Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn xuôi’ Category

đinh tấn khương

1.    CHUYỆN TÌNH TRÊN MẠNG

 

Cũng như vài gia đình khác, gia đình anh được đưa đến định cư tại Thụy Điển sau khi được tàu nước nầy cứu vớt, trong lúc chiếc thuyền con vượt biên đang chết máy và lênh đênh trên biển cả nhiều ngày.

Những ngày mới đến, vợ chồng và 2 đứa con sống rất hạnh phúc, nhờ nhận được những giúp đỡ ban đầu của chính quyền và người dân bản xứ. Dần dà thì cuộc sống cũng tạm đi vào ổn định.

Thời gian trôi nhanh, hai đứa con cũng đã trưởng thành và có gia đình riêng tư. Nhưng công việc sinh nhai thì cũng chỉ tàm tạm chứ không mấy khá giả cho lắm, nên chẳng giúp gì cho anh chị.

Anh có đi làm một thời gian nhưng sức khỏe đã hạn chế công việc, cho nên lúc sau nầy anh đành phải nằm nhà. Có lẽ sự eo hẹp về tài chánh là nguyên nhân thầm kín đã dẫn đến sự đổ vỡ của vợ chồng anh, trong độ tuổi ngũ tuần!?
Tiền bạc không nhiều nhưng lại nằm trong tầm kiểm soát của người vợ. Nhất cử nhất động anh đều phải báo cáo mọi chi phí tài chánh. Cuộc sống của anh bị lệ thuộc hoàn toàn vào người vợ của mình. Anh buồn lắm, cho dù nhiều lần chị đã cố giải thích cho anh hiểu:

–         Cần phải biết tém khéo mới lo được cho đời sống. Vợ giữ tiền là giữ cho gia đình, chồng mà nắm tiền thì có ngày lại cho người ngoài ăn đấy.

Nghe vậy, nhưng anh không hiểu là chị muốn nói cái gì? Cho người ngoài là ai, đôi lúc anh cũng muốn gởi chút quà tết về cho mấy đứa cháu rất nghèo, còn bỏ lại bên VN mà anh không dám hỏi vợ.

Nói phải tội, có nhiều khi anh nghi rằng, vợ mình đã lén gởi tiền giúp cho bà con bên ngoại của các con anh. Nhưng không có bằng chứng gì cho nên anh chỉ biết ôm lấy một nỗi buồn!

Sự đổ vở kiểu nửa vời. Hai người vẫn sống chung trong một căn hộ để bớt tiền thuê nhà, cũng như giảm bớt tiền điện.. những thứ mà họ có thể dùng chung và chia sẻ với nhau. Ngoài mấy thứ ấy ra, thì cả hai, mạnh ai nấy giữ những gì mà mình đang có, chẳng chịu chia sẻ hay là cho người kia được dùng, mặc dù thật sự có cần đến.

Thời gian cũng trở nên thừa thãi với anh. Anh bèn  dành hết thì giờ lướt mạng, để tìm người tán gẫu cho vơi đi thời gian và nỗi buồn. Thế rồi một hôm anh gặp được người “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, một người phụ nữ đang sống cách anh nửa vòng trái đất. Chị nầy đã ly dị chồng cách đó không lâu, sau khi biết được chồng mình ôm tiền về VN làm ăn và “rước cầm mới lên thuyền cũ”.

Hai người nói rõ hoàn cảnh gia đình cho nhau nghe.. có lẽ tìm được sự cảm thông, cho nên tình cảm đã dần lớn thêm nhiều hơn, giữa hai người.

Chị hẹn gặp anh tại quê nhà. Anh thú thật là không đủ tiền mua vé máy bay. Chị mua vé trên mạng và gởi mã số code cho anh. Căn dặn là đến ngày giờ G.. cứ ra phi trường Z, tới quầy check- in của hãng hàng không XY,  nói số code là mọi thủ tục lên máy bay sẽ được tiến hành.

Anh sắp xếp hành lý, nhưng trong túi lại trống trơn khiến anh lo lắng. Anh gọi người chị gái đang định cư tại Úc mượn đỡ vài ngàn dằn túi. Tình trạng tài chánh bị cô lập của đứa em đã được báo cáo từ lâu nên người chị cũng cảm thông đứa em trai của mình.

Chị gởi hai ngàn dollars, chuyển thẳng về người bạn tại Sài Gòn và nhắn anh về đến đó mà lấy.

Mang cái túi hành lý nhỏ, nói với vợ con là anh cần về thăm nhà vì có việc gấp.
Chị và các con cũng đã quen cái cảnh “có anh cũng như không” trong cái căn nhà nầy từ lâu cho nên cũng chẳng có ý kiến đồng tình hay ngăn cản gì cả.
Không nghe ai hỏi:

–         Bên nhà  có chuyện gì gấp, có ai ốm, ai đau hay là có ai hấp hối mà lại phải về gấp như vậy!?
–          Có cần một ít tiền đi đường hay không!?

Thái độ dửng dưng, lạnh nhạt của vợ con đã làm nhẹ đi cảm giác tội lỗi. Vì anh đã nghĩ rằng, chừng tuổi nầy mà lại bỏ bê gia đình để đi tìm một người tình trên thế giới ảo, trên mạng. Cảm giác ấy đã ray rức anh rất nhiều, trước đó không lâu!

Về đến VN, hai người găp nhau. Mối tình trong thế giới thật đã tiến rất nhanh, nhanh hơn cả cái mối tình khi còn ở trong cái thế giới ảo suốt mấy tháng vừa qua. Có lẽ, những nỗi buồn của từng người đã kéo họ lại gần nhau hơn.
Anh theo chị về Mỹ, phụ chị trong một cái thương vụ nhỏ. Nhờ thế cũng tạm đủ sống và anh cảm thấy thật vui vì không bị lệ thuộc cũng như không còn bị “phong tỏa tài chánh” như trước kia nữa.

Nhờ có tiền, hai năm sau anh quyết định quay về thăm lại người thân, nhìn lại xứ nẫu, nơi mà anh được sinh ra và lớn lên với nhiều kỷ niệm gắn bó trong khu nhà nghèo, nhưng rất thân thiện.

Niềm vui nào cũng qua mau. Hết thời hạn thăm quê anh tính quay về Thụy Điển, hoàn tất giấy tờ ly dị và sẽ bay qua Mỹ để sống trọn khoảng đời còn lại với người yêu.

Bất hạnh thay, anh bị tai biến mạch máu não, gục ngã trong phòng tắm. Rất lâu sau đó, mấy đứa con mới phát giác và đưa anh vào bệnh viện. Nhưng đã trễ!?

Anh chỉ còn sống thực vật và bác sĩ cần gia đình cho quyết định để rút ống dưỡng khí.
Mặc dù người chị của anh tại Úc cũng như người tình bên Mỹ, đã xin cho anh được sống thêm một thời gian nhằm hoàn tất thủ tục mang “tro” của anh về Mỹ, với người tình mới.

Nhưng bà vợ cũ và các con đã đưa ra quyết định thật sớm, không chần chờ mặc dù đã có lời yêu cầu khẩn thiết từ người nhà và người tình của anh!

Cuối cùng, thân xác anh đã vĩnh viễn nằm lại cái vùng đất mà anh đã từng chạy trốn.
Chẳng có ai biết, bây giờ linh hồn anh đang ở chốn nào!??

 

2.     SỐNG ĐỂ TRẢ NGHIỆP!?

Gia đình anh chị định cư tại Úc cũng khá lâu. Nhờ vào tính chuyên cần và chịu khổ chịu khó cho nên công việc kinh doanh của anh chị cũng khá thành công. Các cháu thì học hành lại giỏi và tạo được những thành quả tốt đẹp.
Nhờ thế mà hầu hết mọi người biết đến, đều truyền tụng rằng, gia đình của anh chị quả là một gia đình kiểu mẫu trong số những gia đình người Việt tỵ nạn, tại đây.
Anh chị rất vui vì những lời khen ngợi không ngớt ấy.
Chị mừng, vì có được một người chồng năng nổ, hoạt bát và biết lo cho con cái, biết yêu thương vợ mình.
Ngoài công việc ra, anh không bao giờ la cà với bạn bè, không thuốc lá, không rượu bia… Tiền bạc làm ra thì anh cũng không cần để ý đến, kiếm được bao nhiêu là đưa cho vợ cất. Anh thường nói đùa với vợ:

–         Giữ tiền làm chi cho thêm phiền, tiêu mà quên báo cáo thì lại khổ thân tôi!?

Dưới cặp mắt của chị, anh quả thật là một người đàn ông đáng tin và rất có uy tín. Nhiều lần chị đã đề nghị với anh là, cùng về thăm lại quê hương sau nhiều năm xa cách. Anh thường gạt ngang:

–         Em cần thăm nhà thì cứ đi một mình cũng được. Anh có đi thì cũng chẳng ích gì mà lại còn bỏ bê công ăn việc làm nữa. Chỉ sợ em buồn khi thiếu anh vậy thôi, nếu thế thì anh đành xin lỗi, em nhé!

Lần nào cũng vậy, anh luôn từ chối cái cơ hội mà rất nhiều người trong độ tuổi như anh, mãi ước ao có được! Chính vì thế mà chị rất yên tâm!?
Một vài người bạn đã kể cho chị nghe những mẫu chuyện đổ vỡ gia đình trong độ tuổi ngũ tuần, xảy ra nhan nhản lúc gần đây. Nhất là mấy ông cứ nại cớ là về thăm bố mẹ bệnh nặng, làm mộ cho song thân.., nhưng thật tình là đang bị dính bùa bên ấy!

Những lúc gần đây, các con đã ra riêng. Công việc làm ăn cũng khá ổn định. Chị cũng muốn nghỉ ngơi chút ít, bởi sức khỏe của chị không còn được như xưa. Chứng đau lưng kinh niên cứ hành hạ như tra tấn chị hằng đêm, nhất là vào những ngày của mùa đông.
Về Việt Nam để tránh cái lạnh ở Úc, đã giúp giảm nhẹ cái đau của chứng thần kinh tọa. Chứng bịnh mà bác sĩ đã nói với chị rằng, không có cách nào chữa dứt.
Vả lại, cuộc sống tại Việt Nam đã cho chị chút ít niềm vui. Vui với người thân, với bạn bè xưa cũ.. Tất cả, đã khiến chị dành nhiều thì giờ bên đó hơn là tại Úc.

Không có gì để chị phải lo vì chồng chị cũng chẳng than phiền. Chị thầm cám tạ ơn trên đã cho chị một người chồng tốt, với một gia đình rất hạnh phúc.

Nhưng chị đâu có ngờ…

Khoảng thời gian chị về thăm Việt Nam. Một lần anh ghé lại tiệm bán thức ăn nhanh, gặp một cô gái đang đứng xếp hàng trước mình, chờ đến lượt order. Cái hàng dài chờ đợi ấy đã giúp cho họ có dịp để trao đổi, chỉ là những lời hỏi thăm có tính xã giao.
Rồi họ cùng ngồi vào bàn ăn và lắm chuyện được mang ra bàn tán, về đời sống tại Việt Nam bây giờ và những khó khăn gặp phải tại xứ người, coi bộ hai người “tâm đầu ý hợp”lắm.
Qua mấy câu chuyện ấy, anh biết được rằng cô là một du học sinh đến từ Việt Nam, không có thân nhân và đang gặp nhiều khó khăn về tài chánh.

Họ trao cho nhau số điện thoại và hẹn cơ hội được gặp lại.
Thời gian và hoàn cảnh cô đơn đã giúp cho cả hai xích lại gần nhau thật nhanh chóng, như để làm giảm bớt cái lạnh trong lòng cũng như xua tan khí lạnh ngoài trời, trong những ngày của mùa đông xứ Úc.

Không hề nghi ngờ gì về sự thay đổi của chồng mình, cho đến khi chị phát giác ra được, người chồng  mà chị luôn tin tưởng đã mượn một số tiền khá lớn từ ngân hàng, qua việc thế chấp một trong những bất động sản mà anh đang đứng tên làm chủ.

Kể từ đó, chiến tranh đã bùng nổ, ngay trong căn nhà mà trước kia luôn tĩnh lặng. Anh đòi ly dị, chia tài sản nhưng chị và các con chưa dứt khoát.

Cuộc sống gia đình đã trải qua một khúc quanh đầy nỗi khổ niềm đau. Chị và các con đã khóc thật nhiều nhưng anh đã quyết định cho mình một ngã rẽ..

Anh theo về Việt Nam với người yêu mới. Bỏ một số tiền lớn, xây tổ ấm uyên ương cho cả hai và anh đã hứa là sẽ hoàn tất thủ tục ly hôn để cùng nhau vui hưởng hạnh phúc, trong khoảng đời còn lại.

Anh quay về Úc để hoàn tất ý nguyện đó. Vài hôm sau, nhận được điện thoại của người bạn cũ, người mà anh vừa gặp lại trong lần về mới đây. Người bạn tri kỷ đã được anh mời đến dự buổi tiệc khánh thành cái tổ ấm, cũng như ra mắt người vợ trẻ của mình.

Người bạn gọi anh về lại Việt Nam gấp, vì có vài chuyện cần bàn. Gặn hỏi mãi thì được cho biết, người vợ mới của anh vừa đưa một người đàn ông khác về sống ngay trong cái căn nhà của anh, mới bỏ tiền ra xây.

Bán tín bán nghi, anh mua vé ngay và hôm sau bay thẳng về Sài Gòn. Anh tính tìm gặp thằng bạn nhưng quá nóng lòng, nên thôi. Đi thẳng về tổ ấm, mở cửa vào nhà (vì anh cũng giữ chìa khóa riêng, có lẽ cô người tình đã không nghĩ là anh sẽ trở lại sớm, nên lơ đãng?).

Nghe tiếng cười khúc khích trong phòng ngủ, anh đẩy mạnh cánh cửa khép hờ và nhìn thấy một cảnh tượng, khiến máu trong người anh như sôi sục.
Anh hét toáng lên, đập phá mấy thứ đang ở trong tầm tay mình. Như chưa hả giận, anh vớ lấy cái bình bông gần đó tiến nhanh lại người thanh niên xa lạ, đang cố mặc lại quần áo.

Xung đột bắt đầu, hai người trao nhau những cú đấm. Nhưng chắc chắn là, sức anh không hơn được cái sức đang trong độ tuổi thanh niên kia. Anh bị dồn ra khỏi cánh cửa, lối ra hành lang. Rồi bất ngờ, anh hứng trọn cái xô đẩy rất mạnh của người thanh niên, khiến anh rơi từ tầng một xuống đất.

Nhằm lúc đó, người bạn của anh đang đi ngang qua (như để theo dõi, giống mọi lần) phát hiện sự việc. Người bạn kêu xe chở anh vào bệnh viện để chẩn đoán và điều trị những tổn thương. Anh được cho biết là chỉ gãy một cánh tay mặt và cần băng bột. Vài vết trầy khác không có gì đáng quan tâm, anh được cho xuất viện cùng ngày.
Hôm sau, theo lời khuyên của người bạn anh đã trở về lại Úc. Anh tính sẽ nhờ luật sư mang sự vụ ra tòa xét xử.

Vài ngày sau, bổng dưng cơn nhức đầu bộc phát đột ngột xảy đến với anh. Vợ anh không có nhà, anh gọi điện thoại nhờ con đưa anh đến gặp bác sĩ vì tay đang bó bột, cho nên anh không tự lái xe được như mọi khi.
Mấy đứa con cho biết là đang bận, hẹn chiều sẽ về. Nhắc ba nó lấy đỡ hai viên panadol mà uống cho vơi bớt cơn đau. Anh đoán có lẽ chúng nó giận mà không thèm về sớm, chứ chẳng phải bận rộn chuyện chi!?

Anh đi dần vào hôn mê.

Chiều đến, đứa con gái trở về thấy bố mình nằm yên, sóng sượt trên nền nhà. Vội vàng gọi xe cứu thương và được chở thẳng vào một bệnh viện gần nhất. Được chẩn đoán, anh bị chấn thương sọ não, máu tụ nhiều và đã để quá trễ cho nên phần não chết không thể phục hồi.

Anh đã được cứu sống, nhưng chỉ là “sống thực vật” mà thôi!.
Bác sĩ xin ý của vợ anh (vì vẫn còn là vợ chính thức) cùng các con, để quyết định rút ống thở, cho anh được ra đi trong bình yên.
Nhưng bà vợ đã quyết định, hãy cho anh phải sống:

–         Sống để trả nghiệp và làm gương cho người đời!?

Mấy đứa con cũng không dám đưa ra quyết định nào khác. Có lẽ chúng nghĩ, mẹ mình có lý!?

Ngày cuối đông 2011

đinh tấn khương

Read Full Post »

Ngả Rẽ

    Trương Văn Dân

Em thường nói, cuộc vui nào cũng tàn, bữa tiệc nào cũng chấm dứt, biết thế, nhưng, khác em, tôi  còn muốn nán lại  để  dọn dẹp những ngổn ngang ly tách  trước khi phủi tay đứng dậy.

Nhưng ước muốn nhỏ nhoi cuối cùng đó tôi đã không thực hiện được. Bỡi sáng hôm ấy,khi thức giấc đã không còn có em bên cạnh. Đêm trước ôm nhau, sáng dậy em biến mất như huyền truyện liêu trai, không một lời từ giã. Hạnh phúc bốc khói bất ngờ làm tôi rớt vào khoảng không. Tôi trôi nổi bồng bềnh, người phiêu dạt với cảm giác chơi vơi. Hụt hẫng. Ngay lúc đó, tôi chỉ mơ hồ là mình vừa mất một cái gì , nhưng chưa rõ ràng và  cụ thể, mãi đến khi sự ngái ngủ đã bị xua đi, tôi mới cảm nhận là nỗi đau trong lòng mình lớn lắm.

Suốt ngày thứ bảy  đó tôi đã hốt hoảng gọi em, nhưng chiếc điện thoại di động im ỉm suốt cả ngày. Tôi vẫn kiên trì, mãi đến khuya mới nhận được tín hiệu, nhưng em không bắt máy, hoàn toàn vô cảm trước tiếng kêu tuyệt vọng của tôi. Đến nước đó tôi mới thực sự hoang mang và hiểu rằng tình nghĩa giữa em và tôi đã hòan tòan chấm dứt. Dường như có ai đó đã nói rằng con người luôn luôn bước chậm sau nỗi khát khao, và tôi biết giờ đây chúng mình chính là  hai kẻ nhỡ tàu. Giá như …gía như đêm ấy, chỉ cần nhận một tin nhắn, hay một tín hiệu nào đó của em …thì sự việc đã được nhìn thấy khác. Dẫu em có nói  là mình đang thất vọng về tôi, đang mơ về một cuộc đời mới, hay thậm chí muốn bỏ tôi đi lấy người khác thì tôi cũng đành cam chịu và chấp nhận. Có thể tôi sẽ tự bảo: “Có gì đâu !” như vẫn thường nói mỗi khi có biến cố xảy ra. Để tự an ủi, nhưng cũng để xem thường mọi việc theo  bản tính của mình. Nhưng đêm ấy chỉ có tiếng ò e của của tiếng gọi lạc vào thinh lặng. Em có biết không ? Trong cái im ắng đến rợn người ấy tôi nghe  hết tất cả nỗi trống trải của mênh mông và sự phũ phàng của kẻ  tuyệt  tình. Dường như trong đêm còn có tiếng gió rít, hú dài, lúc mới nghe tôi cứ ngỡ đó là tiếng cười ngạo nghễ…và khi âm thanh dội vào vách vắng tôi lại nghe rất giống tiếng của mình cười, đau đớn, rồi nỗi buồn trào ra, ào ào  tuôn chảy. Nỗi buồn phun ra  như máu đang xối xả và thể xác tôi chỉ còn là một khối rỗng. Cảm giác cụ thể đến độ đang nằm trên giường mà tôi thấy mình chông chênh; như sắp té.

Sáng chúa nhật, ngủ một giấc không an lành,  thức giấc thấy cuộc tình của mình bước sang trang  khác, tôi thấy đời mình sao  bi thương quá. Tôi là gì của em? Chắc chẳng qua chỉ như một bóng mát tình cờ gặp gỡ giữa đường, và khách bộ hành, như em, tạm dừng chân giây lát rồi lại tiếp tục ra đi? Bước qua một ngã rẽ khác của dòng đời vì cảm giác bất an, vì một cuộc sống nghèo nàn sắp đổ chụp xuống đời nhau.

Chuyện đổ vỡ đã thực sự  xảy ra nhưng khi nhìn lại, tôi vẫn tưởng như đùa, khó tin quá, vì xưa nay tôi thường nghĩ, khi hết lòng yêu thương một ai đó, muốn gánh hết cho họ những nhọc nhằn của cuộc mưu sinh thì trứơc sau gì cũng được yêu thương, quý mến.Trong tâm tưởng đó tôi nhìn em như một sinh linh bé bỏng cần được bảo vệ, chở che. Rồi giờ mới giật mình, biết rằng không như vậy. Em đã đoạn tuyệt, ra đi, không để lại gì, ngay cả một mảnh giấy,vài hàng tạm biệt …vì quyết định bỏ, là đi. Chẳng cần đắn đo suy nghĩ. Người mà em nhiều lần thề thốt yêu thương, khi xuất hiện một kẻ thứ ba đã biến thành một vướng  víu mà em đã nhất  định phủi tay. Em không yêu tôi đến mức sẽ ở  bên tôi trong bất kỳ tình huống nào như vẫn thường hứa hẹn. Và nhánh cây tỏa bóng chở che đã  bị chặt đi, nhát cắt thô bạo, phũ phàng, như người ta loại một thanh củi mục. Sau, em phơi phới bỏ về với người mới, riêng mình tôi ở lại trong căn phòng trống trải, tan nát cõi lòng.

Trong nỗi đau chết lịm, tôi bùi ngùi nhìn lại đoạn đường mà chúng mình đã đi qua. Quen nhau được hai năm, em bỏ tôi, đi. Rồi quay lại. Hai năm  sau đó, em cũng lại bỏ đi. Rồi quay về. Tôi luôn thấp thỏm yêu em với tâm trạng nỗi đau này chưa vơi thì nỗi đau khác đã ập đến mà vẫn thụ động chấp nhận và tha thứ cho em. Nhưng lần này thì tôi biết là mình sẽ vĩnh viễn mất nhau….rồi  ngậm ngùi nhớ đến thời gian lúc mới quen nhau, tất cả rối tung như một số phận đã được an bài.

Ngày lễ tình yêu đầu tiên của hai đứa, em mang  tặng tôi hai đóa hồng làm bằng hoa đất  cực kỳ tinh xảo. Lời  dặn: “Giữ mải nhé anh”. Tôi vô cùng hạnh phúc và hứa  với em sau một nụ hôn cháy bỏng. Nhưng chưa đầy mấy giờ, sáng hôm sau, loay hoay thế nào tôi đã vô tình làm  rơi xuống đất, ngỡ ngàng nhìn hai bông hoa xinh đẹp biến thành trăm mảnh vụn. Em tiếp nhận sự việc với nỗi kinh hoàng .Và cũng chính trong ngày lễ ấy, tôi  mang tặng em cây bonsai  để đặt lên thành cửa sổ trong phòng ngủ. Tôi mong nó sống mãi, nhưng chỉ  mới mười ngày thì  cây đã tàn tạ, héo khô vì thiếu nước!  Như vậy là những kỷ niệm đầu của ngày  lễ tình yêu của chúng mình đều mất. Đó là điềm báo trước rằng mối nhân duyên tan rã? Chuyện tình của mình đã gượng gạo khởi đi, nhưng trước sau gì   cũng sẽ  tan như đã manh nha từ những bước đầu? Tôi hoang mang, chẳng biết cảm nhận đầy mê tín đó của em có nghĩa gì không, nhưng … vẫn cứ yêu em. Yêu đến nỗi không hề gian dối hay tính toán cho mình có được một quyền lợi nhỏ nhoi nào. Mù loà trong tình yêu, tôi đâu thấy những uẩn khuất trong  suy nghĩ  của người thương, lầm tưởng thời gian sống bên nhau là hạnh phúc, chứ đâu hiểu  thực ra đó chỉ là một chuyến buôn gian lận. Sống bên tôi mà em luôn dáo dác nhìn quanh những ngọn núi khác để sẵn sàng đánh đổi và lựa chọn.

Giờ bình tâm nghĩ lại, tôi thấy là trong suốt cuộc tình duyên với em, tôi chẳng có ai hậu thuẫn. Tất cả bạn bè, anh chị trong gia đình em đều chống đối và họ chỉ chờ cơ hội để bàn ra tán vào nhằm hủy diệt mối quan hệ của chúng mình. Họ chán, tôi biết. Bởi tôi nghèo. Một thằng kỷ sư quèn như tôi, khó nhọc lắm mới nuôi nổi bản thân, chắc  không thể cung phụng cho em  và gia đình một đời sống phung phí như gã Việt kiều giàu sang mang lại. Và số phận tình cảm của mình quay cuồng xung quanh ngày về thăm nhà của một người quen từ Mỹ. Người thân của em là tác nhân không nhỏ của chuyện môi giới, tình đến, tình đi. Họ thuyết phục em rằng đây là lối thoát, cơ hội giàu sang cuối cùng, em đừng nên đánh mất.

Tôi biết tất cả những “thâm cung bí sử” đó, nhưng không dám trách  mẹ hay anh, chị của em. Với tôi lý lẽ hay ảnh hưởng của họ chỉ có giá trị tương đối. Người quyết định cuối cùng là em, chứ không phải họ. Và em đã chọn lựa, như đã làm !

Suốt ngày chúa nhật thẫn thờ, tôi biếng ăn, mỏi mệt, rồi đêm đó mang sự trống trải và niềm đau của mình đi vào giấc ngủ.Trong mơ tôi thấy mình  nắm tay em, tung tăng trên con đường đầy hoa, nở rộ một góc trời. Trên không trung có tiếng nhạc dịu dàng, khẽ ru tôi và em vào trong niềm hạnh phúc ngất ngây, thơ mộng; Nhưng, thoắt một cái, hình ảnh trong mơ vụt đuổi nhau loạn xạ. Mây đen ở đâu bỗng kéo về. Rồi trời đổ cơn mưa. Hoa lá tả tơi dưới những tia nước từ trên cao  trút xuống. Lúc tạnh, nắng yếu ớt vừa trổi lên,  tôi lại thấy em và người chồng sắp cưới dìu nhau đi may đồ cưới. Đứng bên lề, tim tôi quặn thắt. Tiếng nhạc thanh thoát lúc đầu được thay bằng một âm điệu buồn, cay đắng: ” người vui bên ấy, xót xa nơi này…” và hình như trong mơ tôi đã cố  ghìm mình, khỏi khóc ; không hiểu sao lúc thức giấc lại thấy má mình ươn ướt.

Em có biết chăng? Tôi đã thức giấc từ một giấc mơ như vậy đó. Chết lặng. Rồi lịm dần trong cơn đau. Còn nỗi đau thì rất thật chứ không phải là mơ! Tôi nghe miệng mình đắng chát, và lần đầu tiên trong đời, vừa thức giấc, tôi đã tìm đến  rượu. Một  cốc nhỏ thôi, em biết mà, tôi đâu biết uống, chỉ định nhấp  để khoả lấp cảm giác chua chát trên đầu lưỡi. Nhưng cũng chính vì thế mà tôi chuếnh choáng, nỗi buồn không tan vào rượu mà kết tủa trên cổ họng cháy bỏng, rồi đắng ngắt trào lên đôi mắt mù mờ. Tôi loáng thoáng nhìn quanh. Mất, mất hết. Cả thực tại, dĩ vãng của những tháng ngày êm đềm xưa cũ như không còn có mặt trong căn phòng ấm cúng của chúng mình. Ngoài kia, phía bên ngoài của sổ vẫn còn những tiếng chim kêu, tiếng rì rầm huyên náo của cuộc đời muôn thủa, mà với tôi tất cả đã đổi thay, mọi vật  chao đảo, không còn dáng  dấp  của ngày nào. Tôi với em đã thực sự chia lìa. Chia lìa, chẳng có chia ly. Đưa tiễn !

Thiếp trong mê man, lúc tỉnh dậy thì buổi chiều đã muộn lắm rồi. Tôi đứng bên cửa sổ, nhìn dòng kênh  dưới nhà như trôi đi chậm dần. Bỗng dưng tôi muốn nó trôi nhanh hơn, cuốn trôi nỗi bực dọc  bừng bừng, nhưng đốt hết điếu thuốc này rồi điếu khác, lồng ngực vẫn nặng nề, u ám. Những tia nắng của buổi chiều đang xuống bắt đầu nhạt nhoà. Có tia sáng làm đỏ quạnh một vùng trên mặt nước. Tôi thẫn thờ nhìn như kẻ bị thôi miên. Bất động. Lòng vẫn hy vọng, đợi chờ, sự chờ đợi bằng nhớ nhung và ấm ức. Đến khuya, lịm đi vì mệt mỏi, giữa đêm  trăn trở tìm giấc ngủ và cơn mơ chập chờn gần sáng, lòng vẫn thầm đợi tiếng “tíc” của một mẩu tin ngắn ngủi mà một lúc nào đó em  nghĩ lại và nhớ đến tôi. Nhưng vô vọng.

Sỏi đá vẫn cần… nhưng tôi biết là từ đấy cho đến ngàn năm …mình sẽ không còn có nhau, nữa!

Tôi tự trách mình vụng về nên không giữ được em, nhưng vẫn thầm hỏi là lòng em có bình an không, sau khi làm tổn thương lòng tự ái và để lại trong tôi những mặc cảm, cùng nỗi ê chề của kẻ bị hất hủi, bỏ rơi?

Hào quang tỏa xung quanh thần tượng tình yêu mà tôi tôn thờ, ngay đêm ấy, vụt tắt. Đôi cánh thiên thần đã gãy. Ánh sáng đang chói chang bỗng  tối sầm, bóng tối âm u từ đâu đó tràn về và hình tượng chỉ còn là cái bóng mờ, dữ dội. Lòng yêu thương biến thành kinh hãi. Tôi như chợt tỉnh cơn mê. Paul Valéry có lần đã viết: ”Cách tốt nhất để thực hiện giấc mơ là sự tỉnh dậy “ và tôi như bừng tỉnh. Thì em vẫn là em, tôi vẫn là tôi. Nhưng mọi tương quan lúc này giữa chúng mình đã khác. Chúng ta cần phải làm lại tất cả mọi thứ. Tôi hiểu là trong đời, trước  hoặc sau gì thì mình cũng sẽ nhận đúng những gì mà mình xứng đáng được nhận. Dĩ nhiên  “…sống trong đời sống cần có một tấm lòng…“ vì không có  nó con người sẽ không có lối thoát trong sự tham lam ngu xuẩn và cay nghiệt với nhau. Với tôi, em đã sống với một tấm lòng? Tôi hoang mang và ngờ vực quá. Và tự hỏi là  mình có cay đắng quá không khi  xem sự  khinh khỉnh khước từ đối thoại của em là một thái độ kiêu căng, miệt thị. Như một cố tình xúc phạm !

Ý nghĩ thà chia tay còn hơn sống để “giết đời nhau“ đã manh nha từ hôm ấy, nên bây giờ , ba tháng trôi qua từ bữa đó, gã Việt kiều đã lặng lẽ bỏ đi ; em có muốn quay về bên tôi thì  cũng đã trễ rồi. Niềm tin  xưa mà tôi dành cho em đã sụp đổ. Hoàn toàn.

Tôi không quên là hôm qua em đến gặp tôi. Khuôn mặt đẹp của em buồn não nùng. Nó vừa lạ, vừa quen như  thóang hiện lên từ một cõi xa xôi huyền bí nào trong cuộc đời óai ăm này.Ngồi bên cửa sổ, dưới bóng cây hoàng  lan tỏa hương ngào ngạt trong sân một quán cà phê quen thuộc. Tôi yên lặng quan sát những giọt nắng xuyên qua cành lá soi lóm đóm trên mái tóc và khuôn mặt em thành nhiều vùng đen, trắng. Đó phải chăng là hai  mặt phản diện phải trái, đúng sai, hung thần, ác quỷ  của cuộc đời?  Đó phải chăng là niềm đau, hạnh phúc, hợp tan tan hợp của tình yêu ? Của những xẻ chia, dâng hiến hy sinh, lọc lừa, tráo trở trong những quan hệ phức tạp nhất giữa hai con người. Đen Trắng như Nam  và Nữ. Như Âm và Dương? Như nước mắt vui mừng, như nụ cười tê tái  của những cảm nhận chồng chéo không rõ ràng, đúng sai không dễ gì  phân biệt.

Em cầm tách cà phê, nâng lên, đặt xuống mà chẳng hớp  một ngụm nhỏ nào. Có lẽ thái độ im lặng của tôi làm em ray rứt. Vì em hiểu rằng tôi đã chẳng cần em gỉai thích điều gì nữa. Chúng mình chẳng còn gì để nói. Mọi hy vọng tái hợp như bị đập tan tành. Em nhớ không? Chúng ta ngồi bên nhau như hai người bạn lâu ngày gặp lại. Có lẽ những buồn vui xưa giờ chỉ là chuyện xa vời….Có bóng mây bay qua, vũng tối mờ ảo phủ lên cả hai khuôn mặt. Xa xôi. Chung quanh ngừng lặng. Em có khó nhọc lắm không? Đôi mắt  thường mở to nhìn đời đầy tin tưởng ngày xưa, mà tôi vẫn cho là tha thiết… sáng đó nó như ánh lên nỗi chờ đợi của kẻ sắp chìm, đang cố với lấy tấm gỗ mục trôi nổi bồng bềnh. Không chộp được nó tất cả  sẽ chấm dứt. Quá khứ, vị lai sẽ trở thành vô hình, vô tướng. Tình yêu, hạnh phúc sẽ  tan vào hư vô …

Có lẽ vì những ý nghĩ đó mà tôi không mấy ngạc nhiên khi mới gặp em đã nhắc đến kỷ niệm.Trước đây mỗi lần chợt gợi, em hay  loáng thoáng vài câu rồi lảng sang chuyện khác. Nhưng lúc này tôi đâu có muốn nhắc lại  chuyện xưa, dù có bao điều nếu được nói với em chắc tôi  sẽ nhẹ lòng hơn. Nhưng chuyện tình cảm của chúng ta đã rã nát đến nước này thì  còn gì  nữa mà giãi bày, hỡi em yêu ?

Tôi không quên mẩu tin nhắn  của em, tuần lễ trước khi chúng ta gặp mặt, khi tôi rời thành phố để về miền thuỳ dương cát trắng. Xưa nay khi tâm hồn căng thẳng tôi thường về với biển. Dường như tiếng rì rào của biển giúp trái tim đa cảm của tôi bình tĩnh, quên đi những căng thẳng của nhịp sống dập dồn. Đứng trước mênh mông, mọi đau buồn như tan vào cõi bát ngát muôn trùng, trong đó những uất ức, lắt léo của dòng đời như  bị hoà nhập rồi tự xoá. Thói quen đó, em biết, có từ thời thơ ấu, trong những đêm trăng, tôi thường kể với em là  hay đi chân trần trên cát, đẫm mình trong thứ ánh sáng huyền hoặc, thả hồn bay bổng. Tin nhắn viết : “Anh yêu thương. Tình cảm của anh dành cho em đã vơi đi nhiều chưa? Xa anh rồi, bây giờ em  thấy buồn, suy nghĩ. Quyết định của em làm anh đau, giờ em chẳng biết nói sao ngoài câu xin lỗi. Đừng buồn em nữa nhé, anh”. Em vẫn còn quan tâm đến tôi sao? Tôi chẳng nhớ ai đó đã nói rằng sự xa cách thổi bùng tình yêu lớn và  dập tắt những tình yêu nhỏ, nhưng tôi chẳng tin là ba tháng xa nhau đủ để em lắng đọng và xác định lại tình cảm của mình rồi có thể làm  bùng lên một ngọn lửa, lớn. Đối với tôi, nó đã tắt như chiếc nến trước cơn bão tố.  Tuy nhiên lòng tôi không khỏi vương vấn với những tin nhắn kế tiếp của em :   “Anh khoẻ không? Sao  anh không nhắn tin cho em? Lo, buồn  lắm. Không biết người ta có còn nhớ đến mình không? Em biết có quá nhiều chuyện đã làm anh buồn, chắc anh khó tha thứ cho em lắm. Em xin lỗi về mọi việc”. ”Nhớ anh quá. Lần chia tay này có phải là mãi mãi mình xa nhau không anh? Chúc anh hạnh phúc.” Tôi giữ yên lặng, không trả lời, mãi đến khi nhận được tin nhắn này mới gọi điện để cám ơn em:        “ Hôm nay Chúa nhật, em  mới đi dự thánh lễ, cầu xin mọi sự bình an luôn đến với anh. Ước sao được nghe lại những lời yêu thương của anh “.

Tôi chỉ cám ơn em và không biết phải nói gì thêm. Em còn chờ đợi tôi nói những gì khác nữa chăng? Suy nghĩ thế nào là tuỳ, nhưng xin em đừng nói là tôi chọn lựa. Vì thực ra tôi có chọn lựa gì đâu!  Nói đúng ra là tôi  đành phải chấp nhận  bản phán quyết mà em đã dành cho tôi. Tôi nào có quyết định gì, chẳng qua đó chỉ là sự cam lòng hứng chịu!  Còn nếu như em vẫn cố cho rằng tôi đã chọn con đường không quay lại, thì em ơi,  hãy hiểu đó chính là sự chọn lựa đau đớn và  bất hạnh nhất mà tôi đã phải làm.

Thú thật, bây giờ tôi chỉ muốn được yên thân. Tôi muốn được tĩnh lặng một thời gian để có thêm cơ hội tìm hiểu chính mình và nghĩ suy về mọi quan hệ giữa người. Có thể tôi sẽ cô đơn và héo hắt như thân cây thiếu bóng mặt trời trong một khoảng trời riêng nào đó, nhưng cũng có thể là thời gian sắp tới, tôi cũng sẽ  đi tìm một tình cảm mới. Để khoả lấp khoảng trống mênh mông. Xưa nay, em cũng biết là tôi vẫn nghĩ rằng, ai đó sẽ bất hạnh lắm nếu không có tình yêu. Thiếu nó, tôi nghĩ rằng cuộc sống sẽ phẳng lờ, vô nghĩa, đời sống sẽ tẻ nhạt,chẳng có chiều sâu và con người sẽ chỉ đứng bên lề, vì không yêu nên chẳng được thương. Albert Camus  có lần viết: “Không được yêu chỉ là một xui xẻo nhỏ. Không yêu nữa mới là bi kịch lớn”. Chối bỏ xúc cảm thì cũng như  từ chối cuộc đời. Tâm hồn khô cằn, không còn rung cãm thì  khác chi cái chết? Nó là một phí phạm lớn, vì  “Cuộc đời đó có bao lâu…mà hững hờ ”. Và trong nhận thức đó, vai trò của em trong chuyến hành trình của tôi giữa cõi đời có lẽ đã thật sự chấm dứt.

Tôi đã nghĩ như thế dù vẫn chưa quên  tin nhắn cuối cùng của em : “Nói chuyện với anh xong, em thấy buồn thêm, buồn thẫn thờ luôn đó.Nhưng không dám trách anh. Em luôn mang lại cho anh niềm đau. Nhiều quá. Em không biết làm sao để anh không buồn nữa. Mọi chuyện đều do em gây ra và phải chấp nhận thôi. Chúc anh vui khoẻ, hạnh phúc “. 

Bây giờ em lại trách tôi sao? Chính em  là người đã dành cho tôi số phận cay đắng “để giải thoát đời nhau“, để tìm một “danh phận”, mà!  Còn tôi?  Tình cảm của tôi trước nay vẫn không thay đổi . Nói trắng ra là vẫn còn yêu thương em, nhưng tôi biết là từ biến cố ấy, chúng ta sẽ không đủ can đảm gặp lại mà mang trên người bộ mặt bình thản như xưa. Sau cơn đau chí tử chắc tôi sẽ nhìn em bằng con mắt đầy sợ hãi, vì bản tính thất thường, sống với em mà lòng tôi luôn lo sợ chút hạnh phúc mong manh sẽ bất thần biến mất. Mọi chuyện đau buồn đã đốt cháy niềm tin và chúng mình không thể trở lại bên nhau, bởi trên cuộc đời này làm gì có phép lạ có thể biến những khổ đau mất mát hôm qua thành niềm hạnh phúc ngày mai?

Bây giờ thì ….Thời gian ba tháng đã trôi qua, nhưng nghĩ lại tháng ngày xưa cũ của chúng mình thì nỗi đau vẫn không tắt mà càng ngày càng dày nặng trong tâm hồn tôi; Và nếu đau buồn là một cái gì cụ thể thì chắc nó sẽ nặng như đá tảng. Hạnh phúc đã qua, nỗi buồn vẫn âm ỉ cháy và tôi càng thấm thía về lời nhận xét sâu sắc của Albert Einstein: “Khi nghĩ  về hạnh phúc thì hạnh phúc đã mất. Nhưng nhớ đến nỗi đau, thì nỗi đau ấy vẫn còn.”

Nhưng dù sao thì tôi cũng xin cám ơn em. Vì nhờ em mà tôi có được một khoảng đời hạnh phúc. Được thấy ánh hào quang của nỗi đam mê, say đắm. Vì có biết bao người trên cõi đời này vẫn sống, vẫn ăn, vẫn ngủ…nhưng chắc gì đã hưởng được cái không khí ngất ngây của ái tình. Vì đã có mấy ai suốt cuộc nhân sinh có được những giây phút xuất thần như thời gian tôi sống cùng em? Tôi yêu em đến vắt kiệt tâm hồn, nhưng cũng chính quãng thời gian mình là  “máu thịt của nhau “ tâm hồn tôi đa dạng và  phong phú nhất. Đó là một an uỉ, dù ngoái lại, nó đã đốt cháy tuổi trẻ, dằn vặt, đớn đau nhưng cũng đã mang theo những khoảnh khắc hạnh phúc hơn tất cả.

Gặp em xong, suốt đêm qua tôi không sao ngủ được. Đêm, tôi nằm nghe tiếng lá cây xào xạc, rồi hoang mang, trăn trở với những ý nghĩ  đốt cháy cõi lòng. Chuyện tình của chúng ta lướt nhanh qua trí nhớ như một đoạn phim buồn, trước mắt tôi hiện lên khuôn mặt em tranh tối, tranh sáng, chớp tắt, xanh rờn như soi bỡi ánh lân tinh của bầy đom đóm. Hạnh phúc cũng tràn trề nhưng khổ đau cũng nhiều khi bùng dậy, quất mạnh, như bão thốc lên thể xác, linh hồn. Tôi chẳng biết quyết định ra sao, thấy mình lênh đênh dật dờ trên đỉnh cao cơn sóng và chỉ muốn quên hết mọi điều.Tôi không ngủ, có lúc mong chờ ánh sáng ban ngày mau đến để soi rõ ý tưởng mình phải làm gì, nhưng cũng có lúc  thẫn thờ bước ra ban công, mắt đăm đăm nhìn mảnh trăng lưỡi liềm treo lơ lửng trên bầu trời thăm thẳm. Hình như có lúc tôi đã thấy một ánh sao băng, rơi xuống rồi tắt lịm như một chuyện tình nào đã và đang mờ dần trong trí nhớ.

Thật lòng, có lúc tôi tự trách mình đã làm em thất vọng và bỏ đi. Nhưng gia cảnh tôi nghèo quá, ngoài những nỗ lực mà tôi luôn cố gắng để vươn lên, để vượt qua số phận của chính mình, tôi còn biết làm thêm gì khác? Thôi thì đành chấp nhận, nhưng trước khi mất nhau vĩnh viễn tôi vẫn còn vương một thắc mắc, là, sống bên tôi, em đã đổi dạ  từ bao giờ? Từ bao lâu, em tin rằng một gã Việt  kiều, chưa gặp, từ  Mỹ về sẽ mang đến cho em giàu sang và hạnh phúc? Từ bao lâu, em đã âm thầm liên lạc qua mail, “chat” với gã? Em đã hoàn toàn thông cảm và trong vài lần gặp đã “yêu” người đó? Hay chỉ tự ép mình theo một sự tính toán của gia đình, gạt bỏ những tình cảm đang có với tôi? Em  bằng lòng kết hôn, tìm chút “danh phận” với người ta vì thật sự yêu thương, quý mến hay chỉ đặt mình trong khuôn khổ, chấp nhận sống suốt đời với một người chưa chắc hiểu được em. Để chịu đựng nhau? Để có một cuộc sống vật chất đầy đủ hơn những gì mà tôi mang lại? Ôi chao, xưa nay đã mấy ai có thể bó buộc tình yêu phải phục tùng theo những con tính mà sống chung hạnh phúc? Chắc em cũng biết  là không có tình yêu, ăn đời  ở kiếp chỉ là một cuộc ép xác, chứ làm gì có được niềm vui? Em thừa thông minh để đánh giá đúng những “được””mất “ này mà !

Một sáng thứ bảy em đã bỏ  tôi, bây giờ lại muốn quay về? Em  trở lại vì gã Việt kiều đã cao chạy xa bay hay vẫn còn “yêu thương” tôi?  Vì tôi là người hiểu em hay thật sự vì tôi vẫn còn “sáng giá” hơn những người đàn ông đang vây quanh em lúc này?

Đã quyết đoạn tuyệt, chia lìa, đã biết là mình không thể trở lại, tình cảm chúng ta sẽ rất nhạt mờ, nhưng không biết sao trong lòng tôi vẫn còn cố tìm một lời giải thích. Giờ đây, sự việc đã an bài, tìm hiểu nguyên nhân để làm gì nữa? Phân tích, tìm hiểu…có khác nào tôi vẫn còn muốn biện minh và còn cố tình bào chữa cho em? Thế nghĩa là sao, em? Nếu không phải, là dù không  thừa nhận, trái tim tôi vẫn còn thương yêu em, lắm lắm! Giải thích, để khỏi day dứt? Bám vào lý lẽ cố tìm như một cái phao, để vững tâm hơn về những quyết định, hay chỉ để chứng tỏ sự thiếu niềm tin vào lối rẽ của mình… vì cứ thấy tình cảm mù mờ, còn lý lẽ càng viện dẫn càng chưa thuyết phục và cuối cùng rơi vào mê lộ. Tất cả chỉ có lẽ là  từ rất lâu  em đã trở thành một phần của đời tôi, và thú thật, cho đến giờ này tôi cũng chẳng biết làm sao để xoá chúng đi trong trí nhớ! Chỉ mới đêm qua thôi, nằm trăn trở và nhớ lại những lời yêu thương xưa vang vọng từ một cõi tận cùng trong ký ức… tôi có cảm giác như những mũi kim chích vào trái tim trống rỗng. Vị ngọt xưa không còn nữa, cái còn lại chỉ là  những dư vị chát đắng  lan toả và thấm trong từng sớ thịt để cảm nhận trọn vẹn tiếng nấc trong lòng mình đau đớn. Đó phải chăng … dù muốn buông xuôi , nhưng trong đáy sâu tâm thức, trái tim tôi vẫn còn gắn bó da diết với mối tình vừa tan vỡ.

“Anh ơi, em không biết nói bằng thứ ngôn ngữ mầu nhiệm nào để làm vơi đi nỗi thống khổ và tiêu tán nỗi đau mà em đã tạo cho anh”. Tôi đã im lặng lắng nghe, lòng liên tưởng đến những điều bình thường mà chỉ khi mất đi  người ta mới chợt hiểu rằng cần thiết. ” Mình trở lại với nhau đi anh. Xa anh rồi em mới hiểu được tình cảm đã dành cho anh. Chưa ai có được! Lúc nào anh cũng có trong em. Xa anh rồi em mới quý tình yêu.Tất cả những mất mác em gặp cũng không bằng đã để mất anh.Về lại với em đi anh. Em sẽ không để mất anh nữa đâu. Em yêu anh. Bây giờ thì em biết chắc điều ấy”. Gịong nói của em tha thiết và dịu dàng, say đắm và thương yêu, trong đó có chút hối tiếc, khổ tâm, hoà vào nhau, quyện vào nhau ,vừa vỗ về vừa quyết liệt. Chưa bao giờ tôi nghe thấy trong giọng nói của em có cái âm sắc như  hôm ấy.   “Em rất ân hận vì những việc đã làm.  Tha thứ cho em đi anh. Cho em xin lỗi ! ”  Tha thứ? Xin lỗi? Chỉ  thế là xong sao? Thì ra …em vẫn tham lam như ngày nào. Chỉ tiếc là phù phép của em  giờ  đã không còn hiệu nghiệm. “ Em còn muốn nói thêm gì nữa? Trở lại với nhau? Khi yêu, tôi có thể chết vì mất em. Lúc em bỏ đi, tôi như đã chết. Nhưng giờ nếu em  về  tôi sẽ không sống lại. Bởi người ta chỉ chết có một lần. Lúc cô đơn, tôi đã nghiệm ra rằng, hạnh phúc phải tự mình cảm nhận chứ đâu phải do em mang lại. Nó độc lập. Từ tâm mình . Lệ thuộc vào bất kỳ ai  thì trước hoặc sau gì cũng chỉ nhận được những thất vọng và khổ đau”. 

Có lẽ em đã nhìn thấy nét đau đớn hiện lên trên khuôn mặt nhăn nhúm của tôi, nhưng giọng nói  của tôi sao thật bình lặng. Và, trong nỗi bình lặng ấy, có lẽ chỉ có tôi mới âm thầm nghe hết tất cả nỗi nhức buốt vì quyết định của chính mình.

Tôi sẽ đau lòng lắm với quyết định này, nhưng dầu sao thì cũng phải cố quên em, bỡi quan hệ tình cảm của anh em mình là một mê cung , trong đó chúng ta đã bị dòng xoáy làm cho quay cuồng, đôi khi tự đánh mất mình lúc nào không biết. Rồi trên quãng đời phiêu du vô định này đây, nếu có khi hoàn cảnh trớ trêu buộc chúng ta phải rẽ vào một lối khác, tôi chỉ thầm mong và hy vọng là cho đến cuối đời, phút nhắm mắt xuôi tay  chẳng  có gì phải ân hận, day dứt.. để không bao giờ  rơi vào tình huống “sẩy chân một bước hận nghìn thu”.

Sự chọn lựa cuối cùng, lần này là của tôi, không biết có đúng không ? Ai  mà biết được ! Tôi chỉ hy vọng là mình đã suy nghĩ kỹ . Thời gian  chung sống vừa qua có thể đã làm những viên thuốc bọc đường  tan ra, độc dược ngấm vào máu , lan toả đến tim và não, tình yêu của chúng ta khó thể sinh tồn. Hơn nữa, anh em mình khác nhau quá nhiều, chỉ còn nước đành đọan chia tay và ngậm ngùi chia cắt. Như thể tôi là giống rồng,  còn em thuộc giống tiên, dù chưa có trăm con nhưng không thể tiếp tục sống chung, kẻ lên nguồn, người phải xuống biển mới có thể sống còn. Đó là thân phận của dân tộc Việt , của tình yêu đôi lứa đã trót  sinh ra và lớn lên trên mảnh đất khổ đau và đầy chia rẽ này./.

Trương Văn Dân

Viết tặng P,U.

Read Full Post »

Chào các bạn

Là dân gốc Nẫu, và cũng là con của Trung Học Cường Để, rất vui mừng khi được dịp đến với trang nhà.

Chúc các bạn “Quản Gia” có nhiều sức, để “đóng thuế thân” cho Ông/Bà Xã mà lại còn dành sức để tiếp đón anh chị em xa gần nữa.

Trong dịp về thăm “NHÀ” lần đầu, tôi có mang theo một món quà gởi đến các bạn. Nếu không thích khẩu vị thì mong được “thứ lẫu” cho.

Cám ơn các bạn hung lắm

Thân mến

Người gốc Nẫu


Mãi cho đến bây giờ ông vẫn chưa biết rõ, tại sao thân sinh ông lại đặt cho mình cái tên như vậy!?

Nhưng mà ông không còn có một cơ hội nào để hỏi cho ra lẽ cái lý do đó nữa, bởi vì cha mẹ ông đã qua đời từ lâu, lúc mà ông chỉ là một đứa bé chưa đầy tám tuổi. Ông được nuôi lớn bởi một người chú duy nhất mà bà thím dâu thì lúc nào cũng quá khắc khe, với đứa cháu chồng. Chính vì thế mà ông đã sống và lớn lên trong một gia đình luôn có sự kềm chế. Ông chỉ biết làm theo mệnh lệnh và không được thắc mắc gì cả!

 

Thật ra, từ lâu ông cũng đã không có để ý gì đến cái tên gọi của mình, cái tên mà ba mẹ đã đặt cho ông khi vừa mới chào đời, đó là Chiêm Trường Mạnh.  

Ông biết chắc có một điều là cha ông mang họ Chiêm cho nên họ của ông cũng phải như vậy. Nhưng ông không rõ cái tên và chữ lót thì từ đâu mà ba mẹ đã lấy ra để đặt cho mình.

Ông nghĩ, giống như bao đứa trẻ khác ai cũng có một cái tên riêng để gọi, đơn giản thế thôi. Rồi ông cũng chẳng có cơ hội để thắc mắc điều ấy.

 

Mãi cho đến cái ngày ông sắp thành hôn, đã khiến cho ông có một chút suy tư về cái nghĩa của tên gọi riêng mình.

Ông không thể nào quên được cái hôm mà ông nhận rõ là cô vợ sắp cưới của mình đang vui như gặp hội.

Bỗng dưng ông cũng vui lây và chợt hỏi:

– Ở tui có cái gì mà đằng ấy lại thích và dám lấy làm chồng dzậy?

 

Cha mẹ vợ của ông là dân Bắc kỳ chính gốc, nhưng cô ta thì được sinh ra và lớn lên tại vùng Đồng Tháp cho nên cách nói chuyện của cô cũng rập khuôn như những người miền Nam cởi mở.

 

Cô nhìn ông với cái vẻ mặt hơi bẽn lẽn rồi cười cười trả lời thật khẽ, như sợ ai đó nghe được:

–    Đằng nầy thích cái tên của đằng ấy nhất, mới nghe qua là đã muốn lấy làm chồng liền hà!

 

Như còn mơ hồ, ông hỏi lại:

– Tui họ Chiêm, tên là Trường Mạnh thì có gì đâu mà khiến đằng ấy thích nhiều đến như dzậy?

Cô ta nhoẻn miệng cười duyên rồi xuống giọng:

         –  Người ta thường nói: “thấy mặt thì đặt tên” í mà, chắc là đằng nầy không đoán sai đâu!?

 

Rồi tỏ vẻ tinh nghịch một chút, cô liếc nhìn anh bằng ánh mắt thật tình tứ, hỏi rằng:

–    Còn đằng ấy thích cái gì ở nơi tui dzậy?

 

Quả thực ông rất bối rối với cái câu hỏi quá đột ngột nầy. May mà ông cũng đã nhanh trí, nhìn thấy cái miệng chúm chím cười cười như có vẻ mời mọc của cô. Ông ta nói bừa:

–    Tui thích nhứt là cái miệng của đằng ấy.

–    Sao dzậy, cái miệng của tui nó ra làm sao? Ra vẻ ngây thơ, cô hỏi lại.

 

Bỗng dưng hai bên gò má của ông hừng đỏ.

Bởi lẽ ông đang nhớ lại cái câu nói của người chú, hôm mà cả hai đang ngồi trên bờ mương nghỉ mệt sau khi vừa cày xong cái thửa ruộng lớn, chuẩn bị cho mùa lúa tới. Cô con gái của bà Bảy, bán quán đầu làng đi cất hàng về, băng ngang qua chỗ chú cháu ông đang ngồi.

Cô nầy không đẹp gái cho lắm nhưng nhìn kỹ thì không mấy tệ. Ấy vậy mà tuổi cô đã ngoài 40 nhưng vẫn chưa có được một tấm chồng như thiên hạ. Thấy chú cháu ông, cô vội mở miệng cười chào:

–          Chào Bác, chào cậu. Sao lâu rồi không thấy hai người ghé quán của má tui uống rượu. Chắc là bận rộn cho kỳ lúa sắp tới chớ gì. Hôm nào xong việc xin mời Bác cùng cậu ghé quán ủng hộ dùm cho.

Nói xong cô không quên nở thêm một nụ cười, chào tạm biệt rồi hai chân bước nhanh như sợ trễ giờ về.

Ông quay lại nói với người chú:

–          Chị ấy có cái miệng rộng quá, chắc vì vậy mà ế chồng, phải không chú?

 

Người chú không trả lời ông, nhìn bâng quơ một lúc rồi nói:

–  “Miệng sao thì ngao dzậy”.

 

Lúc đó quả thật ông không hiểu nổi chú mình muốn nói cái gì. Người chú phải mất một hồi lâu để giải thích cái ý của câu nói ấy cho ông hiểu. Cả hai cùng cười một cách thoải mái, như quên hết mệt nhọc.

Rõ ràng hai chú cháu của ông chỉ tìm được những giây phút như vậy mỗi khi thiếu vắng sự hiện diện của bà thím dâu khắc nghiệt.

 

Cô vợ sắp cưới của ông chợt lên tiếng, khiến cho ông quay về với thực tại.

–          Tui biết là đằng ấy nói xạo rồi đó, tui không thích như dzậy đâu!

 

Câu chuyện bỗng dưng bị gián đoạn khi bà thím dâu vừa xuất hiện. Cả hai đành nín thinh và làm như không có gì để nói với nhau thêm nữa.

 

Đêm hôm ấy ông không tài nào chớp mắt cho được. Có lẽ ông quá lo lắng cho cái ngày cưới hôm sau, hay là ông quá băn khoăn cho cái tương lai sắp tới của đời mình nên giấc ngủ không thể nào đến được, mặc dù ông biết rằng ông cần phải giữ sức cho ngày mai.

 

Ngủ không được cho nên cái đầu của ông nó cứ bắt ông nghĩ ngợi lung tung.

Ông chợt nhớ những gì mà cô vợ sắp cưới đã đề cập với ông chiều nay. Ông lẩm bẩm gọi lại tên mình nhiều lần mà ông vẫn không thể hiểu được là cô ta muốn nói cái gì. Ông chỉ đoán, tên mình là Mạnh, có lẽ cô ta mong mình sẽ mãi mãi như vậy, để bảo vệ đời cô. Ông nghe nói, người con gái nào cũng ước muốn có được một người đàn ông khoẻ mạnh để trao gởi cái tấm thân liễu yếu của mình.

Rồi ông lại nhớ đến cái câu nói là lạ của người chú, ông nhắm mắt cố hình dung một cách trừu tượng. Ông mỉm cười và nhắc với chính mình:

–   Để xem lời nói của ông chú quả thật có đúng như vậy hay không. Lòng ông bỗng dưng nôn nao khó tả khiến cho giấc ngủ lại càng không dễ đến !

                                           

 

Rồi tháng ngày cứ trôi nhanh cùng với dòng đời nổi trôi của hai vợ chồng ông. May mắn thay, ông bà  đã dẫn được hai đứa con cùng nhau đến Úc, theo diện thuyền nhân tỵ nạn. Cũng giống như hầu hết những người mới định cư, ông bà đã dành trọn thì giờ để lo cho việc kiếm tiền xây dựng lại gia đình và chăm sóc con cái.

 

Nhiều lần ông cũng đã cảm nhận được rằng, bà vợ của mình dường như không mấy gì vui. Sở dĩ ông cảm nhận như thế là do ông thường nghe được những tiếng thở dài, dù rất khẽ, theo sau những lần gắn bó vợ chồng.

Ông lại đoán, có lẽ vợ mình quá lo lắng vì món nợ nhà còn nhiều. Nghĩ thế, ông đã phải hạ quyết tâm làm việc nhiều hơn nữa. Không lúc nào ông dám bỏ qua những giờ phụ trội ở cái hãng mà ông đã làm hàng chục năm liền.

Nhưng rồi ông cũng vẫn không thấy ở bà vợ mình một chút gì vui thêm, trên cái gương mặt gần như không còn nét tươi mát của những ngày xa xưa kia nữa.

Ông căm hờn oán hận và âm thầm nguyền rủa, vì cho rằng mụ vợ già của mình quả thật quá tham lam!

 

Bây giờ ở cái tuổi ngũ tuần, gánh nặng gia đình có phần vơi đi khá nhiều. Thằng con trai thì đã trưởng thành và có việc làm ổn định, đứa con gái thì đã theo chồng về tiểu bang khác. Cho nên ông bà cũng đang dự tính cái chuyện hưởng phước ở tuổi cuối đời. Ông chỉ cầu mong cho mình được bình yên trong khoảng thời gian còn lại.

 

Mấy lúc gần đây, báo chí và nhiều người đang xôn xao bàn tán  về những mẫu tin liên quan đến cái viên thuốc có màu xanh nước biển, mà được xem như là thần dược cho cánh đàn ông. Cũng chính vì cái viên thuốc này mà nó đã làm đổi đời nhiều cặp vợ chồng, trở nên tốt cũng có mà biến thành xấu cũng nhiều.

 

Cũng từ những ngày ấy, chuyện phòng the dường như được bàn tán nhiều hơn, ở nhiều nơi cũng như với nhiều người kể cả phái nữ. Bà vợ ông cũng tham dự các buổi bàn thảo khá thường xuyên cùng các bà bạn vào những dịp họp mặt của những gia đình quen biết tại trại tỵ nạn. Nhưng mấy ông chẳng cần để ý tới vì đang bận nhậu.

 

Và cũng từ những ngày ấy, vợ ông đã không ngần ngại thường xuyên nhắc nhở ông rằng, nên đến gặp bác sĩ gia đình để kiểm tra sức khoẻ.

Ông cảm thấy mình không có bệnh gì cả, kết quả thử máu tổng quát tháng rồi cũng được cho biết là rất tốt. Ông không hiểu tại sao mấy lúc gần đây bà vợ cứ mãi lo lắng về mình.

 

Mấy lần đến gặp bác sĩ gia đình, ông cũng được cho biết là sức khoẻ của ông không có gì đáng ngại. Bác sĩ có đề cập đến chuyện quan hệ vợ chồng nhưng ông đã trả lời rằng, chuyện ấy cũng vẫn bình thường.

Bình thường theo nghĩa của ông là không mấy gì thường xuyên. Chuyện đó dường như vợ chồng ông đã lơ là từ lâu.

Bác sĩ có khuyên ông hãy nên để ý đến điều ấy nhưng ông chẳng cần quan tâm vì cho rằng tuổi mình thì đã lớn.

 

Cho tới một hôm, cái hôm mà vợ ông bắt ông phải ăn hết cái tô súp gà đen, hầm với thuốc bắc. Ông không hiểu gì cả, nhưng tánh ông thì đã quen làm theo mệnh lệnh, từ khi còn nhỏ. Thấy vợ mình có vẻ hồ hởi sau khi nhìn ông ăn hết tô súp, ông cũng cảm thấy vui lây. Cái niềm vui trong sự chăm sóc của vợ mình. 

Nhưng cái niềm vui vừa mới khởi phát ấy bỗng dưng tắt lịm, ngay giữa đêm hôm đó, từ lúc ông nghe rõ tiếng thở dài của bà vợ theo sau câu nói khe khẻ:

–          Dở ẹt, quả thật con người không giống với cái tên, rõ chán!

 

Nỗi buồn đã thúc đẩy ông đến gặp bác sĩ gia đình một lần nữa, để trình bày cái nỗi sầu khó nói của riêng ông.

Vị bác sĩ đã phân tích tình hình sức khoẻ và khuyên ông những gì nên làm cũng như những gì nên tránh hầu đạt được cái điều mong ước ấy. Thêm vào đó, ông đã ghi một cái toa thuốc 4 viên, sau khi căn dặn thật kỹ cách dùng cũng như cho biết vài phản ứng phụ của nó có thể xảy ra, ở một vài người.

 

Ông rất tin vào những gì mà bác sĩ của mình đã nói. Nhưng ông muốn biết thêm cho chắc chắn nên ông hỏi lại, người mà ông đã nhận làm bác sĩ gia đình từ những ngày đầu đến định cư tại Úc. Ông bác sĩ này, đoán chừng hơn 10 năm tuổi.

        Thưa bác sĩ, cho em được hỏi:

–   có bao giờ bác sĩ dùng thử cái viên thuốc nầy chưa, liệu có hiệu quả như đã nói hay chăng?

 

Ông bác sĩ vội cúi xuống như muốn viết thêm gì đó vào hồ sơ bệnh lý, rồi trả lời với một vẻ mặt như đang suy tư:

–          Tôi cũng chưa cần phải dùng đến nó bây giờ.

 

Thoáng nghĩ, chắc ông ta là bác sĩ cho nên đã biết cách để giữ gìn sức khoẻ, vì vậy mà chưa rơi vào cái trường hợp “khó nói “như ông.

 

Nhưng ông đâu có biết rằng, ông đang hiểu sai cái nghĩa mà ông bác sĩ đã muốn nói ra.

Sở dĩ ông bác sĩ bảo chưa cần dùng đến nó bỡi vì, sự thực là bà vợ đã không cho ông một cơ hội nào để được dùng đến. Tuổi của bà thì đã xế chiều mà lại không muốn chồng mình nghĩ tới chuỵện ấy, sợ làm mất đi cái danh dự của một người thầy thuốc!

Nhiều đêm trằn trọc không ngon giấc, ông bác sĩ cũng đã thầm trách là tại sao người ta không chịu khám phá ra cái viên thần dược nầy sớm hơn.

Rồi ông lại lẩm bẩm một mình:

–         bây giờ thì đã quá muộn với tôi!!!

 

Rời khỏi phòng mạch bác sĩ với cái toa thuốc trên tay, ông đang phân vân là nên mua nó ở tiệm thuốc nào. Ông không muốn trở lại cái tiệm thuốc mà vợ chồng ông thường mua, vì thấy hơi kỳ kỳ. Ông đi một vòng Cabramatta thử xem tiệm nào có nam dược sĩ thì ông sẽ ghé vào. Tìm mãi không được như ý mong. Ông quyết định, hãy tìm đến vùng phụ cận may ra sẽ không gặp được người quen.

 

Bước vào cái tiệm thuốc tây có máy lạnh, cảm thấy khoẻ hẳn người ra vì ông đã mất khá nhiều thì giờ để đi tìm, trong một ngày nắng gắt. Ông thấy một hàng người đang đứng chờ trước quầy. Nhưng không thấy ông tỏ vẻ gì lo lắng, vì nếu ông có phải chờ lâu thì cũng chẳng sao, ông đang cảm thấy thật thoải mái trong cái phòng có máy lạnh nầy.

Điều đang làm cho ông lo sợ chính là cô bán thuốc, mà ông chẳng biết có phải là dược sĩ hay không. Ông hơi ngần ngại vì cũng không thấy một người nam nào trong tiệm. Chính sự ngần ngại ấy càng khiến cho ông do dự và quyết định nhường chỗ cho vài người đến sau.

Thật sự thì không chỉ vì cái ngần ngại có sẵn riêng ông, ông đã lần lựa cũng vì  ông trông thấy cô bán thuốc sao mà tươi mát quá. Ông muốn có nhiều thì giờ để được chiêm ngưỡng.

Ông lẩm bẩm, như chỉ đủ cho một mình ông nghe:

–          Vùng nầy lại có cô bán thuốc hấp dẫn quá, mấy cô dược sĩ ở Cabramatta không thể nào sánh được!

Ông mãi liếc nhìn cô, như muốn nuốt trọn vẻ đẹp trong cái bộ áo mùa hè rộng cổ.

 

Cô bán thuốc nhìn thấy ông có dáng vẻ hơi lạ, nhưng vì quá bận rộn cho nên cô cũng chưa kịp nghĩ gì. Mãi đến lúc cô ta chợt thấy ông vụt quay nhanh ra cửa, lưng ông quằn xuống với hai cánh tay ôm vòng qua bụng.

Như một phản ứng nghề nghịêp, cô sợ ông ta sắp đột quỵ vì căn bệnh đau tim hay có thể là ông ta đang lên cơn đau bụng nặng.

Bước nhanh ra khỏi quầy và chạy tới đứng đối diện với ông. Cô cúi thấp hơn nữa để có thể nhìn được mặt ông, rồi hỏi:

–          Ông có sao không, ông cần mua thuốc gì nào. Cho tôi xem cái toa, tôi sẽ giải quyết ưu tiên cho ông. Thành thật xin lỗi, vì tôi đang bận rộn nên không phục vụ cho ông sớm được.

Cô ta nói một hơi dài, nhưng ông thì không nghe gì cả.

Dường như ông đang chú ý đến cái mặt dây chuyền của cô, mà nó được treo lủng lẳng trước ngực bằng một sợi dài quanh cổ.

 

Ông lại càng gập người thấp hơn và bước nhanh ra cửa, như muốn chạy trốn một điều gì.

 

Một lần nữa, cô bán thuốc lấy làm lạ với cái người khách khá kỳ dị nầy. Nhưng có nhiều khách hàng đang đợi nên cô không có thì giờ để nghĩ gì thêm.

 

Một lúc sau, khi mà chỉ còn có một bà khách quen, đang chọn mua mấy lọ thuốc bổ xương. Cô mới định thần nghĩ lại cái chuyện vừa mới xảy ra.

Một thoáng rất nhanh, cô nhớ lại hình như có một vật gì lộm cộm nằm dọc theo túi quần của ông ta. Cô ráng hình dung trở lại liệu xem có món hàng nào mà mình đã bị ông lấy trộm. Lạ thật, cô không thể nghĩ ra một cái gì đó đã bị mất cắp.

 

Rồi không biết cô nghĩ gì mà hai má của cô bỗng dưng hừng đỏ và đôi mắt thì lại nhắm nghiền, người như bị chao đảo muốn ngã. Bà khách hàng thấy vậy liền gọi lớn, từ phía đằng xa:

–          Cô ơi, cô có làm sao không. Coi chừng cô trúng gió, cô ráng vịn cái bàn đừng để ngã, tôi sẽ tới ngay.

 Bà vừa chạy nhanh tới gần vừa lẩm bẩm- Trúng gió mà nhập thổ thì khó cứu!

Cô mở mắt ra, đầu lắc nhè nhẹ và nói:
– Cám ơn bác, cháu không sao chỉ hơi choáng váng một chút.
Bà khách bảo:
– Coi chừng cơ thể cô nó thiếu chất gì đó. Năm xưa bác cũng bị như vậy một thời gian. Bác sĩ khuyên nên tẩm bổ đầy đủ, quả thật đúng như lời ông đã nói. Bây giờ chuyện ấy không còn xảy ra nữa.
Cô gật đầu như đồng ý với bà, nói nhỏ:
– Chắc là cơ thể của cháu đang thiếu một chất gì, như lời bác nói!

Bà khách trả tiền và bước ra gần cửa, không quên quay lại nhắc cô là cần phải cẩn thận.

Riêng ông, ra khỏi tiệm thuốc một lúc ông mới dám đứng thẳng lên được, xé cái toa thuốc thật nhỏ rồi ném nó vào sọt rác của council, đặt dọc theo hai con đường phố.
Ông nói với chính mình:
– Cái mà tôi cần tới quả thật không phải là mấy viên thuốc nầy!

Rồi lại nghe ông buông thêm một tiếng thở dài.


Read Full Post »

Sợi tóc mong manh

NAM THI

 

Con tàu gỗ tiếp tục chạy về hướng Nam, giữ khoảng cách vài kilomet dọc theo bờ biển. Trời cuối Thu âm u, nhưng biển lặng sóng. Khi tàu mới rời bến Quy Nhơn, nhiều hành khách còn ngồi trên boong nhưng đến lúc nầy hầu hết đã chui vào hầm tàu tìm chỗ nằm, nhiều người bắt đầu nôn mửa, chỉ còn lại bác tài công trong ca-bin và ba người ngồi lại ngoài buồng lái có mái che: Minh, một anh lính nhảy dù và một cô gái.

 

Tàu chạy được nửa giờ, có lẽ bắt đầu vào địa phận Phú Yên. Trên bầu trời hướng Tây, phía bờ biển hai chiếc máy bay khu trục Sky raiders đang quần đảo phía trên những cột khói đen lan tỏa vào những đám mây xám. Anh lính dù quay lại nói với bác tài công:  “Chắc đang hành quân giải tỏa đoạn gần đèo Cù Mông, đúng không?”. Bác tài công miệng phì phèo điếu thuốc, nói đùa : “ Chắc vậy. Đứt đường như cơm bữa mà, có vậy mới có khách đi tàu. Bình thường thiên hạ leo hết lên xe đời mới của Phi Mã, Phi Long, Tiến Lực, ghe tàu bọn tôi đói meo…”. Anh lính dù cười: “ Vậy là bác ủng hộ VC cắt đường ha…?”. Bác tài ném điếu thuốc xuống biển dãy nảy: “ Nói thế chết tui…”. Cả ba người đàn ông cùng cười và giới thiệu tên với nhau. Thuấn, tên anh lính dù, châm một điếu Bastos xanh bằng chiếc hộp quẹt Zippo, nối một điếu khác cho bác tài và quay sang Minh: “ Cậu hút thuốc chứ?” Thấy Minh cười, anh gõ gõ bao thuốc, lấy ra một điếu trao cho Minh cùng chiếc hộp quẹt: “ Thuốc Bastos nặng đấy, …”. Minh rít một hơi dài  để chứng tỏ mình biết hút, rồi gợi chuyện: “ Tôi là dân miền trên mà. Từ nhỏ đi chăn bò đã phì phèo điếu thuốc to bằng ngón tay cái, quấn bằng lá thuốc núi, hút không quen say mửa tới mật xanh. Bastos ăn thua gì, anh”. “ Vậy cậu quê ở Bình Khê, hay An Túc?”. “Dạ, Bình Khê”. “ Tôi ở Tuy Phước, dân biển. Cậu đi Nha Trang chơi à?”. “ Dạ không. Tôi chỉ ghé Nha Trang thăm ông anh đóng quân ở đó, vài hôm sẽ đi Sài Gòn…”. “ Học ở Sài Gòn à? Sinh viên trường nào?”.  “Dạ, tôi học Văn Khoa, …”. “ Tôi cũng nghĩ vậy. Trông dáng của cậu là biết ngay. Ông sinh viên văn khoa nào cũng có dáng triết gia hay nghệ sỹ…”. Minh hơi ngạc nhiên vì sự rành rọt giới sinh viên của anh lính dù. “ Vậy, chắc trước đây anh cũng học trong đó…?”. Thuấn ném mẫu thuốc xuống biển, khẽ khàng: “ Ừ. Tôi học Khoa học, không qua nổi chứng chỉ Toán Đại cương, nên đi lính. Một năm làm sinh viên cũng vui. Có lẽ đó là khoảng thời gian đáng nhớ nhất, tuy chưa hẳn là đẹp nhất vì gặm bánh my mòn răng… ha ha”. Anh lính dù ngã lưng vào thành ca-bin như muốn cắt đứt cuộc đàm thoại. Minh cũng nghĩ không nên đào sâu thêm chuyện riêng tư của người mới gặp tình cờ.

 

Cô gái mãi nhìn về phía khơi xa đang dần tím sẫm, dường như không để ý đến câu chuyện của hai người đàn ông. Minh chỉ nhìn được nửa khuôn mặt cô. Sống mũi thẳng, mắt có đuôi và lông mày xanh dài hao hao giống Tâm nhưng cô có vẻ gầy hơn Tâm. Cô lgợi cho Minh nhớ đến Tâm, người yêu của anh. Anh đang mỗi lúc mỗi xa Tâm hơn, chẳng biết có còn gặp lại nhau không. Giờ nầy chắc Tâm đang giúp mẹ nấu cơm chiều trong căn bếp nhỏ lợp tôn. Căn nhà đơn sơ trên bãi biển Khu 2, xóm dân chài và dân tản cư từ khắp vùng nông thôn trong tỉnh đổ về. Mẹ của Tâm nấu cơm tháng cho học sinh các trường trung học và giáo sinh của trường sư phạm Quy Nhơn nơi Tâm theo học năm thứ hai. Anh đã từng ăn cơm tháng ở đó cho đến khi vào Sài gòn. Minh và Tâm yêu nhau và mẹ Tâm xem anh như con rể tương lai. Cho đến lúc nầy, chắc bà vẫn tin rằng sau khi Minh tốt nghiệp và Tâm ra trường họ sẽ cưới nhau.

 

Anh lấy ve dầu Nhị Thiên Đường mà Tâm mua cho. Anh không thích mùi dầu nhưng vẫn thấm vào đầu ngón trỏ thoa lên mũi. Mùi dầu xua đi mùi tanh tanh của con tàu làm anh dễ chịu. Ít ra cũng còn chút gì đó của Tâm theo anh. Anh chợt có ý nghĩ mình sẽ giữ chai dầu ngay cả khi không còn dầu. Và biết đâu ngày nào đó gặp lại nhau anh sẽ cho Tâm xem chai dầu đó…

 

Cô gái bỗng quay lại, nói với Minh: “ Anh cho em xin chút dầu nhé. Em quên không mang theo. Em vốn ghiền dầu, do vội vàng em quên mất”. Minh đưa ngay chai dầu cho cô ta, ân cần: “ Mời cô. Sao cô không xuống dưới kia nằm cho yên, trên nầy mưa gió và dễ say sóng…”. Cô gái vừa xoa dầu vừa đáp:  “ Em không sợ say sóng mà sợ ngợp. Ở dưới kia nhiều người nằm như cá hộp, nôn mửa tùm lum. Anh đừng lo, em dạy học ở ngoài Cù lao Xanh, đi tàu thuyền như cơm bữa nên quen rồi…Sợ anh Minh là dân thư sinh chịu sóng gió không quen thôi. Em tên Xuân. Em vào Nha Trang thăm ông anh nằm ở quân y viện”. Té ra, nãy giờ Xuân đã theo dõi câu chuyện giữa hai người đàn ông. Là cô giáo ngoài đảo xa, Xuân hẳn đã trải đời và bạo dạn hơn Tâm của anh. Anh Lính chen vào: “ Tôi quên tự giới thiệu với cô em, tôi là Thuấn, còn ông sinh viên hào hoa nầy là Minh. Tôi đề nghị thế nầy: nếu vào đến Nha Trang ai nôn mửa sẽ đãi người khỏe một chầu ăn sáng. Đồng ý không quý vị?” Xuân nhanh nhẩu: “ Em nghe lén tên của hai anh rồi.Em đồng ý hai tay. Chỉ sợ anh Minh thư sinh thôi. Còn anh Thuấn là thiên thần mũ đỏ, đi tàu bay không say, chưa biết đi biển thế nào. Em chắc thắng một trăm phần trăm.” . Minh hơi chột dạ vì đây là lần đầu tiên anh đi biển nhưng không còn đường rút lui, nên phải nói cứng:  “OK. Ông vua cũng thua thằng liều mạng. Chơi luôn”. Thuấn tiếu lâm:   “Biết trước có chuyến đi nầy, tôi đã xin qua Thủy Quân Lục Chiến. Tôi vốn dân biển mà…”. Cả ba ngoéo tay nhau, cười rôm rả, khiến bác lái tàu cũng cười theo và xin làm trọng tài.

 

Càng về chiều gió càng mạnh và mưa nặng hạt dần. Thuấn và Minh bảo Xuân đổi chỗ vào ngồi giữa họ để tránh gió. Thuấn lấy từ trong ba lô con cóc ra một tấm poncho che mưa tạt vào chỗ họ ngồi. Anh cởi áo jacket khoác cho Xuân. Lúc ấy Minh mới nhận ra hai cặp hoa mai đen thêu trên cổ áo rằn ri của anh. Xuân bảo: “ Em cảm ơn anh. Trung úy Thuấn, vậy mà nãy giờ anh giấu…”. Minh chen vào: “ Tại cô Xuân không để ý anh Thuấn đã từng học đại học, nên đi lính là sỹ quan chắc rồi. Hẳn anh từ Trường Võ Bị Đà Lạt, phải không anh Thuấn?”. Thuấn cười: “ Đúng rồi. Tôi tưởng vào Võ Bị học xong mấy năm là hòa bình, ai dè đến nay vẫn đánh nhau ỳ xèo, chưa biết bao giờ mới dứt.  Ra trường người ta điều động về binh chủng Dù… Cũng thế thôi.”. Lúc gần tối, có hai chiếc ca-nô tuần duyên của hải quân chận tàu của họ kiểm tra., một chiếc cập mạn, còn chiếc còn lại cảnh giới từ xa một trăm mét. Dường như lính hải quân quen mặt chiếc tàu chợ nầy nên họ chỉ kiểm soát qua loa. Mấy chú lính hải quân trẻ măn đưa tay chào Thuấn thật nghiêm chỉnh. Thuấn chào lại. Minh có cảm giác Thuấn trở thành một người khác, lạnh như thép.

 

Đêm xuống. Biển đen như mực. Sóng vỗ mũi tàu ánh lên màu lân tinh.  Chỉ còn chút ánh sáng vàng vọt của bóng đèn điện nhỏ xíu từ ca-bin rọi ra và đóm lửa từ đầu điếu thuốc của Thuấn. Tiếng máy tàu đều đều, lẻ loi giữa rào rào sóng biển vỗ mạn tàu. Trên con tàu nhỏ bé nầy, mấy chục mạng người nằm bên nhau, giao sinh mệnh cho người lái tàu. Ở đây, họ có lẽ bình yên hơn những người trong đất liền cách họ vài cây số đang sống dưới làn bom, hòn đạn. Sóng biển dữ dằn nhưng không thù oán ai. Nếu tàu đắm, nhiều người có thể chết đuối nhưng không ai chết vì hận thù.

 

Xuân có vẻ mỏi, cô duỗi người nằm trên sàn gỗ. Minh trải chiếc khăn tắm trên túi xách của mình cho cô gối đầu. Ba người đắp chung tấm poncho của Thuấn, không những che mưa mà còn góp hơi ấm cho nhau trong suốt cuộc hải hành.

 

Gần sáng, tàu cập bến gần cầu Hà Ra. Ba người không ai bị nôn mửa. Thuấn chúc mừng chiến thắng chung của họ và làm bộ dõng dạt theo phong cách nhà binh: “ Ba anh em mình không ai thua cuộc. Tôi đề nghị thế nầy: Tôi, trung úy Nguyễn Văn Thuấn, số quân 65/24367, sỹ quan thuộc tiểu đoàn 9 Lữ đoàn dù, là người lớn tuổi nhất, nên quyết định tôi sẽ bao hai bạn Xuân và Minh một chầu ăn sáng. Đây là mệnh lệnh. Rõ chưa”. Xuân và Minh bụm miệng cười, cũng làm bộ đứng nghiêm, nói : “Rõ, xin tuân lệnh”. Bác tài công vỗ tay cười tán thưởng nhưng xin lỗi không đi theo họ được vì bận bốc hàng lên tàu cho kịpchuyến trở về Quy Nhơn ngay sau đó.

 

Trước khi chia tay, họ trao địa chỉ cho nhau.

 

Minh đi dạo dọc bờ biển Nha Trang. Biển động, sóng to, bãi biển vắng người. Anh thầm hát một khúc nhạc xưa:” Chiều này mưa thu Nha Trang im vắng, không bóng người qua…” mà anh đã được nghe nhiều năm về trước. Thành phố biển thật thanh bình, dường như chiến tranh không hề xảy ra ở đây.

 

Vài ngày nữa anh sẽ về Sài Gòn, chiến trường của anh. Ở đó, tuy không bom đạn, cuộc chiến đấu thầm lặng nhưng ác liệt. Khi ngồi trên bờ cát, anh nhớ lại chuyến đi biển đêm qua, nhớ đến Xuân và Thuấn. Dường như không có chiến tuyến nào ngăn cách họ và anh. Mặc dầu anh biết, nếu gặp nhau trên chiến trường, có thể anh và Thuấn phải bắn nhau. Biết bao giờ được gặp lại họ, tay bắt mặt mừng, nhắc lại những kỷ niệm trên biển đêm qua.

 

Anh nhớ đến bức thư Tâm trao cho anh khi chia tay mà anh chưa kịp đọc. Anh mở ví lấy bao bì màu xanh có lá thư bằng giấy pelure với nét chữ quen thuộc của Tâm. Khi mở lá thư, dường như có vật gì đó rất nhỏ rơi ra, nhỏ đến nỗi anh không kịp nhìn. Trong thư Tâm viết:

 

 Anh yêu dấu.

 

Anh về quê lần nầy là để nói lời chia tay với em. Vì thương em anh không muốn em khổ vì anh. Em cảm ơn anh đã nói cho em biết việc anh đang làm. Đối với em, lúc nào anh cũng là người em yêu. Anh cứ làm những gì anh cho là đúng. Em luôn ủng hộ anh.

 

Em không hứa là em sẽ chờ anh, nhưng đến ngày hòa bình, nếu anh còn sống, hãy về với em. Cầu mong anh được khỏe mạnh và bình yên.

 

Tâm.

 

Tái bút: Em gửi kèm một sợi tóc của em để anh giữ làm kỷ niệm vì em biết anh vẫn thích mái tóc của em. Đó là một trong những sợi tóc rụng khi em chải đầu, chứ không phải em nhổ đâu nhé. Đừng rầy oan em nhe.

 

Đọc xong bức thư, anh mới vỡ lẽ vật nhỏ rơi ra từ lá thư vừa rồi là sợi tóc của Tâm. Làm sao anh có thể tìm lại một sợi tóc mong manh đã bay theo gió biển đang thổi lồng lộng thế kia. Cũng may, vẫn còn chai dầu Nhị Thiên Đường *

 

* Nam Thi

(26-8-2011)

 

Read Full Post »

Nụ hôn buồn

Nguyễn Hữu Duyên

Khi dẫn con vào Sài Gòn thi đại học năm 2001, tôi có dịp trở lại  thăm con đường Vạn Kiếp sau hai lăm năm – con đường có quá nhiều kỷ niệm của tôi về một thời trai trẻ, về tình yêu của tôi và Huỳnh.

Hầu như lớp bạn thân thiết  hồi ấy, tôi chỉ còn liên lạc được với Trần Lộc, đang làm giám đốc Trung tâm văn hóa  quận Bình Thạnh.Và, rất may, sau bao năm biệt tin nhau, qua Trần Lộc, tôi biết Huỳnh, hiện đang công tác tại một cơ quan trực thuộc Sở điện lực thành phố Hồ Chí Minh đóng trên đường Phan Đăng Lưu. Như có điều gì đó rất mãnh liệt, không thể cưỡng lại được, thúc giục tôi phải đến gặp Huỳnh, nó giống như cỏ cây không thể không hướng về phía mặt trời mọc, như biển cả vẫn muôn đời nổi sóng.Đó là một ngày đầu tháng bảy. Tôi đến cơ quan của Huỳnh trong trạng thái bồi hồi, phấn khích đến khó tả, bởi tôi cũng không tin là mình có dịp được gặp lại cô bé mười sáu tuổi học lớp chín ngày nào.

– Xin lỗi, anh có việc gì cần sự giúp đỡ? – Huỳnh thong thả ngước lên, hỏi một cách lịch sự.

Tôi lúng túng như gà mắc tóc :
– Xin hỏi, em có phải là…
– Trời ơi! Anh Duyên, anh vô hồi nào vậy?

Huỳnh đã kịp nhận ra tôi dù một phần tư thế kỷ không găp nhau. Thế là chiều hôm  đó sau khi tan tầm ở sở làm, hai đứa lên quán nước trên một con đường nhỏ thuộc quận Phú Nhuận. Công bằng mà nói, Huỳnh đẹp hơn nhiều so với thời con gái, đằm thắm và quý phái, mặc dù đã ở tuổi bốn mốt. Đặc biệt nhất vẫn là đôi mắt đen láy, lấp lánh, và càng quyến rũ hơn so với thuở em yêu tôi.

-Em đẹp hơn ngày xưa nhiều, và nhất là đôi mắt, anh không thể quên được.

Tôi nói và nắm tay Huỳnh đặt lên bàn tay tôi, như tìm lại cái cảm giác âu yếm, ngọt ngào và dịu êm của thời bên nhau thật xa ấy nghe lòng mình một chút nuối tiếc, một chút xót xa, nghe tim mình thổn thức với  nỗi niềm của một thời yêu đương cháy bỏng, đắm đuối, và mê say… Huỳnh kể cho tôi nghe về số phận bất hạnh của em. Có chồng năm mười chín tuổi, gần ba mươi tuổi thì ly hôn. Hai đứa con trai, một đứa nghiện ma túy được đưa vào trại cai nghiện, đứa nhỏ đang học lớp mười hai. Huỳnh vẫn sống một mình đã hơn mười năm rồi. Em phải lo tất cả chi phí cho đứa con ở trại cai nghiện cũng như thằng nhỏ còn đi học. Và chồng của Huỳnh đã có vợ khác.

– Số em nó cô đơn mà! Huỳnh xoa xoa bàn tay tôi, ánh  mắt buồn buồn, nói chầm chậm.

Nói thật lòng, là thằng đàn ông, cũng không phải là thần thánh, nên  sự ham muốn sắc dục là vô cùng, nhất là khi gặp lại người yêu cũ sau một thời gian dài không gặp nhau, đã ly hôn và đang cô đơn. Trong tôi lại bùng cháy dữ dội sự khát khao được cận kề bên nhau, được tay trong tay ôm ấp ái ân dù muộn màng, dù chắp vá, dù không bao nhiêu ngày, như không thể khác được. Thế nhưng số phận đớn đau của Huỳnh đã như tảng băng đè nặng lên người tôi, bóp nghẹt cái dục vọng bản năng của tôi đối với một người phụ nữ đã từng dâng hiến trọn trái tim mình ở tuổi mười sáu, cái tuổi của mộng mơ và thật đẹp của đời con gái.

Sài Gòn lên đèn, lung linh, rực rỡ sắc màu. Tôi và Huỳnh vẫn ngồi bên nhau, như không muốn đánh mất giây phút hoài niệm này. Nó như món quà quý giá mà tạo hóa ban tặng cho chúng tôi, như chữ duyên đã được định sẵn cho hai con người đã trót không trọn vẹn cùng nhau thời còn trẻ, được một chút bên nhau khi mái tóc đã bắt đầu có một vài sợi bạc.

–   Sao em không đi bước nữa?

Huỳnh cười buồn, không trả lời câu hỏi của tôi, mắt nhìn ra đường như đang nhớ về một thời rực rỡ của con “chim én vàng” tung tăng bay lượn mà tôi đặt cho em ngày ấy, cái ngày em mười sáu tuổi. Và, bỗng nhiên trong tôi –  bao nhiêu kỷ niệm tràn về…

Nhưng để ngăn chặn những xúc cảm đến bất chợt về những hạnh phúc, đớn đau từ khi Huỳnh có chồng, tôi kể cho em nghe về gia đình của mình, một vợ hai con, đứa con lớn vào Sài Gòn thi đại học, con gái nhỏ hết hè này vào lớp mười một, và vợ tôi thì buôn bán tảo tần nuôi hai con với một chồng.

Có lẽ chuyện tôi kể về bản thân cũng như gia đình của mình như một kết thúc có hậu của một cuộc gặp tâm tình, giải bày những sẻ chia của hai con người đã có một thời yêu nhau, luôn nhớ về nhau – làm tôi trở lại trạng thái tâm lý cân bằng, đẩy lùi những bồi hồi và dục vọng khó cưỡng nổi dù chỉ là một nụ hôn dịu ngọt êm đềm nhưng nóng bỏng khát khao của ngày xưa ấy, cái ngày xưa em viết trên tấm hình của em gửi tặng tôi :

Anh về Bình Định cho em nhớ,
Những đêm dài sánh bước bên anh!

Khi đến lúc phải ra về vì trời khuya lắm rồi, Huỳnh nhìn sâu vào mắt tôi- khẽ nói :

– Đêm nay anh không ở lại với em sao? Bao năm cách biệt, anh không…

Tôi thực sự bối rối. Ham muốn của thằng đàn ông và bổn phận của người cha- giằng xé lấy tôi. Tôi về, Huỳnh sẽ bị tổn thương, nhưng nếu ở lại thì con tôi sẽ rất lo lắng, bởi không biết chuyện gì xảy ra với tôi. Hơn nữa tôi không thể để con tôi ngủ một mình khi lần đầu tiên đến Sài Gòn.

–         Anh sẽ ở lại cùng em, nhưng anh chỉ ngại một điều, là con anh sẽ rất lo lắng và sợ nhiều điều.

Điều tôi nói đã chạm vào trái tim người mẹ vốn có nhiều vất vả, cực nhọc vì con sau khi ly hôn, đã giúp tôi giải được bài toán khó. Huỳnh cười :
–         Anh sợ thằng con về mét với bà xã chứ gì? Sài Gòn rộng lớn, có quá nhiều lý do mà anh! Như ngày xưa anh bỏ họp để đi chơi với em, anh báo với chi đoàn là đi đón người thân từ ngoài quê vào, có ai biết đâu!

Tôi bật cười vì chuyện ngày xưa ấy. Huỳnh lắc lắc tay tôi :
–         Em nói vui vậy thôi. Anh hãy về để thằng bé khỏi lo. Hơn nữa…
–         Hơn nữa sao em?
–         Anh già rồi! Anh không thấy như vậy sao?

Tim tôi chợt nhói đau. Tôi biết là Huỳnh vẫn còn yêu tôi rất mãnh liệt. Tôi không phải là gỗ đá, cũng không tránh khỏi cái cảm xúc bồi hồi như thuở mới yêu, nhưng cái gánh nặng  áo cơm, trách nhiệm gia đình đã làm trái tim tôi gần như xơ cứng.
–         Anh về đi kẻo khuya trời lạnh!- Huỳnh giục tôi.

Tôi ôm hôn Huỳnh, một nụ hôn tạm biệt, dịu ngọt, và tôi nghe những giọt mặn đớn đau như đang chảy vào trong tôi, nhớ mãi, nhớ mãi… Huỳnh ơi!

 

Read Full Post »

Elena Pucillo Trương

(Bản dịch của Trương Văn Dân)

 

 

Có khá nhiều lý do để du khách lên đường du lịch : quan sát phong tục cá biệt của một dân tộc, tìm hiểu về những nền văn hoá, hay tiếp xúc với thiên nhiên, đào sâu kiến thức về  lịch sử hay địa lý…Nhưng với tôi, điều làm giàu tâm hồn nhiều nhất là khi trở về nhà, ngoài những bức hình đã chụp, chính cái cảm giác vương vấn còn lại trong tâm trí, có lẽ nhờ các  bạn đồng hành hay cảm xúc vừa trải nghiệm, đã làm cho chuyến đi  trở thành duy nhất. Và cuối cùng  cảm thấy như vừa thực hiện xong những giây phút quan trọng trong đời mình.

            Đó là cảm giác của tôi sau chuyến đi Cam bốt.

 

Rất nhiều lần tôi muốn thực hiện chuyến đi này, viếng thăm những đền đài Ankor-Wat và tham quan một đất nước, như Việt Nam, đã từng hứng chịu những điều kinh khủng trong cuộc chiến.

Thế nhưng, chuyến đi cứ bị  dời đi dời lại nhiều lần, may là cuối cùng  vợ chồng tôi cũng có thể khởi hành và, chúng tôi chọn chuyến đi bằng pullman được tổ chức bỡi một công ty du lịch tại Sài Gòn.

Thường thì tôi thích đi bằng xe Pullman hay xe Bus bỡi vì muốn được di chuyển cùng dân bản xứ : Tôi nghĩ là chỉ bằng cách đó tôi mới có dịp học hỏi, quan sát hiểu thêm các phong tục tập quán của một dân tộc. Hơn nữa, một chuyến đi như vậy thường rất vui  và có nhiều kỷ niệm. Bởi, làm “du khách”chung  với những người ngoại quốc khác, theo tôi  sẽ có nhiều giới hạn về kiến thức về cuộc sống của một nước.

 

            Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ một chuyến đi chừng một giờ  trên xe Bus, tuyến Sài Gòn-Biên Hoà. Trên xe có tài xế, cô gái bán vé và một phụ xe. Nhiệm vụ của anh này là “ bắt ” các hành khách đang đợi ở dọc đường hay đứng chờ ở bến. Dọc theo tuyến đường có những quãng không có  bảng hướng dẫn hay trạm chờ  xe và hành khách  phải đón xe ở   bất kỳ một chỗ nào đó trên đường. Tôi đã thấy một người đàn ông, để tài xế xe bus thấy, ông phải chồm ra gần giữa lòng đường, thách thức những chiếc xe máy chạy vun vút, đứng vẫy vẫy tay, và khi xe bus gần đến, tài xế giảm tốc độ nhưng không dừng hẳn, ông được  anh phụ xe “túm” lấy  và kéo lên xe!

 Trước khi đến một bến dừng, anh phụ xe giơ hai tay vẫy vẫy, có khi nghiêng cả nửa người ra ngoài thành xe và nói lớn báo cho khách đứng chờ hãy sẵn sàng. Xe chưa kịp dừng lại thì anh đã nhảy xuống và thuyết phục khách hãy leo lên xe bus của mình, chất lượng cao hơn các xe khác, để đến đích mà họ cần.

Dường như có một lý do sinh tử chèo kéo nhiều khách bao nhiêu có thể. Và tất cả các điều này xảy ra trong tiếng cười, hò hét, kêu gọi, nhảy xuống, trèo lên khi xe còn đang chạy, giữa những gói, thùng hàng xách tay.

Cho đến bây giờ như vẫn còn nguyên trước  mắt tôi cái nhìn lanh lợi và lém lỉnh của cậu thanh niên đó, thân hình tuy mảnh khảnh nhưng hàm chứa một sức lực dồi dào, hai ống quần của chiếc quần jean được  gấp lên cho gọn gàng phơi rõ hai bàn chân to bè trên đôi sandale đầy bụi. Nhưng điều làm tôi lưu ý là trên thân hình hơi gầy ấy có chứa một sức mạnh, thứ sức mạnh cần thiết để trưởng thành trong vội vã  để có thể chiến thắng sự nghèo nàn.  Tôi nói  cám ơn  và mỉm cười, khi cậu ta cũng giúp tôi, một người ngoại quốc bước xuống  xe bus còn đang chạy chậm…

 

Và cũng như thế, trong chuyến đi  Cam Bốt  tôi  cũng là người ngoại quốc duy nhất trên xe. Sau vài giờ di chuyển chúng tôi đến biên giới Việt Miên và sau các thủ tục kiểm tra hộ chiếu, tất cả các hành khách phải chuyển sang một chiếc xe nội địa khác. Bên cạnh người hướng dẫn tên  Nam, lúc này còn có thêm một nữ hướng dẫn viên khác, một cô gái người Cam Bốt mà trước đây cùng gia đình đã  trốn sang Việt nam để tránh hoạ diệt chủng của Polpot. Cô theo học ở Đại Học Cần Thơ và sau khi hoà bình lập lại, cô đã trở về Cam Bốt, khai thác vốn kiến thức và  khả năng  nói thạo tiếng Việt cho ngành du lịch.

 

Đây không phải là lần đầu tiên hai người này làm việc chung để hướng dẫn du khách. Họ biết rất rõ các điểm cần đến hay nên dừng lại. Họ cung cấp cho du khách các thông tin cần thiết, thí dụ như nên tranh thủ ở các điểm dừng, vì  trên xứ Cam Bốt rất khó tìm được nhà vệ sinh, và, nếu ai đó có nhu cầu, chỉ còn cách chạy ra đồng, nép mình sau một thân cây hay một bụi rậm.

Nơi chúng tôi dừng lại để ăn uống thường cũng là nơi tụ tập của các người bán hàng rong. Họ bán đủ thứ, từ  hoa quả đến những thứ đặc biệt để ăn…và chính vì thế mà, tôi, vì tò mò đã cố lấy can đảm để cắn thử một cái chân nhền nhện chiên giòn.

 

Sau khi đến Seam Reap, một thành phố đầy khách sạn, cửa hàng, tiệm matsa và các tiệm ăn, nhà hàng… tất cả như được chuẩn  bị để chào đón du khách đến thăm các đền đài miếu viện của  Ankor Wat.

 Ngay từ sáng sớm chúng tôi đã phải xếp hàng để chụp hình ở một trạm gác và sau vài phút các nhân viên ở đây cấp cho chúng tôi một  tấm vé có hình để có thể tham quan các ngôi đền.

Đối với tôi, hình ảnh làm tôi xúc động nhất, hơn cả Ankor Wat,   chính là những phế tích và những rễ cây  hoá thạch của Ankor Thom. Tất cả  hình như được bao phủ bởi một lớp bụi của thời gian và rơi vào quên lãng, xung quanh chỉ còn muôn ngàn tiếng gào thét của ve sầu… Một thành phố bị bỏ quên, bỗng dưng sống lại nhờ những hoa văn khắc sâu trên đá và làm cho chúng ta  nghe được hơi thở của một nền văn minh của dân tộc Khmer, đã bị người Thái tiêu diệt  và  tàn phá.

Vượt lên trên những nguy nga của đền tháp Ankor Wat chính là những khắc hoạ Khmer  dưới chân  những tường đá của  Ankor Thom. Những hoa văn đó mới là những bằng chứng hùng hồn về một dân tộc cần cù và trí tuệ . Họ đã khắc lên đá những hình ảnh bình lặng thường ngày, nấu ăn, câu cá và chinh phục cá sấu, tuy nhiên bên cạnh những hình ảnh thanh bình đó, vì trớ trêu của lịch sử, còn có những hình ảnh của chiến tranh, chiến đấu chống lại  đội quân  xâm lăng của Thái lan trên  mặt biển. Sau khi chiến tranh chấm dứt, nhân dân được hưởng cánh thái bình, họ tìm sự thư giãn với những nhạc cụ,  để đệm nhạc cho các vữ nữ, hay đúng hơn, các tiên nữ trong vũ điệu  “Apsara”  mê hồn : Một vũ điệu trong đó các động tác đều rất chuẩn mực và  nhịp nhàng,   các chuyển động vô cùng quyến rũ, các bàn tay, ngón tay được uốn  cong một cách điêu luyện  cùng với thân hình uyển chuyển, uốn lượn, gợi cảm trong mong cầu phồn thực…tất cả những điều đó đều đã trở thành thành bất tử nhờ các khắc hoạ trên đá, giờ đây đang hứng chịu những đổ nát sau nhiều thế kỷ thách đố với thời gian.

Chúng tôi đứng như bị thôi miên trước những cái nhìn và các khuôn mặt của đức Phật được khắc hoạ một cách sống động trên đỉnh tháp, mặt hướng về bốn hướng Đông Tây Nam Bắc. Hình tượng đó còn được lập lại trong một  hành lang dài được trang trí bằng những vòng cung dọc theo một lối đi có những bậc thang lên xuống, tất cả  các nét mặt hiền từ, miệng mỉm cười, với đôi mắt nửa nhắm nửa mở,mà đặc biệt là  không có khuôn mặt nào giống khuôn mặt nào. Cuối hành lang có một cầu thang 80 bậc, được kiến trúc và xây dựng một cách đặc biệt để những kẻ đến đây phải tỏ lòng tôn kính : Những bậc thang rất hẹp , và  ngắn, để những  kẻ viếng thăm tượng Phật trên đỉnh tháp phải cúi mình, tư thế bắt buộc phải giữ cho khỏi ngã khi leo lên , rồi khi đi xuống…họ cũng  buộc phải giữ tư thế như lúc  đi lên, vì bậc thang rất dốc,  để giữ lòng tôn kính và  khỏi phải xoay lưng về phía Phật.

Đây là một trong những kỳ quan của thế giới, và các dân tộc trên thế giới tham gia cùng Unesco với ước muốn bảo tồn. Nhìn chung, Ankor Wat là một sự kết hợp kỳ diệu của đá, từ những khối có kích cỡ trung bình đến những viên nhỏ vài centimét đặt khít vào nhau tạo thành những cột đá bền vững, đứng bất động giữa thiên nhiên như một sự thách thức về luật cân bằng. Tuy nhiên, nắng gió đi qua, cũng có những  đống đá đổ nát  nằm dưới chân đền như chứng tích về sự mỏi mệt với thời gian. Bên cạnh những khu vực đang được tái tạo, người ta còn thấy có những ngọn tháp đổ  xuống, các tảng đá lớn nhỏ  nằm ngổn ngang, rời rạc…trông giống như một  nỗi thống khổ của Sisifo (Sisyphe), cứ tiếp tục lăn tảng đá lên đỉnh núi và khi tới đỉnh nó lại lăn xuống vực.

 

Nhiều người nói là có những nơi trên trái đất  mà chúng ta cần  phải đến ít nhất một lần trong đời. Trong trường hợp đó, tôi nghĩ Ankor Wat chính là nơi mà chúng ta cần phải đến thăm, trước khi kỳ quan này biến mất một lần nữa…Nhưng lần sau sẽ không phải bị bỏ rơi vì nhân dân chạy giặc  hay để nó bị  phá huỷ bởi bàn tay của người Thái hay bom đạn Mỹ mà chính là vì  thiên nhiên sẽ nuốt chửng những tháp đền này vì không có kinh phí hay sự quan tâm nhằm khôi phục lại vẻ huy hoàng của vài trăm năm trước, bởi vì các chính phủ hiện nay chỉ chú tâm đến « hiện đại hoá » , xây dựng những cao ốc nhiều tầng bằng kính, những resorts, khách sạn hiện đại ngay sát những sinh hoạt của đa số thần dân trong khu ổ chuột.

 

Nhưng chuyến đi CamBốt còn mang đến cho tôi  những xúc cảm khác…

 

            Vài người khách trong chuyến đi, nghe bạn bè  nói lại, đã hỏi ý hướng dẫn viên để có thể tham quan  Biển Hồ ( Tonse Lap). Sau khi tham khảo ý kiến, hai hướng dẫn viên cho biết là họ có thể tổ chức cho chuyến thăm ngoài chương trình, nhưng cần phải có đủ số người tham dự. Tưởng chẳng mấy ai quan tâm…nhưng, chỉ trừ một vài người, hầu kết khách trong đoàn đều  ghi danh cho chuyến thăm này.

Ai không biết, có thể nghĩ rằng đi nhìn một cái hồ thì có gì đặc biệt ?  Thế nhưng, sau khi được giải thích, mọi người đều vỡ lẽ về những điều thú vị cho chuyến viếng thăm này. Trước hết, đó là một cái hồ rất quan trọng được tạo nên bỡi dòng sông to lớn : Mê Kông.  Nó quan trọng đến nỗi người Việt đã gọi đó là “ Biển Hồ”. Hồ to như biển.

Trong năm, có vài tháng hồ này ít nước, mực nước thấp và có ít tôm cá. Thế nhưng  vào mùa mưa, biển hồ chính là một nơi tích trữ nước khi mực nước trên  sông Mê Kông dâng cao. Chính tính chất đặc biệt ấy  mà Biển Hồ giữ một vai trò quan trọng trong hệ sinh thái của khu vực này. Thiếu nó, tất cả  các khu vực hạ lưu của chín con rồng ở Việt nam chắc chắn bị chìm trong biển nước. Chính  đó là một điều kỳ diệu của thiên nhiên, đã tự thiết kế  và kiến tạo để giữ thế quân bình sinh thái, không cần  bất cứ sự tham gia nào của con người, thường chỉ gây ra tai hoạ. Thí dụ như, nếu một ngày nào đó, nhà nước CamBốt quyết định xây dựng một con đập trên sông Mê Kông, thế là tất cả  các vùng đất phì nhiêu, nhiều tôm cá, như Cà Mau, sẽ không còn hiện hữu nữa.

 

Nhưng chuyến thăm Biển Hồ còn có thêm một ý nghĩa khác. Và không kém phần quan trọng.

            Trên bờ hồ, bên cạnh những người bản xứ, còn có một cộng đồng  người Việt sinh sống. Bỏ quê hương để mưu sinh, hành trang của họ mang theo chỉ là sự nghèo nàn và sợ hãi.. Họ   dừng bước ở đây, một nơi heo hút, xa lạ  với những ánh đèn thành phố.

            Hai hướng dẫn viên lấy ra một túi xách mà họ đã chuẩn bị  từ trước, trong đó có nhiều sách vở và bút mực… và gợi ý cho đoàn moi lục túi xách để lấy ra những  cục xà bông, chai sữa tắm, bàn chải đánh răng… được khách sạn cung cấp mà chúng tôi chưa dùng đến để làm quà tặng. Sau khi gom góp mọi thứ, một du khách đề nghị và anh ta  đứng lên quyên góp tiền của mọi người để mua thêm quà cho những cư dân người Việt nam này. Trong phút chốc, chiếc mũ vải đã đón nhận nhiều loại ngoại tệ đến từ khắp nơi trên thế giới, từ tiền Việt,đô la Mỹ đến đồng Euro… từ tấm lòng của du khách Việt đến từ khắp nơi… Sau khi kiểm tra và tổng kết, một số tiền không nhỏ đã được lạc quyên, tất cả đều đồng ý dừng lại ở một  ngôi chợ ở Siem Reap để mua mì gói, một thứ súp đã nấu chín và sấy khô, chỉ cần bỏ vào một ít nước nóng là có ngay một bữa ăn nóng hổi; chúng tôi còn mua thêm một ít sữa cho trẻ em, bánh ngọt, một ít xà bông và số tiền còn lại dành để mua thêm aspirine, sách vở và bút mực.

Trong một thoáng, chúng tôi đã nghĩ và mua sắm mọi thứ.

Có người nhắc  là vài năm trước, một người Việt nam khi có việc qua nơi này, nhận thấy phần lớn trẻ em đều thất học, không mấy ai trong bọn chúng biết đọc hay biết viết tiếng Việt, ông đã quyết định  dừng chân, kêu gọi mọi người thu xếp nơi chốn và tình nguyện ở lại để mở lớp, nhằm dạy cho các trẻ  viết và đọc, kèm thêm một ít hiểu biết về quy luật vệ sinh. Nơi chốn chọn lựa để mở trường là một chiếc bè nổi trên mặt biển hồ.

Khi thấy chúng tôi đến từ một chiếc thuyền lớn, các học sinh nhao nhao nhưng vẫn ngồi trong lớp học và vẫy tay chào. Lúc chúng tôi bước lên   chiếc bè nổi, các em, tuy ồn ào, nhưng vẫn ngồi ngay ngắn sau bàn học. “ Bàn học”  là những mảnh gỗ đóng ghép sơ sài và tạm bợ. Nhiều, rất nhiều học sinh đủ mọi lứa tuổi ngồi chen chúc trong một ít mét vuông… Ông giáo nhìn chúng tôi cảm động và cảm ơn. Phần lớn các thứ đã mua, chúng tôi chia nhau đi phân phát cho các em để mang về nhà.

Với phần quà còn lại chúng tôi chia nhau phân phát cho các gia đình nghèo đang tụ tập đứng xung quanh. Họ nghèo đến nỗi không thể cho con em đến lớp. Chúng phải giúp ba mẹ làm các việc nhà hay phụ lực mưu sinh. Các gia đình ấy, được thông báo qua cửa miệng rằng có đoàn cứu trợ, đã tập trung đến và vây quanh chiếc thuyền của chúng tôi. Và đây, còn những đứa trẻ khác…những đôi mắt mất thần vì đói… một hình ảnh làm đau lòng khi chúng tôi nhìn thấy những em bé  áo quần rách nát, có nhiều  bé ở truồng…bởi vì  cha mẹ không mua nổi những tấm vải để chúng có thể che thân…

Tôi đứng nhìn xung quanh trường. Trên một chiếc bè gần bên có dấu  thập giá, đó là môt nhà thờ Tin Lành, họ đến đây để giúp đỡ và tìm kiếm con chiên. Xa xa, còn có một ngôi trường tươm tất hơn, đó là một  trường học mới cất, dành cho các trẻ lớn hơn và được chính phủ Úc tài trợ.

Dường như thông tin  về cộng đồng nghèo khổ này đang  được truyền đi và bắt đầu  có một sự chuyển mình… tôi hy vọng là họ có thể nhận được nhiều trợ cấp và giúp đỡ hơn trong tương lai.

 Tôi nhìn ra xa. Các ghe thuyền chính là  căn nhà lưu động của những người sinh sống nơi đây. Để che lấp sự  tuyềnh toàng của nơi  ăn chốn ở, các di dân thường đặt những chậu hoa  ở  be thuyền để trang trí và  đánh dấu nhà mình. Theo lời của hướng dẫn viên, để phân biệt đó là  nhà  của người Cam Bốt hay của người Việt, chỉ cần nhìn chậu hoa  trên đó, nếu đó là màu vàng của  hoa mai thì là nhà của người gốc Việt. Nhưng theo tôi, ngoài vấn đề trang trí, đó cũng chính là một sự giữ gìn bản sắc, dù rất mong manh, với quê hương nguồn cội mà họ đã phải lìa xa.

Khi chúng tôi rời Biển Hồ lòng chúng tôi vẫn còn giữ mãi một tình liên đới với các cư dân ở đây, nhất là cới các em bé ở trường.  Lòng tôi rất vui vì vừa làm một điều có ích, tuy rất nhỏ nhoi.

Rồi cuộc hành trình của chúng tôi tiếp tục.

 

Khi đến thủ đô Phnom Peng chúng tôi như không thể tin được mắt mình khi nhìn thấy một tượng đài thật đặc biệt nằm giữa một quảng trường.Tôi sẽ không thể tin nếu không phải chính mắt mình nhìn thấy, đó là một khẩu súng lục vĩ đại, có lẽ là chứng tích của thời kỳ Polpot, khi sự đàn áp chống những trí thức và hành vi diệt chủng, đã làm cho nhân dân Cam Bốt xấp  xỉ 8 triệu người trước đó, giờ chỉ còn hơn 4 triệu người sống sót.Và như cô hướng dẫn viên người Cam bốt cho biết, nhân dân Cam Bốt rất biết ơn Việt nam vì không những đã giúp cho đất nước họ thoát khỏi hoạ diệt chủng  mà lại còn giúp đỡ họ về kinh tế. Và thực vậy, ở một quãng trường khác, chúng tôi còn thấy có một tượng đài khác mà người Cam Bốt đã dựng lên để tưởng nhớ  công ơn của quân đội việt nam, và nhất là các phụ nữ, biểu tượng của lòng kiêu hãnh và sự kiên trì của dân tộc Việt.

Ở  Phnom Peng, cũng như các thành phố khác ở Á Châu, chính màu sắc là thứ  làm thu hút du khách. Trong đám đông,  hàng trăm sắc màu quần áo được chen lẫn với màu sắc của trái cây và thực phẩm. Nhưng  ở đất nước Chùa tháp màu sắc còn là biểu tượng và mang theo một ý nghĩa rất đặc biệt : sợi vải hồng của các cô gái còn muốn nói là các cô ấy chưa chồng, một thông điệp tế nhị mà cũng là một lời mời gọi đến các chàng độc thân… Ở Cam Bốt, các cô thường  mặc áo quần có  màu  tươi trẻ, thường là màu hồng hay xanh blu có pha sắc tím, hoặc tất cả những màu đó pha trộn với nhau bằng một phối hợp rất bắt mắt. Phnom Peng là một thành phố khá  nhộn nhịp, màu sắc và những tiếng rao hàng  thường tạo chú ý cho du khách, nhất là ở khu chợ trung tâm.

Buổi chiều,  đoàn chúng tôi đi thuyền trên sông Mekong  để  nhìn toàn cảnh thành phố, thuyền đi qua các toà nhà  cao, các khách sạn, các quán cà phê nằm dọc bờ sông…mà  cách kiến trúc và bài trí thường làm  ta nhớ lại thời thuộc Pháp.

Sáng hôm sau chúng tôi  khởi hành để quay về Việt Nam, điểm đến là thành phố Hồ Chí Minh. Hành trình khá dài, sau ba ngày liên tục đi bộ, nhưng chuyến về cũng không kém phần hào hứng. Giữa những truyện tiếu lâm, những tiếng hát, có khi lạc giọng, của hướng dẫn viên,  khách trong đoàn…tất cả chúng tôi như đều quên đi nhọc mệt  và cùng vui vẻ, cởi mở với nhau hơn sau khi đã cùng sống với nhau những phút giây đặc biệt. Làm sao chúng tôi có thể quên nụ cười thật hiền của cô hướng dẫn viên, cũng tên Hiền,  người Cam Bốt, khi chia tay ở biên giới, Việt-Miên ? Không thể !!

 Và còn có bao điều, vui, buồn mà chúng tôi đã cùng nhau chia sẻ !!!

Buổi tối, chúng tôi đến thành phố Sài Gòn. Tất cả mọi người đều có vẻ mệt mỏi và  khuôn mặt ai nấy cũng đều hơi ngái ngủ, nhưng thành phố dễ thương này đang chào đón chúng tôi bằng những ánh đèn màu. Lễ Giáng Sinh  sắp đến, đèn màu giăng mắc trên khắp các ngã đường và các quảng trường. Chúng tôi vô cùng kinh ngạc  trước những tác phẩm  của nghệ nhân ánh sáng của thành phố Sài Gòn. Đúng là những tài hoa bậc thầy. Bằng một trí tưởng tượng đặc biệt, họ đã tạo nên những bức tranh ánh sáng, khi là một chùm hoa, khi là  những hình vẽ đẹp mắt, hình những gói quà  Noel chớp sáng như những vì sao, giăng mắc trên những gốc cây hay treo lơ lửng trên các phố chính như Lê Lợi và Nguyễn Huệ. Thật tuyệt vời và cũng thật bất ngờ, nhưng trong tôi hình như còn đọng lại một sự tương phản quá lớn giữa những hotel sang trọng, sự phung phí điện năng ở Sài Gòn và những hình ảnh tiêu điều của một Ankor Wat, Ankor Thom  đang bị lãng quên, sắp chìm trong hoang phế.

Nhưng trong lúc đó, khi ánh đèn của các cao ốc Sài Gòn  cùng với sự điêu tàn của Chuà Tháp vừa biến mất trong mắt tôi, thì không hiểu vì sao, trí óc tôi bỗng quay về với ánh mắt của một cậu học trò nhỏ ở trên một chiếc thuyền  đậu cạnh ngôi trường nổi ở Biển Hồ. Đó là hình ảnh của một cậu bé đầy tự hào, e thẹn chìa bàn tay nhỏ bé để nhận lấy hộp bánh cho đứa em bé trần truồng mà cậu đang bế trên tay.Rồi, như vẫn còn đó những  khuôn mặt mỉm cười, đứng bên kia những sợi giây sắt che chắn quanh ngôi trường nổi đang vẫy tay chào. Chính những đôi mắt đó  ngay lúc này vẫn đang đồng hành cùng tôi và  làm tôi nhớ mãi chuyến đi được thực hiện bằng trái tim mình.

Cambogia, 19/12/2008

Elena Pucillo Trương

(Bản dịch của Trương Văn Dân)

(Bài đã đăng trên tạp chí MeKong- Torino, Italia)

Ankor Wat .

Đi, với trái tim

Elena Pucillo Trương

(Bản dịch của Trương Văn Dân)

 

 

 

Read Full Post »

Quà Trung thu của ba

Truyện Ngắn

                        MANG VIÊN LONG

Mẹ tôi mất sớm, hai chị em tôi sống với ba. Sau khi sinh đứa em trai tôi được ba tuổi thì mẹ tôi mất. Bà ra đi nhẹ nhàng và nhanh chóng đến nỗi ai đến thăm cũng sửng sốt. Chị em tôi ngạc nhiên đến bàng hoàng khi lay gọi mẹ đến chục lần, nhưng đôi mắt bà vẫn khép kín, im lìm như đang ngủ say. Đời người rồi ai ai cũng sẽ có giấc ngủ cuối cùng, ngàn năm vĩnh viễn như thế sao?

Ba tôi im lặng, lầm lũi, cẩn trọng lo chu toàn mọi việc để tiễn mẹ tôi, giọng lạnh lùng, buồn buồn : “Ba không ngờ mẹ con đã từ giã cha con mình sớm như thế!”.

Những tháng năm sau này, ba tôi đã dành nhiều thời gian gần gũi chị em tôi nhiều hơn – nhất là cu An. Muốn được vậy, ông phải thu xếp việc trồng hoa ngay từ sáng sớm lúc hai chị em tôi còn mơ ngủ. Khi thức dậy, bao giờ tôi cũng nhìn thấy gương mặt ba tươi cười, vén mùng, đùa cợt: “Con gái gì ngủ dậy trễ thế? Lại có tật ngủ nướng rồi? – Còn thằng kia, bắt chướt chị mày ngủ nướng thêm nữa à ? Chị em dậy ăn sáng, ba chở đến  trường, trễ học rồi kìa…”.

Ba tôi có một chiếc xe gắn máy cũ kỹ – hiệu Gobel, làm thêm chiếc “rờ-moọc” để kéo theo phía sau. Hằng ngày ông chỉ chạy hai chuyến : buổi sáng chở bạn hàng lên thị trấn mua bán, buổi chiều chở về… Lúc mẹ tôi còn, thỉnh thoảng trong thôn có gia đình cần xe chở vật gì, ông đều sốt sắng nhận. Ông nói với tôi : “Con giúp mẹ trông em, ba chạy chuyến này kiếm thêm tiền cho mẹ con đi chợ…”. Từ ngày mẹ tôi mất, ông luôn từ chối các chuyến xe bất ngờ như vậy, để được gần chị em tôi. Lần đầu, khi nghe ba tôi khước từ chạy xe chở hàng cho khách, tôi ngạc nhiên hỏi : “Sao ba không nhận chạy thêm để kiếm tiền đi chợ?” – Ba tôi cười, giọng vui vẻ : “Bỏ mất dịp làm thêm kiếm tiền cũng tiếc, nhưng bỏ hai chị em con ở nhà một mình lại đáng tiếc hơn!”.

Ngày nào cũng thế, ba chở hai chị em tôi trên chiếc “rờ-moọc” hoen rỉ, cũ kỹ ấy đến trường. Tôi đã lên lớp Năm, còn em An thì vừa vào lớp Một. Hai chị em học cùng trường, nên ngoài việc học, tôi còn phải trông nom, hướng dẫn cho em. Cũng rất may, cu An thông minh, dạn dĩ, hoạt bát nên được cô giáo rất thương, còn đám bạn ngỗ nghịch không dám ăn hiếp ! Nghe tôi kể chuyện về em ở trường, lần nào ba tôi cũng nói : “Mẹ con phải sống chờ nó đến ba tuổi mới ra đi, còn Phật Trời thì trợ giúp cho nó được như vậy để đỡ buồn tủi!”.

Kỷ niệm của chị em tôi với ba mà tôi nhớ nhiều nhất có lẽ là những dịp vào ngày Tết Trung thu. Trước Trung thu gần một tuần, tôi trông thấy ba đã lo chẻ tre, vót nan, làm sẵn sườn hai chiếc lồng đèn : một chiếc kiểu ngôi sao, một chiếc hình trái ấu. Sau đó mấy ngày liền, hễ xong việc vườn tược, tưới hoa, cắt hoa giao cho bạn hàng là ba tôi cặm cụi cắt dán giấy màu… Mỗi ngày, ba đều thêm vào hai chiếc lồng đèn nhiều kiểu trang trí, nhiều chi tiết rất đẹp mắt.

Xế chiều ngày 14, ba chở chị em tôi – cũng trên chiếc “rờ-moọc” cũ kỹ ấy, về thăm bà ngoại. Như đã hẹn trước, chiều hôm ấy, chị em tôi được bà đãi cho một bữa ăn rất ngon, có cả chè xôi, trái cây rất hấp dẫn. Buổi tối, hai chị em tôi thắp sáng lồng đèn, hãnh diện theo bà lên chùa lễ Phật. Lũ trẻ trong xóm cũng kéo theo chị em tôi về chùa rất đông. Trăng trong, gió mát, cảnh vật trải dài trong mắt tôi một màu vàng êm đềm. Màu vàng êm đềm và tĩnh lặng ấy, sau này cứ ám ảnh, réo gọi tôi – kể cả trong những giấc mơ…

Chùa làng quê vào những ngày Rằm, nhất là rằm tháng Bảy và tháng Tám, mọi người lũ lượt  về chùa rất đông. Chánh điện chật hẹp, nhiều người phải trải chiếu lễ lạy từ ngoài sân. Dưới ánh trăng thu trong sáng, êm ái, tĩnh lặng ấy ; mọi người thành kính đọc kinh, niệm Phật – làm cho chúng tôi không dám hó hé, mở to đôi mắt ngạc nhiên mà nhìn… Cảnh tượng an bình, hạnh phúc ấy của những mùa trăng thu đã khắc sâu vào tâm khảm tôi, theo tôi lớn lên từng năm tháng…

Chị em tôi ở lại chơi với bà ngoại đêm hôm ấy – bà  cháu  trải  chiếu  ngoài hiên  trò chuyện  đến khuya Càng về khuya, trăng càng sáng tỏ. Tôi cứ ngỡ là được chơi giữa ban ngày dịu nắng. Cu An thắp hết mấy cây đèn sáp mang theo, nằm nghe bà ngoại kể chuyện “Phạm Công Cúc Hoa” chưa đến hồi kết thúc đã ngủ say.

Khi tôi đã được lên cấp ba, vào dịp Trung thu, ba tôi không còn làm lồng đèn cho tôi nữa. Cu An nhìn thấy chỉ có sườn một chiếc lồng đèn ngôi sao treo ở góc hiên, nó hỏi: “Sao ba không làm lồng đèn cho chị My?”.

Ba cười :

-My lớn rồi, không cầm đèn đi dạo như trước được, ba sẽ có món quà khác !

-Quà gì vậy ba ? – Cu An tò mò.

-Bí mật. Rồi hai chị em con sẽ biết.

Tôi không dám hỏi ba, nhưng trong lòng thì hồi hộp lắm. Mấy ngày ghé mắt theo dõi, tôi chẳng hề thấy ba tôi làm gì cả, ngoài việc trang trí chiếc lồng đèn cho cu An. Có lẽ ba chỉ làm lúc tôi đi ngủ chẳng ?

Chiều 14 năm ấy, lúc chị em tôi đã lên ngồi yên trên chiếc “rờ-moọc” sau xe, ba tôi mang ra một chiếc hộp hình chữ nhật, dán kín, sáu mặt hộp đều có trang trí giấy màu rất đẹp. Ba dặn : “Đây là quà của My, má con vừa gửi đến, nhưng phải đợi đến nhà bà ngoại mới được mở hộp ra nhé !”. Tôi sung sướng đón chiếc hộp, nhìn ba với đôi mắt thầm biết ơn…

Khỏi phải nói, tôi và cả cu An đã nóng lòng mong được đến nhà bà ngoại sớm như thế nào. Nhưng chiếc xe Gobel ngày càng cũ, càng chạy chậm hơn. Cứ lắc lư xình xịch không biết gì đến nỗi mong chờ của chúng tôi!  Chưa bao giờ tôi cảm thấy chiếc xe chạy chậm quá như thế. Cu An cũng có cùng tâm trạng náo nức như tôi, nó nói : “Chị My cho em coi quà của chị với nhé!”. Tôi gật đầu, cười sung sướng.

Việc gì đến sẽ phải đến, đã trông thấy rõ chiếc cổng vôi sơn vàng của nhà ngoại kia rồi. Chờ xe chạy qua ngõ, dừng lại, hai chị em tôi chạy ùa vào nhà bà, quên cả việc chào hỏi, cười vui với bà như các bận trước. Tôi ngồi bệt xuống thềm hiên, cẩn thận khui mở nắp hộp ra. Tôi lôi ra từng món một đặt ngay trên thềm: chiếc nơ kẹp tóc màu hồng, chiếc vòng giả ngọc màu xanh, cây bút máy hiệu Diamond, bốn bì bánh chocolate, một gọi kẹo…

Năm đầu tiên tôi phải xa gia đình để theo học Trường Đại học Y Dược- khoa Dược ở Sài Gòn ; Trung thu năm ấy ba tôi gửi cho tôi một phong thư lớn – trong ấy là một bài thơ , đề :”Tặng con gái thương yêu của ba”; viết trên khổ giấy lớn, được trang trí tỉ mỉ, công phu: “Quà Trung thu cho con”. Bài thơ thật chân tình, cảm động. Quà Trung thu cho tôi không là lồng đèn, bánh kẹo, mà ấy là trăng – một ánh trăng quê dịu hiền, một thứ “tình thắm thiết” – của trăng vàng và của cả quê hương !”.

Vừa tròn tuổi năm mươi nhưng ba tôi đã gầy yếu. Ông bị bệnh rối loạn trung khu tiền đình., và hởi valve tim. Vài năm sau này, ông thường xuyên bị choáng, buồn nôn và tức đau ở ngực trái – kéo dài khoảng năm mười phút. Người thân, bạn bè đến nhà thăm chơi, thường nhắc ông hãy “bước thêm bước nữa” để có người chăm sóc, đỡ đần công việc. Ông chỉ cười : “Đời người, đã lỡ bước một bước là đã khổ rồi. Sao lại bước thêm bước nữa làm gì trong cảnh khổ của mình ? Có lẽ cũng chỉ làm khổ thêm cho người khác mà thôi !”. Nghe lời tâm sự của ông, tôi cảm thấy lòng mình trào dâng niềm thương kính vô bờ. Tôi đã dần dần hiểu được ba đã dành tình thương yêu cho hai chị em tôi, mà phải chịu cô độc, vất vả. Ba tôi thường nói với bạn bè: “Cuộc đời tôi bây giờ chỉ còn lại hai đứa con…”.

Một buổi chiều cuối Xuân, sau khi đã chở đám bạn hàng từ thị trấn về, ông chạy xe vào ngõ, bỗng cảm thấy chuếch choáng. Đã quá quen với bệnh tình của mình, ông gắng gượng, lảo đảo bước vào nhà định tìm thuốc uống. Đến bậc hiên ông ngồi xuống, cơn buồn nôn kéo đến dữ dội. Kèm cơn đau thắt ngực – rất khó thở . Ông cố trấn tĩnh, chờ dịu cơn choáng và đau sẽ vào nhà lấy thuốc ; nhưng ông chợt ngã lăn trên thềm hiên, và sau đó không bao giờ bước vào nhà nữa…

Ba tôi đã chờ cho tôi vừa tốt nghiệp đại học, An cũng kịp thi đậu vào trường Đại học Sư phạm – mới giã từ chúng tôi. Giống như mẹ tôi khi xưa, đã chờ cho An được ba tuổi.

Mỗi mùa Thu đến, mỗi lần trăng thu tròn đầy vằng vặc ánh sáng, là mỗi lần chị em chúng tôi ngồi bên nhau mà khóc. Suốt 5 năm ở đại học, dường như tháng nào tôi cũng nhận được thư ba tôi hai lần. Tôi đã gom tất cả những lá thư ấy, bỏ vào ba chiếc hộp chứa quà trung thu thuở nào của ba – xem chúng như bảo vật, sẽ theo tôi trong suốt cuộc đời. Mấy bài thơ của ba tôi gửi cho, tôi cũng cẩn trọng lồng chúng vào khung kính, treo ngay góc bàn ngồi…

Một mùa Thu nữa lại đến. Trung thu gần kề. Tôi đã hẹn với An, đêm 14, hai chị em sẽ cùng nhau đi chùa lễ Phật – và nguyện cầu cho ba mẹ tôi luôn được an lành, trong sáng như ánh trăng thu…

MANG VIÊN LONG

Read Full Post »

Thử hôn

Ngồi đọc mấy bài thơ mà Thẹo bỗng tức cười, hôn có gì ghê gớm đâu mà qua những nhà thi sĩ nụ hôn trở nên dữ dội, nào là: Lần đầu ghé nụ hôn vàng, bầy chim ríu rít hót vang khu vườn, rồi thì cỏ cây đờ đẫn quanh mình, rồi dòng sông ngừng chảy, thậm chí còn gió xiêu vẹo gió nữa chứ, thiệt là ghê ơi là ghê. Nụ hôn đầu ai chẳng có nhưng đâu có ghê gớm đến vậy, nó nhớ tới ngày xửa ngày xưa….

              Ngày xửa ngày xưa cái xóm nhà nó chỉ một đoạn đường ngắn ngủn mà có tới năm cái bar, còn mấy cái ổ nhền nhện ở trong xóm thì vô số kể, buổi sáng sớm thì vắng tẻo vắng teo nhưng…khoảng 10g thì bướm hoa dập dìu. Thuở đó nó còn đi học, mà học trường Cường Để nữa mới oách chứ, sáng thì đi học, trưa thì bị nhốt trong nhà nhưng mấy cái chuyện hôn hít thì nó vẫn thấy thường xuyên. Đặc biệt cái xóm của nó toàn là tụi mẽo đen thui thùi lùi và vô số cô gái bán hoa cho nên tiếng bồi nó cũng biết chút chút, lúc đó chỉ cần gia đình lơ là một chút thì nó phóng ra ngoài đường okê salem túa xua, suốt từ trưa đến chiều nhạc cứ xập xình suốt muốn học thì cũng khó nhưng đến khoảng 6g chiều thì không khí yên tĩnh lại, xóm nó là vậy đó.
             Cách nhà nó mấy cái là nhà của con nhỏ Nga còn biệt danh là Nga lung linh, tuy nhỏ hơn nó nhưng con nhỏ sao mà lanh quá, chuyện gì nó cũng biết kể cả chuyện hôn hít, chỉ cần nghe nó kể chuyện đi chơi với bồ là cả đám trố mắt mà nhìn và lắng nghe chuyện nó kể một cách say sưa, nhất là chuyện dành bồ giựt bịch, trong đám con trai nhiều thằng cũng lớn bộn nhưng cái chiện hôn hôn hít hít đố có thằng nào biết nhưng nhìn thì thấy dài dài, thử coi một đoạn đường đâu quá dài, cứ chiều chiều là có hàng trăm thằng mẽo và lũ khũ những cô gái cứ đeo nhau như sam hôn hít tùm lum thì chỉ những người mù mới không thấy chuyện đó thôi. Riêng Thẹo thì đâu có lạ những cảnh hôn hít nhưng hôn thì nó đú biết mà muốn thì cũng chẳng có ai chỉ đâu mà biết, nhiếu lần nó cà khịa nhờ con nhỏ Nga bày dùm nhưng lần nào cũng bị con nhỏ xách dép nhứ nhứ làm nó cũng cụt hứng, chỉ có một lần nó hun đại lên má con nhỏ, bị con nhỏ Nga rượt chạy cong giò, nó đem chuyện đó kể cho mấy thằng lớn thì bị tụi nó chê: Đó mà hun cái gì, phải là hun môi mới phê,  rồi mấy thằng lớn cá,  nếu mà đứa nào biết hun đầu tiên thì cả đám con trai trong xóm bao ăn kem Phi Điệp coi cinê Kim Khánh thả dàn trong vòng một tuần, nghe giải thưởng thì thằng nào cũng khoái nhưng cũng chẳng ai dám thử vì chẳng biết thử chỗ nào.
            Thằng Thẹo đi tới đi lui trước nhà con Nga nhiều lần, không phải nó muốn hun đại con Nga mà chỉ hỏi nó cách hun thế nào và cảm giác ra sao để về cà khịa cho tụi con trai trong xóm ngán nó thôi chứ giải thưởng nó cũng chẳng thiết gì,  nhưng nó cũng không dám hỏi,  bởi nó cứ tưởng tượng ánh mắt cũa con nhỏ khi nghe câu hỏi đó, ôi….rùng rợn quá,  cùng đường Thẹo mới nhớ tới chị Trang. Sở dĩ nó kêu bằng chị bởi vì không biết chị bao nhiêu tuổi nhưng nó chỉ biết một điều là chị sành sõi hơn nó và cũng chững chạc hơn nó nhiều, nó cũng không biết có phải chị tên Trang hay là tên Xoài tên Ỗi gì đó, vì tất các cô  cư ngụ ở cạnh  xóm nó đều xài tên tự đặt cho oách nhưng thấy người ta kêu chị là Trang nên nó cũng kêu tên Trang. Nó với chị cũng khá thân thiết, có cái gì ngon chị cũng để dành cho nó và nó cũng vậy, chuyện gì vui buồn chị cũng hay kể cho nó nghe, thôi thì bí thủ quá nó cũng đành nhờ chị Trang vậy.
           Tối hôm sau nó chờ quán bar hết khách rồi mới đi tìm chị Trang, sau khi nghe nó nói thì chị bỗng phá cười, cười ngặt nghẽo làm cho Thẹo cũng thấy quê quê nhưng nhìn vẻ mặt tội tội của Thẹo thì chị cũng hết cười và chỉ cho nó cảm giác lúc hôn như thế nào để nó về cà khịa, chiều tối hôm sau nó gặp lũ bạn trong xóm cà khịa nhưng tụi nó lại nửa tin nửa ngờ nhưng dù sao tụi nó cũng hơi ngán nó mặc dù cũng chưa tin hẳn nhưng vì chưa có đứa nào biết hôn cho nên tụi nó cũng không kiểm chứng được nhưng con Nga thì khôn hơn nhiều bởi vì nó quá rành rẽ chuyện đó. Ngay hôm sau lúc Thẹo đòi chung độ thì mấy đứa trong xóm nghe lời xúi giục của con Nga nên không chịu chung mà đòi phải hôn lại và cho tụi nó chứng kiến thì tụi nó mới chịu chung, mấy ngày tiếp theo mặc dù Thẹo tìm mọi cách năn nỉ nhưng chị Trang vẫn không chịu nên Thẹo cũng hết cách dù rằng mấy chị bán bar trong xóm nó đều quen hết nhưng nó cũng chẳng dám mở lời,  cuối cùng nó cũng liều mạng rủ thằng Hùng con cùng xóm đi ra xóm sau.  Thấy hai thằng nhóc bước vào mấy cô gái bán bar tỏ ra rất ngạc nhiên và bu lại coi, Hùng con cầm điếu thuốc hít một hơi rồi chỉ vào mấy cô gái rồi nói:
               – Ê cho hai em đã đã coi.
             Nhìn điệu bộ của Hùng con mấy cô gái bỗng phá cười, rồi một cô trong đó nói:
               – Cưng ơi. Cho chị coi thử cái ớt bay của em chín chưa vậy
             Nói xong mấy cô gái nhào vô làm hai thằng sợ qúa chạy một mạch không dám quay đầu lại nhìn, ngày hôm sau Thẹo đem chuyện này kể lại cho chị Trang nghe làm cho chị cười muốn vỡ bụng làm Thẹo cũng thấy quê quê, nhưng chuyện hôn thử đó cũng đi vào quên lãng. Một hôm đi học về Thẹo gặp chị Trang giữa đường, thấy chị vẻ mặt có vẻ buồn nó hỏi:
              – Chị đi đâu đó, có chuyện gì không mà chị có vẻ buồn vậy?
              – Ừ có chuyện, tối nay ra gặp chị, chị nói cho nghe.
             Tối đó Thẹo ra gặp chị Trang sau khi nói dối gia đình đi mượn vở bạn, ra chỗ hẹn thì nó thấy chị Trang đứng đó tự bao giờ, mọi hôm khi gặp nó chị Trang bao giờ cũng vui nhưng sao hôm nay nó thấy chị có vẻ buồn , nhìn dáng ũ rũ cũa chị mà nó cảm thấy lo lắng không biết chuyện gì xảy ra với chị. Hai chị em chỉ nhìn nhau mà chẳng nói gì, thật lâu rồi chị mới nhìn thẳng mặt nó rồi nói:
              – Mai chị về rồi.
              – Chị về đâu? Về quê hả.
              – Về quê. Mẹ chị đau nặng.
              – Bao giờ chị ra lại.
              – Không biết nữa và cũng có lẽ là chẳng bao giờ nữa.
              Hai chị em đứng lặng nhìn nhau, một lúc sau đột nhiên chị kéo nó lại áp đôi môi lên đôi môi của nó, nó sững sờ chỉ biết lặng thinh, chị buông nó ra và quay người bỏ đi sau khi nói nhỏ: Tặng em đó.
               Từ đó Thẹo chẳng bao giờ gặp lại chị nhưng nó vẫn luôn nhớ mãi cái cảm giác  nóng bỏng, mềm mại của đôi môi ấy.
               Tú Tàng.

Read Full Post »

Đinh Tấn Khương

Có phải thời gian, hoàn cảnh đã làm thay đổi tình bạn của chúng ta!?

Những người bạn, thời tiểu học thì gần như đã tản lạc hết rồi. Bạn thời trung học thì chỉ còn đếm được trên đầu ngón tay, một số đã nằm xuống trong thời buổi chiến tranh, một số khác thì mỗi người một ngả, tìm kế sinh nhai, không còn gặp lại. Một số ít thì nhận biết tin nhau, hay thảng hoặc thì được gặp lại .. nhưng lại không còn cái tình như hồi đang mài đũng quần ở ghế nhà trường nữa!?

Hồi xưa, gặp nhau là mầy mầy, tao tao, là thằng đó, con kia, là chúng nó, là nó..nghe như thân thiện, gần gũi lắm. Bây giờ, mấy tiếng nầy không  còn được đem ra để gọi, để xưng hay là để kể chuyện mới, nhắc lại chuyện cũ..với nhau nữa.

Người bạn nối khố với mình ngày xưa từ thời trung học, đại học và cả những ngày sau đó..lúc còn cơ hàn. Bây giờ gặp lại, liên lạc qua email, điện thoại.. thì cứ như là người mới gặp:

–         Xưng hô: mình

–         Gọi: bạn

Chẳng hạn:

–         Mình vừa nhận email của bạn..(khác với hồi xưa: tao vừa nhận thư của mầy..)

Nghe xa lạ quá, phải không?

–         Có phải là mình già, mà trở thành khách sáo ?

–         Có phải là mình già, mà sinh ra lịch sự?

Với tôi thì:

1.     Những người bạn bây giờ đã và đang “nên vai nên vế” :

–         Mình cần phải tỏ ra tôn trọng họ, trước mặt mọi người. Cho nên, đâu dám gọi là “mầy” xưng  là “tao”, như cái thời cùng “khố rách áo ôm” nữa, phải không!?

Xin dẫn chứng một chuyện có thật 100%, câu chuyện giữa hai người bạn từ cái thời còn ở truồng cho tới lúc trưởng thành. Nhà cùng xóm, học cùng trường cho nên thân nhau lắm. Một người rời Việt Nam và một người thì bám trụ quê nhà.

Sau hơn 20 năm xa cách, hai người có cơ hội gặp lại. Xa xứ đã lâu, trở về làng cũ, bao nhiêu kỷ niệm xưa bổng bừng sống lại. Nhớ tới cái thời niên thiếu mà mình đã từng “bảo vệ” cho người bạn “nhút nhát”, tránh bị mấy đứa khác “ăn hiếp” cho nên được nhận cái danh xưng là “anh hai”.

Vừa thấy mặt nhau, mừng quá, gọi lớn:

–         Ê mầy, còn nhớ “anh hai” mầy đây không?

Tiếp theo đó là nhiều câu hỏi khác, những câu hỏi thuần túy là nhắc về quá khứ nhưng đã không được trả lời. Rồi người bạn nối khố năm nào đã từ biệt, mà không hẹn ngày gặp lại. Lấy lý do là đang bận công tác.

Về nhà, hỏi lại người thân thì mới biết, người bạn của mình ngày nào, bây giờ đang nắm giữ một chức vụ rất quan trọng trong chính quyền địa phương. Thế là tình bạn đã bị chết yểu, trước tuổi già!?

(Chấm dứt câu chuyện dẫn chứng)

Cũng với tôi:

2.     Những người bạn bây giờ đang còn chật vật (về mọi mặt):

–         Gặp lại mình, họ cũng không còn “gọi mầy, xưng tao”. Chắc nghĩ, mình cũng đang ngon lành lắm, cho nên “tôn trọng” mình đấy chăng?

–         Thế là, mình cũng đâu có dám “gọi mầy, xưng tao” với những người bạn này, vì sợ họ “tủi thân”. Bởi mình đã phân biệt cách xưng hô, tùy theo “giai cấp xã hội” đấy mà!?

Khó quá, gặp bạn cũ sao như xa lạ. Bèn tìm bạn mới trên mạng để kiếm niềm vui,. Bởi người ta khuyên, nụ cười có thể giúp mình  sống lâu hơn. Chịu khó bỏ công, lòng vòng đi tìm chỗ vui để được dịp cười, hầu kéo dài thêm tuổi thọ. Nhưng cũng đâu có dễ, cho dù đó là thế giới ảo, của các trang mạng.

–         Kể chuyện vui thì lại không thấy ai cười với mình. Cảm thấy mình như vô duyên quá. Ngượng, nên nín luôn!

–         Nhắc lại mấy cái chuyện “quậy” lúc còn thơ trẻ, hay là thêm mắm thêm muối mấy chuyện nào đó để góp vui. Thì bị phán là “thằng phá làng, phá xóm”, là “thằng phiền cha, báo mẹ”, là “có vay, có trả”..

–         Kể chuyện thật về mình để được “nở mũi” một chút thì bị cú đấm là “khoe mẽ”..

–         Góp vài ý về cuộc sống thì bị gạn hỏi: “nói giỏi thế, mà liệu có làm được hay không?”

Ôi thôi, tìm đâu cho ra được cái TÌNH BẠN, như  của “ngày xưa còn bé” nhỉ!?
Mong các bạn chỉ hộ với.

Mùa Xuân Con Chuột Túi, 2011


Read Full Post »

                                       Tản văn của Huỳnh Kim Bửu

Rau – củ – đậu, hồi xưa, là chuyện của người nghèo: “Đói ăn rau, đau uống thuốc” (Tục ngữ), “Củ lang Đồng Phó / Đậu phộng Hà Nhung /Chàng bòn thiếp mót / Đổ chung một gùi” (Ca dao Bình Định). Nhưng bây giờ thì khác, “bộ ba” này là đề tài của mọi người, nhất là những người lo bệnh, lo già, người chuộng ăn chay, sợ phạm sát sanh…  Bài này, xin nói riêng về đậu phộng, trong dòng họ đậu đông con cháu, mà cũng chỉ thiên về cái khía cạnh văn hóa ẩm thực từ trái đậu này.

Cây đậu phộng (còn gọi đậu phụng, lạc) thuộc họ thảo, được trồng trên đất ven sông (ruộng soi), ruộng chân cao, mảnh đất dễ thoát nước. Đất phù sa, tơi xốp làm cho cây đậu phộng phát triển tốt, sai quả. Ta vẫn gặp các trẻ con ngồi chơi, đố nhau: “Trên thượng lầu, có bông không trái / Dưới hạ lầu có trái không bông…Đố là cây gì?”. Nhiều em trả lời được: -“Cây đậu phộng”. Nếu đậu phộng không khác thường, khó nghĩ, đã không thành câu đố. Cây này nở hoa, kết trái không ở trên cành như các giống cây khác. Hoa đậu phộng lấm tấm vàng, cánh mỏng, nhụy sợi đỏ (như sợi cước) phơi trên nền lá xanh đậm trải trên mặt đất. Trái đậu phộng kết thành một chùm ở bộ rễ, giấu dưới đất.

Ruộng đất quê tôi hồi xưa, cứ thu hoạch xong vụ lúa Đông Xuân, phần nhiều được cày để ải; phần còn lại, tùy ở chất đất, có đám được trỉa đậu phộng, đám trồng dưa hồng, dưa gan… như thể không cho đất nghỉ. Từ khi trồng đậu cho tới khi được một “mùa lạc” phải mất chừng 3 tháng. Nước tưới ruộng đậu phộng thường ở mức nước chưn, đến gần mùa thu hoạch giảm xuống, chỉ giữ đủ ẩm. Trẻ con thường thích “la cà” những đám ruộng đậu phộng, ruộng dưa để rình bắt tổ chim chiền chiện (loài chim xây tổ dưới đất ruộng khô, giấu kỹ tổ trong vỉa cày, trong các gốc cây đậu um tùm). Được một tổ chim chiện non, chú bé nào cũng thích đem về nuôi, chăm sóc, chờ ngày chim trưởng thành cho tiếng hót hay: “Bay vút tận trời xanh / Chiền chiện cao cùng hót / Tiếng chim nghe thánh thót / Văng vẳng khắp cánh đồng” (Thơ Thăm lúa – Trần Hữu Thung).

Đậu phộng chủ yếu dùng để chế biến thực phẩm.

Trước hết, người ta ép dầu ăn: dầu phộng. Chủ lò ép dầu phộng làm cái bộng dầu (khoét bụng một cây to, đường kính chừng non mét), sắm khuôn, chảo, vại, thùng ván, chày gỗ săng, thuê thợ… Khi ép dầu, thợ cho đậu phộng trái vào khuôn (hình bánh xe cút kít, lót rơm làm vỏ bọc cho khuôn), rồi xếp các khuôn đó ken nhau trong bộng để ép bằng chày đóng: dầu từ các khuôn chảy ra thùng hứng. Đậu bị ép hết dầu, phần còn lại là bã đậu, cho người ta cái bánh dầu. Ở quê tôi, có các làng nghề ép dầu phộng nổi tiếng là Đa Tài, Kim Ngọc… thuộc xã Nhơn Phong.  Khi đến mùa đậu, chủ bộng dầu đi mua đậu nguyên liệu khắp trong vùng An Nhơn, Tuy Phước, Phù Cát… đem về chọn trái to, già, loại bỏ trái nhẩn, trái non, rồi phơi khô khan trước khi ép ra dầu. Chẳng biết tại sao dân gian đem so sánh việc ép dầu, mỡ với ép duyên: “Ép dầu, ép mỡ, chớ ai nỡ ép duyên”? Nghe thảm lắm, thiển nghĩ, cái duyên mà ép thì không thành lương duyên, mai sau khó tránh đổ vỡ. Ép dầu có hai cách: Ép nguyên vỏ trái đậu (đỡ công bóc vỏ là thứ công nặng nhọc) và ép đậu đã bóc sạch vỏ. Sản phẩm dầu ép cả vỏ đậu là phổ biến, chỉ khi đặt hàng, người ta mới ép dầu bóc vỏ. Thứ dầu phộng bóc vỏ có màu vàng ngà (không lẩn tạp chất: vỏ) trong veo, sóng sánh, thơm lựng…Đem dầu này chế biến thức ăn gì cũng cho cái hương vị thơm ngon, đậm đà, ăn ngon. Ai cũng biết, dầu phộng cũng như các dầu thực vật khác, được xếp vào loại “chay mặn đều dùng được”. Ở quê tôi, có nghề bán dầu dạo, sỉ và lẻ. Tôi còn nhớ hình bóng bà Biện Dương, trạc năm mươi, mặc áo dài đen tém vạt, xách dép chạy lúp xúp đàng sau anh con trai gánh thuê cho bà. Hàng dầu lưu động của bà là đôi thùng gỗ đựng dầu, đặt trong quang gánh cùng nhiều muổng, gáo, chai lọ lỉnh kỉnh mà cái nào cũng ướt rượt, láng bóng, cũng cho người ta cảm giác trơn tuột khi cầm nắm.

Sau dầu phộng, ước còn đến trăm thức ăn nữa, cũng từ nguyên liệu đậu phộng.

Nghề bán lạc rang, lạc luộc, kẹo đỗ ở các đô thị đã nuôi sống không ít thị dân nghèo. Kẹo mè xững – đậu phộng Huế là một trong những đặc sản Huế, có thương hiệu. Ra Hà Tĩnh lần đầu, tôi ngạc nhiên vì các bảng hiệu: “Trung tâm Ku – đơ” dựng dọc các đường phố. Thì ra, đó là tiệm kẹo đỗ, chế biến theo cách xứ này. Đám tiệc, nhờ món đậu phộng da cá mời trước mà thực khách sẵn lòng vui vẻ cụng ly, ngồi chờ giờ phút trịnh trọng tuyên bố khai mạc tiệc. Món chè trôi nước (bột nhứt, đậu phộng) chè tổng hợp nếp – đậu phộng rang – đường muổng nấu đặc vẫn là món chè ngon cho người hảo ngọt. Gói xôi nếp rắc muối đỗ vẫn là món điểm tâm của người nghèo trong các xóm lao động. Bao nhiêu đứa trẻ thơ ở các làng quê, đi học xa nhà, mỗi ngày nhờ cơm nắm muối đỗ mẹ cấp mang theo mà có bữa trưa ở lại trường. Ta vẫn nhớ ngoại, bữa chay nào cũng tương bánh dầu (do bà tự ủ), có màu nho chín, vị chua ngọt, mằn mặn, cho ngoại chấm đầu đũa và với cơm gạo đồng. Bánh dầu thịt (ép từ trái đậu bóc vỏ) lột hết lớp rơm quấn quanh, đem xắt thành lát, ăn với đường tán đen, cũng thích. Nhất là ăn vào mỗi trưa hè để uống bát trà Huế giải khát vun bọt, vừa mới pha. Nhiều tài liệu viết, ăn đậu phộng có lợi cho sức khỏe trái tim. Nhưng ăn cách nào thì đạt được điều lợi ích đó? Bánh dầu vỏ (ép bởi trái đậu nguyên vỏ) không ai ăn, nhưng là nguồn phân bón quan trọng: nó tốt ruộng, tốt vườn mà hơi nặng đất.

Trong lịch sử “tiến hóa” của ngọn đèn soi sáng đêm đêm, chắc thời kỳ đèn dầu phộng phải kéo dài tới mấy ngàn năm. Trải mấy ngàn năm, dân mình vẫn nhờ “thập niên đăng hỏa” (trừ anh học trò nghèo quá, tối ra sân đình quét lá bàng, đốt lửa ngồi học) mà đời nào cũng có lực lượng trí thức ra gánh vác việc nước, làm việc hữu ích cho đời, được đời tôn vinh là “Kẻ sĩ”. Không biết có bao nhiêu người tốt vẫn thức thi với đèn, bởi canh cánh một nỗi niềm ưu thời mẫn thế? Không biết có bao nhiêu cảnh ngộ phải nói lời “Chứng tri còn có ngọn đèn” để nhẹ đi phần nào nỗi đau vì oan khuất?… Thơ văn xưa vẫn viết “giấy vắn tình dài, tim lụn đĩa dầu hao…” để mô tả những cuộc tình, cách trở mà luôn nhung nhớ. Thương quá cái nghèo và lòng thơm thảo của người ở quê: đi ăn giỗ đâu cũng bọc theo trong khăn xéo chai dầu phộng, để làm phẩm vật dâng cúng.

Nhẩm đến nay, má mất đã lâu, vậy mà mỗi lần đoàn tụ nhân ngày giỗ má, những đứa con vẫn thích nhắc nhớ về má mình. Nhớ bao nhiêu chuyện, bao nhiêu kỷ niệm với má, trong đó có những bữa cơm thanh đạm: Cơm –  canh rau muống đậu phộng tươi sống giã nhỏ … má nấu, còn thơm phức cho tới bây giờ.

H. K. B

Địa chỉ: Huỳnh Kim Bửu

162 / 32 / 18 Nguyễn Thái Học Quy Nhơn – Bình Định. ĐT:  095 8501562.

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »