Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn xuôi’ Category

Mang Viên Long

( Nhà văn Trần Hoài Thư- chủ biên tạp chí TQBT & ÂTQ đã sưu tầm từ: Tạp chí VĂN số Giáng sinh năm 1974 và đã giới thiệu trên

TQBT số 49 tháng 11 – 2011 – ký niệm Giáng Sinh- chân thành cám ơn THT đã gởi cho bản thảo đã bị thất lạc hơn 37 năm- MVL)

 

MẤY NGÀY TRƯỚC GIÁNG SINH

 

Tại X. tôi được Linh Mục Hiệu trưởng cho giữ chức giám thị của trường trung học S. Trường S. là một ngôi trường tư thục lớn vào bực nhất nhì của X. Trường gồm hai dãy lầu, dãy bên phải dành cho học sinh đệ nhất cấp, cũng là khu cho nam sinh. Dãy trái, tầng trên là các lớp đệ nhị cấp chung cho cả nam nữ, và các lớp đệ nhất cấp nữ sinh. Dưới lầu, ở phòng tiền đường trống, kế bên phải là phòng của Giám học, phòng Hiệu trưởng, cũng dãy này, phòng dành cho giáo sư được xây thêm bên cạnh. Phía sau, giữa hai dãy lầu, là Văn phòng. Một dãy hàng rào gỗ ngăn chia khu vực học sinh và nhân viên làm việc. Tổng giám thị, giám thị, thu ngân, sổ sách, được chia ra từng ngăn riêng. Học sinh có thể liên lạc với từng phần hành bên này hàng rào gỗ, và cũng có thể từ cửa phía sau nếu cổng trường phía sau đã đóng. Trường có hai lối ra vào riêng. Cửa trước dành cho nữ sinh và giáo sư, cửa sau dành cho nam sinh. Trong giờ học, các cánh cửa đều được đóng. Có người gác coi sóc mở đóng khi đổi giờ học. Chỗ tôi làm việc cạnh bàn của Tổng giám thị. Thường thì tôi thay thế Tổng giám thị, giải quyết hết mọi việc. Theo Linh Mục Hiệu trưởng, tôi phải quán xuyến như vậy, để niên khóa tới, tôi sẽ thay thế vị Tổng giám thị của trường, bởi vị này bận dạy.

Công việc thường ngày của tôi rất bận. Trường ít giám thị mà học sinh trên bốn ngàn, tôi phải cực nhọc với những giải quyết nhiều lúc không là của giám thị nữa. Từ việc liên lạc với gia đình học sinh, tiếp xúc thân nhân, kiểm soát việc ghi điểm, kiểm diện, sổ phát, nhắc nhở trật tự, đến việc điều động công tác mỗi liên lớp, cấp giấy vào lớp cho học sinh vắng mặt hoặc đi trễ, giữ gìn sổ sách hồ sơ học sinh; tôi cảm thấy công việc đã xoay tôi như một con vụ. Nhưng tôi rất ham thích với công việc của trường học. Những sinh hoạt của nhà trường, tôi đều tham dự, và đôi lúc, đề nghị với Linh mục Hiệu trưởng những dự định mới mẻ khác, cốt gây được một không khí tươi trẻ, vui nhộn song song với việc học. Tôi tự đứng ra trông coi một tờ đặc san. Tôi tổ chức một ban văn nghệ. Những ngày lễ, tôi đã dành thì giờ để nói chuyện một đề tài nào đó về văn chương, hay giáo dục, cho học sinh của trường.

Tôi nhớ nhất là những ngày lễ Giáng Sinh năm đó. Một tuần trước ngày tới hôm lễ chính, tôi cho phát hành ở các lớp một đặc san. Nhân ngày lễ, ngoài các phòng triễn lãm tranh, đồ nữ công, bích báo của các lớp, tôi chuẩn bị một đêm văn nghệ thực toàn hảo. Đêm đó, tôi ở lại trại sinh hoạt liên hoan với các lớp mà không trở về nhà. Tôi bỏ lễ nửa đêm để nói chuyện với Lam.

Lam nói chuyện với tôi không được tự nhiên. Có lúc như sợ hãi, có lúc như ngượng ngập, cũng có đôi lúc Lam tỏ ra nồng nhiệt, mạnh dạn, cứng rắn đến nỗi tôi không hiểu được nàng. Mở đầu, Lam có vẻ trách móc, hoặc dỗi hờn, giận tức điều gì. Tôi không để ý, bởi vì, thực tình tôi không nghĩ gì về Lam ngoài việc cảm mến năng khiếu văn nghệ, đầu tóc demi garçon, vóc dáng nhỏ nhắn của nàng. Trong câu chuyện, dần về sau, Lam trách thẳng tôi. Nàng dùng mấy chữ “ độc ác,  lạnh lùng, vô tâm” để trỏ tình cảm của tôi với nàng. Tôt sửng sốt. Đến đây thì tôi đã hiểu được đôi phần thái độ của Lam lúc gặp tôi.

Tôi nhớ lại một lần Lam đi học trễ, vào xin giấy vô lớp, tôi đã quở trách nàng. Giống như những học sinh đi trễ khác. Lần thứ hai trong tháng, tôi không cho giấy phép vô lớp như lần trước vì Lam bị trễ quá mười phút. Nàng khóc. Tôi vì bận công việc không để ý tới. Thái độ Lam lúc đó ra sao, tôi cũng không biết. Hình như nàng đã nhìn tôi với cái nhìn vừa trách cứ, vừa dỗi hờn bâng khuâng. Thời gian sau, lúc tôi tổ chức một ban văn nghệ của trường, Lam làm trưởng ban văn nghệ đến gặp tôi ở phòng giám thị. Nàng có mặt trước mười lăm phút theo như giờ họp ấn định. Tôi có nói đôi câu với Lam, nhưng chỉ để vui đùa, hoặc bởi sự cởi mở thường ngày. Tôi nhớ tôi đã khen giọng hát Lam. Khen đầu tóc demi garçon. Khen nàng dễ thương.

Một tuần lễ sau đó, lúc vào bàn làm việc, tôi nhìn thấy tập vở để sẵn tại đó. Tôi liếc nhìn tên lớp, rồi gọi một học sinh mang lên trả… Tôi nghĩ có lẽ tập vở của một học sinh bỏ quên, có người nhặt được thảy vào bàn giám thị, để giám thị có việc làm. Khoảng hai ba ngày sau, tôi lại nhận thấy một tập vở khác nằm ở bàn. Lần này, vì trong giờ học, tôi thảy bỏ phía sau hộc bàn, chờ giờ chơi mới gọi trả lại. Tôi coi rõ tên, lớp, và tập vở học: Lê thị Kiều Lam, lớp đệ tam, vở vạn vật. Đến giờ chơi, tôi gọi học sinh cùng lớp, gởi trả cho học sinh có tên ghi ở nhãn, kèm theo lời quở trách nhờ nói lại, Lạ thay đúng vào sáng thứ hai, tôi nhận thấy quyển vở (tập vở cũ, môn vạn vật) lại nằm sẵn ở giữa bàn. Lần này tôi giữ tập vở, chờ giờ học, viết giấy gọi học sinh đến lớp kêu tên Lê thị Kiều Lam đến Văn phòng giám thị. Lam đến. Ngượng ngập. Tôi đã nặng lời với Lam hôm đó. Nàng khóc. Giống như hôm đi trễ không xin được giấy vô lớp. Nhìn thấy Lam khóc, quả thực là tôi hơi hối hận. Nhưng với một trách nhiệm đã lãnh, tôi không dễ chịu như những lúc sinh hoạt văn nghệ. Giám thị, đó là hình ảnh của một ông thầy tay cầm cái roi mây lớn, tay đặt sau đít, đôi mắt lườm lườm theo dõi học sinh. Còn tôi tuy chẳng đến thế, tôi không có cái roi mây, không có đôi mắt lườm lườm hung tợn kia, nhưng tôi phải có sự cứng rắn, nghiêm minh. Đời sống trong các chủng viện đã tập cho tôi một sự nghiêm khắc làm cho nhiều người khó chịu. Ðời sống kỷ luật khép kín và gò bó cũng tạo nơi tôi sự hẹp hòi, đến như ích kỷ. Tuy vậy, tôi luôn xét tôi, và rất may, bản tính tôi rất cởi mở, phóng dật nên có thể tránh bớt va chạm với học sinh hay người bên cạnh. Buổi sáng trách mắng Lam đã đột nhiên biến tôi sống trở lại với cái ảnh hưởng cũ. Lầm lì. Cộc cằn. Nóng nảy bất chợt.

Đêm hôm đó, Lam cho tôi biết nàng muốn gởi cho tôi một lá thư trong tập vở đặt ở bàn làm việc của tôi. (Những giám thị  thuê ở ngoài phụ giúp tôi, đồng thời họ có một dãy bàn kê bên phòng chứa sổ sách). Tôi ngạc nhiên, có chút hối tiếc. Nếu tôi được đọc những lá thư đó? Tôi muốn thử coi nàng còn nói thêm điều gì nữa nên tỏ lộ sự ân hận. Tôi ân cần xin lỗi nàng. Lam đã xúc động khi nghe tôi nói thế. Nàng hết vẻ ngượng ngập hay lạnh lùng, bây giờ tôi nghe thấy giọng nàng như một tiếng chim buổi sáng. Nàng nói biết tôi là thế nào, nhưng không hiểu sao lại yêu thương tôi. Hình ảnh tôi đã ám ảnh nàng rất nhiều, đến nỗi không học được. Nàng kể cho tôi nghe,  những giờ ra chơi, từ trên hành lang lầu một, nhìn xế xuống chỗ tôi ngồi mà tôi không biết. Mỗi buổi sáng, khi tôi nói chuyện ở máy phóng thanh, nàng đều theo dõi rất tường tận. Ngay cả việc ăn mặc thường ngày của tôi nữa. Hôm nào tôi mặc chiếc áo dài đen đã cũ, cổ sờn rách, hôm nào mặc áo mới, vân vân. Nói tóm đêm đó, nghe Lam nói tới điều gì, tôi cũng ngạc nhiên, và cảm thấy lạ lùng.Những tháng về sau, tôi thường viết giấy gọi nàng xuống phòng giám thị. Dĩ nhiên là để hỏi, và nói những chuyện lặt vặt, cho vui. Tôi cũng cảm thấy, từ đó, tôi khó xóa bỏ hình ảnh Lam trong đầu. Tôi viết được mấy bản nhạc, nhờ những cảm nghĩ xúc động về nàng. Làm được bản nhạc, tôi sao chép cẩn thận, gọi nàng xuống tặng nàng với tất cả hân hoan. Lam cũng rất thường viết thư gởi tôi, bằng cuốn vở vạn vật để ở bàn, hay trong hộc tủ.

Sang niên khóa mới, tôi được Linh mục Hiệu trưởng cử làm tổng giám thị. Giúp việc bên cạnh tôi có một tu sĩ probation libre. Anh ta trang tuổi tôi, đi giúp ở một trường trung học ở Y. vừa đổi tới. Khác tôi, anh ăn mặc tự do, đời sống cũng phóng khoáng tự do hơn. Ngày đầu gặp anh,  tôi đã hiểu được đôi nét cá tính của anh ta qua cách ăn mặc chải chuốt, những ngôn từ trong lúc nói chuyện. Anh ta còn cho tôi biết Ngọc, anh chàng giả làm Huyền Trân lúc nọ, đã xin ra khỏi chủng viện, sống với một người con gái vừa tốt nghiệp trường Nữ hộ sinh quốc gia, ngay tại Huế. Tôi chợt hiểu tại sao những thư gởi thăm tôi, cha Châu đều không nhắc tới Ngọc. Lúc này, tôi mới hiểu tại sao Ngọc có thể nói giả giọng gái Huế một cách tài tình như thế. Tôi cũng hiểu được, trong những giờ bắt buộc như giờ kinh, giờ nguyện gẫm, giờ giảng, nhất là giờ nguyện gẫm, huấn đức, tại sao Ngọc lại vắng mặt. Có lẽ anh ta phải “nguyện gẫm” một mình?

Có thể nói năm thứ hai ở trường S. là năm tôi khổ tâm nhiều hơn hết, mặc dầu bên cạnh tôi có Đức (tên người bạn ở thời kỳ probation libre) phụ giúp, và trường tăng cường thêm hai giám thị nữa. Năm này, tôi về sống chung với Đức trong một căn phòng thuê được ở một đường hẻm. Quả thực như tôi đoán, Đức rất phóng khoáng và có tâm hồn. Chúng tôi dần dà kể hết những tâm sự, vui buồn, sâu kín nhất cho nhau nghe. Đức bị cha sở ở Y. đề nghị thuyên chuyển tới Y- để cảnh cáo lần đầu, theo lời cầu của anh, về một chuyện tình với một người bạn gái cùng nơi trọ. Nguyên cô gái là người có đạo, trước cũng học ở T. (trường trung học công giáo ở Y.) nhưng thi hỏng tú tài một, ở nhà tự học để thi. Cô ta biết Đức, rất rõ. Nàng lân la làm quen, rồi mời đến nhà giới thiệu với cha mẹ, sau đó Đức phải nhận nàng làm “con nuôi tinh thần” theo lời nài nỉ của nàng. Từ đó những liên hệ trở nên mật thiết hơn, gần gũi hơn. Chuyện đến tai Linh mục Hiệu Trưởng T., năm sau Ðức phải đổi đi.

Tôi cũng đã kể đầu đuôi câu chuyện với Lam cho Đức nghe. Anh ta an ủi, và khích lệ tôi. Chính Đức đã khuyên tôi cùng đi với anh lên phố tìm mua một chiếc bím tóc mầu, gởi tặng Lam để đền lại những quà tặng của nàng. Thực là buồn cười, sau khi nghe Lam giải thích tại sao không dùng cái bím tóc tôi tặng, mà dùng cái cũ: tóc nàng ngắn, theo kiểu demi garçon mà tôi lựa mua cái dành cho tóc dài.

Ðồng thời với sự liên lạc thường xuyên như vậy, tôi cảm thấy một nỗi khó khăn, một tình cảm gần như phạm lỗi. Không ngờ sự ray rứt, băn khoăn của tôi Lam đã nhận biết. Nàng viết gửi tôi liên tiếp ba lá thư trong ba ngày, trách tôi đổi thay, hay hờ hững. Quả thực, trong đôi lần gặp nàng, tôi muốn lẩn tránh. Tôi gặp nàng, đôi khi như một cố gắng. Không còn cái nao nức đón đợi. Hết cái nồng nàn âu yếm.

Cũng có nhiều lúc, tôi muốn như Ngọc. Tôi thử để tình cảm tôi, nỗi xúc động tôi chảy đến đâu thì đến. Ra sao thì ra. Đó là những hôm tôi hẹn cùng Lam đi chơi ở quê, hay đến nơi tôi  trọ. Trong những hôm như vậy, tôi cảm thấy rộn rã, một niềm vui nào thực tươi mát và phấn khởi xâm chiếm lấy tôi. Chúng tôi xa lánh thành phố, hẹn nhau ở quán nước một ngã rẽ đi N. Nàng đi xe Yamaha dame. Tôi dùng chiếc Honda của nhà trường cấp. Thế là chúng tôi cứ đi mải miết vào xóm, dừng lại những nơi muốn dừng và nói hết nỗi lòng, những mơ ước của nhau, về một tương lai sum họp.

Tôi nhớ lần đầu tiên hôn Lam sau một ngôi chùa, sau khi chúng tôi thử vào xin một cái xăm. Xăm xin được, theo lời Thầy trụ trì, không được tốt. Lam thi hỏng. Rồi chúng tôi không thể gần nhau. Nghe nói, Lam chạy ùa ra phía sau khóc. Tôi hôn nàng. Lòng tôi bây giờ thực yếu mềm. Tâm trí tôi hoang mang cùng độ. Tôi an ủi nàng bằng lòng tha thiết của mình. Nàng hỏi tôi, nếu lỡ nàng thi hỏng, tôi còn thương nàng hay không. Tôi nói nàng đừng nên hỏi những câu vớ vẩn, đừng lo những mối lo không đâu. Tôi không yêu thương nàng bằng chuyện đó, nhưng tôi hứa sẽ gởi Lam cho những người bạn giám khảo ở X. Thời gian sau này, nhớ tới lá xăm, chúng tôi chỉ nhớ tới những nụ hôn; bởi vì chúng tôi sống rất gắn bó và nồng nàn. Ở trường về, tôi thay bộ áo quần của Đức tìm cách gặp nàng. Nếu là ngày chúa nhật, ngày lễ, chúng tôi đều có bạn.

Có một buổi sáng chúa nhật Lam đến trễ giờ hẹn mười lăm phút. Tôi đã trách cứ nàng. Thực ra, vì quá nóng lòng và bộc chạt, tôi nghi ngại nàng không thành thực. Lam giận. Nàng bỏ tôi. Sau đó, cả hai cùng vòng xe đi kiếm nhau, nhưng không gặp nhau được. Suốt một tuần lễ tôi không gọi nàng xuống văn phòng như bấy khi vẫn làm. Tôi cố gắng giữ cơn giận lâu hơn, để coi Lam sẽ thế nào. Đáp lại, nàng cũng im lặng, ơ hờ. Tôi nhận thấy, trong dáng vẻ lạnh lùng đó, có một cái gì khổ sở, thất vọng. Trong giờ học chiều thứ hai, tôi gọi tên Lê Thị Kiều Lam xuống văn phòng.

Tôi điềm nhiên hỏi :

– Sao? Dạo này cô có mạnh khỏe không?

Lam hơi mím môi :

– Vẫn mạnh luôn.

Tôi cười:

– Còn giận hết ?

Nàng nhìn tôi, ánh mắt thực sáng:- Hết rồi.

Tôi viết lên mảnh giấy: “Nếu hết giận tuần này anh đợi em ở chỗ cũ, tám giờ sáng, nhé?”, đưa cho Lam. Nàng cúi đọc, ngửng lên mỉm cười, gật đầu. Sự nhỏ nhắn của nàng trong chiếc jupe màu xanh nhạt khiến tôi thấy nàng thực tội nghiệp.

Giáng sinh năm đó tôi và Lam ăn lễ trước một ngày bởi vì trong suốt ngày và đêm lễ chính tôi rất bận. Buổi sáng chúng tôi đi chơi ở quê đến xế chiều mới trở về thị xã. Dịp này tôi có mang theo chiếc máy ảnh của Đức. Tôi chụp cho Lam. Chúng tôi cũng có chụp chung mấy pose, nhờ một người lính chịu chơi và đa tình làm phó nhòm hộ. Buổi tối, chúng tôi ăn tiệc ở nhà. Đêm đó Đức đã chuẩn bị sẵn để rời phòng trước khi Lam đến nửa giờ. Tôi coi đồng hồ đúng giờ hẹn, thắp sáng hết những ngọn đèn sáp trên bàn, ở lồng đèn, trong hang Bê-lem. Trời đổ mưa nhẹ, nhưng gió lộng. Một chút hơi lạnh đủ để  mặc tấm áo len ngắn tay. Để đốt một điếu thuốc chờ đợi.

Lam đến. Thực rực rỡ và xinh xắn. Nàng mặc jupe màu xanh, bím tóc đỏ, đi giày da. Gương mặt nàng hiện ra ở khung cửa sổ như một Giáng Kiều. Tôi đón Lam, trước hết, bằng cái hôn thực ấm.

Tôi hỏi:

– Ngoài phố có vui không?

Nàng ngồi cạnh tôi:

– Em đi một mạch đến đây, không để ý gì hết.

Tôi choàng tay qua vai Lam, nhìn vào gương mặt hơi ngơ ngác của nàng:

– Em lạnh lắm không?

Nàng ngước mắt nhìn tôi, nở nụ cười:

– Lúc nãy thì có, bây giờ hết rồi.

Tôi cúi hôn lên tóc nàng. Mùi nước hoa phảng phất, dìu dịu. Lúc này, nàng mới hết vẻ sợ sệt, lo lắng của lúc mới đến. Trong ánh sáng lung linh của những ngọn nến, gương mặt Lam tươi tắn, đỏ hồng. Đôi mắt rực sáng.

Lam giở xắc lấy ra một gói giấy, nàng hỏi đố anh những gì trong này. Tôi cười, anh chịu. Mắt anh đâu phải mắt thánh mà nhìn suốt lớp giấy dày đó. Tức thì nàng mở ra cho tôi xem. Đó là một tấm đá cẩm thạch, khắc hai chữ: François Xavier-Marie. Tôi bồi hồi. Lam sung sướng khi nhìn thấy tôi câm lặng vì ngạc nhiên và xúc động.

Tôi hỏi : – Em thuê làm bao giờ?

Nàng cười:

– Đố anh?

– Anh chịu thua. Cái gì em cũng ưa đố anh. Em làm như anh là học trò.

– Chứ anh là gì của em?

– Là gì cũng được.

– Em muốn chúng ta là những người học trò trong tình yêu.

– Anh cũng muốn vậy.

– Thì trả lời mau lên.

– Em thuê làm hôm chúa nhật?

– Sai rồi. Chúa nhật ai đi chơi với anh?

– Chứ bao giờ ?

– Trong tuần lễ em giận anh đó. Anh coi, nàng lật tấm đá ra phía sau, có ghi ngày tháng đây này.

Tôi  cảm thấy chưa có một mùa Giáng sinh nào tôi được hạnh phúc như vậy. Năm ngoái, tôi nhìn Lam với cái nhìn ngó dửng dưng, với sự tạnh không của tâm hồn. Đêm Giáng sinh, khi nghe chuông lễ nửa đêm đổ, tôi nói chuyện với Lam gần như là đùa cợt, bâng quơ. Hơn một năm trôi qua, phút này hình ảnh Lam đã trở nên hình ảnh của hạnh phúc, của nguồn vui và hy vọng của đời sống tôi. Nàng còn dự phần chính trong quyết định mà những tháng sắp đến đây tôi sẽ trình bày với Cha Châu. Tôi chọn lựa con đường đi vào đời cam khổ, phấn đấu sắp đến, cũng vì Lam. Lam đã khiến tôi khổ sở trong nhiều tháng nay, để chọn lấy một thái độ. Một cách sống.

Sau cùng, tôi cảm thấy phấn khởi và tin tưởng, để gần Lam. Hình ảnh những mùa Giáng sinh cũ trong ký ức chạy thoáng qua, tôi rất đỗi ngạc nhiên khi nhìn thấy bóng dáng mình thấp thoáng trong đó. Những ngày Giáng sinh hồi còn ở Làng Sông, cái không khí tĩnh lặng, cái buồn bã khép kín không xóa hết được cho dầu những sinh hoạt những ngày kế cận có được tổ chức. Chúng tôi đi chơi ở miền núi. Những năm sau, chúng tôi được đi chơi tập thể ở bờ biển Qui Nhơn. Hồi về sống ở khu La San tuy cái không khí ít u mặc, ngưng đọng, nặng nề như ở Làng Sông, nhưng nỗi tẻ lạnh không vơi trong tâm hồn tôi. Trái lại, thời gian này, tôi hiểu được tương lai tôi, những ngày sống khép kín nghiêm nhặt làm tôi bỗng nhiên đôi lúc thấy ngơ ngác. Ở Đại chủng viện, tuy sinh hoạt được tự do hơn xưa; đời sống thoải mái, nhưng cũng từ đó, trong tôi nhen nhúm một nỗi mơ ước đi xa.

Lam nắm lấy bàn tay tôi đặt lên ngực nàng:

– Anh mơ nghĩ gì thế?

Tôi vẫn còn bàng hoàng. Thời gian êm ả cùng đời sống thầm lặng, lủi thủi ở ký túc xá, còn đứng lại trong đầu tôi. Tôi đưa bàn tay Lam lên môi. Tôi nói: “Anh nghĩ tới ngày mai, những ngày Giáng sinh sum họp của chúng ta”.

Lam thơ ngây:

– Không còn xa nữa đâu, anh nhỉ?

Tôi đáp:

– Chẳng còn lâu đâu. Như đã định với em mấy lần trước, hè này anh ra lại Huế, gặp Cha Châu. Sau đó anh vào Sàigòn trong hai năm, học xong hai chứng chỉ chót, anh sẽ trở về…

Lam nhắc:

– Nếu em thi hỏng, anh còn thương em không?

Tôi cười :

– Đừng nói bậy nữa. Chuyện đó, anh đã lo sẵn cho em rồi.

Chúng tôi cũng dùng những món ăn nguội đã sắm sẵn từ buổi chiều mà Đức đã chịu khó đi tìm giúp. Một con gà quay. Bánh mì. Chả lụa. Nem nướng. Hai hộp bánh ngọt. Bấy nhiêu đã quá đủ cho chúng tôi mừng đêm Chúa giáng sinh. Tôi uống bia, còn Lam uống Coca pha một ít bia từ ly của tôi. Gần Lam, được sống cùng nàng những giây phút ấm áp và quấn quít như vậy, tôi thường nghĩ tới những ngày ở các trường học. Hình ảnh tôi trở lại một cách rời rạc và xa lạ làm sao. Tiếp theo, khi cố xua đuổi những bóng dáng lầm lũi câm lặng đó, tôi nghĩ tới một mái gia đình. Một sum họp. Điều này bao giờ cũng làm tôi chếnh choáng, tôi tưởng như bị lạc vào một cõi nào thực xa.Trước khi đưa Lam trở về, tôi ôm hôn nàng thực lâu. Dường như tôi bị say. Lam vừa rời tay tôi ra khỏi cửa, bỗng chạy vào ôm lấy cổ tôi, nàng hôn tôi như một đứa trẻ.

Tôi không biết diễn tả thế nào để có thể nói được đôi phần cái tâm trạng tôi khi rời hẳn Đại Chủng Viện Xuân Bích. Khi xa cha Châu, người Cha Linh hướng đã giúp tôi tu học, hướng dẫn tôi vượt qua được những cơn khủng hoảng tối tăm của tâm trí. Rời Ðại Chủng Viện lần này, tôi biết rằng, tôi sẽ rời xa nó mãi. Nếu có dịp tôi trở lại, cũng là sự trở lại của một kẻ ở ngoài, một du khách hay một tìm về lạc lõng, bơ vơ. Rời phòng Cha Bề Trên, đi giã biệt quí Cha giáo sư, tôi cảm thấy vừa nôn nả, vừa ngại ngùng. Cụ Sau, giáo sư Thần học, nhìn tôi với đôi mắt sâu thẳm, ưu tư hơn Cha Nhân, giáo sư Cựu ước, lặng lẽ và trìu mến. Các giáo sư như Bouyer,  Nguyễn Hữu Ðăng, an ủi và cầu chúc tôi như một đứa con sắp rời gia đình đi vào chốn khó khăn, nguy hiểm. Chỉ có Cha Michel Barnouin (mà chúng tôi gọi là Cao Như Sơn), cười nói rất bình thản khi nghe tôi giã từ ông.

Bây giờ, nghĩ nhớ lại, tôi hiểu tôi lúc đó bị dằn vặt bởi những lời nguyện ước, và những mơ ước về đời sống: Tôi bị lạc lõng, hơi lo sợ và cũng có một hạnh phúc êm ái. Tôi từ giã các bạn còn lại mà không lời giải bày, bởi vì, tôi không thể nói gì được khi tôi đã nghĩ và quyết định trái ngược với họ. Tuy thế, họ đã hiểu tôi, rất niềm nở và tự nhiên, với sự ra đi vĩnh viễn của tôi. Có lẽ, họ coi tôi đáng thương hại, hoặc không đáng chê trách, khi tôi không đủ ý chí, nghị lực, cũng như không đủ ơn phước để nhận lãnh ơn nghĩa Thiên Triệu thiêng liêng. Tôi là một kẻ đã bỏ cuộc. Tôi chọn lựa một cuộc đời sống khác, hợp với bản chất và lòng mơ ước tự nhiên của tôi. Ngày gặp Lam, tôi tự nhủ, hãy cứ để tình cảm trôi chảy, cứ việc sống hồn hậu và nồng nhiệt theo tâm hồn. Bây giờ, tôi đã bị trôi đi,  bị cuốn hút vào một giòng nước mạnh mẽ, tôi không thể cưỡng lại. Nói cho đúng, tôi không muốn cưỡng lại. Ngày mẹ tôi được tin tôi vào đời, bà tự nhiên không nói. Trên gương mặt bình thản, đầy ắp tình thương của bà, tôi biết bà không trách tôi. Hình như bà cho tôi làm vậy, là một việc không có gì để nói.

Tôi vội vã trở lại X. khi mùa Hè sắp đến. Tôi gặp lại Lam. Chúng tôi tiếp tục sống với những hò hẹn, gặp gỡ, và cuồng nhiệt được mấy tuần trước ngày tôi đi Sàigòn thực hiện những dự tính mà tôi đã nói với Lam. Lam thường đến với tôi, sau bữa cơm chiều, cho đến mười giờ đêm mới về nhà. Tôi tạm trọ chung với Đức. Nhưng tôi và Lam hoàn toàn tự do, bởi Đức thường vắng mặt giờ đó. Hơn nữa, Đức tỏ ra một người sành sỏi, đã tạo dịp thuận tiện cho chúng tôi sống những ngày sắp xa nhau. Lam thường đến, mini jupe màu, giày da, tóc cột bím, mắt sáng, môi đỏ, nụ cười hồn nhiên, tấm lòng dào dạt khao khát. Gặp nhau Lam như vừa lo sợ xa cách và tham lam, ôm chầm lấy tôi, không rời. Tôi bồng nàng lên ghế như một con búp bê. Đôi khi, tôi bị lôi cuốn bởi Lam, con sóng dào dạt, không ngăn được những khao khát sôi nổi bừng nóng trong lòng. Chúng tôi nằm ở giường cho đến giờ Lam phải trở về. Tôi không thể kéo dài thêm một vài ngày nữa với Lam bởi vì chuyến bay tôi đã ghi trước, mọi việc đã được thu xếp chuẩn bị. Buổi sáng hôm ra đi, tôi không muốn Lam đưa tiễn. Chúng tôi đã đưa tiễn nhau mấy hôm trước rồi. Nhưng lúc Đức vừa chở tôi đến trạm hàng không thì tôi nhìn thấy Lam ở đó. Tôi trông thấy nàng ngơ ngác và tội nghiệp. Nàng có vẻ sợ hãi. Vẻ mặt xanh xao. Ánh mắt lạnh lùng kia làm tôi nao núng lạ. Tôi nghe tôi khóc trong lòng. Tôi thấy tôi chếnh choáng. Gặp tôi, Lam chỉ trao tôi tập Văn số mới đặc biệt về Simone De Beauvoir, rồi lẳng lặng đi về. Tôi muốn giữ nàng lại, muốn được nhắn nhủ (cho dầu suốt mấy tuần qua đã nhắn nhủ), muốn ôm hôn nàng (dầu tôi đã hôn nàng chiếc hôn từ giã từ tối hôm trước). Nhưng Lam đã bỏ đi.

Trong tập báo nàng trao tôi, có một lá thư:

X. Đêm 5 tháng 7 năm 1970

Anh yêu dấu,

Mai anh đi rồi, để lại cho em sự cô đơn và buồn bã cũ. Và nỗi thương nhớ không nguôi. Sự chia lìa đã đến thực rồi. Em phải làm sao đây? Làm sao để níu kéo lại những ngày yêu nhau cũ. Vậy mà những ngày qua em vẫn còn mù mờ không nghĩ rằng anh sẽ xa em, sự xa cách đau khổ cho em biết chừng nào. Đêm qua, rời anh trở về, em suy tư và nghĩ ngợi về anh quá nhiều. Em nhớ anh – nhớ ngay cả trong giấc ngủ nên không thể bình thản để học hành. Anh đã lấy mất linh hồn và thể phách em tự lúc nào. Xa anh trở về, mang theo nỗi buồn trống vắng, nỗi cô đơn, sầu thảm nào đang vây bọc quanh em. Anh yêu dấu muôn đời của em, nhớ lại những ngày tháng xa, những lúc cùng anh vui chơi, em đã khước từ những mê đắm, những ôm ấp thương yêu nhưng anh biết đâu đó chỉ là cái váng nổi của một phần con người thực trong em, để rồi, buổi chiều, buổi sáng em đã nằm mãi, mơ mộng mãi, không thể học, không thể ngủ, không thể làm được một cái gì. Điều nào ước muốn đang lẩn khuất, hành hạ trong em.

 

Anh yêu dấu,Cho em trở lại những ngày đầu tiên thần tiên đẹp đẽ. Anh ơi, đây là hành lang, dưới kia là văn phòng, anh đang làm gì, đang nghĩ gì? Xin hãy ngước nhìn, có em đứng đây với vô số những miên man suy tưởng. Ôi, chuyến đi xa, mi đã tạo ra một khoảng cách giữa ta với người. Tội nghiệp cho ta, cho đôi mắt mê mải nhìn. Anh có còn nhớ không giờ lễ nửa khuya Giáng Sinh năm kia, chúng ta đã nói chuyện quên ngủ. Mới đây, mùa Giáng Sinh tuyệt vời nhất đời em, bên cạnh anh. Buổi sáng rong chơi khắp miền ngoại ô. Buổi tối ấm cúng bên nhau, trong nhau, bên ánh đèn mờ tỏ. Và những ngày say đắm nhất, in khắc vào tâm hồn em nhiều nhất, vừa mới vuột khỏi tầm tay em, sáng hôm nay.

 

Anh yêu dấu,Anh đi rồi. Em phải làm sao đây khi sự xa cách quá lâu? Dù muốn hoặc không thì bây giờ cũng không thể nối tiếp lại những ngày vui cũ. Thôi hết rồi những lần hẹn hò chờ đợi. Thôi hết rồi những lần quấn quít bên nhau quên cả giờ về. Anh ơi, từ đây một mình sao em có thể trở lại chốn cũ. Nhìn tên thánh của hai đứa đã khắc sâu vào phiến đá? Xa anh rồi, tâm hồn em lạnh lẽo, bây giờ càng lạnh lẽo xa vắng hơn. Đầu óc em mê muội, trí óc em bồng bềnh trôi nổi. Trời ơi, thế này mãi thì làm sao em học được. Anh ơi, nếu em thi rớt rồi anh có còn yêu em không? Hay lúc đó, bao nhiêu tình cảm đều tiêu tan mất? Em sợ lắm. Sợ vì xa cách anh sẽ quên em mất thôi.

 

Em của riêng anh,

Lê Thị Kiều Lam

Tôi viết thư cho Lam mỗi ngày khi đến Sàigòn. Cuộc sống mới, hoàn toàn xa lạ, đã làm tôi càng ao ước được trở về với Lam – sống thu nhỏ trong một khu vườn, một mái nhà. Tôi đã phải phấn đấu và nhẫn nại với sự chọn lựa một cách khổ sở. Lam gởi thư thường xuyên, giống như tôi, mặc dầu nàng nói đang bận lo học thi. Tôi có viết thư gởi Lam cho vài giáo sư quen, nhưng họ đã đến một nơi khác. Tôi không nhắc đến chuyện này, ngại nàng buồn. Hơn nữa, nhắc tới thi cử, là nhắc lại câu hỏi: “Anh ơi, nếu em thi rớt, rồi anh có còn yêu em không?”, càng khiến nàng lo lắng, và tôi buồn bực. Tôi cũng không hiểu lý do gì, vì đâu, đã khiến Lam cứ nhắc lui tới việc thi cử của nàng, rồi coi đó là một yếu tố quyết định tình yêu. Nàng cũng không ngớt sợ hãi, hoang mang bởi sự xa cách. Một thư nàng viết: “Anh ơi, có đang buồn, có đang nhung nhớ, có đang thao thức như em? Sao em nóng cả ruột gan, không thể vùi đầu vào chăn gối, vào giấc ngủ. Thôi em thức mãi nghe anh? Em thức để nhớ tới ai đã đến và đã xa khuất nẻo mù tăm. Hai năm, hai năm nữa, ta mới thực là của nhau cho suốt một đời. Biết em có còn sống để chờ đợi, biết anh có mãi mãi nuôi dưỡng một tình yêu nhỏ dại, hay rồi anh ơi, đây chỉ là giấc mơ, một tấn kịch trong đời em ngắn ngủi?” Sự hoang mang của Lam chuyền đến tôi như cơn bệnh truyền nhiễm hiểm nghèo. Tôi muốn trở về X. Muốn chung sống bên Lam. Tôi đã thay đổi được đời mình thì tôi cũng có thể khước từ hết thảy mọi thứ ở đời để chỉ cần có nàng. Trong lúc chờ đợi sự quyết định dứt khoát, tôi gởi tặng nàng chiếc nhẫn cưới. Đáp lại, Lam gởi tôi sợi dây chuyền có thánh giá thường ngày vẫn đeo ở cổ. Sau đó, những thư của nàng vơi bớt buồn rầu, cái ý nghĩa ly biệt mù tăm cũng tiêu dần, nhường lại cho những kể lể kỷ niệm, những dặn dò hy vọng. Một thư nàng viết: “Anh ơi, buổi sáng nào cuối, sao anh chẳng hôn em. Anh quên hôn em mất rồi anh ạ. Em muốn đứng lại, cố níu kéo nhưng không thể làm khác hơn là quay đi. Em nhìn theo anh từ một góc đường mà không dám đưa anh đến tận nơi vì ngại gặp mặt, phải chào hỏi người ta. Nên để anh đi, không một vẫy tay đưa tiễn, một lời cuối dặn dò. Nhìn chuyến xe ca chở anh rời thành phố mà em không ngăn được những giòng nước mắt âm thầm chia ly.”

Tôi được Đức viết thư báo tin Lam thi hỏng tú tài. Dù chưa nhận được thư chính thức của Lam nói về chuyện này, tôi vội vã viết một lá thư an ủi và phân tích những ý nghĩ không chính xác, nông nổi của nàng về việc thi cử. Tôi chờ tin. Một tháng trôi qua. Tôi sống trong cùng cực lo âu và thất vọng. Tôi trở về X. muộn bởi đang phải lo thi. Vừa tới X. tôi cùng Đức đến ngay đường Cao Thắng, số 32. Với tư cách là giáo sư và Tổng giám thị trường S. (Đức lên làm Tổng giám thị trường S. từ khi tôi ra đi), Đức hỏi người nhà cho gặp Lê thị Kiều Lam để có việc cần. Làm lại hồ sơ gì đó. Người nhà vào trong, trở ra thưa không có Lam ở nhà. Chúng tôi ra về. Một tuần lễ lưu lại X, tôi luẩn quẩn hoài bên khúc đường Cao Thắng, hy vọng sẽ gặp Lam, nhưng vô ích. Bên này một quán nước, từ tám giờ sáng đến mười hai giờ trưa, tôi nhìn ngó sang nhà Lam. Buổi chiều, từ hai giờ đến sáu giờ. Suốt một tuần như thế. Đức cũng không giúp tôi gì hơn sau lần cùng tôi đến nhà. Anh ta nói cũng không hiểu được. Quả thực, tôi cũng không hiểu.

Khi rời X. vào lại Sàigòn, tôi nhờ Đức đến nhà trao hộ Lam lá thư cuối cùng của tôi. Tôi gọi là cuối cùng, bởi vì, tôi đã viết nó với tâm trạng và lời lẽ của một người vĩnh viễn ra đi. Đến nay, tôi không còn nhớ hết tôi đã nói những gì trong ấy, nhưng tôi biết chắc rằng tôi đã bày tỏ hết nỗi thất vọng, đau xót của tôi vì sự tan vỡ, vĩnh biệt này. Với Lam, tôi nghĩ, có lẽ bởi tuổi trẻ và sự hoang mang dễ bị lung lạc để thất vọng, nàng đã không thấu hiểu hết tôi.

Ở Sàigòn khoảng vài tháng, sau đó, tôi xin làm giáo sư khế ước, được bổ nhiệm tới dạy tại P. một thị trấn miền duyên hải Trung phần. Đó là một nơi thực tĩnh lặng, và heo hút.

Tôi là người luôn luôn đến trường sớm nhất. Lý do: Không có đồng hồ, nằm mãi trong phòng suốt buổi sáng (tôi chỉ dạy một buổi chiều), nên muốn được ra ngoài. Hằng ngày, hễ tôi mở cửa bước ra là để đi dạy, còn trở về thì nằm lì luôn. Cơm nước đã nhờ đứa nhỏ ở cạnh lên hiệu ăn xách về giúp. Tôi trở nên trễ nải trong việc giao thiệp, và lười biếng trong việc ăn mặc. Hơn nữa ở trường, giáo sư trên ba chục nhưng nghe nói phe phái đã có tới ba bốn nhóm. Họ ăn nói gìn giữ, kênh kiệu, khách sáo thái quá. Ai cũng nghĩ rằng mình là một người quan trọng. Bởi thế, cách ăn mặc họ cũng phải tỏ ra là như thế: cà-vạt luôn luôn dính vào cổ, ngay cả những ngày nóng bức. Có người mỗi ngày một bộ đồ, một chiếc cà-vạt. Màu sắc phải harmonie.

Tôi ngồi ở dãy ghế dựa nhìn ra ngoài sân. Học sinh đã đông. Trời buổi nhiều nay tạnh ráo, nhưng gió lạnh. Những cành dương trong sân trường xơ xác sau những ngày mưa bão lụt lội. Đứa con gái người phu trường mang hai bình nước trà đặt lên bàn. Tôi chồm tới rót một tách nước trà nóng. Tôi bỗng nhìn thấy tấm bảng kê ở vách thấy ghi: “Yêu cầu quí vị Giáo sư nộp phiếu điểm tháng 12 cho Văn phòng kịp làm thành tích. Hạn chót: Trước ngày nghỉ Noel”, phía trên hàng chữ cũ vẫn không xóa: “Yêu cầu quí vị Giáo sư dạy dỗ như thường vì lụt đã rút hết nước. Văn phòng”.

“Hạn chót trước ngày nghỉ Noel”, tôi đọc thầm. Lại một mùa Giáng Sinh nữa sắp đến. Chỉ còn bốn hôm. Thốt nhiên tôi đưa tay lên cổ, cầm chiếc thánh giá của sợi dây chuyền, nói khẽ: “Bây giờ Lam ở đâu? ”

 

MANG VIÊN LONG

 

Read Full Post »

Vết chàm


Truyện ngắn của Nguyễn Quang Quân

1. Ngôi biệt thự ba tầng nguy nga kiến trúc theo lối Châu Âu hiện đại, bên cạnh là một bể bơi nhỏ, nhưng sang trọng, tất cả tọa lạc trong một khuôn viên rộng lớn, mặt tiền khoảng 100m tiếp giáp với đại lộ phía nam thành phố. Phía sau là khu vườn rộng cả ngàn mvừa là những cây cao đã ra dáng cổ thụ, vừa là những chậu cây cảnh với đủ loại quý hiếm.

Nơi góc vườn, có một căn nhà nhỏ hai phòng, xây thô sơ, lợp tôn. Một phòng là kho chứa đồ phế thải,
một phòng làm nơi ở cho người làm vườn.Sáng nào cũng vậy, bốn giờ ông Phong thức dậy, cắm ấm điện nấu nước sôi pha trà, ngồi nhẩn nha uống một mình. Năm giờ, ông bắt đầu lấy chổi đi quét những lối đi trong vườn, sau đó là tưới cây. Công việc của ông là quét dọn, chăm sóc tỉa tót cây cảnh của khu vườn này.

Cách đây vài tháng, ông Phong rời quê hương, vào thành phố với ý định kiếm việc làm. Mượn chiếc xe đạp của người quen, ông đạp tà tà dạo quanh khu phố. Đi qua ngôi biệt thự hoành tráng này, ông để ý ngắm nhìn, trầm trồ khen ngợi, tình cờ thấy một tấm bảng nhỏ treo nơi cánh cửa cổng; Nơi đây cần một người làm vườn, ông nhíu mày suy nghĩ trong thoáng chốc, và quyết định vào nhà xin việc. Chủ nhà là một trung niên trạc khoảng 50, lạnh lùng chỉ ghế bảo ông ngồi nói chuyện. Ông trình bày rất thực về hoàn cảnh của mình, và đưa cả giấy tờ tùy thân cho người chủ xem. Thấy ông vốn là một viên chức hưu trí, còn sức khỏe, dáng vẻ sạch sẽ lanh lợi, có kiến thức về cây cảnh, người chủ quyết định nhận ông vào làm, với mức lương thử việc ban đầu là ba triệu đồng, cơm nước và chỗ ở, nhà chủ lo. Ông chủ dẫn ông Phong ra thăm vườn cây, chỉ phòng ở, nói rõ công việc và cung cách sinh hoạt. Nhìn khu vườn, ông Phong thấy thích quá! Ở quê, ông cũng có mảnh sân nhỏ, trồng chơi năm bảy chậu cây cảnh. Buồn tình với chuyện nhà, ông đã bày tỏ với vợ về chuyện vào Nam kiếm việc làm thêm. Bà ở nhà sống với vợ chồng thằng con, chúng chẳng hiếu đễ gì, nhưng cũng yên tâm. Lương hưu cả hai vợ chồng không nhiều nhặn gì, nhưng dồn lại chi tiêu cho một mình bà chắc đủ, còn dư chút ít, dành khi ốm đau. Ông còn sức, đi làm thêm, có chỗ ở, cơm ăn nước uống, công việc cũng nhẹ nhàng, cũng giống như chăm sóc khu vườn nhỏ ở nhà, lại có thu nhập hằng tháng để dành, cũng tốt.

Ông chủ là dân kinh doanh, hàng ngay tự lái xe con đi làm, không mấy khi về nhà ăn trưa, thường buổi tối, có khi gần khuya mới về. Bà chủ thường ở nhà, coi sóc gia đình, chuyện cơm nước dọn dẹp, có người ở gái lo. Con cái họ, nghe nói đang học ở nước ngoài. Thỉnh thoảng bà chủ đi dạo ngoài vườn hay tắm ở bể bơi, dáng người cân đối, có vẻ đẹp kiêu sa, lồ lộ bên ngoài. Vài lần gặp, ông thấy sao bà có vẻ quen quen! Bà có vẻ hách lắm, thể hiện trong lối nói, la mắng người làm. Ông cũng là người giúp việc, nhưng được cái sống riêng, với công việc và phạm vi trách nhiệm rõ ràng, không bị ràng buộc về giờ giấc. Cơm nước thì ngày hai bữa ông gửi chiếc gà mèn nơi bếp, cô ở để sẵn cơm và thức ăn vào đấy, đến giờ, ông đến lấy, đem về phòng ăn, dọn rửa một mình. Tra vấn ký ức, bỗng nhiên ông chợt nhớ lại một chuyện cách đây đã lâu lắm, dễ đến gần hai mươi năm rồi thì phải?

2. Ông vào thành phố thăm chơi mấy người bạn thân từ thời Trung học, rồi cùng vào Đại học. Học xong, họ ở lại làm việc ở thành phố và bây giờ rất thành đạt và gia đình khá giàu sang. Gặp nhau vui lắm, nhậu nhẹt lu bù. Hôm ấy, một người bạn được tiếng đại gia, có salon buôn bán ô tô, chiêu đãi tại khách sạn. Say rồi, họ bố trí cho ông một phòng nghỉ ở đó. Ông đang mơ màng lơ mơ sắp ngủ, thì có tiếng gõ cửa và một cô gái xin vào. Vừa bước vào phòng, cô gái đã bước đến ngồi ghế, nói có bạn anh bảo cô đến với anh đêm nay. Ông rất ngạc nhiên, dù mấy người bạn đã có những tín hiệu báo trước, nhưng ông chỉ tưởng họ nói đùa. Ông im lặng ngắm nhìn: Cô gái trạc tuổi đôi mươi, dáng dấp thanh mảnh, khuôn mặt xinh xắn. Cô nhìn ông mỉm cười, hỏi: “Anh đã tắm chưa? Em đi tắm đây!” Rất tự nhiên, cô  trút bỏ bộ đồ mặc trên người, bước vào phòng tắm. Khi bước ra, cô quấn nhẹ chiếc khăn tắm trên thân hình trẻ trung, cân đối. Cô đến ngồi bên ông. Nhìn khuôn mặt xinh xắn còn non trẻ của cô, tự nhiên ông thấy xót xa. Nó chỉ đáng tuổi con cháu của mình! Ông nhẹ nhàng bảo: “Tôi không có nhu cầu, cô mặc quần áo lại đi, chúng ta nói chuyện cho vui!” Qua câu chuyện, cô gái bảo là người ở quê, lên thành phố học, bị sa ngã một lần, khó khăn quá thỉnh thoảng phải làm thêm chuyện này, nhưng chỉ với các đại gia trả giá cao thôi. Không biết cô ấy nói thật, hay dựng chuyện, diễn vở đau thương như bao cô gái khác khi sa chân vào vũng lầy. Dù sao, nhìn vẻ mặt có chút thơ ngây, buồn buồn của cô, anh cố tin đó là sự thật và đã thành thực khuyên cô nên từ bỏ việc làm này, tìm một công việc gì lương thiện làm thêm, rán học đi để sau này có một tương lai tốt đẹp. Hôm đó họ nói chuyện thân mật với nhau như anh em. Cô gái có vẻ cảm động lắm. Nửa giờ sau cô ra về, sau khi nhận thêm vài trăm ngàn ông cho, ngoài số tiền cả triệu đồng bạn ông trả trước. Ông không biết những bước tiếp theo trong cuộc đời cô thế nào, nhưng dù sao ông cũng thấy hôm ấy mình làm thế là đúng, và tránh đụơc một hành vi có tội, nhất là đối với vợ. Đến nay ông vẫn nhớ thân hình khá đẹp ấy với một vết chàm hằn rõ trên ngực trái của cô. Phải rồi, bà chủ này có những nét gợi nhớ cô gái đã gặp năm xưa.

3. Một hôm, không biết cô bé người làm đã sai chuyện gì, bị bà chủ la hét, chửi mắng, cô gái chạy ra ngồi bệt ở gốc cây ngoài vườn, ôm mặt khóc. Ông lại gần hỏi chuyện. Cô gái chùi nước mắt, trả lời trong tiếng nấc: “Dạ, có gì đâu! Cháu đi chợ mua trúng con cá không được tươi, bà không ưng ý nên bị mắng vậy thôi! Nhưng bà nói ác khẩu quá! Nhiều lần như vậy! Nếu mẹ cháu không bị ốm đau kéo dài, chắc cháu đã nghỉ việc rồi, bác ạ!”

Ông định an ủi vài câu, nhưng bà chủ đã đi ra tận nơi, đứng chống nạnh hét bảo: “Còn không vào làm việc, dọn dẹp, chuẩn bị cơm nước đấy à? Khóc lóc cái gì? Ngữ mày đi ở cũng không xong, sảy nhà này, chỉ còn nước đứng đường, làm đĩ mà thôi!” Khi bà cúi xuống kéo tay cô gái, chiếc áo cổ rộng trệ xuống, rất tình cờ từ trên nhìn xuống, ông Phong thấy cả bộ ngực trần nây nẩy, với một vết chàm in dấu trên ngực trái. Ông sửng sốt, chuyển nhanh cái nhìn vào khuôn mặt quen thuộc của bà chủ đang rất gần và buột miệng  kêu nho nhỏ: Trời ơi!

22.10.11

Read Full Post »

                 Bùi Đăng Khoa

Theo các nhà nghiên cứu về trí nhớ J. Randal, S. Ferris, D. Krech thì vào khoảng tuổi từ 50 đến 60, con người thường dễ quên và khó có trí nhớ tốt lành. Y học gọi đó là sự suy thoái về trí nhớ liên hệ tới tuổi. Thế mà tôi, bất chấp sự suy thoái này, lại thích viết, nhắc lại những chuyện Quinhơn xưa cũ, chứ để một mai này,lỡ sao quả tạ chiếu trúng đầu, xuôi tay, thẳng gìo, biết có còn nhớ nổi nữa hay không. Kỷ niệm thì đã xa xưa lắm rồi, nó phai mờ dần với thời gian, nó nằm chồng chéo lên nhau, phải thả hồn về những ngày tháng cũ mới từ từ lần ra. Khi nhắc đến tên một địa danh như Gành ráng,Suối tiên, Đầm thị nại, Cầu Đá….chợt thấy những ngày xa xôi cũ như hiện về. Cũng như nghe đến tên cá liệt, cá ngạnh, cá rựa, cá khoai, bún sứa..lại liên tưởng đến những bữa cơm thân mật, những bữa cơm thiếu thốn, những bữa ăn tưng bừng với bạn bè, với những người thân. Miếng ngon Quinhơn không có gì đặc biệt lắm, thì cũng có những hàng qùa cũng chè, cũng bún, cũng phở, cũng cơm, cũng canh, cũng mắm…như tất cả mọi nơi. Miếng ngon, cái ngon làm cho người ta thương mến nước non hơn, thương mến từ cái cây, ngọn cỏ , thương mến từ con cá thương đi, thương từng hủ mắm thương lại, cái ngon làm cho người ta tự bắt buộc phải qúy từ cộng rau thơm, mấy lá tàng ô, cải cúc, bụi ớt …cái ngon làm cho người ta cảm thấy say sưa cuộc sống còn, mỗi thứ nhắc lại cho ta một kỷ niệm, một thời kỳ đã qua đi không trở lại.
Tất cả những miếng ngon đó tạo ra một không khí phong nhã làm cho ta mường tượng đến những buổi họp văn nghệ, anh em cùng nhau thông cảm những bức tranh đẹp, những tình khúc, tình ca, những áng thơ bất hủ…còn hơn thế nữa, những tác phẩm văn nghệ chỉ làm ta thỏa mãn về tinh thần, chớ miếng ngon thì có thể làm cho ta thỏa mãn cả ngũ quan và cho ta thấy có lúc muốn chắt chiu sự sống và cảm thấy là sống, chỉ sống thôi, dù có khổ đi nữa cũng là qúi lắm rồi.
Viết bài này, tôi muốn nhắc lại những món ăn qùa, những món ăn thuờng nhật hay có trong những bữa cơm gia đình, để nhớ lại một thời Quinhơn xưa cũ…Tôi xin sửa một câu quen thuôc sau đây để mở đầu:

Khi ta ở, đất vẫn là đất, khi ta đi, đất bỗng có linh hồn
Sửa là: Khi ta ở Mắm vẫn là mắm, khi ta đi mắm bỗng cò linh hồn.

Quinhơn, những ngày sau tiếp thu, còn nghèo lắm, nghèo xơ xác…Những bữa cơm nhà tôi thường có: hai trứng vịt “luộc lộn đào”, bỏ vào tô nước mắm, vằm ra chấm rau sống. Một thau rau sống, đầy những cánh xà lách non, những lá cải cay tươi, nhừng tàng ô, cúc…thu hoạch trong vườn tự lực. Những lát cà bôm hườm hườm mà mỗi ngày tôi phài gánh nước tưới đã đời mới có. Đói ăn rau, đau uống thuốc, cứ việc rau sống mà chấm nước mắm hột vịt cho no bụng. Đơn giản, qúa đơn giản, nhưng  có muốn gì thêm, cũng chẳng được. Chung quanh tôi, còn có những thằng bạn còn khốn khổ còn nghèo hơn nữa, mỗi sáng phải vác bao bánh mì đi bán:
– Ai ăn bánh mì không? Bánh mì nóng dòn đây! Bánh mì đây!
Tụi nó cố gắng bán cho xong trước 8 gìờ, để còn kịp vào lớp học. Nhà tôi vẫn còn khá giả chán! Buổi sáng, ăn bánh mì nóng, chấm đường, sao mà ngon quá đổi. Xứ tôi không có bơ, không có sữa tươi, chỉ có sũa đặc Ông thọ, sữa hòn núi, sữa con chim. Ở Đức, tôi thấy có bán sữa con gái nữa (Maedchenmilch), thì cũng ngọt, cũng đặc như nhau, nhưng sao tôi chỉ thích cái sữa con chim của hãng Nestlé mà thôi. Lấy sữa chế trên ổ bánh mì nóng, ăn thấy ngon hơn ăn với đường một cấp. Bơ, thì đốt đuốc tìm hết sáu khu phố chẳng ra được một muỗng. Một ngày nào đó, bà cụ tôi không biết mang ở đâu về được một lon bơ mặn, khoảng 1 kg, màu cứt ngựa, chắc của quân đội Pháp (người Mỹ chưa đến) thế là chỉ trong vòng chưa đày 1 tuần, lon bơ cạn queo. Cơm nóng mà vích 1, 2 muỗng bơ vào thì ăn quên cả đời lầm than. Sáng bơ, trưa bơ, chiêu bơ, nửa khuya…cũng bơ ăn với cơm nguội, sao mà nó ngon lạ lùng. Với một sự chiếu cố mãnh liệt như thế, lon bơ nào chịu cho nổi, nó cạn khô. Tuổi đang lớn, cần nhiều chất béo, chất đường. Dân cả nước cũng mê chất béo, mê đường, ăn thịt thì qúa đắt, mua không nổi. Vớ được lon bơ, một hạnh phúc lớn, nhớ cả đời! Chất đường thì dễ kiếm hơn, kẹo động phụng, chè đậu xanh, đậu đỏ, đậu váng, đậu ngự…đường phổi, đường tán nằm ngổn ngang ngoài mấy gánh, trong tiệm chè, chỉ cần rủng rỉnh vài đồng trong túi thì được thoả mãn ngay. Khổ một nổi, trong túi không một xu dính túi, đành sắm cái khèo lèo, khèo keo, khèo me, hái trứng cá…thoà mản tạm nhu cầu. Không gì hạnh phúc hơn,  sau giấc ngủ trưa lần mò tìm đến bóng mát dưới một gốc cây, ông bán bông cỏ đứng chờ. Các bạn còn nhớ bông cỏ chứ? Món giải khát rẻ tiền này, không dính dáng gì đến bông, đến cò hết. Nó chỉ là một ly đá bào, thêm chút xi-rô hoặc xanh (bạc hà), hoăc đỏ  (của phẩm)  trở thành một ly bông cỏ . Uống một cái mát cả miệng, tê cả răng. Nếu bạn chê, bông cỏ thường quá, thì mời bạn dùng một ly hột é vậy. Chẳng đắt hơn. Nước hột é, bỏ vào hai, ba muỗng đường, một vài miếng đá cục, uống mát cả tỳ tạng, tâm can. A, còn anh bán cà rem cây nữa. Cà rem này được hãng nước đá Phàt Hưng hay Hưng phát (?) gì đó ở đường Phan bội Châu (cách tiệm kem Phi Điệp vài chục thước) sản xuất. Cà rem cây có nhiều loại khác nhau. Cây thì màu xanh xanh của màu bạc hà, cây thì màu vàng thoang thoảng hương vị của xoài, cây màu trắng mang hương vị của sũa đặc có đường…được xắp xếp trong một bình tích thủy miệng rộng, cao khoảng nửa thước, có dây quàng để đeo trên vai đi bán. Trời nắng, mút cây cà rem, thấy trời Quinhơn em đi mà chợt mát…Đến hôm nay tôi vẫn chưa hiểu rõ tại sao khán giả la ó um sùm ám chỉ ông trọng tài thiên vị :
–  Ê! trọng tài mút cà rem !
Trước nhà, dưới gốc cây rục rạc không quên gánh đậu hủ của bà Hai, khi bà khéo léo dùng một cái muỗng dẹp, hớt từng mãng đậu hủ, nỏn nà, mịn màng, thơm ngát bỏ vào chén, rồi chế lên trên muỗng nước đường đã thắng với gừng, chầm chậm mà húp để thấy chất đậu lưng lửng trôi xuống dạ dày. Còn gánh chè của bà Lỳ nữa, đôi khi sau giấc ngủ trưa, tôi thường ra ngồi sì sụp một chén chè đậu ván nước, hay một chè đậu ván đặc. Chất ngọt thấm vào tế bào, đưa đần đến não, người cảm thấy tỉnh táo, cơn buồn ngủ tan biến ngay theo từng muỗng chè.  Muốn ăn loại nào cũng có. Thỉnh thoảng, bà ta đổi món, thay vì đậu ván, thì mời khách dủng thử một ly chè đậu đen hay đậu đỏ, đậu trắng hoặc thích xơi thử đậu xanh, đậu ngự chăng? Chè đậu phải nấu nguyên cả vỏ, mới có công hiệu giảm nhiệt (?) Chè đậu xanh nấu ăn cả vỏ  cho nó “nhuận trường”. Mỗi món chè đậu mang mỗi mùi vị khác nhau. Chả lẻ Quinhơn chỉ có ngần ấy chè? Không đâu! Nhiều lắm, nhiều lắm! Chè là món dễ nấu, nếu thèm chè nào, là có chè ngay. Nào là chè bắp, chè đậu xanh đánh, chè bí, chè khoai môn…Bạn đã từng nếm qua thử chè hoa cau? Dễ nấu lắm. Nước đường được thắng cho sôi lăn tăn, khuấy đều vào đó bột năng hoặc bột sắn cho sánh lại, rồi đậu xanh hấp còn nguyên hột thả vào thành những cánh hoa vàng nhỏ lẫn vào giữa màu trắng trong của chè, múc ra chén, để tủ lạnh. Thượng đế ơi, Tiên nữ lạc xuống trần gian, “làm” một chén, quên cả lối về…Còn chè trôi nước nữa. Gạo ngâm qua đêm, xay nhuyễn, nặn tròn, vỏ bánh được trộn lẫn giữa bột năng và bột nếp, để bánh đừng dính qúa, hoặc đừng nhũn qúa. Từng viên bột trắng bọc bên ngoài viên đậu xanh xay nhuyễn, trộn đường, mè…vo tròn, thả từ từ vào nồi nước sôi để cùng nhau chịu cảnh “ba chìm bảy nổi”…Khi bánh chín, được vớt ra thả vào nồi nước lạnh, để thấy màu trắng đục chuyển thành trong trong, lờ mờ ẩn hiện màu vàng vàng của viên đậu xanh bên trong. Bánh được vớt ra, để rồi chan lên từng muỗng đường thắng bằng bột năng sền sệt thơm mùi hoa bưởi và gừng non…Môt chút mè rang rắc lên trên, thêm vào chung quanh những vìên bánh trôi chay không nhân. Ngon lắm bạn ạ! Tôi vẫn còn nhớ có ông người Tàu, đêm đêm, đẩy chiếc xe, gõ hai thanh tre vào nhau đi chào hàng:
– Lục tào xá, chí mà phù đây!
Không tiền, nhìn ông đẩy xe đi ngang, bập bùng ánh đèn khí đá (cạt-buya), rồi khuất dần cuối đường, để lại mùi thơm của Lục tào xá, Chí mà phù thoang thoảng trong không gian… (Lục tào xá là món chè đậu xanh xay nhuyễn, bỏ thêm vỏ quít cho thơm. Chí mà phù là chè mè đen cũng xay nhuyễn).
Ơ hay, tôi có mở tiệm bán chè lúc nào đâu mà bày vẽ việc nấu chè. Đề cập đến chè hơi nhìều. Gìa thì hảo ngọt, nhưng không dám ăn chè thường, sợ lượng cholesterol tăng, sợ sổ eo, to bụng…đành ăn “chè viết” vậy.
Ông bán kẹo kéo, ô hô, ai lại chẳng biết, ông ta nổi tiếng gần bằng ông tám khùng của thành phố. Cây kẹo kéo trắng nõn, dòn rụm, bên trong là đậu phụng rang, giã nhỏ, tôi thích lắm. Để quyến rũ khách hàng mà phần đông là trẻ con. Ông ta bày ra trò quay số, hoặc cắt chỉ. Một sợi chỉ hay dây gai, được buộc vòng qua cây đinh. Ai cắt được (bằng dao) sợi chỉ đồng đều nhau, sẽ được thưởng cây kẹo kéo dài hơn gấp rưỡi độ dài bình thường. Nếu không, thì sẽ nhận cây ngắn hơn. Dù cắt bằng cách nào đi nữa, thì dây cứ vẫn bị so le. Lần nào cũng tiu ngỉu nhận cây kẹo kéo ngắn ngủn!  Đến hôm nay, tôi vẫn chưa cắt được hai sợi dài ngang nhau.
Vào mùa ghẹ, cả Quinhơn tha hồ ăn ghẹ, khoảng 2, 3 giờ chiều là có bà bán ghẹ đã luộc sẵn, đội thúng đi rong chào bán. Ăn ghẹ, nhiều lúc gặp xui trúng ngày trăng lên, thì ghẹ bị ốp! Người ta nói rằng: lúc có trăng, ghẹ mê trăng, lo đùa giỡn với trăng, không chịu ăn, nên ốm cả người mà lúc ốm người thì chỉ còn da bọc xương, không phải, chỉ còn mai bọc thịt nên bị ốp. Chỉ những ngày không trăng mới có ghẹ chắc, vì thế không nên mua ghẹ vào những ngày trăng rằm. “Ghẹ chắc” thì thịt ngọt vô cùng, cái mgọt lẳng lơ khác với cái ngọt của cua, không nên ăn nhiều, có thể bị Tào tháo đuổi. Ghẹ luộc sẵn, đôi lúc bán không được, bị hấp đi, hấp lại nhiều lần, ăn vào thì…xách quần mà chạy. Tôi đã từng bị Tào thào đuổi đến biên giới của ngất ngư rồi. Không phải vì ghẹ đâu nhé, mà vì hột vịt lộn! Những đêm học thi cùng mấy thằng bạn, đến khuya cảm thấy đói bụng, ai đã từng học khuya cũng đều có cái triệu chứng “cảm thấy” này. Tiếng rao:
– Ai ăn hột vịt….lôn…lộn….không?
sao mà đến đúng lúc quá. Thằng Minh nẩy ý kiến:
– Ai ăn được nhiều hột vịt lộn nhất thì khỏi phải trả tiền, tên nào ăn ít nhất phải trả.
Lời đề nghị nghe chí lý, vả lại mình thuộc loại “hạm trưởng” hàng không mẫu hạm, chả sợ gì. Kêu vào !….
Đêm đó, dân bán hột vịt lộn Quinhơn trúng mánh to. Ít nhất cũng 6,7 bà bán hột vịt lộn tề tựu đông đủ trước sân. Thằng Minh bị xếp hạng… bét, chỉ có thể chịu đựng nổi 15, 16 hột. Xí, thế mà đòi cá độ. Tôi hiên ngang với tỉ số 20 hột. Thoát nạn trả tiền. Nhưng…khoảng 1, 2 tiếng sau thì bị Tào tháo đích thân truy đuổi. Thôi thì khỏi phải kể. Trên nôn, dưới mữa…Tào tháo tấn công cả đêm cho đến cả mấy ngày sau, mệt lã người. Bây giờ nghe đến hột vịt lộn vẫn còn sởn tóc gáy! Đêm đêm trên đường phố Quinhơn thường xuất hiện một chiếc xe bán mực khô của một ông người Hoa. Không gì thú vị hơn, nhai một con mực khô cuả ông đã được đẩy qua cái máy cán tay, đẩy qua nhiều lần, con mực tự nhiên nó mỏng, nó dài người ra, nó hấp dẫn hơn mấy cô “ốm như con khô mực” nhiều. Bỏ chút tương ớt lên trên…Cái vị ngọt của mực khô, trộn lẫn cái cay cay của tương ớt. Ngon lắm! Ngon…qúa xá đi.
Mấy tiểu thư hay ăn quà, chắc còn nhớ ông bán thịt bò khô và anh bán cốc? Mấy ông này hay quanh quẩn trước các cửa trường, nhất là ở những trường có nhiều con gái thèm chua, hảo ngọt. Chẳng hạn như Trường Nữ trung học, Trinh Vương, Bồ đề. Chứ thơ thẩn trước cổng trường Cường để chỉ có nước..phá sản! Một nhúm đu đủ bào, rưới lên chút nước dầm chua chua, ngọt ngọt, miếng thịt bò khô mỏng, màu tim tím đỏ, được cắt thành từng miếng, tiếng kéo lắt xắt, đã tạo một sự thôi thúc trrước khi đưa dĩa bò khô lên miệng, rau thơm tương ớt, nhất là tương ớt  không đươc thiếu đâu đấy nhé.
Tha hồ mấy cô vét dĩa đu đủ bào không muốn bỏ phí một sợi, cầm lòng chẳng được, phải gọi thêm vài dĩa nữa mới đã thèm…Một kỷ niệm nhớ mãi không quên về anh bán cốc. Vào những dịp “nhộn nhịp” như có đá banh hoặc biểu tình, hội họp ở sân vận động đều thấy bóng dáng chàng xuất hiện. Thật ra anh ta không chỉ những bán cốc thôi đâu. Trong cái lồng kính gắn trên cái bọt-ba-ga, trong một cái thẩu chứa nước cam thảo vàng vàng, anh còn có thêm vài thứ hấp dẫn khác nữa, tùy theo mùa như thơm, ổi, chùm ruột…Một cái lon sữa bò đầy muối, ớt phải luôn có sẵn, không được thiếu, thiếu thứ này, chẳng khác gì  “dùi đục chấm nước mắm”, chẳng ra cái tích sự gì. Một cái khăn đen thủi, đen thui,máng lên cái ghi-đông xe đạp (chắc cả năm không giặt) để chùi tay. Đang đi đường, chợt buồn miệng, thèm chua, muốn nhai một cái gì dòn dòn. A, phải rồi !Cốc!. Thấy anh bán cốc, đang đứng gọt gọt dưới gốc cây, thế là tôi rà rà, xề tới:
– Cho em cái cốc!
Sau khi gọt xong mấy múi thơm, bỏ vào cái thẩu nước cam thảo, anh ta móc móc, lựa lựa ra một cái cốc (khá mập mạp) rồi bắt đầu gọt vỏ…Khách chờ, đứng nhìn. Đang gọt, chợt anh dừng tay lại, bước xéo sau gốc cây, đứng …”tè” một lát. Khách ngó theo…Làm xong công việc phài làm, anh ta trở lại chiếc xe đạp, lấy cái khăn, chùi tay qua loa rồi thản nhiên “cầm” cái cốc đang gọt dở và tiếp tục…gọt, chẻ, tách ra như hình cái bông, nhúng vào nước cam thảo, xoa muối ớt:
– Nè, 5 đồng!
Khách cảm thấy hơi ghê ghê, nhưng chẳng nghĩ tiếp. Giờ đây, nghĩ lại…rùng mình!
Ở Quinhơn, muốn ăn phở, hơi khó tìm ra một tiêm phở chính gốc. Thức ăn theo người, phở là món phổ thông của người Bắc. Món phở nam tiến đến Saigon, nhưng đến Quinhơn thì hình như bị kẹt lại, vì Quinhơn có ít người Bắc sinh sống. Người Bắc có món phở, người Trung, đặc biệt là Huế có Bún bò gìo heo, người Bình định thích nhai bánh tráng, người Nam ưa hủ tiếu, người Tàu số dzách là mấy món mì. (chẳng hạn như Mì Trường đề, đường Phan đình Phùng, gọi một tô mì sợi, hay mì thánh mì, nhìn mấy cái chà cha quảy, nằm một cách thật vô tình trên bàn, không bao giờ nỡ bỏ qua). Muốn ăn bánh tráng, khỏi phải đi đâu, chỉ cần nhúng, hay nướng rồi nhúng là xong. Vài tiệm hay quán phở ở Quinhơn tôi chỉ còn nhớ vài quán như ở đường Phan bội châu, một quán đối diện với ty Công chánh, một quán ở đường Hoàng Diệu gần nhà thương cũ. Vào khoảng năm 67-68 tuốt trong khu 6 có xuất hiện một quán phở khá nổi tiếng. Khách làng ăn đặt tên là “Phở công binh”, vì quanh đó là căn cứ  của công binh, do vợ của một ông lính công binh mở tiệm, bán kiếm thêm vào đồng lương chết đói của lính. Quán chỉ là cái nhà tôn nghèo nàn, có khoảng 15, 20 chỗ ngồi, không bảng hiệu, nhưng rất tấp nập, náo nhiệt vào mỗi chiều, tối. Xe Jeep nhà binh, xe Land rover (loại xe diệt trừ sốt rét) của mấy ông trưởng ty các ngành trong tỉnh, mấy ông sĩ quan trong quân đội, Honda của thường dân và học sinh đậu chật đường. Ắt hẳn quán này phải có một nghệ thuật gia truyền đem từ Bắc nên mới đông đảo thực khách như thế. Tô phở to lắm, ăn xong một bát là thấy đời đẹp như…phở! Tôi không phải tín đồ của phở, thời đó, thuộc hạng “dễ giặt, dễ ủi” ăn sao cũng được, nên không dám lạm bàn. Chỉ biết, những tín đồ sành phở (đã là tín đồ, thì khó tính) nghe đồn nơi nào có phở ngon là mò đến. Không cứ là phải đến một chỗ sang trọng, trái lại người sang trọng lần mò tới chỗ rất tồi tàn để ăn cho được một hai bát phở, chủ tâm đến cái điểm chính là phở thôi, chứ không quan tâm dến ngọai cảnh làm gì. Sau này, tôi cũng đớp phở khá thường nên biết, điều cần thiết là bánh phở phải mỏng và dẻo, thịt mềm, thỉnh thoảng lại thấy cái cay của gừng, cay cái cay của tiêu, cay cái cay của ớt, thỉnh thoảng lại thấy thơm nhè nhẹ cái thơm của hành, thơm hăng hắc cái thơm của rau thơm, thơm dìu dịu cái thơm của thịt bò tươi và mềm… và nhất là nước dùng phải ngọt, ngọt kiểu chân thật, nghĩa là ngọt vì nhiều xương, ngọt một cánh hiền lành, êm dịu, ngọt một cách thành thực thiên nhiên, không có gì là hóa học của bột ngọt…tẩy mùi vừa vặn, không nồng, mà lại nêm vừa mắm muối, không mặn qúa và không lạt qúa. Đạt được mấy điểm đó tức là phở ăn được rồi đấy. Hãy nghe “Tín đồ phở” tuyên bố:
– Ăn được một bát phở như thế, phải nói rằng có thể lâm li hơn là nghe thấy một câu nói hữu tình của người yêu, cái thú có thể ví như sau một thời gian xa cách, được ngã vào trong vòng tay một người vợ đẹp mà lại đa tình …
Nói về phở mà không nhắc đến mấy quán bún bò Huế thì qủa là một điều thiếu sót. Nấu ăn là một nghệ thuật, điều đó ai cũng biết, cũng bún, cũng thịt, cũng chừng đó công thức nhưng tại sao bún ngưới này ngon mà bún người kia dở, chẳng qua là nghệ thuật nêm nấu cộng với kinh nghiệm. Con bún làm bằng gạo xay có pha ít bột lọc nên con bún trắng hơi trong và săn hơn. Con bún Huế lại to hơn các nơi khác. Có hai loại bún, con bún thường được cuộn thành từng con nhỏ, lúc đói bụng mà chấm nó với nước mắm ớt chanh tỏi thì tuyệt ! Con bún để làm bún bò gìo heo thường lớn hơn. Một tô bún bò hấp dẫn thực khách chính là nhờ chất nước ngon ngọt và thơm. Đặc biệt là nồi bún, một nồi bằng nhôm dẻo rất mỏng, trông giống một chiếc nồi đồng nhưng sâu và rộng miệng hơn. Ăn một tô bún đang bốc khói, những sợi bún trắng trong trôi nổi trong nước bún đỏ đỏ, những miếng móng gìo được nấu mềm nhừ, với một chút màu trắng của những cọng gía và màu xanh của rau húng, húp một ít nước béo đậm đà kèm theo một chút gia vị nước mắm ớt chanh, vô cùng thú vị, vừa cay, vừa nóng, vừa xúyt xoa, vừa nghe vị ngọt của nước bún của thịt, chạy dần vào thực quản. Thực khách khó quên được cái hương vị này. Phải có một lần ăn bún đến chảy nước mắt lúc đó mới cảm thấy hương vị xứ Huế nó thâm trầm như thế nào. Ở Quinhơn tôi chỉ biết có vài quán bún khá nổi tiếng như tiệm bún bò Hương bình ( nằm giữa tiệm kem Phi điệp và hãng sản xuất nước đá Hưng phát). Tiệm Như Ý ở đường Võ tánh, gần bến xe, tuy tiệm bán sinh tố, nước ngọt nhưng trước cửa tiệm, khỏang 5, 6 giờ chiều lại có gánh bún bò gìo heo bày bán trước tiệm. Gọi tô bún, mang vào tiệm mà ăn. Quán bún bò Bà Nghinh ở đường Hai bà Trưng, một quán bún tên gì đó, tôi không còn nhớ rõ, ở đường Tăng bạt Hổ (trước Cô nhi Viện). Có thể còn rất nhiều những qúan bún, những gánh bún bò gìo heo khác nữa, nhưng vì không có bảng hiệu, nên chẳng nhớ nổi.
Nhớ lại mì,phở, bún bò, tôi thấy nên nhắc đến cái món bún riêu cua nữa. Quán bún riêu bác Thuận mà hầu hết ai cũng biết, ở góc đường Tăng bạt Hổ, Cường Để. Không những chỉ có bún riêu thôi đâu nhé, còn có món bánh cuốn, làm ngay tại chỗ, cũng không kém phần hấp dẫn. Khác Phở có vị béo ngậy; ngọt, khác với cháo có vị thanh thanh, man mác, bún riêu có vị ngọt đậm, nước dùng hơi dôn dốt chua, mùi cua đồng thơm ngào ngạt, hơi cay cay, gạch ở mai cua, mới là vị chính tạo nên mùi rất riêng của bún riêu cua. Bún rời được trụng  bằng nước sôi lăn tăn, chan riêu cua ngập bún, ăn nóng cùng ớt bột chiên mỡ, rau diếp , lá kinh giới, tía tô hoặc rau muống chẻ. Sướng cả thần khẩu!.
Không phải ai cũng là người sành ăn, là tín đồ của phở, cùa bún bò gìo heo, của mì thánh…Là tín đồ của đạo ăn qùa thì phải đi viếng…tiệm thường. Nhưng làm cư sĩ ăn tại gia vẫn có thể…tụng ra được những món ăn ngon trong gia đình. Tôi thuộc hạng ăn tại gia…trường trai,  Dù đã sống gần trọn 35 năm ở hải ngoại, tôi vẫn còn thèm ăn mắm. Mắm nào cũng chẳng chê, mắm Châu đốc, mắm thu, mắm thái, mắm nêm, mắm ruột, mắm ruốc, mắm tôm…Người Bắc hay lầm lẫn giữa mắm tôm và mắm ruốc. Gọi ruốc là tôm, gọi tôm là ruốc. Mắm ruốc là làm từ con ruốc ra, ruốc có hình dạng nhỏ, trong, làm ra mắm thì có màu tím. Mắm tôm làm từ con tép ra, màu đỏ, có thêm củ riềng vào. Người Nam gọi là mắm tép, có thể đúng hơn cả. Mắm thu, mắm tôm nổi tiếng ở Quinhơn là quán bà Kỳ (Thanh Hương) ở đường Lê Lợi. gần sát rạp ciné Lê Lợi. Bà Kỳ người Huế, đem cả nghệ thuật nấu ăn xứ Huế vào Quinhơn. Món đặc biệt nào của Huế thực khách đều có thể thưởng thức tại đây, từ bún bò gìo heo, đến cơm hến, cháo lòng, bánh bèo…thôi thì đủ mọi thứ. Tuyệt..vời! Làm sao quên được món “mắm ruột”  ăn với cà dĩa còn xanh, mỗi lần ở nhà làm món này, là tôi …cạy luôn cơm cháy, Mắm ruột là do lấy ruột con cá Ngừ (tôi cứ tưởng tên cá là cá Người, nhưng phát âm theo giọng Bình Định: Người trở thành Ngừ như: Ngừ ta quơi!). Nhưng nó Ngừ thật! Ruột cá sau khi bóc bỏ mật, bỏ mang, được để vào trong tô, rắc múi hột lên, đậy cho kín, chứ ruồi bu là bị hỏng. Để phơi nắng vài ngày cho nó…sình, nói theo người chuyên môn là cho nó chín, nó dậy mùi, xong bắc cái chảo, khử tỏi cho thơm, bỏ ruột vào (lúc đó đã mềm) nhanh tay xào, thêm tí đường, chờ ruột rã, tan trong chảo, lúc đó trở thành một chất đặc sền sệt như tương ngọt (Hoisin) là bắc chảo xuống, ăn nóng. Cà dĩa cắt từng khúc vừa miệng, cứ việc cà quẹt mắm, rồi và cơm cho khá…Có thịt ba rọi luộc nữa thì…ăn mệt nghỉ! ăn quên cả nước…non. Ăn mắm vào buổi tối, khát nước lắm, như uống phải trà Thái đức!
Ở khu Một (bến cảng), có cái lò hấp cá, mỗi lần tới mùa cá nục thì bốc mùi…thơm đáo để. Cá lưới được nhiều quá, ăn tươi không hết, phải hấp mang bán trên vùng cao nguyên, nhất là Dalat. Cá nục nhỏ con hơn và ăn không ngon bằng cá lồ ồ. Cá Ngừ hay cá lồ ồ (là con cùa con cá Ngừ) đem đi nấu mẳn, tức là nấu như canh nhưng mặn mặn hơn chút để chan ăn với bún, hoặc cuốn bánh tráng, rau sống. Đích thị là món đặc biệt của Quinhơn. Nó mặn mà, nó thâm thúy làm sao! Những ngày vào Hạ, bạn còn nhớ có món gì đặc biệt ăn mát ruột không? – Món gỏi cá sống- Vâng, chính nó đấy! Ăn vào lúc tiết trời nóng bức, khỏi chê vào đâu được. Người ta làm gỏi cá bằng cá mai hay cá cơm. Làm cá cơm thì để nguyên con, với cá mai thì lọc lấy phấn thịt hai bên, cá mai làm xong phải để trên thớt gỗ cho thật khô mới lạn lấy thịt, xong rồi vắt chanh vào, để một lúc thì nó tự chín. Đáng chú ý nhất là rau, không phải chỉ một hai thứ rau thơm là xong đâu, phải có càng nhiều loại rau thơm, thì càng ngon, chẳng hạn như rau mùi, tía tô, kinh giới, húng lủi, húng láng, tàng ô, rau cúc, rau răm,lá ổi, lá sung…ngần ấy thứ rau, thứ nọ đỡ cho thứ kia mới hoàn toàn. Riêng nhìn những thứ rau đó không, nằm trong những cái dĩa trắng tinh, ta cũng đủ thích mắt và thấy cái mát rời rợi trong lòng. Nhưng cái mát đó chưa thấm vào đâu với cái mát lúc dĩa cá sống bưng ra để vào giữa cái vườn hoa xanh ngát đó; miếng cá cứ trắng nõn ra, trông mơn mởn như một người đẹp đang thơ thẩn trong vườn Thượng Uyển. Gỏi cá có một cái thú đặc biệt là có nhiều mùi vị cay, đắng, chua, ngọt, hăng hắc, mặn…đủ cả. Thỉnh thoảng lại bùi, cái bùi của đậu phụng, mè và của chất bánh tráng nướng tỏa mùi thơm thoang thoảng…Xúc mỗi miếng cá với miếng bánh tráng mè và với đủ mặt rau. Qủa là một món thanh nhã, đậm đà mà không béo ngậy. Người đẹp trong vườn Thượng Uyển đã biến mất tự lúc nào, mà khách si tình,vẫn còn quyến luyến, ngẩn ngơ…
Đặc biệt ở quinhơn còn có món bún sứa góp phần vào món gỏi cá sống. Sứa có hai loại: một loại sứa chân và loại sứa tròn. Sứa chân ăn ngon hơn, dòn hơn, túng lắm thì xài đỡ sứa tròn. Sứa mua ở chợ mang về, ngâm vài tiếng trước khi ăn cho nó nhả cát, vắt cho thật ráo nước. Một nồi nước lèo nấu bằng xương, bỏ  cà chua vào cho dịu nước, thịt ba rọi, tôm, hành, xào xong đổ vào nước dùng. Bún cho vào tô, rắc sứa lên trên, rau muống chẻ, rau thơm, băp chuối xắt nhỏ, trãi lên mặt với đậu phụng rang giã vừa vừa, chan nuớc lèo súp súp vào…Bạn đã từng ăn qua chưa? Ngon không chỗ chê đấy bạn ạ! Ở Quinhơn có loại cá mó, hình dẹp, màu hồng, đầu màu xanh lơ, loại cá này chắc là loại cá san hô. Cá mó lăn bột, chiên vàng, ăn với nước mắm ớt tỏi. Khỏi chê!. Món chả cá từ con cá rựa, ôi thôi ngon ơi là ngon. Cá rựa mang về, lột da, xong lấy muỗng nạo phần thịt, để sang một bên, đến phần xương thì bằm thật nhuyễn, để sang một bên. Nêm mắm, muối, đường cho vừa ăn, nắn lại thành từng cục như cục Hamburger ở Mc Donald. Chiên lên, làm sốt cà, bỏ tất cả vào, để lửa riu riu cho sốt thấm vào thịt. Tuyệt hảo hạng! Phần thịt, lúc chìên thì có màu trắng, phần xương thì đổi màu nâu nâu. Ăn những cục từ phần thịt là ngon nhất, nhưng chọn những cục này ăn trrước thì bị khỏ đầu. Ăn bún  chả cá chính tông con nòng nọc, thì phải nhắc đến con cá mối (giống như cá thác lác trong Nam). Mùi chả cá không tanh, bùi làm khoan khoái khứu giác ta, trong khi thị giác thì được thỏa thuê với những ngọn rau muống chẻ, xanh mườn mượt, xen với tí rau húng, rau thơm, chén nước mắm ớt, tỏi chanh, đường, dĩa bánh tráng mè nướng, bẻ vụn hoặc những tô bún nghi ngút khói, hay chồng bánh tráng dày đã nhúng nước.
Tôi còn nhớ một món đặc biệt nữa là món nhộng xúc bánh tráng. Hình như muốn ăn nhộng thì phải đợi tới mùa mới có. Nhộng là sâu của con tằm, mấy con sâu lúc nhúc, leo nheo…nhưng đã luộc lên rồi, thì chúng nó ngay đơ…và có màu vàng. Nhộng mua ở chợ đã luộc sẵn, nên nó không còn nhúc nhích nữa, có nhiều chất đạm. Thứ này, xúc với bánh tráng nướng, xúc hết, tay vẫn còn muốn xúc mãi không thôi…Ủa, nó hết rồi à! Sao mà mau qúa vậy? Ở Quinhơn còn có một loại cá nữa là cá Dìa (không phải cá về vì phát âm ). Cá này sống ở vùng nươc lợ. Đầm thị nại là quê hương lý tưởng. Mỗi chiều, đi trên đường Bạch Đằng, rẽ qua Cầu Đá, đứng xem mấy tay câu cá Dìa bằng “mồi quẹt”. (mồi quẹt là gì vậy? khó nói quá! Nó là…chất vàng vàng đó). Loại cá này cũng thích ăn dơ như cá Tra ở trong Nam. Nhưng tôi nghĩ, cá bán ở chợ, được lưới chứ không câu quẹt như dân tài tử đâu. Cá Dìa chiên ngon lắm! Cá lưỡi trâu chiên vàng ăn cũng ngon, chỉ tiếc thịt chúng nó ít qúa, vì dẹp lép. Con cá hố cũng dẹp, còn dẹp hơn cá rựa nữa, nó ốm tong, ốm teo, chỉ có nước đem chiên. Vì cá quá mỏng, nên trong xóm tôi có bà hàng xóm, được đặt tên “bà Phước cá hố”. Con cá bánh đường xuất hiện rất thường dưới dạng đã chiên rồi, nằm trên dĩa nhà tôi. Bữa cơm Việtnam, cũng như những bữa cơm Quinhơn đều không thể thiếu món canh. Trời nóng, ăn đồ chiên xào nuốt không trôi, nhiều lúc chỉ quơ quào chén cơm chan canh, lùa một húp thì xong bữa. Món canh thì hằng hà vô số, muốn canh nào, chế nước cho kha khá thành canh đó. Canh bí, canh bầu, canh rau má, canh khổ qua, canh cá…Tôi muốn nhắc đến canh cá, nhưng canh cá cũng có nhiều loại, tôi khoái nhất là cá liệt nấu canh măng chua, hoặc với thơm, với cá chua, thêm nhiều lá hành vào. Con cá liệt nhỏ bằng ba ngón tay, hình thù giống cá chim hay cá scalare, nhiều xương con lại cứng. Còn có một mỹ danh nữa là cá Long hội. nói lái lại có nghĩa là lôi họng! Dễ bị hóc xương đến lôi cả họng. Nhưng nấu canh với nó thì ngọt vô cùng. Chỉ cần nấu nó lấy nước làm canh, có một vị ngon rất độc đáo. Ngoài cá liệt nấu canh còn có canh cá Ngạnh cũng không kém phần hấp dẫn. Cá Ngạnh sống ở nước lợ, cũng nấu với măng chua, hoặc thơm, rất ngon. Không biết bây giờ ở Quinhơn có còn con cá khoai mà Ngoại tôi hay goị là “cá Phai” hay không?. Thịt cá khoai mềm nhũn như thịt heo kho tàu hai, ba ngày. Nó trắng và trong suốt, thấy cả lòng dạ, nấu với mứt đen, tức rong biển, như một cặp bài trùng, ăn mê tơi !. Cẩn thận gắp, bỏ  vào miệng miếng cá khoai, „chưa nuốt đến môi đã trôi đến cổ“ rồi, nó mềm mại chạy tọt xuống dạ dày, không cần nhai.
Lúc nào húng hắn ho, thì có ngay “món ruột heo xào hẹ”. Ruột già mua về, lấy đũa, lộn mặt trong ra, xát với muối, nêm mắm muối và nghệ rồi xào với hẹ. Mê tơi lắm,lại hết ho dù ho khan, ho khúc khắc hay ho…gà. Ngày nào có món thịt ba chỉ nướng than, thì ngày đó hết cơm trong chớp mắt. Gà, vịt cũng hiếm khi có dịp mới được ăn, có ngày giỗ quảy, mừng run…miệng!
Mỗi món ăn chỉ có một số người thật sự hiểu nó, số người ấy là những người ở địa phương đó, vì nó còn liên quan đến những kỷ niệm. Món ngon Quinhơn còn nhiều nữa chẳng hạn như bún nem nướng, bánh bèo, bánh nậm, bánh xèo…nhưng tôi chỉ muốn nhắc đến những món ăn thường có, thường thấy ở Quinhơn, để biết đâu bạn đọc đến, sẽ khơi lại những kỷ niệm ngày xưa.
Miếng ngon Quinhơn như một lời tâm sự với những người xa xứ. Dù ở một phương trời góc biển nào, tôi hy vọng bạn vẫn mang theo cái hương thơm ngào ngạt quyến luyến cuả quê hương.

Bùi Đăng Khoa
(Germany)

Read Full Post »

Ba và con gái

Trần Thanh Thiện

Như thường lệ, ông Năm ra khỏi giường từ 4 giờ sáng. Tắm sơ xong , ông bắt đầu tập yoga. Sau đó ông đun nước pha trà và khoảng 6g ,ông vào đánh thức vợ dậy. Hai vợ chồng ngồi nhâm nhi uống trà, vừa trò chuyện vu vơ. Cũng có lúc chẳng có chuyện gì để nói, họ lặng lẽ thưởng thức tách trà buổi sáng,Vừa uống, ông Năm vừa liếc nhìn vợ để đoán xem đêm rồi bà ngủ ngon không. Bà hay mỏi vai và đau lưng nên đêm nào trước khi ngủ ông cũng đấm bóp cho bà bằng dầu tràm để đêm bà ngủ say và không rên rỉ mỗi khi trở mình. Ông còn ít ngủ hơn bà, nhưng ông vẫn khỏe. Ông thường thức dậy từ 2, 3g sáng, cố nằm yên để không làm bà thức giấc.

Xong mấy tuần trà, bà đứng lên chuẩn bị bữa ăn sáng.  Nhìn dáng bà nhỏ loắt choắt liêu xiêu đi xuống bếp, ông thấy thương bà quá. Đã 40 năm là vợ chồng, ông bà hiểu nhau rất rỏ. Bởi vậy họ không trò chuyện với nhau nhiều, vì chỉ cần một cử chỉ, ánh mắt, điệu bộ, nhiều lắm là một câu nói, là họ đã hiểu người kia muốn gì. Lâu lắm rồi họ không nói với nhau những lời yêu thương mặn nồng, không còn những cử chỉ âu yếm, nhưng không phải vì thế mà họ bớt yêu thương nhau. Tất cả đã chắt lọc, cô đặc, kết tinh lại thành những cái nhìn thăm dò, những ánh mắt lo âu, nhắc nhở, những cử chỉ chăm sóc nhẹ nhàng kín đáo, ân cần và lặng lẽ, từ chuyện ăn chuyện ngủ chuyện mặc cho đến những sinh hoạt cá nhân hằng ngày. Tuy vậy nhờ ông có óc hài hước nên nhà cũng không thiếu tiếng cười. Ông bà còn có niềm vui chung là đọc sách, và sách là người bạn chung của hai ông bà.

Đã lớn tuổi nên dù chung chăn chung chiếu nhưng mạnh ai nấy ngủ. Có đêm đang yên giấc, bỗng bà trở mình choàng tay qua ôm ông rồi rúc đầu vào nách ông ngủ tiếp. Ông thức giấc, cảm nhận hơi ấm từ người bà, từ hơi thở đều và nhẹ của bà nhột nhạt bên sườn ông. Ông nằm yên tận hưởng niềm hạnh phúc ngọt ngào mà bà vô tình mang đến cho ông trong vô thức, rồi chẳng mấy chốc ông cũng ngủ tiếp.

Các con của ông bà đều đã có gia đình. Hai anh con trai lớn ở xa. Cô con gái út cũng đã có hai con, ở gần nhà mẹ nên vài ngày cô lại ghé thăm chừng xem hai ông bà có ổn không. Thỉnh thoảng đem đến mớ rau, vài con cá, nói năm điều ba chuyện rồi về. Chủ nhật nào hai đứa cháu ngoại cũng qua chơi, quậy phá tưng bừng ngoài sân ngoài vườn, hái ổi và khế ngọt ăn chán chê. Thỉnh thoảng hai vợ chồng có việc đi đâu lại mang con đến gởi ông bà. Gia đình nhỏ này là niềm vui lớn của ông bà lúc về già. Ao sen trước nhà chừng hai chục mét vuông là niềm mơ ước của lũ trẻ nhưng chúng không bao giờ được phép đến gần.

Mồng một Tết năm nay các con và các cháu nội ngoại tụ họp nhà ông đông đủ làm ông bà rất vui. Vài ly bia làm ông vui hẳn lên và nói nhiều hơn. Bà vẫn ít nói nhưng cười nhiều hơn mọi ngày. Đến tối, căn nhà lại yên tĩnh. Bà vất vả cả ngày nên tối đi nằm sớm, để ông một mình với bình trà nóng. Cảnh gia đình sum họp làm ông nhớ lại thời tuổi trẻ lúc các con ông còn nhỏ. Kỹ niệm xưa mà ông vẫn cố quên đi, tưởng đã vùi sâu qua năm tháng, nay bỗng ùa về..

Thuở ấy ông tốt nghiệp sư phạm cấp tốc, dạy ở trường tiểu học Hòa Duân, một làng quê ven biển Thuận An. Năm năm sau ông yêu một cô giáo người địa phương mới tốt nghiệp và vừa được nhận về trường. Sau khi vợ sinh con đầu lòng, ông bắt đầu học hàm thụ để lấy bằng tú tài II. Và sau một kỳ thi đặc cách của trường trung cấp sư phạm, ông được chuyển về trường trung học thành Nội, Huế. Lúc đó con trai của ông mới ba tuổi, vẫn phải sống với mẹ ở làng quê vì vợ ông chưa thuyên chuyển theo chồng được. Rồi ông bị động viên. Sau khóa học thì ông về đóng quân tận Quảng Ngãi. Lúc đó vợ chồng ông đã có hai con trai. Đã bao lần ông định đưa vợ con vào Quảng Ngãi để vợ chồng con cái sum họp nhưng vợ ông không thể bỏ dạy. Bà cũng đang xin thuyên chuyển theo chồng nhưng chắc còn phải chờ đợi lâu. Vợ chồng ông đành tạm thời sống xa nhau. Biết vợ buồn nên tuần nào ông cũng gởi về những lá thư thật dài, kể về cuộc sống của ông ở nơi xa, không quên kèm theo những lời yêu thương thắm thiết và nỗi nhớ nhà khôn nguôi làm ông mất ăn mất ngủ. Mỗi lần nhận được thư của vợ, ông mừng hơn bắt được vàng. Ngoài những tin tức nóng hổi về  hai đứa con thân yêu mà ông nhớ quay quắt, nàng viết “…em nhớ anh đến phát điên anh ơi! Một mình trên chiếc giường rộng, em nhớ quá chừng vòng tay anh …”.Ông thường mất ngủ sau khi đọc những dòng thư như thế.

Tháng 8 năm đó ông xin nghỉ phép về Huế giỗ Ba ông, tiện thể thăm vợ con. Mới đi xa có 8 tháng mà ông tưởng chừng đã mấy năm. Ông về Hòa Duân thăm vợ con trước rồi sau đó đưa cả nhà lên nhà Mẹ ông ở Huế. Trong lúc vợ ông ở nhà trong lo chuyện bếp núc thì ông lo cắm hoa, xếp dọn bàn thờ, chuẩn bị bàn ghế để đón khách mời.

Tối hôm đó về nhà vợ ông bị nôn và đau bụng. Ông nghĩ bà trúng gió nên cạo gió và xoa dầu như mọi khi. Sáng hôm sau bà vẫn nôn, da tái xanh và rất mệt nên ông vội đưa bà đi khám bịnh. Kết luận của bác sĩ làm ông choáng váng: Bà đã có thai 5-6 tuần. Ông đứng lặng nhìn bà ngỡ ngàng, không tin vào mắt mình. Nhưng giấy trắng mực đen sờ sờ ra đó! Bà chỉ cúi mặt khóc nức nở.

Ông không về nhà cùng với vợ mà một mình đi ra biển. Ông ngồi trên bãi cát, đăm đăm nhìn ra khơi xa. Tít ngoài  kia, nơi bầu trời và mặt biển gặp nhau, ông nhìn thấy vợ ông đang tươi cười khoác tay ông, tay kia cầm bó hoa cưới. Rồi ông thấy nàng trong đêm tân hôn, rạng rỡ, đẹp tuyệt trần trong tấm áo ngủ ngát hương thơm da thịt con gái trinh nguyên, háo hức đợi chờ nhưng đòi ông phải tắt hết đèn ngủ. Đã bao đêm như thế trôi qua ông không nhớ nổi. Rồi ông thấy nàng ngời ngời hạnh phúc bên ông mỗi khi ông về thăm. Nàng dịu dàng, đằm thắm và tận tụy xiết bao những lúc cùng ông chia xẻ những buồn vui sướng khổ trong cuộc sống. Nàng và hai đứa con là lẽ sống của cuộc đời ông bao lâu nay rồi. Ông đã quá quen với ý nghĩ nàng là của riêng ông, không phải trong ý nghĩa chiếm hữu, nhưng ông quen nghĩ rằng nàng là một phần của thân thể ông, của cuộc đời ông, không thể thiếu và không thể tách rời. Bao nhiêu năm tình nghĩa mặn nồng, ông mặc nhiên xem đó là một điều tất yếu. Rồi ông thấy nàng trong vòng tay một người đàn ông khác! Cũng là nàng, cuồng nhiệt, đắm say như khi nàng trong vòng tay ông. Ông nhắm mắt, lắc đầu như muốn xua đi hình ảnh phũ phàng rồi hét lên thật to, thật dài. Như tiếng gầm đau đớn của con hổ bị thương. Như tiếng hú tuyệt vọng của con sói bị trúng đạn. Biển trưa vắng ngắt. Tiếng hét của ông lồng lộng trong gió át cả tiếng sóng biển ầm ào, vang vọng thật xa rồi tan dần trong hư vô. Nhắm mắt lại ông vẫn thấy nàng. Mở mắt ra ông vẫn thấy nàng. Ông ước sao mình có thể ngủ một giấc thật dài để tạm quên đi sự thật đau lòng này. Ông thấy mình thật nhỏ nhoi và tuyệt vọng trước nỗi khổ lớn lao quá sức chịu đựng này. Và ông nằm thiếp đi trên bãi biển dưới nắng và gió.

Một cảm giác lạnh buốt chạy dọc xương sống và hai vai làm ông thức giấc. Vừa bừng tỉnh, ông nhớ ra ngay mọi chuyện và tim ông nhói đau.Trời đã về chiều. Có nhiều người trên bãi biển, tắm hoặc hóng gió. Bụng cồn cào làm ông nhớ ra hôm nay chưa ăn gì. Ông lửng thửng bước đi. Bỗng một ý tưởng lóe sáng trong đầu ông như tia chớp: ông mơ hồ thấy mình cũng có lỗi trong chuyện này. Tại sao ông không tìm mọi cách, bất chấp mọi trở  ngại đưa vợ con vào Quảng Ngãi để vợ chồng sớm tối có nhau và các con ông được sống gần ba. Một cách vô thức, ông vui mừng nhận ra rằng mọi chuyện không phải hoàn toàn do lỗi của vợ ông, rằng việc này còn có thể cứu vãn được, miễn là… Ông thấy lòng nhẹ nhàng hơn. Một chút lạc quan làm ông bước đi nhanh hơn trên đường về nhà. Ăn vội chén cơm do vợ ông lặng lẽ dọn ra, ông đi ra phòng khách, nằm trên divan và ngủ ngay. Chiều hôm sau ông trở về đơn vị. Trước khi đi ông nói mà không nhìn vợ:

_ Đừng có phá bỏ cái thai đi nghe không! Tôi là phật tử đấy! Để tôi còn suy nghĩ đã…

Ông lặng lẽ sắp đặt mọi việc và tháng sau ông xin phép đặc biệt về Hòa Duân đưa cả nhà đi theo ông vào Quảng Ngãi. Nhờ sự giúp đỡ của chỉ huy đơn vị, các con ông sẽ vào ngay trường mẫu giáo. Vợ ông thì đầu niên khóa sau sẽ đi dạy ở trường tiểu học gần chỗ đóng quân. Ông không thư từ cho bà trong thời gian đó, nhưng nhận thư bà 2 cái mỗi tuần. Thì ra anh ta là người Hòa Duân, và là mối tình đầu của bà khi hai người cùng học phổ thông ở trường huyện. Sau đó gia đình anh ta chuyển đi xa và họ mất liên lạc. Bây giờ anh ta về thăm nàng, nhân tiện thăm lại quê cũ. Và chuyện đó đã xảy ra trong một lúc nàng không kiềm chế được mình. Nàng cầu xin ông tha thứ, vì thật ra đã từ rất lâu bà đã quên anh ta và kỹ niệm xưa đã ngủ yên trong ký ức. Và bà khẳng định : “…em chỉ yêu mình anh thôi “

Đã hơn 30 năm trôi qua. Vợ chồng ông đã cùng nhau nuôi dưỡng Lan, từ một đứa bé quặt quẹo nay ốm mai đau, trở thành một thiếu nữ xinh đẹp giống mẹ như tạc. Lan tốt nghiệp Đại học Sư phạm Anh văn, dạy tại trường chuyên Lê Khiết, lấy chồng dạy cùng trường và đã có 2 con. Mấy đứa cháu ngoại được ông bà hết mực yêu thương.

Thời gian như nước chảy qua cầu, và bên dưới dòng nước ấy, Ân, Nghĩa, Tình với những kỹ niệm buồn vui đã lắng đọng lại thành một lớp bùn đặc quánh, mầu mở. Trên lớp bùn đó đã nở ra những đóa sen tỏa hương tinh khiết. Và ngày qua ngày, những cánh hoa vẫn thanh thản bung ra, thanh thản tàn như những năm tháng cuối đời của họ.

Sáng hôm đó, nhắp xong ngụm trà, ông ôn tồn bảo vợ:

_ Bọn mình cũng gần đất xa trời rồi, không biết ra đi lúc nào. Theo tôi thì bà nên cho con gái biết cha đẻ của nó là ai để nó còn kịp báo hiếu trước khi quá muộn.

Vợ ông nói ngay không cần suy nghĩ :

_Thì là ông chứ còn ai vô đây! Ông đã xem nó như con bao năm nay thì nó là con ông chứ con ai nữa.

Ông âu yếm nhìn vợ, cố dấu nụ cười mãn nguyện sau chiếc tách trà còn nóng hổi .

Không biết nên nói gì, ông khẽ tằn hắn rồi đánh trống lảng:

_Sáng nay sen nở nhiều lắm, Bà ra mà xem. Thơm ngát cả sân.

.                            Trần Thanh Thiện

Read Full Post »

Nguyễn Hữu Duyên
Tôi chưa bao giờ học thầy trong những tiết học chính khóa, bởi thầy dạy  lý hóa cấp hai còn tôi lại học lớp mười hai, nhưng thầy là người thầy tôi nhớ và kính trọng nhất. Tên đầy đủ của thầy là Hoàng Văn Xê, người Huế, năm một ngàn chín trăm bảy ba về dạy trường Trung học Đào Duy Từ (nay là trường PTTH An Nhơn 1) thuộc huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. May mắn đã đưa tôi đến với thầy. Đó là một buổi chiều vào đầu tháng mười một năm đó, sau khi tan học, tôi cầm còi điều khiển sinh hoạt vòng tròn và tập hát cho một lớp bảy, giúp các em chuẩn bị đợt cắm trại của trường vào cuối năm. Thầy đến bên tôi sau khi buổi sinh hoạt kết thúc.
– Em học lớp mấy?
– Dạ, em học lớp mười hai A2.
– Sao em không tập trung nhiều hơn vào việc học, em không sợ rớt   tú tài sao?
Tôi cúi đầu im lặng.
          -Em có gì khó nói?
          -Thưa thầy, em ham chơi nên bị hổng kiến thức cơ bản, đã tháng mười một rồi, có tập trung  cũng không kịp, thầy ạ!
Thầy nắm tay tôi, hai thầy trò bước chầm chậm trong sân trường như hai anh em, bởi năm đó tôi mười chín, thầy khoảng hai ba, hai bốn tuổi.
–          Không có gì là muộn cả, cứ vô ở với thầy, thầy sẽ giúp.
    Tôi thực sự như người “buồn ngủ gặp chiếu hoa”. Bởi thời điểm ấy ở đất này không có những lớp dạy kèm cũng không có những “cua” luyện  thi, học sinh phải tự học. Thế là tôi mang sách vở đến nơi thầy ở phía sau trường khoảng một trăm mét, cùng với một thằng bạn nữa, cũng ham chơi như tôi, học lớp mười hai A1.
     Buổi đầu tiên, thầy nói :
         -Nhìn các em điều khiển vòng tròn sinh hoạt, xử lý tình huống rất nhạy bén, thầy tin các em sẽ học tốt nếu tập trung.
 Có thể nói, đây là lời động viên thật quý giá giúp tôi và thằng bạn tự tin hơn. Sau khi kiểm tra kiến thức cơ bản, thầy đã phải dạy lại từng bài toán lý hóa chương trình lớp mười một, có khi phải rà lại chương trình lớp chín, lớp mười. Đây là những ngày học tập thật vất vả, bởi cùng một thời điểm mà phải vừa hoàn thành các bài học trên lớp, vừa phải tập trung ôn lại kiến thức lớp dưới để tiếp thu được kiến thức lớp trên, nhất là trong thời gian nửa tháng đầu tiên. Nhưng vất vả nhất là thầy. Vì thầy phải sinh hoạt chuyên môn, soạn bài, chấm bài, lên lớp các tiết học chính khóa, rồi phải lục tìm sách vở liên quan, soạn bài giảng dạy cho hai đứa nữa. Trong suốt thời gian dạy kèm, đâu phải thầy giảng một lần là hai đứa hiểu liền, nhưng thầy không hề nhăn nhó, phàn nàn hay trách mắng. Ngược lại còn kể chuyện vui khi thấy chúng tôi căng thẳng khi không làm bài được. Đó là chưa nói trong quá trình dạy kèm chúng tôi, mỗi khi đứa nào giải được bài toán khó, thầy thường thưởng năm chục hay một trăm đồng, có tiền sáng mai ăn bánh mỳ, ăn chè. Bây giờ nghĩ lại tôi cũng không thể lý giải được vì sao thầy lại chịu khó và thương hai đứa tôi như vậy. Hằng đêm sau khi học xong, khoảng mười giờ đến mười giờ rưỡi, thầy ôm đàn măng-đô-lin, tôi cầm ghi-ta, ba thầy trò cùng hát những ca khúc viết về đồng quê, sinh hoạt cộng đồng. Nhờ thầy nên chỉ sau nửa tháng, tôi và thằng bạn đã cơ bản nắm được kiến thức, có chiều hướng theo kịp các bạn trong lớp, nhất là môn lý hóa. Điều quan trọng nhất là thầy đã làm cho tôi và thằng bạn tự tin, có động cơ học tập, không còn ham chơi, tập trung học. Nhờ vậy nên kỳ thi năm một ngàn chín trăm bảy tư, tôi và thằng bạn đều đậu tú tài toàn phần. Gần bảy tháng kèm hai đứa tôi học, đầu tư công sức rất nhiều, thầy chỉ lấy hai bản sao văn bằng tú tài bằng thư bảo đảm của chúng tôi gửi ra Huế vì lúc đó thầy về Huế nghỉ hè. Khi gặp lại, thầy ôm tôi như ôm một đứa em trai bé bỏng, bóp bóp tay tôi và nói:
–          Hai đứa đã không phụ lòng thầy.
Tôi biết thầy rất vui vì đã thực hiện được lời hứa giúp đỡ trực tiếp hai đứa học trò đầu tiên của thầy đậu tú tài.
        Sau ngày giải phóng, thầy được phân công về dạy trường Trung học cơ sở xã Đập Đá ( nay là thị trấn Đập Đá ). Lúc đó tôi theo học trường Cao đẳng sư phạm QuyNhơn. Thỉnh thoảng, vào chiều thứ bảy, hoặc sáng chủ nhật, tôi đón xe từ Quy Nhơn về thăm thầy đang ở trọ tại Đập Đá. Thầy đi chợ nấu ăn, không cho tôi làm gì cả ngoài việc lặt rau, bởi với thầy thì tôi như một cậu học trò nhỏ, được ưu tiên chăm sóc giống như ngày xưa thầy chuẩn bị nồi chè hay bữa bánh nếu tôi và thằng bạn học khuya đói bụng. Rồi hai thầy trò, một măng-đô-lin, một ghi-ta cùng hát những bài sinh hoạt cộng đồng, hoặc những ca khúc của thầy viết vừa được giải ở tỉnh. Tôi ra trường, trở thành đồng nghiệp của thầy, nhưng thầy mãi là người thầy mà tôi yêu thương nhất trong cuộc đời mình. Năm hai ngàn linh năm, thầy định cư ở Mỹ cùng với gia đình. Thầy ở cách xa tôi nửa vòng trái đất, và lâu lắm rồi hai thầy trò không gặp nhau. Nhưng với tôi khoảng cách địa lý không quan trọng, bởi tôi luôn mãi  nhớ thầy. Dù trước mặt thầy, chưa bao giờ tôi nói những lời biết ơn hay ngợi ca thầy, nhưng làm sao tôi có thể quên những ngày bên thầy với chiếc đèn dầu hằng đêm được nghe thầy giảng bài, nghe thầy hát của gần bốn mươi năm về trước. Thông thường, thời gian làm cho trí nhớ người ta bị bào mòn, thậm chí mất hẳn, nhưng với thầy thì ký ức trong tôi lại được lưu giữ mãi. Bởi thầy đã đưa tôi qua một khúc ngoặt quan trọng nhất của đời học trò- một việc không thực sự dễ dàng đối với một người thầy mới ra trường, vừa phải hoàn thành  nhiêm vụ chuyên môn ở cấp hai vừa phải dạy kèm hai đứa học trò lớp mười hai thuộc loại “ dốt đặc cán mai”.
      Lớn lên tôi đi đây đi đó, lập gia đình, có hai đứa con đi học. Tôi làm ban điều hành hội cha mẹ lớp và  nhà trường trong nhiều năm liền nên có điều kiện tiếp xúc với nhiều thầy cô giáo. Nhưng riêng tôi vẫn thấy ở thầy, hình ảnh thực sự của một người thầy có tâm và có nghề. Thầy là người thầy duy nhất mà cả gia đình tôi, từ ba má, đến các em tôi, vợ con tôi đều biết và kính trọng. Cuộc sống luôn đổi thay, tôi cũng đã gần sáu mươi tuổi, nhưng trong tôi vẫn còn in đậm hình ảnh rất đẹp của thầy với giọng  Huế không trộn lẫn vào đâu được. Và, thằng học trò ham chơi, biếng học ngày nào xin cầu chúc thầy mãi mãi sức khỏe, hạnh phúc !


 

Read Full Post »

Ông thầy Việt văn

Tôi hận ông thầy Việt văn lớp 11. Ổng chơi không đẹp khi bắt tụi tôi học thuộc lòng bài thơ “Kẻ Sĩ” của Nguyễn Công Trứ. Đó là bài hát nói gieo vần vô kỷ luật nhất mà tôi từng biết, chả vần chả điệu, lòng thòng, Hán nhiều hơn Nôm. Đây này, trích thử vài câu nghe chơi : “…Cầm chính đạo để tịch tà cự bí/ Hồi cuông lan nhi chướng bách xuyên…”.

 Vũ Thế Thành

 

“Cầm chính đạo để tịch tà cự bí,…”

Mà tôi theo ban toán, chứ có phải văn chương đâu, nội hiểu được ý nghĩa bài thơ đó cũng đáng nể rồi, giờ còn bắt học thuộc lòng nữa, coi sao được. Tôi tính “tố phé” ổng. Thế này, lớp 40 học sinh, mỗi tuần 4 giờ Việt văn, 2 lần lên lớp. Giỏi lắm mỗi lần ổng “tó” được 5 em, 2 lần là 10 em. Tôi có 75% thoát hiểm, lỡ dính thì coi như Trời hại. Nhưng ổng tỉnh bơ: “ Tôi sẽ gọi từng người cho đến hết lớp”. Ổng còn thêm: “ Ai không thuộc, tôi sẽ cho cơ hội lần sau, và lần sau nữa cho đến khi…có điểm”. Thế là rõ ! Ổng quyết tâm…chơi tụi tôi đến cùng. Không còn chọn lựa nào khác, đành ôm hận, lảm nhảm cái bài thơ thổ tả đó cho đến khi thuộc lòng.

Cơ hội rửa hận đến khi ổng ra đề luận: “ Bạn nghĩ gì về tình thầy trò ngày nay?”. Từ hồi biết mặt chữ, tôi chưa bao giờ “múa bút” sướng như thế. Nào là, thời xưa học một thầy, học để làm quan, và chỉ học nghề…văn. Thời nay, học đủ thứ, cần gì học nấy, học để hành nghề. Thời đại khoa học, ai học trước người đó là…”thầy”, bởi vậy mới có chuyện đi học luyện thi, mới có thầy giáo “cua” học trò,…Đại loại là “bản cáo trạng” về thầy.  Tôi khoắng bút như đi…ăn cướp, cho đến khi gần hết giờ, chấm xuống hàng, kết luận: Nên xem thầy giáo như người anh coi bộ nhẹ nhàng hơn khi nhìn dưới khía cạnh đạo đức. Thiệt là hả giận! Tôi viết với tư thế “tử vì đạo”, ăn trứng vịt cũng được. Không thành danh thì cũng thành… ma.

Bài luận được 16 điểm. Ông thầy cười cười: “Tôi không đồng ý với em nhiều điểm, nhưng vẫn cho em số điểm cao nhất”. Thiệt chưng hửng! Tôi mơ hồ hình như ổng chơi trên.. cơ mình, nhưng “cái tôi” khốn nạn đã đẩy tôi đi quá xa, khoác lác hả hê với bè bạn: Cái hận “Kẻ Sĩ” đã rửa xong.

Ổng còn nhiều chiêu kỳ quái khác. Tú Xương thì học trò đứa nào chẳng khoái. Lẽ ra phải chia sẻ chút đỉnh với đám học trò mới lớn bằng bài “Cao lâu thường ăn quỵt, thổ đĩ lại chơi lường”, hay ít ra cũng thông cảm với bọn hoc trò thi cử với bài “ Đau quá đòn hằn, rát hơn lửa bỏng” – Không ! Ổng phang bài: “ Trên ghế bà Đầm ngoi đít vịt. Dưới sân ông Cử ngửng đầu rồng”. Ổng giảng say sưa, bằng giọng bi ai, phẫn hận về thời Nho mạt, về danh lợi, về nhân phẩm, ổng truyền tâm tư cho đám học trò đang há hốc miệng ngồi nghe,  xả suốt 2 giờ đồng hồ. Hình như ổng đang dạy cho tụi tôi kiến thức thức để làm người, chứ không phải kiến thức để đi thi. Ổng đâu ngán cháy giáo án. Mà hồi đó làm gì có giáo án. Bài soạn của ông là xấp giấy A4 gấp đôi, chẳng bao giờ thấy ổng mở ra. Ổng chỉ mở … sổ điểm.

Đời cứ thế trôi đi… Những năm cuối thập niên 70, đầu 80, đời sống khó khăn thế nào khỏi cần kể. Tôi làm ở một trung tâm nghiên cứu ở Sàigòn. Ban ngày khoác áo blouse vào phòng lab cứ như là…viện sĩ. Tối về mượn xích lô của thằng bạn, cảo vài vòng kiếm thêm. Một buổi tối trời mưa, ế độ. Tôi táp vào quán nhậu ven đường (cái lều nhậu thì đúng hơn) gần Ngã Tư Bảy Hiền. Quán cũng ế độ, chỉ có mình ông chủ đang trầm ngâm bên ly rượu. Tôi kêu một xị, ngồi trông ra đường, nghe tiếng mưa lằng nhằng trên mái nhà, rầu thúi ruột… Chợt nghe tiếng ngâm ê a của ông chủ quán từ phía sau (Trời đất! Sao không phải là giọng của em nào đó hát bản “Ướt Mi”?). Mà lời ngâm sao nghe quen quen…, rồi tự nhiên tôi cũng cất tiếng ngâm theo:

“…Xe bồ luân dầu chưa gặp Thang,Văn.
Phù thế giáo một vài câu thanh nghị.
Cầm chính đạo để tịch tà cự bí.
Hồi cuông lan nhi chướng bách xuyên…”,

và cứ thế cho đến hết bài “Kẻ Sĩ”.

Tiếng chuông đêm mưa lại vang lên, làm nhức nhối kẻ bị mang tiếng là…gàn dở, toát mồ hôi với cái lưới “đầu rồng đít vịt”.

 

Một khoảng im lặng. Tôi quay lại, không ai bảo ai, cả hai nâng ly mời nhau. Trong sự nghiệp cụng ly của tôi, chưa bao giờ tràn ngập những “tiếng nói không lời” như lần đó. Chủ quán trạc ngoài 30, cao học Luật, công chức chế độ Sàigòn. Sau 75, đi cải tạo 4 năm, về mở “lều nhậu” tiêu sầu. Chúng tôi cà kê chuyện đời, chuyện người,…Rượu đến mềm môi. Bài thơ “Kẻ Sĩ” tưởng đã trôi vào quên lãng, bỗng thức tỉnh trong một đêm mưa, thành tiếng chuông đeo đẳng đời người.

Đất nước thời mở cửa, kinh tế thị trường nửa khép nửa hở. Làm ăn là phải thỏa hiệp, thỏa hiệp đủ thứ. Giới hạn thỏa hiệp tới đâu, tùy thuộc vào nguyên tắc sống (tôi không dám dùng chữ “nguyên tắc đạo đức”) của mỗi người. Cái giới hạn này mong manh, tự hạ thấp xuống hồi nào chẳng hay, rồi tự biện minh với bao lời  hoa mỹ, đi ngược lại là không thức thời. Kẻ Sĩ thời nay lộn ngược rồi : Thương, Công, Nông, Sĩ. Ai chẳng khoái tiền, khoái danh. Cám dỗ vô cùng! Mỗi lần như thế, tiếng chuông đêm mưa lại vang lên, làm nhức nhối kẻ bị mang tiếng là…gàn dở, toát mồ hôi với cái lưới “đầu rồng đít vịt”.

Trong Kinh thánh có chuyện kể, đứa con út đòi cha chia gia tài, rồi tìm đến phương trời xa vui chơi thỏa thích. Người cha chiều nào cũng tựa cửa đứng trông. Rồi thằng con về thật. Nó đã phung phí hết tiền, bây giờ đói rách trở về nhà cha xin chén cơm thừa. Nhưng người cha mừng rỡ, đã mặc áo mới cho nó, làm tiệc linh đình mừng con mình trở về.

Văn hào Pháp, André Gide cũng có câu chuyện “Đứa con hoàng đàng” tương tự, chỉ khác khúc cuối: Đang giữa tiệc mừng, thằng con lững thững bỏ về phòng, nhìn xa xa qua khung cửa sổ, nhớ đến cuộc chơi thâu đêm suốt sáng cùng chúng bạn. Nó đang mơ một chuyến đi khác. Trở về chỉ là chuyện bất đắc dĩ. Hồi đó, đọc đến đoạn này, tôi bật cười sảng khoái “ Phải thế mới được!”

Thưa thầy Việt văn, thằng đệ (tử) giờ đây đầu bạc chân mỏi, ngày Nhà Giáo năm nay xin hầu thầy cho đến tận cùng bữa tiệc để khoanh tay nói lời tạ lỗi, trước khi phản xạ tung hô theo đám đông: “ Biết ơn thầy cô”.

Vũ Thế Thành

Read Full Post »

Tam nguyên Châu Ổ

Ở thị trấn Châu Ổ,huyện Bình Sơn,Quảng Ngãi bạn bè hay đặt cho chàng nhạc sỹ ,nhà giáo Lê Đức Vinh biệt hiệu là Tam nguyên Châu Ổ.

Có gì giống nhau giữa Tam nguyên Yên Đổ với Tam nguyên Châu Ổ?

Lê Đức Vinh chưa đậu đến 3 kỳ,nhưng kỹ lục của LDV đáng được ghi vào guiness Việt Nam.

Nguyên do như thế này.Không hiểu chàng nhạc sỹ người Xứ Nẫu  quê vợ ở Châu Ổ có phép thuật gì mà cả 3 quý tử đều có ngày sinh là 20/11.

Cô con gái đầu Lê Thanh Thảo Nguyên sinh vào ngày 20/11/1980. Cô con gái rượu thứ hai Lê Thanh Uyên Nguyên,cũng sinh đúng ngày20/11/1988 .Đúng ba năm sau,khi đang dự liên hoan ở trường mừng 20/11 thì người nhà lại phi báo có thêm một chú nhóc nữa tên Lê Đức Khôi Nguyên ra đời. Lần này LDV  cứ nghĩ đó là chiêu của bà xã hay hờn mát muốn lôi chàng Vinh nhà ta ra khỏi cuộc nhậu sa đà.Vinh cứ  chơi líp ba ga,ai dè thằng cu út ít cũng chọn ngày 20/11/1991 mà chào với đời.

Thế mà tiện,sinh nhật cứ làm tập thể… một lèo. Nhưng cũng có cái bất tiện là nhiều người không tin cứ nghĩ LDV bịa chuyện,lấy cớ để tổ chức nhậu cho hoành tráng nhân Ngày nhà giáo Việt Nam.Nhưng sự thật là vậy,100/100.

Ai cũng muốn hỏi bí quyết.LDV cười khà khà bảo rằng cứ lấy 20/11 trừ đi 9 tháng 10 ngày là ra chuyện.

Ra chuyện là ra làm sao? Lê Đức Vinh bật mí rằng thời điểm ấy là dịp tết hoặc cận tết,cứ đi vô là chúc tết,ra là chúc xuân.Chặp chặp là mừng tuổi,hở chút chút là lì xì.Cứ theo phong tục cổ truyền mà làm tới tới thì cứ 20/11 là tay bế tay bồng.Hê,hê..

Sáu phục sát đất ông Tam nguyên Châu Ổ,phục hơn cả ông Tam nguyên Yên Đỗ.Kỹ lục này xứng đáng được xunau.org tặng cho danh hiệu XN Guiness.

Xin nói  thêm vài dòng về Lê Đức Vinh . Trên xunau.org chàng ta nỗi tiếng với biệt danh còm sĩ Vinh Rùa . Nhưng có lẽ không nhiều người biết anh dưới góc độ một người sáng tác nhạc khá nổi tiếng .Từ khúc Quy Nhơn,Cõi Riêng,….là những ca khúc đã được thu âm và phát hành rộng rãi trên thị trường âm nhạc . Mới đây nhất Vinh Rùa lại được thân hữu bầu chọn làm trưởng ban ẩm thực của xunau.org (phó ban là Mai Thanh ) chuyên trị các tiết mục nhậu nhẹt vui chơi giải trí văn thơ nhạc họa của nhóm xứ Nẫu tại Sài Gòn….hì hì oai ra phết

 

Sáu Nẫu

Read Full Post »

Nghề thầy không bạc bẽo

MANG VIÊN LONG

 

Năm

Tôi có chuyện buồn nên muốn đi xa năm mười hôm cho tâm trí ổn định, bình thường; và tôi đã chọn nơi tôi dạy học trước kia để dừng chân. Ở đó, tôi có nhiều bạn văn, bạn đồng nghiệp và những người học trò cũ…

 Ngày đầu tiên, tôi quyết định đến thăm chùa P.L nơi thầy Thiện Đạo làm viện chủ, mà đã hơn hai mươi năm tôi chưa có duyên gặp lại. Dự định là chỉ lưu lại với thầy một hai hôm thôi, vì tôi còn phải về thị xã để sống với bạn bè đang chờ. Tuy vậy, cảnh chùa yên tĩnh, xinh tươi – nhất là tình cảm ưu ái của thầy, các cô chú, và quý đạo hữu trong thôn làm tôi cứ nán lại hoài. Tôi cảm thấy thật hạnh phúc khi được sống ở đây.

  Một buổi sáng, thầy có việc về họp ở tỉnh hội, tôi thả bộ lang thang khắp xóm, hướng thẳng đến khu rừng bạt ngàn phía trước ; chẳng để ý đến thời gian. Bất ngờ, một toán người – có lẽ là dân phòng, chặn tôi lại, hỏi giấy tờ, và lý do tôi đến H.T. Tôi vui vẻ cho biết, tôi đến H.T. không có lý do gì   ngoài việc ghé thăm chùa P.L và thầy Thiện Đạo. Sau một lúc “hỏi thăm” kỹ về lý do – họ mời tôi về trụ sở xã để gặp vị trưởng công an.

 Ở xã, tôi chờ khá lâu, mà người cần gặp lại đi vắng. Tôi cũng không vội vã gì, ngồi ở ngoài hiên trụ sở, hút thuốc; nhìn ngắm quang cảnh mới lạ, bình yên trước mắt; lòng cảm thấy vui vui. Khoảng gần 11giờ trưa, có hai chiếc xe con chạy vào, người du kích bảo vệ vội chạy ra mở cổng. Toàn bộ cán bộ chủ chốt đều có mặt trước thềm để đón. Tôi nghĩ bụng, có lẽ khách quý đến thăm chăng?

Bốn người trên hai chiếc xe bước xuống, đi thẳng vào hiên, trông có vẻ gấp gáp. Tôi lùi lại, định tìm ra ngồi ở một gốc cây phía sau, để tiếp tục chờ.

-Thưa thầy, sao thầy lại có mặt ở đây? Gịong một người đàn ông trạc bốn lăm tuổi lễ phép hỏi.

Tôi quay lại nhìn kỹ, cố nhớ – ngần ngại trả lời:- “ À… tôi xin lỗi, có lẽ là tôi đã quên …”

-Thầy không còn nhận ra em sao?

Tôi chợt nhận ra cái lỗi hay quên của mình, cảm thấy lúng túng, cười: – “ Có lẽ là tôi đã quên thật rồi !”

– Em là N.H.T đây mà!

Tôi niềm nở cầm lấy tay T: – T. đây à? “ T. gầy và hiền nhất lớp ” đây à? Gần ba mươi năm rồi còn gì ! Trông em khỏe hơn xưa nhiều…

 Mấy người cùng đi và cả nhân viên xã đều đứng quanh tôi, nhìn chúng tôi có vẻ lạ lẫm và thích thú. Tôi cho T. biết lý do tôi đến H.T và lý do “bị” ở đây: “Thầy đang chờ ông trưởng công an xã”. T. quay lại, nắm tay một thanh niên khoảng trên ba mươi, cười: “ Đây là thầy cũ của tôi, anh thông cảm để thầy được tự do ở lại H.T đến lúc nào muốn đi thì tùy ý nhé !”. Tiếng người thanh niên “dạ” rất nhỏ. T. chợt cầm tay tôi: “ Hay là thầy chờ em một lát, cùng về T.H với em luôn, để các bạn có dịp đến thăm… Có được không, thưa thầy ?”.

  Tại nhà riêng của T, suốt buổi chiều, những học sinh cũ của tôi đã lần lượt tìm đến. Có người tôi còn nhớ rõ họ tên, có người T. phải “giới thiệu”.

– Có phải đây là Lê Ngọc Trai không?

– Thầy nhớ đúng rồi, nhưng bây giờ là Ngọc Hùng – giám đốc công ty xây dựng cầu đường…

– Tấn Thả phải không?

– Dạ phải.

T. tiếp lời: “ Bây giờ là Tấn Thoan – phó chủ tịch xã… Còn Lê Hiền đây là phó bí thư kiêm chủ tịch; bỏ chữ “Đức” lót ở giữa…”

Có nhiều điều làm tôi ngạc nhiên, thích thú, và rất mãn nguyện vì những người học trò cũ của mình: gia đình người nào cũng ăn nên làm ra, con cái trưởng thành tốt đẹp, và nhất là vẫn giữ nguyên tình bạn học cũ gần gũi, thắm thiết như xưa.

 Hồng Mai vui vẻ hỏi tôi: – “ Thầy biết anh N.H.T làm gì chưa thầy?”

Tôi nhìn T. , cười: – “ Chưa biết !”

– Bí thư Huyện ủy đó thầy! – Mai hồn nhiên – sắp thăng chức về tỉnh rồi…

Tôi hỏi: – “Còn em ? Làm gì nào ?”

– Lũ em làm “phó thường dân” đó thầy! – Tiếng Mai và cả đám cười giòn.

  Trương Lợi và Nguyễn Viết Chánh bây giờ là hiệu trưởng và hiệu phó ngay ngôi trường đã học lúc tôi về dạy năm đầu tiên. Sen là vợ của Nghệ. Tấn Hiệu là chồng của Ngọc Hương. Hồng Mai đã làm sui hai đám…

  Suốt buổi chiều, bên bàn tiệc, chúng tôi cùng nhắc lại những kỷ niệm xưa cũ – cùng vui cười, khiến tôi quên bẵng nỗi buồn riêng; cứ ngỡ là mọi chuyện chỉ vừa mới xảy ra đây thôi. Thời gian tuy có qua nhanh, có đổi thay, mà tình người vẫn còn lại mãi mãi…

Năm…

Đứa con gái út của tôi vừa lên ba tuổi, bị một mụt “bạc đầu” mọc sau ót. Tuy có bị nóng sốt, đau nhức, nhưng nhờ thuốc kháng sinh nên cũng có phần thuyên giảm. Một hôm chạy đi chơi, bị vấp ngã,va đầu xuống nền. Lại đúng vào vị trí cái mụt nhọt. Thế là đêm ấy mụt sưng dần lên, đau nhức, kèm sốt cao. Sáng sớm hôm sau vợ chồng tôi mang cháu đến trạm xá xã.

  Từ xã lên bệnh viện huyện. Cháu lại được chuyển lên bệnh viện đa khoa tỉnh. Thời gian gần hết một buổi. Khi được đưa vào phòng cấp cứu thì cháu sốt mê man, có triệu chứng khó thở. Đúng vào giờ nghỉ trưa, nên bác sĩ trưởng phòng vắng. Chúng tôi khẩn khoản xin hai cô y tá trực cho cháu thở oxy – chờ buổi chiều.

Bình oxy được mang đến, nhưng đã gần hết rồi. Một cô sốt sắng chạy đi mượn bình oxy chưa dùng của phòng khác, trong lúc cháu đang có bọt sùi ra ở miệng. Nhờ có bình oxy kịp thời, cháu có vẻ bình yên trở lại…

– Ai đã tự tiện đi lấy bình oxy mới về đây? – Bác sĩ   Nh. hỏi có vẻ nghiêm khắc.

 Tôi tiến lại gần cô bác sĩ trưởng phòng: _ Chính tôi đã nài nỉ các cô giúp cho cháu… Bác sĩ thứ lỗi cho vậy!

 Bác sĩ Nh. cầm lấy bàn tay tái nhợt của con gái tôi, liếc nhìn qua khuôn mặt đã dần chuyển màu xanh sậm, lắc đầu. Tôi chìa hai lọ thuốc hồi sức Solu-cortef mà dì cháu đã bỏ công một buổi đi dò tìm mới mua được, khẩn thiết nói: “Xin bác sĩ cho phép chích cho cháu…”.

 Bác sĩ Nh. chậm rãi đến ngồi vào bàn làm việc, giọng lạnh lùng: – Ông có chích vào cũng vô ích!

Rồi buông thõng câu nói một cách khô cứng: “Phí phạm!”.

 Vợ tôi sụt sùi khóc: – “ Xin bác sĩ hết lòng cứu cháu, chúng tôi không ngại tốn kém !”

Nhìn gương mặt con có vẻ như đang thâm tím dần, ở khóe miệng lại sùi bọt, tôi nóng lòng giục: “Bác sĩ chích hộ gấp cho cháu!”.

– Ông hãy lên xin ý kiến của bác sĩ Phó giám đốc bệnh viện…

  Tôi cầm lọ thuốc chạy qua hai dãy nhà, lên tầng lầu, đẩy cửa phòng bác sĩ phó giám đốc: “Xin bác sĩ cho phép chích lọ thuốc để hy vọng cứu sống cháu…”.

  Bác sĩ ngước lên nhìn tôi giây lâu. Tôi chợt thấy áo bluse trắng có thêu tên “BS. Lê Kim Quang”. Tôi kêu lên: -em là Lê Kim Quang phải không?

– Thầy! – Quang đứng dậy ôm choàng lấy tôi.

Tại phòng cấp cứu, Kim Quang nói với bác sĩ Nh: “ Người nhà có yêu cầu, tôi đồng ý cho chích, cô thông cảm giúp …”. Bước lại gần con tôi đang nằm bất động, đang có triệu chứng co giật, Quang quay lại bảo cô y tá mang cho anh ống tiêm, tự tay chích thuốc cho cháu…

  Anh viết toa, nhờ y tá lên phòng dược nhận thuốc gấp. Anh dặn bác sĩ Nh: “ Cô truyền thuốc cho cháu, tôi sẽ quay lại để hội chẩn…” .

  Con tôi đã qua được hai ngày nguy kịch, đang hồi tỉnh dần. Cháu có thể uống được chút sữa. Một buổi sáng, một nhân viên bệnh viện mang đến cho tôi hai bình Serium một trắng, một vàng, nói là của bác sĩ Phó giám đốc gởi. Tôi vui mừng mang hai bình Serium đến bàn bác sĩ Nh.

– Thưa bác sĩ, nhờ bác sĩ giúp cho cháu…

– Ông muốn truyền bình nào?

– Thưa, tùy bác sĩ quyết định. Tôi có biết gì về thuốc men đâu!

– Ông nói vậy chứ không phải vậy đâu!

  Tôi im lặng, quay về chỗ ngồi. Từ ngày có Quang thường xuyên lui tới thăm cháu, Bác sĩ Nh. có vẻ không bằng lòng. Sáng nào Quang cũng đến sớm thăm cháu, góp ý với bác sĩ Nh. về cách điều trị,có khi mang theo sữa và cam cho cháu nữa. Tôi rất biết ơn Quang nhưng chưa biết phải làm gì, nói gì để Quang hiểu được. Vợ tôi giục nên đến thăm Quang với quà cáp.Tôi không làm thế. Tôi hiểu ý học trò mình, Quang nhiệt tình cứu con tôi không phải vì vậy. Có món quà nào xứng đáng dành cho những tấm chân tình cao quý như thế đâu?

  Ngày con tôi được chuyển qua phòng hồi sức để chờ ngày xuất viện, tôi quyết định nói rõ mối quan hệ giữa tôi và Quang cho bác sĩ Nh. để tránh ngộ nhận. Một sự hiểu lầm không tốt cho Quang – người học trò cũ thật chí tình, đã mang lại cho gia đình tôi niềm vui lớn, và cho riêng tôi nguồn an ủi vô tận.

– Thưa bác sĩ, tôi thay mặt gia đình hết sức cám ơn bác sĩ đã cứu sống cho con tôi…

– Ông nên tìm bác sĩ Quang mà nói…

– Bác sĩ à, Lê Kim Quang là học trò cũ của tôi, hơn 20 năm rồi, tình cờ gặp lại… Quang xưa kia rất hiền, tốt bụng, và nhất là học rất giỏi: bây giờ cũng vẫn vậy!

  Tôi im lặng giây lâu, Bác sĩ Nh. thoáng ngước lên nhìn tôi – như thể chưa nhìn thấy tôi lần nào trước đây. Tôi nói như tâm sự:

– Quang đã tự nguyện đến thăm cháu, cho thuốc, cho quà, chớ chúng tôi không hề có yêu cầu… Lúc này, tôi không thể khước từ lòng tốt của Quang; tôi mong bác sĩ thông cảm cho!

  Bác sĩ Nh. lại nhìn tôi, giọng trở nên thân mật: – “ Không có gì đâu, thưa thầy! Cháu cũng có những người thầy học cũ. Nếu có gì sơ suất, hy vọng thầy sẽ tha thứ cho cháu !”

– Xin tạm biệt và cám ơn cháu nhiều nhé!

Bác sĩ Nh. đứng dậy, tiễn tôi ra khỏi phòng.

Hai cô y tá cũng nhìn theo chúng tôi, mỉm cười.

Read Full Post »

Tản mạn về cái phận nghèo

  Nguyễn Hữu Duyên

Từ ngàn xưa, ông cha ta thường nói không nên vạch áo cho người xem lưng, mà chuyện nghèo có hay ho gì đâu mà nói cho thiên hạ biết. Phân vân mãi rồi tôi cũng muốn chia sẻ, giãi bày về cuộc mưu sinh khá là vất vả, cơ cực của 30 năm sau khi lập gia đình từ năm 27 tuổi. Nếu tính thời gian của cuộc đời này là 60 năm như lời một bài hát thì tôi chỉ còn 3 năm nữa mà thôi. Nhiều lúc tôi tự hỏi, tại sao tôi lại chịu đựng được cái nghèo cứ đeo bám tôi dai dẳng như vậy?Từ thuở ấu thơ đến lúc trưởng thành, ba dạy tôi rất nhiều điều về cách ứng xử trong cuộc sống, nhưng điều tôi tâm đắc nhất vẫn là câu tục ngữ: “Nghèo cho sạch, rách cho thơm”. Ông giải thích ngắn gọn và dễ hiểu, tôi trân trọng mang nó vào đời. Cuộc sống viên chức của gần 30 năm về trước với đồng lương khiêm tốn làm cho gia đình tôi lâm vào cảnh thiếu thốn triền miên.Những bộ sách hay của văn học Việt Nam và những tác phẩm của các tác giả đạt giải Nôben được tôi cất giữ cẩn thận, rồi cũng đều bị tôi xé từng tờ đưa vào lò lửa khi nồi cơm, nồi canh đang lỡ dở mà hết củi chụm. Vợ tôi ngồi khóc khi thằng con trai 6 tuổi bị sốt do viêm họng mà không có tiền để đi mua thuốc hoặc đi bệnh viện. Tôi phải lục trong ký ức, chạy ngược chạy xuôi cho đến khuya mới tìm ra một thằng bạn học có vợ làm y tá trong bệnh viện huyện xin mấy viên thuốc kháng sinh và paracetamol.

Thằng bạn từ Quy Nhơn lên chơi, nhà hết gạo, chẳng còn tiền, lương thì chưa nhận, vợ tôi phải sang nhà hàng xóm mượn một ký gạo đem ra chợ bán nửa ký mua đồ ăn, làm cơm tiếp bạn. Nhưng tôi nhớ nhất là năm 1992, cái năm ở nhờ trong vườn trồng tiêu, cà phê của ông chú vợ ở Gia Lai, và chịu trách nhiệm coi ngó cái xưởng gỗ của ông. Số tiền mang theo ít ỏi dùng để mua gạo ngày càng cạn dần.

Một bữa trưa vì đói nên tôi ra vườn moi các luống rau lang tìm củ, nhưng tìm mãi mà không có một củ nào, tôi đành phải nói với vợ lấy cái lon bắp giống rang cho tôi ăn đỡ đói. Cái nghèo đói của tôi không chỉ là những dòng nêu trên, bởi đến 30 năm kia mà. Nhưng chỉ mới viết lại đơn giản chừng ấy thôi, tôi rùng mình phát hoảng và thương hại cho cuộc đời mình, nghèo đói đến thế là cùng.

Khi mới lập gia đình, má tôi bảo rằng con cố gắng làm để khỏi phải nghèo, mà nghèo thì khổ đủ điều. Lúc ấy tôi chỉ cười và nói, con chỉ sợ giàu, phải lo xây nhà kiên cố, tường rào cổng ngõ phải bài bản, phải có chó dữ, ra đường phải nhìn trước ngó sau đề phòng trộm cướp, đi đâu cũng kẻ đón người chào mất tự nhiên. Nghe tôi nói vậy, má tôi không nói gì, chỉ cười buồn.Không hiểu sao cái nghèo đói luôn bám riết lấy tôi, mà tôi thì không rượu chè, không cờ bạc, cũng chịu làm để góp phần lo cuộc sống gia đình và nuôi con ăn học. Nghèo thì nghèo vậy, nhưng tôi luôn lấy làm hãnh diện, thấy mình nhẹ nhàng, thanh thản vì không làm điều gì trái với lương tâm, như lời ba tôi đã dạy, đã giải nghĩa câu tục ngữ: “Nghèo cho sạch, rách cho thơm”. Cho đến bây giờ tôi vẫn nghĩ, tiền bạc của cải như bọt biển, chữ tình mới là sâu nặng bền lâu.Cách đây 20 năm, tôi đọc một bài viết trên tờ Văn nghệ trẻ mà tôi không nhớ tựa đề, nhưng có một câu gồm ba chữ “nghèo là nhục”. Phải nói là lúc ấy tôi thực sự nổi giận, và tìm người bạn rất thân chia sẻ những suy nghĩ của mình. Anh bạn của tôi thì cho rằng, lúc này là lúc nào rồi mà tôi còn ôm cái triết lý cũ mèm của ngày xửa ngày xưa ấy. Nghèo là nhục, chính xác tuyệt đối!

Anh bạn còn nói bởi vì tôi chưa nghèo đói đến mức thấy hết sự đối xử của người đời dành cho mình. Ví dụ không có nhà, người ta đuổi ra đường; không có tiền, người ta không cho mượn mà còn miệt thị chửi mắng. Chỉ chừng ấy thôi, không lẽ không nhục sao? Hơn nữa cái hãnh diện của người có tiền, của người giàu khác hẳn với cái hãnh diện gần như là một cái thú đau thương của người nghèo.

Riêng tôi thì cho rằng, nghèo nhưng có lòng tự trọng, không đánh mất nhân cách, có thể chết vì đói, lang thang nay đây mai đó vì không nhà cửa, nhưng không thể là nhục được. Tôi và người bạn tranh luận với nhau rất gay gắt, không có hồi kết. Và cuộc tranh luận ấy ít nhiều đã làm tôi phải suy nghĩ thêm về những điều mà cái nghèo phải gánh chịu trong cuộc sống những năm sau này, nhất là lời căn dặn của má tôi: nghèo sẽ khổ đủ điều.

Thời gian trôi qua như là một thước đo kiểm nghiệm giá trị của cuộc sống. Ba má tôi ngày càng già yếu, các em tôi lớn lên rồi lập gia đình, có đứa giàu đứa nghèo, lâu lâu mới gặp nhau. Tình cảm cũng không còn như ngày nào sống chung dưới một mái nhà. Tôi là con trai trưởng nhưng tiếng nói không còn trọng lượng, bởi quá nghèo. Ba má tôi không bao giờ chê tôi nghèo mà ngược lại còn rất thương tôi, nhưng không thể nghe tôi vì mọi việc trong gia đình đều do những đứa em có tiền của tôi quyết định.

Đến sổ đỏ nhà cha mẹ, tụi nó cũng lấy để vay vốn ngân hàng làm ăn, tôi cần làm gì thì đi vay nóng. Tụi nó cho nhau mượn hàng chục triệu, nhưng tôi chỉ cần ba triệu để nộp học phí cho hai đứa con thì phải mượn hàng xóm. Mà tôi có đến tám đứa em, một thằng đã là tỷ phú, có nhà hàng, có xe bảy chỗ. Có người sẽ nói rằng, có lẽ tôi ăn ở chẳng ra sao nên không có đứa em nào giúp đỡ cả. Đơn giản thôi, khả năng trả nợ của tôi rất thấp, bởi tôi nghèo quá, đang phải tha hương cầu thực, và thế là tôi đã bắt đầu cảm nhận nỗi khổ của kẻ nghèo trong một gia đình.

Nói đúng hơn, với tôi đó là nỗi bất hạnh, là sự tổn thương quá sức chịu đựng. Và tôi đã mường tượng nhận ra người bạn của tôi cũng có phần đúng khi nói nghèo là nhục. Trớ trêu thay khi tôi mường tượng ra điều ấy thì tuổi đã gần 60, cái tuổi không thể dùng cơ bắp nhiều để mưu sinh, nhưng cũng không thể làm khác được. Tuy nhiên vì đã quen với cảnh nghèo nhiều năm nên tôi tiếp tục bước vào cuộc chiến cơm áo gạo tiền cũng hết sức bình tĩnh, cũng ủi đồ, cũng bỏ áo trong quần như ai khi đi ra đường.

Đôi lúc tôi thản nhiên với số phận, bởi cho rằng mình không thể thoát ra khỏi cái cảnh nghèo như câu ca dao: Cây khô xuống nước cũng khô/Phận nghèo đi tới nơi mô cũng nghèo.

Không phải ngẫu nhiên mà tôi nghĩ như vậy. Ở quê, tôi không nhà cửa, tôi xin ở nhờ nhà của bà con họ hàng, nhà của nhà nước, và cái trại bán đồ sành sứ của thằng em trai. Vào Sài Gòn, lúc thì thuê nhà ở Gò Vấp, Bình Thạnh, khi thì Thủ Đức, quận 8, và năm năm rồi trụ được tại quận 9 với cái nồi bún riêu học lỏm. Đời tôi lênh đênh ba chìm bảy nổi như thế thì làm sao dám nghĩ đến chuyện an cư lạc nghiệp, làm sao dám mơ tưởng đến việc thoát được cảnh nghèo.

Về chuyện nghèo là nhục, cũng xin nói thêm rằng, qua hơn 5 năm ở Sài Gòn, tôi thấy người ở thành phố này rất tôn trọng những người chịu thương chịu khó, chịu lao động, mặc dù những người đó rất nghèo. Cái nhìn của người Sài Gòn mang nét hào hoa tài tử của người Nam bộ trọng nghĩa khinh tài. Họ không trọng vì giàu, không khinh vì nghèo. Đã có không ít người của bao thế hệ miền Trung, miền Bắc được người Sài Gòn yêu thương gả con gái tạo điều kiện gây dựng cơ nghiệp vững chắc từ một anh sinh viên nghèo, hay từ một anh công nhân bình thường.

Nghĩ đến những điều ấy, tôi thấy lòng mình như ấm lại. Nghèo không ai khinh, cũng không gọi là nhục được, nhưng như má tôi nói, nghèo sẽ khổ đủ điều, đó là điều chắc chắn. Thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu đủ thứ, không nhà cửa, không lễ tết, không giỗ chạp. Tuy nhiên, điều đáng lo nhất là chuyện đau ốm bệnh tật, nhẹ thì được chứ nặng thì chỉ có chết vì không có tiền nằm viện, không có tiền mua thuốc.

Tôi nói với hai đứa con, bây giờ tôi sợ nghèo còn hơn ma quỷ, sợ đến khủng khiếp, sợ đến phát điên, phát cuồng. Nếu có ai hỏi trên thế gian này tôi sợ nhất điều gì thì tôi sẽ trả lời ngay: Nghèo.

Read Full Post »

TRƯƠNG TẤT THỌ

Thời gian trôi qua  với biết bao nhiêu kỷ niệm. Kỷ niệm vui làm con tim rộn rã, kỷ niệm buồn làm tâm hồn xao xuyến bâng khuâng. Và tôi nâng niu kỷ niệm như những bảo vật quí giá nhất  vì sự kiện rồi sẽ phôi pha còn kỷ niệm sẽ luôn sống mãi trong tâm hồn, trường cửu với thời gian. Bài viết này kính tặng các thầy cô Tôn Thất Ngạc, Trương Ân, Vương Quốc Tấn, Lê Nhữ Tri, cô Bùi Khương, cô Bích…

 

Kỷ niệm lễ phát thưởng ở trường cũ thời 1960, tác giả ngồi ngoài cùng bên phải, cô Bích ngồi giữa

Lên lớp 11, tôi học Vật lý với thầy Vương Quốc Tấn , cũng mới ra trường. Kỷ niệm đầu tiên, đó là cái tội…chọc thầy của tôi. Nguyên tôi viết chữ đẹp nên được giao nhiệm vụ viết sổ đầu bài. Hôm đó vào giờ của thầy, tôi đã bắt con cào cào lớn bỏ vào sổ điểm rồi lấy sổ đầu bài giằng lên. Khi vào lớp thầy vừa mở sổ gọi đọc bài thì con cào cào búng thẳng vào thầy làm thầy sợ xanh mặt. Sau nầy tôi mới biết thầy bị bệnh yếu tim. Hối hận.

Không riêng tôi, các cô gái lớn và đẹp trong lớp tôi cũng nhè thầy chọc hoài, cứ một lát các người đẹp lại dài cổ ra gọi “ Th..ầ…y” rồi khúc khích cười khiến thầy trở nên bối rối…Sau này có một bài ca “tình yêu đến từ nơi đâu…” nhưng riêng tôi lúc ấy thì biết rằng tình yêu đến tứ cái chuyện chọc quê thầy giáo mới ra trường với kiểu gọi “Th…ầ…y” pha tí ti nũng nịu…

Tôi thương thầy Tấn nhiều vì thầy là cây vợt bóng bàn của ĐHSP Huế, đàn ghi ta cũng khá, có tâm hồn âm nhạc (hình như giống tôi). Về trường, thầy phụ trách bộ môn bóng bàn và tôi là vận động viên chủ lực của trường, đoạt các chức vô địch mang danh dự về cho trường, tham dự vòng chung kết toàn quốc… Dưới sự lãnh đạo của thầy, đội bóng bàn trường đoạt luôn chức vô địch thanh niên tỉnh làm thầy khoái qúa dẫn chúng tôi ra nhà hàng đặc sản Ngũ Châu ăn bồ câu quay. Hôm đó thầy ứng chi 105đ (thời 1961 là số tiền lớn, nghe đâu sau này trường không chịu hoàn lại làm thầy bị thiệt), nhưng tôi lại khoái mẫu đàn ông chịu chơi mà không chơi chịu, dám chơi, dám chi như thầy. Những ngày chủ nhật, thầy hay đạp xe ra nhà tôi chơi, đàn hát với tôi rồi chở tôi trên xe miti (tức ngồi đòn giông mi tóc) đi dợt bóng bàn. Mối liên hệ giữa tôi với thầy Tấn vừa là thầy trò vừa như anh em kể cả những lúc tôi chọc quê thầy khi bắt gặp thầy chở “nàng “ đi chơi trên xe Jeep ca pô cao ở vùng quê. Thầy thì chối biến, còn tôi lại tống cho thầy một quả ấm ớ hội tề cho thầy sợ chơi:

-Phần em thì em cứ “hê”, phần thầy nếu có oan uổng thì cứ việc thanh minh thanh nga, có sao đâu…

Tác giả 1961

Năm l997, đang đi trên đường XVNT, thấy dáng ai đi như dáng thầy Tấn 35 năm trước, tôi mừng qúa nhưng không thể quẹo trái được vì đường quá đông xe, tôi phải vừa ép trái vừa canh chừng bóng thầy. Rê khỏang trăm mét, tôi quay lại và gặp thầy, mừng ơi là mừng. Ngày 20-11 năm đó vì bận việc, tôi bảo tài xế mang quà đến tặng thầy, thấy tên tôi, thầy phán “Cậu này hồi xưa học giỏi lắm!”. Nghe nhân viên báo cáo lại, tôi sướng rên mấy đìu hiu.

Hồi học trường Cường Để 1960, tôi còn rất thương cô Bùi Khương, cô là cưu nũ sinh Marie Curie, dạy Pháp Văn đồng thời cũng là GV chủ nhiệm. Học trò miền Trung mà được một cô giáo học trường Pháp ở Saigon dạy Pháp Văn thì tuyệt cú mèo nên chúng tôi ái mộ cô lắm. Kỷ niệm “êm đềm” nhất với cô , là khi tham gia công tác hiệu đoàn, tôi hỏi cô thứ hạng tháng vừa qua, cô chỉ cười nói:

-Tháng nào cũng phê em giỏi, khá hoài nên tháng này cô phê khác…

-Cô phê sao cô?

Cô cốc đầu tôi rồi cười bí mật:

-Khi phát sổ liên lạc ra sẽ biết…

Quả nhiên đến giờ chủ nhiệm, cô phát sổ tôi thấy cô phê một lời phê rất đặc biệt, “không đụng hàng”, đó là :

-Hạnh kiểm: Ngoan!

-Học lực: Nhỏ mà học giỏi, đáng khen!

-Chuyên cần: Khá!

Tôi khoái chí nhìn cô cười và bắt gặp cô nhìn tôi đầy thương mến, cười trên đôi môi và cả trên ánh mắt. Tôi nhớ mãi lời phê ấy của cô như là một kỷ niệm khó quên thời đi học.

Kỷ niệm ngày xưa đi học đối với tôi là cả một dĩ vãng vàng son vì được rất nhiều thầy cô cưng. Tôi thuộc dạng “ngu trường kỳ, thông minh đột xuất” nên lấy đó làm tiền đề khai thác  để các cô bạn gái noi theo mà … cưng tiếp cho…đạt chất lượng 5 sao.

TTT

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »