Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn xuôi’ Category

Quán cũ

TRẦN QUANG KHANH


Hai mươi năm trước, chẳng hiểu vì sao sáng sáng chúng tôi lại chọn ngồi ở đó. Quán cà phê vườn bé nhỏ, bên đường, không có tên. Cây chanh sau cánh cổng nhỏ cứ bị mé nhánh dần để khỏi bị vướng vào khách càng trở nên khẳng khiu, cao lêu nghêu được chúng tôi mượn danh đặt tên cho quán. Quán Cây Chanh! Mà có lẽ cái tên ấy cũng chỉ dành riêng cho chúng tôi; chỉ của nhóm nhà báo, nhà thơ, họa sĩ… sáng sáng gọi tên và tụ tập.

Quán giản đơn với vài bộ bàn ghế nhựa cũ, cái bình trà sức vòi, cái tách trà mẻ miệng. Chủ quán là hai chị em gái cập kê không xấu và hiền lành; cà phê pha không dở nhưng cũng chẳng quá ngon. Vậy mà lạ, đám văn nghệ sĩ trẻ hoạt náo chúng tôi cứ chọn, cứ ngồi đồng sáng sáng hằng năm này qua năm khác. Câu chuyện mỗi sáng cũng chỉ là những thông tin trên báo, trong giới, rồi chuyện tiếu lâm, chuyện gái trai… Và những tràng cười vô tư lự. Đôi lúc cuộc tụ tập còn để nhà báo đặt bài cho nhà thơ viết báo hay nhà thơ phẩm bình nhà báo làm thơ. Sự tụ tập thường xuyên và sự thân thiết của nhóm bạn tụ tập đến nỗi có kẻ tò mò rình rập, hóng hớt…

Rồi nhóm bạn tụ tập ở quán cứ thiếu hụt dần… Người bận bịu, kẻ đi xa?… Và cũng chẳng nhớ tự lúc nào những người cuối cùng trong nhóm bạn cũng thôi ngồi cái quán ấy. Cũng chẳng ai hay cây chanh sau cổng quán bị bứng đi, bị sâu đục hay ngã chết từ lúc nào. Thỉnh thoảng đi ngang qua quán cũ, mỗi người trong nhóm bạn lại ngoái nhìn vào cổng quán thiếu sự hiện diện của cây chanh như nhìn vào khoảng trống của ký ức mình…

 

Rồi một chiều sau bao lần hẹn không thành, vài người trong nhóm bạn lại kéo nhau vào quán cũ. Vẫn những bàn ghế cũ, cái bình sức vòi, cái tách mẻ miệng… song đã thấy trên mỗi chiếc bàn có thêm cái dĩa nhựa ghi hàng chữ nguệch ngoạc trên giấy đè bên trên là lớp keo trong “dĩa đựng nước thừa”; chiếc ghế đệm bây giờ được phủ lên lưng ghế tấm vải mùng vàng ố màu cháo lòng… Mọi thứ khập khiễng…

Chủ quán vẫn là hai chị em. Họ cùng khu vườn nhỏ đã đón ngàn ngàn lượt khách đến uống cà phê. Song với ngôi nhà phía trong thì chưa hề một lần đón bóng đàn ông. Hai cô gái vẫn chưa có chồng! Nhìn lại họ sau hai mươi năm mới thấy sức tàn phá ghê gớm của thời gian với tuổi thanh xuân.

Chúng tôi gọi cà phê. Rất lâu cô chủ (là em) mới mang ra cái bình trà, mấy cái tách. Rồi lại rất lâu cô chủ (là chị) mới mang ra mấy ly cà phê có cái phin nhôm xỉn màu ở phía trên… Họ nhìn chúng tôi nụ cười héo hắt…

Tôi cảm nhận sự khác xa quá đỗi của quán Cây Chanh hai mươi năm trước.

Hai cô chủ quán đã chậm chạp rồi!

Và cả chúng tôi cũng khác. Cả bọn ngày xưa, điểm danh lại đã mất đi hẳn vài người. Bởi người thì vĩnh viễn đi xa, người thì “quay lưng” đến nỗi không thể ngồi chung bàn với người bạn cũ…

T.Q.K

Read Full Post »

Ấm lạnh xứ người

Sương Nguyễn

Sáng nào bà Năm cũng dậy thật sớm , lo cho các con ăn sáng . Khi thì một chảo cơm chiên lạp xưởng, khi thì nồi bún riêu . Bà được con bảo lãnh qua hơn một năm rồi . Lúc mới qua , bà buồn lắm , con cái đi làm hết , bà mở cửa lớn nhìn hai bên hàng xóm , nhà nào nhà nấy cửa đóng im ỉm, không một bóng người đi qua đi lại . Con bà trước khi đi làm có dặn bà là không được mở cửa cho người lạ vào nhà , không được chạy qua nhà hàng xóm để nói chuyện . Ở bên nầy nhà người nào ngừơi nấy ở , tuyệt đối không được chạy qua chạy lại nhà họ như ở VN . Con bà có dặn bà cũng dư thừa , có biết tiếng Anh ,tiếng u gì đâu mà nói chuyện với người ta .Riết rồi cũng quen, bà ra sức trổ tài nấu nướng cho các con ăn , thì giờ còn lại bà làm bạn với những cuộn phim bộ Đại Hàn , cười cười, khóc khóc với những nhân vật trong phim .

Năm 1980 bà bán cái nhà cho thuê ở gần chợ Tân Định , gom được một số vàng cho bốn đứa con đi vượt biên . Nhờ ơn trời Phật phù hộ và phước đức ông bà để lại , chuyến đi trót lọt và hai năm sau đó ,các con bà được định cư ở Mỹ . Khi thằng Hai đã yên bề gia thất , các em nó đã ra trường, có việc làm ổn định , chúng nó hùn tiền lại mua một căn nhà lớn , 5 phòng ngũ , lúc đó chúng mới nghĩ đến chuyện bảo lãnh cho bà qua sum họp một nhà . Cũng may là bốn đứa con đều có công ăn việc làm ở gần nhà , không thôi bà phải khăn gói nay ở với đứa này vài bữa, mai ở với đứa khác vài bữa . Khổ lắm !

Xem xong một tập phim, khóc gần hết nước mắt vì mũi lòng với tình cảnh người cha trong phim . Thấy hai cô con gái khổ sở vì nghèo túng phải đi cầu cứu sự giúp đỡ của người cha giàu có của mình , bị cha đuổi ra khỏi nhà và rốt cuộc bị tai nạn chết dọc đường, bỏ lại hai cô con gái còn nhỏ bơ vơ, không nơi nương tựa . Bà xem đồng hồ , đã quá hai giờ , đến giờ nấu cơm cho các con . Bà lấy cá thịt, rau, trái cây bỏ trên quầy nhà bếp , chuẩn bị nấu cơm tối và làm bánh trái cây tráng miệng cho chúng .

Thằng Hai về trước tiên, kế đến con vợ nó . Chúng nó chun mũi lại, hít lấy hít đễ :

– Mẹ nấu cái gì mà thơm quá vậy mẹ ? Bữa nay mẹ cho chúng con ăn món gì vậy ?

-Mẹ đang làm bánh trái cây , bữa nay mẹ um lươn với bắp chuối, thịt sườn kho rim và canh chua cá bông lau .

Con Đào với thằng Kiên , Tuyền cũng vừa bước vào :

-Nhất mẹ rồi ! không ai nấu nướng ngon bằng mẹ của con .Từ ngày mẹ qua đến giờ con không có tốn tiền ăn vặt ở ngoài đường nữa .

Bà ngồi nhìn các con ăn mà thương chúng vô cùng . Đã lớn đầu mà còn ăn uống ham hố như hồi còn nhỏ . Gặp món gì ngon là chúng chỉa ngay món đó ăn trước và ăn ràu ràu như tầm ăn dâu . Không ai nuôi con dễ như bà , đồ ăn vừa nấu xong để trên bếp , quay qua quay lại là hết sạch, không đợi dọn lên mâm lên bàn . Con bà lúc nào đi học về cũng kêu vang đói bụng và lấy tô ăn ngay trên bếp . Bởi vậy, chúng cao lớn , dềnh dàng như người ngoại quốc , chúng nó bảo với bà nhờ vóc dáng như vậy vào làm việc chung đụng với người ngoại quốc , không bị họ ăn hiếp . Bà tuy buồn vì xa quê hương đất tổ, xa bà con hàng xóm láng giềng nhưng bù lại được sống gần gũi con cái là bà vui rồi . Ngày ngày chỉ mong chúng tan sở sớm về nhà để thưởng thức những món ăn mà bà đã bỏ cả ba bốn giờ để sửa soạn và nấu nướng công phu bằng lửa riu riu để cho đồ gia vị thấm vào thịt hay cá.

Nấu những món ăn thuần túy quê hương và có một hương vị độc đáo là sở trường của bà , bà muốn truyền nghề lại cho con Đào, nhưng con gái bà chả muốn học , nó dành hết thì giờ của nó để o bế cái vóc dáng bên ngoài . Bà thở dài , sang bên này,cái gì cũng ngược lại quê nhà , con gái chỉ chú trọng đến sắc đẹp và quần áo, tụi nó không chú trọng gì đến cái nết na thùy mị , đoan trang hay học nấu ăn ,làm bánh để chuẩn bị làm vợ , làm mẹ như thế hệ bà ngày xưa .

Bà cảm thấy mệt mỏi sau khi coi xong hai tập phim bộ liên tiếp, bà đứng dậy hé màn nhìn ra bên ngoài . Đường sá vắng ngắt, không một bóng người . Xứ sở gì kỳ cục ! Lạnh lùng như nước đá , giá như nhà hàng xóm có người chết trong nhà , nhà sát bên cạnh cũng không hề hay biết gì . Nếu không có đám con nít sau giờ học, chạy nhảy la hét rân bần ở sân trước , khu nhà tĩnh mịch trông giống như một khu nhà hoang vào buổi sáng .

Bà vào phòng lấy quần áo, chuẩn bị tắm rửa trước khi sửa soạn nấu bữa cơm tối cho các con . Bận quần áo xong , bà bước trệch ra ngoài miếng thảm lót, chân dẫm lên vũng nước ở ngoài bồn tắm, bà mất thăng bằng ,trợt té xuống, đầu đập mạnh lên thành bồn . Bà hôn mê bất tĩnh, không còn biết chi nữa .

Khi vợ chồng Lâm , Đào , Kiên và Tuyền về đến nhà , thấy bếp núc lạnh ngắt . Biết có chuyện chẳng lành, họ hốt hoảng chạy tuôn vào phòng tìm mẹ . Thấy mẹ nằm dài trong buồng tắm còn thở thoi thóp , Lâm gọi xe cứu thương nhưng đã trễ ,bà Năm đã biến thành người bán thân bất toại , nằm một chỗ, không tự lo cho mình được .

Sau khi xuất viện về nhà, bà Năm trở thành một gánh nặng cho các con bà . Chúng xin đổi ca làm , thay phiên nhau ở nhà để săn sóc cho bà . Khổ nhất là vấn đề làm vệ sinh cho mẹ , thật là khó khăn khi phải tắm rửa, gội đầu hay thay tả cho mẹ . Cuối cùng chúng đi đến quyết định là đem bà vào viện Dưỡng Lão . Dù nói không được, bà nhìn các con van lơn , nước mắt chảy dài , muốn nói

-Mẹ không muốn! Mẹ không muốn ! mẹ là người quê mùa, chất phát người ta sẽ khinh mẹ . Mẹ không ăn được đồ Mỹ ,các con hãy tìm người về nhà săn sóc cho mẹ .

Nhìn nước mắt mẹ chảy dài , các con bà Năm hiểu bà Năm muốn gì , nhưng chúng giả vờ như không hiểu vì chúng nó còn trẻ, còn yêu đời . Chúng không muốn mỗi ngày đi ra đi vào thấy một xác chết chưa tắt thở, nằm hiu hắt trên giường bệnh . Đưa bà vào viện Dưỡng Lão là xong chuyện

Đêm đầu tiên ở Viện Dưỡng Lão , bà Năm ngủ không được . Đèn mở suốt đêm ở ngoài hành lang, người bạn già người Mỹ ở chung phòng,khuôn mặt nhăn nhúm , đôi mắt buồn da diết , chốc chốc lại khóc nấc lên :

– Michael ơi ! sao con không vào thăm mẹ ? Michael ơi !

Bà cũng nhớ con nhưng bà khóc trong âm thầm lặng lẽ . Bà oán trách trời xanh cay nghiệt đã làm cho bà thân tàn ma dại , không cho bà cùng với các con đi trọn suốt đường trần .

Đến sáng họ dọn trước mặt bà một tô cereals với sữa và một ly nước cam . Bà thều thào ra dấu với người nữ y tá : cháo ! cháo ! nhưng cô ta không hiểu ý bà muốn nói gì . Bà uống cạn ly nước cam trong khi bụng đói làm cho bao tử bà cồn cào, khó chịu thêm lên .

Giữa trưa , cô y tá bưng một khay thức ăn đặt trên giường bà với một ly sữa . Bà ngồi nhỏm dậy nhìn mâm thức ăn , rồi lại nằm xuống . Đói lả người mà ăn những thứ đó ăn cũng không vô . Ai đời mà cho người già cả và bệnh nhân ăn đồ sống sít : rau dền Mỹ sống , nấm trắng cắt mỏng sống, một lát meatloaf ăn xảm lơ . Ít nhất họ cũng phải biết cuống họng người già không được bình thường, dễ bị sặc , chỉ ăn được những đồ mềm như cháo , cá, yogurt , soup hay khoai tây tán nhỏ . Bà vói tay lấy ly sữa uống sạch thay cho bữa trưa . Một giờ sau cô y tá quay trở lại , thấy mâm đồ ăn còn y nguyên, nghiêm khắc nhìn bà lắc đầu rồi đem đổ mâm đồ ăn vào thùng rác .

Ngày qua ngày , bà càng ngày càng tiều tụy . Tháng đầu tiên con bà vô thăm thường xuyên , mỗi lần thấy con , bà nắm lấy tay nó mà hai hàng nước mắt lăn dài . Bà ra dấu với nó là bà muốn về nhà . Chúng vỗ về .

-Má cứ ở đây ! người ta săn sóc cho má chu đáo . Họ có những dụng cụ y khoa đặc biệt có thể tắm rửa cho má dễ dàng . Về nhà tụi con bận phải đi làm , làm sao các con có thì giờ lo cho má được .

Họ lo cho má chu đáo lắm với những khuôn mặt lạnh lùng , không cảm xúc . Không dỗ , mớm đút mỗi khi người già trở chứng , không chịu ăn . Bỏ người già trần truồng trên xe lăn, cột chặt lại. rồi quây tròn dưới vòi nước , dùng bàn chải lớn thoa xà phòng , kỳ cọ khắp người họ , mặc cho mấy bà già la chói lói vì sợ nước , vì tia nước ra đầu tiên bao giờ cũng lạnh cóng , làm cho họ run lẩy bẩy . Đa số người Mỹ không thương hại người già yếu , họ chỉ quan tâm đến con cái hay con mèo, con chó nuôi trong nhà mà quên đi mất mình còn cha hay còn mẹ đang chờ chết trong viện Dưỡng Lão .

Trường hợp bà Năm không ngoại lệ . Đến tháng thứ hai , thỉnh thoảng chúng nó mới vô thăm bà mặc cho bà buồn tủi vì nhớ nhung các con . Bà gầy ốm thấy rõ vì không ăn được đồ ăn Mỹ . Ăn được hay không được , con bà chẳng quan tâm vì chúng đang hò hẹn, chuẩn bị xây tổ ấm mới và dọn ra ở riêng .

Liên gọi cho Đào : Cuối tuần nầy mình không làm thêm giờ phụ trội . Đào dẫn mình đi thăm bác gái đi .Từ ngày nghe tin bác bệnh tới giờ, mình không rảnh được một ngày để đi thăm bác .

-Mình có hẹn sáng mai đi biển với anh Luân rồi . Hay là bồ đi một mình đi, dễ tìm lắm . Từ Freeway 10 đi đường North Gessner qua khỏi Kempwood thì viện Dưỡng Lão nằm bên trái , phòng số 42 .

Thấy Liên bước vào phòng, bà Năm nhìn ngóng ra cửa, tưởng Đào đưa Liên vào thăm bà . Hiểu ý, Liên nói dối với bà .

-Đào bận làm thêm giờ cuối tuần, không đi với con được , con đi một mình .

Nghe tôi nói xong, bà rơm rớm nước mắt , không biết là vì tủi thân hay là vì biết tôi nói dối . Tôi lấy khăn lau nước mắt cho bà , xót xa nhìn bà gầy còm , da bọc xương . Tôi lột vỏ nho, lấy hột , đút cho bác ăn .

-Sao bác xuống cân nhanh quá như vậy ? Bác sĩ bảo bác chỉ bị tê liệt nửa người, cơ thể bác rất khỏe mạnh, không có bệnh gì khác .

Bác thều thào ra dấu : Đói ! không ăn được đồ Mỹ . Bác thèm canh chua , cá kho tộ, thịt kho .

Tôi hứa với bác ,lần sau vào thăm sẽ đem lén cho bác một ít và nấu thật mềm . Lời hứa của tôi đã không thực hiện được . Hai tuần sau đó tôi được tin bác mất trong viện Dưỡng Lão .

Tôi bước chân vào nhà quàn Thiện Tâm , trầm hương nghi ngút. Có các vị thượng tọa và các ni cô đang tụng kinh cho hồn bác được siêu thoát .Bác nằm thật an bình ,chung quang bác là những vòng hoa huệ ,cúc và hoa hồng trắng thơm ngát . Các con bác trong bộ đồ tang, nước mắt lưng tròng , sì sụp lạy trả những người khách đến thăm viếng . Khách thầm thì to nhỏ . Bác thật có phúc ! được con cái lo chu đáo như thế kia . Lần đầu tiên tôi thấy một đám tang có nhiều hoa như vậy ! Chắc cái hòm đó mắc tiền lắm thì phải ? Không một ai trong đám khách biết là người nằm trong hòm chết vì đói .

SƯƠNG NGUYỄN

Read Full Post »

Phận bạc


Truyện ngắn của Nguyễn Quang Quân

 

          Ở vùng Sông Tình, có người con gái họ Nguyễn xinh đẹp và nết na. Sinh ra trong một gia đình nho giáo, nàng cũng theo đòi đèn sách. Cha là một học sanh, học rất giỏi, lúc mười bảy tuổi đã vào trường Giáo phủ Tuy Viễn, mỗi năm hai kỳ sát hạch, văn tài của ông thường được các giáo thụ khoa bảng xếp hạng ưu. Nhưng học tài thi phận, dự hai khóa thi hương cũng chỉ vào được trường nhì. Tự nghĩ mình không có số khoa bảng, ông về nhà mở trường dạy học. Vì là người học rộng, tuy không đỗ đạt gì, nhưng được kẻ sĩ hàng phủ huyện nể vì, học trò thụ giáo rất đông. Người anh cả cũng được tiếng thông minh học giỏi, năm hai mươi tuổi trúng tuyển làm học sanh trường Đốc tỉnh, được các thầy ngợi khen và tin tưởng tương lai sẽ là ông Cống, ông Nghè của tỉnh, tiếc thay ông thất lộc sớm vì bạo bệnh, trong lúc tiền đồ đang rộng mở. Chỉ ba hôm sau, vợ ông cũng đi theo để lại trên đời một đứa con trai mà ngay lúc còn thơ ấu đã bộc lộ tư chất thông minh dĩnh ngộ.

          Tuy là thân con gái, nhưng từ nhỏ nàng lộ rõ vẻ thông minh, sáng láng, đã theo học chữ Nho từ cha, rồi anh cả mình trực tiếp chỉ dạy. Học đâu nhớ đó, tuy không đọ sức nơi trường thi, nhưng chữ nghĩa đủ hiểu sách vở thánh hiền, đối đáp văn chương linh lợi.

          Một hôm, nàng qua nhà anh cạnh đó để nghe lóm giảng sách. Thấy nhà còn đóng cửa, mà đám học trò thì đang bàn tán xôn xao. Nàng hỏi qua mới biết, học trò đến học, thấy nhà đóng cửa mà bên trong thì nghe có tiếng rúc rích và tiếng giường kêu ọt ẹt, các trò bấm nhau cười. Thầy nghe thế liền ra câu đối, bảo nếu đối được thì mới mở cửa cho vào học :
” Sĩ đáo ngoại gia, thầm bất thầm, thì bất thì, thầm thì thầm thì”.

          Các anh học trò trên tuổi nàng bí quá không biết đối sao. Nghe thế, nàng mỉm cười, hồn nhiên bảo: Thầy thương các anh nên chỉ ra một câu đối quen thuộc của dân gian. Thế thì các anh dùng câu này đối lại :

        ” Sư ngọa trung phòng, ọt bất ọt, ẹt bất ẹt, ọt ẹt ọt ẹt!”

          Quả nhiên, câu đối vừa đọc lên, đã nghe tiếng khen của thầy: “Được lắm!” và hai cánh cửa rộng mở, học trò mừng rỡ ùa vào phòng học.

          Đến tuổi cài trâm, nàng như một bông hoa đồng nội thơm nức sắc hương, bao nhiêu chàng trai nhìn ngó quanh nhà, bao đôi mắt dõi nhìn khi nàng bước chân ra khỏi cổng. Nhiều công tử nhà giàu trong phủ, ngoài huyện đánh tiếng mối mai, nhưng nàng vẫn thờ ơ, từ chối.

          Hôm đó, có công tử con nhà thế gia trong huyện, bạn học của anh nàng đến thăm. Hai người ngồi nhà trên luận bàn thi phú. Anh nàng muốn giới thiệu cô em gái giỏi giang của mình cho bạn, nên đã dặn trước vợ mình nhờ em lo trà nước tiếp khách. Nàng vừa bưng nước lên, rót trà mời anh và khách, thì khách đã sỗ sàng cất tiếng:

– Này, nghe tiếng cô em hay chữ, nhờ cô giải giúp chữ này nhé!

Nói xong, anh ngâm nga:     

Lưỡng Nhật, bình đầu nhật.
Tứ Sơn, điên đảo sơn.
Lưỡng Vương, tranh nhất quốc.
Tứ Khẩu, tung hoành gian.

          Đó là chữ gì vậy cô?

          Nàng lễ phép thưa:

         – Các anh là người tài cao, học rộng, hà cớ hỏi em chi? Nhưng thầy đã hỏi thì em xin đáp: Đó là chữ Điền.

         – Cô giải thích rõ xem sao!

         – Có gì khó hiểu đâu! Đó là chuyện cụ Trạng Mạc Đĩnh Chi đối đáp sứ Tàu. Câu đố có thể diễn giải như sau: Hai hình chữ nhất để bằng đầu, sóng hàng nhau – các cạnh của nó tạo ra chữ Điền. Bốn trái núi, điên đảo. Bốn chữ Sơn sắp ghép theo hai chiều, dọc – ngang, cũng tạo thành chữ Điền. Hai ông vua tranh nhau một nước. Hai chữ Vương ghép lại trên, dưới – cũng thành chữ Điền. Bốn cái miệng ở trong khoảng dọc, ngang – bốn chữ Khẩu ghép lại cũng tạo thành chữ Điền.

          Thì ra cô đọc sách nhiều, kiến văn rộng, biết được giai thoại này, nên có thể giải ngay một câu đố khó đã làm cả vua tôi nước Nam lúng túng.

          Chàng công tử ngẩn người ra nhìn cô gái, một mối xúc cảm dậy lên trong lòng: Cô ấy thật xinh đẹp và tài hoa, tiếng đồn quả chẳng sai! Sau lần gặp, chàng đã phải lòng cô gái, mấy tháng sau, chàng thưa chuyện với cha mẹ, xin hai thân hỏi cưới cô gái ấy cho mình. Hai nhà đều là thế gia trong huyện, môn đăng hộ đối, kết sui gia với nhau cũng tốt. Nhưng rồi….

          Lúc ấy gia đình nàng rơi vào cơn quẫn bách. Vợ chồng anh cả qua đời, để lại đứa con côi mà cha mẹ nàng phải nuôi dưỡng. Rồi cha buồn cảnh nhà cũng mất sớm. Gia đình trong cơn khủng hoảng, lâm vào hòan cảnh khó khăn, túng thiếu. Là thân con gái lớn, nàng phải trực tiếp săn sóc mẹ già, đứa cháu côi và đàn em bốn đứa sau mình.

          Bao nhiêu việc nhà, ruộng nương, vườn tược, một tay nàng quán xuyến. Thế là tuổi cập kê qua đi nhanh chóng. Quanh năm suốt tháng đầu tắt, mặt tối lo toan công việc gia đình, không làm dung nhan tàn phai, ngược lại nhan sắc nàng ngày càng ngời ngợi, rực rỡ như ánh trăng rằm, mười sáu sáng rỡ. Ba, bốn năm sau, nhờ đôi tay thu vén của nàng, cảnh nhà đã trở lại phong lưu, thóc lúa đầy kho, của ăn của để sung túc. Mẹ già nhìn đứa con gái lớn mỉm cười tự hào, nhưng lòng vẫn đau đáu niềm riêng. Sao con lại phải muộn chồng?

         Năm nàng mười chín tuổi, vâng lời mẹ và anh, nàng nhận lời kết duyên với một chàng thư sinh tân học, làm thư ký công sở, con ông Chánh làng bên. Ngày thành hôn, chú rể đau nặng phải võng đến nhà gái run rẩy làm lễ. Về nhà chồng, nàng một thân cáng đáng mọi việc, chăm sóc cha mẹ tuổi già và nuôi chồng đau yếu. Bệnh ông mỗi ngày một nặng, bao nhiêu thuốc thang cũng không chữa khỏi. Mấy tháng sau ông qua đời, chưa kịp động phòng với người vợ mới cưới!

         Cha mẹ chồng khóc thương con trai đầu xanh ra đi, thôi đành phận số. Nhìn đứa con dâu hiếu nghĩa đủ đường, lại càng áo não hơn. Ông bà vẫn khuyên nàng quên đi đau buồn, đi thêm bước nữa.

         Sau ba năm, nàng tái duyên với một ông học vấn tầm thường, nhưng tốt tính. Từ trước, ông vẫn mến mộ nàng, nhưng không dám hỏi. Lần này, trớ trêu thay, ngày cưới nàng đau liệt giường. Võng hoa cô dâu là võng đưa người bệnh, người nhà cố gắng dìu đỡ nàng làm lễ. Từ đó, ông chăm sóc người vợ đau yếu của mình hết lòng, cho đến ngày bà mất. Duyên số trêu phận má hồng đến cay nghiệt!

         Nghe đâu, đến phút lâm chung, nàng vẫn gượng cầm lấy tay ông, mắt nhòa lệ mà như mỉm cười, đọc câu thơ tuyệt mệnh:

                  Hai chồng, em vẫn còn trinh

          Phận sao bạc đến duyên tình trống không!

 

12.3.2011

 

 

 

 

 

 

Read Full Post »

Itala Elena Pucillo Trương

Cesare Pavese- cuộc đời và tác phẩm

Sự chọn lựa  tiểu thuyết “Mùa hè tươi đẹp ” của tác giả Cesare Pavese để dịch sang tiếng Việt trước hết  do giá trị văn học[1]  của tác phẩm và sau đó là tầm quan trọng  của tác giả trong nền văn học Ý trong thế kỷ XX .

Được viết từ 1949, bối cảnh là lối sống của lớp trẻ tại miền Bắc Ý sau thế chiến II, nhưng tính đương thời (contemporaneita’) của tiểu thuyết vẫn còn đậm nét vì phản ảnh sâu sắc hoàn cảnh xã hội Việt Nam trong thời hội nhập : Cùng với tăng trưởng kinh tế là lối sống buông thả,  khởi đầu  cho sự đánh mất những giá trị đạo đức. Tính hiện thực và khả năng khai thác tâm lý nhân vật cũng được  tác giả  thể hiện qua cách viết và sử dụng ngôn ngữ khác lạ, đến nay vẫn còn giữ nguyên phong cách hiện đại.

*

Đến với các tác phẩm của Cesare Pavese chúng ta sẽ liên tục khám phá: Ngoài tiểu thuyết người đọc còn gặp nhiều bản dịch của các tác giả Anh, Mỹ và  trong cùng  thể loại  cũng luôn có  rất nhiều sự khác biệt. Sự  khác biệt này đã được tác giả tái tạo, bắt đầu từ  văn phong đa dạng, cách  xếp đặt các bối cảnh liên quan đến cách sử dụng ngôn ngữ phong phú… để người đọc khỏi nhàm chán  rồi dẫn họ nhận thức về những quan điểm khác bằng sự tế nhị và nhạy cảm của mình. Ngoài ra, có lẽ không phải là một sự tình cờ mà một trong những tác phẩm cuối cùng của ông lại là một tập thơ mang tựa đề “ Cái chết sẽ đến, nó có đôi mắt của em”, như một dự báo cho việc tự sát, một thông điệp mà cũng là lời từ biệt… đã làm tác giả nổi tiếng, và trở thành một trong những tác giả Ý được đọc nhiều nhất trong thế kỷ XX.

Trong những trang viết cũng như qua thư từ, rất nhiều lần Pavese nói về ước muốn được nổi tiếng, không chỉ riêng mình mà  còn cho  nơi ông ra đời, một ngôi làng chỉ có những túp nhà nho nhỏ và sình lầy.

Ông đã viết như thế này :

Quê  tôi  chỉ có những túp nhà nho nhỏ và bùn lầy, nhưng nó  nằm kề con đường liên tỉnh mà ngày nhỏ tôi hay chơi đùa. Xin nhắc lại, tôi là một kẻ có nhiều tham vọng, tôi muốn đi khắp  thế giới, đặt chân đến những miền đất thật xa  rồi quay lưng  và nói với người hiện diện:“ Các bạn chưa bao giờ nghe nói đến một ngôi làng chỉ có bốn mái nhà phải không? Đây, tôi đã  đến đây từ đó”.

Ngôi làng nhỏ đó có tên là Santo Stefano Belbo, thuộc vùng Langhe của tỉnh Cuneo, nơi Pavese đã chào đời vào ngày 9/9/1908. Nhưng ông đã sớm rời gia đình để sinh sống ở thành phố Torino, và trong lòng chưa bao giờ khuây khoả nỗi nhớ quê xưa.

Cha chết khi ông còn rất nhỏ và sự mất mát này đã ảnh hưởng rất nhiều đến tính cách của cậu bé, vốn nhút nhát nhưng cộc cằn và khép kín, tuy yêu sách vở và thiên nhiên nhưng luôn tìm cách cô lập mình với người khác. Sau khi chồng mất, với bản tính lạnh lùng và cẩn trọng, mẹ ông đã giáo dục con như một người cha khô khan và nghiêm khắc chứ không như một người mẹ ngọt ngào và  trìu mến.

Khi sống  và tiếp cận với  thực tại điên cuồng của một thành phố kỹ nghệ lớn và đầy sương mù như Torino, Pavese  càng biểu hiện tất cả những bất an sâu sắc về sự hiện sinh, những ám ảnh tâm lý và bắt đầu đi tìm kiếm sự chân thực.

Như tất cả những chàng trai trẻ, Pavese cũng mang trong lòng đầy mâu thuẫn và nhiều xung đột, với một sự nhạy cảm mà không giúp được gì nên ông hành động theo ý nghĩa tiêu cực và tự làm hao mòn những xác tín lên số phận của mình. Trong các bức thư của ông thường nhắc đến một thói tật vô lý, như một mời gọi cho sự tự sát, báo trước cho số phận bi thảm của mình. Có lẽ  chính vì nỗi bất an đó mà ông phải đi tìm một biện pháp khắc phục bằng cách thực hiện các thành tựu nghệ thuật, nhất là qua các tác phẩm văn học, giống như kẻ  “ Đi tìm thời gian đánh mất” của Marcel Proust.

Thiếu khả năng đối phó với cuộc sống,  ông đã gặp vô vàn khó khăn trong quan hệ giữa người và người; Sống, đối với Pavese đã trở thành một “nghề” cần phải học trong đau đớn và trong tình huống đó, nghệ thuật với ông đã trở thành một sự cần thiết nhằm thay thế sự sống. “Tôi đã học viết  nhưng chưa học sống” nên viết lách đã trở thành biện pháp duy nhất, khả năng duy nhất để ông biết mình đang sống và cảm thấy mình hạnh phúc dù chỉ trong chốc lát. Pavese viết : “ Chỉ khi viết tôi mới là người bình thường, quân bình và bình an”. Đối với văn học trong thế kỷ XX tính xác thực của thi ca được xác định bởi tầm nhìn phiền muộn của con người, được nuôi dưỡng  trong số phận đầy âu lo. Tính xác thực và cái chết với ông như đã trở thành đồng nghĩa, vì sống là “Chuẩn bị cho cái chết”.

Cùng với nhu cầu tuyệt vọng về tình yêu, khởi nguồn từ sự cô đơn và ý muốn vượt thoát sự cô độc, tự mâu thuẫn giữa những lời tuyên bố đầy kiêu hãnh về mình và ý thức về sự thiếu khả năng vui sống, Pavese  đã chọn văn học như một giải pháp nhằm giải quyết  các xung đột  nội tâm.

Tuy vậy trong các tác phẩm của ông cũng có vài lần ghi lại  hạnh phúc trong đời mình, đó là các buổi thảo luận trong các quán ăn với công nhân, với những người bán hàng rong, những con người  vô danh và tầm thường, nhưng về sau tất cả đều trở thành nhân vật trong tiểu thuyết của ông. Ông luôn có cảm giác là mình còn trẻ, được tái sinh và trong những năm cuối cùng của đại học, bởi trong đời tư của ông có sự tham gia của một người mà sau này trở thành trung tâm của linh hồn ông: “ người đàn bà có giọng khàn khàn”. Cesare Pavese như bị biến đổi hoàn toàn: Trong suốt thời gian đó lúc nào ông cũng có cảm giác là người đàn bà ấy ở bên cạnh mình, ông  bỗng trở nên tử tế, nhân bản,  trìu mến, cởi mở với mọi người. Người đàn bà đó đã  mang  đến cho ông sự say đắm của tuổi thơ, khuôn mặt của nàng “như một đám mây”, nhưng đó là một áng mây ngọt ngào  bay giữa trời xanh lơ lửng trên những ngọn đồi của quê ông.

Năm 1930,  lúc chỉ vừa 22 tuổi ông tốt nghiệp đại học với luận án  về sự lý giải  thi ca của Walt Whitman và bắt đầu cộng tác  với tạp chí “ Văn hoá ”. Ông dạy học vào buổi tối ở các trường tư thục, nhưng đồng thời cũng dịch rất  nhiều tác phẩm văn học của Anh và Mỹ  và trong thời gian rất sớm ông đã nổi danh. Dường như những năm tháng trung và đại học đã giúp cho chàng trai cô độc  tìm được những  gắn bó bạn bè:  điều này giúp  anh  hiền hơn  trong các cuộc bút chiến và phẫn nộ trong văn học.

Năm 1931, chỉ vài tháng sau khi tốt nghiệp thì mẹ mất: vì chưa có dịp tỏ bày lòng ngưỡng mộ và chứng minh tình thương cùng sự trìu mến của mình với mẹ, niềm ân hận đó đã tạo nên một đường rãnh sâu sắc và cay đắng trong tâm hồn  tác giả. Còn lại một mình, ông chuyển về sống với cô em  Maria, và ở lại bên cô cho đến lúc chết.

Cũng trong năm 1931 bản dịch đầu tiên của ông “ Ngài Wrenn của chúng ta” của tác giả Sinclair Lewis được in ở thành phố Frenze. Việc dịch thuật có một tầm quan trọng không chỉ với cuộc đời tác giả mà còn cho nền văn học Ý nữa, vì nó đã mở ra một  cánh cửa cho một thời kỳ mới  của tiểu thuyết Ý. Với những bản dịch của mình, ông đã giúp người đọc biết được các chiều kích vô cùng lớn lao của lòng khao khát tự do, cùng với ý nghĩa bi thảm, xem  cuộc đời vô ích  và đến cả động tác cuối cùng của cuộc đời, tự tử.

Năm 1933  khi nhà xuất bản Einaudi   được thành lập và vì tình bạn với Giulio Einaudi, Pavese tham gia các dự án của nhà xuất bản với sự nồng nhiệt: có lẽ đây là những năm tháng tốt đẹp nhất của tác giả  cùng với một “người đàn bà có giọng nói khàn khàn”, một trí thức tốt nghiệp toán và tham gia tích cực trong phong trào chống phát xít. Vì liên can đến người đàn bà này, ngày 15/5/1935 ông bị bắt vì tình nghi chống phát xít, bị xử tù 3 năm và giam giữ ở Brancaleone Calabro thuộc miền Nam nước Ý.  Ba năm nhưng về sau được giảm xuống ít hơn một năm nhờ đơn ân xá, ông được thả vào tháng 3- 1936, nhưng sự trả tự do này  oái ăm thay lại trùng hợp với  sự thất vọng cay đắng của đời ông:  Người đàn bà mà ông hết lòng bảo vệ đến nỗi  bị tù đày vì không chịu khai danh tánh đã bỏ ông để lập gia đình với một người đàn ông khác. Kinh nghiệm  tù đày đớn đau ( sau là chủ đề của một quyển tiểu thuyết đầu tay của ông, “Nhà tù”) cùng với  sự thất vọng về tình yêu  đã quất ông những ngọn roi tàn nhẫn và đẩy ông  ngã vào một cơn khủng hoảng trầm kha, mãi nhiều năm về sau  vẫn còn ràng buộc vào cám dỗ đau đớn và luôn xuất hiện ý muốn tự sát. Ông tự khép mình vào sự cô độc, có lẽ còn tồi tệ hơn cả quãng đời thơ ấu.

Sau khi chiến tranh thế giới lần II chấm dứt ông ghi danh vào đảng cộng sản Ý nhưng sự tham gia của ông chỉ thuần văn học : Ông viết những bài báo và tiểu luận chủ yếu về đạo đức-dân sự, ông tiếp nối công việc ấn loát, tổ chức lại nhà xuất bản Einaudi, ông quan tâm đến  truyền thuyết và nhân chủng học,  thiết lập những lý thuyết về huyền thoại, và hoàn thành  tác phẩm “Đối thoại với Leucò .”

Về sau, khi chuyển đến La Mã làm việc ông có quen với một nữ diễn viên trẻ, Constance Dowling, khởi đầu cho một tình yêu mới. Có lẽ cô diễn viên trẻ đẹp và “khuôn mặt có nhiều đóm tàn nhang” này mới đầu đã thực sự yêu người đàn ông nổi tiếng, thông minh nhưng cũng dễ xúc cảm, quan hệ này đã hâm nóng tình yêu cho tác giả, nhưng về sau cô cũng bỏ ông để trở về nước Mỹ. Trong đau đớn tột cùng, Pavese đã   sáng tác và in thành một tập thơ mang tựa đề: “ Cái chết sẽ đến, nó có đôi  mắt của em…”

Sau trận thất tình này, cộng thêm sự khủng hoảng chính trị và tôn giáo đã làm Cesare Pavese thất vọng và hoảng hốt, nó xâm chiếm tâm hồn ông mặc dù lúc này ông đạt đỉnh thành công văn học ( 1938  tác phẩm “Người bạn” đoạt giải Salento, 1949 “Mùa hè tươi đẹp” đoạt giải Strega, tập truyện “Ánh trăng và đống lửa” được xem như tác phẩm rất hay) đến nỗi sự cô đơn và cảm giác trống rỗng làm ông không biết phản ứng ra sao. Mệt  nhọc, hao mòn, dù vẫn cực kỳ minh mẫn, ông đã uống cả một tuýp thuốc ngủ để tự vẫn trong một căn phòng khách sạn Roma tại thành phố Torino. Đó là ngày 27 tháng 5 năm 1950, để lại vỏn vẹn chỉ vài hàng ngắn ngủi trên trang nhất của  tập sách “Đối thoại với Leucò” đặt trên bàn đọc sách  ban đêm: “ Tôi tha tội cho  tất cả và  xin tất cả tha thứ cho tôi. Nhưng xin các bạn đừng ngồi lê đôi mách và tán chuyện nhiều .” Năm ấy ông chỉ vừa  42 tuổi.

Tác Phẩm “Mùa Hè Tươi Đẹp ”

Tác phẩm “Mùa Hè Tươi Đẹp ”  nằm trong luồng văn học biểu tượng.

Mùa hè  diễn tả ở đây là một khoảng thời gian đầy màu sắc, được đồng nhất với ảo tưởng là sẽ có một cuộc đời khác đầy những điều mới mẻ, tình yêu, đam  mê, cùng với những mặt tích cực mà nó tượng trưng. Nhưng sau đó là mùa thu rồi mùa đông, là cái chết của niềm hy vọng và sự đầu hàng của nhân vật chính trước  sự thật phũ phàng nhưng không thể tránh khỏi  của mình.

Đây là câu chuyện kể về Ginia, một cô gái mồ côi  chỉ vừa 16 tuổi, từ miền quê chuyển về sinh sống trong thành phố Torino cùng với anh là Severino. Bối cảnh của tiểu thuyết là những năm tháng sau khi chiến tranh chấm  dứt. Tại thành phố này cô tìm được việc làm như người phụ giúp trong một tiệm may.

Ginia là một cô gái ngọt ngào nhưng không may mắn. Sự thơ ngây và trong sáng của cô hoàn toàn không đáng nhận một số phận bi đát và một sự  sỉ nhục tồi tệ trong  thành phố Torino xám xịt. Mới đầu cô bị thành  phố làm cho loá mắt vì nhịp sống của nó hoàn toàn khác với miền quê mà cô từng biết. Cô mong muốn yêu và được yêu.

Rất nhiều cô gái vào tuổi dậy thì, trong  các thành  phố cho là hiện đại, đến với tình yêu thật phiến diện, được thúc đẩy bởi tò mò nhiều hơn là bởi tình yêu. Họ đánh mất tiết trinh rất dễ dàng và mãi về sau họ mới nhận ra giá trị những gì mà mình đã mất. Và như thế  tác phẩm “Mùa Hè Tươi Đẹp ” không chỉ là một câu chuyện  kể đơn giản mà còn là một cảnh báo cho các cô gái  trẻ, ngây thơ và dễ dãi. Ngay chính Pavese cũng đã định nghĩa là tác phẩm “Mùa Hè Tươi Đẹp ”  là chuyện kể  về  sự bảo vệ tiết trinh.

Ginia đã bị lôi cuốn vào một thế giới hoàn toàn trái ngược với cô: những chàng hoạ sĩ của thành phố Torino vào những thập niên bốn mươi của thế kỷ trước. Một bạn gái đã dẫn cô vào môi trường ấy. Cô bạn này, là một người dễ dãi và chỉ biết quan tâm đến tiền, cô ta ngồi làm mẫu cho các chàng hoạ sĩ. Trong môi trường ấy Ginia  đã làm quen với Guido, cô  ngưỡng mộ và yêu anh, nhưng về sau cô mới hiểu là tất cả những gì có xung quanh thế giới hội hoạ ấy chỉ là ảo ảnh.

Tựa đề ban đầu  của tác phẩm chính là “Chiếc màn ”, nhắc lại cảnh Ginia nhận ra mình bị lừa dối, bị gạt gẫm và chế nhạo… vì khi chiếc màn dùng để chia xưởng vẽ làm hai,  mở ra, Ginia mở mắt và bỗng hiểu ra tất cả. Bởi, núp sau bức màn đó còn có Rodrigues, một hoạ sĩ khác, đang lén ngắm cô khoả thân ngồi mẫu cho Guido. Hổ thẹn, buồn cười, trong  sự thất vọng, cô ngã vào vòng tay của Amelia, lúc này đã bị nhiễm bệnh giang mai từ quan hệ tình ái với một người đàn bà; biểu tượng của cái chết. Ê chề và  tuyệt vọng, nhưng Ginia hoàn toàn không có khả năng thích ứng với trò chơi tàn ác của cuộc đời, trong đoạn kết Ginia đã nói với bạn    “ Thôi mầy hãy dẫn tao đi”.

Tiểu thuyết “Mùa Hè Tươi Đẹp ”   rất đơn giản về cốt truyện nhưng có nội dung sâu sắc: Nó tượng trưng cho xung đột giữa sự ngây thơ ( Ginia) và sự hư hỏng, thoái hoá (Guido và Amelia). Sự đánh mất hồn nhiên của cô gái chính là bước chuyển biến  từ trạng thái hạnh phúc, rất tự nhiên của tuổi dậy thì đến một trạng thái khác, sự trưởng thành. Amelia là một nhân vật tiêu cực nhưng rất cần thiết để hoàn thành bước ngoặc này. Qua cô, Pavese đã tượng trưng cho sự chết như ông đã nhìn thấy: Tham vọng, độc ác, nhưng đồng thời cũng rất cám dỗ và mời mọc, đến nỗi nó được uỷ thác để dìu dắt một cuộc đời hồn nhiên và chẳng có chút liên quan nào. Như Ginia đã nhìn Amelia, tàn ác mà quyến rũ , cuối cùng đã   lôi cô vào một thế giới chưa từng quen biết.

Văn phong

Thời gian kể truyện ngắn hơn câu chuyện, bởi vì tác giả tóm tắt nhiều ngày trong một câu ngắn, với một nhịp điệu  vừa- nhanh.

Tác phẩm này được giới phê bình xem như thuộc  trường phái “tự nhiên” của Cesare Pavese, nó liên hệ đến ảnh hưởng của môi trường và hiện thực lên đời sống nhân vật.

Trong tác phẩm của Pavese văn phong hoà lẫn với tình huống thông qua sự xếp đặt con chữ, thả trôi theo nhịp điệu cảm xúc sống động trong thực trạng nội tâm. Nhân vật phản ảnh tất cả những gì mình nghĩ, chuyển tải lên trang giấy bằng một cú pháp thiết yếu cấu tạo bởi những câu nói rất bình dân được nhặt nhạnh  từ đời sống thường nhật, từ những lối ngắt câu trong các đoạn và từ  cách dùng câu đẳng lập [2]. Cách viết của Pavese trong tác phẩm “Mùa Hè Tươi Đẹp ”  có thể bị ngộ nhận là nghèo nàn, nhưng đó là sự nghèo nàn biểu kiến. Bởi  nó tương xứng với trình độ văn hoá của nhân vật và ngôn ngữ đời thường của họ. Chính nhân vật đã kể lại câu chuyện và đó mới thực là văn phong của tác phẩm.

Itala Elena Pucillo Trương

( TS Ngôn ngữ và Văn học nước ngoài)

.

 

Vài nét về dịch giả TRƯƠNG VĂN DÂN
Quê ở Bình Định  Năm 1971- Du học ở Italia ngành Hoá và Công Nghệ Dược.
Từ 1980 Phụ trách về tổng hợp hoá dược và từ 1985, nghiên cứu và phát triển dược phẩm, dùng cho người và cho thú y.

Đã viết, dịch và cộng tác với các tạp chí trong và ngoài nước.
Tác Phẩm đã xuất bản :

Hành Trang ngày trở lại ( Tập truyện ngắn, Nxb Trẻ, 2007)

Bàn tay nhỏ dưới mưa ( Truyện dài, PNB-Nxb Hội Nhà Văn, 2011)

Mùa hè  tươi đep   ( Truyện  dài, dịch từ nguyên tác “ La bella estate”  của Cesare Pavese, Italia)

Tác phẩm đang in :

Những ngày đánh mất ( Tập truyện dịch, gồm 20 truyện ngắn  và một truyện vừa của Dino Buzzati, Italia)


[1] Tác phẩm đoạt giải thưởng Strega năm 1950. Giải thưởng STREGA là giải thưởng văn học quan trọng nhất của Italia. Được trao giải hằng năm cho tiểu thuyết  hay tuyển tập truyện ngắn của các tác giả Ý. Giá trị hiện vật không nhiều nhưng giá trị tinh thần và giúp việc phổ biến tác phẩm rất lớn.Các tác giả Ý nhận  được giải thưởng này có thể kể : Cesare Pavese, Alberto Moravia, Mario Soldati, Giuseppe Tomasi di Lampedusa, Elsa Morante, Giorgio Bassani, Natalia Ginzburg, Primo Levi, Umberto Eco, Claudio Magris.   Tuy nhiên cũng có những tác giả nổi tiếng sau đây lại không nhận được giải : Italo Calvino, Carlo Emilio Gadda, Leonardo Sciascia.

[2] paratassi, parataxis

Read Full Post »

Bong bóng mưa

 

TRẦN MINH NGUYỆT

–         Tình ơi! Đi uống cà phê với bọn anh không? Em làm gì mà ngẩn ngơ ra vậy? – Tình giật mình, thì ra là anh Tuấn, trưởng phòng của cô, một người rất giỏi về chuyên môn nhưng cũng rất hài hước.

Tình cười buồn : “ Có gì đâu mà ngẩn ngơ hả anh? Em chỉ đang nghĩ về công việc thôi mà.”

–         Thôi đi cô nương, nghĩ về công việc mà sao đôi mắt rướm lệ vậy? có cần anh lau nước mắt cho không vậy?.

–         Em nghĩ về công việc thật mà – Tình ngước lên nhìn anh – với lại em có gì để suy nghĩ nữa đâu chứ?  Em lỡ tay làm dầu dính vào khóe mắt nên cay sè, nước mắt chảy thôi. Tình phân bua – vội cúi xuống giả vờ như đang tập trung vào việc đọc các văn bản trước mặt…

Thế là bỗng dưng Tình trở thành người nhàn hạ nhất ở công ty này. Nhìn mọi người sau giờ làm việc vội vã trở về nhà để lo cho cái tổ ấm bé nhỏ của riêng mình, thì Tình tháng vừa rồi đã kí xong đơn li hôn trước tòa, kết thúc một trò chơi tình yêu đầy phiêu lưu mạo hiểm. Thế là từ nay cô đã tìm lại được tự do cá nhân của chính mình, không còn phụ thuộc vào ai nữa. Lẽ ra cô vui mới phải, vậy mà không hiểu sao sau cái ngày đó lòng cô trống rỗng, chơi vơi lắm. Cô hay miên man thả hồn phiêu lãng cùng những cảm giác vui buồn hơn trước.

“Mầy vẫn không quên được cái thằng mất dạy đó sao hả con? Nó đối xử với mầy tàn nhẫn như vậy, mà mầy còn nghĩ đến nó sao?” Bà Thân – mẹ của Tình, nhìn cô lo lắng hỏi. Tình nhìn mẹ với ánh mắt thật buồn, như chực khóc – và không nói được lời nào cả. Không phải Tình còn yêu thương nhớ nhung gì Hoài mà chỉ vì cô không muốn là một người thất bại trước đồng nghiệp và mọi người. Từ  nhỏ cho đến lớn lúc nào Tình cũng là người thất bại, thất bại trong việc học –  ( cô học rất giỏi, đậu tốt nghiệp cao – nhưng thi vào đại học năm đầu tiên lại thiếu mât nửa điểm xin phúc khảo cũng không được và năm sau thi lại cô cũng chỉ vừa đủ điểm chuẩn để đậu, vì thế nên không có học bổng mà phải đóng học phí). Đến khi ra trường xin việc làm cô cũng nếm đủ mùi chua cay. Mang đơn đi nộp đủ chỗ, cuối cùng mới xin được vào làm ở một công ty liên doanh đa quốc gia có tiếng ở thành phố. Tình chịu khó và siêng năng nên việc gì đến tay cô đều có kết quả rất tốt. Hai năm sau, Tình được trưởng phòng giao cho nhiệm vụ hướng dẫn hai sinh viên đến công ty thực tập. Đóng vai trò là đàn chị, cô hướng dẫn hai sinh viên một cách nhiệt tình và đầy trách nhiệm. Nhưng đổi lại lòng tốt và sự nhiệt tình của cô là hết năm đó cô được lệnh chuyển xuống chi nhánh ở vùng sâu, nhường chổ làm ổn định, thuận lợi ở thành phố cho hai sinh viên mới ra trường mà cô đã hướng dẫn – nghe đâu họ là con cháu của sếp lớn đã gởi cho giám đốc. Quá thất vọng và tủi nhục, Tình đã làm đơn xin nghỉ việc và rời thành phố phồn hoa lắm nỗi ưu phiền để về quê nhà, xin vào làm việc ở công ty Thuận Phát này từ đó đến nay. Lúc còn là sinh viên, và khi làm việc ở thành phố, Tình cũng có một người thương yêu là kế toán trường cho công ty lắp ráp sản xuất xe hơi – hào hoa, lịch thiệp –  lại giàu có, nhưng tình yêu kia đã dần dần phai nhạt, và tan biến như những giọt sương mai khi Tình xin nghỉ việc và về lại quê nhà.

Mọi thứ đến và đi trong cuộc đời của Tình xảy ra mau chóng và nhiều khi giống như những chuyện đùa của tạo hóa vậy. Mới một năm trước đây thôi, Tình còn hạnh phúc bên người chồng mà lúc đó cô nghĩ là rất mực yêu thương cô, vì gã luôn chìu chuộng cô mọi thứ. Vậy mà chỉ một buổi sáng thôi – đúng vậy, một buổi sáng tình cờ trong đời cô còn nhớ rất rõ như nó vừa mới xảy ra: Lúc Tình đứng soi mình trước gương, sửa soạn chuẩn bị đi làm thì chồng cô bước vào nhìn cô chằm chằm và nói : “Anh thấy chúng mình sống không hợp nhau chút nào. Chúng mình chia tay được không em? ”. Những tưởng chồng nói đùa để trêu mình nên Tình quay lại lườm chống và hờn mát như mọi khi: “ Chia tay thì chia tay chứ, em đâu có sợ, vợ anh vừa đẹp vừa thông minh như thế này thiếu gì người thương yêu em chứ, chỉ sợ anh ân hận thôi mà!”. Hoài – chồng cô, nhếch miệng cười và gằn giọng: “ Em đồng ý rồi nhé, không được đổi ý đâu. Giờ anh đi làm, chiều về chúng mình tính tiếp vậy …”. Tình hơi ngạc nhiên về thái độ của Hoài, nhưng lúc đó Tình nghĩ anh ấy chỉ đùa quá trớn thôi, chẳng có việc gì hệ trọng xảy ra cả đâu. Vậy mà tối hôm đó khi đi làm về, Hoài chìa ra trược mặt Tình đơn xin li hôn đã viết sẵn – anh đã kí, và buộc Tình phải kí vào. Vì quá ngạc nhiên, và không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Tình nghĩ mình vẫn yêu thương chồng , nên cô dằn lòng không kí đơn, mà gấp đồ đạc rời khỏi nhà chồng trong đêm tối.

Những ngày sau đó chồng cô luôn điện thoại buộc cô về kí vào đơn li hôn với lời lẽ hết sức trịch thượng và vô lý. Dù cô và chồng chỉ nói qua điện thoại nhưng rất gay gắt:

–         Anh không còn yêu em nữa, hãy buông tha cho anh đi?

–         Nhưng mà em có làm gì sai đâu chứ? Em yêu thương anh và lo cho tổ ấm của chúng ta mà.

–         Em mà lo gì chứ? Anh không cần em lo, nếu còn thương anh làm ơn kí vào đơn li hôn đi, anh muốn làm lại cuộc đời.

Những lần gọi đầu Hoài còn nể nang cô đôi phần với giọng điệu nài nỉ, nhưng không làm lay chuyển quyết định ở Tình, dần dần chồng cô chửi rủa ra mặt, và không còn lời tuyệt tình nào mà gã không dùng đến:

–         Sao cô bám dai như đỉa vậy? Cô không có lòng tự trọng nữa sao?

–         Anh đừng nói vậy tội cho em mà, chúng ta dù gì cũng là vợ chồng năm năm rồi.

–         Tôi nghĩ lại thời gian qua mà thấy gai cả người vì sợ. Sống lại với cô sao? Không bao giờ, dù phụ nữ trên thế gian này có chết hết tôi cũng không quay lại với cô.

Bị xúc phạm nặng nề và quá nhiều lần như vậy, Tình cảm thấy tình  yêu dành cho chồng bấy lâu đã héo khô dần, lụi tàn dần theo những lời chửi rủa ngày một cay độc. Và, chuyện gì đến sẽ phải đến – cô đã  kí vào đơn li hôn để cùng ra tòa chấm dứt một đời làm vợ. Giữa Tình và chồng không có gì để chia nhau cả, không con cái, không tài sản, chỉ có hai tờ hôn thú là của chung nhưng sau khi li hôn tòa giữ lại làm bằng chứng. Thế là Tình quay trở lại với vị trí ban đầu, với hai bàn tay trắng – một vụ làm ăn không có lời, chỉ có lời là nỗi buồn trong cô ngày càng nhiều lên thôi.

Khi cái tin Tình li hôn lan ra, từ bà con xóm giềng đến các bạn đồng nghiệp cùng cơ quan ai cũng tròn mắt ngạc nhiên, vì có ai nghe vợ chồng cô bất hòa, xung đột nhau gì đâu mà li hôn chứ? Vậy là gặp ai Tình cũng phải giải thích, Những người ít thân quen thì dăm ba câu, còn bạn thân, đồng nghiệp thì có khi mất vài giờ đồng hồ đến cả buổi. Người thì buồn cho cô phải dở dang duyên phận, còn người khác thì bảo cô sướng vì có thể sống an nhàn, không vướng bận, không lo nghĩ gì, có thể làm mọi thứ mình thích mà không phải chìu lụy ai. Tóm lại, chỉ là những lời an ủi, chia sẻ chuyện đã rồi – không còn cách nào khác! Tình nghe, mà không hề đáp.

Tuấn là trưởng phòng của Tình, có vợ và một đứa con gái năm nay 10 tuổi. Vợ anh là một người đàn bà thành đạt, cô ấy rất xinh đẹp và giỏi giang – là tiến sĩ y khoa – đang làm  giám đốc của bệnh viện tư nhân bề thế.  Tuấn và Tình làm việc cùng một phòng nên hai anh em có dịp tiếp xúc với nhau luôn. Anh rất dịu dàng và luôn giúp đỡ cô, trước kia đã vậy, mà giờ đây trong tình trạng như thế này anh càng quan tâm đến cô hơn. Tuấn dường như thấu hiểu được những nỗi buồn, nỗi thất vọng và nhất là cái cảm giác chơi vơi trong lòng cô sau ngày cô li hôn nên vẫn thường tế nhị an ủi mỗi ngày. Cứ sau mỗi lần nói chuyện với anh, Tình cảm thấy vui hơn, an tâm và có sức sống hơn. Thường thì hai anh em nói những chuyện không đâu vào đâu, chỉ là những chuyện vui, những chuyện vô thưởng vô phạt không liên quan đến ai cả nhưng những nụ cười hồn nhiên của anh đã làm Tình an lòng.

–         Em ăn cơm chưa? Đi ăn với anh cho vui.

–         Dạ! Nhưng hôm nay anh trả luôn tiền cơm cho em nhé

–         Cũng được thôi, nhưng lí do anh phải trả tiền là sao vậy?

–         Là vì anh rủ được một người xinh đẹp như em ăn cơm chung mà

–         Em leo chi mà cao quá vậy, từ từ mà leo xuống kẻo lộn cổ bây giờ

Cả hai anh em cùng cười vui vẻ.  Tuấn có vẻ vô tư, và luôn xem cô như một cô em gái thực sự vì có lần anh đã nói : “ Em có nét mặt và dáng người hao hao giống em gái kề của anh, nhưng nó đi tắm biển và bị nước biển cuốn trôi khi nó học lớp chín. Anh thương nó nhất nhà đó vì nó là đứa hiền lành, tốt bụng và rất thương anh, chị em…”.

Lúc trước Tình cũng mến thương Tuấn như tình cảm của một cô em gái dành cho anh trai của mình, nhưng khi chỗ dựa vững chắc nhất của cuộc đời Tình bị phá vỡ, bỗng dưng cô muốn tìm một bờ vai của một ai đó để tựa vào, để được an ủi chia sẻ những vui buồn của cuộc sống. Vậy là Tuấn cứ dần dần chiếm hữu đầu óc cô, trái tim cô lúc nào cô cũng không hay biết nữa. Với bản năng của người nữ, Tình cũng ghét cay đắng sự phản bội và lừa dối trong tình yêu – không bao giờ nghĩ rằng có ngày mình sẽ trở thành người thứ ba chen vào phá vỡ hạnh phúc của người khác. Vì vậy dù Tình có cảm tình đặc biệt với Tuấn nhưng trí óc cô luôn mách bảo hãy giấu kín trong tim mình, không để lộ một sơ hở nhỏ nào cho ai biết. Hãy sống với sự thầm kín, cho dầu, đôi lúc – Tình cũng cảm thấy rất đau xót. Vì vậy ở công ty cô với Tuấn cũng chỉ là anh, em – là đồng nghiệp mà thôi. Chỉ khi đêm về  trong cõi đời riêng một mình, Tình mới sống thực với lòng mình, với tình yêu mà cô ấp ủ khôn nguôi.

Đi uống cà phê về, Tuấn không quên mang về cho cô một ổ bánh mì kẹp thịt trông rất hấp dẫn. Đưa ổ bánh mì cho cô anh làm bộ nghiêm mặt bảo: “ Tiền bánh mì mười ngàn, Tiền công mua mang về mười ngàn. Cả thảy là hai mươi ngàn. Em nhớ phải trả lại cho anh đó.” – Tình bật cười – đáp lại lời anh: “ Em không trả đâu, anh Tuấn có biết ông bà ta có câu này không vậy?

“ Bắc thang lên hỏi ông trời

                                Bánh mì cho gái có đòi được không? “

Tuấn bậm môi trợn mắt như thể đang giận dữ lắm, anh dứ dứ quả đấm về phía cô và giả bộ nói giọng gằn gằn : “ Vậy thì em trả lại bánh mì cho anh đi, cho gái thì gái nào phải đẹp chứ, còn em xấu hoắc à, ai mà thèm cho chứ ?”. Như sợ Tuấn lấy lại bánh mì, Tình vội đưa bánh mì vào miệng cắn một miếng rõ to và giấu phần còn lại ra sau lưng. Tuấn vẫn không vừa, anh lấy điện thoại ra và chụp hình cô lia lịa, anh bảo sẽ rửa ra và dán khắp cơ quan. Những chuyện đùa vui như vậy giữa cô và Tuấn  cũng thường xuyên xảy ra, khiến trái tim của cô bùng lên một ngọn lửa yêu thương nồng cháy, khó có thể mà dập tắt được.

Đã gần tới ngày 20-10, ngày phụ nữ Việt nam, Tình thấy hồi hộp lắm, cô không biết ngày hôm đó anh Tuấn tặng cho cô món quà gì đây?. Nhưng Tình đã nghĩ trước rồi, ngày hôm đó cô sẽ mời anh đến một nơi  nào đó thật yên tĩnh, thật nên thơ – và cả hai sẽ cùng nhau thong dong suốt buổi tối. Chỉ nghĩ đến đó thôi mà Tình bỗng cảm thấy mặt mình nóng bừng lên, lòng bối rối lạ lùng.

Tình đang đắm chìm trong cái cảm giác đó, thì Tuấn đã đến bên cô từ lúc nào. Anh gõ nhẹ xuống mặt bàn trước mặt Tình nhìn cô – mỉm cười : “ Lại mơ mộng gì nữa đây cô bé? Giúp anh chuyện này được không? “. Tim Tình đập liên hồi, lồng ngực như muốn vỡ tung ra, nhưng Tình kiềm chế cơn xúc động của mình lại – giọng điềm tĩnh: “ Ủa ! anh Tuấn có nhầm em với ai không vậy? Em mà giúp được gì cho anh sao? ”. Tuấn cười hiền: “ Chỉ riêng hôm nay thôi mà, trưa nay anh, em mình vào siêu thị đi, anh muốn nhờ em tư vấn cho anh mua một món quà nào thật đẹp và có ý nghĩa để anh tặng chị”. Tình cảm thấy bàng hoàng. Tim như se thắt lại và nhói đau, Cô không nói nổi một lời nào chỉ cố gắng nhìn anh và gật đầu mà thôi. Tuấn đã đi ra khỏi phòng rồi, mà những lời lẽ kia cứ lỡn vỡn, nhảy múa trong đầu óc cô. Tình nhớ rất rõ vẻ mặt đầy yêu thương, hạnh phúc và tự hào khi Tuấn nói về vợ mình: “ Em biết không? Anh thật là may mắn khi có một người vợ như chị của em. Cô ấy tài giỏi, thông minh, đảm đang và rất mực chìu chồng, yêu con. Cô ấy và con gái là những người quan trọng nhất trong cuộc đời của anh em à”.

Vậy là ngọn lửa tình si trong lòng Tình được nhen nhóm bấy lâu, bị cơn mưa mùa đông dai dẳng làm tắt ngấm không còn một chút hơi ấm nào, chỉ còn trơ lại là một bếp tro than nguội lạnh. Cô cảm thấy mình thật đáng thương, một sự ảo tưởng viễn vong xa vời mà cô biết rất rõ là mình không thể nào với tới được nữa. Nhưng giờ đây Tình đã hiểu rõ dần thế nào là tình yêu thực sự?. Thì ra tình yêu cũng có lí lẽ riêng của nó, một khi ai đó vi phạm vào lí lẽ của tình yêu, nó sẽ vỡ tan mau như bong bóng mưa vậy thôi. Những ngày sắp tới, Tình phải sống như thế nào đây? Mê cung của cuộc đời đang ở phía trước, đang chờ đón cô. Có lẽ sẽ như vậy. Tình đưa tay lau dòng nước mắt chảy dài trên má và tự hứa với lòng là sẽ tiếp tục cuộc hành trình của một đời người kì diệu…

TRẦN MINH NGUYỆT

Read Full Post »

 

Vũ Thế Thành

Ngành du lịch VN đã có thời chọn nụ cười làm biểu tượng của “Việt Nam- Điểm đến của thiên niên kỷ mới”. Cô người mẫu “Nụ cười Việt Nam” sau này đã quay sang kiện Tổng cục Du lịch vì đã sử dụng hình ảnh của cô tùy tiện và vi phạm quyền nhân thân.

Kampuchia mới đây cũng chọn nụ cười làm biểu tượng cho ngành du lịch. Họ không chọn nụ cười của những thiếu nữ xinh đẹp làm mục tiêu thu hút, mà chọn nụ cười của …thần thánh (cho chắc ăn, khỏi lo “vi phạm quyền nhân thân”), mà du lịch Kampuchia gọi đó là “Nụ cười Angkor” (Smile of Angkor).

Angkor là 1 quần thể kiến trúc gồm 2 khu đền chính: Angkot Wat (Đế Thiên) và Angkor Thom (Đế Thích). Chưa cần nói đến sự hùng vĩ của kiến trúc đền đài, chỉ với nghệ thuật điêu khắc trên đá cả hàng ngàn tượng vũ công apsara và các vị thần, cũng là điều khó tưởng tượng nổi. Từng khuôn mặt, từng dáng điệu của cả ngàn bức tượng đó không hề trùng lắp nhau. “ Nụ cười Angkor” là một trong những khuôn mặt đó.

Chỉ riêng trong đền Bayon, thuộc khu Angkor Thom, có đến 54 ngọn tháp với 216 khuôn mặt vị thần được điêu khắc ở bốn mặt mỗi tháp, nhưng chỉ duy nhất có một khuôn mặt đang cười, một nụ cười thanh thoát, độ lượng. Ý nghĩa của nụ cười đó đến nay vẫn còn là điều bí ẩn. Có người cho rằng nó mang dấu ấn thiền định của Phật giáo. Vị thần nào đã mang nụ cười siêu thoát đó cũng là điều bí ẩn. Những nhà nghiên cứu Khmer tin rằng đó là hình ảnh của vua Jayavanman VII, người đã cho xây đền Bayon.

Angkor đã từng là kinh đô của Khmer cách đây cả ngàn năm, ghi dấu những năm tháng vàng son, hùng mạnh, trình độ văn minh vượt trội, mà người ta gọi đó là “thời đại Angkor”. Cũng không ngạc nhiên khi UNESCO xếp di tích Angkor vào trong danh sách những kỳ quan thế giới.

Không chỉ xem nụ cười Angkor là biểu tượng du lịch,  Kampuchia, giữa năm 2011 đã đi xa hơn nữa khi cho trình diễn trên sân khấu 3D, với kỹ thuật hình ảnh và âm thanh hiện đại, các show diễn mang đậm tính sử thi, tái tạo lại thời kỳ vàng son của thời đại Angkor

Show diễn kéo dài 75 phút, gồm 6 chương. Mở đầu là chương “ Đối thoại với thần linh”, một thiếu niên Khmer hỏi vị thần về ý nghĩa nụ cười, và chương kết thúc cũng lại là: “Nụ cười Angkor”. Ấn tượng!

Du lịch Thái Lan cũng có show diễn giới thiệu về lịch sử và văn hóa như thế tại nhà hát Alangkarm (Pattaya), với tên gọi đầy tính… marketing: “ Thai Extravaganza Show”, nhưng công phu, kỹ thuật hơn, voi đi ngựa hí, súng thần công chen lẫn gươm dáo,… Chương trình xen lẫn cả những pha tấu hài, thành ra… tạp kỹ. Các tour du lịch Việt Nam đến Thái thường bỏ qua chương trình này.

Hoành tráng hơn nhiều phải nói đến show “ Tống Thành” ở Hàng Châu (Trung Quốc) với banner quảng cáo “Cho tôi một ngày, sống lại ngàn năm”. Nhà hát xây dựng trong một khu du lịch, với nhà cửa quán xá tái tạo lại sinh hoạt thời nhà Tống. Thời lượng lịch sử trong show diễn chỉ độ mươi phút, gói gọn trong câu chuyện bi tráng của Nhạc Phi (mà công tội của Tần Cối hiện nay vẫn còn là điều tranh cãi). Còn hầu hết là những chuyện huyền thoại, Thanh Xà Bạch Xà, Lương Sơn Bá/ Chúc Anh Đài, hay cả một buổi thiết triều với cả trăm cung tần mỹ nữ xinh đẹp, vũ điệu tha thướt, tưởng như thời thái bình thịnh trị, khi quân Kim đang áp lực phía Bắc. Nghệ thuật và kỹ thuật của show diễn có thể nói là hoàn hảo nhưng đầy tính…phô diễn.

Ở mức độ hoành tráng, kỹ thuật và nghệ thuật trình diễn thì  “Nụ cười Angkor” thua xa “Thai Extravaganza Show” và càng không thể so với “Tống Thành”, chẳng hạn chuyển đoạn các chương hồi còn gượng ép, diễn viên múa chưa chuyên nghiệp, có khi còn cười giỡn trên sân khấu, còn phải vay mượn những pha múa dẻo (xiếc) với diễn viên của Trung Quốc,.. nhưng rõ ràng show diễn “Nụ cười Angkor” mang đậm tính sử thi hơn nhiều, mà nơi đó, một sự ngưỡng mộ và luyến tiếc đã chạm được tới tâm hồn người xem.

Show “ Nụ cười Angkor” còn quá mới, và theo thời gian họ sẽ phải hoàn thiện kịch bản và  nghệ thuật diễn nhiều hơn. Show “Tống Thành của Trung Quốc đã ra đời cả chục năm cũng thế. Tôi đã xem show này 2 lần, cách nhau 3 năm, họ vừa cho trình diễn, vừa thay đổi và nâng cấp theo thời gian

Angkor đã trở thành hoang phế trong rừng sâu cả vài trăm năm khi quân Xiêm xâm lấn Khmer đầu thế kỷ 15. Nhiều người cho rằng chính người Châu Âu đã khám phá ra phế tích này khi di cảo của nhà tự nhiên học Henri Mohout (Pháp) được ấn hành tại Paris và London năm 1863. Nhưng Claude Jacques, một giáo sư người Pháp, dạy và nghiên cứu lịch sử Khmer, trong tác phẩm “Ancient Angkor” đã bác bỏ điều này, cái mà ông gọi là quan điểm cái gì cũng lấy Châu Âu làm tâm điểm (Eurocentric). Ông khẳng định, người Khmer không bao giờ quên sự hiện hữu của Angkor, cho dù hồi đó nhiều đền đài có thể bị bỏ hoang, nhưng Angkor Wat lúc nào cũng có người và là nơi thiêng liêng thờ phượng.

Angkor là kỳ quan của thế giới, một thời vàng son, một thời hoang phế. Bây giờ đang sống lại với “Nụ cười Angkor”, là niềm tự hào của Khmer, thế nhưng thông điệp quảng cáo trên mạng bằng tiếng Anh lại khiêm tốn, nhẹ nhàng (tạm dịch): “ 90% vũ công trong “Nụ cười Angkor” là người Kampuchia, trong số đó, có em là trẻ mồ côi, có em là con cháu của nạn nhân bị bẫy mìn. “Nụ cười Angkor” đã tạo việc làm cho các em, đã huấn luyện các em thành vũ công, và rồi các em sẽ trở thành di sản của văn hóa Kampuchia. “Nụ cười Angkor”cũng cộng tác với hai trường mồ côi để tài trợ cho các em học sinh. Hãy đến với “Nụ cười Angkor”, bạn không chỉ thưởng thức nên văn hóa đích thực của Kampuchia mà còn giúp đỡ người dân Kampuchia nữa”. Quảng cáo thế này, ai mà ngó lơ cho nổi !

Thống kê cho biết, 7 tháng đầu năm 2011, số du khách quốc tế đến Kampuchia là 1,6 triệu (so với Việt Nam cùng kỳ là 3.425.820).

“ Nụ cười Angkor” đã có khởi điểm, đã bước chân vào cuộc đua, và có cái để nâng cấp. Vài ba năm nữa, chắc chắn nó sẽ hoàn thiện và sẽ là show diễn đậm tính sử thi nhất.

Xin nhái lời của Neil Armstrong, người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng để nói về “Nụ cười Angkor” : Đây là bước chân nhỏ bé của một đất nước đang phát triển, nhưng là bước tiến vĩ đại của một dân tộc vừa thoát khỏi nạn diệt chủng.

Trông người lại ngẫm đến ta !

Vũ Thế Thành

Read Full Post »

Vợ chồng Mèo…

Trần Thanh Thiện

Meo… eo…èo eo…Tôi lên lan can lầu một và cất tiếng gọi con mèo cưng về. Từ rất xa,  tôi nghe tiếng nó đáp lại ngay và theo tiếng meo dồn dập càng lúc càng gần, tôi biết nó đang phóng như bay, lên xuống qua nhiều mái nhà và chẳng mấy chốc nó đã uốn éo đến bên tôi, cọ cọ cái đầu xinh đẹp và thân hình óng mượt lên chân tôi. Vậy là cu cậu đang rong chơi chứ không đang theo “mèo gái”rồi.

Sau thủ tục chào đón, nó nằm lăn ra thềm gạch, trở bên này, trở bên kia để tận hưởng cảm giác ấm áp quen thuộc, rồi nó nằm yên sưởi nắng, mắt lơ đảng nhìn những con thằn lằn trắng nhởn đang thơ thẩn kiếm ăn trên tường. Vô phúc con nào bám không chắc rơi xuống là mèo ta nhảy phóc tới đớp ngay trước khi con mồi tiếp đất.

Nó được con trai tôi lượm về khi đang nằm thoi thóp bên bờ rào, chỉ chừng vài ba ngày tuổi  và sắp chết đói. Vậy mà chỉ 3 ngày sau, nó đã vươn vai đứng dậy đi lẩm chẩm trong nhà và sau đó nó lớn nhanh như thổi. Đó là một chú mèo đực. Càng lớn nó càng “đẹp trai”và oai vệ. Với thân hình dài, to, cao và cái đuôi dài nghểu nghện rất đẹp; với cái đầu bự, đôi mắt to như có lữa, cái miệng nghiêm nghị và bộ ria mép rất bảnh; với dáng đi và bô lông vằn vện  đen pha vàng và trắng xám như cọp, nó làm con chó Tô cao to hiền lành của tôi tự động “xuống hạng” ngay từ đầu không cần “thử lữa”.

Tôi chưa thấy con mèo nào sạch sẽ như nó. Ăn xong nó liếm chung quanh miệng thật lâu, rồi liếm sạch 2 bàn chân trước thật kỹ. Rảnh rỗi nó thường ngồi sưởi nắng, vừa làm vệ sinh thân thể. Nó dùng lưỡi liếm toàn thân. Chỗ nào xa quá lưỡi “vói” không tới thì nó liếm ướt 2 bàn chân trước rồi lau khắp thân mình. Bởi vậy bộ lông tam thể của nó bao giờ cũng óng mượt và thơm tho

Vậy mà nó lại không có được một cái tên riêng! Thật là một sự đảng trí tai hại và bất công. Ngay từ ngày đầu nó mới về nhà, mỗi lần kêu nó tôi lại kêu meo…èo… eo. Nó đã quá quen với tên gọi đó mất rồi. Thật chẳng khác gì kêu cả họ hàng nhà mèo của nó.

Khi nó bắt đầu trưởng thành, sợ nó rủ rê hết lũ mèo trong xóm tới quần nát mái nhà, tôi nghe lời xúi dại lấy dây thun cột 2 tinh hoàn nó lại để “nó teo và tự rụng” (?) Nó ra vào gầm gừ rên rỉ mấy ngày làm con trai tôi phát giác “âm mưu đen tối” của mẹ:

-Mẹ đừng làm vậy tội nghiệp nó mẹ ơi! Để cho nó lấy vợ đẻ con nữa chứ!

và nó tự tiện tháo dây thun ra. Được giải thoát, mèo ta mừng rở phóng như bay đi tìm “bạn”.

Chắc chắn tôi là “người”bạn thân nhất của nó. Rảnh rỗi tôi thường ra salon ngồi. Không đợi tôi gọi, nó đã nhảy phóc lên ngồi chễm chệ trên đùi tôi, khoan khoái gù nhè nhẹ. Đây có vẻ là vị trí nó khoái nhất, vì hể con Tô mon men đến gần là nó vội nhe nanh múa vuốt đuổi đi. Tôi có can thiệp thì Tô tội nghiệp mới được ngồi yên bên chân tôi. Đôi lúc Tô cũng nổi khùng muốn tát cho nó mấy cái nhưng vừa giơ chân lên thì nó đã nhanh tay tát dứ mấy cái làm Tô co vòi vì bàn chân Tô đâu có vuốt nhọn hoắc như nó.

Là mèo nên đương nhiên nó phải cào. Bởi vậy lớp simili bọc nệm salon bị rạch nham nhở. Có bữa tôi bực mình bấm hết mấy vuốt của nó. Tội nghiệp! Sáng hôm sau nó về nhà với thương tích đầy mình, máu me đầy mặt. Tôi quên bén rằng vuốt là vũ khí chiến đấu của nó. Có lẽ đây là lần đầu tiên nó bị thảm bại như vậy.

Đêm nó thường lang thang đi đâu khuya lắt khuya lơ mới rón rén về, rồi rất nhẹ nhàng không một tiếng động, nhảy phóc lên đầu giường, nằm cuộn mình giữa đầu giường và đầu tôi, ngủ ngon lành không kêu một tiếng. Sáng sớm tôi thức dậy đã nghe nó rục rịch trên đầu nằm. Khi nghe tôi “good morning, meo…eo…”Nó mới meo một tiếng rõ to rồi nhảy xuống giường vươn vai uốn éo đi ra khỏi phòng.

Mèo cưng của tôi chắc thuộc giống mèo “ưu việt” nên thịt cá, ngay cả mỡ để trên bàn nó cũng không bao giờ để mắt đến. Nó chỉ xơi những gì để trong dĩa nó mà thôi. Nhưng khẩu phần ăn phải đàng hoàng đấy nhé! Không cao lương mỹ vị gì, nhưng không được tệ lắm. Bữa nọ sau khi cả nhà ăn cơm xong, bỗng nghe nó vừa đi tìm tôi vừa la ỏm tỏi, giọng giận dữ và rất cấp bách, con Tô lẽo đẽo sau đuôi. Đứng trước mặt tôi nó ngoác miệng meo meo một cách giận dữ. Tôi biết là có kiện cáo gì đây .

-Lành ơi cho mèo chó ăn chưa?

-Dạ cá còn ít con sợ chiều nhà ăn không đủ nên trộn xương thôi nên tụi nó chê không ăn.

Trộn cá vô xong hai con đứng ăn êm ru!

Thế nhưng khi thức ăn ngon, nó vừa ăn vừa khen “ngon ngon”.Thật ra có thể đó chỉ là âm thanh gây ra do nó đưa thức ăn quá nhiều và quá nhanh vào mồm mà thôi. Nhưng tôi vẫn thường châm chọc nó như thế.

Ngán nhất là mùa động dục của họ nhà mèo. Chúng rượt nhau rần rần trên mái nhà, con nào cũng vừa chạy vừa đánh vừa la với đủ cung bậc âm thanh hổn loạn làm náo động không gian đêm yên tĩnh : gầm gào, rú rít, dọa nạt, con nào dính đòn đau thì la thất thanh. Có cả tiếng rên xa dần, đau đớn và giận dữ của những con bại trận cúp đuôi chạy. Hậu quả tức thì của những trận thư hùng nảy lữa giành giựt người đẹp đó thường là những vết thương trên thân thể các cậu mèo sáng hôm sau còn rướm máu. Mèo cưng của tôi tuy thuộc loại “có đẳng cấp”cũng không tránh khỏi những lần dính đòn đau, nằm bẹp cả ngày. Và hậu quả lâu dài là …những cái bầu.

Một hôm tôi nghe tiếng nó kêu hơi lạ. Tôi nhìn lại thì thấy có con mèo mướp nhỏ nhắn đi sau nó. Nó ngước nhìn tôi và meo meo rồi nhìn lui con mèo kia. Tôi thích thú kêu to:

-Anh ơi mau tới coi con mèo đem vợ nó về ra mắt mình nè!

Khi chồng tôi tới nó cũng đang kêu nho nhỏ, vợ nó đứng sau đuôi. Lát sau hai đứa cùng lững thững đi ra, mèo chồng đi trước mèo vợ theo sau. Thật là vui và bất ngờ. Trông chúng rõ là đẹp đôi. Nhìn đôi vợ chồng mèo đi khuất dần sau cánh cửa, chồng tôi đùa:

_Bà lo chuẩn bị sẵn sàng để nuôi cháu đấy nhé!

2/5/2011

Read Full Post »

Lâm Bích Thủy

Ngày tôi còn học ở Hải Phòng, lúc nào xuống  thăm, người cha thi sĩ này cũng đem cho tôi vài tập thơ mỏng, bìa có họa tiếc đơn giản trang nhã, như   “Nắng Ba Đình”, hay thơ viết cho thiếu nhi của chú Phạm Hổ và tập “Hướng Điền căm thù” của ông (tập thơ này không còn tồn tại). Tôi thích lắm. Quanh tôi, tràn ngập thơ là thơ.

Nhưng thập niên 80-90 của thế kỷ 20, tôi vào Sài Gòn; có mấy ai xem trang thơ trên báo. Họ chỉ chú ý   mục kinh tế và cách làm ra cái ăn, cái mặc. Khi có cái ăn rồi thì trước hết lo đủ lượng chứ không cần đủ chất; chẳng ai phí thời gian vàng ngọc để đọc mấy vần thơ của các thi sĩ nghèo. Họ bảo “nhà thơ nghèo là phải, suốt ngày chỉ thơ với thẩn làm sao ra tiền”. Và thế là tôi suy ra thời vàng son của thơ đã lùi vào dĩ vãng “nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông nhất nông nhì sĩ

Nhưng dù ở đâu, thời nào cũng vậy. Ba tôi lại vẫn trung thành với thơ. Trong không gian hẹp, tại một thị trấn hẻo lánh, ông yêu cuộc sống thể hiện qua thơ đến dường nào. Ông không chấp nhận sự an nhàn, Khổng Tử đã dạy “Nhàn cư vi bất thiện” Vì thế, dù dưới góc độ nào, cái đích cuối cùng ba tôi hướng tới là giá trị chân, thiện, mỹ của lẽ sống ông ghi lại vào thơ. Ông biết rằng “Chiến tranh con người sẽ mất đi, còn thơ sẽ sống mãi với đời”.

Chúng tôi cằn nhằn “Thời đại này mà ba còn làm thơ, ai xem! Nghĩ cho khỏe óc đi ba.”. Nghe vậy,  Huy Nhuận phản đối tôi “Cái bà Thủy này suốt ngày chỉ nói đến tiền, tiền. Chị biết gì về thơ mà nói.” Đúng! tôi đang lo cho cuộc sống của cái tổ ấm cỏn con của tôi tồn tại được ở thời cơ chế thị trường đã.

Vì vậy, nhiều nhà thơ, về hưu, tuổi cao sức kiệt, ít ai còn có cảm xúc để sáng tác. Còn ba tôi làm thơ cả khi trên giường bệnh.. Chẳng thế mà, có người nhận xét “Càng về già thơ Yến Lan càng hay:

Những bài thơ cuối đời của ông là những bài thơ hay, tìm nhiều phương diện của nghệ thuật thơ ca, chứa nhiều hình ảnh đẹp, giàu tưởng tượng. Chỉ có sự tinh tế của tâm hồn thì nhà thơ mới làm cho hiện thực ngoài đời trở nên sống động được như vậy

Tại sao có điều ngược như vậy nhỉ? Theo ba tôi, ông được sống trên mảnh đất ông tự chọn, ông không phải dè chừng, cẩn thận với người ở cạnh mình như trước. Ở đây, có những ngọn gió mang hương đồng cỏ nội từ cánh đồng lúa, ngô khoai thổi vào đời ông thật mát mẻ và trong lành. Hè về cỏ cây, hoa lá, con sông, con cá, con chim v.v..  tất cả miên man trong tầng sâu của bất tận, với tư cách là nhà thơ, trong cái nhìn sâu xa đã tìm ra những thông điệp mấu chốt để lại cho đời. Dù đời sống quê ông còn nhiều nỗi nặng lo, song, ông đã tìm được niềm vui trong cái giản dị của miền sơn cước, của những chứng tích ẩn chứa bao điều mà con người chưa giải mã được, để ông sống và sáng tác hay hơn .

Chiều qua Tháp Cánh Tiên

Nghi ngút mô hình ngọn khói lên

Mờ trong gờn gợn nếp sương in

Khá thương mảnh đất trần gian mỏi

Còn nán trên đời phẩm thiết tiên

12/1989

 

Trước đây, mẹ tôi đã làm cái việc “Kiến tha lâu đầy tổ” sưu tầm, giữ gìn kỷ vật của ba để lại. Giờ tôi học tập bà việc này. Tôi có may mắn hơn, bạn bè gần xa, hễ có tin gì liên quan đến người cha thi sĩ của tôi thì lập tức họ bỏ thư, gửi tặng. Nhà tôi đủ tư liệu có thể giúp cho sinh viên nào cần để làm luận văn về ông. Vì từ trước đến nay, ở các Thư viện của hai thành phố lớn, tư liệu về Yến Lan hầu như hiếm hoi vào bật nhất so với các nhà thơ cùng thời.

Trên thực tế, ba tôi được nhiều bạn đọc yêu mến, ngưỡng mộ. Nếu bất chợt gặp mà biết tôi là con gái Yến Lan, thì người hâm mộ bỗng như gặp hân hạnh. Thế rồi họ giải bày tâm sự bằng đọc ra những vần thơ của ba tôi mà họ tâm đắc nhất. Qua đó, tôi mới biết rằng ba tôi không mất đi trong lòng mọi người. Những lúc như thế tôi cảm thấy tự hào về cha mình. Bài thơ “Bến My Lăng” được nhiều người nhắc đến nhiều nhất. Tôi cảm nhận được tình cảm của họ qua cách hỏi ngọt ngào, tha thiết “Cô là con gái “ông lái buồn để gió lẻn mơn râu đấy ư ?”, hay có người hóm hĩnh lái ý nghĩa của câu “hàng rong gặp hàng rong/liếc nhìn nhau qua mẹt bánh”, tôi đã đọc được  cảm giác của anh bạn trẻ khi xướng bốn câu của bài  “Cầm chân em-cầm chân hoa”, “Khi chị đi lấy chồng” và “nàng Vân giả dại” v.v..

Nhờ vào những dịp tiếp xúc đó, tôi ý thức hơn đối với việc sáng tác và giá trị đích thực thơ của cha tôi.

Tôi tìm hiểu đời ba tôi qua thơ ông. Đúng là ông đã truyền cho tôi mầm mống của tình yêu: yêu đất nước, con người, cuộc sống, và niềm tự hào được sinh ra trên đất nước Việt Nam này. Ông cho tôi thấy đời là sợi dây ràng buộc giữa người và thiên nhiên. Con người không bơ vơ, trơ trọi khi nhìn ra ý nghĩa của mình giữa cuộc đời để chia bùi, sẽ ngọt.   

Ngọt và đắng

Ô môi vàng ruộm, khổ qua-xanh

Em hái nhờ trao, gọi đáp tình

Không dặn nhưng ta đà rõ ý

Ngọt bùi cho bạn, đắng cho anh.

Ông còn dạy tôi cách nhận ra nợ đời. Biết nợ để trả, để tự thanh lọc mình sống tốt hơn, ý nghĩa hơn.                             “Nợ”

Nhà không vườn, không gác, không sân

Tôi nợ đời rau trái tôi ăn

Nợ hàng xóm trưa hè bóng mát

Nợ em cài bên cửa một vầng trăng

Nhận xét của tôi trước đây “Người Sài Gòn không mặn mà với thơ”, giờ  đã thay đổi. Một ngày nọ, tôi phát hiện người Sài Gòn trở nên yêu thơ đến là lạ. Nhiều câu lạc bộ thơ ca ở các phường ra đời; các thi hữu gọi nhau bằng những từ rất kêu  “Nhà thơ” này , nhà thơ nọ v.v.  Thơ bỗng dưng đơm hoa kết trái. Các thi hữu làm thơ, tự bỏ tiền in, tặng bạn. Thơ lại trở về nguyên vẹn với chức năng của nó “Nhất sĩ nhì nông” Thơ là nơi sẻ chia vui, buồn là mạch nguồn cho những bài ca, là tiếng nói chung của con người…

Có dịp nhắc tới vở kịch thơ “Bóng giai nhân”. Đây cũng là một vấn đề nan giải. Vở kịch thơ này từ khi mới lọt lòng đã mang tên hai tác giả là Nguyễn Bính và Yến Lan. Nhưng thật ra người chắp bút chỉ là ba tôi. Nếu như không có sự hiểu lầm rằng tác giả chính là Nguyễn Bính thì không có vấn đề gì xảy ra.

    Trong hơn 60 năm theo nghiệp thi ca, ba tôi bị mất  rất nhiều những đứa con tinh thần. Một trong những cái mất đó là sự nhập nhằn tên tác giả của “Bóng giai nhân”. Tôi xin bày tỏ mối quan tâm về tác quyền của nó. Có thể nói, tôi cố gắng để để bản chất sự thật được giải tỏa, đem lại công bằng cho cha mình.  Trước đây, ba tôi không có ý tranh chấp, ông luôn tôn trọng những gì lịch sử ghi lại. Nhưng không thể được. Nhà thơ Hoàng Cầm đã cảnh báo cho ba tôi “Ngay bây giờ, anh Yến Lan nên tìm cách cho đôc giả biết anh là tác giả vở kịch thơ, kẻo về sau rầy rà, khó xử. Giờ đây còn chúng ta mà đã có sự nhập nhằng, sau này lớp người của chúng ta không còn thì càng khó xử hơn !

Thấy ba tôi cứ lần khân, nhà thơ Hoàng Cầm đã viết   “Ai là tác giả chính của vở kịch thơ Bóng giai nhân” để bạn đọc hiểu cặn kẻ vấn đề một cách đúng đắn. Với bài viết này cũng chẳng phân giải được vấn đề. Nơi để trút bầu tâm sự của ba tôi là chú Đinh Tấn Dung-nhà nghiên cứu văn học hiện tại.

(Chúng tôi xin chuyển đến quý bạn bức thư riêng của Nhà Thơ Yến Lan viết ngày 13/3/1988 gửi cho Anh Đinh Tấn Dung; sau bài viết của Nhà Thơ Hoàng Cầm (bản thảo viết tay chưa được công bố); để mong rằng giới hữu trách quan tâm, có “Ý kiến kết luận sau cùng” về sự “nhầm lẫn” khó nói ra này. Sự thiên vị, mờ ám, và không công bằng – trước sau gì cũng phải nhường chỗ cho “Sự Thật”. MVL)

 

  Bình Định, ngày 13- 3 -1988

Kính gửi : Anh Đinh Tấn Dung (Khổng Đức)

Bức thư bảo đảm của anh đến hôm 1/3/1988. Tôi đọc dẫn đến cuối ngày 2/3. Bài viết về “Thơ Yến Lan” của anh tự nhiên đặt nhiệm vụ tôi phải đọc kỹ và nghiêm túc cho xứng với tâm sức và thịnh tình anh đối với tôi. Có những lúc cần giở tập thơ ra đối chiếu, tình cờ thấy ở dưới nhiều bài có ghi “Nhân kỷ niệm sinh nhật”. Thì nhớ ra hôm ấy là ngày sinh nhật của tôi. Nói và viết thế, chứ từ trước đến nay tôi chưa thiết bày một ngày lễ nào sinh nhật của tôi cả. Cả hôm tôi đúng 70 tuổi, Hội cũng có dự định, nhưng cũng không làm được. Sau đó gửi quà. Nhớ ra là đang ngày sinh nhật – thực ra thì 2 – 3 là ngày của âm lịch năm Đinh Tỵ. Nhưng hồi ấy ông thân sinh tôi khai ở trường lúc xin tôi “nhập môn”, nhà trường ghi vào hồ sơ tính theo dương lịch, nên vẫn giữ như thế. Tra cứu kỹ, chắc ngày ấy nhằm đâu chừng khoảng 20.4 hay 22 gì dương lịch ấy. Thôi, chẳng có gì quan trọng. Tôi nói thế là để nói lên một sự trùng hợp lý thú: Gặp ngày sinh nhật, được đọc chương bình phẩm của cả một quá trình trở lui về trước cuộc đời làm thơ, do một người bạn đã hầu như quên lãng trong số bao nhiêu tri ngộ.

Dường như gặp nhau hôm ấy, tôi đã nói đến cái chuyện này với anh. Mà nào chúng ta có học thói vô tình!

 Gặp lại anh rồi, từ lúc ấy tôi cứ nhớ mãi, những kỷ niệm cũ được nâng tầm theo kỷ niệm mới, rõ nét dần lên . Thế rồi giữa cái ngày 2/3 này, tôi làm một số tuyệt cú. Xin chép anh đọc cho vui; mặc dù còn cần nhiều sửa chữa :

Bài chị

Tháng giêng âm lịch, tháng tư dương

Xáo trộn tâm tư biếng dõi chừng

Hỏi vợ mới hay sinh nhật đến

Lệ từ năm trước lại rưng rưng.

Bài em

Âm lịch còn giêng – dương, tháng ba

Bộn bề sách vở chửa phân ra

Lật nhằm thơ cũ mừng sinh nhật

Văng vẳng dường ai nhắc ở xa.

 

 Bây giờ xin tiếp tục câu chuyện vừa đứt quãng ở trên.  Xem xong “Đọc thơ Yến Lan” của anh, cảm xúc đầu tiên của tôi là : đó là một bài tiểu luận công phu vươn đến chỗ thấu đáo những gì còn tiềm tàng trong thơ của YL mà bao lâu nay những ai nói đến đều chưa đạt. Như đoạn nhắc đến Bến My Lăng, nhưng cái chính là dựa vào “tất định thuyết”.

 Ở đoạn: thơ tồn tại hay không… ngược lên trên, theo tôi nghĩ là cũng không cần thiết, vì muốn cho một tiểu luận nhằm hoàn toàn đề cập đến cái chân nghệ thuật của một hồn thơ – ở đây khiến người ta nghĩ đến một đời thơ – thì việc phát hiện và phân tích thơ cần gì đá động đến cái việc “tổ chức” thuộc về công tác quản lý của các giới chạy vòng ngoài của nghệ thuật. Chính trong công việc điều hành của nó nhiều khi lại làm vật cản cho tài năng – Cả đoạn kết thúc cũng thế. Khách quan đọc thấy nặng nề.

 Nói chung lại, những phát hiện của anh ở tập thơ, tôi đều tâm đắc. Chỉ còn một số chi tiết, tiếp tục đọc thêm sẽ bàn sau. Về khía cạnh ứng dụng thật có thừa sự hàm súc, nhưng văn ngôn, có cũ đi chăng?

À, kịch thơ “Gái Trữ La” tôi viết năm 1943 (sau “Bóng Giai Nhân” (quãng giữa 1941 – 1942) – Gái Trữ La diễn ở Thanh Hóa lần đầu – Và “Bóng Giai Nhân” ở Huế.

 Nhân nhắc đến “Bóng Giai Nhân” tự nhiên đối với anh, tôi không thể không nói. Hôm qua tôi đã viết cho Chế Lan Viên cả một bức thư dài về câu chuyện có liên quan. Nó là như thế này:

   Tình cờ tôi đọc trên số báo Nhân Dân ra ngày Chủ nhật 28/2/1988 – ở hàng cột cuối trang 4 có ghi một tin ngắn dưới cái titre: xuất bản tác phẩm của Nguyễn Bính, có ghi , đại khái như sau : Để kỷ niệm 70 năm ngày sinh của Nguyễn Bính, Sở Văn hóa và Hội Văn nghệ Hà Nam Ninh đã xuất bản… sẽ tiếp tục in những vở kịch thơ của Nguyễn Bính

  Điều này làm tôi tự nhiên bỗng nghĩ đến những cái không may thường xảy đến trong đời làm thơ của bản thân, khi nhớ đến đoạn tiểu sử về Nguyễn Bính và chỗ giới thiệu tác giả chính in lên trên lời tựa của Tô Hoài mở đầu “Tuyển tập thơ Nguyễn Bính” (do Nhà xuất bản Văn hóa và Nhà Xuất bản Long An tái bản năm 1986).

– Ở đoạn tiểu sử ghi: Vở kịch “Bóng Giai Nhân” Nguyễn Bính soạn theo phác thảo ban đầu của Yến Lan (1942)… Ở phần tác phẩm chính ghi chỉ một tên Nguyễn Bính.

  Trong việc sáng tác một tác phẩm, cái phác thảo ban đầu quyết định được gì trong việc hoàn thành tác phẩm ấy? Mà sao lại dám khẳng định ở ngay “tuyển tập”–một công trình dù thế nào đi nữa–vẫn cứ được mặc nhiên dành được ưu thế thuyết phục, thiếu gì kẻ lười nhác trong việc sưu tầm và giới thiệu tiếp sau, sẽ vin vào đó làm căn cứ tối hậu tổng kết. Tôi chưa rõ ngoài “Bóng Giai Nhân”, Nguyễn Bính có viết “được” và “nêu” một vở kịch thơ nào khác nữa không ? Vậy thì nay mai các nhà xuất bản trên kia in nó ra–tôi nghĩ còn có mục đích khác quan trọng nữa là lợi nhuận – vì sách sẽ chạy – thì các quyền lợi của tôi bị tước bỏ. Ngay cả quyền lợi thiêng liêng là cái danh nghĩa chính đáng làm tác giả. Từ trước đến nay “Bóng Giai Nhân” đã phải mang tên hai tác giả (là do lúc viết – ra ở Huế, tôi và Nguyễn Bính ở chung một nhà, cả Vũ Trọng Can) – để cho đủ tên 2 nhà thơ để cho hấp dẫn – Giá lúc ấy Vũ Trọng Can lại là nhà thơ nữa thì có khi có cả tên vào đó. Nhiều tài liệu đã nêu, như Từ điển Văn học  tập II của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội – Lịch sử kịch nói Việt Nam (trước cách mạng) Nhà xuất bản Văn học do Phan Kế Hoành và Huỳnh Lý (1978) – và nhiều tác phẩm, tiểu luận khác. Ngay hiện nay ở nhà, tôi vẫn còn giữ một tập đánh máy từ ngày viết xong để trình kiểm duyệt và rã cả vai–có đề tên cả 2 ngườ  tập ấy tôi gửi một bạn gái rất thân ở Hà Tiên nhân khi sắp diễn, và nhắn chị ấy chuyển cho anh Đông Hồ và chị Mộng Tuyết đọc. Sau này định diễn ở Thanh Hóa, tôi gửi thư vào mượn lại. Về Bình Định mang theo rồi gửi anh Quách Tấn giữ cho đến khi giải phóng trở về.

 Tôi đang có một dự định nhằm làm cho sáng tỏ – Báo cho các nhà xuất bản trên cần lưu ý vấn đề này.

 -Viết nhờ Báo Văn nghệ đăng mấy dòng cải chính, và báo cho Hội Nhà văn–Nhưng chỉ sợ họ cho là “đã có lửa đâu mà lo cháy” –Yến Lan chỉ xông khói lên thôi. Có thể lắm chứ.

 

-Viết một hồi ký về Huế (trong ấy xoay quanh những sự việc và xúc cảm về “Bóng Giai Nhân”,nhân đó mà nói rõ sự thật. Năm ngoái, Biên tập Sông Hương có mời tôi tham gia, giờ mà có bài thì họ đăng thôi. Và tôi đã viết một hồi ký gần 6.000 chữ. Mấy hôm nay đánh vật với nó và đọc lại thì cần điều chỉnh lại cho tế nhị, dịu dàng hơn. Thế là hiện giờ thì đang treo mà tôi đã mệt.

 

Tôi nghĩ, ngoài cái hồi ký ấy, giá có một nhà nghiên cứu nào viết theo chủ đề: đại khái như: Nhân cái tiểu sử ở đầu một tuyển tập, nghĩ đến trách nhiệm và tính chính xác, chính chân thật của việc nghiên cứu và giới thiệu.

Anh nghĩ “Bóng Giai Nhân” có thể là một vụ án Văn học không? Theo tôi thì có, nhưng già rồi, lực tận thế cô cũng đến bỏ cuộc thôi.

Thư viết lung tung, bút xấu mực nhạt, xin anh thông cảm. Chúc gia quyến anh vạn sự tốt lành.

Nay, ký tên

Đấy, đâu phải ba tôi không muốn mọi người hiểu được sự thật. Nhưng vấn đề này sao có vẻ khó khăn quá. Nghe đâu, Lâm Huy Nhuận, em trai tôi cũng đã có đặt vấn đề này với Hội Nhà Văn thì được trả lời “Thôi lịch sử văn học thế nào cứ để như thế”

Là con của tác giả, con có quyền tự hào những gì ông cha để lại. Có điều phải biết tôn trọng sự thật;  Má tôi cũng bực mình về chuyện này và bà mong ai đó nên hiểu vấn đề hơn.

Phải chăng, do bức xúc vấn đề này, bà Mộng Tuyết, khi gặp lại ba tôi, nghe dư luận tranh cải tác giả kịch thơ “Bóng Giai Nhân”. Bất luận là cả Nguyễn Bính và Yến Lan đều là chỗ thân tình, bà vẫn chân thành khuyên “Anh nên viết, nếu không nhiều thì cũng vài dòng cho mọi người biết rõ sự thật. Sự thật sẽ làm mất lòng người, nhưng mất lòng trước sẽ được lòng sau ”.

Ba tôi đã viết khoảng 6.000 từ với  tên “Chiều chiều mây kéo về kinh” kể tỉ mỉ quá trình sáng tác “Bóng giai nhân” của ông…

 

  Chiều chiều mây kéo về kinh

 

  Sau một chuyến đi dài vào mảnh đất tận miền Tây Tổ quốc, tôi trở về quê, lòng chưa ráo nỗi nhớ đường, nhớ sá, thì trời đã chớm sang thu. Khắp khu đất nội thành Bình Định mênh mông, mùa gòn đang tách vỏ. Những tiếng ve sầu còn sót lại, vẳng lên khí đìu hiu. Lòng tôi cũng lơ lửng như những múi bông gòn trên chớp nóc nhà dân xiu vẹo, trên những mái cong dinh thự rêu phong. Thư viết cho bè bạn, lúc nào cũng nói đến nỗi ray rứt muốn được tiếp tục đi xa.

Một buổi sáng tôi nhận được bức thư của người bạn gái, quen nhau hôm ở Hà Tiên, do chị Mộng Tuyết giới thiệu. Vì là bạn thân, chị biết tôi đang sống khó khăn, hàng ngày đối phó với một bà dì ghẻ khó tính, những sự vụn vặt ngày thường choán hết hứng khởi sáng tạo. Chị tán thành và khuyên tôi nên thay đổi không khí. Bức thư kèm theo giấy chuyển tiền đủ chi dùng cho một cuộc đi dài và nếu lâm vào cảnh lữ thứ, có thể sống trong vài tháng. Thế là tôi chuẩn bị một cuộc ra đi, cũng chưa rõ là đi đâu. Tiếp đến hôm sau thì tôi nhận được một bức của Vũ Trọng Can.

Lâu nay Can vẫn thường viết cho tôi, nhất là những ngày Can ở trong tòa soạn “Tiểu thuyết thứ năm”, từ Hà Nội. Bức thư này lại từ Huế, đại khái như sau: Báo chết rồi, bọn Can đang chuyển sang hoạt động sân khấu. Đang thành lập một Ban kịch với chương trình sẽ đi biểu diễn từ Bắc vào Nam. Hiện “Cập bến Bông Hương”. Nếu Yến Lan thích cuộc sống lưu động để tiêu sầu này, thì ra gia nhập với bọn mình…”

Đọc thư, tôi ngồi tưởng tượng… tưởng tượng… bao nhiêu kỳ thú, sôi động, hào nhoáng và mê ly… Cả một cuộc sống lan tỏa hoa đăng… cả một kho dự trữ và luyến ái và thi tứ. Và tôi quyết định nhập cuộc. Nhưng cũng phải đề phòng, nếu đó chỉ là câu chuyện bốc đồng? Nhưng lòng muốn ra đi luôn luôn thôi thúc, tự nhiên tôi nghĩ đến cái phương châm “đến đâu hay đó” khi nhỡ ra là những chuyến tàu suốt vào Nam ra Bắc hàng ngày đều tránh nhau ở ga Bình Định. Và tôi nghĩ: hãy lên ga cái đã – hễ tàu ra bán vé trước thì ta ra, và ngược lại…

Hôm ấy tàu ra đi trước, vừa khi lên tàu, tôi nhờ một người bạn đưa chân, đánh điện cho Can.

Tôi đến Huế vào khoảng hơn 8 giờ đêm. Cả “Ban kịch” đều ra đón tôi, gồm có Vũ Trọng Can, Nguyễn Bính và một chàng thanh niên. Sáng hôm sau tôi mới biết chàng trai này thuộc về loại đi theo điểu đóm. Ngoài ra, không còn gì nữa.

Lần đầu tiên mới gặp Nguyễn Bính – trước thì cũng chưa có thư từ, quan hệ gì. Chúng tôi nắm tay, bá cổ nhau, chào mừng rối rít. Và Huế… Huế, vừa mới chạm lên vài sải bước chân, sao đã nghe thấy dậy trong lòng nỗi êm dịu, ngọt ngào khó tả.

Bốn chiếc xe tay do Nguyễn Bính chỉ dẫn, đưa bốn người chúng tôi từ cửa ga đến tận Gia Hội, đỗ ở trước một hiệu ăn khá lớn. Cơm, rượu no nê, bốn chiếc xe lại đưa chúng tôi về nhà trọ ở bên kia cầu Tràng Tiền, cách Đập đá chẳng bao xa.

Ông chủ nhà trọ ra mở cửa, dáng điệu bực bội và khi nhìn thấy tôi, thốt những câu gì làu bàu, không rõ. Tôi tinh ý, biết ngay là có sự phiền hà.

Nhà trọ đây không phải là lữ quán chứa tạm khách lai vãng một vài hôm. Nó là một căn nhà thờ họ, người kế thừa nhận cho trọ lâu dài và nấu cơm tháng.

Phòng trọ chứa nửa của “Ban kịch”, nhưng khi có tôi thêm càng chật ních. Đêm ấy tôi nằm bên Vũ Trọng Can, thao thức mãi vì cứ nghĩ lan man.

Tôi đâm ra trách người rồi trách cảnh. Huế ơi, sao trước đây vài giờ, qua những bước đầu tiên tôi đặt xuống sân ga, Huế hồn nhiên, kiều lệ, dồn lên tâm hồn tôi bao nhiêu êm dịu, ngọt ngào, thế mà giờ đây, một không khí phiền hà, lãnh đạm đang chập chờn phủ tới.

Tôi đem nỗi dằn vặt ấy hỏi, Vũ Trọng Can thì thầm:

– Cũng là điều đáng quan tâm, nhưng không can gì cái việc thường tình ấy. Ngày mai chúng ta sẽ tìm cách giải quyết, chúng mình đang thiếu ông chủ nhà một tháng tiền cơm, giờ thấy có thêm cậu nữa. Ờ mà thôi, rồi sẽ có cách… khẩn trương đấy, chiều nay ông chủ trọ đã báo là ngày mai sẽ cắt và đề nghị bọn mình dọn đi.

Nhân đó, tôi hỏi: Thế thì Ban kịch của cậu đâu? Hoạt động ra sao rồi? Can cố dấu cái thở dài, nuốt nghẹn ở cổ:

– Ban bệ, kịch cợm gì đâu. Bọn mình chán Hà Nội, nên rủ nhau đi du ngoạn một chuyến với ý định sẽ thành lập một ban kịch để làm cứu cánh về mặt tài chánh. Nghĩ đến cậu đang nằm khoèo ở tỉnh lẻ, mình viết thư gọi cậu ra chơi cho đỡ buồn.

Nghe xong tôi cũng nghẹn ngào ở cổ. Biết tôi không thích liều lĩnh – Can trấn an bằng cả một thôi dài tâm sự: Can đã nghĩ ra nhiều biện pháp xoay sở cho ra tiền. Can đã có ý định diễn kịch đảm nhiệm phần dàn dựng, quảng cáo, bán vé và thu tiền rồi chi cho nhau chỉ tiêu phần trăm quy định. Can cho biết cụ thể, việc Can đã tìm gặp và trao đổi với Hà Xuân Tế thư ký riêng của Nam Phương Hoàng hậu (thay chân cho Nguyễn Tiến Lãng đã đi nhận chức phủ thừa). Hà Xuân Tế lại là chủ tịch của Hội A.A.A (gọi là hội 3 chữ A) tên gọi tắt của một hội hoạt động thể thao thể dục. Thực ra nó là của ông Hoàng bà Chúa chọn riêng một môn quần vợt, cùng giao hữu với hạng công chức cao cấp. Can còn phải làm sao cho ra kịch bản và diễn viên là phần được phân nhiệm. Cuối cùng Can hỏi:

– Cậu còn bao nhiêu?

– Vừa tiêu phí nội ngày hôm nay, chỉ còn đủ trả một tháng cơm bình dân.

– Thế thì tốt. Ngày mai ta sẽ lấy tiền ấy tạm ứng cho ông chủ. Rồi sẽ vui vẻ cả thôi.

Sáng hôm sau, với tâm trạng một người “lỡ bước” tôi bỏ cuộc đi chơi núi Ngự, đã hẹn với Nguyễn Bính lúc ở tiệm ăn Gia Hội đề nghị khẩn trương họp nhau lại bàn qua chuyện diễn kịch. Chúng tôi ngồi lại trên mấy cố vấn trần, nghiêm chỉnh thảo luận. Qua sự trình bày của Vũ Trọng Can về mấy phác thảo các vở kịch nói Can định viết từ hôm rời Hà Nội đi vào, thì còn xa với yêu cầu đang đặt ra. Bàn sâu, tính rộng mãi, chúng tôi đi đến nhất trí: diễn thuật mới mà Huế là nôi thể nghiệm đầu tiên. Thực ra đó chỉ là những lời khoác lác để cười với nhau, chứ mục tiêu chính là ở chỗ cố làm sao cho hấp dẫn để có được khoảng thu kha khá, trang trải nợ nần và còn ung dung thưởng ngoạn. Để cho thật hấp dẫn, chúng tôi nghĩ đến những câu chuyện ly kỳ ở các huyền thoại, nhất là ở “Đông chu liệt quốc”, dựa vào dã sử hoặc hư cấu ra cốt truyện theo không khí dã sử. Nhân vật sẽ là những con người cá biệt cực đoan, tình huống phải thật éo le, tâm tư luôn dằn vặt. Và cũng để cho vở kịch đưa ra một giải đề gì về mặt nội dung, chúng tôi nghĩ ngay đến cái tư tưởng hủ bại đang còn ngự trị trong tầng lớp thượng lưu, luôn luôn tôn sùng quyền thế, chạy theo danh vọng mưu cầu một cuộc sống “Võng long xênh xang” đang còn nhan nhản ở Huế. Một điển hình người sẽ hiện lên sân khấu, xách gươm báu đi săn đuổi giật lấy vinh quang, đã thủ tiêu ân tình, phản bác đạo lý và tiêu ma cái đẹp. Đó là phác thảo đầu tiên do tập thể ba người góp nhau trong một buổi sớm. Cơm xong, tranh thủ bỏ giấc trưa, bàn tiếp luôn các chi tiết: Bí quyết làm cho gươm thêm thiêng (cái điều kiện duy nhất đưa đến vinh quang của một tráng sĩ cuồng ngông) là phải tôi gươm lần nữa vào máu ba người tình cờ gặp trên đường đi–theo lời thần mộng. Việc phác thảo này như một cuộc múa gậy trong phòng–Nhân vật nhất thiết phải lệ thuộc số người có sẵn, mà ngoài chúng tôi thì chắc gì có thể nhờ vào được ai? Loại trừ em thanh niên sẽ chạy vòng ngoài, cả ba thằng nhà văn, nhà thơ chúng tôi phải lãnh vai mà đóng. Thế thì vở kịch chỉ có ba nhân vật sao? Và toàn là nam giới cả thì còn đâu cái nhưng cái nhị của sự hấp dẫn? Biểu tượng của cái đẹp bị tiêu ma trong kịch sẽ là nhan sắc của một người con gái thùy mị, đoan trang.

Nguyễn Bính tả và kể ra những em Đào, em Lý, cô Mừng, cô Thương với khá nhiều thiếu nữ, thiếu phụ mà anh từng gặp trên các nẽo đường phố của Huế…

Vũ Trọng Can cũng tả và kể ra những em Đào, em Lý, cô Mừng, cô Thương của mình, nhưng phải kết luận: có trời mà vận động cho các gia đình ở đây người ta đồng ý cho con, em mình tham gia lên sân khấu. Nhất là con gái. Thế là lâm vào thế kẹt.

Trước đó không lâu, Nguyễn Bính có sáng tác một bài thơ, nhan đề “Xóm Ngự viên”. Đó là bài thơ hay, được tán thưởng. Bính đã chép lại trên một tờ giấy nguyên khổ, giấy in báo, nét chữ to, bay bướm, treo trên tường trước mặt. Tình cờ tôi ngước lên, liền hỏi với một ý nghĩ bâng quơ:

– Xóm Ngự viên ở phía nào nhỉ. Hôm nào vào đấy xem cho biết.

Vũ Trọng Can bổng nhảy người lên

-Ngự viên, Ngự viên–đúng rồi. Ừ nhỉ, sao mình quên bẵng đi.

Rồi đột ngột Can đứng lên:

– Mình với Nguyễn Bính sẽ vào đó, có một cô gái lai Pháp, mồ côi từ nhỏ. Hiện bán chè rao nuôi mẹ. Nhất định sẽ thuyết phục được. Cô ta sẽ là nhân vật biểu tượng xứng đáng cho cái đẹp trong vở kịch.

Rồi hai người lội bộ ra đi. Mấy giờ sau tin về, phấn khổi, cô gái rất đẹp, không đề ra điều kiện khó khăn nào, duy có một điểm làm cho tôi ngẩn ngơ giây lát, là cô ta mù chữ. Sau việc báo tin đến việc bàn biện pháp khắc phục. Đành sử dụng sắc đẹp của cô gái thôi, và sắc đẹp cần gì phải thốt lên lời mới gây được đắm say, mới quyến rũ. Một vẻ buồn của Tây Thi xưa cũng đủ khiến nghiêng thành, nghiêng nước. Chính vì vậy mà vai người đẹp trong vở kịch không thốt một lời nào. Trong các luận bàn, tội là người hăng say nhất, vì mình thế thôi thúc: đã đến Huế rồi, phải tạo điều kiện để ở cùng Huế cho đã cơn khát Huế, dù chỉ là bằng những ngụm nước vốc lên từ mặt sông Hương. Không có sự phân công, không có cuộc tranh phần, mặc nhiên tôi thành người chấp bút.

Chẳng cần phải tra cứu, đối chiếu gì. Nó như được sắp xếp lớp lang sẵn ở một bản nháp, giờ chỉ có việc chép lại, nên vở kịch hoàn thành vào cuối buổi sáng hôm sau. Buổi chiều đưa bản thảo ra duyệt, bổ sung và có gì cần thì tập thể chỉnh lý. Vừa mới bắt đầu đã thấy Chu Ngọc bước vào. Ngọc là người am hiểu nhiều về sân khấu. Anh vốn là đạo diễn và từng làm trưởng Ban những ban kịch nói thỉnh thoảng xuất hiện vào mùa kịch ở Hà Nội, vở kịch được thông qua nhanh. Chỉ có đôi lúc nảy ra vài cuộc cãi cọ giữa tôi và Nguyễn Bính về phong cách và ngôn ngữ. Bính chê văn ngôn quá Tây bắt chữa lại mấy chỗ. Tôi tự ái, bỏ đi cùng Chu Ngọc ra hóng mát cầu Tràng Tiền. Chiều về, không có bàn cãi gì về vở kịch nữa. Vũ Trọng Can bàn với tôi là rủ đi ngay đến Hà Xuân Tế và được hẹn sáng mai sẽ trả lời, vì còn cần đọc.

– Vì có Hoàng Đế dự xem. Nếu vở kịch thêm một vài đoạn có tính cách tôn vinh thì nhất định sẽ nhiều đặc ân cho các hoạt động sau này. Các anh mang và bổ sung cho khéo léo một chút. Tôi biết đây là một xảo thuật trong nghề làm quan, vị thư ký riêng của Hoàng hậu này ứng dụng nhạy bén cho tiền đồ. Thì cứ để anh ta như nguyện, có gì xúc phạm đến nghệ thuật, đến mình đâu mà chối từ. Tôi liền vui vẻ nhận lời, nhưng không đợi đến lúc về nhà, tới ngay bàn làm việc, loáy hoáy một thôi, thêm được chục câu thơ mang tính cách tôn xưng chung chung, hướng về một ông minh quân đó.

Hai hôm sau thì giữa lòng Huế xôn xao lên vì những áp phích, những tờ quảng cáo cho vở kịch, dán ở các công trình công cộng và các mặt tường nhà thoáng rộng. Nhất là ở các ngã tư đại lộ, những biểu ngữ bằng nguyên súc vải trắng, được dán lên những hàng chữ đỏ viết bằng tiếng Pháp:

                Bóng giai nhân

Bi tráng kịch bằng thơ của Yến Lan và Nguyễn Bính

Sẽ trình diễn ở Accueil vào các đêm…

Dưới quyền chủ tọa của Hoàng đế Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu.

Mặc dù đã trải qua những cơn hồi hộp vì hạnh ngộ ban đầu khi được nêu dưới những bài thơ đăng trên báo chí, tôi vẫn cảm thấy phấn khổi đến dạt dào. Riêng Nguyễn Bính thì anh lại hồ hởi với những ý nghĩ cuồng nhiệt trong vẻ cợt đùa nói tếu:

– Vua ông đi xem, vua bà đi xem, thế thì tam cung lục viện cũng đi xem. Rồi sáu bộ cũng tháp tùng. Chà, chà, cả Huế đều đi xem tất. Thế thì tiền vé để đâu cho hết. Chuyến này phải thả lên sông Hương sáu con đò két lại làm một khách sạn nổi… Ba con làm phòng ngủ, ba con chở theo bàn đèn, bia, rượu, nem, chả, chè, cháo… tha hồ mà lạc hưởng

Đấy là chuyện đùa vui, không có sự bàn cãi.

Trong mấy ngày tập luyện, tôi vẫn đến nhà Lành đạo diễn cho đến thuần thục, dù sao tôi vẫn tiếc, giá như Lành biết chữ, thì nhất định tôi sẽ cố gắng viết lại màn kịch thành chương tuyệt tác, điều ấy đòi hỏi ở tôi một cố gắng vượt bậc, nhưng xứng đáng với Huế, với một nhan sắc yêu kiều.

Cuộc biểu diễn đêm đầu–và cũng là đêm kết thúc không thu được kết quả như lòng tôi mong muốn. Diễn xuất có vẻ vội, không đạt tới mức chứa và tầm nâng của lời thơ. Về mặt tổ chức, Hội A.A.A bỏ rơi diễn viên trong cái thế chơi vơi của một khoang đồ thủng đáy. Không có một bàn tay tháo vát xếp đặt, bỏ sân khấu trống trơ giữa bốn cánh gà và lá màn hậu, mặc dù chúng tôi yêu cầu trang trí hết sức giản đơn theo lối tượng trưng. Cả một chiếc hòm to đựng các đồ lễ, vũ khí, mũ giày mượn từ trong nội cung ra, cũng không đáp ứng được yêu cầu. May mà bọn diễn viên chúng tôi không hiện ra sân khấu với những trang phục quá cỡ, tả tơi, meo mốc, nhờ biết đề phòng đã chạy trước từ sáng hôm ấy, đến nhà Nguyễn Tiến Lãng, mượn các Kimônô anh mang từ Nhật Bản về, nhân lúc tháp tùng theo phái đoàn ngoại giao của tên toàn quyền khâm sai Yue Chatel. Nhất là khoảng tiền thu: một hội trường có sức chứa gần ba nghìn người đã chật ních – Giá vé thấp nhất, năm hào, mặc dù đêm ấy Bảo Đại không đến xem vì có sự kiện đột xuất, chuẩn bị Bắc tuần, cả Nam Phương, cả viên Khâm sứ Pháp đều theo, nhưng cũng gởi đến gọi là “Ban tứ” cho đêm diễn, mỗi vị 15 đồng, cộng với số tiền quảng cáo cho cuộc xổ số Đông pháp cũng chừng 15 đồng, tiền vé 20 đồng.

Sau này người ta đổ cho việc lạm phát giấy mời. Chúng tôi vở mộng–nhất là Nguyễn Bính với viễn cảnh sáu con đò… Nhưng có một điều an ủi mà cho đến bây giờ, mỗi lần nhắc đế, tôi vẫn không quên được từng chi tiết, dù là thoáng qua: Giữa lúc màn kịch cuối cùng hạ nhanh, khán giả sắp lưng vào phía sân khấu chen nhau cuồn cuộn như một dòng nước thoát ra phía cửa, thì các anh Lưu Trọng Lư, Đào Duy Anh và vài bạn nữa vượt lên sân khấu, đến cầm tay siết chặt từng người. Anh Lư nói bằng tiến Pháp “Tuyệt, tuyệt, tuyệt vời” không biết anh khen ngợi một pha nào trong lúc diễn xuất, hay khen vở kịch, về tình huống đầy kich tính, về bút pháp bay bướm văn chương, mà lúc ấy đang là những năm vừa mới thoát ra sự phôi thai của nền thơ mới Việt Nam.

Khi rạp đã trở lại vắng vẻ “Bóng giai nhân” đã biến đi lúc nào không hay, Nguyễn Bính cũng đi rồi. Tôi và Vũ Trọng Can thu nhặt hết các dụng cụ, đồ trang phục cho vào chiếc hòm gỗ to, và..

Mỗi người nâng lên một quai hòm, hai chúng tôi ì ạch kéo lê bốn cẳng chân rời rã, mỏi mệt, dầm dưới cơn mưa đêm cuối hạ của Huế, lần bước cho đến khuya mới đến cửa nhà trọ. Ông chủ ra mở cửa, thò tay nâng cho chiếc quan tôi đang xách, như đã cảm thông tất cả nỗi niềm đang đè nặng lòng tôi.

Sáng hôm sau, tôi ra An Cựu tìm gặp lại người bạn học cũ ở Bình Định, tình cờ gặp nhau giữa đường hôm nọ, tôi hỏi vay hai đồng bạc – số tiền vừa đủ cho xuất vé và đĩa cơm trong chuyến tàu suốt vào Nam, sẽ trả tôi về với cái không khí cô liêu cố hữu từ xưa, ngày ngày nghe vẳng lên một câu hát ru con, không biết do tình huống nào mà có, giờ lại nhằm đúng vào tâm trạng của tôi:

Chiều chiều mây kéo về kinh

Ếch kêu giếng loạn thảm tình đôi ta.


Read Full Post »

Bút ký của Huỳnh Kim Bửu

                 “Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt”

                                                                 (Thơ Nguyễn Khuyến)

(more…)

Read Full Post »

Trong quán bar lạnh tanh. Sau khi ngồi xuống ghế, người đàn bà ngẩng
đầu nhìn quanh một lượt. Đúng lúc ấy, ánh mắt của nàng và ánh mắt của
Cao Đắc Thắng không hẹn mà gặp nhau. Giữa lúc Cao Đắc Thắng sắp phải rút lui vì ánh mắt của nàng chiếu tướng, thì nàng lại đột nhiên cười.
Một nụ cười đôi chút phiêu lãng.

Cao Đắc Thắng như được khuyến khích. Chàng không chút do dự đứng phắt dậy, tay cầm cốc, bước thẳng đến trước mặt nàng, nói:

– Nếu không phản đối, tôi có thể ngồi xuống cùng chị nói chuyện không?

– Muốn bao tôi chăng? – Đối phương tung ra một câu hỏi bất ngờ làm Cao
Đắc Thắng bỗng bối rối.

– Hay là thích qua một dem?

Cao Đắc Thắng cứng họng, lúng túng như gà mắc tóc.

– Tôi là Lâm Đạt! – Đối phương đột nhiên mau lẹ chuyển làn, chốc lát đã
giải vây cho chàng.

– Tôi là Cao Đắc Thắng! – Tim của Cao Đắc Thắng đập bình thường trở lại

– Kết bạn lung tung với người khác giới ở nơi tứ chiếng, lẽ nào đàn ông
không sợ nguy hiểm sao? Đàn bà nguy hiểm lắm đấy!

Nàng hỏi một câu làm cho Cao Đắc Thắng cảm thấy khó hiểu vô cùng.

– Nguy hiểm! Tại sao lại nguy hiểm? Không! Trái ngược một trăm phần
trăm, chỉ có ở bên cạnh đàn bà, những người đàn ông mới có cảm giác an
toàn thật sự. Nếu bàn về nguy hiểm tôi lại cảm thấy rằng đàn ông còn
nguy hiểm hơn đàn bà! Lâm Đạt tình tứ nhìn chàng.
Đến lúc này, Cao Đắc Thắng mới ý thức được mình đã quá lời, vội vàng
lái sang chuyện khác:

– “Chị không định uống chút gì sao? Ở đây tôi rất quen, tôi gọi cho
chị!”
– Một cốc rượu vang đá! Cảm ơn! – Lâm Đạt mỉm cười nhìn chàng.
Cao Đắc Thắng nghĩ bụng, đêm nay rõ ràng lại là một đêm khó quên. Lát
sau, họ vừa uống vừa nói chuyện, tỏ ra rất tâm đầu ý hợp.
Bất giác, Cao Đắc Thắng nhẹ nhàng cầm tay nàng hỏi:

– “Nếu không phật ý, có thể nói cho tôi hay bàn tay nhỏ xinh xắn này
dùng để cầm cái gì nào?”.
– Dao! – Nàng nói cộc lốc.

– Chị là bác sĩ ngoại khoa ư? – Cao Đắc Thắng ngạc nhiên.
– Nếu nói rõ hơn thì đã từng là một bác sĩ ngoại khoa! Còn nay lại là
một người phụ nữ chủ gia đình một trăm phần trăm! Sao, anh không tin à?
– Xin lỗi! Trong ấn tượng của tôi, bác sĩ ngoại khoa đều là những động
vật máu lạnh. Mà chị …
– Lẽ nào tôi lại không máu lạnh ư?

– Không! Không! Trông chị dịu hiền làm sao, hơn nữa còn rất phong lưu
thanh nhã nữa…
– Anh đã tưởng tượng tôi là một người hoàn mỹ như thế ư? …

– Đúng thế! Từ khi chị vừa bước chân vào cửa, tôi đã bị chị làm cho mê
muội, hoàn toàn bị mê muội! – Cao Đắc Thắng đắm đuối nhìn thẳng vào mắt nàng, nói.
– Nhưng, tôi đã kết hôn rồi…
– Nói thật lòng, tôi thích những người đàn bà thành thục. Chỉ có đứng
trước người đàn bà thành thục tôi mới cảm thấy mình là một người đàn
ông ra trò.
Người đàn bà áo đen khanh khách cười, má ửng hồng.
Giữa lúc tay Cao Đắc Thắng muốn đưa ra một lần nữa, thì nàng đột nhiên
đứng bật dậy, nói: “Xin lỗi! Muộn quá rồi! Tôi nghĩ tôi nên ra về!”.
Nói xong, nàng quay người lướt đi như bay.
Cao Đắc Thắng bỗng như ngây như dại. Chàng cảm thấy đau khổ quá, thậm chí còn có một cảm giác bị lừa dối, bị bỡn cợt.
Chính giữa lúc Cao Đắc Thắng bải hoải tâm hồn, ngồi ủ dột, thì Lâm Đạt
lại bất ngờ quay lại.
Nàng nói: “Sao? Anh không muốn cùng đi với tôi
à?”.
Lát sau, hai người cùng ra khỏi cửa hàng…
– Nếu chàng không ngại gì, em mời chàng đến nhà em coi thử!
– Thật thế ư? – Cao Đắc Thắng hơi do dự.
Lâm Đạt cười, nói: “Đừng lo! Chồng em, anh ấy thường không ở nhà!”.

– Thế à? – Cao Đắc Thắng nghe vậy mới yên tâm.
– Nhưng trước khi lên xe, em có một điều kiện! – Nàng nói.
– Điều kiện gì nào?
– Trước khi tới nhà, em phải bịt kín hai mắt anh lại!
– Tại sao phải làm như vậy? – Cao Đắc Thắng ngạc nhiên, hỏi.

– Bởi vì, chồng em là một người có địa vị cao. Em không muốn do một sơ
suất nhất thời của mình, mà đem lại bất cứ một phiền phức không đáng có
nào.
– Em sợ sau khi biết nhà của em, biết đâu một lúc nào đó anh lại mò đến
tìm em? – Cao Đắc Thắng có vẻ giận dỗi, nói.

– Em đâu có nói anh đúng là loại người ấy! Song, một người ở vào bối
cảnh gia đình như vậy, thì biện pháp đề phòng nhất định là không thể
thiếu, nếu không, cuối cùng người bất hạnh chỉ có thể là một mình em! –
Lâm Đạt nhẫn nại giải thích.
– Sao không thuê phòng ở khách sạn chẳng hạn.

– Không được! Em thường cùng chồng em xuất đầu lộ diện ở những nơi công cộng, cho nên số người biết em rất nhiều, nếu bị họ phát hiện ra, thì
em sẽ gay to!

Cao Đắc Thắng vẫn còn do dự.

– Anh Cao! Xin cứ tin vào em! Em làm như vậy cũng là bất đắc dĩ. Nói
thật nhé, tối nay, em cũng như anh, cũng muốn có một người ở bên cạnh,
nếu không thì vừa rồi em đã chẳng quay lại tìm anh nữa. Em biết, em làm
như vậy là rất ngốc, rất manh động, biết đâu chẳng đem lại nguy hiểm
chơi lửa đốt mình. Song, em đã hết cách khống chế được mình…

Vừa nói, Lâm Đạt bất giác nắm lấy tay chàng, nước mắt ngân ngấn.
Cao Đắc Thắng cảm động vô cùng trước câu nói của Lâm Đạt. Chàng đột nhiên ôm nàng vào lòng: “Anh nguyện hy sinh tất cả vì em!”.
Như thế là Cao Đắc Thắng đã lên xe của Lâm Đạt.
Sau khi xuống xe, Lâm Đạt vẫn chưa tháo tấm vải đen che mắt Đắc Thắng, mà cứ dắt tay chàng đi chầm chậm trên con đường nhỏ trải đầy đá quạ.
Bốn bề im lặng. Trong gió lạnh thoang thoảng mùi hoa thơm. Cao Đắc
Thắng đoán đây là vườn hoa của nhà Lâm Đạt, xem ra nàng đâu có lừa dối
mình.
Lát sau, nàng dẫn chàng leo lên mấy bậc thềm, sau khi qua cổng lớn, lại
đi dọc một hành lang dài, mãi sau mới dừng lại.
– Bây giờ anh có thể mở to mắt rồi! – Lâm Đạt tháo mảnh vải đen che mắt
cho chàng, tủm tỉm cười, nói.
Cao Đắc Thắng dụi dụi mắt, ngẩng đầu lên nhìn, thì ra mình đã ở trong
một phòng ngủ xinh xắn.
Cao Đắc Thắng lớ ngớ không biết làm gì, cứ đứng trơ ra đó.
Đột nhiên, từ phía sau Lâm Đạt đã ôm chặt chàng, mặt áp sát vào tấm
lưng rộng của chàng, nũng nịu:
– Bây giờ, chẳng có ai đến quấy rầy chúng ta được nữa!

Cao Đắc Thắng quay người lại, nâng mặt nàng lên, hôn thắm thiết. Người
đàn bà bất giác thở dài, toàn thân mềm mại, rung động. Tiếp đó, nàng
khẽ khàng cởi áo quần cho Cao Đắc Thắng, từng chiếc một, rất thứ tự
ngăn nắp. Thân thể Cao Đắc Thắng vô cùng tráng kiện, do thường xuyên
vận động thể thao. Lâm Đạt đứng ngây ra nhìn Cao Đắc Thắng đang trần
như nhộng.
– Trẻ trung tuyệt vời! – Nàng nói.

Bây giờ, tay nàng bắt đầu khẽ khàng vuốt ve cơ thể Cao Đắc Thắng, di
chuyển chậm chạp từng điểm một, từng tấc một, rất chi tỷ mẩn, vô cùng
thận trọng, không sót một tí nào. Cao Đắc Thắng cảm thấy thần thái của
nàng như đang kiểm tra tật bệnh cho bệnh nhân. Chàng đoán rằng đó là
thói quen nghề nghiệp trước đây của nàng để lại.
Cuối cùng, tay nàng dừng lại bên cạnh đoạn xương sống ở thắt lưng,
ngẩng đầu nói:
– Lưng anh chắc nịch. Em mê lắm!
Sau một trận mây mưa, người đàn bà tỏ ra khoan khoái như cá gặp nước,
nói:
– Anh thật tuyệt vời! Còn tuyệt vời hơn em tưởng tượng nhiều!
– Đây còn chưa phải là trạng thái tuyệt nhất của anh đâu! Không tin hãy
thử lại lần nữa xem! – Cao Đắc Thắng đắc ý, nói.

– Không được! Hãy nghỉ một lát đã! Anh muốn uống chút gì không? – Nàng nói.
– Tùy em ! – Chàng đáp.

Lát sau, từ ngoài cửa, nàng bưng vào hai ly nước cam, hai người cầm cốc
trên tay, lặng lẽ uống. Bỗng nhiên Cao Đắc Thắng cảm thấy có cái gì
không bình thường. Đầu tiên óc choáng váng, trời đất quay cuồng, sau đó
bèn bất tỉnh nhân sự ngã gục trên sàn nhà.
Người đàn bà cười lên một nụ cười quỉ quái, vẻ mặt thần bí ranh ma…
Khi tỉnh lại, Cao Đắc Thắng vội vàng kiểm tra xem mình có mất cái gì
không. Song, những thứ quý giá đều còn cả! Chàng khó nhọc cố nhổm lên.
Bỗng nhiên cảm thấy một trận đau điếng khó mà chịu được từ lưng truyền lên. Cao Đắc Thắng vội lấy tay sờ ra sau lưng. Đến lúc ấy chàng mới cảm giác thấy trên cơ thể có nhiều vết thương, mà hình như đã được khâu chỉ. Trái tim của Cao Đắc Thắng bỗng tựa hồ muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, suýt nữa chàng kinh hoàng thét lên.
Mấy giờ sau, Cao Đắc Thắng đã có mặt ở trong phòng hội chẩn của bệnh
viện. Sau khi đã tiến hành kiểm tra xong cơ thể chàng, bác sĩ cơ hồ vô
cùng kinh ngạc:
– Thiếu một quả thận! – Bác sĩ nói.
– Một quả thận? – Cao Đắc Thắng tối tăm mặt mũi, toàn thân suýt đổ gục
xuống đất.
– Ngành cảnh sát nói rằng hiện ở ta đang có một tổ chức tội phạm chủ
yếu đánh cắp các bộ phận trong cơ thể con người. Sau đó chúng bán cho
những bệnh nhân có nhu cầu cấy ghép thể tạng. Cảnh sát đang ra lệnh
truy nã một thủ phạm trong số bọn chúng. Đó là một nữ bác sĩ ngoại
khoa, có biệt hiệu là “nữ sát thủ”, tuổi khoảng trên ba mươi. Nghe nói,
ả rất xinh đẹp, khéo léo mồi chài đàn ông…
Nghe bác sĩ nói vậy, Cao Đắc Thắng im lặng không nói được một lời nào.
Bác sĩ ngắm nhìn chàng, an ủi.
– Thật ra, anh cũng không nên quá đau buồn. Ít nhất trong cơ thể anh
vẫn còn lại một quả thận nữa. Nếu lúc đầu cái mà ả nhắm vào không phải
là quả thận, mà là quả tim của anh, thì kết cục sẽ không còn cảnh tượng
như thế này nữa.
– Thưa bác sĩ, bác sĩ có thể nói cho tôi biết, một quả thận giá bao
nhiêu tiền không?
– Tám mươi vạn nhân dân tệ!
Cao Đắc Thắng bỗng đờ đẫn, đổ oặt người xuống ghế.

 .
 Bạch Xuân Lộc (sưu tầm)

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »