Đăng trong Thơ ca | Thẻ Hầm Hô, Nguyễn Ngọc Thơ, Phú Phong., Tây Sơn | 97 Comments »
Nguyên Minh
Gần ba mươi năm hầu như tôi không còn viết văn nữa. Đã quên đi cái thời thanh xuân từng làm tôi say mê chữ nghĩa. Ngồi nghĩ lại trong khoảng thời gian dài đăng đẳng, cả nửa đời người, tôi đã sống thế nào để lấp đi nỗi đam mê như một phần cuộc sống như da thịt mình. Sáng nay tôi ngồi trên căn gác gỗ ở vùng cao nguyên, nhìn những dãy đồi thông trước mặt, đang thay đổi màu sắc từng giây phút theo tia nắng ban mai. Cũng khung cảnh này, cũng những dãy núi chập chùng đó, một vài ngôi nhà ẩn hiện trong lùm cây nhưng từng màu sắc thay đổi khác nhau, mỗi suy tưởng của tôi cũng không dừng lại một chỗ.
Bỏ xa thành phố ồn ào, náo nhiệt. Gác đi những công việc sinh nhai hằng ngày cùng những phiền toái của cuộc sống. Tôi theo hai người bạn họa sĩ già lên Đà Lạt nghỉ ngơi. Họ cầm cọ vẽ, còn tôi tìm cho mình một chỗ ngồi yên tĩnh để viết lách. Bao nhiêu đề tài lấy từ cuộc sống bao nhiêu năm tháng như những cơn sóng biển cả dâng cao và ồ ạt vỗ vào bờ làm tôi ngợp ngàng. Không biết bắt đầu từ đâu, từ trong cuộc đời mình?
Ngân vừa hoàn tất tập thơ, anh đánh máy vi tính sưu tập lại những bài thơ từ năm 1965 đến nay. Tôi nhận phần in và trình bày. Công việc này tôi đã bỏ đi từ lâu. Cả một phần tư thế kỷ. Tôi giao tất cả công việc của cơ sở in cho con gái đầu lòng trông coi. Còn tôi mang những trang thơ đã in laser, xếp lại từng tay một rồi lục lọi từ chiếc hộp thiếc của con gái út lấy một cây kim may tay cùng cuộn chỉ thêu. Tôi xỏ mãi sợi chỉ luồn qua lỗ kim nhưng sợi chỉ cứ trệch ra ngoài, mặc dầu tôi đã mang kính lão. Bé Phượng – con gái út – tuổi mười lăm, thấy vậy vội xỏ chỉ hộ tôi, nhưng nó vẫn hỏi:
– Ba may cái gì vậy?
Tôi trả lời nhát gừng:
– Sách.
– Hồi giờ con không thấy ba may. Bộ ba biết đóng sách hả?
– Đừng hỏi, để ba yên.
Một vài lần mũi kim châm vào đầu ngón tay tôi, đau nhói. Tôi hít hà. Ba mươi năm tôi không sử dụng tới. Công việc tôi làm đâm ra vụng về. Nước mắt cay cay. Ừ. Mình đã già. Tôi lục đục tìm mãi hộp hồ mới đây thợ dùng còn bỏ dở. Vợ tôi moi nó ra từ một góc kệ. Nàng cũng ngạc nhiên hỏi:
– Sao anh không đưa xuống bảo thợ dán gáy cho?
Tôi cầm lấy hộp hồ, trả lời vội rồi bỏ vào phòng:
– Anh thích tự làm lấy.
Bôi lớp hồ lên gáy tập thơ, vội vàng tôi lấy bìa ra từ máy in laser, còn hâm hẩm nóng, vuốt cạnh rồi dán gáy. Tiếp tục lại từ đầu cho một cuốn khác. Cũng vụng về. Đứa con trai thấy cha mình cặm cụi làm với tư thế luộm thuộm cũng lên tiếng:
– Ba đưa thợ làm vừa nhanh vừa đẹp mà ba đỡ mệt.
Tôi bực dọc:
– Mày biết gì. Tao thích vậy.
Thằng con trai chưng hửng, im lặng nhìn người cha làm tiếp. Sách chưa kịp khô hồ, tôi đã cầm lên ngắm nghía. Lật từng trang, mùi mực in còn thoang thoảng.
Buổi chiều nắng đã tắt. Tôi vội vàng thay quần áo và bỏ mấy tập thơ vừa in xong vào chiếc cặp da đến nhà Lữ, gặp bạn bè. Vừa bước xuống cầu thang vừa hát nho nhỏ vài câu trong miệng. Tân, đứa con trai thứ, vội nổ xe chuẩn bị chở tôi đi. Tôi như một đứa trẻ, bước lên ngồi trên xe, ôm chặt vào bụng thằng con trai. Như ngày nào, ba mươi năm về trước, T. đã từng ôm chặt lấy tôi khi tôi chở nàng rong chơi. Tháng chín trời Sàigòn thường đổ mưa bất chợt. Tân dừng xe lại vội mặc áo mưa. Còn tôi chỉ chui đầu vào vạt áo mưa của thằng con. Chiếc cặp kê chính giữa hai thân thể cha con. Hết sợ nước thấm ướt mấy tập thơ. Như ngày nào tôi đã bỏ T. bên lề đường, núp dưới mái hiên gần cột đèn, cùng chiếc xe gắn máy hết xăng, còn tôi thì ôm trong lòng mấy tập báo Ý Thức số đầu tiên, đón taxi đến nhà Ngân, nơi bạn bè văn nghệ đang chờ. Thấy tôi đến một mình, vợ Trọng thắc mắc: “Sao ông không chở T. đến?” Kịp nhớ ra tôi bỏ T. giữa đường. Trọng đưa khăn cho tôi lau nước mưa làm ướt tóc, hỏi nơi T. đang đứng để anh đón về hộ. –“Khúc nào đó trên đường Phan Thanh Giản.” – “À, tôi chưa gặp mặt T. lần nào, ông tả sơ đi, chẳng hạn tóc thề hay tóc uốn, mặc áo màu gì. Còn dáng dấp chắc là mảnh khảnh rồi.” – “Hình như tóc thề, áo dài màu vàng.” – “Sao lại hình như, hai người yêu nhau từ năm năm trước, khi còn ở cùng một thị trấn nhỏ cơ mà.” – “Ừ nhỉ. Sao lại hình như?”.
Khi T. ngồi bên cạnh tôi trong buổi họp mặt ra mắt số báo Ý Thức đầu tiên, Trọng nói kháy: “Chữ Ý Thức của tờ báo số một màu gì hở ông Tổng thư ký tòa soạn”. Không đầy một giây tôi đáp ngay: -“Màu đỏ bầm”. Trọng cười, hỏi tiếp: -“Đúng một trăm phần trăm. Còn T., người yêu của chàng đang mặc áo dài màu gì đây?”. Tôi phải nhìn Tuyên và khựng lại phút chốc, ngạc nhiên tự hỏi: -“Sao T. lại mặc áo màu tím không phải màu vàng như mình cứ tưởng.”
Trọng cho biết lý do mất cả tiếng đồng hồ mới tìm ra T.. Trọng không theo lời diễn tả của tôi nữa, vì anh đi suốt cả con đường dài gần 10 cây số mà chẳng thấy người con gái nào núp mưa dưới mái hiên dù có mái tóc thề, mặc chiếc áo màu vàng. Trọng phải đi lại từ đầu đường đến cuối đường, lần này anh chỉ nhận dạng chiếc xe suzuki có gắn nắp bình thủy thế nắp bình xăng đã mất, cùng người con gái đứng run vì lạnh, và hỏi tên: “Có phải T. không?”. Trọng còn cho biết chỗ T. đứng là ngã tư, cạnh trường Gia Long. Còn chiếc xe gắn máy anh vất bừa ở trước cổng trường.
Buổi sáng hôm đó, tôi có hẹn đến nhà chở T. đi chơi. Ngang qua nhà in, tôi ngừng lại, vào xem anh em thợ xếp chữ đã “mi” được trang báo Ý Thức số 2 chưa, hối thúc họ để mình được yên tâm cùng T. rong chơi. Cô thư ký nghỉ việc không báo trước. Tôi phải thế chân, cặm cụi sửa bài, rồi quên hẳn giờ hẹn. Đến khi sực nhớ trời trưa rồ, nhưng tôi cũng vội đến nhà T.. Đến nơi thấy T. vẫn còn mặc bộ đồ ngủ. Tôi nổi cáu, hối thúc: -“T. thay đồ lẹ lên, tụi mình đi ăn trưa.” T. vẫn ngồi thừ người ra nơi bàn học. Vẻ mặt nàng ra dáng nghiêm nghị. Lúc đó tôi mới nhận ra lỗi mình trễ hẹn nên cười trừ: -“Không đi ăn sáng giờ ăn trưa vậy. Thôi, đi em.” Thơ, cô bạn học sư phạm cùng trường, thuê cùng phòng trọ với T. ra chào tôi và nói nhỏ: -“T. nó giận anh, sáng cứ ra vô, thay đồ đi chơi, đợi mãi chẳng thấy bóng dáng chàng, quê quá mặc lại đồ ngủ, nó bảo nếu anh đến để mặc anh ra về.” Tôi chỉ cười. Thơ nói tiếp, giọng nhỏ lại: -“Nhưng bây giờ lại khác, con gái mà”.
Đáng lẽ tôi chở T. thẳng đến nhà hàng, tôi lại ghé tạt nhà in – như ma dẫn đường – định xem qua công việc tiến triển ra sao, và phân công cho anh em thợ làm đêm. Cô thư ký vẫn chưa đến. Tôi bắt T. thế chân, ngồi sửa lỗi bản in thử. Còn tôi hì hục gắn bản in nhủ lên ma-két. Đói bụng, tôi nhờ nhân viên đi mua cơm phần. Nghỉ tay một lát, tôi và T. vội vã ăn cho xong để tiếp tục công việc. Mãi đến tối, mấy cô thợ may sách mới hoàn tất một ít số báo Ý Thức số đầu tiên. Tôi vội chở T. đến nhà Ngân, quên mang cả áo mưa, mặc dầu lúc đó trời đang chuyển tối ầm lại, báo hiệu cơn mưa lớn sắp đến. Những hạt mưa bắt đầu rơi xuống, lúc đầu thưa thớt sau ồ ạt, tầm tã. Máy xe lại chết. Tôi chỉ kịp tấp vào lề đường. Cả T. và tôi ướt như chuột lột. Tôi bỏ nàng đứng bơ vơ một mình. Còn tôi đón taxi, ôm trong lòng mấy tập báo Ý Thức.
Trong buổi ra mắt số Ý Thức đầu tiên, bạn bè, anh em trong nhóm chủ trương hầu hết có mặt trên căn gác nhỏ ọp ẹp của vợ chồng Ngân. Chúng tôi vừa uống rượu vừa nhắc lại những kỷ niệm, chuyện vui buồn trong những ngày làm báo. Trời đã khuya và men rượu cũng đã thấm. Trong cái ngà ngà, lâng lâng, chúng tôi vẫn còn đề cập đến hướng đi cho các số báo tới. T. đã thấm mệt. Nàng nhắc nhỏ tôi chở nàng về, ngày mai còn đến trường. Tôi còn lưỡng lự, Ngân lãnh phần chở T. về thay tôi.
Mới đó mà đã 30 năm qua. Giờ đây, trên cao nguyên này, nắng đã lên cao, hắt chút hơi ấm vào người tôi. Những rừng thông đã rõ nét, những thân cây thẳng đứng, hàng hàng lớp lớp. Những cành lá xanh um vươn lên, bao bọc ngọn đồi, những tia nắng đã xua tan sương mù ban mai. Cảnh vật đậm đà như mang một sức sống mới. Tôi ngừng viết, xuống phòng khách xem Trọng và Ký đang phác họa trên vải. Cả hai đều vẽ ngọn đồi trước mặt, nhưng chắc chắn là hai lối nhìn khác nhau về một màu thời gian. Tôi cũng bị không khí đam mê hội họa níu kéo, thúc đẩy. Tôi không biết vẽ, không biết làm thơ. Tôi chỉ biết viết văn.
Sau năm 1975 tạp chí văn học Ý Thức của chúng tôi không còn nữa. Hầu hết anh em còn ở Việt Nam lần lượt bỏ quê cũ vào Sài Gòn sinh sống. Chúng tôi vẫn thường có dịp họp mặt nhau, uống rượu và nói chuyện phiếm. Tuyệt nhiên không đề cập đến văn chương chữ nghĩa. Cả một khoảng đời dài, một phần tư thế kỷ, chúng tôi đã ngừng bút. Trong những buổi họp mặt đó, tôi chỉ ngồi lặng câm, không nở nổi một nụ cười. Những mộng ước văn chương còn dang dở. Sao không ai nhắc đến món nợ phải trả. Cuộc chơi cay nghiệt của thời tuổi trẻ đã từng làm tôi đam mê đến nỗi đã đánh mất đoạn kết tốt của một mối tình.
Ngày xưa T. bỏ tôi đi lấy chồng, tôi chỉ buồn đôi chút rồi qua đi. Vì bên cạnh tôi còn có tờ báo Ý Thức, còn nhà xuất bản Tiếng Việt, còn văn chương chữ nghĩa, còn anh em bạn bè văn nghệ. Có lẽ T. so sánh với thời hai đứa yêu nhau trước đó, khi còn ở một thị trấn nhỏ, lúc ấy tôi chỉ là một nhà giáo, ngày hai buổi chỉ biết đến trường, về nhà âm thầm sống trên căn gác nhỏ, đọc sách, nghe nhạc. Trọn trái tim tôi chỉ dành cho tình yêu đối với T.. Những chiều mưa T. đến với tôi. Tiếng chân người con gái gõ nhẹ lên từng bậc tam cấp, gõ đều từng tiếng như tiếng mưa rơi tí tách, nhỏ từng giọt vào lòng tôi. T. hay khóc. Nhìn nước mắt lưng tròng của người con gái mới lớn làm tôi đâm ra vụng về, luống cuống. Tôi chỉ biết lấy khăn tay chậm nhẹ lên những giọt nước mắt như những giọt sương long lanh còn đọng lại nơi cánh hoa hồng mong manh trong khu vườn của một buổi sớm mai còn sương mù lãng đãng.
T. bị dằn vặt giữa hai đường. Gia đình và tôi. Ba mẹ T. không chấp nhận cuộc tình của chúng tôi. Nghỉ hè, về nhà sống trong gia đình êm ấm, bao nhiêu lời khuyên răn nhẹ nhàng cùng những dự định kiên quyết của cha mẹ buộc T. phải lìa xa tôi. Không cần T. nói ra, cứ nhìn T. âm thầm ngồi khóc bên tôi, tôi đã hiểu. Chúng tôi chỉ lén lút gặp nhau. Bao nhiêu lần tôi uống rượu một mình say mèm mà vẫn gọi tên T.. Bao nhiêu lần chúng tôi tự bảo là sẽ xa nhau, mỗi người đi mỗi ngã. Gặp nhau một lần cuối để nói lên lời giã biệt nhưng rồi chỉ tạo thêm cơ hội gắn bó nhau thêm. Mãi đến khi T. rời bỏ thị trấn nhỏ này. Rồi tôi cũng bỏ ra đi. Chuyện tình của chúng tôi gián đoạn. Gần năm năm sau tình cờ chúng tôi lại gặp nhau tại Sàigòn. Tôi làm báo. T. học sư phạm.
Những ngày Trọng và Ký triển lãm hội họa chung tại phòng tranh Tự Do ở đường Đồng Khởi, anh em thường tụ họp vào buổi chiều có mưa rơi lác đác, trong không khí đông vui đó gợi lại trong tôi một thời xa xưa đã qua, một thời tuổi trẻ hăng say với những nỗi đam mê văn chương chữ nghĩa, cùng chung nhau làm báo văn học. Bây giờ tuổi đã già. Sao không có một chỗ ngồi chung nhau, tiếp tục mộng ước còn dở dang. Phải đi cho trọn con đường còn lại, để nhận dạng được con người đích thực của mình.
Ngày xưa, tôi không hiểu thấu những đam mê về bóng đá, gà chọi đã theo suốt cuộc đời của ba tôi. Tôi bực bội có lúc gần như chống đối. Cuộc chơi của ba tôi đã gây biết bao nhiêu phiền toái cho mẹ tôi, anh chị em tôi. Lúc tôi mười tuổi, một thằng bé con, còi cọc, ôm trong lòng con gà chọi, nặng chịch, cứ cử động tía lia, đập cánh, chân có cựa nhọn và dài cứ đạp lên đạp xuống, móc vào da thịt non nớt của tôi làm rớm máu, làm tôi ngã xuống đất, còn nó – con gà nòi chết tiệt – cứ xông vào đá chính hình ảnh nó phản chiếu từ tấm gương soi của chiếc tủ đứng. Tôi đứng xem mải mê đến khi con gà chọi liểng xiểng, té lên té xuống. Tôi vỗ tay cười hả hê, cứ tưởng mình đang ở trong trường đá gà, chung quanh toàn người ơi là người, vỗ tay, la hét, cổ vũ. Tôi cũng nhảy lên theo cái đá chân của con gà vào tấm kính kêu lốp đốp. Mẹ tôi đi chợ về thấy tôi đứng cười, còn con gà đã nằm bệt xuống đất thở khò khè. Mẹ tôi la hoảng: -“Thôi chết rồi. Làm sao cho con gà tỉnh lại để khi ba con về không khám phá được.” Lúc đó tôi mới sợ hết hồn, mặt mày xanh mét khi liên tưởng đến những trận đòn nát mông. Tôi chỉ biết ú ớ: -“Làm sao đây hả mẹ?” Mẹ tôi vỗ đầu tôi, nói nhỏ nhẹ: -“Con bắt chước ba, vỗ khăn ướt vào thân con gà, rồi ngậm rượu phun lên đầu nó như ba con thường chăm sóc nó sau một trận xổ gà.” Nhờ mẹ tôi mách nước, tôi nhớ lại từng li từng tí cảnh chăm sóc đó của ba tôi. Tôi làm theo, nhưng khi ngậm rượu chưa kịp phun ra thì tôi lại nuốt ực vào. Mùi rượu nồng nặc và cay cay làm tôi sặc sụa. Hồn vía như lên mây. Buổi trưa ba tôi không ăn cơm nhà, chiều ông mới về, nhờ khoảng thời gian dài đó con gà mới hồi phục phong độ như trước. Mỗi lần ba tôi đến cạnh cái lồng nhốt gà nhìn nó oai vệ đứng hiên ngang, ông cười hãnh diện, tôi mới yên tâm. Tưởng mình đã thoát. Qua ngày mai, khi đi học về, ba tôi chỉ tay vào một góc hiên nhà, giọng Huế nặng trịch: -“Mi ngồi chồm hổm xuống đây.” Tôi chưa hình dung hình phạt nào tôi phải gánh chịu. Tôi cũng ngạc nhiên tự hỏi: “Làm sao ba tôi phát hiện ra lỗi lầm của tôi.” Ba tôi vào nhà sau cầm ra một cái lồng nhốt gà đá thật to, đan bằng tre lưới mắt cáo, chụp xuống người tôi. Tôi ngồi co ro. Ông lấy viên đá lớn đè dằn lên nắp lồng và cảnh cáo tôi: -“Mi thế chỗ con gà chọi. Hễ viên đá này rớt xuống đất là nát đòn nghe con. Chỉ trông gà đừng để cho nó nhìn vào gương soi mà cũng không nên chuyện. Hư cả mỏ, may mà tao khám phá ra. Chăm sóc nó cũng phải cả tháng mới đến trường gà được.” Con gà chọi nhốt trong lồng còn đi qua đi lại được, cái cổ dài còn lắc lư. Còn tôi ngồi chồm hổm, co ro như con mèo thu mình lại. Đôi mắt trẻ thơ của tôi rơm rớm nhìn xuống đất, tủi thân. Lũ học trò bạn tôi đi học về ngang qua thấy lạ, dừng lại ngạc nhiên hỏi: -“Nguyên, mày giở trò gì vậy?” Một đứa lanh hơn nói khẽ: -“Nó bị ba nó phạt đó.” Lên trường tụi nó chọc quê tôi đủ thứ. Có lẽ vì vậy mà lớn lên tôi rất ghét trò chọi gà.
Ba tôi say mê đá gà bao nhiêu thì bóng đá ông cũng mê như vậy. Trong nhà tôi lúc nào cũng đầy cầu thủ bóng đá. Ba tôi tuyển chọn cầu thủ rất kỹ lưỡng. Toàn những danh thủ của các tỉnh khác, kể cả thủ đô Sàigòn. Ông đem họ về ăn ở trong nhà. Sau này ba tôi bị tù đày. Đội bóng tan rã. Họ tản mác ra đi. Sau này ba tôi ở tù ra thì đã mắc bệnh lao, hậu quả bao nhiêu lần tra tấn dã man, nhưng chiều thứ bảy nào cũng vậy, một ông già đạp xích lô, cũng mê đá gà như ba tôi, đến chở ba tôi đến trường gà. Ông ngồi xem hai con gà đá nhau tơi bời, máu me đầy đầu, quẹo cổ, có khi gục chết tại chỗ. Xung quanh toàn là thanh niên, trung niên, một ít người già như ba tôi, họ toàn là đàn ông, tuyệt nhiên không có một phụ nữ nào. Họ ngồi chồm hổm hoặc đứng bên nhau. Họ la, họ hét, họ cười rộ, họ chưởi đổng, họ buồn, họ vui, họ giận theo từng cú đá của con gà chọi. Sau giờ nghỉ giữa khoảng cách hai trận đá gà chọi, ba tôi giở cà mèn, lấy cơm ăn một mình và nghỉ ngơi một chút cũng trên chiếc xích lô ấy.
Trong trận lụt năm Thìn nước dâng vào thị xã, mọi người trong nhà đều lo di chuyển những đồ vật quí giá lên căn gác gỗ, riêng ba tôi chỉ ôm được con gà chọi trong lòng và cậu tôi phải cõng một ông già bệnh hoạn cùng con gà chọi lên gác lánh nạn. Lúc ấy tôi tỏ vẻ khó chịu, bực dọc về thái độ của ba tôi. Nỗi đam mê đá bóng, đá gà đã theo ba tôi suốt cả cuộc đời cho đến khi ông chết. Bây giờ nghĩ lại, nếu thiếu những đam mê đó chắc gì giờ này tôi nhớ đến ba tôi như thế này.
Không riêng gì ba tôi, mẹ tôi lại có một đam mê khác: Chơi bài tứ sắc. Chiều chiều, trên tấm ván gỗ gõ bóng láng, mẹ tôi cùng ba người bạn ngồi chơi bài mãi đến tận khuya. Chỉ đến lúc ngừng chơi để ăn tối lót dạ, tôi mới nghe họ nói chuyện, cười vui. Còn trong cuộc chơi sự im lặng bao phủ lấy họ. Thỉnh thoảng họ mới thốt lên tiếng “tới”, “hụi”, những từ tôi không hiểu gì cả. Thường trong cuộc chơi bài, như đánh phé, bài cào, xì lát, người chơi thích sát phạt nhau, ồn ào, to tiếng. Bao nhiêu tính xấu, tốt, từng cử chỉ nhỏ nhặt như rút bài, lùa bài, sóc bài. Khi thua bạc mặt rầu rĩ, ảm đạm. Khi ăn bạc cười nói huyên thuyên. Đôi khi có người tỏ ra nóng nảy, phản ứng không đẹp với mọi người chung quanh. Những người bạn chơi bài của mẹ tôi đều như vậy. Riêng mẹ tôi, không ai biết được trong cuộc chơi mẹ tôi thắng hay thua, vì bất cứ lúc nào nét mặt bà vẫn không thay đổi. Vẫn nụ cười hiền. Vẫn đôi mắt đăm chiêu. Sở dĩ mấy anh chị em tôi không muốn mẹ tôi ngồi chơi bài vì lo tới sức khỏe của mẹ tôi mà thôi. Mẹ tôi còn phải đi xa, những chuyến hàng buôn lớn, vào Sài Gòn, ra Đà Nẵng.
Chị Chi lúc chưa có chồng, thường phản ứng tỏ vẻ khó chịu bằng cách nguýt nguấy, trả lời nhát gừng với những ai tới rủ mẹ tôi chơi bài. Sau khi khách về mẹ tôi hỏi chị: -“Con xem cuộc chơi của mẹ có làm phiền ai không?” Chị Chi im lặng. –“Sao con phản đối?”. Chị Chi chỉ biết mỉm cười. Sau này chị lại đam mê, sa đà, đến mức tôi phải hỏi lại chị: -“Ngày xưa chị ngăn cản mẹ, sao giờ chị còn đam mê hơn mẹ nữa. Bao nhiêu cơ đồ, tài sản chỉ trong giây phút sau những trận sát phạt đều tan tành. Sao chị không như mẹ, chơi bài như một trò giải trí?” Chị gật gù: -“Cái khó là ở chỗ đó.” Sau những ngày ủ dột, chán đời vì thua bạc, chị lại buôn bán lớn, gầy dựng lại. Rất nhanh. Trong thời gian đó chị lo chạy đôn chạy đáo. Tôi mừng thầm cho chị. Giàu có rồi chị lại tiếp tục. Tiếng cười chị thật dòn tan, khuôn mặt chị rạng rỡ khi nghe điện thoại, tôi hiểu ngay có ai hẹn chị, rủ chị tới nhà chơi bài. Khi chị về nhà, tôi chỉ nhìn dáng đi của chị là hiểu ngay kết quả của cuộc chơi. Tiếng chân của chị nặng trịch và chậm chạp bước lên cầu thang, tay phải vịn vào thành lan can, người đi liểng xiểng. Tôi nói nhỏ với chị Hồng – chị kế của tôi: -“Chị Chi thua bạc đó, chị đừng hỏi gì hết”. Khi thắng bạc, chưa kịp vào hẳn trong nhà, còn ngoài cửa, gặp ai chị cũng nhìn với đôi mắt như biết cười. Tiếng chân chị bước nhẹ nhàng, êm ái, lên từng bậc thang, tay vẫn ung dung đánh đàng xa. Tôi cười mỉm. Thiếu tiền đi chơi, tôi chỉ cần lên phòng gặp chị. Không cần tôi nói gì chị cũng rút tiền, không đếm, vui vẻ cho tôi ngay. Khi nhìn vẻ mặt ủ dột của chị, tôi tránh mặt. Những lúc ấy chị Hồng lại đối diện chị nên lãnh tất cả những trút bỏ bực dọc, chị la mắng về mọi người thân trong gia đình. Chị Hồng ngồi chịu trận. Cứng đơ như khúc gỗ. Chị Hồng như tấm phên đỡ lấy những buồn bực của chị Chi về tôi. Gặp tôi chị mách nhỏ: -“Mày chuẩn bị nghe chị Chi chửi!” Tôi cười: -“Chị nghe hộ em, đã rồi. Chị ấy còn gì để la mắng em nữa. Em chờ chị ấy ngủ một giấc, rồi em mới gặp, chị chờ xem.” Thật vậy, gặp tôi chị im re, như tôi chưa bao giờ làm chị phiền lòng. Chị Hồng thắc mắc và phân bì tình cảm chị Chi đối tôi khác với chị. Tôi giải bày: -“Tại chị không hiểu tâm trạng của một người thua bạc.”
Như Ngân, người em gái kế của tôi, trách tôi: -“Tại sao anh không ngăn cản để chị Chi đam mê cờ bạc. Làm em mà thờ ơ sao được.” Trách tôi xong, mặt Ngân hầm hầm tiến đến sòng bạc, lấy tay hất tung cả lên trước sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng của mọi người. Ngân nói như hét lên: -“Các bà chuyên môn đánh bạc lận, lừa chị tôi ăn hết, phá tan hạnh phúc gia đình tôi phải không?” Và nước mắt Ngân chảy dài. Tôi đứng ngây người ra. Chị Chi cũng đến lay vai tôi: -“Mày xem em mày đối xử với tao, làm tao mất mặt với người ta nè.” Tôi chưa kịp phản ứng thì Ngân cũng đến nắm lấy vai tôi, lắc mạnh: -“Anh làm em mà thờ ơ để chị mình cứ tiếp tục bài bạc đến sạt nghiệp.” Tôi chỉ biết im lặng.
Sau này, những người thân ở Mỹ về thăm. Gặp tôi họ kể chị Chi không còn say mê chơi bài nữa. Còn Ngân sau khi nghỉ việc làm, thì giờ rỗi rảnh bắt đầu hát. Thời tuổi trẻ tiếng hát của Ngân đã từng làm rung động bao nhiêu người. Tôi nhận được cuộn băng vidéo thâu Ngân hát. Tiếng hát của Ngân tuy không trong như ngày nào, giọng hơi run nhưng vẫn còn truyền cảm. Đã ba mươi năm trôi qua rồi còn gì.
Mặt trời lặn dần sau chân đồi. Rừng thông trước mặt tôi cũng đã đổi màu. Xám lại. Một màu lãng đãng không còn phân biệt đâu là cành lá, đâu là thân cây, đâu là màu tia nắng vàng óng ánh xuyên qua cành lá. Đâu đó còn một vài điểm chấm nhỏ li ti đỏ bầm của những mái nhà ngói đỏ bên kia đồi. Đâu còn màu trắng chữ thập giá nhỏ li ti gắn trên nóc nhà thờ. Màu khói lam chiều ai đốt lửa xa xa dưới thung lũng bay lơ lửng. Tất cả những màu sắc đó đã hòa lẫn với nhau thành một màu duy nhất. Màu của bóng đêm. Cảnh vật đã chìm mất.
Một cơn gió thoảng, quyện vào đó giọng nói của một phụ nữ, rất quen thuộc, từ bên kia nửa quả địa cầu. Bẵng đi ba mươi năm tôi mới nghe lại được, dù qua điện thoại, trước khi tôi lên Đà Lạt vài ngày. Những lời hỏi thăm về con đường Phan Thanh Giản, về trường Gia Long, về chiếc xe suzuki, về tòa soạn Ý Thức. Và cuối cùng, giọng nói nhỏ lại: “Sao anh không còn viết văn nữa. Con đường mà ngày xưa anh đã chọn.” Như một lời nhắc nhở. Cám ơn.
Vâng. Văn chương là một cái nghiệp mà khoảng đời còn lại tôi phải trả. Thời gian trôi đi. Tuổi già kề cận. Nhận dạng lại những người thân yêu đã đi qua đời tôi. Tưởng chừng như đã quên.
Đăng trong Văn xuôi | Thẻ Nguyên Minh | 24 Comments »
Đăng trong Văn xuôi | Thẻ Chuyện tình tính tang, Lê Đức Vũ | 81 Comments »
Phạm Ánh
Đôi khi tìm nắng trong mưa
Tìm dịu ngọt giữa cay chua giận hờn
Biển khơi sao cạn nỗi buồn
Nghìn trùng dáng núi mỏi mòn nỗi đau.
Lơ ngơ râu tóc ngã màu
Đã “tri thiên mệnh” còn câu mây trời
Vụng về đành vậy em ơi
Dẫu vô tích sự vẫn người yêu thương.
Tìm trong nắng gió tha hương
Một chiều bình lặng mảnh vườn chân quê
Cánh cò khẽ chạm bờ tre
Em ơi nỗi nhớ anh về bến xưa.
Đăng trong Thơ ca | Thẻ Ảnh: Võ An Ninh, Phạm Ánh | 18 Comments »
Lê Văn Ngăn
Tôi có một vì sao trên nền trời
đêm đêm, tôi và bạn bè tôi từ những nơi cách xa nhau
vẫn có thể có chung một điểm sáng .
.
Tôi có một cánh hoa đào ở Hà thành hay Đà Lạt
hoa nở hoa tàn dưới tiết trời, nhưng trái tim người vẫn là nơi
gìn giữ một cánh hoa không phai tàn .
.
Tôi có trong tâm hồn tôi một chút giá rét
bao nhiêu năm, qua giá rét và đối cực của mùa xuân
tôi thường lắng nghe tiếng chân mùa xuân bước lại gần
.
Từ đấy, tôi tin : cuối con đường tuyệt vọng chẳng phải là sự chết
nhưng chính là niềm hy vọng .
Đăng trong Thơ ca | Thẻ Lê Văn Ngăn | 21 Comments »
Trương Đình Ngộ
Thượng thanh khí tiết ra nguồn tinh khí
Xa xôi đời trăng mọc nước Huyền Vi
Đây Miên Trường, đây Vĩnh Cữu tề phi
Cao cao vượt hai hàng bóng vía
Sao anh không về chơi thôn Vỹ Trời nhật nguyệt cầu vồng bắc tứ phía
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Ôi Hoàng Hoa, hồn phách đến nơi đây
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Hương ân tình cho kết lại thành dây
Lá trúc che ngang mặt chữ điền Mong manh như lời nhớ thương hàng triệu.
Gió theo lối gió mây đường mây Đàn cung bậc gió dồn lên âm điệu
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Sững lòng chưa, say chấp cả thanh bai
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Sang chơi thôi, sang chơi thôi, mà ai ?
Có chở trăng về kịp tối nay? Thu đây rồi bước lên cầu Ô Thước
…
Mơ khách đường xa, khách đường xa. Đừng nói buồn mà không khí nao nao
Áo em trắng quá nhìn không ra Để chơi vơi này bông trăng lá gió
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Để phiêu diêu này tờ thơ vàng vọ
Ai biết tình ai có đậm đà? Để dầm dề hạt lệ ta đôi ta.
Thinh không tan như bào ảnh hư vô
Dải Ngân Hà biến theo cầu Ô Thước
Và ước ao và nhớ nhung lần lượt
Đắm im lìm trong mường tượng buồn thiu !
Việc chúng tôi sắp bài thơ Ở Đây Thôn Vỹ Dạ và trích đoạn của bài thơ Sao, Vàng Sao như trên có dụng ý. Không phải chỉ vì hai bài này được sáng tác trong thời điểm gần nhau, cũng không chỉ vì hai bài này nằm kề nhau trong tập Thượng Thanh Khí, và không phải chỉ vì mạch thơ của hai bài liên hệ mật thiết với nhau.
Hai bài thơ Ở Đây Thôn Vỹ Dạ và Sao, Vàng Sao được viết vì một người, cho một người và gửi đến người ấy: người con gái Huế thùy mị Hoàng Thị Kim Cúc (Hoàng Cúc, Hoàng Hoa). Bao năm tháng qua đi, thơ Hàn ký gửi những bạn thơ tin tưởng nhất có thể thất lạc, hai bài thơ chép tay của Hàn Mặc Tử vẫn được Hoàng Cúc gìn giữ như kỷ vật trang trọng nhất.
Sao anh không về chơi Thôn Vỹ , lời mời như một ân cần thăm hỏi dịu dàng của người con gái Huế đã mang đến xúc động lớn nhất trong những ngày tháng cuối đời Hàn. Tất cả sương khói của bến Vỹ Dạ lúc hừng Đông hay một đêm trăng (trích thư Hàn Mặc Tử gửi Hoàng Hoa) làm gợi nhớ lưu luyến thuở ban đầu. Hàn viết Ở Đây Thôn Vỹ Dạ lúc biết mình sắp qua đời, trong thơ có nhạc, nhẹ nhàng thanh thoát. Về thôn Vỹ để ngắm vẻ đẹp của hàng cau trong nắng mới lên là muốn rũ sạch bụi trần thế.
Câu (tự) hỏi cuối bài thơ cũng mơ hồ như câu hỏi đầu bài mang bao nhiêu lưu luyến, lưu luyến của người biết mình sắp ra đi mãi mãi. Chúng ta tìm được câu trả lời trong giọng Huế êm ái của người con gái Huế Camille Huyền hát như lời ru trong tiếng kinh cầu.
Ai biết tình ai có đậm đà?
Có đậm đà[1]
Tiếng đàn và giọng hát, tất cả êm đềm (tranquillo), là lúc Hàn Mặc Tử đã tìm lại được Bình An trong Tâm để chuẩn bị cuộc hành trình về Cõi Vĩnh Hằng.
***
Sao, Vàng Sao là bài thơ viết cho và gửi đến Hoàng Hoa sau bài Đây Thôn Vỹ Dạ. Bạn bè Hàn đăng báo bài thơ này dưới tựa đề Đừng cho lòng bay xa, hai tuần sau ngày nhà thơ qua đời. Trong mường tượng của nhà thơ những ngày sắp mất, Hồn thơ đã đến Cõi Vĩnh Hằng.
Thượng thanh khí tiết ra nguồn tinh khí
Xa xôi đời trăng mọc nước Huyền Vi
Đây Miên Trường, đây Vĩnh Cữu tề phi
Cao cao vượt hai hàng bóng vía
Camille Huyền phổ nhạc Sao, Vàng Sao bằng tiếng hát trơn (a cappella), Walther Giger hòa âm nhạc tứ tấu đàn dây (string quartet) Sao, Vàng Sao với giọng đọc thơ Camille Huyền. Cả hai bản Sao, Vàng Sao mang mang huyền thoại bất tận của không gian và thời gian trên miền Thượng Thanh Khí.
Trời nhật nguyệt cầu vồng bắc tứ phía
Ôi Hoàng Hoa, hồn phách đến nơi đây
Hương ân tình cho kết lại thành dây
Mong manh như lời nhớ thương hàng triệu.
Dù đã đến Cõi Vĩnh Hằng, cõi lòng Hàn vẫn còn yêu thương da diết, kéo hồn phách Hàn về bước lên cầu Ô Thước để tìm lại người xưa dù chỉ là trong một đêm huyễn mộng. Tiếng hát Camille Huyền, tiếng đàn hòa tấu có lúc mong manh như sợ làm vỡ tan hình ảnh và hy vọng đã vô cùng mong manh như lời nhớ thương hàng triệu.
Đàn cung bậc gió dồn lên âm điệu
Sững lòng chưa, say chấp cả thanh bai
Sang chơi thôi, sang chơi thôi, mà ai ?
Thu đây rồi bước lên cầu Ô Thước
Rồi hình tượng trong tiếng hát, trong nhạc hòa tấu trổi lên hân hoan khi những Chàng Ngưu Ả Chức được về thăm nhau cho thỏa lòng mong nhớ. Nền nhạc diễn cảnh cầu Ô Thước bắc trên sông Ngân
Sao! Vàng sao rơi đầy trên sóng nước
Đừng ngả tay mà hứng máu trời sa
Thôi kéo về đừng cho lòng bay xa
Thu vươn này, thu vươn ra như ý
Mau rất mau trong muôn hoa kiều mỵ
Mùa rất trai và ánh sáng rất cao
Đừng nói buồn mà không khí nao nao
Để chơi vơi này bông trăng lá gió
Để phiêu diêu này tờ thơ vàng vọ
Để dầm dề hạt lệ ta đôi ta.
Tầng thượng tầng lâu đài ngọc đơm ra
Khói nhạt nhạt xen vô màu xanh biếc
Tiếng huyền địch gò theo tia yến nguyệt
Đẩy đưa dài hơi ngào ngạt trầm mơ.
Sao! Vàng sao rơi đầy trên sóng nước đã cho thấy giữa đoàn tụ đã nhuốm màu chia ly, cái hạnh phúc ngắn ngủi giữa khung trời mưa máu.
Thinh không tan như bào ảnh hư vô
Dải Ngân Hà biến theo cầu Ô Thước
Và ước ao và nhớ nhung lần lượt
Đắm im lìm trong mường tượng buồn thiu !
Không gian nhạc nhạt nhòa trong hương trầm và hình ảnh cầu Ô Thước dần tan đi, tất cả chỉ là bào ảnh (illusion), còn lại chỉ nặng một nỗi buồn trong điệu nhạc và tiếng hát như lời kinh cầu cho Hồn Thơ Hàn Mặc Tử.
Vitznau, 18.02.2012
Trương Đình Ngộ
[1] Ba chữ duy nhất Camille Huyền thêm vào cuối bài thơ lúc phổ nhạc bài Ở Đây Thôn Vỹ Dạ cùng với Walther Giger để nhấn mạnh câu trã lời Có đậm đà.
Đăng trong Âm nhạc, Thơ ca | Thẻ Trương Đình Ngộ | 38 Comments »
Hạc Thành Hoa
Ngày mai đã hết quần áo mặc
Một bộ diện gần cả tháng nay
Ta lười trời đất còn nể mặt
Thì sá gì đôi trận gió bay…
.
Nhưng đêm trăng sáng trăng huyền diệu
Gác trọ lòng không bóng mây vương
Bạn vừa đi khỏi trăng vừa tới
Đem áo quần ra giặt đỡ buồn.
.
Dưới bóng trăng mình ta một cõi
Đất trời im vắng giấc cô miên
Bên thau quần áo cao như núi
Nỗi buồn trong dạ cũng cao thêm.
.
Trăng soi từng chỗ cho ta giặt
Áo quần trắng toát một màu trăng
Vò từng chiếc áo nghe tim buốt
Lòng cũng sầu theo những nếp nhăn.
.
Ta ngồi nhìn bọt xà bông vỡ
Mỗi bọt tan theo một phiến trăng
Tiếng của đời ai đang nức nở
Giữa tiếng đêm thu mộng xế tàn.
.
Cố thức giặt cho xong quần áo
Ngậm ngùi vắt những ánh trăng trong
Trăng theo nước chảy về vô tận
Từng giọt trăng dư rụng xuống lòng.
.
Đêm nay phơi áo trên sân thượng
Phơi cả đời ta giữa quạnh hiu
Phơi cả hồn ta trong sương lạnh
Một trời trong vắt bóng trăng treo.
Đăng trong Thơ ca | Thẻ Hạc Thành Hoa | 47 Comments »
Phạm Viết Kha
Biển bao la sao bằng tình mẹ
Con ước mong Mẹ khỏe Mẹ ơi
Ngàn trùng quê mẹ xa xôi
Tháng ngày lam lũ đầy vơi lệ nhòa
Mái nhà tranh song thưa rét mướt
Thân guộc gầy vải mộc bao năm
Mắt nhòa sương muối tóc râm
Thân già gánh nặng luân trầm mà đau
Gánh khổ ải chuốc sầu mưa nắng
Ôm gian nan để tránh khổ con
Thời gian vóc hạc hao mòn
Tương lai kỳ vọng dốc lòng vọng trông
Con là điểm mơ mong mở ước
Đứng thẳng người để được tin yêu
Mẹ chừ bóng xế tuổi chiều
Con mong gần Mẹ thật nhiều..Mẹ ơi
Đăng trong Thơ ca | Thẻ Phạm Viết Kha | 28 Comments »
TRẦN MINH NGUYÊT
Hắn là bạn thân của tôi từ thuở tóc còn để chởm đến bây giờ – Hắn có một cái tên rất ấn tượng: “ Trần Đại Hà”. Do vậy mà lũ bạn của Hắn và tôi hay gọi Hắn bằng cái tên trìu mến là “ thằng cầu Nại Hà” hay là người – giữ – cầu – Nại – Hà. Là bạn rất thân của Hắn, đôi khi thấy lũ bạn đùa giỡn quá trớn, tôi cũng cảm thấy tội nghiệp – xót xa, trong khi đó Hắn lúc nào cũng cười tỉnh bơ xem như không có việc gì xảy ra cả! Và, đôi khi, tôi còn có cảm giác Hắn lại tỏ ra thích cái tên đó nữa chứ. Nhiều lần bực mình – tôi gắt :
– Bộ cậu đông cứng lại rồi à? Sao cậu không phản ứng gì hết vậy? Đùa giỡn gì mà quái ác quá?
Hắn cười hiền:
– Lỗi đâu phải ở họ, tại ba, mẹ mình đặt tên vậy mà. Với lại họ gọi đùa vậy chứ có ác ý gì đâu ?
Hắn còn nói thêm:
– Như thế này mà cậu thấy buồn rồi sao? Ở xóm này ai cũng yêu quý mình, nhưng họ luôn dặn mình là không được đến nhà họ vào ngày mồng một, ngày rằm; có người còn cẩn thận hơn cấm cửa mình vào buổi sáng nữa kìa, họ sợ mình mang điều không may đến cho họ. Ban đầu mình buồn lắm, nhưng lâu dần mình quen rồi…
Tôi không biết nói gì để an ủi Hắn trước một sự thật quá đau lòng và quá quắt như thế – đành yên lặng lãng sang chuyện khác.
Người ta thường nói: “Không ai thương mình bằng chính mình thương mình”. Vậy mà Hắn nhiều lần bảo với tôi : “ Mình ghét cái bản mặt của mình nhất, ghét kinh khủng, ghét thâm căn cú đế, ghét cái tính chẳng giống ai của mình!”. Lần đầu nghe vậy, tôi ngạc nhiên, tròn mắt nhìn Hắn, nhưng lâu dần tôi cũng quen dần với những câu chuyện mà Hắn bảo là “chằng giống ai” của mình, quen đến nỗi chúng ngự trị trong đầu óc của tôi, và lúc nào buồn tôi dùng chúng để tự an ủi cho mình. Mặc dù đã quen nhưng cứ nghĩ lại và nhớ đến điệu bộ của Hắn là tôi không sao khỏi phì ra cười.
Chuyện đầu tiên mà Hắn vẫn thường ca cẩm đó là chuyện hắn sinh ra trong một cái lều rách nát, không gọi là nhà được, túp lều ấy lại tọa lạc ở một bãi đất hoang bên bờ sông Đại Hà – tên của con sông cũng gần giống như Cầu Nại Hà trên con đường dẫn xuống cõi chết. Vậy mà không hiểu sao ba, mẹ Hắn lại chọn nơi này làm túp lều hạnh phúc cho họ và còn lấy luôn tên cây cầu đặt cho Hắn nữa chứ?. Ba, mẹ Hắn cùng cảnh mồ côi sớm, ông bà nội, ngoại của cả hai người cùng dắt dìu nhau, kẻ trước người sau – cùng nhau viễn du đến nơi vô định mà không hẹn ngày về. Lúc còn sống, họ là những trưởng lão cái Bang hàng bốn túi, nên khi họ ra đi, không có gì để lại cho hắn cả, chỉ có một mảnh dất cắm dùi, hắn cũng bán nốt để chữa trị cho mẹ lúc nằm viện. Cha, mẹ chết khi Hắn học hết lớp 11, vậy là năm 12 Hắn vừa mò cua, bắt ốc, vừa sống nhờ vào tình thương yêu đùm bọc của các cô chú trong họ và bà con xóm giềng. Được cái Hắn rất sáng dạ, học ít nhưng vẫn học rất giỏi. Và cuối năm, Hắn đã thi đậu vào trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh trước sự ngỡ ngàng của những người thân và hàng xóm. (Họ không ngờ thằng bé khù khờ, quần áo xốc xếch, quanh năm lấm lem bùn đất lại giỏi như vậy). Thế là bà con làng xóm lại có dịp nhắc lại giai thoại Hắn mặc áo mưa đi học vào mùa hè khi trời nắng như đổ lửa. Nhà nghèo quá, Hắn luôn đến trường trong bộ đồ rách bươm, vá chằng, vá đụp và đủ màu sắc. Mẹ Hắn cứ nhặt được miếng vải nào lành lặn, bất kể màu gì – là để dành để chằm quần áo cho Hắn. Nhìn Hắn lúc đó giống như một con cá ngũ sắc vậy. Một người bà con xa đến thăm ba, mẹ và cho Hắn một bộ đồ áo mưa bằng nhựa màu nâu. Vậy là chiều đó hắn mặc bộ đồ áo mưa đi học, khi cô giáo bắt cởi bộ áo mưa ra, Hắn thành ra trần như nhộng, còn chúng tôi thì được một trận cười nghiêng ngả.
Ngày Hắn nhập trường, bà con cô bác giúp cho hắn một ít tiền đủ cho Hắn mua vé xe và sống những ngày đầu tiên khi bước chân vào đại học. Hắn lại phải vừa lo học, vừa lo cơm, áo hàng ngày cho chính mình. Hắn làm gia sư, phụ việc ở quán ăn, bốc vác, cho đến việc thông cống, sửa hầm cầu, không chuyện gì mà hắn không làm. Vậy mà trong khi tôi học ở Trường tổng hợp phải tất bật, lo lắng với các kì thi đi, thi lại, còn Hắn học phần nào cũng qua một cách nhẹ nhàng, có lúc tôi không hiểu Hắn có phép màu gì nữa?
Năm năm đại học rồi cũng trôi qua, tôi và Hà cùng ra trường. Hắn không còn gì ở quê nữa, bàn thờ ba, mẹ ngày Hắn vào Đại học đã gởi họ vào ngôi chùa làng, để có người hương khói, chỗ túp lều rách nát ngày nào giờ chỉ là một bãi đất trống, lau sậy mọc um tùm. Vậy mà Hắn không ở lại thành phố, nơi phồn hoa có nhiều cơ hội cho Hắn xin được việc làm tốt, Hắn nhất quyết đòi về quê. Đêm cuối cùng ở thành phố, tôi hỏi Hắn:
– Cậu quyết định về quê thật à?
– Thật chứ sao không? Hắn quả quyết trả lời
Tôi nhìn lướt lên mặt hắn, một gương mặt chai sạm với đôi mắt trũng sâu vì những đêm mất ngủ, tôi thực sự thấy thương Hắn. Tôi không muốn phải xa Hắn nhưng tôi không muốn hắn phải khổ thêm nữa.
Tôi tiếp tục góp ý:
– Cậu về quê làm gì? Rất khó xin việc. Hãy ở lại đây đi, mình nghĩ với tài của cậu không mấy chốc sẽ làm giàu lên thôi.
Hắn mân mê li trà tên tay – cười buồn, đáp lời tôi:
– Tôi cũng có lúc nghĩ như cậu vậy. Nhưng tôi không thể xa ba, mẹ tôi, không thể xa những người đã cưu mang tôi, và hơn nữa làng mình đã giữ của tôi biết bao kỉ niệm vui, buồn….
Tôi bật cười:
– Cậu làm thơ à? Cậu lãng mạn và đa sầu đa cảm quá rồi! Còn hơn mấy ông nhà thơ nữa đó?. Người chết, người sống gì cậu cũng nhớ hết vậy? Ai bảo cậu đi luôn đâu? Nếu thích cậu cũng có thể xin nghỉ phép về thăm quê mà?
– Cậu đừng khuyên tôi nữa, tôi đã quyết định rồi, sẽ không đổi ý đâu. Hắn nhăn mặt đáp lời tôi.
Tôi bỗng dưng cảm thấy ghét cái tính ngang bướng của Hắn nên nói lẫy:
– Tùy cậu thôi! Cậu muốn làm sao thì làm, mình không dám can thiệp vào đời riêng của cậu nữa.
Hắn biết tôi giận, vội ôm lấy vai tôi – hạ giọng, năn nỉ:
– Trước kia mình không có gì hết, là một thằng bé mồ côi mà vẫn sống được, giờ mình đã là ông kỉ sư rồi, làm sao chết đói mà cậu lo?
Dù có bằng tốt nghiệp loại Khá trong tay, nhưng thân cô thế cô Hắn không xin được việc làm vừa ý. Người ta vẫn thường nói đi nói lại đến nhão nhẹt câu “ Quý trọng nhân tài, ưu tiên hiền tài” . nhưng Hắn vác đơn đi đến đâu, cũng khó chui qua “ cánh cửa hẹp”. Cuối cùng, cũng xin được làm một chân quản lý máy điện của công ty may mặc ở huyện. Còn tôi một thằng kiến thức chỉ lõm bõm, lơ mơ thôi nhưng tương lai thì rộng mở. Ba, mẹ tôi nhờ sự quen biết của mình đã xin cho tôi vào dạy ở trường cao đẳng gần nhà.
Hắn làm việc vất vả chứ không nhàn hạ gì. Tổ điện của Hắn có bốn người, ba người trên Hắn học Trung cấp Điện, Hắn có bằng cấp cao nhất Kỉ sư Điện, vậy mà trong phòng, Hắn chỉ là một người để sai vặt, phải làm đủ mọi việc từ sửa điện, bắt ống nước, đến việc giữ các hóa đơn chi phiếu. Hắn về quê ở tạm nhà tôi, bốn tháng sau khi có việc, nhận được những đồng tiền lương ít ỏi. Hắn thưa với ba, mẹ tôi cho hắn ra dựng nhà ở riêng trên bãi đất hoang um tùm lau sậy mà trước kia là nhà của Hắn. Và sau đó không bao lâu, một ngôi nhà bằng tre được dựng lên giống như ngôi nhà nhỏ trong rừng của Bảy chú lùn vậy. Đúng là Hắn lập dị, làm những chuyện không đâu vào đâu cả, vậy mà không hiểu sao, cha, mẹ tôi cứ đem Hắn ra làm gương cho tôi và mấy đứa em của tôi học theo mới chết chứ.
Hắn lại ghét hắn về cái khoản cưới vợ. Đầu tiên, Hắn yêu một cô gái làm kế toán ở cùng công ty, nhưng khi biết Hắn mồ côi, và ở trong một ngôi nhà tranh vách đất gần bờ sông, ba mẹ của cô gái kia cấm cửa không cho con mình qua lại với Hắn nữa. Mà cũng không cần cha, mẹ ngăn cản, cô gái kia không muốn có một người chồng nghèo hèn như vậy làm chỗ dựa vững chắc cho cuộc đời có quá nhiều ước mơ cao vời của mình. Chỉ hai tháng sau khi chia tay với Hắn, cô ta lên xe hoa với một anh chàng hào hoa, nghe đâu làm việc ở cảng. Hắn cũng đẹp trai, gương mặt khôi ngô – nên rất nhiều cô gái theo đuổi, nhưng cứ quen Hắn một thời gian là họ bỏ hắn để đi lấy chồng khác. Nghe thấy vậy – tôi hay đùa Hắn:
– Cậu chắc tích được nhiều phúc lắm? Cô nào ế ẩm, không có ai, chỉ cần quen cậu một thời gian là có chồng liền.
Hắn cười buồn:
– Cái số mình nó vậy mà! Nhưng mình nghĩ đó không phải là tình yêu đâu? Rồi mình sẽ tìm được một người vợ đúng nghĩa của chữ yêu cho cậu xem.
Và rồi người vợ đúng nghĩa, cái tình yêu đúng nghĩa của Hắn, cũng xuất hiện. “Hễ có mong chờ và hy vọng – là sẽ có kết quả thôi” – Hắn đã tâm sự vậy khi báo tin vui với tôi. Vợ Hắn – một cô gái nghèo, mẹ mất sớm ở với cha và mẹ kế. Học hết lớp 12, không có điều kiện học tiếp nên nghỉ học xin vào công ty may. Cô có duyên – xinh xắn, nên chỉ một thời gian ngắn cô cũng tìm cho mình được một anh chàng hào hoa, giàu có. Những tưởng mình có thể đổi đời nên cô quá tin vào lời dụ ngọt kia, rồi đã đánh mất đời con gái. Khi giọt máu đã tượng hình trong bụng, thì người tình hào hoa phong nhã giàu có kia cũng quay lưng để mặc cô trong nỗi sợ hãi khốn cùng. Bầy tình xưa nay vẫn vậy – nhưng sao có lắm kẻ còn mờ mịt để lại sập vào đó nhỉ? Thì ra, cảnh sang giàu, tiền bạc – luôn làm lu mờ tâm trí, và là hấp lực mãnh liệt cho tất cả mọi người sao?
Cô muốn tìm đến cái chết để chấm dứt mọi chuyện thì gặp Hắn. Hắn không những cứu cô khỏi chết mà còn cùng cô về nhà chịu lỗi với ba, mẹ cô. Thế là một đám cưới chóng vánh xảy ra, không hân hoan, không mong đợi. Tôi lại một lần nữa làm kì đà cản mũi:
– Cậu bị làm sao vậy? Cậu cứu cô ấy là được rồi, sao lại nhận đứa con là con của cậu chứ?
Hắn lại giở trò biện minh cho mình:
– Cô ấy hoàn cảnh cũng tội lắm. Với lại đứa trẻ có tội gì đâu chứ? Đành rằng nó không phải là con mình, nhưng cậu nghĩ mà xem mọi người xin trẻ mồ côi về nuôi làm con thì sao?
Tôi cự lại:
– Đó là những người giàu có mà không có con, còn cậu còn trẻ, vả lại cậu có thể có những đứa con do chính mình đẻ ra mà.
– Tôi yêu cô ấy cậu à – Hắn thì thào, rồi cậu sẽ thấy vợ tôi tuyệt vời như thế nào – Hắn ra vẻ hài hước
Tôi một lần nữa lại ôm đầu kêu lên: “Cậu đúng là ngớ ngẩn, không giống ai”.
Không ai nghi ngờ gì về bé Mai – con đầu lòng của vợ chồng Hắn cả, vì ai cũng nghĩ nó là con Hắn, chỉ có tôi là biết rõ sự thật mà thôi. Sau bé Mai, vợ Hắn sinh thêm cho Hắn hai thằng con trai bụ bẩm, mà Hắn đặt tên là Hải, Sơn. Hắn tự hào khoe với tôi nhà Hắn có đủ núi, biển. sông, nước – vì vợ hắn tên Thủy. Vợ Hắn khéo tay, chịu khó, chìu chồng, yêu con hết mực. Hắn ngập tràn trong hạnh phúc. Rồi thì hai vợ chồng Hắn cũng xây dựng được một ngôi nhà ngói khang trang, và trong nhà sắm đầy đủ các tiện nghi, có của ăn của để. Cuộc sống như vậy đã là mơ ước của biết bao người. Nhưng rồi một hôm hắn lại tìm tới tôi với một vẻ mặt thiễu não:
– Tôi có một chuyện thật khó xử, tôi không biết phải giải quyết làm sao? Cậu giúp tôi với?
– Tôi quan trọng vậy sao? Mà là chuyện gì? Tôi cố đùa cho Hắn bớt căng thẳng
– Ba ruột con Mai tìm gặp tôi, xin nhận lại con?
Hắn còn muốn nói thêm điều gì – nhưng tôi đã ngắt lời, phản đối:
– Không được! Mai là con của cậu và Thủy, cậu nhất định không được đồng ý đâu đó. thằng Sở Khanh đó không có tư cách nhận lại con. Nó có bằng chứng lý lẽ nào đâu?
– Ban đầu tôi cũng giận lắm, cũng muốn cho hắn một nắm đấm vào ngay giữa cái bản mặt điểu cán khinh khỉnh của nó – nhưng nhìn nó tiều tụy quá, tôi có cảm giác nó đang đau nặng, sắp chết cậu à?
– Mặc xác hắn, Tôi bực tức hét lớn.
Hắn vẫn nhỏ nhẹ, kiểu mưa dầm thấm lâu:
– Ông ấy sắp chết, phải để Mai nhìn mặt ba nó chứ, nếu không thì không còn kịp cậu à?
– Vậy cậu muốn làm gì thì làm đi, hỏi tôi làm gì? Tôi trừng mắt nhìn Hắn.
Hắn thấy tôi giận không dám nói gì thêm, lẳng lặng đi về. Tôi không hiểu Hắn thuyết phục Thủy như thế nào mà sau đó hai vợ chồng Hắn dẫn bé Mai đi thăm người đàn ông kia, và để bé Mai ở lại bên ông ta những ngày cuối đời.
Dự án qui hoạch dất đai, một con đường mới sẽ được mở ngang qua nhà Hắn, và bỗng dưng những lô đất trước kia rẻ như bèo, Hắn mua chỉ để trồng thêm rau, cải ra chợ bán, kiếm thêm thu nhập, bây giờ lại trở nên có giá trị ngàn vàng. Vậy là vợ chồng Hắn tự dưng trở nên giàu có. Rồi dự án đình lại, khu đất lại trở nên hoang vắng như xưa, những người mua đất của Hắn cất nhà mặt mày trở nên ủ rủ, buồn hiu. Hắn lại sang bàn với tôi:
– Tôi và vợ tôi bàn với nhau lấy lại đất, trả lại tiền cho họ cậu à?
Tôi tròn mắt ngạc nhiên, nhưng tôi biết Hắn nói thật:
– Tại sao cậu lại làm như vậy? Thuận mua, vừa bán chứ cậu có ép họ đâu chứ?
– Tôi cũng biết như vậy, nhưng cứ nhìn thấy khuôn mặt buồn như đưa đám và nghe tiếng thở dài của họ là lòng tôi lại xốn xang không chịu nổi – Hắn phân bua
Tôi cố ngăn Hắn lại:
– Nếu cậu thấy khó chịu thì sẳn có tiền cậu lên huyện mua một ngôi nhà khác để ở, nơi đồng hoang, cỏ cháy này cậu luyến tiếc làm gì?
Tôi đã nói đến vậy rồi mà Hắn vẫn gàn, bướng:
– Họ làm cả đời mới có một ít tiền những tưởng mua được một nơi lí tưởng để làm nhà, vậy mà…. Tôi có cảm giác như đang đi lừa họ vậy?
Sáng hôm sau vợ chồng Hắn trả tiền lại cho những người mua nhà, và lấy lại đất. Hắn đã “khùng” rồi, không ngờ Thủy – vợ hắn, cũng “ ngớ ngẩn” theo. Cuối cùng Hắn cũng bán được đất của mình cho những người nghèo khổ, cơ nhỡ với giá rẻ mạt mà còn cho họ trả góp nữa.
Và lần này – không phải riêng tôi mà cả xóm đều có chung một nhận xét : “ Vợ chồng hắn không giống ai, lập dị nên luôn làm những chuyện không đâu vào đâu cả”. Nói vậy thôi, chứ mọi người trong cái xóm ai cũng yêu thương gia đình của Hắn. Họ xem Hắn như người thân của họ vậy. Hắn không trở nên giàu có như Hắn đã nói với tôi ngày nào, mặc dù Hắn có nhiều cơ hội. nhưng tất cả – ai ai cũng nghĩ và thấy rõ được rằng cuộc sống của gia đình Hắn đang thật Hạnh Phúc và tuyệt vời…
Đăng trong Văn xuôi | Thẻ Pablo Picasso, TRẦN MINH NGUYỆT | 46 Comments »
Nguyễn Tấn Lực
Em hẹn anh mùa xuân gặp gỡ
Mà bên anh chỉ có mùa thu
Nắng hanh vàng hàng cây trụi lá
Sương trắng giăng như cõi sa mù
.
Em hẹn gặp anh mùa nước lớn
Mà nơi anh chỉ có nước ròng
Sông nhớ cạn nguồn khô thôi chảy
Chắc anh về ở cạnh nhà em ?
.
Em hẹn yêu khi em… dài tóc
Mà tóc em sao chẳng chịu dài
Anh ngóng đợi muốn mòn con mắt
Tóc ngắn yêu thì có sao đâu ?
.
Em hẹn yêu anh, khi… đã lớn
Mà bên anh, em bé con hoài
Cứ nũng nịu đòi anh bánh kẹo
Hôn một lần, em lớn cho coi !
.
Em hẹn cưới khi mùa xuân đến
Mà thời gian sao chậm như rùa
Anh muốn mình mau thành chồng vợ
Nên mùa nào cũng được em ơi !
Đăng trong Thơ ca | Thẻ Nguyễn Tấn Lực | 32 Comments »









