thì cả thiên hạ đành chết khát, Cóc và Trời là không thể thay thế,vậy mới là Chí Tôn ! “

Read Full Post »

Nhật Chiêu

Ánh sáng lạ nhất trong thơ ca tiền bán thế kỷ hai mươi ở bán đảo Triều Tiên là HAN YONG-UN (1879-1944) và ở bán đảo Đông Dương là HÀN MẶC TỬ (1912-1940).

Thơ ca của họ vừa sâu thẳm những tố chất truyền thống Đông Á vừa dậy lên những làn sóng mới bất ngờ đến kinh ngạc.

Thoạt nhìn, Han Yong-Un (Hàn Long Vân) và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ rất khác biệt ngoài yếu tố vừa kể trên.

Song, khi đặt thơ họ bên nhau thì trong ánh sáng tương chiếu, ta sẽ khám phá ra những điệu thơ đồng dạng.

Sự đồng điệu lớn nhất của họ thể hiện ở “niềm im lặng” trong thơ.

Thơ của họ là một thứ ngôn ngữ đang tìm kiếm niềm im lặng.

Phong trào Thơ Mới của hai xứ (Hàn và Việt) có nhiều tài năng. Đương thời họ nổi bật hơn hai nhà thơ họ Hàn mà ta đang đối chiếu.

Nhưng rồi ta biết, bây giờ và tương lai, hai cái bóng của Hàn Long Vân và Hàn Mặc Tử  ngày càng lớn dậy trong nền thơ ca Đông Á.

Niềm im lặng trong thơ họ tỏa sáng. Đó là niềm im lặng tạo nên ý nghĩa (a kind of silence of signification) nói theo Roland Barthes.

***

Han Yong-Un là một thiền sư, một chiến sĩ, học giả, nhà văn, nhà tiên tri, nhưng trước tiên và trên hết, ông là một nhà thơ.

Ông qui y năm 1905 với pháp hiệu là Manhae (Vạn Hải).

Hàn là một trong 33 chí sĩ lãnh đạo phong trào độc lập của Hàn Quốc năm 1919 chống ách đô hộ của Nhật.

Ông viết nhiều tiểu luận về Phật giáo và sáng tác với nhiều thể văn khác nhau.

Kiệt tác của Hàn Long Vân là tập thơ Niềm im lặng của Tình yêu (Nim ui chimmuk, 1926), niềm tự hào của thơ mới Hàn Quốc, gồm 90 bài thơ xuôi (thơ tự do).

Khác hẳn Hàn Long Vân, nhà thơ Hàn Mặc Tử có một cuộc đời ngắn ngủi và bệnh tật. Hoạt động chủ yếu của Tử là viết báo và làm thơ, ngoại trừ thời gian ngắn có quan hệ với chí sĩ Phan Bội Châu ở Bến Ngự (vì thế mà bị Pháp xóa tên khỏi danh sách du học). Tử vướng phải bệnh phong từ năm 24 tuổi. Bốn năm sau, ông vào nhà thương phong Quy Hòa. Dù vậy, Tử có cuộc đời tình ái thuộc vào loại nổi tiếng nhất trong thơ ca Việt Nam. Nhưng đối với đời, Tử là Người Thơ, chỉ thế mà thôi. Tài thơ ấy bộc lộ qua các thi phẩm nổi tiếng Gái quê, Chơi giữa mùa trăng, Đau thương, Xuân như ý.

Tại sao Hàn Long Vân gọi tập thơ của mình là Niềm im lặng của Tình yêu (Nim ui chimmuk)? Chữ NIM (Tình yêu) mà nhà thơ dùng ở đây là một đại từ đa nghĩa, nhiều chiều, ta sẽ bàn sau.

Trước tiên, là “niềm im lặng” (chimmuk: trầm mặc).

Trước mọi tiếng ồn, âm thanh tất nhiên là im lặng. Phật được gọi là MUNI, người im lặng.

Theo dịch giả Francisca Cho, niềm im lặng ở đây có thể được diễn giải như sau: “Niềm im lặng tìm kiếm một bờ cõi nghệ thuật xuyên lịch sử để nói với tất cả những ai đang ước vọng. Manhae từng dùng tất cả thể loại văn chương có sẵn, kể cả chính luận và tiểu thuyết từng kỳ. Tuy nhiên, chính là thơ ca của niềm im lặng khởi từ nguồn triết lý Phật giáo dung hợp với tình thế lịch sử riêng biệt của mình mà nâng lên thành cuộc trầm mặc trong động lực phổ quát của ước ao. Niềm im lặng vận hành xuyên qua lịch sử cá nhân để tự vượt mình mà đến với sự thấu thị tôn giáo và thẩm mỹ”(1).

Hàn Mặc Tử cũng thường nói về người thơ như một “người nín lặng”. Trong bài tựa Thơ Điên năm 1938, ông viết:

“Người thơ chính là khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo.

Trên đầu người là biển cả vô biên và vô lượng… Người nín lặng để mà nghe tiếng trăng reo vang vang như tiếng châu báu vỡ lở”.

Người thơ im lặng đến mức Tử phải tự hỏi:

Người thơ chưa thấy ra đời nhỉ?

(Cuối thu)

Và nếu như Hàn Long Vân khởi đi từ nguồn triết lý Phật giáo dung hợp với tình thế lịch sử của mình thì điều đó cũng không xa trường hợp Hàn Mặc Tử.

Trong bài tản văn Chiêm bao với sự thực, Tử viết: “Và tôi sẽ ký thuyết minh một cách rất nhà Phật là sắc cũng như không, chết cũng như sống, gần cũng như xa và hư cũng như thực…”.

Tất nhiên, tư tưởng Thiền của Hàn Long Vân và tư tưởng tôn giáo của Hàn Mặc Tử có nhiều điều khác biệt.

Thiền của Long Vân kết hợp với tinh thần dân chủ và tự do hiện đại.

Tư tưởng tôn giáo của Tử là phối sắc của Phật, Đạo và Chúa.

Tất cả điều đó lọc qua thần trí cá nhân của hai nhà thơ, tạo nên thơ ca của niềm im lặng.

Niềm im lặng ấy trong văn chương là một cái gì rất cũ mà cũng rất mới. Thơ Vương Duy đời Đường, thơ văn Lý Trần ở Việt Nam…

Văn chương đương đại cũng đi đến niềm im lặng ấy theo cách thế của mình. Chẳng thế mà Gerard Genette khi nói về Những niềm im lặng của Flaubert đã quả quyết rằng:

“Ngôn ngữ chỉ tự mình trở nên văn chương phải trả giá bằng cách tự mình chết đi, vì nó phải đánh mất ý nghĩa của nó để đạt tới niềm im lặng của tác phẩm nghệ thuật. Hơn nữa, cuộc đảo hoán này, cuộc xoay chuyển ngôn ngữ thành niềm im lặng này đối với chúng ta hôm nay, là yếu tính của văn chương”(2).

Nhưng im lặng cũng như chân không trong văn chương không phải là sự bất động, cái chết hay sự trống rỗng.

Đây là một niềm im lặng mà Han Yong-Un gợi nên:

Lá ngô đồng bay lặng lờ qua không gian lặng gió – đó là dấu chân ai?

Tương tự thế, đây là câu thơ của Tử:

Ai đi lẳng lặng trên làn nước…

Không nói không rằng nín cả hơi!

Niềm im lặng mà cả hai tạo nên là cả một thế giới huyền bí.

“Dấu chân ai” của Long Vân và “ai đi” của Tử vừa có vừa không, vừa hư vừa thực. Ai ở đây không chỉ là sáng tạo của nhà thơ mà còn là phải nhận được hồi đáp sáng tạo của người đọc.

Nói theo Jeon Bo Sam, viện trưởng viện nghiên cứu tư tưởng Han Yong-Un, thì: “Niềm im lặng ở đây không đơn giản là thiếu vắng tiếng động, mà đó là một tiếng kêu mới, vang ngân đến tận đôi tai của chúng ta”(3).

Tiếng kêu mới (un nouveau cri)! Phải rồi, đó là tân thanh của Nguyễn Du. Tiếng kêu mới của mọi nhà thơ xứng danh thi sĩ. Nhà thơ, đó là người biết tạo nên khúc tân thanh từ những niềm im lặng của con người.

Niềm im lặng ở đây là một nghịch lý. Niềm im lặng là cái ẩn giấu trong ngôn ngữ, là cái không nói ra. Và khi ta cảm nhận được niềm im lặng ấy rồi thì ta cũng sẽ tìm thấy một thứ ngôn ngữ ẩn giấu trong đó. Cái ẩn giấu là cái vô hình. Ngôn ngữ dừng lại trong im lặng để cái vô hình ấy lan dần. Từ đó mà niềm im lặng cất lên tiếng hát.

Thơ ca như vậy biến nhà thơ và người đọc trở thành kẻ chiêm nghiệm và trầm mặc.

Chúng ta có thể tìm kiếm niềm im lặng ấy qua những ngấn tích sau đây trong thơ Han Yong-Un là Hàn Mặc Tử:

– Niềm im lặng của Nim và Ai

Thơ Han Yong-un là cuộc trò chuyện bất tận với Nim. Đó là Nim bên trong tâm hồn ông. Nên cuộc trò chuyện ấy biến thành cuộc độc thoại nội tâm.

Hàn Mặc Tử cũng thường trò chuyện với một đối tượng trữ tình là Ai. Ai đó là người yêu dấu, là một hồn linh huyền bí mà cũng có thể là một cái tôi khác của nhà thơ.

– Niềm im lặng của Trăng và Thơ

Đây là niềm im lặng của thiên nhiên và cái đẹp. Hình ảnh thiên nhiên vừa phù du vừa vĩnh cửu, vừa bình yên vừa biến ảo luôn luôn được biểu hiện trong ngôn ngữ của hai nhà thơ. Và bản thân thơ ca, người thơ, bản thân cái đẹp cũng trở thành tiêu điểm trong cuộc hành trình của họ.

– Tình yêu của niềm im lặng

Niềm im lặng sâu thẳm nhất là cái chết. Đối với hai nhà thơ tâm linh này, cái chết không đối lập với đời sống. Hơn nữa, trong cái chết và im lặng có đời sống và tình yêu.

1. NIỀM IM LẶNG CỦA NIM VÀ AI

Tập thơ Niềm im lặng của Nim xuất hiện vào những năm 20 thế kỷ trước đáp ứng đòi hỏi của một thực tại đang cần một tiếng thơ mới ở Hàn Quốc. Tuy phong trào Thơ Mới đã được thiết lập từ năm 1908 với bài Từ biển cả đến trẻ thơ của Choe Namson, nhưng cả Choe cũng như các thi sĩ Chu Yohan, Kim Ok và Kim Sowol, dù sáng tạo nhiều bài thơ được mọi người yêu thích, cái trữ tình của họ vẫn thiếu chiều sâu tư tưởng, thiếu một triết lý giúp nó kết nối mộng và thực.

Với Niềm im lặng của Nim, Han Yong-Un đã giải thoát cho dòng thơ đương đại đang có nguy cơ tắc nghẽn bằng một thứ thơ tự do mới lạ, vừa trữ tình vừa tâm linh, vừa thực tại vừa huyền bí, mà chẳng cần mô phỏng các trào lưu văn học phương Tây. Tất nhiên, không phải tác phẩm của họ không chịu ảnh hưởng từ bên ngoài. Bản dịchGitanjali (Thơ Dâng) của R. Tagore phổ biến ở Hàn Quốc vào năm 1923 cũng như nhiều tập thơ khác của thi hào Ấn Độ đã gây cảm hứng nồng nhiệt; đó là thơ soi chiếu thực tại huyền bí bằng giọng điệu của tình yêu. Trong Niềm im lặng của Nim có thể nghe thấy dư vang của Gitanjali và Người giữ vườn.

Ở Ấn Độ, Tagore là một thánh sư (Gurudeva), còn ở Hàn Quốc, Han Yong-Un là một cao tăng, một thiền sư. Tập thơ Niềm im lặng của Nim với chín mươi bài thơ được soạn ra như để làm mới lại khái niệm Nim, một đại từ có ý nghĩa rất đặc biệt và biến hóa trong tiếng Hàn. Trong thơ tình, Nim là người yêu, bạn tình. Trong thơ đạo lý, Nim là minh chủ, là nhà vua. Trong thơ tôn giáo, Nim là Phật, Chúa, Vĩnh cửu.

Có thể nói NIM vừa là chủ thể vừa là đối tượng trong tình yêu, là chính bản thân tình yêu. Do đó, đất nước, cuộc đời, cái linh thiêng… đều có thể gọi là Nim. Tùy trường hợp, có thể dịch Nim sang tiếng Việt là ngài, người, ai, anh, em…

Với Hàn, “đó là một điều ta ước vọng”.

Vậy thì Nim là du khách, ta là con thuyền:

Ta là con thuyền

Em là du khách

Em bước lên ta bàn chân bùn lấm

Ta ôm em mà thầm lặng băng sông

Khi ta ôm em, dù sâu hay cạn

Dù nước kia chảy xiết thế nào

Ta vẫn không ngừng vượt sóng…

(Bài 14)

Đó là một người khách huyền bí. Gần cũng như xa. Có mặt cũng như vắng mặt. Người khách của niềm im lặng. Ta là kẻ đưa đón, kẻ chờ đợi. Ta sẽ già. Còn người khách thì vĩnh cửu.

Người đọc có quyền nhìn thấy người khách như mình muốn, như bạn tình, như lịch sử, như lý tưởng, như thần linh… Và có thể đọc bài thơ như một độc thoại nội tâm.

Vậy thì, Nim là của ta nhưng Nim cũng thuộc về mọi người. Trong bài Ngộ nhận, Nim lại là một vầng trăng non đang lượn lờ trên cành cây cao. Và khi ta năn nỉ Nim hãy xuống đi cho thì nàng nói:

Nào phải em không muốn xuống đâu,

Nhưng em là Nim của mọi người, anh ạ

Phải đâu muốn từ chối lời anh mời gọi ngát thơm hơi…

(Bài 26)

Sau đó, vầng trăng non im lặng nhìn ta qua cửa sổ. Và trái tim ta run lên khiếp sợ.

Cuối bài Niềm im lặng của một người tình là một điệu buồn:

Tình ta đi rồi nhưng ta đâu muốn

Bài tình ca ta hát phong kín niềm im lặng của tình yêu

(Bài 1)

Từ đại từ NIM của Hàn Long Vân đến với đại từ AI của Hàn Mặc Tử dường như là một con đường của im lặng và đau thương.

Bắt đầu bằng một “ai” đầy quyền lực của tình yêu:

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu

Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?

(Những giọt lệ)

Kẻ mà có thể đày đọa tôi, ném tôi xuống “dưới trời sâu” chỉ có thể là nữ chúa của cõi tình.

Và đây là ai như một nghệ sĩ thượng thặng, sáng tạo từ lụa trời, chim bay, mây, lệ đến cô liêu, thu vàng, sao lạ… mà chờ đợi một tri kỷ là người thơ.

Lụa trời ai dệt với ai căng

Ai thả chim bay đến Quảng Hàn…

Thu héo nấc thành những tiếng khô

Một vì sao lạ mọc phương mô?

Người thơ chưa thấy ra đời nhỉ?

Trinh bạch ai chôn tận đáy mồ?

(Cuối thu)

Niềm im lặng của mùa thu vừa được sáng tạo với bãi cô liêu, với buồn phơn phớt, với vắng trơ vơ, với cây mảnh khảnh được thể hiện qua “những tiếng khô”, những âm thanh khô, những điệu hát khô.

Rồi “ai” chính là hồn để tôi dắt đi chơi, dẫn hồn đi suốt đêm. Hai chúng tôi cùng im lặng, cùng gào thét. Gọi là chúng tôi nhưng nào biết ai là ai.

Hồn là ai? Là ai? Tôi chẳng biết,

Hồn theo tôi như muốn cợt tôi chơi

Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười,

Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng…

Hai chúng tôi lặng yên trong thổn thức.

(Hồn là ai?)

Ta muốn níu hồn ai đương hiển hiện

Trong lòng và đang tắm máu sông ta.

Ta muốn vớt ai ra ngoài sóng điện,

Để nhìn em sắc mặt với làn da.

(Biển hồn ta)

Đó chỉ là một ảo giác? Không đâu, đó là một thứ “ai” chỉ có trong thơ Hàn Mặc Tử. Cái ai của đau thương tuyệt đỉnh. Làm sao vớt được cái đau thương? Với Tử, toàn bộ thực tại là đau thương.

Đến mức không còn ai hay ta nữa. Chỉ còn lại cái đau thương. Lẳng lặng, ngậm miệng, nín hơi.

Ai đi lẳng lặng trên làn nước,

Với lại ai ngồi khít cạnh tôi?

Mà sao ngậm cứng thơ đầy miệng,

Không nói không rằng nín cả hơi!

Chao ôi! Ghê quá trong tư tưởng

Một vũng cô liêu cũ vạn đời

(Cô liêu)

Chỉ còn lại im lặng một vũng cô liêu. Không còn ai nữa. Người thơ như chưa từng ra đời. Ngôn ngữ trở về với im lặng, với trinh bạch, với cái chết.

Để chỉ còn lại âm thanh của linh hồn:

Tiếng rú hồn tôi xô vỡ sóng

Rung tầng không khí, bạt vi lô.

(Cô liêu)

Cũng trong đêm cô liêu, nhà thơ Han Yong-Un cảm thấy:

Trên trời không có trăng

Dưới đất thì lặng gió

Cõi người ta im lặng

Cả tôi cũng vô hồn.

(Bài 6)

Cái đau thương của Hàn Mặc Tử và niềm im lặng của Han Yong-Un gặp nhau trong đêm cô liêu.

2. NIỀM IM LẶNG CỦA TRĂNG VÀ THƠ

Trăng là ánh sáng, là hào quang của thơ Hàn Mặc Tử. Trong một đêm xuân đầy trăng, nhà thơ cảm thấy thiên nhiên “giàu sang hơn Thượng Đế”.

Trăng là ngôi vị tối thượng trong thơ Tử. đó không còn là thơ nói về trăng. Đó là thơ viết thẳng lên trăng. Đó là ngôn từ hóa trăng:

Xin tha thứ những câu thơ tội lỗi

Của bàn tay thi sĩ kẻ lên trăng…

(Đêm xuân cầu nguyện)

Dù thơ Hàn Long Vân không có nhiều trăng nhưng ông cũng hình dung trăng như là Nim của mọi người, một Chúa Tình. Ở đây, trăng chính là tình yêu:

Xuống đi em, ta sợ

Sao em cứ lượn lờ trên cành cao đó?

Vầng trăng non trên cành liễu cười nhẹ đáp:

“Nào phải em không muốn xuống đâu,

Nhưng em là Nim của mọi người, anh ạ…

(Bài 26)

Cũng có khi, Han Yong-Un hình dung trăng như một người tình nam nhi:

Vầng trăng chiếu sáng, em nhớ anh quá.

Năm trước, em thấy mặt anh như trăng:

Và đêm nay trăng hóa thành mặt anh đấy.

Bởi mặt anh là trăng, mặt em cũng thế…

(Bài 58)

Rất giống tứ thơ của Tử:

Không gian đầy đặc toàn trăng cả:

Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng

(Huyền ảo)

Người trăng ăn vận toàn trăng cả

(Say trăng)

Bỗng đêm nay, trước cửa bóng trăng quỳ,

Sấp mặt xuống uốn mình theo dáng liễu…

Em, hãy nhập hồn em trong bóng nguyệt.

(Hãy nhập hồn em)

Trong tâm trí cô liêu của Hàn Mặc Tử có ba ngôi tối thượng, đó là

TRĂNG – THƠ – TÌNH

(ĐAU           THƯƠNG)

Trong đau thương, ông sống với tam vị nhất thể đó, với ba nguồn mạch đó.

Đo từ ngọn cỏ tới cung trăng,

Những sợi hào quang vạn thước vàng.

Bắt! Bắt! Thơ bay trong gió loạn

Để xem tình tứ nặng bao cân.

Tôi ước ao là tôi ước ao,

Tình tôi vô lượng sẽ dâng cao

Như bông trăng nở, bông trăng nở

Những cánh bông thơ trắng ngạt ngào.

(Ước ao)

Dường như trong thơ Han Yong-Un, theo tôi thì tam vị nhất thể nếu muốn có thể hình dung như sau:

NGÃ – TÌNH YÊU – VŨ TRỤ

(                   NIM                    )

Han Yong-Un từng viết:

“Niềm tin Phật giáo là một niềm tin vào ngã. Đó là một ngã thấu nhập vô số ngã khác, sự vật khác. Nói rõ hơn, mỗi người đều có khả năng cá thể hóa vũ trụ đồng thời vũ trụ hóa cá thể”(4).

Chính vì thế mà thơ ca Han Yong-Un vừa chan chứa tính siêu nghiệm tôn giáo vừa nóng ấm tính cụ thể lịch sử.

Cuộc đời, tôn giáo và thơ ca của Hàn Mặc Tử cũng vậy, được bọc trong một thứ ánh sáng rất lạ nhưng sống động niềm đau thương nhân thế rất thật:

Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm,

Cho trăng ngập trăng dồn lên tới ngực…

(Hồn là ai?)

Han Yong-Un cũng thể hiện rất thực một linh hồn đau thương:

Linh hồn tội nghiệp cháy trong lửa cuồng

Tìm thế giới mới trong niềm tuyệt vọng đóng băng

Ôi bông hoa sa mạc

Ôi trăng đầy của đêm không trăng

Gương mặt tình yêu của tôi ơi!

(Bài 33)

Cả hai nhà thơ dắt linh hồn đến đối diện với cái chết, với một ánh-trăng-không-trăng, với niềm im lặng, với THƠ.

Theo Han Yong-Un:

Hiện hữu của Tình yêu, cả đôi mắt và tâm hồn của Nim

  cũng không biết nổi…

Bí ẩn của Tình yêu thì chỉ có… giấc ngủ của Nim và mơ tưởng

 của thi nhân mới biết được mà thôi

(Bài 29)

Hàn Mặc Tử:

Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu…

(Thánh nữ đồng trinh Maria)

Thơ ca của Yong-Un và Tử có thể nói là một thứ thơ ca tự ý thức, một thứ thơ ca tự qui chiếu. Thơ và Người Thơ nhiều lần trở thành đề tài, trở thành hình tượng trong thơ ca của họ. thơ tự soi gương, tự phản ánh như châu ngọc trong lưới trời Đế Thích.

Hàn Mặc Tử viết:

Thuở ấy càn khôn mới dựng nên,

Mùa thơ chưa gặt tốt tươi lên,

Người thơ phong vận như thơ ấy

Nào đã ra đời ngọc biết tên.

(Xuân đầu tiên)

Còn HanYong-Un:

Ánh tà dương như bàn tay ngọc đang mơn trớn lòng trời vô tận

Như gót sen vàng dạo biển vô biên, đó là bài thơ ai?

(Bài 3)

Thơ hay người thơ ở đây không chỉ là ngôn ngữ mà còn là im lặng. Hơn nữa, đó còn là hiện tượng của sáng tạo, hiện tượng của khởi nguyên, hiện tượng của vô tận.

Thơ của họ đầy những trầm tư mặc tưởng về bản thân hiện tượng thơ ca.

Đó là thơ của thơ.

3. TÌNH YÊU CỦA NIỀM IM LẶNG

Tình yêu của niềm im lặng là tình yêu của vô biên và vĩnh cửu. Đó cũng là tình yêu của cái chết, điều mà Han Yong-Un diễn đạt rất tinh tế như sau:

Hãy đến đây trong cánh tay em, bờ ngực em dịu mềm chờ đón.

Nếu ai đuổi bắt anh, hãy tựa đầu vào ngực em.

Dù dịu dàng như nước, nó là gươm vàng và khiên thép chở che anh

Dù ngực em có tơi bời dưới vó ngựa như hoa, mái đầu anh cũng

      không rơi khỏi nó…

(Bài 85)

Vào tận cái chết của cô gái cũng là một tứ thơ của Hàn Mặc Tử nhưng không phải là trốn lánh một kẻ đuổi bắt nào, mà “cốt để dò xem tình ý lạ”:

Xác cô thơm quá, thơm hơn ngọc,

Cả một mùa xuân đã hiện hình.

Thinh sắc cơ hồ lưu luyến mãi,

Chết rồi, xiêm áo trắng như tinh.

(Cô gái đồng trinh)

Và nhà thơ khám phá được điều gì? “Té ra nàng sắp sửa yêu ta”. Bí mật của cái chết ấy là có một tình yêu sắp sửa. Khi Nàng ngủ, Nàng chết thì như Nim của Han Yong-Un, đó là lúc bí ẩn của tình yêu mới thể hiện. Cả một mùa xuân đã hiện hình!

Càng đọc hai nhà thơ họ Hàn, càng thấy ánh sáng kỳ lạ của họ tương chiếu, một điều đáng kinh ngạc!

Tình yêu của niềm im lặng cũng có thể là tình yêu cách xa hàng thế giới, tình yêu của mộng, một tứ thơ rất quen thuộc trong thơ Hàn Mặc Tử và Han Yong-Un.

Hàn Mặc Tử viết:

Anh đứng cách xa hàng thế giới,

Lặng nhìn trong mộng miệng em cười

(Lưu luyến)

Ôi muôn năm! Giấc mộng đã đời chưa?

Lúc ấy sóng triều rên rỉ chưa bưa,

Cứ nhắm mắt, cứ yêu nhau như chết.

(Đôi ta)

Một mai kia ở bên khe nước ngọc,

Với sao sương, anh nằm chết như trăng

(Duyên kỳ ngộ)

Với Han Yong-Un, tình yêu của niềm im lặng thể hiện bằng nghịch lý, những nghịch lý tựa công án Thiền:

Giọng nói em là “im lặng” chứ?

Khi em ngừng hát, tôi nghe giai điệu sáng trong hơn

Giọng em là “lặng im”.

 

Gương mặt em là “bóng tối” phải không?

Khi tôi nhắm mắt tôi lại, gương mặt em tôi thấy sáng ngời hơn!

Gương mặt em là “bóng tối”.

Cái bóng của em là “ánh sáng” ư?

Sau khi trăng lặn rồi, bóng em chiếu vào khung cửa tối.

Bóng của em là ánh sáng, em ơi!

(Bài 63)

Chỉ trong niềm im lặng, tình yêu mới có thể hiện lên như giai điệu không giai điệu và ánh sáng không ánh sáng. Niềm im lặng là một phương tiện thiện xảo để tâm truyền tâm.

Niềm nghịch lý ấy cũng phảng phất trong thơ Hàn Mặc Tử:

Càng xa nhau càng thấy được gần nhau

(Đánh lừa)

Và trong miệng ngậm câu ca huyền bí

Và trong tay nắm một nạm hào quang…

(Thánh nữ đồng trinh Maria)

Niềm nghịch lý ấy gắn với thân thế của ông, chứng bệnh của ông đến nỗi ông từng gọi tập “Đau Thương” của mình là “Thơ Điên”.

Hàn Mặc Tử trải nghiệm đau thương bằng cả hồn lẫn xác, bằng cả điên lẫn tỉnh, bằng cả mơ lẫn thực. Thơ được phóng xuất ra từ đấy, được phóng xuất ra như thế. Trong ngôn ngữ và cả trong im lặng.

Nguồn thơ đó băng ra từ tiếng kêu thống thiết và lâm lụy của đời mà vẫn đầy yêu thương.

Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế.

(Thánh nữ đồng trinh Maria)

Thơ ca Han Yong-un biến niềm im lặng thành một ngôn ngữ mới, thành bóng tối, thành ánh sáng, thành tình yêu, thành cái đẹp.

Thế giới của hai nhà thơ tạo dựng bằng truyền thống tâm linh phương Đông lẫn phương Tây, bằng phương tiện thiện xảo và hình thức tự do của văn chương hiện đại, bằng tình yêu vũ trụ tương lai1

____________

(1) Francisca Cho (dịch và giới thiệu), Everything yearned for: Manhae’s poems of love and longing, Wisdom Publications,USA, 2005, tr.131, 132.

(2) Gerard Genette, Les Silences de Flaubert. Dẫn theo bản Anh dịch Madame Bovary, Bantam classic, 2005, tr.473.

(3) Jeon Bo Sam (giới thiệu), Le silence de Nim, Editions Autres Temps, 1996, tr.20.

(4) Nae ka mitnun Pulgyo (Những niềm tin Phật giáo của tôi), dẫn theo Francisca Cho, tlđd.

CHÚ DẪN

Tất cả thơ Han Yong-un trích dẫn trong bài viết đều do người viết chuyển ngữ sang tiếng Việt dựa vào các bản dịch Anh, Pháp sau đây:

1. Le Silence de Nim, bản dịch của Kim Hyeon-ju và Pierre Mesini, Editions Autres Temps, Seoul, 1996.

2. Meditations of the lover, bản dịch của Younghill Kang và Frances Keely, Yonsei University Press, Seoul, 1970.

3. Love’s silence and other Poems, bản dịch của Jaihiun Kim và Ronald B. Hatch.

4. Everything yearned for, bản dịch của Francisca Cho, Wisdom Publications, USA, 2005.

5. The silences of love, bản dịch của Sammy E. Solberg, The University Press of Hawaii, 1978.

Ngoài năm bản dịch Anh, Pháp trên, chúng tôi có tham khảo hai bản tiếng Việt:

1. Tìm hiểu tập thơ Niềm im lặng của tình yêu của Bùi Phan Anh Thư, trường Đại học Dân lập ngoại ngữ -tin học TP. HCM, 2002 (GV hướng dẫn: Phan Nhật Chiêu. Đây là công trình nghiên cứu và dịch đầy đủ tập Niềm im lặng của tình yêu đầu tiên ở ViệtNam).

2. Sự im lặng của tình yêu, bản dịch của Lê Đăng Hoan, NXB Văn học, Hà Nội, 2006. Dịch giả chuyển ngữ 80 bài, để lại 10 bài không dịch.

Read Full Post »

Người không chiêm bao

Nhật Chiêu

Tranh Van Gogh

1.

Tinh mơ.

Trong khi người không chiêm bao còn say ngủ, nàng lặng lẽ rời khách sạn, mang theo máy ảnh và đi ra Hồ.

Hồ. Trong thơ xưa, nó được xưng tụng là gì nhỉ? Nàng Tây Thi. Bây giờ Hồ đang nằm duỗi mình trong sương mù, mượt mà, long lanh và hư ảo. Xứng danh người đẹp.

Bây giờ vẫn còn chưa trang điểm, nàng và Hồ.

2.

Trời còn lạnh.

Hồ đẹp đến nỗi tôi xấu hổ mình đã quá vội vàng, chưa trang điểm mà đã đi gặp Hồ. May mà còn có chiếc khăn san đỏ sẫm màu rượu vang quấn quanh cổ tôi!

Giờ này quanh Hồ biết đâu có sói, sói có thể mang đầu người, bụng người và chân người. Đó là tôi chợt đùa thầm với chính mình trong làn sương bềnh bồng sớm đông.

Bầu trời màu tro ửng một chút hồng.

Với tôi, bầu trời lúc nào cũng đẹp. Tôi thường ngẩng nhìn, trong khi đi đường, cái vòm bao la đổi màu liên tục ấy.

Đừng thế nữa, chồng tôi nhiều lần trách mắng, nhìn mặt đất mà đi chứ!

3.

Ngay cả khi nhìn mặt đất,

Nàng vẫn thấy thanh thiên phản chiếu trong gương, phản chiếu trong hồ, phản chiếu trong vũng nước…

Trong một giọt sương, nàng cảm thấy, cũng có ký ức của bầu trời xanh.

Ngay cả khi nhìn mặt đất,

Nàng vẫn lạc đường, vẫn bơ vơ, vẫn chờ đợi, vẫn đi về một chân trời xa.

Ngay cả khi nhìn mặt đất,

Nàng vẫn mang dáng vẻ mộng du và nàng đã gặp anh trong trạng thái đó, đã lấy anh trong trạng thái đó.

Nàng đã lấy người không chiêm bao.

4.

Trước khi rời phòng, tôi ngoái nhìn về chiếc giường anh đang nằm.

Anh quấn mình trong chăn ấm. Như một con sâu. Ngáy đều. Như một ao tù rền âm thanh của bóng tối.

Ngay cả mang tai của anh, tôi cũng không thấy đâu. Đôi mắt anh giấu trong bóng tối của chính nó.

Giấc ngủ của anh bao giờ cũng say.

Giấc ngủ của anh có thời khắc, chuẩn xác và không bao giờ mộng mị. Tôi biết.

Biết hay không biết thì cũng vậy.

Giá như một lần, tôi có thể đi vào giấc ngủ ấy, cái thế giới trống rỗng không có gì ấy. Trong cái nhà tù hư vô ấy, chỉ có bóng tối.

Tôi đã may mắn thành công khi thuyết phục được anh trở về thăm cố hương từ một phương trời buốt lạnh, mịt mùng tuyết bay.

Chỉ để nhìn lại Hồ, ngắm những vạt sen hồng và dõi mắt theo một bầy chim thiên di rủ nhau bay về An Bá, Yên Thiên.

Trong mơ, có lần tôi thấy mình bay trong bầy chim di trú ấy, vai mọc đôi cánh màu tím biếc, vẫy gió mà bay. Tỉnh dậy, mắt ướt. Chồng tôi ân cần hỏi han trong khi tôi vừa khóc vừa kể lể.

5.

Có gì thế em?

Không.

Có.

Em chiêm bao…

À, chiêm bao!

Đừng chế giễu em.

Em thấy em đang tậu một miếng đất trên mặt trăng, phải không?

Miếng đất nào? Em chỉ thấy mình bay về An Bá trong hình hài một con chim thiên di, chính xác là con sâm cầm lẻ loi giữa một bầy cò, nhạn, giang, le le…

Tội nghiệp em chưa, tội nghiệp những người phải sống thường xuyên với những giấc chiêm bao. Giá mà em có thể sống như anh. Như anh.

6.

Bởi vì anh chua từng biết mông mị là gì. Trong hàng ngàn giấc ngủ anh trải qua từ bé đến giờ, tuyệt không hề có một giấc chiêm bao nào.

Anh đã thú nhận với nàng như thế ngay trước phút cầu hôn.

7.

Và bây giờ, khi ngoái nhìn anh ngủ, tôi biết rõ một chốc nữa đây, đúng boong 6 giờ, anh sẽ mở mắt. Đôi mắt anh không lưu đọng một bóng hình hư ảo nào, hoàn toàn sáng rõ như hoà nhập với ánh nắng mai sẽ tràn vào phòng qua cửa sổ.

Anh sẽ đi vệ sinh, rồi rửa mặt, rồi đánh răng, rồi tập thể dục, rồi mở máy vi tính bắt đầu một ngày mới. Đó là một nghi lễ bất di bất dịch.

Ngày nào cũng như ngày nào.

Cho dù có luân hồi chuyển thế, anh nói, anh không tin là anh có thể sống khác với thời khoá biểu của mình.

Hay cho dù có động đất sập trời, anh cũng thế.

Bởi thế, tôi không thể đánh thức anh dậy sớm, ra bờ Hồ giăng sương, đón đợi bầy sâm cầm bay xuống và vẫy nước trên Hồ. Trong cuộc đón đợi này, tôi phải lẻ loi thôi.

Nhưng mà, kể từ khi lấy anh, có một cuộc đón đợi nào, nếu như thật sự là một cuộc đón đợi, mà tôi không lẻ loi đâu.

8.

Nàng lang thang theo mạn hồ, ven một vạt sen mênh mông xanh ngút. Những lá sen xoè căng cánh như muốn bay lên.

Ngắm những búp sen hồng qua màn hình máy ảnh, nàng tìm chọn một điểm nhìn. Nhưng chưa bấm. Chờ nắng lên.

Một ông lão, chắc là chủ vạt sen, từ thuyền bước lên, tiến về phía nàng.

9.

Cô chụp ảnh sớm thế?

Chưa đâu ạ. Bác đi vớt hoa sớm thế?

Cũng chưa đâu.

Cháu đợi sâm cầm nhưng không thấy.

Dạo này hiếm hoi lắm!

Sao thế ạ?

Hàng quán xáo xác, du thuyền lung tung, săn bắt bừa bãi, chim biết trú vào đâu? Sâm cầm chỉ thích những nơi thanh vắng như cửa sông, bờ biển và đại hồ, nơi chim có thể bơi lặn thoả thích và sống qua mùa đông.

Cháu ngỡ mình về đúng mùa sâm cầm. Hoá ra không có gì hết?

Nhớ những mùa trước, sâm cầm thường lặn dưới vạt sen của tôi tìm ăn những hạt sen rơi rớt, thực vật thuỷ sinh và tôm ốc nhỏ.

Nghe nói loài chim này biết đào bới rễ cây mà ăn củ nhân sâm, phải không bác?

Chắc là chuyện đời xưa, chắc là huyền thoại. Có một cô gái lên non tìm thuốc cứu cha già, nhìn thấy một bầy chim lạ đào bới cây củ lạ mà ăn. Cây đó là nhân sâm giúp cha cô khoẻ lại. Do vậy mà chim lạ ấy được gọi là sâm cầm.

Cháu thì cũng theo mùa chim di trú mà về đây. Để sống qua mùa đông. Để tìm một điều gì đó không rõ. Và để sống tiếp.

Cô có thấy Hồ đang làm gì không?

Làm gì hở bác?

Đang mơ cô ạ, Hồ đang chiêm bao.

10.

Từ biệt ông lão, tôi tiếp tục lang thang ven Hồ. Mùa này sâm cầm có về không?

Đừng phụ lòng ta chứ, sâm cầm ơi!

Ta cũng là một con chim trốn tuyết, cũng như bọn em thôi.

Sâm cầm ơi, bọn em có những giấc chiêm bao không?

Như là ta vậy. Như ta.

11.

Đi về phía tôi từ trong sương hiện ra một cô bé.

Cô đội một chiếc mũ len trắng trông ngộ nghĩnh như một cái mào chim.Cô mặc chiếc áo ấm bằng len nhung bên ngoài bộ váy xám tro.

Đó là một thiếu nữ. Hay chỉ là một bé gái? Tuổi không thể đoán. Có cái xinh xắn thơ dại pha lẫn một nhan sắc xuân thì.

Vừa đi cô vừa nhai một loại hạt nào đó. Dáng đi nhún nhảy của cô gợi nhớ loài chim có đôi chân cao. Đầu cô lại hay chuyển động theo lối nhìn nghiêng.

Sương mù như đang đưa đẩy cô. Sương mù như đang nhả ra cô. Đang đưa cô vào đời. Đang đưa cô đến với tôi.

Một cách vô thức, tôi giơ máy ảnh lên, ghi nhận khoảnh khắc một cô bé xinh đẹp hiện ra bất ngờ trong sương.

Xin lỗi em nhé, tôi ấp úng nói khi cô bé tới gần, chị chụp ảnh em mà không xin phép trước.

Không sao mà, giọng cô bé nghe ríu rít, chị có ăn hạt sen không?

Và cô bé đặt vài hạt sen tươi vào lòng bàn tay tôi.

Tôi nhìn em, không rời mắt ra khỏi em được. Đắm đuối như si tình.

Trong khi ăn hạt sen, tôi hỏi chuyện cô bé đội mũ len trắng có gương mặt lạ lùng xinh ấy.

12.

Nhà em ở gần Hồ à?

Không đâu. Xa lắm cơ. Xa vô cùng, xa ngút ngàn. Phải bay, bay mãi.

Và em… bay… một mình à?

Em đi lạc và rồi không thấy ai.

Tội em quá!

Nhưng em không sợ đâu. Em sẽ tìm ra bạn thôi. Thế nào cũng tìm được.

Nếu như có thể, em về chỗ chị chơi nhé? Có được không?

Chị cũng đi lạc, sống một mình à?

Ồ không, chị đang ở khách sạn với người không chiêm bao.

Người không chiêm bao?

À, với chồng chị. Xin lỗi. Chị gọi anh ấy như thế.

Em có thể đi chơi với chị một chốc. Nhưng họ hàng em đang đợi ở đâu đó.

Ở đâu?

Ở đâu đó bên ngoài…

Bên ngoài cái gì?

Bên ngoài… Em chưa biết. Rồi từ từ em sẽ biết thôi.

Em đừng buồn, em nhé.

Không, em không khóc đâu.

Vậy thì chúng ta đi thôi.

Vâng.

13.

Giọng của cô bé đội mũ len trắng vừa có vẻ tự tin vừa nhuốm một nỗi buồn vô tả.

Cuộc hội ngộ bất ngờ đã nhanh chóng gắn bó họ trong tình thân thiết. Cứ như thể là hai chị em thương yêu nhau từ nhỏ.

Nhưng cuộc hội ngộ bất ngờ đó cũng nhanh chóng đi đến tan biến. Như thể là chưa từng có một mảy tình nào dấy lên giữa họ.

Nàng đưa cô bé về khách sạn, trong lòng náo nức niềm vui. Xinh đẹp, duyên dáng, khả ái, cô bé đội mũ len trắng tung tăng đi theo nàng.

Nhưng đến cổng khách sạn thì bỗng dưng không nhìn thấy cô bé đâu nữa.

Nàng nhìn quanh tìm. Nhìn lên trời tìm. Như thể tìm chim. Sương đã tan.

Chỉ thấy một chân trời hửng nắng.

14.

Sáu giờ. Người không chiêm bao mở mắt và hỏi: Em đi đâu sớm thế?

Ra hồ chụp ảnh. Một vạt sen hồng rất đẹp và một cô bé rất xinh.

Cho anh xem.

Và ngồi ngay trên giường, anh mở xem các ảnh tôi vừa chụp trên màn hình LCD.

Vạt sen đẹp thật, anh cười nói, nhưng có cô bé nào đâu? Anh chỉ thấy có một con sâm cầm thôi, trông rất đẫy, nếu mà đem quay thì phải biết! Thịt nó thơm lắm, có mùi sen và nhân sâm. Ăn được nó thì có khác gì mình là vua…

Tôi giật lấy máy ảnh trên tay anh.

Mặt em tái xanh tái mét, anh nói. Khổ chưa, đi dạo sớm làm gì cho rét mướt!

15.

Rét mướt. Tôi cảm thấy rồi. Thực thế. Chỉ còn lại rét mướt mà thôi.

Read Full Post »


Lời giới thiệu

BÀN TAY ẤY VẪN THANH XUÂN

Vẫn là câu chuyện về tình yêu và cái chết.

Vẫn là câu chuyện khổ đau và hạnh phúc

Vẫn là câu chuyện hỗn loạn và bình an.

Nhưng Bàn tay nhỏ dưới mưa vẫn mang một phong vị đặc thù.

Người đàn bà tên là Gấm tìm kiếm sức mạnh để sống và để chết trong một phối cảnh đáng sợ: trái đất đang chết dần.

Con người tham lam

Và trái đất cạn kiệt.

Thiên nhiên, bà mẹ của phong nhiêu, từ nhiều năm qua đã sống lây lất đoạn trường giữa một nền văn minh điên loạn.

Nhiên liệu sống liên tục bị đốt cháy một cách phí phạm và vô ích trong cuộc đời hối hả cuồng quay.

Người đàn bà khát sống ấy đã chết trên một cõi đất hoàng hôn hấp hối:

“Nhìn nét thanh thản và mãn nguyện trên khuôn mặt Gấm tôi hiểu là người tôi yêu đã chết, nhưng không phải vì ung thư. Cô ấy chết vì ngộp thở khi bay đến đỉnh cao và hạnh phúc. Tình yêu và sợ hãi mất mát đã gặm nhấm buồng phổi, nó đốt cháy nhiên liệu sống và triệt tiêu toàn bộ năng lượng sinh học của nàng.

Thế giới bừng lên rồi chìm trong màn đêm đen kịt, chỉ có một tia sáng duy nhất là từ trái tim tôi, cháy bùng như ngọn đuốc, bay vút lên trời, quán chiếu vũ trụ này trong một niềm đau vô cùng vô tận.

Cái phong vị nồng thắm của tác phẩm nằm trong những nghịch lý mà nó muốn hóa giải: sống – chết, khổ – lạc, sáng – tối, mất – còn, ngã – tha, cũ – mới, tự nhiên – văn minh, vô thường, vĩnh cửu,…

Chọn điều này sẽ phải bỏ điều kia, và như vậy khác nào đánh mất cả hai?”

Nhân vật và người kể chuyện muốn vượt qua vô vàn tình huống phân biệt đó để trải nghiệm cái nhất như hoan lạc, một tư tưởng nhuốm màu sắc Phật giáo, đặc biệt phảng phất hương vị Kinh Duy Ma.

 

Bàn tay nhỏ dưới mưa là một tác phẩm đương đại, pha lẫn tiểu thuyết và tiểu luận, trữ tình văn xuôi và ký sự báo chí. Lằn ranh giữa những thể loại ấy dường như bị xóa nhòa, như một chiếc cầu trong mưa trong một bức tranh ấn tượng.

Dù vậy, ta vẫn nhìn thấy “bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả, một bàn tay vẫy gọi của tình yêu?

Tác giả Trương Văn Dân không còn trẻ, nhưng bàn tay ấy vẫn thanh xuân.

Để viết những dòng văn đầy xao xuyến, đầy nhục cảm, đầy tâm linh, đầy kích động mà cũng đầy bình an.

Nhà Văn Nhật Chiêu

Bàn tay nhỏ dưới mưa

Trích đoạn 2        Ám ảnh

Tóm tắc: Sau một thời gian chung sống cực kỳ hạnh phúc thì “tôi chợt hiểu  rằng hạnh phúc không phải là thứ mà ai cũng được quyền sở hữu. Có hay không, đó là ý muốn của thần linh. Chỉ có các thần  thánh mới có thể tạo nên điều hoàn hảo; còn con người, dù tài hoa cách mấy cũng không được phép.” Và sự tồn tại tình yêu tuyệt vời của tôi và anh là một sự xúc phạm. Mà một khi đã xúc phạm đến thần linh thì trước sau cũng bị trừng phạt.”

Khi người đàn ông đi công tác, bị tai nạn và phải nhập viện ở xa. Và cũng trong thời gian này Gấm lại phát hiện mình bị ung thư.

Đây là trích đoạn về nỗi ám ảnh và cơn ác mộng của Gấm:

 

 “….Tôi chả tâm sự với ai về những gì đang xảy đến với mình. Bởi cái làm tôi đau thì chỉ mình tôi cảm thấy đau. Điều làm tôi lo lắng chỉ mình tôi lo lắng. Trong nỗi đau này chắc chẳng ai hiểu được tôi mà có lẽ tôi cũng chẳng hiểu được ai. Tôi nghĩ mọi an ủi xã giao vô thưởng vô phạt của bạn bè đều vô ích. Nó chỉ làm mình tủi thân. Vả lại, do tính cao ngạo, tôi hoàn toàn không muốn biến thành đối tượng cho sự thương hại của bất kỳ ai.

Nhưng còn anh? Tôi cũng chưa nói gì với anh về căn bệnh!

Tôi sẽ phải làm gì đây? Nói cho anh biết sự thật hay âm thầm trốn chạy? Tôi sẽ phải làm gì? Thế nào là chọn lựa “đúng” trong lúc này?Tôi không biết. Băn khoăn, tôi thường hay đến bên cửa sổ, ngơ ngẩn nhìn người qua lại. Mỗi con người đều có  vẻ vội vã, hấp tấp đến, vội vàng đi. Tôi nhìn họ,  một chút hờn ghen  trỗi dậy vì tất cả đều biết mình sẽ đi đâu, còn tôi chẳng biết mình sẽ làm gì.

Chẳng có ai nói cho tôi biết.    ”

………

 

“…Trời gần sáng nhưng người tôi ê ẩm, không dậy nổi. Đột nhiên tôi nghe có  tiếng động nhỏ trên sàn. Tiếng động như cào nhẹ, tôi nhìn thấy những vết màu đen, to bằng ngón chân cái, như những trái táo tàu nằm rục rịch trên sàn. Ban đầu ít, thưa thớt. Thoắt cái,  táo từ trần nhà rớt xuống. Mỗi lúc mỗi nhiều. Lăn. Di chuyển. Chậm chạp. Bỗng một trái chạy lướt qua, bất ngờ hiện thành một con gián. Rồi một con đen đúa khác chạy theo, con thứ  ba, thứ tư…những bước chân nhỏ xíu thoăn thoắt chạy. Vài con đứng giương râu nhìn quanh quất. Có một con chạy lạc, bò lên tấm chăn đang đắp trên vùng ngực. Tôi hốt hoảng, muốn hất nó nhưng  cánh tay cứng đờ, không vung lên nổi.

            Thế rồi nhiều con gián khác, mười, hai mươi… hằng trăm con đổ ra từ mọi phía. Chúng leo lên giường, bò lên tủ, chạy trên  thảm, tràn ngập khắp  căn phòng. Thoắt một cái, chúng hiện diện khắp nơi…có con còn dám chui vào chăn. Tôi lạnh mình, hai tay bấu chặt mép chăn, ép người sát nệm. Nhưng cảm giác rùng rợn của những que chân bò lướt trên da, bò lên bò xuống dọc theo cơ thể vẫn không chấm dứt.Tôi giãy dụa, ngồi bật dậy, tung mền, huơ tay cố hất …nhưng  hai bàn tay lạc lõng, quơ vào khoảng không.

Hoảng, tôi hét lên và muốn nhảy xuống đất, nhưng đôi chân cứng ngắt, không đỡ nổi thân mình. Có một sức lực vô hình giữ lại khiến không cựa quậy.

Tôi thu mình, nửa nằm  nửa ngồi. Lưng dựa vào thành giường.

Chết ngất.

Những con gián vẫn hùng hổ chạy. Tôi chỉ nhớ là cảnh đó diễn ra rất lâu. Không dứt.

Cuối cùng tôi ngã lăn ra.

Mất hẳn mọi ý niệm về thời gian.

Rồi tôi tỉnh lại thấy mình nằm dưới đất. Đau đớn. Khắp người ê ẩm. Một nỗi khiếp sợ vẫn bám lấy. Toàn thân tôi mệt mỏi một cách tuyệt vọng.Tôi cảm thấy như gã thần chết đang sờ mó trên thân thể mình. Trong đời người sao lại có thể cảm thấy cái chết đến gần mình đến thế. Tôi nghe được hơi thở của gã. Một thứ mùi khét lẹt như nhựa cháy.

Căn buồng mất ánh sáng, tối lờ mờ.

Màn đêm đắng nghét.

Có một bàn tay vừa chạm lên người tôi.

Tôi hét lên….

 Kinh hoàng.

Lúc mở mắt thì thấy anh ngồi trong phòng đang ve vuốt lấy đầu tôi.

            Thế là người đàn ông quan trọng nhất thế giới này đã trở về!

            Xương thịt của tôi mà định mệnh đã từng muốn cắt lìa!

 

Anh đặt một bàn tay lên trán tôi. Hơi ấm của bàn tay chồng lên nỗi lạc lõng, lo âu. Anh giữ lại thật lâu và cho tôi cái cảm giác là tôi sẽ không còn bơ vơ nữa. Anh áp đầu tôi vào ngực anh rồi thì thầm: “Em vừa  mới đi qua địa ngục phải không?”

 

Read Full Post »

« Newer Posts