Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Mang Viên Long’

Truyện Ngắn

           Mang Viên Long

Tranh Bùi Xuân Phái

Nhà tôi ở cạnh một ngôi chùa có tên là Thiền Tôn. – chỉ ngăn cách bởi một hàng rào cây dúi được cắt tỉa rất đẹp. Mẹ tôi thường bảo: “Nhà ở gần chùa là một diễm phúc”. Tôi chưa hiểu và tưởng tượng ra cái “diễm phúc” ấy như thế nào, nhưng hằng ngày chị em tôi thường rủ nhau qua sân chùa dạo chơi, được nằm ngủ trên những ghế đá dưới tàng cây nhãn, cây mít mát rượi ; đôi khi lại được các cô chú chia cho vài trái chuối, vài cái bánh in – cảm thấy không có nơi nào hấp dẫn hơn nữa

(more…)

Read Full Post »

Mang Viên Long

Xe chạy .

Khắc bắt đầu nghe những lời chọc ghẹo cô gái của đám lính. Những tiếng cười hô hố bất chợt vang lên từng chặp, sau mỗi câu pha trò sỗ sàng của một người nào đó.

(more…)

Read Full Post »

Vũng lầy

Truyện Ngắn

MANG VIÊN LONG

 

 

 

 

           Hắn cao hơn một mét sáu một chút – không thể gọi là ốm, cũng không xem là mâp. Dáng người tầm thước, trung bình – như bao người khác mà chúng ta thường gặp. Chỉ có khuôn mặt – có đôi nét khác thường: Đôi mắt sâu, nhỏ. Không hề thấy mở lớn, hay nhỏ hơn – cứ một vẻ cố định như hai lổ hổng trên thân cây. (more…)

Read Full Post »

                         Mang Viên Long

Tặng Anh Trần Huiền Ân,  Đỗ Chu Thăng, Khánh Linh và Học trò cũ!

Gió nồm ở Tuy Hòa khác lạ với những cơn gió nồm ở vài tỉnh duyên hải miền Trung. Có lẽ những cơn gió nhẹ, hây hẩy, mỗi sớm mai, hay buổi trưa oi nồng, bắt đầu xuất hiện từ tháng ba. Buổi sáng, ngủ dậy, bước ra hiên nhà, gió nhẹ nhàng mơn man trên cành cây sầu đông, trên vòm lá lim sét, phơn phớt phả vào mặt; tự nhiên ta thấy tươi tỉnh, sảng khoái. Hết cơn gió này, tới cơn gió khác, liên tục mà sẽ sàng; hơi gió mang cái trong lành của biển, cái mát rượi của đồng lúa, cái xao xuyến của sông nước tràn về thị xã…

(more…)

Read Full Post »

MANG VIÊN LONG

 

      Ông Mẫn liếc nhìn vẻ mặt buồn buồn của Kiệt – lòng cảm thấy chua xót, bỗng nhớ Lành. Đứa con mà nàng đã ấp ủ bao ước mơ thật đẹp khi biết nó đang tượng hình trong người nàng, bây giờ đang buồn khổ vì chuyện vợ con. Chỉ một ước mong nhỏ nhoi là có được vài chỉ vàng để lo việc đám cưới cho thân mình, cũng không biết tìm đâu. (more…)

Read Full Post »

MANG VIÊN LONG

         Điều tôi muốn nói trước tiên, có lẽ – là cái tên của ông. Ba Phải. Ông tên “Ba Phải” vì theo thứ tự trong gia đình, ông là người con thứ ba. Tên trong khai sinh là Lê  Văn Phải. Người ta thường nói gọn là “Ba Phải”. 

          Nếu hiểu theo nghĩa “ba phải” là ai nói gì cũng gật đầu “phải, phải, phải’ – ba lần (hay nhiều lần) cho yên thân thì hoàn toàn sai với bản tính con người của ông ! Một sự lầm lẫn rất lớn về tên gọi ! Ở con người của Ba Phải thì ngược lại. Hoàn toàn trái ngược một trăm phần trăm như đen với trắng – nước với lửa ! . Nghĩa là không bao giờ ông chịu nghe ai, không gật đầu với ai – và chỉ làm theo ý mình.

          Người đầu tiên biết rõ cá tính của ông là bà Liễn – vợ ông. Về làm vợ ông đã bao năm rồi, tính con đã năm đứa (ba gái, hai trai) nhưng hiếm khi ông gật đầu với bà lần nào ! Điều này làm bà đành cam chịu buồn khổ, riết rồi quen – rồi biến thành một cái bóng lặng lẽ bên đời ông tự bao giờ…

          Người ta ít khi thấy bà Liễn đi đâu xa – thăm bà con, hay bạn bè, xóm giềng. Và bà con, bạn bè, chòm xóm của bà cũng chẳng có ai lui tới. Bà về làm vợ ông, chui vào nhà ông – như cắt đứt mọi liên hệ gia đình, bà con thân thuộc, bạn bè cũ. Dường như bà Liễn chẳng còn nhớ gì đến dĩ vãng, đến kỷ niệm của một thời con gái tuổi trẻ hồn nhiên, thơ mộng? Nếu có còn nhớ chăng, thì chỉ ẩn hiện trong khoảnh khắt lặng im ray rức một mình.

          Hằng ngày, ông Ba Phải “phát tiền” cho bà đi chợ. Dặn mua món gì, bao nhiêu – tùy theo ông quyết định. Số tiền còn thừa, bà Liễn đưa lại cho ông ngay sau khi đi chợ về- dầu chỉ những đồng tiền lẻ ! Nếu có khi nào bà thử đề nghị ông mua thêm món này, sắm thêm cái nọ – ông lập tức nhăn mặt : “xì xì… như vậy được rồi !” – rồi quày quả bỏ đi một mạch.

          Có một lần bà Liễn thử nhắc:

          -Ngày mai là đến ngày giỗ Mẹ, sao ông không nhớ à ?

          Ông Ba Phải nhăm mặt – khuôn mặt thon dài thêm rắn rỏi, nhăn nhúm : “Xì xì … như vậy được rồi, cúng giỗ làm gì cho thêm chuyện ?”.

          Đã quày quả quay đi – ông chợt ngóai lại – cao giọng: “Bà nên nhớ rõ, chủ trương của tôi là “ba không” : không cúng giỗ, không cho ai mượn tiền, không đi chơi với ai!”. Đó là “bài học” đầu tiên mà bà Liễn được biết khi về sống chung với ông !

          Tuy không bao giờ cúng giỗ ông bà, cha mẹ – nhưng giữa nhà ông được thiết bày một bàn thờ sang trọng : Cặp lư đồng đen to tướng, bát hương sành cổ Trung Quốc, cặp lọ hoa cao cổ men xanh, cặp liễn đối cẩn xà cừ sáng bóng, chiếc bàn cổ khắc chạm tứ linh có từ thời chúa Nguyễn… Hai bên bàn thờ là hai chiếc tủ gỗ hương sắp đầy những quý vật cổ như bình rượu, bình trà, chén dĩa, lọ hoa, lư trầm, tượng Phật, tứ linh, đũa ngà… Những món đồ quý hiếm ấy do từ đời ông bà cha mẹ ông lưu lại cũng có – mà do nghề “Cầm Đồ” của ông thu vào dần dần cũng có. Khánh lâm vào cảnh túng bần, hay bị ốm đau lâu ngày- đem đồ gia bảo đi “cầm thế” cho ông , mong nhận được ít tiền qua cơn ngặt nghèo. Hết hạn cầm thế mà vẫn chưa có tiền chuộc lại, đành phải bán đứt cho ông với giá bèo ! Khách bấm bụng mà nhận tiền, chỉ kịp liếc nhìn lần cuối món gia bảo mấy đời đang nằm lặng lẽ trong tủ ông!

          Ông Ba Phải săm soi, ngắm nghía những món đồ cổ với lòng tự hào căng cứng. Ông mê đồ cổ như một cách mê vàng bạc hơn là mê cái đẹp của nghệ thuật, bởi vì – người ta chỉ nghe ông Ba Phải khoe “món này mấy lượng vàng, món kia cả trăm triệu” chứ chưa hề nghe ông nói tới “cái đẹp” nào khác! Từng món đồ cổ chứa đầy trong hai chiếc tủ gỗ hương lớn (và trên các ngăn gỗ dọc vách tường phòng khách) như hiện rõ lòng tham và lòng tự mãn ngày càng nhiều của ông! Và ông Ba Phải trân quý chúng còn hơn cả vợ con – bởi chưa ai nghe ông nhắc nhở đến vợ con dù chỉ là một lời giới thiệu ngắn ngủi – trong lúc ông có thể nói cả buổi về chúng…

          Trong chủ trương “ba không” của ông Ba Phải, bà Liễn không bằng lòng hết hai điều: không cúng giỗ, không cho ai mượn tiền. Từ lúc nghe ông cao giọng nói đến “chủ trương ba không” – bà Liễn cảm thấy ông hoàn toàn khác với sự tưởng nghĩ ban đầu khi vừa chân ướt chân ráo bước vào gia đình ông. Một con người không có chút tưởng nhớ gì đến ông bà, cha mẹ – thì liệu có tưởng nghĩ tới ai không? Thời con gái, bà đã yêu trộm nhớ thầm ông giáo làng trên xóm Đình – hai người cũng có thư qua lại đôi lần – thì ông Ba Phải xuất hiện. Cuộc tình thầm kín đành khép lại, vì cha mẹ bà đều nghĩ đến sự giàu có tiếng tăm của gia đình Ba Phải – mong cho con sẽ được sung sướng hơn người. Có ai học được chữ “ngờ” luôn luôn rình rập quanh đời để xô ta vào nơi bất hạnh, khốn cùng? Thân gái mười hai bến nước, bà Liễn đã bị trôi dạt vào bến nước khô cạn ngầu đục như một định số khắc nghiệt.

          Cái “không” thứ hai, điều này quả thật đau lòng – mà người đầu tiên ngậm đắng nuốt cay là bà Liễn. Cậu em bà đến báo tin mẹ đau nặng, đang cấp cứu ở bệnh viện – nhờ bà  hỏi vay ông Ba Phải một trăm ngàn nộp viện phí và lo thuốc thang ban đầu – bà Liễn đáp lơ lửng: “Em thử hỏi ổng coi – chị không có lấy một xu dính túi mà!”.

          -Tình nghĩa vợ chồng, chị nói giúp em – cậu em tha thiết đề nghị.

          -Tình nghĩa gì đâu ? Giọng bà lạt hẳn, chị chưa bao giờ…

          Bà bỏ lửng câu nói rồi sụt sùi khóc. “Tình nghĩa gì đâu, chị chưa bao giờ cảm thấy điều ấy” – Có lẽ đây là lần đầu tiên bà Liễn biểu lộ tình cảm của mình trước người khác. Cái khổ đau ẩn chứa thầm lặng bấy lâu đè nặng lên tâm hồn bà – khiến tiếng khóc cứ nấc lên, nấc lên từng chặp, nghẹn ngào! Tiếng khóc ấm ức ấy dường như đã làm cho cậu em lâu ngày gặp chị hiểu rõ hơn cảnh đời hiu hắt của chị từ ngày xa nhau…

          Cậu em thờ thẫn rời chị, đi dần lên gian phòng khách…

          Ông  Ba Phải đang say sưa đọc lại một đoạn văn của Trần Trọng Kim mà ông đã học thuộc không biết từ bao giờ – phát ra như một cái máy thu thanh cũ: “Khổng Phu Tử ngắm cảnh tượng của tạo hóa mà xét việc cổ kim; đạt được cái lẽ biến hóa của trời đất. Ngài muốn người ta theo cái đạo ấy mà hành động, khiến cho nhân sự và thiên lý cùng thích hợp với nhau theo đạo thái hòa trong vũ trụ. Ngài tin rằng người ta sinh ra đã bẩm thụ cái lý khí của trời đất…”.

          Người bạn ngồi đối diện ông, đôi mắt mở to, chăm chú nghe ông như một nhà hiền triết… Giọng ông Ba Phải lên cao, xuống thấp từng đoạn; hai tay huơ lên trước mặt – thay đổi thế ngồi liên tục nhấp nhổm như đang ngồi trên lửa : “… Ngài tin rằng, người ta sinh ra đã bẩm thụ cái lý khí của trời đất, tất là cùng với trời đất có thể tương cảm tương ứng với nhau được…”. Có những đoạn văn dài, ông đọc liền hơi – có khi mười lăm, hai mươi phút ; khách ngồi cứ trơ ra như tượng không thể làm gì khác!

          Ngoài cái “mê đồ cổ” ông Ba Phải còn có cái “mê văn chương chữ nghĩa” nữa. Khách đến nhà, dù thân hay sơ – có việc hay nhàn rỗi – ông Ba Phải sau khi trầm trồ giới thiệu từng món đồ cổ, là đọc văn thơ cho khách nghe. Có vài ông bạn nối khố công tử lỡ vận thất nghiệp ngày nào cũng đến ngồi ở chiếc ghế salon nơi phòng khách để được uống trà – dù phải nghe ông đọc đi đọc lại mấy đoạn thơ Kiều, Chinh Phụ Ngâm hay các đoạn văn nghị luận của Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Phan Khôi… đến lần thứ bao nhiêu cũng gật gù tán thưởng. Cái “mê văn thơ triết lý” của ông Ba Phải nó cũng giống cái “mê đồ cổ” vậy: Một đằng thì khoe giàu sang, một đằng thì khoe kiến thức. Chữ “Phú” sinh chữ “Quí” – thói thường người ta ưa chuộng hai chữ ấy để mưu cầu sự trọng vọng, nể nang! Nhưng “Phú, Quí” để mà làm gì khi chính họ đã trở thành một cỗ máy hoen rỉ hay một cái kho chứa mục nát ?

          Trong nhà ông Ba Phải có đủ mọi thứ, nhưng không sử dụng bao giờ. Chiếc xe Honda được đắp mền ở góc phòng. Chiếc tủ lạnh mới còn bao lớp nylon . Chiếc máy khâu Singer không ai dám mở tấm vải che ra  dầu vợ và hai cô con gái của ông phải tẩn mẫn cặm cụi may vá bằng tay. Chỉ có chiếc Tivi là thỉnh thoảng được ông bật lên để xem tin tức thời sự hay hát bội vào tối thứ bảy.

          Có một vật mà ông Ba Phải không bao giờ rời nó một giây – đó là xâu chìa khóa to tướng luôn luôn rổn rẻng ở trong tay ông hay nằm im trong túi áo Pyjamas … Đó là vật “bất ly thân” của ông – nó như một bộ phận của cơ thể ông vậy. Vợ và các con ông chưa bao giờ được đặt tay vào xâu chìa khóa này. Hai cậu con trai lang bạt lập nghiệp lây lất ở Saigon lúc kẹt tiền, túng bấn, trở về nhà lăm le nhìn xâu chìa khóa trên tay ông mà ngậm ngùi.

          Có một lần ông bị đau dạ dày, xuất huyết trong, phải chở đi bệnh viện đa khoa tỉnh cấp cứu, nhưng xâu chìa khóa vẫn được cột ở cổ tay ông. Cậu con trai giữa được báo tin, từ Saigon bay về – dùng các chìa khóa cùng loại cạy mở tủ nữ trang, vàng, đá quý… Rủi thay tủ không mở được, mà chìa lại gãy nằm im lìm trong ổ. Gọi thợ khóa đến lấy giúp chìa ra không xong, vì theo lời người thợ, chìa bị cong vẹo trước khi gãy. Cậu con đành vội vã bỏ đi trước ngày ông xuất viện … Ông Ba Phải được trở về nhà, kiểm tra các tủ khóa, phát hiện được chìa gãy – đã nhảy cẩng lên la hét bà Liễn và ba cô con gái như nhà cháy! Khi biết rõ cậu con trai là thủ phạm – ông gầm gừ : “Quân khốn nạn, tao viết giấy từ mày ngay giờ phút này!”.

          Thực ra, dù không có giấy tờ – ông Ba Phải đã “từ bỏ” hai người con trai từ nhiều năm nay rồi!. Hình như ông không hề nghĩ là ông đã có con từ lúc chúng còn nhỏ?. Ông không ngó ngàng gì tới vợ con, gia đình của hai người con là giọt máu của mình đang khốn đốn với nghề may vá, và  lính thú rày đây mai đó khắp bốn vùng… Đến cái đám cưới cho con, ông vẫn im lặng vì sợ tốn kém thì có gì mà ông để mắt tới ngoài những món đồ cổ ? Cả hai cậu con trai đều tự mình tìm vợ, chung sống, sinh con – như kẻ mồ côi lang bạt ! Nhờ gia đình phía vợ thương, đùm bọc – nhưng có gia đình khá giả hiểu biết nào chịu gả bán con gái mà không có được một cái lễ nào – ngay việc thấy mặt ông bà sui cũng không; ngoài các gia đình nghèo khổ nặng lòng cưu mang thương xót?

          Bà Liễn  chết năm bà sáu mươi tám tuổi. Đám chết của bà lặng lẽ như bà đã lặng lẽ có mặt trên cõi đời này sáu mươi tám năm. Có người nói bà Liễn chết vì suy nhược, kiệt sức- chứ không phải bệnh viêm gan. Đến ngày bà chỉ còn nằm bất động thoi thóp thở từng hơi nặng nhọc – ông Ba Phải mới cho gọi y tá đến truyền cho bà một bình sérium với vài loại thuốc bổ rẻ tiền ! Bình thuốc mới vào cơ thể khô đét của bà chỉ một phần ba – thì bà đã tắt thở. Cây đã khô tận gốc rễ, một vài gáo nước thì có thể hy vọng được gì?.

          Hai người con trai lớn của bà dắt díu vợ con về thăm tiễn bà khi bà đã nằm im lìm trong quan tài hai ngày. Bà không thấy được mặt mũi mấy đứa cháu nội; và chúng cũng không hề được nhìn một lần người bà thân yêu – ngoài tấm di ảnh chưng ở bàn thờ … Qua ngày cúng giáp tuần, hai người con trai lại lần lượt lặng lẽ dìu dắt vợ con ra đi !

          Sau ngày bà Liễn mất một năm, ông Ba Phải phải nhập viện vì chứng loét dạ dày tái phát. Lần này, các bác sĩ đều lắc đầu – bảo mang ông về, cho ăn uống, rồi chờ ngày ra đi mà thôi! Bệnh ung thư dạ dày của ông đã vào giai đoạn cuối rồi dầu có cắt bỏ hai phần ba, cũng không kéo dài thêm bao nhiêu.

          Về nằm ở nhà, vài tuần sau, ông lại bị chứng parkinson – tay chân run rẩy , lập cập – không nắm cầm vật gì chắc chắn được.

          Rồi tiếp theo là giọng nói của ông khàn đục, hụt hẫng – nói không thành câu nữa. Ông nằm dán trên chiếc giường hộp rộng – hằng ngày được hai cô con gái lớn thay nhau đổ cháo, sữa, hay nước sâm vào miệng từng muỗng nhỏ…

          Hai cậu con trai phiêu bạt được em gái báo tin, đã trở về kịp gặp lại ông một ngày – trước khi ông không còn thở được nữa ! Ông Ba Phải đã nằm im lìm, bất động, lạnh lẽo như những món đồ cổ quanh ông.

          Việc đầu tiên của năm anh em con ông Ba Phải là phải gắng tìm cho được xâu chìa khóa mà ông đã cất dấu ở nơi nào từ ngày ông ở bệnh viện trở về…


Read Full Post »

Tạp Bút
Mang Viên Long

Dường như từ khi bước qua khỏi tuổi 60, người ta thường có nhiều thời gian hơn cho những giờ phút “ ngồi mà nhớ lại “? Ngồi yên một mình trong vườn, hay bên hiên vắng vào buổi sớm mai mặt trời chưa  sáng rõ hay khi chiều tà còn vướng vất chút nắng hanh vàng góc cuối chân trời phía xa, để tỉnh giác mà nhớ lại bao chuyện dã qua trong ngày, trong đời – như một cái thú luôn hấp dẫn và mời gọi cho tuổi già?
Những ngày gần cuối năm – tôi thường thức dậy sớm hơn, cảm thấy lòng thư thái và bình lặng hơn khi ra ngồi ở chiếc ghế mây cũ dưới gốc cây hoa sữa bên hiên nhà. Nhín ngó trời đất êm ả một mầu  nắng rất mỏng, rất tươi của  mùa xuân đang khẻ khàng bước đến…để đón đợi một ngày mới! Phút giây lặng lẽ trải lòng cùng trời xanh, đất rông- và thiên nhiên hiền dịu tươi mát ấy đã cho tôi một ngày an vui với bao công việc cuối năm đang chờ đợi …
Có thể cái giá lạnh và ẩm ướt của những cơn mưa dầm, những ngày gió giật bão dông đang lùi xa, nhường lại cho cái nắng ấm, gió hiền của mừa xuân đang lướt đến đã làm cho lòng ta nhẹ bớt đi bao nỗi lo toan, bao điều trăn trở như bầu trời dổi thay trong trẻo và thênh thang trên cao kia chăng? Mùa xuân với cỏ cây hoa lá trổi dậy sức sống xanh tươi dường như cũng đã chuyễn hóa được bao tâm hồn u buồn, bao cảnh đời bất hạnh vươn lên một năng lực tiềm ẩn về một tương lai mới mẻ, an lành hơn cho đời mình!? Tôi chợt nhớ câu thơ của Tống Anh Nghị đã ám ảnh tôi từ nhiều năm nay – nhất là mỗi khi xuân về: “  Mỗi lần xuân, đời tôi – tôi lại bắt đầu…” . Mỗi lần hết năm cũ- mỗi lần  sang xuân mới – cũng chính là mỗi lần tâm hôn ta bước sang một trang đời khác với bao ước mơ & hy vọng? Tâm hồn ta như cũng nảy mầm, trổ nụ cùng với sự đổi thay mầu nhiệm của đát trời ? Có lẽ nhà thơ đã “ bắt gặp “ ý tưởng ấy khi “ ngồi mà nhớ lại”  vào mỗi lúc xuân về?
Dù cho sống trong bất cứ  hoàn cảnh riêng lẻ nào, sa chân lỡ bước vào tình huống bi đát nảo – thì mùa xuân bao giờ cũng an nhiên và công bình mang lại cho tất cả lóng khát khao thương yêu, nỗi mong chờ hy vọng cho tháng ngày dài sắp trôi qua đời mình tựa đôi bàn tay mầu nhiệm của Mẹ hiền xoa dịu bớt những vết thương đau. Bởi vậy – mùa xuân còn là mùa thiêng liêng của những lời nguyện cầu, của khát vọng,  thương yêu dành cho tất cả!
Hơn 60 mùa xuân đã lướt qua đời mình – tôi chiêm nghiệm được rằng: “ Mùa xuân luôn thủy chung với những tấm lòng thành, luôn sẻ chia với bao cuộc đời trong sáng, và cũng mãi mãi là tia nắng ấm cho nỗi khát vọng vị tha dựng xây cuộc sống !”.  Tôi luôn tự nhủ: Hãy bắt đầu mùa xuân từ tâm hồn mình trước khi đón chờ mùa xuân của đất trời chuyễn đến…Và hãy ưu tiên dành thời gian cho Tình Thương Yêu, bởi đó chính là thời gian quý báu nhất của đời sống!
Tôi vẫn thường thức giấc vào khoảng 4 giờ sáng – thói quen nầy đã có từ lúc nào tôi không để ý, nhưng tôi không thể làm khác! Hôm nay, không biết sao – tôi lại thức dậy sớm hơn, bật chiếc điện thoại để ở đầu giường thấy mới chỉ được 2 giò 12.  Tôi nhớ đêm qua, tôi ngủ sớm hơn lệ thườg – một giấc ngủ quên bất chợt, cứ chìm dần vào giấc ngủ mê đến nổi chưa kịp móc mùng như thường đêm…Tôi chợt nhớ, từ ngày đất trời chuyễn tiết xuân – mùa xuân đã gọi tôi thức dây sớm chăng?
Nằm yên – cố dỗ thêm giấc ngủ, nhưng không thể được. Tôi vẫn thường dỗ giấc ngủ bằng thầm niệm hồng danh chư Phật, chư Bồ Tát miên mật, nhưng sáng nay – tôi lại tỉnh táo, không thể dễ dàng chợp mắt trở lại thêm chút nào?
Tôi quyết định xuống giường khi trời còn mập mờ ánh sáng – phía ngoài khung cửa sổ là một mầu xám  và lạnh lẽo. Hình như đang có sương mù…Tôi khẻ khàng xuống gác, mở cửa, bước ra hiên: Khu chợ phía trước nhập nhoạng bóng người, từng bóng người di chuyễn thầm lặng, và có trên 10 chiếc xe honda kềnh càng bao giỏ chất đầy, cao lêu nghêu phía sau, chờ rời khu chợ tản về các miền quê mang theo hàng hóa rau quả cho các phiên chợ cuối năm hối hả…
Ngồi vào chiếc ghế dựa bên hiên nhà, dưới gốc cây hoa sữa – trong nỗi yên bình trống vắng của tâm hồn và cảnh vật buổi sáng ngày vào xuân – tôi nhớ đến buổi sáng của ngày 27 tháng Chạp cách nay gần 60 năm…
Mấy ngày trước trời mưa bay bay, khu chợ trong cảnh chiến tranh hoang tàn xám xịt – một mầu trống vắng, hiu quạnh. Mực nước sông phía sau nhà tôi vẫn còn đầy, con nước lũ của mùa mưa bão vẫn cuồn cuộn suốt ngày đêm.  Khoảng hai giờ sáng ngày 27 tháng Chạp năm ấy ( 1952 ) – người giúp việc cho gia đình có nhiệm vụ chăm sóc riêng cho mẹ tôi nơi căn nhà nhỏ đưới phố đã đập cửa gọi anh tôi – báo tin : “ Cậu ơi! Mẹ cậu đã chết rồi! “.  Người anh cả của tôi mở tung cửa, vội vàng khoát tấm áo tơi lá kè, chỉ kịp quay lại nhìn hai chị em tôi đang từ trong bồ lúa đã leo ra đứng co ro bên cạnh – ấm  ức khóc : “ Má đã chết rồi! Hai đứa ở nhà ngủ đi! Trời lạnh, còn sớm lắm… “
Mấy ngày sau, hình như đúng vào sáng ngày Mồng Một Tết – tôi đã đọc được câu này trên vách tường nhà của anh tôi viết bằng than: “Kể từ 2 giờ sáng ngày 27 tháng Chạp âl 1952, tôi mãi mãi không còn thấy hình bóng mẹ tôi nữa! ”. Cũng như anh tôi – hai chị em tôi đã mất Mẹ từ năm ấy – năm chị tôi được 12 tuổi. còn  tôi vừa tròn 8 tuổi!
Cho đến buổi sáng hôm nay – ngày 27 tháng Chạp năm 2012 – tôi đã bước vào tuổi 68 – nghĩa là, tôi đã xa mẹ tôi gần 60 năm! Sáu mươi năm, hơn nửa thế kỷ – tôi đã phải sống không cha mẹ ( cha tôi đã chết khi tôi còn là một bào thai 6 tháng trong bụng mẹ ) – nhớ sao hết bao nỗi khổ đau, phiền lụy của một kiếp sống như một thân cây giữa khu rừng hoang cô tịch? Vậy mà tôi đã sống. Đã lớn lên. Bằng đôi chân & tâm hồn & trí tuệ của mình để không lãng phí một kiếp làm người khó khăn bao nỗi mới thành tựu!
Sáng nay – sau gần 60 năm, cũng nơi khu phố chợ này- cũng tại căn nhà cũ thuở xưa – trời không mưa bay, chí có sương mù nhẹ. Con phố rộng đang thức dậy – để bắt đầu một ngày vào xuân nhộn nhịp. Phía đông, ráng mây đỏ hồng, hứa hẹn một ngày nắng dẹp. Mùa Xuân hôm nay khác mùa Xuân 60 năm trước. Cảnh vật đã muôn vàn đổi thay – khác lạ, nhưng lòng tôi, vẫn một mầu buồn thương nhớ! Vẫn cô độc trong đời sỗng bất hạnh. Vẫn ngơ ngác trước cuộc truân chuyên của đời người, đời mình như cách nay gần 60 năm…
Tôi ngồi lặng yên nhớ Mẹ – nhưng tôi không còn giữ được chút gì của mẹ bên cạnh đời tôi: Chưa được một lần hôn lên đôi má của mẹ để có thể nhớ ( dầu ngày nào bà cũng cho gọi tôi vào hôn lên trán bà), chưa được một lần cầm lấy tay mẹ âu yếm để nhìn ngắm, cho đến chưa nói được cùng mẹ một lời nào thốt lên tự đáy lòng thương yêu của mình! ( cho dầu từ khi biết nói mẹ đã tập cho nói nhiều câu…). Tôi chưa làm được chút gì cho mẹ, ngoài nhận của mẹ bao biết bao tình thương yêu, sự chăm sóc, và nuông chiều hết mực dành cho đứa con trai út xấu số!
Mẹ có thể ngờ rằng, gần 60 năm sau ngày mẹ đã đi xa – đứa con 8 tuổi ngày nào chỉ biết rong chơi – bây giờ đã trưởng thành. Là cha của bồn đứa con đã tốt nghiệp đại hoc và chúng đang sống có ích.  Là ông ngoại của 5 dúa cháu. sắp sửa được làm  ông nội… Đang ngồi đón xuân – nhớ mẹ mà không cầm được những giọt nước mắt thương nhớ ngậm ngùi?
Một ngày xuân mới đang đến kia rồi – mặt trời đã bắt đầu rực rỡ ráng mây sắc hồng phía đông. Tôi đốt thêm một điếu thuốc, và mỉm cười, đứng dậy…

Những Ngày Vào Xuân Nhâm Thìn

Read Full Post »

Sáu Bẹo

Truyện Ngắn

Mang Viên Long

 

Picasso, Người đàn ông đội mũ

 

 

 

 

 

      Khi học đến lớp ba trường làng – năm 1957, Sáu Bẹo mới có ý thức rõ ràng hơn về cái tên “ Bẹo “ không đẹp của mình! Trước đó, dù lũ bạn thường chọc ghẹo – ngay trong lớp học, đôi khi thầy cô cũng lấy làm lạ về cái tên “ Bẹo “ khó nghe, vô tình hỏi – nhưng Sáu Bẹo chỉ tủm tỉm cười, rồi lãng tránh! Sáu Bẹo thường nghĩ: Nếu cha mình lúc ấy thay dấu “ nặng” ( Bẹo ) thành dấu huyền ( Bèo ), dấu “sắc“ ( Béo ) hay dấu “hỏi” ( Bẻo) thì cũng không thể hơn! Sáu biết cha cũng là thầy dạy học ở sơ cấp, có vốn chữ Hán được ông nội Hương Kiểm chỉ dạy, nhưng sao lại hết chữ để đặt tên cho đứa con trai duy nhất của mình đứng sau ba người con gái toàn là tên đẹp vậy ( Thanh Trúc, Cẩm Hương, Thiên Lý)?

       Sáu Bẹo cảm thấy ngượng ngùng khi hỏi cha – nên hỏi mẹ: “ Sao mẹ đặt tên cho con ai ai cũng kêu xấu cả vậy? “ – “ Vì con là cháu nội đích tôn, nên ông nội đã đặt cho con, mẹ không dám cải! “.  Một lần, Sáu Bẹo mạnh dạn hỏi cha: “  Cháu nội đích tôn phải đặt tên xấu vậy hở cha? “- “ Không phải cháu đích tôn là phải đặt tên xấu đâu! ““ Nhưng sao tên con kỳ vậy? ““ Vì ông bà nội quá thương yêu con nên đặt vậy thôi ba cũng không dám trái lời ““ Mẹ bảo không dám cải, cha  cũng không dám trái lời, con không hiểu sao ông bà nội kỳ lạ vậy? “ – “ Ông bà nội chỉ có mỗi mình ba là trai, ba cũng chỉ có con là trai – nên ông bà “ sợ “ đặt tên đẹp sẽ khó nuôi, thấy con thường nũng niu khóc đòi nên gọi là “ Bẹo “ – thằng cu Bẹo, nghe cũng dễ thương mà! “

        Lớn lên, học qua bậc trung học đệ nhất cấp, Sáu Bẹo không còn dịp để nghĩ về cái tên của mình nữa, vì đã nghỉ học. Đó là vào năm sau vụ đảo chánh lật đổ gia đình ông Ngô Đình Diệm 1963 – quê của Sáu Bẹo chộn rộn, cuộc sống cũng thay đổi, ngày càng thêm khó khăn – còn Sáu Bẹo thi vào khóa sư phạm cấp tốc không đổ, nên Sáu Bẹo phải nghỉ học. Ba năm sau, trúng tuổi lính, Sáu Bẹo được dưa vào trường hạ sĩ quan Đông Đế, ra trường với “ cánh gà “ ở vai áo, binh chủng thiết giáp. Năm 68, sau biến cố Mậu Thân – cha Sáu Bẹo gọi về cưới vợ – là cô Hương, đang làm cô đỡ hương thôn ở xã. Không đẹp nhưng có duyên thầm, giỏi giang, mạnh khỏe, có tay nghề vững vàng được bà con trong xã thương mến. Ông Hương Kiểm cưới vợ cho Sáu Bẹo là muốn cột chân Sáu lại, nhưng Sáu cứ lần lữa, hẹn dịp…Tình yêu trong buổi giao thời chưa đủ sức nặng để níu chân Sáu Bẹo lại chăng?

          Năm 1970, Hương sinh đứa con gài đầu lòng. Sáu Bẹo mãi dong ruỗi trên chiếc xe bọc thép tận miền rừng núi Dakto; đã gởi thư về dặn đặt tên “Mận”.  Ông còn dặn thêm : “… Em đẻ được đứa nào, cứ lấy tên cây trái trong vườn nhà mình mà đặt tên nhé? “. Chiến tranh ngày càng lan nhanh, khốc liệt – cha Sáu Bẹo nhiều phen bảo Sáu Bẹo đào ngũ, nhưng phải đợi đến năm 72, khi Hương sinh đứa con gái thứ hai ( đặt tên Đào ) – không có Sáu Bẹo ở nhà, Sáu Bẹo mới trốn về.

            Hương rất mắn đẻ, sau Đào là cậu con trai trường. tên là Lê. Sau Lê, cứ cách hai ba năm, Hương lại đẻ lên tiếp thêm bốn cậu con trai nữa: Cam, Lựu, Chanh, Quýt. Quýt – cậu con trai út, sinh vào năm 83 nhưng trong 7 người con ( cả trai và gái ) chỉ có Mận và Lê là rất giống Sáu Bẹo; còn năm người con kia – mỗi đứa một khuôn mặt! Điều làm cho cả xóm Thượng Tây thường xầm xì bàn tán là nét mặt mỗi đứa, đều rất giống những người đàn ông trong xóm Thượng Tây này! Giống đến nỗi như khuôn đúc vậy. Từ khuôn mặt, chân tay, dáng vóc như “ cắt để “ vào, không lẫn vào đâu được.  

             Có lẽ Sáu Bẹo cũng nhận ra điều lạ thường ấy trước tiên, nhưng ông không hề mở miệng. Vẫn yêu thương, chăm sóc – lo lắng từng miếng ăn, tấm áo, ốm đau – cho đến chuyện học hành của các con, như nhau. Ra khỏi nhà, đi làm – Sáu Bẹo thường nghe bạn bè chặn hỏi. chọc quê: “ Tao thấy mấy đứa nhỏ sau này đâu phải  là con của mầy? Mầy không có con mắt hay sao vậy? “. Sáu Bẹo phớt lờ – chỉ cười: “ Nghé ai vào chuồng nhà mình là của mình thôi! “.

           Mấy bà ở xóm Thượng Tây được dịp ngồi tụm lại lúc rảnh rổi để tám chuyện về mấy đứa con của Sáu không dứt : Đứa nào giống cha phó chủ nhiệm hợp tác xã, con nào giống ông công an thôn, thằng nào giống gã nào vân vân – đôi lúc nói ngay trước mặt Hương và Sáu Bẹo nữa, nhưng Sáu chằng hề để tai vào. Hương thấy chồng thản nhiên trước mọi lời dị nghị, dè bỉm, cũng lặng yên theo Sáu không tỏ thái độ gì. Có phải vì e sợ bà con dòm ngó, theo dõi – mà Hương đã chỉ sinh cho mỗi người một đứa con thôi? Năm đúa con – là năm người, năm khuôn mặt khác nhau?    

Khi Sáu Bẹo cưới vợ cho Chanh – làm sui đám thứ sáu, ở làng Hạ Đông – người con dâu kề út nầy đi đâu cũng bị mấy bà ở chợ Xổm níu áo, kề tai nói nhỏ: “ Cha chồng mày đâu phải là Sáu Bẹo! Là ông Tám Hùng ở cuối xóm đây này! Mày ghé thăm, rồi xem thử có giống thằng Chanh không nhé? “. Vợ Chanh im lặng, về nhà thủ thỉ với chồng: “ Anh ơi! Em đi đâu cũng nghe mấy bà nói anh không phải là con của cha đây – mà là…”. Chanh vừa nghe vợ nói – gạt phăng đi: “ Đó là chuyện của người lớn, anh không biết! Anh chỉ biết anh được sinh ra ở nhà này, cha đã lo lắng, chăm sóc, thương yêu anh hết lòng. Anh không cần biết “ cha” nào khác! Nếu có, cũng là quân bạc tình, đểu giả!”.

             Sáu Bẹo ngoài việc đi làm thuê hằng ngày, và Hương có mặt ở trạm xá một buổi – hai vợ chồng còn làm thêm tám sào ruộng. Cả hai cùng ra đồng, sạ lúa, làm cỏ, tát nước – rồi đến mùa thu hoạch cùng nhau cắt và gánh về, ít thuê mướn ai. Buổi trưa,  cần ở lại ngoài ruộng, Sái Bẹo thường là người chạy về nhà mang cơm nước ra cho vợ. Có hôm, để dành được chút ít – ông ghé chợ Xổm cuốn thêm cho Hương một cuốn bánh xèo, hay cuốn thịt trứng . Có bà trông thấy, tọc mạch hỏi : “ Hai vợ chồng mà cuốn một cuốn thì ai ăn ai nhịn vậy anh Sáu? “ . Sáu Bẹo cười hà hà: “ Tôi đâu thèm ăn ngữ này? Nếu ăn, thì tám cuốn cũng không đủ mà! “. Lúc cầm cuốn bánh ra đi, Sáu Bẹo nhỏ giọng: “ Đàn bà sinh đẻ khó khổ, mất sức lắm. Ngoài trạm ngoài đồng về là lăng xăng lo cơm nước, quêt dọn, gà heo. Đêm đến, con đau – con khóc, phải thức ẵm bồng… Còn đàn ông ấy à? Về đến nhà rửa chân tay xong là leo phóc lên võng nằm toòng tengNhà con đông vậy, bà ấy có gì mà ăn thêm đâu?”.

              Chuyện Sáu Bẹo chạy đi cắt bè lá chuối quấn trên lưng Hương cho mưa khỏi ướt khi cùng đi làm ngoài đồng bất chợt cơn mưa dông ập đến, đã được mấy bà Xóm Thượng Tây truyền đi nhanh chóng khắp xã!

Và, dường như là “phóng viên nhà nghề” – chuyện nhà của vợ chồng Sáu Bẹo luôn được mấy bà xóm Thượng Tây dòm ngó. Nhỏ to – “ cập nhật “ hằng ngày. Ngay chuyện Sáu Bẹo mới ăn giỗ tối qua về, say – thốc mữa cả nhà; Hương đã nhẹ nhàng săn sóc Sáu Bẹo ra sao, lau dọn nhà cửa sạch sẽ thế nào, treo mùng cho Sáu Bẹo ngủ v v v – cũng đều được mấy bà bàn tán một cách hăng hái.

              

 

 

 

 

              Khu vườn rộng lớn, cùng với ngôi nhà từ đường dòng họ Võ được vợ chồng Sáu Bẹo và các con, cháu chăm sóc rất chu đáo.  Những ngày giỗ, kỵ – Hương và đám con – dâu. rể – cháu nội ngoại – đều chung lo tươm tất, trang trọng. Sáu Bẹo chỉ làm một việc là mặc áo thụng xanh lên đèn, rót trà – lễ cúng.  Sau ông, lần lượt đến Hương, các con trai, gái rể, dâu – cháu nội ngoại răm rắp thứ tự dâng hương ông bà…Ông bà đang ngồi ở trên cao chắc cũng không ngờ trong đám con cháu ngoan ngoãn, lễ phép ấy, có đứa không cùng huyết thống với mình? Mà có cần cùng dòng máu nhà họ Võ không? Sáu Bẹo cũng không hề thắc mắc, và luôn tin rằng – tình thương yêu của chúng sẽ cảm hóa được vong linh người mất hơn là người cùng dòng máu mà tẻ nhạt, thờ ơ – chỉ lo làm giàu, chẳng nghĩ gì đến ông bà, cha mẹ?!

                 Ngoại trừ Đào có chồng xa, theo về nhà chồng ở Vinh Thạnh – mấy người con còn lại, Sáu Bẹo đều chia cho một khu đất trong vườn, xây nhà – chia sẻ vật dụng sinh hoạt như nhau. Không đúa nào hơn đúa nào cả. Ai làm thêm có tiền, muốn mua sắm gì, tùy ý. Do vậy, mấy anh chị em sống quanh quẩn bên nhau, yêu thương, chia sớt cho nhau – như lúc còn sống chung một nhà. Bà con cả xómThượng Tây nhìn vào, dần dần cảm phục, không còn bàn tán ra vào chuyện con cái của Sáu Bẹo nữa! Sau thằng Quýt, bà Hương không còn sanh thêm đúa nào. Bảy đứa con – một đời đàn bà, đã khiến bà tự cảm thấy quá đủ chăng? Riêng Sáu Bẹo – có lần nói đùa với vợ : “ Vườn nhà ta còn nào Ổi, Xoài, Mít…sao bà không sanh thêm cho vui? “

             Sau ngày đám cưới Quýt – làm sui đám cuối cùng, chứng đau tức bên ngực trái thường xuyên hơn, kéo dài lâu hơn – Sáu Bẹo phải nghỉ hằn ở nhà, không đi nhận việc làm xa nữa. Mận nói : “ Cha nên nghỉ bớt việc đi! Lũ con lo cho cha được mà! “. Lê – trưởng nam, thường lập lại: “ Đời cha đã khổ nhiều vì các con rồi! Cha còn khỏe ngày nào, hưởng vui ngày đó. Mai kia, đau nặng, nằm xuống – còn vui thú gì đâu? “. Quýt thêm vào: ” Lúc ấy, cha còn có ăn uống được gì nữa đâu? Mà có muốn ăn, cũng đâu ăn được? Có muốn đi chơi xa, thăm bạn bè, cũng đâu có ngồi xe được nữa, mà cha ham công tiếc việc? Cha còn sống khỏe bên tụi con ngày nào, là mừng còn hơn cho vàng mà! “. Cô dâu thứ ba – vợ của Lựu, cũng góp ý: “  Bây giờ cha còn ăn uống được, không cho ăn. Mai kia cha đau nặng, ăn làm sao? Có cúng giỗ linh đình, cũng chỉ để che mắt thiên hạ mà thôi!”

              Sáu Bẹo nghỉ việc vì theo dõi biết sức khỏe của mình hao mòn dần, bệnh tim trở nặng hơn – chứ chẳng phải vì những lời can dán, an ủi của các con. Cũng từ dạo ấy – các con Sáu Bẹo luôn dành cho ông sự quan tâm chăm sóc đặc biệt: Khi thì mấy lạng thịt bò, chục trứng vịt lộn, cuốn bánh nem chả,  lát cá thu, và trong túi ông thường xuyên có tiền để chi dùng tùy ý! Đứa con nào gởi cho gì – ông cũng đều nhận, không quan tâm ít nhiều, không hề từ chối. Sáu Bẹo thường nói với hàng xóm: “ Con chúng thương gởi cho gì, thì nhận cho chúng vui. chứ tôi đâu thèm ăn món gì nữa? Cơm rau mắm cho chắt ruột thôi…”. Mà thật vậy, sau khi các con đi rồi – Sáu Bẹo đưa hết cho bà Hương. Ngay cả cuốn bánh dành cho riêng ông. Nói: “ Bà đi chợ mua thứ gì cũng được miễn bà thích, về ăn! Tôi không thèm thứ gì đâu! “. Ông chìa cuốn bánh ra trước mặt Hương: “ Bà ăn giùm tôi cuốn bánh này đi! Tôi chỉ cần rau mắm, hay dưa cải kho thịt ba chỉ là ngon lắm rồi! Tôi không ưa mấy món này…” – Ông thường dặn khi bà cắp rổ đi chợ: “ Hôm nào có mắm cua ngon, bà mua cho tôi một chai, ăn với rau lan luột nhé?  Còn bà ra chợ, có bún giò cháo lòng gì ngon thì nên ăn để khỏi mất công mua về nấu nướng phiền lắm! “. 

              Sau khi Sáu Bẹo bị cơn đột quỵ bị ngất xỉu phải chở đi bệnh viện tỉnh cấp cứu, các con ông đề nghị đưa ông vào viện tim thành phố – để giải phẩu, ông quyết không chịu. Ông trả lời con: “ Ba già rồi, sống thêm vài ba năm – đâu có ích gì mà các con phải mất cả trăm triệu bạc trong lúc còn khổ vậy?  Chi bằng, các con để dành – sau này cha có mất đi – có mà lo cho các con. lo cho mẹ để bà ấy đỡ khổ! Bà ấy đã khổ vì các con nhiều rồi. mà vắng cha – ai chăm sóc cho mẹ con đây “.

             Mấy anh chị em Mận bàn tính nhau, thuê một chiếc xe 12 chỗ ngồi – mời Sáu Bẹo và mẹ đi chơi một buổi. Sáu Bẹo nghe vậy – cười: “ Các con cho cha với mẹ mầy đi thăm lăng Quang Trung, thăm cầu Nhơn Hội, thăm chùa Long Khánh rồi về”.  Sáu Bẹo ngồi trước xe, nhìn ngó quang cảnh, cảm thấy sự đổi thay trong bao nhiêu năm thật xa lạ, và nhanh chóng, mà nghĩ đến đời người. Cuộc đời đổi thay cũng thật nhanh chóng!

             Sau ngày đi chơi xa vài hôm – một buổi sáng sớm, khi ăn xong bát cháo đậu xanh bà Hương mang vào buồng – Sáu Bẹo gọi: “ Mẹ con Mận ơi! “

–         Có chuyện gì vậy ông?

–          Có chút chuyện…

–         Mà chuyện gì? –  bà Hương đon đả bước vào buồng, ngồi yên trên chiếc dựa dựa vẫn dành cho bà mỗi lần vào chăm sóc, trò chuyện vời ông. Nhìn gương mặt Sáu Bẹo xanh tái.

–         Bà gọi hết mấy đứa nhỏ về gặp tôi, bà nhé?

–         Lại có chuyện gi?

–         Có chuyện – Giọng Sáu yếu dần, ông cảm thấy hơi thở nặng nề, chùng thấp.

            Chưa có đứa nào ra khỏi nhà đi làm – nên chỉ nửa giờ sau, là đã có mặt trong buồng ông đầy đủ. Riêng Đào, khi nhận được điện của Lê đã hẹn sẽ nhờ xe thồ chở về ngay vì chuyến xe duy nhất từ VĩnhThanh về thành phố chưa đến giờ khởi hành.

            Có lẽ nghe được tiếng ồn – Sáu Bẹo hé mở đôi mắt lờ đờ, liếc nhìn một vòng hết thảy đám con cháu. Ông khép mắt lại. Gắng giữ hơi thở đều. Bàn tay mặt áp lên ngực trái.

  –   Các con đã dủ hết chưa?

               –   Dạ, đủ hết rồi! Bà Hương đắp khẻ.

               –   Thằng Lê đâu?

               –   Thưa, có con đây…

               –   Con bưng ảnh cha đi trước nhé?

               –   Dạ !

               –  Thằng Hưng con mày và thằng Tấn con thằng Cam đi hai bên, một đứa bưng khay hương đèn, một đứa bưng khay hoa nước…

               –   Dạ!

               –   Con trai, cháu trai đi bên trái quan tài..

               –   Dạ!

               –   Con  gái, cháu gái đi bên phải quan tài…

               –   Dạ!

               –   Mẹ mày đi sau sát quan tài…

               –   Da!

               –   Tất cả không được khóc…

               –   Dạ…

               –   Các con nghe rõ chưa?

               –   Thưa rõ…

               –   Ngay từ bây giờ, các con – các cháu, hãy niệm Phật đi! Cha  sắp đi đây, ông đi đây…

                Sáu Bẹo nhếch môi – dường như một nụ cười. Nét mặt bình thản.

–         Vĩnh biệt bà, Hương ơi! – Sáu Bẹo khẻ hé mở đôi mắt, rồi từ từ khép lại…

         Tiếng niệm Phật của đám con cháu Sáu Bẹo rền vang – khơi động một góc xóm Thượng Tây còn yên tĩnh…

 

 

 

         Mặc dù Sáu Bẹo đã vắng bóng trong ngôi nhà này, nhưng với bà Hương – Sạo Bẹo vẫn còn đó. Ông vẫn còn nằm toòng teng trên võng, ngồi xếp bằng trên tấm phảng uống trà, hay cùng bà ngồi ăn nơi chiếc bàn vuông nhỏ nhắn kia…Mỗi sáng, bà đều dậy thật sớm – chạy đi mua khi bánh hỏi, bánh ướt, bánh xèo – khi thì tô cháo, hộp xôi; về đặt ở chiếc bàn vuông trước bàn thờ Sáu Bẹo – thắp hương, mời ông ăn. Bà cùng ngồi ăn với ông cho đến hết bữa. Phần trong chén Sáu Bẹo – bà ăn sau cùng. Trước khi dọn mâm thức ăn, bà đốt cho ông điếu thuốc Basto đỏ, cắm vào lư hương. Một ngày ba lần – bà không bỏ sót bữa nào – cho dầu là ngày đau yếu…

         

Read Full Post »

Mang Viên Long

( Nhà văn Trần Hoài Thư- chủ biên tạp chí TQBT & ÂTQ đã sưu tầm từ: Tạp chí VĂN số Giáng sinh năm 1974 và đã giới thiệu trên

TQBT số 49 tháng 11 – 2011 – ký niệm Giáng Sinh- chân thành cám ơn THT đã gởi cho bản thảo đã bị thất lạc hơn 37 năm- MVL)

 

MẤY NGÀY TRƯỚC GIÁNG SINH

 

Tại X. tôi được Linh Mục Hiệu trưởng cho giữ chức giám thị của trường trung học S. Trường S. là một ngôi trường tư thục lớn vào bực nhất nhì của X. Trường gồm hai dãy lầu, dãy bên phải dành cho học sinh đệ nhất cấp, cũng là khu cho nam sinh. Dãy trái, tầng trên là các lớp đệ nhị cấp chung cho cả nam nữ, và các lớp đệ nhất cấp nữ sinh. Dưới lầu, ở phòng tiền đường trống, kế bên phải là phòng của Giám học, phòng Hiệu trưởng, cũng dãy này, phòng dành cho giáo sư được xây thêm bên cạnh. Phía sau, giữa hai dãy lầu, là Văn phòng. Một dãy hàng rào gỗ ngăn chia khu vực học sinh và nhân viên làm việc. Tổng giám thị, giám thị, thu ngân, sổ sách, được chia ra từng ngăn riêng. Học sinh có thể liên lạc với từng phần hành bên này hàng rào gỗ, và cũng có thể từ cửa phía sau nếu cổng trường phía sau đã đóng. Trường có hai lối ra vào riêng. Cửa trước dành cho nữ sinh và giáo sư, cửa sau dành cho nam sinh. Trong giờ học, các cánh cửa đều được đóng. Có người gác coi sóc mở đóng khi đổi giờ học. Chỗ tôi làm việc cạnh bàn của Tổng giám thị. Thường thì tôi thay thế Tổng giám thị, giải quyết hết mọi việc. Theo Linh Mục Hiệu trưởng, tôi phải quán xuyến như vậy, để niên khóa tới, tôi sẽ thay thế vị Tổng giám thị của trường, bởi vị này bận dạy.

Công việc thường ngày của tôi rất bận. Trường ít giám thị mà học sinh trên bốn ngàn, tôi phải cực nhọc với những giải quyết nhiều lúc không là của giám thị nữa. Từ việc liên lạc với gia đình học sinh, tiếp xúc thân nhân, kiểm soát việc ghi điểm, kiểm diện, sổ phát, nhắc nhở trật tự, đến việc điều động công tác mỗi liên lớp, cấp giấy vào lớp cho học sinh vắng mặt hoặc đi trễ, giữ gìn sổ sách hồ sơ học sinh; tôi cảm thấy công việc đã xoay tôi như một con vụ. Nhưng tôi rất ham thích với công việc của trường học. Những sinh hoạt của nhà trường, tôi đều tham dự, và đôi lúc, đề nghị với Linh mục Hiệu trưởng những dự định mới mẻ khác, cốt gây được một không khí tươi trẻ, vui nhộn song song với việc học. Tôi tự đứng ra trông coi một tờ đặc san. Tôi tổ chức một ban văn nghệ. Những ngày lễ, tôi đã dành thì giờ để nói chuyện một đề tài nào đó về văn chương, hay giáo dục, cho học sinh của trường.

Tôi nhớ nhất là những ngày lễ Giáng Sinh năm đó. Một tuần trước ngày tới hôm lễ chính, tôi cho phát hành ở các lớp một đặc san. Nhân ngày lễ, ngoài các phòng triễn lãm tranh, đồ nữ công, bích báo của các lớp, tôi chuẩn bị một đêm văn nghệ thực toàn hảo. Đêm đó, tôi ở lại trại sinh hoạt liên hoan với các lớp mà không trở về nhà. Tôi bỏ lễ nửa đêm để nói chuyện với Lam.

Lam nói chuyện với tôi không được tự nhiên. Có lúc như sợ hãi, có lúc như ngượng ngập, cũng có đôi lúc Lam tỏ ra nồng nhiệt, mạnh dạn, cứng rắn đến nỗi tôi không hiểu được nàng. Mở đầu, Lam có vẻ trách móc, hoặc dỗi hờn, giận tức điều gì. Tôi không để ý, bởi vì, thực tình tôi không nghĩ gì về Lam ngoài việc cảm mến năng khiếu văn nghệ, đầu tóc demi garçon, vóc dáng nhỏ nhắn của nàng. Trong câu chuyện, dần về sau, Lam trách thẳng tôi. Nàng dùng mấy chữ “ độc ác,  lạnh lùng, vô tâm” để trỏ tình cảm của tôi với nàng. Tôt sửng sốt. Đến đây thì tôi đã hiểu được đôi phần thái độ của Lam lúc gặp tôi.

Tôi nhớ lại một lần Lam đi học trễ, vào xin giấy vô lớp, tôi đã quở trách nàng. Giống như những học sinh đi trễ khác. Lần thứ hai trong tháng, tôi không cho giấy phép vô lớp như lần trước vì Lam bị trễ quá mười phút. Nàng khóc. Tôi vì bận công việc không để ý tới. Thái độ Lam lúc đó ra sao, tôi cũng không biết. Hình như nàng đã nhìn tôi với cái nhìn vừa trách cứ, vừa dỗi hờn bâng khuâng. Thời gian sau, lúc tôi tổ chức một ban văn nghệ của trường, Lam làm trưởng ban văn nghệ đến gặp tôi ở phòng giám thị. Nàng có mặt trước mười lăm phút theo như giờ họp ấn định. Tôi có nói đôi câu với Lam, nhưng chỉ để vui đùa, hoặc bởi sự cởi mở thường ngày. Tôi nhớ tôi đã khen giọng hát Lam. Khen đầu tóc demi garçon. Khen nàng dễ thương.

Một tuần lễ sau đó, lúc vào bàn làm việc, tôi nhìn thấy tập vở để sẵn tại đó. Tôi liếc nhìn tên lớp, rồi gọi một học sinh mang lên trả… Tôi nghĩ có lẽ tập vở của một học sinh bỏ quên, có người nhặt được thảy vào bàn giám thị, để giám thị có việc làm. Khoảng hai ba ngày sau, tôi lại nhận thấy một tập vở khác nằm ở bàn. Lần này, vì trong giờ học, tôi thảy bỏ phía sau hộc bàn, chờ giờ chơi mới gọi trả lại. Tôi coi rõ tên, lớp, và tập vở học: Lê thị Kiều Lam, lớp đệ tam, vở vạn vật. Đến giờ chơi, tôi gọi học sinh cùng lớp, gởi trả cho học sinh có tên ghi ở nhãn, kèm theo lời quở trách nhờ nói lại, Lạ thay đúng vào sáng thứ hai, tôi nhận thấy quyển vở (tập vở cũ, môn vạn vật) lại nằm sẵn ở giữa bàn. Lần này tôi giữ tập vở, chờ giờ học, viết giấy gọi học sinh đến lớp kêu tên Lê thị Kiều Lam đến Văn phòng giám thị. Lam đến. Ngượng ngập. Tôi đã nặng lời với Lam hôm đó. Nàng khóc. Giống như hôm đi trễ không xin được giấy vô lớp. Nhìn thấy Lam khóc, quả thực là tôi hơi hối hận. Nhưng với một trách nhiệm đã lãnh, tôi không dễ chịu như những lúc sinh hoạt văn nghệ. Giám thị, đó là hình ảnh của một ông thầy tay cầm cái roi mây lớn, tay đặt sau đít, đôi mắt lườm lườm theo dõi học sinh. Còn tôi tuy chẳng đến thế, tôi không có cái roi mây, không có đôi mắt lườm lườm hung tợn kia, nhưng tôi phải có sự cứng rắn, nghiêm minh. Đời sống trong các chủng viện đã tập cho tôi một sự nghiêm khắc làm cho nhiều người khó chịu. Ðời sống kỷ luật khép kín và gò bó cũng tạo nơi tôi sự hẹp hòi, đến như ích kỷ. Tuy vậy, tôi luôn xét tôi, và rất may, bản tính tôi rất cởi mở, phóng dật nên có thể tránh bớt va chạm với học sinh hay người bên cạnh. Buổi sáng trách mắng Lam đã đột nhiên biến tôi sống trở lại với cái ảnh hưởng cũ. Lầm lì. Cộc cằn. Nóng nảy bất chợt.

Đêm hôm đó, Lam cho tôi biết nàng muốn gởi cho tôi một lá thư trong tập vở đặt ở bàn làm việc của tôi. (Những giám thị  thuê ở ngoài phụ giúp tôi, đồng thời họ có một dãy bàn kê bên phòng chứa sổ sách). Tôi ngạc nhiên, có chút hối tiếc. Nếu tôi được đọc những lá thư đó? Tôi muốn thử coi nàng còn nói thêm điều gì nữa nên tỏ lộ sự ân hận. Tôi ân cần xin lỗi nàng. Lam đã xúc động khi nghe tôi nói thế. Nàng hết vẻ ngượng ngập hay lạnh lùng, bây giờ tôi nghe thấy giọng nàng như một tiếng chim buổi sáng. Nàng nói biết tôi là thế nào, nhưng không hiểu sao lại yêu thương tôi. Hình ảnh tôi đã ám ảnh nàng rất nhiều, đến nỗi không học được. Nàng kể cho tôi nghe,  những giờ ra chơi, từ trên hành lang lầu một, nhìn xế xuống chỗ tôi ngồi mà tôi không biết. Mỗi buổi sáng, khi tôi nói chuyện ở máy phóng thanh, nàng đều theo dõi rất tường tận. Ngay cả việc ăn mặc thường ngày của tôi nữa. Hôm nào tôi mặc chiếc áo dài đen đã cũ, cổ sờn rách, hôm nào mặc áo mới, vân vân. Nói tóm đêm đó, nghe Lam nói tới điều gì, tôi cũng ngạc nhiên, và cảm thấy lạ lùng.Những tháng về sau, tôi thường viết giấy gọi nàng xuống phòng giám thị. Dĩ nhiên là để hỏi, và nói những chuyện lặt vặt, cho vui. Tôi cũng cảm thấy, từ đó, tôi khó xóa bỏ hình ảnh Lam trong đầu. Tôi viết được mấy bản nhạc, nhờ những cảm nghĩ xúc động về nàng. Làm được bản nhạc, tôi sao chép cẩn thận, gọi nàng xuống tặng nàng với tất cả hân hoan. Lam cũng rất thường viết thư gởi tôi, bằng cuốn vở vạn vật để ở bàn, hay trong hộc tủ.

Sang niên khóa mới, tôi được Linh mục Hiệu trưởng cử làm tổng giám thị. Giúp việc bên cạnh tôi có một tu sĩ probation libre. Anh ta trang tuổi tôi, đi giúp ở một trường trung học ở Y. vừa đổi tới. Khác tôi, anh ăn mặc tự do, đời sống cũng phóng khoáng tự do hơn. Ngày đầu gặp anh,  tôi đã hiểu được đôi nét cá tính của anh ta qua cách ăn mặc chải chuốt, những ngôn từ trong lúc nói chuyện. Anh ta còn cho tôi biết Ngọc, anh chàng giả làm Huyền Trân lúc nọ, đã xin ra khỏi chủng viện, sống với một người con gái vừa tốt nghiệp trường Nữ hộ sinh quốc gia, ngay tại Huế. Tôi chợt hiểu tại sao những thư gởi thăm tôi, cha Châu đều không nhắc tới Ngọc. Lúc này, tôi mới hiểu tại sao Ngọc có thể nói giả giọng gái Huế một cách tài tình như thế. Tôi cũng hiểu được, trong những giờ bắt buộc như giờ kinh, giờ nguyện gẫm, giờ giảng, nhất là giờ nguyện gẫm, huấn đức, tại sao Ngọc lại vắng mặt. Có lẽ anh ta phải “nguyện gẫm” một mình?

Có thể nói năm thứ hai ở trường S. là năm tôi khổ tâm nhiều hơn hết, mặc dầu bên cạnh tôi có Đức (tên người bạn ở thời kỳ probation libre) phụ giúp, và trường tăng cường thêm hai giám thị nữa. Năm này, tôi về sống chung với Đức trong một căn phòng thuê được ở một đường hẻm. Quả thực như tôi đoán, Đức rất phóng khoáng và có tâm hồn. Chúng tôi dần dà kể hết những tâm sự, vui buồn, sâu kín nhất cho nhau nghe. Đức bị cha sở ở Y. đề nghị thuyên chuyển tới Y- để cảnh cáo lần đầu, theo lời cầu của anh, về một chuyện tình với một người bạn gái cùng nơi trọ. Nguyên cô gái là người có đạo, trước cũng học ở T. (trường trung học công giáo ở Y.) nhưng thi hỏng tú tài một, ở nhà tự học để thi. Cô ta biết Đức, rất rõ. Nàng lân la làm quen, rồi mời đến nhà giới thiệu với cha mẹ, sau đó Đức phải nhận nàng làm “con nuôi tinh thần” theo lời nài nỉ của nàng. Từ đó những liên hệ trở nên mật thiết hơn, gần gũi hơn. Chuyện đến tai Linh mục Hiệu Trưởng T., năm sau Ðức phải đổi đi.

Tôi cũng đã kể đầu đuôi câu chuyện với Lam cho Đức nghe. Anh ta an ủi, và khích lệ tôi. Chính Đức đã khuyên tôi cùng đi với anh lên phố tìm mua một chiếc bím tóc mầu, gởi tặng Lam để đền lại những quà tặng của nàng. Thực là buồn cười, sau khi nghe Lam giải thích tại sao không dùng cái bím tóc tôi tặng, mà dùng cái cũ: tóc nàng ngắn, theo kiểu demi garçon mà tôi lựa mua cái dành cho tóc dài.

Ðồng thời với sự liên lạc thường xuyên như vậy, tôi cảm thấy một nỗi khó khăn, một tình cảm gần như phạm lỗi. Không ngờ sự ray rứt, băn khoăn của tôi Lam đã nhận biết. Nàng viết gửi tôi liên tiếp ba lá thư trong ba ngày, trách tôi đổi thay, hay hờ hững. Quả thực, trong đôi lần gặp nàng, tôi muốn lẩn tránh. Tôi gặp nàng, đôi khi như một cố gắng. Không còn cái nao nức đón đợi. Hết cái nồng nàn âu yếm.

Cũng có nhiều lúc, tôi muốn như Ngọc. Tôi thử để tình cảm tôi, nỗi xúc động tôi chảy đến đâu thì đến. Ra sao thì ra. Đó là những hôm tôi hẹn cùng Lam đi chơi ở quê, hay đến nơi tôi  trọ. Trong những hôm như vậy, tôi cảm thấy rộn rã, một niềm vui nào thực tươi mát và phấn khởi xâm chiếm lấy tôi. Chúng tôi xa lánh thành phố, hẹn nhau ở quán nước một ngã rẽ đi N. Nàng đi xe Yamaha dame. Tôi dùng chiếc Honda của nhà trường cấp. Thế là chúng tôi cứ đi mải miết vào xóm, dừng lại những nơi muốn dừng và nói hết nỗi lòng, những mơ ước của nhau, về một tương lai sum họp.

Tôi nhớ lần đầu tiên hôn Lam sau một ngôi chùa, sau khi chúng tôi thử vào xin một cái xăm. Xăm xin được, theo lời Thầy trụ trì, không được tốt. Lam thi hỏng. Rồi chúng tôi không thể gần nhau. Nghe nói, Lam chạy ùa ra phía sau khóc. Tôi hôn nàng. Lòng tôi bây giờ thực yếu mềm. Tâm trí tôi hoang mang cùng độ. Tôi an ủi nàng bằng lòng tha thiết của mình. Nàng hỏi tôi, nếu lỡ nàng thi hỏng, tôi còn thương nàng hay không. Tôi nói nàng đừng nên hỏi những câu vớ vẩn, đừng lo những mối lo không đâu. Tôi không yêu thương nàng bằng chuyện đó, nhưng tôi hứa sẽ gởi Lam cho những người bạn giám khảo ở X. Thời gian sau này, nhớ tới lá xăm, chúng tôi chỉ nhớ tới những nụ hôn; bởi vì chúng tôi sống rất gắn bó và nồng nàn. Ở trường về, tôi thay bộ áo quần của Đức tìm cách gặp nàng. Nếu là ngày chúa nhật, ngày lễ, chúng tôi đều có bạn.

Có một buổi sáng chúa nhật Lam đến trễ giờ hẹn mười lăm phút. Tôi đã trách cứ nàng. Thực ra, vì quá nóng lòng và bộc chạt, tôi nghi ngại nàng không thành thực. Lam giận. Nàng bỏ tôi. Sau đó, cả hai cùng vòng xe đi kiếm nhau, nhưng không gặp nhau được. Suốt một tuần lễ tôi không gọi nàng xuống văn phòng như bấy khi vẫn làm. Tôi cố gắng giữ cơn giận lâu hơn, để coi Lam sẽ thế nào. Đáp lại, nàng cũng im lặng, ơ hờ. Tôi nhận thấy, trong dáng vẻ lạnh lùng đó, có một cái gì khổ sở, thất vọng. Trong giờ học chiều thứ hai, tôi gọi tên Lê Thị Kiều Lam xuống văn phòng.

Tôi điềm nhiên hỏi :

– Sao? Dạo này cô có mạnh khỏe không?

Lam hơi mím môi :

– Vẫn mạnh luôn.

Tôi cười:

– Còn giận hết ?

Nàng nhìn tôi, ánh mắt thực sáng:- Hết rồi.

Tôi viết lên mảnh giấy: “Nếu hết giận tuần này anh đợi em ở chỗ cũ, tám giờ sáng, nhé?”, đưa cho Lam. Nàng cúi đọc, ngửng lên mỉm cười, gật đầu. Sự nhỏ nhắn của nàng trong chiếc jupe màu xanh nhạt khiến tôi thấy nàng thực tội nghiệp.

Giáng sinh năm đó tôi và Lam ăn lễ trước một ngày bởi vì trong suốt ngày và đêm lễ chính tôi rất bận. Buổi sáng chúng tôi đi chơi ở quê đến xế chiều mới trở về thị xã. Dịp này tôi có mang theo chiếc máy ảnh của Đức. Tôi chụp cho Lam. Chúng tôi cũng có chụp chung mấy pose, nhờ một người lính chịu chơi và đa tình làm phó nhòm hộ. Buổi tối, chúng tôi ăn tiệc ở nhà. Đêm đó Đức đã chuẩn bị sẵn để rời phòng trước khi Lam đến nửa giờ. Tôi coi đồng hồ đúng giờ hẹn, thắp sáng hết những ngọn đèn sáp trên bàn, ở lồng đèn, trong hang Bê-lem. Trời đổ mưa nhẹ, nhưng gió lộng. Một chút hơi lạnh đủ để  mặc tấm áo len ngắn tay. Để đốt một điếu thuốc chờ đợi.

Lam đến. Thực rực rỡ và xinh xắn. Nàng mặc jupe màu xanh, bím tóc đỏ, đi giày da. Gương mặt nàng hiện ra ở khung cửa sổ như một Giáng Kiều. Tôi đón Lam, trước hết, bằng cái hôn thực ấm.

Tôi hỏi:

– Ngoài phố có vui không?

Nàng ngồi cạnh tôi:

– Em đi một mạch đến đây, không để ý gì hết.

Tôi choàng tay qua vai Lam, nhìn vào gương mặt hơi ngơ ngác của nàng:

– Em lạnh lắm không?

Nàng ngước mắt nhìn tôi, nở nụ cười:

– Lúc nãy thì có, bây giờ hết rồi.

Tôi cúi hôn lên tóc nàng. Mùi nước hoa phảng phất, dìu dịu. Lúc này, nàng mới hết vẻ sợ sệt, lo lắng của lúc mới đến. Trong ánh sáng lung linh của những ngọn nến, gương mặt Lam tươi tắn, đỏ hồng. Đôi mắt rực sáng.

Lam giở xắc lấy ra một gói giấy, nàng hỏi đố anh những gì trong này. Tôi cười, anh chịu. Mắt anh đâu phải mắt thánh mà nhìn suốt lớp giấy dày đó. Tức thì nàng mở ra cho tôi xem. Đó là một tấm đá cẩm thạch, khắc hai chữ: François Xavier-Marie. Tôi bồi hồi. Lam sung sướng khi nhìn thấy tôi câm lặng vì ngạc nhiên và xúc động.

Tôi hỏi : – Em thuê làm bao giờ?

Nàng cười:

– Đố anh?

– Anh chịu thua. Cái gì em cũng ưa đố anh. Em làm như anh là học trò.

– Chứ anh là gì của em?

– Là gì cũng được.

– Em muốn chúng ta là những người học trò trong tình yêu.

– Anh cũng muốn vậy.

– Thì trả lời mau lên.

– Em thuê làm hôm chúa nhật?

– Sai rồi. Chúa nhật ai đi chơi với anh?

– Chứ bao giờ ?

– Trong tuần lễ em giận anh đó. Anh coi, nàng lật tấm đá ra phía sau, có ghi ngày tháng đây này.

Tôi  cảm thấy chưa có một mùa Giáng sinh nào tôi được hạnh phúc như vậy. Năm ngoái, tôi nhìn Lam với cái nhìn ngó dửng dưng, với sự tạnh không của tâm hồn. Đêm Giáng sinh, khi nghe chuông lễ nửa đêm đổ, tôi nói chuyện với Lam gần như là đùa cợt, bâng quơ. Hơn một năm trôi qua, phút này hình ảnh Lam đã trở nên hình ảnh của hạnh phúc, của nguồn vui và hy vọng của đời sống tôi. Nàng còn dự phần chính trong quyết định mà những tháng sắp đến đây tôi sẽ trình bày với Cha Châu. Tôi chọn lựa con đường đi vào đời cam khổ, phấn đấu sắp đến, cũng vì Lam. Lam đã khiến tôi khổ sở trong nhiều tháng nay, để chọn lấy một thái độ. Một cách sống.

Sau cùng, tôi cảm thấy phấn khởi và tin tưởng, để gần Lam. Hình ảnh những mùa Giáng sinh cũ trong ký ức chạy thoáng qua, tôi rất đỗi ngạc nhiên khi nhìn thấy bóng dáng mình thấp thoáng trong đó. Những ngày Giáng sinh hồi còn ở Làng Sông, cái không khí tĩnh lặng, cái buồn bã khép kín không xóa hết được cho dầu những sinh hoạt những ngày kế cận có được tổ chức. Chúng tôi đi chơi ở miền núi. Những năm sau, chúng tôi được đi chơi tập thể ở bờ biển Qui Nhơn. Hồi về sống ở khu La San tuy cái không khí ít u mặc, ngưng đọng, nặng nề như ở Làng Sông, nhưng nỗi tẻ lạnh không vơi trong tâm hồn tôi. Trái lại, thời gian này, tôi hiểu được tương lai tôi, những ngày sống khép kín nghiêm nhặt làm tôi bỗng nhiên đôi lúc thấy ngơ ngác. Ở Đại chủng viện, tuy sinh hoạt được tự do hơn xưa; đời sống thoải mái, nhưng cũng từ đó, trong tôi nhen nhúm một nỗi mơ ước đi xa.

Lam nắm lấy bàn tay tôi đặt lên ngực nàng:

– Anh mơ nghĩ gì thế?

Tôi vẫn còn bàng hoàng. Thời gian êm ả cùng đời sống thầm lặng, lủi thủi ở ký túc xá, còn đứng lại trong đầu tôi. Tôi đưa bàn tay Lam lên môi. Tôi nói: “Anh nghĩ tới ngày mai, những ngày Giáng sinh sum họp của chúng ta”.

Lam thơ ngây:

– Không còn xa nữa đâu, anh nhỉ?

Tôi đáp:

– Chẳng còn lâu đâu. Như đã định với em mấy lần trước, hè này anh ra lại Huế, gặp Cha Châu. Sau đó anh vào Sàigòn trong hai năm, học xong hai chứng chỉ chót, anh sẽ trở về…

Lam nhắc:

– Nếu em thi hỏng, anh còn thương em không?

Tôi cười :

– Đừng nói bậy nữa. Chuyện đó, anh đã lo sẵn cho em rồi.

Chúng tôi cũng dùng những món ăn nguội đã sắm sẵn từ buổi chiều mà Đức đã chịu khó đi tìm giúp. Một con gà quay. Bánh mì. Chả lụa. Nem nướng. Hai hộp bánh ngọt. Bấy nhiêu đã quá đủ cho chúng tôi mừng đêm Chúa giáng sinh. Tôi uống bia, còn Lam uống Coca pha một ít bia từ ly của tôi. Gần Lam, được sống cùng nàng những giây phút ấm áp và quấn quít như vậy, tôi thường nghĩ tới những ngày ở các trường học. Hình ảnh tôi trở lại một cách rời rạc và xa lạ làm sao. Tiếp theo, khi cố xua đuổi những bóng dáng lầm lũi câm lặng đó, tôi nghĩ tới một mái gia đình. Một sum họp. Điều này bao giờ cũng làm tôi chếnh choáng, tôi tưởng như bị lạc vào một cõi nào thực xa.Trước khi đưa Lam trở về, tôi ôm hôn nàng thực lâu. Dường như tôi bị say. Lam vừa rời tay tôi ra khỏi cửa, bỗng chạy vào ôm lấy cổ tôi, nàng hôn tôi như một đứa trẻ.

Tôi không biết diễn tả thế nào để có thể nói được đôi phần cái tâm trạng tôi khi rời hẳn Đại Chủng Viện Xuân Bích. Khi xa cha Châu, người Cha Linh hướng đã giúp tôi tu học, hướng dẫn tôi vượt qua được những cơn khủng hoảng tối tăm của tâm trí. Rời Ðại Chủng Viện lần này, tôi biết rằng, tôi sẽ rời xa nó mãi. Nếu có dịp tôi trở lại, cũng là sự trở lại của một kẻ ở ngoài, một du khách hay một tìm về lạc lõng, bơ vơ. Rời phòng Cha Bề Trên, đi giã biệt quí Cha giáo sư, tôi cảm thấy vừa nôn nả, vừa ngại ngùng. Cụ Sau, giáo sư Thần học, nhìn tôi với đôi mắt sâu thẳm, ưu tư hơn Cha Nhân, giáo sư Cựu ước, lặng lẽ và trìu mến. Các giáo sư như Bouyer,  Nguyễn Hữu Ðăng, an ủi và cầu chúc tôi như một đứa con sắp rời gia đình đi vào chốn khó khăn, nguy hiểm. Chỉ có Cha Michel Barnouin (mà chúng tôi gọi là Cao Như Sơn), cười nói rất bình thản khi nghe tôi giã từ ông.

Bây giờ, nghĩ nhớ lại, tôi hiểu tôi lúc đó bị dằn vặt bởi những lời nguyện ước, và những mơ ước về đời sống: Tôi bị lạc lõng, hơi lo sợ và cũng có một hạnh phúc êm ái. Tôi từ giã các bạn còn lại mà không lời giải bày, bởi vì, tôi không thể nói gì được khi tôi đã nghĩ và quyết định trái ngược với họ. Tuy thế, họ đã hiểu tôi, rất niềm nở và tự nhiên, với sự ra đi vĩnh viễn của tôi. Có lẽ, họ coi tôi đáng thương hại, hoặc không đáng chê trách, khi tôi không đủ ý chí, nghị lực, cũng như không đủ ơn phước để nhận lãnh ơn nghĩa Thiên Triệu thiêng liêng. Tôi là một kẻ đã bỏ cuộc. Tôi chọn lựa một cuộc đời sống khác, hợp với bản chất và lòng mơ ước tự nhiên của tôi. Ngày gặp Lam, tôi tự nhủ, hãy cứ để tình cảm trôi chảy, cứ việc sống hồn hậu và nồng nhiệt theo tâm hồn. Bây giờ, tôi đã bị trôi đi,  bị cuốn hút vào một giòng nước mạnh mẽ, tôi không thể cưỡng lại. Nói cho đúng, tôi không muốn cưỡng lại. Ngày mẹ tôi được tin tôi vào đời, bà tự nhiên không nói. Trên gương mặt bình thản, đầy ắp tình thương của bà, tôi biết bà không trách tôi. Hình như bà cho tôi làm vậy, là một việc không có gì để nói.

Tôi vội vã trở lại X. khi mùa Hè sắp đến. Tôi gặp lại Lam. Chúng tôi tiếp tục sống với những hò hẹn, gặp gỡ, và cuồng nhiệt được mấy tuần trước ngày tôi đi Sàigòn thực hiện những dự tính mà tôi đã nói với Lam. Lam thường đến với tôi, sau bữa cơm chiều, cho đến mười giờ đêm mới về nhà. Tôi tạm trọ chung với Đức. Nhưng tôi và Lam hoàn toàn tự do, bởi Đức thường vắng mặt giờ đó. Hơn nữa, Đức tỏ ra một người sành sỏi, đã tạo dịp thuận tiện cho chúng tôi sống những ngày sắp xa nhau. Lam thường đến, mini jupe màu, giày da, tóc cột bím, mắt sáng, môi đỏ, nụ cười hồn nhiên, tấm lòng dào dạt khao khát. Gặp nhau Lam như vừa lo sợ xa cách và tham lam, ôm chầm lấy tôi, không rời. Tôi bồng nàng lên ghế như một con búp bê. Đôi khi, tôi bị lôi cuốn bởi Lam, con sóng dào dạt, không ngăn được những khao khát sôi nổi bừng nóng trong lòng. Chúng tôi nằm ở giường cho đến giờ Lam phải trở về. Tôi không thể kéo dài thêm một vài ngày nữa với Lam bởi vì chuyến bay tôi đã ghi trước, mọi việc đã được thu xếp chuẩn bị. Buổi sáng hôm ra đi, tôi không muốn Lam đưa tiễn. Chúng tôi đã đưa tiễn nhau mấy hôm trước rồi. Nhưng lúc Đức vừa chở tôi đến trạm hàng không thì tôi nhìn thấy Lam ở đó. Tôi trông thấy nàng ngơ ngác và tội nghiệp. Nàng có vẻ sợ hãi. Vẻ mặt xanh xao. Ánh mắt lạnh lùng kia làm tôi nao núng lạ. Tôi nghe tôi khóc trong lòng. Tôi thấy tôi chếnh choáng. Gặp tôi, Lam chỉ trao tôi tập Văn số mới đặc biệt về Simone De Beauvoir, rồi lẳng lặng đi về. Tôi muốn giữ nàng lại, muốn được nhắn nhủ (cho dầu suốt mấy tuần qua đã nhắn nhủ), muốn ôm hôn nàng (dầu tôi đã hôn nàng chiếc hôn từ giã từ tối hôm trước). Nhưng Lam đã bỏ đi.

Trong tập báo nàng trao tôi, có một lá thư:

X. Đêm 5 tháng 7 năm 1970

Anh yêu dấu,

Mai anh đi rồi, để lại cho em sự cô đơn và buồn bã cũ. Và nỗi thương nhớ không nguôi. Sự chia lìa đã đến thực rồi. Em phải làm sao đây? Làm sao để níu kéo lại những ngày yêu nhau cũ. Vậy mà những ngày qua em vẫn còn mù mờ không nghĩ rằng anh sẽ xa em, sự xa cách đau khổ cho em biết chừng nào. Đêm qua, rời anh trở về, em suy tư và nghĩ ngợi về anh quá nhiều. Em nhớ anh – nhớ ngay cả trong giấc ngủ nên không thể bình thản để học hành. Anh đã lấy mất linh hồn và thể phách em tự lúc nào. Xa anh trở về, mang theo nỗi buồn trống vắng, nỗi cô đơn, sầu thảm nào đang vây bọc quanh em. Anh yêu dấu muôn đời của em, nhớ lại những ngày tháng xa, những lúc cùng anh vui chơi, em đã khước từ những mê đắm, những ôm ấp thương yêu nhưng anh biết đâu đó chỉ là cái váng nổi của một phần con người thực trong em, để rồi, buổi chiều, buổi sáng em đã nằm mãi, mơ mộng mãi, không thể học, không thể ngủ, không thể làm được một cái gì. Điều nào ước muốn đang lẩn khuất, hành hạ trong em.

 

Anh yêu dấu,Cho em trở lại những ngày đầu tiên thần tiên đẹp đẽ. Anh ơi, đây là hành lang, dưới kia là văn phòng, anh đang làm gì, đang nghĩ gì? Xin hãy ngước nhìn, có em đứng đây với vô số những miên man suy tưởng. Ôi, chuyến đi xa, mi đã tạo ra một khoảng cách giữa ta với người. Tội nghiệp cho ta, cho đôi mắt mê mải nhìn. Anh có còn nhớ không giờ lễ nửa khuya Giáng Sinh năm kia, chúng ta đã nói chuyện quên ngủ. Mới đây, mùa Giáng Sinh tuyệt vời nhất đời em, bên cạnh anh. Buổi sáng rong chơi khắp miền ngoại ô. Buổi tối ấm cúng bên nhau, trong nhau, bên ánh đèn mờ tỏ. Và những ngày say đắm nhất, in khắc vào tâm hồn em nhiều nhất, vừa mới vuột khỏi tầm tay em, sáng hôm nay.

 

Anh yêu dấu,Anh đi rồi. Em phải làm sao đây khi sự xa cách quá lâu? Dù muốn hoặc không thì bây giờ cũng không thể nối tiếp lại những ngày vui cũ. Thôi hết rồi những lần hẹn hò chờ đợi. Thôi hết rồi những lần quấn quít bên nhau quên cả giờ về. Anh ơi, từ đây một mình sao em có thể trở lại chốn cũ. Nhìn tên thánh của hai đứa đã khắc sâu vào phiến đá? Xa anh rồi, tâm hồn em lạnh lẽo, bây giờ càng lạnh lẽo xa vắng hơn. Đầu óc em mê muội, trí óc em bồng bềnh trôi nổi. Trời ơi, thế này mãi thì làm sao em học được. Anh ơi, nếu em thi rớt rồi anh có còn yêu em không? Hay lúc đó, bao nhiêu tình cảm đều tiêu tan mất? Em sợ lắm. Sợ vì xa cách anh sẽ quên em mất thôi.

 

Em của riêng anh,

Lê Thị Kiều Lam

Tôi viết thư cho Lam mỗi ngày khi đến Sàigòn. Cuộc sống mới, hoàn toàn xa lạ, đã làm tôi càng ao ước được trở về với Lam – sống thu nhỏ trong một khu vườn, một mái nhà. Tôi đã phải phấn đấu và nhẫn nại với sự chọn lựa một cách khổ sở. Lam gởi thư thường xuyên, giống như tôi, mặc dầu nàng nói đang bận lo học thi. Tôi có viết thư gởi Lam cho vài giáo sư quen, nhưng họ đã đến một nơi khác. Tôi không nhắc đến chuyện này, ngại nàng buồn. Hơn nữa, nhắc tới thi cử, là nhắc lại câu hỏi: “Anh ơi, nếu em thi rớt, rồi anh có còn yêu em không?”, càng khiến nàng lo lắng, và tôi buồn bực. Tôi cũng không hiểu lý do gì, vì đâu, đã khiến Lam cứ nhắc lui tới việc thi cử của nàng, rồi coi đó là một yếu tố quyết định tình yêu. Nàng cũng không ngớt sợ hãi, hoang mang bởi sự xa cách. Một thư nàng viết: “Anh ơi, có đang buồn, có đang nhung nhớ, có đang thao thức như em? Sao em nóng cả ruột gan, không thể vùi đầu vào chăn gối, vào giấc ngủ. Thôi em thức mãi nghe anh? Em thức để nhớ tới ai đã đến và đã xa khuất nẻo mù tăm. Hai năm, hai năm nữa, ta mới thực là của nhau cho suốt một đời. Biết em có còn sống để chờ đợi, biết anh có mãi mãi nuôi dưỡng một tình yêu nhỏ dại, hay rồi anh ơi, đây chỉ là giấc mơ, một tấn kịch trong đời em ngắn ngủi?” Sự hoang mang của Lam chuyền đến tôi như cơn bệnh truyền nhiễm hiểm nghèo. Tôi muốn trở về X. Muốn chung sống bên Lam. Tôi đã thay đổi được đời mình thì tôi cũng có thể khước từ hết thảy mọi thứ ở đời để chỉ cần có nàng. Trong lúc chờ đợi sự quyết định dứt khoát, tôi gởi tặng nàng chiếc nhẫn cưới. Đáp lại, Lam gởi tôi sợi dây chuyền có thánh giá thường ngày vẫn đeo ở cổ. Sau đó, những thư của nàng vơi bớt buồn rầu, cái ý nghĩa ly biệt mù tăm cũng tiêu dần, nhường lại cho những kể lể kỷ niệm, những dặn dò hy vọng. Một thư nàng viết: “Anh ơi, buổi sáng nào cuối, sao anh chẳng hôn em. Anh quên hôn em mất rồi anh ạ. Em muốn đứng lại, cố níu kéo nhưng không thể làm khác hơn là quay đi. Em nhìn theo anh từ một góc đường mà không dám đưa anh đến tận nơi vì ngại gặp mặt, phải chào hỏi người ta. Nên để anh đi, không một vẫy tay đưa tiễn, một lời cuối dặn dò. Nhìn chuyến xe ca chở anh rời thành phố mà em không ngăn được những giòng nước mắt âm thầm chia ly.”

Tôi được Đức viết thư báo tin Lam thi hỏng tú tài. Dù chưa nhận được thư chính thức của Lam nói về chuyện này, tôi vội vã viết một lá thư an ủi và phân tích những ý nghĩ không chính xác, nông nổi của nàng về việc thi cử. Tôi chờ tin. Một tháng trôi qua. Tôi sống trong cùng cực lo âu và thất vọng. Tôi trở về X. muộn bởi đang phải lo thi. Vừa tới X. tôi cùng Đức đến ngay đường Cao Thắng, số 32. Với tư cách là giáo sư và Tổng giám thị trường S. (Đức lên làm Tổng giám thị trường S. từ khi tôi ra đi), Đức hỏi người nhà cho gặp Lê thị Kiều Lam để có việc cần. Làm lại hồ sơ gì đó. Người nhà vào trong, trở ra thưa không có Lam ở nhà. Chúng tôi ra về. Một tuần lễ lưu lại X, tôi luẩn quẩn hoài bên khúc đường Cao Thắng, hy vọng sẽ gặp Lam, nhưng vô ích. Bên này một quán nước, từ tám giờ sáng đến mười hai giờ trưa, tôi nhìn ngó sang nhà Lam. Buổi chiều, từ hai giờ đến sáu giờ. Suốt một tuần như thế. Đức cũng không giúp tôi gì hơn sau lần cùng tôi đến nhà. Anh ta nói cũng không hiểu được. Quả thực, tôi cũng không hiểu.

Khi rời X. vào lại Sàigòn, tôi nhờ Đức đến nhà trao hộ Lam lá thư cuối cùng của tôi. Tôi gọi là cuối cùng, bởi vì, tôi đã viết nó với tâm trạng và lời lẽ của một người vĩnh viễn ra đi. Đến nay, tôi không còn nhớ hết tôi đã nói những gì trong ấy, nhưng tôi biết chắc rằng tôi đã bày tỏ hết nỗi thất vọng, đau xót của tôi vì sự tan vỡ, vĩnh biệt này. Với Lam, tôi nghĩ, có lẽ bởi tuổi trẻ và sự hoang mang dễ bị lung lạc để thất vọng, nàng đã không thấu hiểu hết tôi.

Ở Sàigòn khoảng vài tháng, sau đó, tôi xin làm giáo sư khế ước, được bổ nhiệm tới dạy tại P. một thị trấn miền duyên hải Trung phần. Đó là một nơi thực tĩnh lặng, và heo hút.

Tôi là người luôn luôn đến trường sớm nhất. Lý do: Không có đồng hồ, nằm mãi trong phòng suốt buổi sáng (tôi chỉ dạy một buổi chiều), nên muốn được ra ngoài. Hằng ngày, hễ tôi mở cửa bước ra là để đi dạy, còn trở về thì nằm lì luôn. Cơm nước đã nhờ đứa nhỏ ở cạnh lên hiệu ăn xách về giúp. Tôi trở nên trễ nải trong việc giao thiệp, và lười biếng trong việc ăn mặc. Hơn nữa ở trường, giáo sư trên ba chục nhưng nghe nói phe phái đã có tới ba bốn nhóm. Họ ăn nói gìn giữ, kênh kiệu, khách sáo thái quá. Ai cũng nghĩ rằng mình là một người quan trọng. Bởi thế, cách ăn mặc họ cũng phải tỏ ra là như thế: cà-vạt luôn luôn dính vào cổ, ngay cả những ngày nóng bức. Có người mỗi ngày một bộ đồ, một chiếc cà-vạt. Màu sắc phải harmonie.

Tôi ngồi ở dãy ghế dựa nhìn ra ngoài sân. Học sinh đã đông. Trời buổi nhiều nay tạnh ráo, nhưng gió lạnh. Những cành dương trong sân trường xơ xác sau những ngày mưa bão lụt lội. Đứa con gái người phu trường mang hai bình nước trà đặt lên bàn. Tôi chồm tới rót một tách nước trà nóng. Tôi bỗng nhìn thấy tấm bảng kê ở vách thấy ghi: “Yêu cầu quí vị Giáo sư nộp phiếu điểm tháng 12 cho Văn phòng kịp làm thành tích. Hạn chót: Trước ngày nghỉ Noel”, phía trên hàng chữ cũ vẫn không xóa: “Yêu cầu quí vị Giáo sư dạy dỗ như thường vì lụt đã rút hết nước. Văn phòng”.

“Hạn chót trước ngày nghỉ Noel”, tôi đọc thầm. Lại một mùa Giáng Sinh nữa sắp đến. Chỉ còn bốn hôm. Thốt nhiên tôi đưa tay lên cổ, cầm chiếc thánh giá của sợi dây chuyền, nói khẽ: “Bây giờ Lam ở đâu? ”

 

MANG VIÊN LONG

 

Read Full Post »

Nghề thầy không bạc bẽo

MANG VIÊN LONG

 

Năm

Tôi có chuyện buồn nên muốn đi xa năm mười hôm cho tâm trí ổn định, bình thường; và tôi đã chọn nơi tôi dạy học trước kia để dừng chân. Ở đó, tôi có nhiều bạn văn, bạn đồng nghiệp và những người học trò cũ…

 Ngày đầu tiên, tôi quyết định đến thăm chùa P.L nơi thầy Thiện Đạo làm viện chủ, mà đã hơn hai mươi năm tôi chưa có duyên gặp lại. Dự định là chỉ lưu lại với thầy một hai hôm thôi, vì tôi còn phải về thị xã để sống với bạn bè đang chờ. Tuy vậy, cảnh chùa yên tĩnh, xinh tươi – nhất là tình cảm ưu ái của thầy, các cô chú, và quý đạo hữu trong thôn làm tôi cứ nán lại hoài. Tôi cảm thấy thật hạnh phúc khi được sống ở đây.

  Một buổi sáng, thầy có việc về họp ở tỉnh hội, tôi thả bộ lang thang khắp xóm, hướng thẳng đến khu rừng bạt ngàn phía trước ; chẳng để ý đến thời gian. Bất ngờ, một toán người – có lẽ là dân phòng, chặn tôi lại, hỏi giấy tờ, và lý do tôi đến H.T. Tôi vui vẻ cho biết, tôi đến H.T. không có lý do gì   ngoài việc ghé thăm chùa P.L và thầy Thiện Đạo. Sau một lúc “hỏi thăm” kỹ về lý do – họ mời tôi về trụ sở xã để gặp vị trưởng công an.

 Ở xã, tôi chờ khá lâu, mà người cần gặp lại đi vắng. Tôi cũng không vội vã gì, ngồi ở ngoài hiên trụ sở, hút thuốc; nhìn ngắm quang cảnh mới lạ, bình yên trước mắt; lòng cảm thấy vui vui. Khoảng gần 11giờ trưa, có hai chiếc xe con chạy vào, người du kích bảo vệ vội chạy ra mở cổng. Toàn bộ cán bộ chủ chốt đều có mặt trước thềm để đón. Tôi nghĩ bụng, có lẽ khách quý đến thăm chăng?

Bốn người trên hai chiếc xe bước xuống, đi thẳng vào hiên, trông có vẻ gấp gáp. Tôi lùi lại, định tìm ra ngồi ở một gốc cây phía sau, để tiếp tục chờ.

-Thưa thầy, sao thầy lại có mặt ở đây? Gịong một người đàn ông trạc bốn lăm tuổi lễ phép hỏi.

Tôi quay lại nhìn kỹ, cố nhớ – ngần ngại trả lời:- “ À… tôi xin lỗi, có lẽ là tôi đã quên …”

-Thầy không còn nhận ra em sao?

Tôi chợt nhận ra cái lỗi hay quên của mình, cảm thấy lúng túng, cười: – “ Có lẽ là tôi đã quên thật rồi !”

– Em là N.H.T đây mà!

Tôi niềm nở cầm lấy tay T: – T. đây à? “ T. gầy và hiền nhất lớp ” đây à? Gần ba mươi năm rồi còn gì ! Trông em khỏe hơn xưa nhiều…

 Mấy người cùng đi và cả nhân viên xã đều đứng quanh tôi, nhìn chúng tôi có vẻ lạ lẫm và thích thú. Tôi cho T. biết lý do tôi đến H.T và lý do “bị” ở đây: “Thầy đang chờ ông trưởng công an xã”. T. quay lại, nắm tay một thanh niên khoảng trên ba mươi, cười: “ Đây là thầy cũ của tôi, anh thông cảm để thầy được tự do ở lại H.T đến lúc nào muốn đi thì tùy ý nhé !”. Tiếng người thanh niên “dạ” rất nhỏ. T. chợt cầm tay tôi: “ Hay là thầy chờ em một lát, cùng về T.H với em luôn, để các bạn có dịp đến thăm… Có được không, thưa thầy ?”.

  Tại nhà riêng của T, suốt buổi chiều, những học sinh cũ của tôi đã lần lượt tìm đến. Có người tôi còn nhớ rõ họ tên, có người T. phải “giới thiệu”.

– Có phải đây là Lê Ngọc Trai không?

– Thầy nhớ đúng rồi, nhưng bây giờ là Ngọc Hùng – giám đốc công ty xây dựng cầu đường…

– Tấn Thả phải không?

– Dạ phải.

T. tiếp lời: “ Bây giờ là Tấn Thoan – phó chủ tịch xã… Còn Lê Hiền đây là phó bí thư kiêm chủ tịch; bỏ chữ “Đức” lót ở giữa…”

Có nhiều điều làm tôi ngạc nhiên, thích thú, và rất mãn nguyện vì những người học trò cũ của mình: gia đình người nào cũng ăn nên làm ra, con cái trưởng thành tốt đẹp, và nhất là vẫn giữ nguyên tình bạn học cũ gần gũi, thắm thiết như xưa.

 Hồng Mai vui vẻ hỏi tôi: – “ Thầy biết anh N.H.T làm gì chưa thầy?”

Tôi nhìn T. , cười: – “ Chưa biết !”

– Bí thư Huyện ủy đó thầy! – Mai hồn nhiên – sắp thăng chức về tỉnh rồi…

Tôi hỏi: – “Còn em ? Làm gì nào ?”

– Lũ em làm “phó thường dân” đó thầy! – Tiếng Mai và cả đám cười giòn.

  Trương Lợi và Nguyễn Viết Chánh bây giờ là hiệu trưởng và hiệu phó ngay ngôi trường đã học lúc tôi về dạy năm đầu tiên. Sen là vợ của Nghệ. Tấn Hiệu là chồng của Ngọc Hương. Hồng Mai đã làm sui hai đám…

  Suốt buổi chiều, bên bàn tiệc, chúng tôi cùng nhắc lại những kỷ niệm xưa cũ – cùng vui cười, khiến tôi quên bẵng nỗi buồn riêng; cứ ngỡ là mọi chuyện chỉ vừa mới xảy ra đây thôi. Thời gian tuy có qua nhanh, có đổi thay, mà tình người vẫn còn lại mãi mãi…

Năm…

Đứa con gái út của tôi vừa lên ba tuổi, bị một mụt “bạc đầu” mọc sau ót. Tuy có bị nóng sốt, đau nhức, nhưng nhờ thuốc kháng sinh nên cũng có phần thuyên giảm. Một hôm chạy đi chơi, bị vấp ngã,va đầu xuống nền. Lại đúng vào vị trí cái mụt nhọt. Thế là đêm ấy mụt sưng dần lên, đau nhức, kèm sốt cao. Sáng sớm hôm sau vợ chồng tôi mang cháu đến trạm xá xã.

  Từ xã lên bệnh viện huyện. Cháu lại được chuyển lên bệnh viện đa khoa tỉnh. Thời gian gần hết một buổi. Khi được đưa vào phòng cấp cứu thì cháu sốt mê man, có triệu chứng khó thở. Đúng vào giờ nghỉ trưa, nên bác sĩ trưởng phòng vắng. Chúng tôi khẩn khoản xin hai cô y tá trực cho cháu thở oxy – chờ buổi chiều.

Bình oxy được mang đến, nhưng đã gần hết rồi. Một cô sốt sắng chạy đi mượn bình oxy chưa dùng của phòng khác, trong lúc cháu đang có bọt sùi ra ở miệng. Nhờ có bình oxy kịp thời, cháu có vẻ bình yên trở lại…

– Ai đã tự tiện đi lấy bình oxy mới về đây? – Bác sĩ   Nh. hỏi có vẻ nghiêm khắc.

 Tôi tiến lại gần cô bác sĩ trưởng phòng: _ Chính tôi đã nài nỉ các cô giúp cho cháu… Bác sĩ thứ lỗi cho vậy!

 Bác sĩ Nh. cầm lấy bàn tay tái nhợt của con gái tôi, liếc nhìn qua khuôn mặt đã dần chuyển màu xanh sậm, lắc đầu. Tôi chìa hai lọ thuốc hồi sức Solu-cortef mà dì cháu đã bỏ công một buổi đi dò tìm mới mua được, khẩn thiết nói: “Xin bác sĩ cho phép chích cho cháu…”.

 Bác sĩ Nh. chậm rãi đến ngồi vào bàn làm việc, giọng lạnh lùng: – Ông có chích vào cũng vô ích!

Rồi buông thõng câu nói một cách khô cứng: “Phí phạm!”.

 Vợ tôi sụt sùi khóc: – “ Xin bác sĩ hết lòng cứu cháu, chúng tôi không ngại tốn kém !”

Nhìn gương mặt con có vẻ như đang thâm tím dần, ở khóe miệng lại sùi bọt, tôi nóng lòng giục: “Bác sĩ chích hộ gấp cho cháu!”.

– Ông hãy lên xin ý kiến của bác sĩ Phó giám đốc bệnh viện…

  Tôi cầm lọ thuốc chạy qua hai dãy nhà, lên tầng lầu, đẩy cửa phòng bác sĩ phó giám đốc: “Xin bác sĩ cho phép chích lọ thuốc để hy vọng cứu sống cháu…”.

  Bác sĩ ngước lên nhìn tôi giây lâu. Tôi chợt thấy áo bluse trắng có thêu tên “BS. Lê Kim Quang”. Tôi kêu lên: -em là Lê Kim Quang phải không?

– Thầy! – Quang đứng dậy ôm choàng lấy tôi.

Tại phòng cấp cứu, Kim Quang nói với bác sĩ Nh: “ Người nhà có yêu cầu, tôi đồng ý cho chích, cô thông cảm giúp …”. Bước lại gần con tôi đang nằm bất động, đang có triệu chứng co giật, Quang quay lại bảo cô y tá mang cho anh ống tiêm, tự tay chích thuốc cho cháu…

  Anh viết toa, nhờ y tá lên phòng dược nhận thuốc gấp. Anh dặn bác sĩ Nh: “ Cô truyền thuốc cho cháu, tôi sẽ quay lại để hội chẩn…” .

  Con tôi đã qua được hai ngày nguy kịch, đang hồi tỉnh dần. Cháu có thể uống được chút sữa. Một buổi sáng, một nhân viên bệnh viện mang đến cho tôi hai bình Serium một trắng, một vàng, nói là của bác sĩ Phó giám đốc gởi. Tôi vui mừng mang hai bình Serium đến bàn bác sĩ Nh.

– Thưa bác sĩ, nhờ bác sĩ giúp cho cháu…

– Ông muốn truyền bình nào?

– Thưa, tùy bác sĩ quyết định. Tôi có biết gì về thuốc men đâu!

– Ông nói vậy chứ không phải vậy đâu!

  Tôi im lặng, quay về chỗ ngồi. Từ ngày có Quang thường xuyên lui tới thăm cháu, Bác sĩ Nh. có vẻ không bằng lòng. Sáng nào Quang cũng đến sớm thăm cháu, góp ý với bác sĩ Nh. về cách điều trị,có khi mang theo sữa và cam cho cháu nữa. Tôi rất biết ơn Quang nhưng chưa biết phải làm gì, nói gì để Quang hiểu được. Vợ tôi giục nên đến thăm Quang với quà cáp.Tôi không làm thế. Tôi hiểu ý học trò mình, Quang nhiệt tình cứu con tôi không phải vì vậy. Có món quà nào xứng đáng dành cho những tấm chân tình cao quý như thế đâu?

  Ngày con tôi được chuyển qua phòng hồi sức để chờ ngày xuất viện, tôi quyết định nói rõ mối quan hệ giữa tôi và Quang cho bác sĩ Nh. để tránh ngộ nhận. Một sự hiểu lầm không tốt cho Quang – người học trò cũ thật chí tình, đã mang lại cho gia đình tôi niềm vui lớn, và cho riêng tôi nguồn an ủi vô tận.

– Thưa bác sĩ, tôi thay mặt gia đình hết sức cám ơn bác sĩ đã cứu sống cho con tôi…

– Ông nên tìm bác sĩ Quang mà nói…

– Bác sĩ à, Lê Kim Quang là học trò cũ của tôi, hơn 20 năm rồi, tình cờ gặp lại… Quang xưa kia rất hiền, tốt bụng, và nhất là học rất giỏi: bây giờ cũng vẫn vậy!

  Tôi im lặng giây lâu, Bác sĩ Nh. thoáng ngước lên nhìn tôi – như thể chưa nhìn thấy tôi lần nào trước đây. Tôi nói như tâm sự:

– Quang đã tự nguyện đến thăm cháu, cho thuốc, cho quà, chớ chúng tôi không hề có yêu cầu… Lúc này, tôi không thể khước từ lòng tốt của Quang; tôi mong bác sĩ thông cảm cho!

  Bác sĩ Nh. lại nhìn tôi, giọng trở nên thân mật: – “ Không có gì đâu, thưa thầy! Cháu cũng có những người thầy học cũ. Nếu có gì sơ suất, hy vọng thầy sẽ tha thứ cho cháu !”

– Xin tạm biệt và cám ơn cháu nhiều nhé!

Bác sĩ Nh. đứng dậy, tiễn tôi ra khỏi phòng.

Hai cô y tá cũng nhìn theo chúng tôi, mỉm cười.

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »