Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn xuôi’ Category

Trương Văn Dân

Chiều  hôm đó  vợ chồng tôi lên nghĩa trang thăm mẹ. Lúc này là đầu tháng mười một, ngày tử vong nhân. Gió lạnh thổi  trên các cánh đồng, rít lên trên mấy hàng cây lá cành trơ trụi. Những đám mây cuồn cuộn trôi lững thững  trên bầu trời thấp và âm u. Không gian phủ một màu xám, mặt trời le lói, chiếu sáng mù mờ nên trông  như ánh trăng khuya. Chúng tôi bước đi  trên con đường nhỏ, trống trải và cái  rét nhè nhẹ len lỏi qua lớp áo choàng không dày lắm.

Trời lúc này đã vào thu, không gian bàng bạc mơ hồ đã khiến tôi liên tưởng đến câu thơ cổ : “Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu ”  (một lá ngô đồng rụng, thiên hạ biết mùa thu ) rồi chợt nhớ lần đầu  nhìn thấy cây ngô đồng trên đất thần kinh mà các vua lệnh trồng để phượng hoàng về đậu trong vườn thượng uyển. Ở đây, trên đất  Italia không có ngô đồng, nhưng  mọi người vẫn biết mùa thu đang tới vì những lá phong ven đường đã nhuốm  vàng và bắt đầu ửng đỏ.

Vợ tôi mang theo bó hoa. Đến nơi, nàng không quên cắm vào bình và đặt viên chocolat, loại sinh thời bà rất thích, dưới chân chiếc lục bình. Tôi nhìn nụ cười phúc hậu của mẹ nàng trong ảnh. Người đàn bà tóc vàng, đôi mắt mở to sau đôi kính, như muốn nhắn gửi một điều gì cho con cháu. Trên vai bà có quàng một chiếc  khăn lụa trắng, lấm tấm những đoá hoa vàng trên nền  xanh da trời. Tấm ảnh ấy chúng tôi chụp trong mùa Giáng sinh năm nào  ở nhà bà. Mới đó, quây quần bên nhau ăn uống,  mà giờ đã ba năm.

Mấy tháng trước đến đây, những hộc tro bên  chỗ nằm  muôn đời của mẹ hãy còn trống, mà bây giờ đã khép kín, gần đầy. Bên cạnh mẹ lại vừa có thêm di ảnh của một người Á châu, xác chắc mới được hỏa thiêu và vừa mang đến. Tôi ngắm khuôn mặt chưa già lắm của anh, chỉ chừng bốn mươi ngoài rồi lòng thầm hỏi:  Nếu đời là cát bụi, thì cát bụi ấy ĐẾN từ đâu mà lại TỤ ở nơi đây. Trên đất khách quê người?

Từ mộ mẹ đi ra, tôi hay thả bộ, lững thững trên các con đường nhỏ  xung quanh nghĩa trang. Đó đây trên những tấm bia có những hàng chữ thường làm tôi chú ý: Chẳng hạn , bên cạnh  ngôi mộ của một cụ già  có lời  cầu nguyện  cho người ra đi  mãi mãi ngủ yên, bình an trong vòng tay nhân ái của Chúa: “Requiem Aeternam”, “Nơi an nghỉ  muôn đời”. Hoặc có khi  là một lời xót thương, tiếc nuối của người vợ  trẻ: “Yêu anh dễ, quên anh không thể “ (Amarti  è facile, dimenticarti è impossibile); hoặc một lời xác nhận: “Không ai có thể chết khi vẫn còn hiện diện trong tim người sống “.

Phần đông những lời khắc trên bia là  những tiếc thương, nuối tiếc. Nhưng không phải trên tấm bia nào cũng chỉ có lời than thở, vì đôi khi cũng có những ý tưởng rất khác, thí dụ trên tấm bia chung, chắc của các con lập cho mẹ, mất  năm 1979, và cha, mất năm  2001, có ghi: “Trong niềm vui  ba má đã gặp  lại nhau, chúng con xin biến nỗi đau thành lời cầu chúc “ ( nella contentezza che vi siete ritrovati, il nostro dolore si trasformano in gioia )… vài hàng ngắn ngủi nhưng nó nói lên tất cả nỗi buồn  và quạnh quẽ của người cha, sống cô độc  hơn hai mươi năm, kể  từ khi mất vợ.

Lang thang đây đó, nhưng rất nhiều lần trước khi về hẳn, tôi thường dừng lại bên một ngôi mộ thật lớn, nơi có bức tượng đồng một  nữ thiên thần đứng trên  chân phải, nửa người gập về phía trước, còn chân trái đưa cao, duỗi  thẳng ra sau  cùng với hai cánh tay giang rộng, vươn lên cao, chênh chếch về sau  thành hình đôi cánh mở tung, trong tư thế  sắp sửa  bay lên. Lần nào qua đây tôi cũng thấy rất nhiều hoa, loại đắt tiền. Người quản nghĩa trang có lần cho biết là gia  đình này mỗi ngày đều thay các bó hoa tươi, toàn những thứ hiếm và đẹp đã khiến tôi nghĩ ngợi rất nhiều về gia đình quý tộc này. Người thân của họ đã  không còn nữa mà họ vẫn còn  tiếp tục sống bằng kỷ niệm. Trong đó có những giây phút không quên của quá khứ,  mà những bó hoa kia không gì khác hơn là sự ngưng đọng  của các nỗi đau đớn triền miên. Kéo dài từ lúc người thân mất, đến hôm nay cho đến mãi mãi về sau.

Trên nấm mộ sang trọng đó có tấm di ảnh một người thanh niên làm bằng đá mài, màu sắc linh động, nhất là đôi mắt mở to, miệng mỉm cười hướng về phía người đối diện. Cạnh đó có một tấm bảng bằng đồng khắc ghi hàng chữ: “  Xin đừng khóc. Con sẽ tiếp tục và mãi  mãi yêu thương ba má từ thế giới bên kia! Tình yêu là linh hồn, mà linh hồn thì bất tử“. Ai đã thốt lên điều đó? Chắc không phải của những người  lập mộ, vì có lẽ đó  là những lời cuối cùng của người trong ảnh, khi bàn chân đã bắt đầu giá lạnh mà  trái tim  hãy còn  hâm hấp nóng, thì thào để  an ủi những người thân đang nước mắt lưng tròng. Ngay lúc anh ý thức rằng  đời sống của mình sắp sửa lụy tàn.

Tôi nghĩ là chính anh đã nói thế, vì có lẽ cho đến lúc ấy anh đã không sợ chết, có khi còn xem cái chết  là một phần của đời sống, điều tất nhiên phải đến trong cuộc đời, và  ý nghĩ đó đã khiến anh bình thản, sẵn sàng đối diện, để không phải quay đi mà không dám ngoái đầu nhìn lại. Nói chung là anh biết chấp nhận chân lý của cuộc tử, sinh. Dù, ai lại không muốn sống một đời sống đẹp, dài lâu, có ý nghĩa, hữu ích cho đời, nhưng chắc là lúc ấy, khi đau đớn đang hoành hành trên  thân thể rã rời, trên xác thân sắp bắt đầu băng hoại, anh đã thấy là không còn gì để  tha thiết nữa. Chắc chắn anh đã nhìn cái chết của chính mình như một giải thoát, mà vướng bận cuối cùng chắc chỉ còn cho  những người thân còn ở lại. “ Tôi sẽ tiếp tục yêu thương các người từ thế giới bên kia! Tình yêu là linh hồn, mà linh hồn thì bất tử”. Lời xác nhận ấy thường làm  tôi  liên tưởng đến những người đã chết mà linh hồn như còn vảng vất đâu đây, quanh quẩn như còn muốn lưu lại trần thế, để phù hộ cho những người ruột thịt. Rồi cảm thấy mến anh, dù chưa hề quen biết .

Chưa quen biết nhưng tôi vẫn cầu mong  là lúc về nước Chúa  lòng anh được bình an. Tôi hy vọng như thế. Bởi đứng trước cuộc chia ly, dù cứng rắn và ý thức đến đâu, nào ai tránh được nỗi buồn?  Lòng kẻ ra đi và ngừơi ở lại làm sao thoát khỏi đớn đau, quặn thắt? Vì, trong kiếp người, nếu quả là  mỗi người đều mang một mệnh số, có một đời sống và mộng ước khác nhau, nhưng trong suốt cuộc nhân sinh dường như ai ai cũng đều phải chịu những đau đớn triền miên. Kể từ lúc mở mắt chào đời cho đến khi lìa bỏ cõi trần. Bởi  thân xác con người tuy bé nhỏ nhưng luôn phải gánh chịu những nỗi đau rất lớn. Thành ra xưa nay, đã có mấy ai ra đi vĩnh viễn mà lòng được  thanh thản nhẹ nhàng?

Từ nghĩa trang ra về, lòng  tôi cứ mãi bâng khuâng.  Vợ tôi vẫn chìm trong yên lặng, có lẽ nàng đang nhớ lại những kỉ niệm êm đẹp với mẹ mình. Tôn trọng phút giây thiêng liêng ấy  tôi cũng trầm ngâm suy nghĩ, chẳng buồn gợi chuyện.

Lúc về đến nhà, ngồi chờ vợ chuẩn bị bữa cơm chiều, tôi mở  TV, bản tin đầu cho biết là tổng thống Mỹ, George Bush,vừa tuyên bố chiến tranh kết thúc, sứ mạng của Mỹ tại Iraq đã hoàn thành. Nhưng bình luận viên lại cho hay là thực ra nó mới chỉ bắt đầu. Một ngàn ngày qua, kể từ 20/3/03, ngày liên quân Anh-Mỹ khởi đầu chiến dịch lật đổ Saddam Hussein, báo chí Tây phương vừa tổng kết là lớn nhỏ có hơn 200.000 cuộc nổi dậy và  hậu quả, tính đến nay đã có 18.000 lính Mỹ chết hoặc bị thương; Về  phía Iraq, hơn 30.000 thường dân thiệt mạng!

Bản tin sau đó  còn cho hay là  mới trưa nay  có ba chiếc  xe bom vừa gây thảm sát ở Iraq. Một nổ ở trại lính Mỹ. Một ở nhà ga xe lửa và chiếc thứ ba lao vào siêu thị. Hàng chục người chết và hàng trăm thương tật. Tôi rùng mình nhìn những hình ảnh đẫm máu trên màn hình rồi tự hỏi, tại sao cuộc sống càng ngày càng khó mà loài người cứ mãi  giết nhau?  Không tìm được trả lời, nhưng  bỗng nhiên tôi cảm thấy thật  phi lý khi nghĩ rằng, một người chết là một linh hồn, một  đời sống đã giã từ trần thế. Nhưng hàng nghìn người chết, nhiều khi chỉ còn là một con số vô nghĩa và lạnh lùng trên bảng thống kê .

Tôi châm một điếu thuốc rồi lặng lẽ  bước ra ban-công nhả khói. Nhìn những sợi trắng tản mạn bay lên, đầu óc ngẫm nghĩ bâng quơ, lộn xộn. Ngay lúc đó, một tiếng chuông  của ngôi chùa Tây Tạng từ hướng đông nam gần nhà vọng đến. Âm thanh  ngân dài, rất nhẹ, nhưng rung rất lâu trong không gian và khe khẽ thấm vào từng sớ thịt, len lỏi vào tận đáy tâm hồn. Tôi dụi điếu thuốc, lòng bỗng nhiên bình thản và sảng khoái hít một hơi dài ngụm không khí trong lành, hơi lành lạnh của buổi chiều tà, rồi chợt  nhớ lại là dường như mình vừa mới đọc được ý tưởng  tuyệt vời này ở một trang sách nào đó: “ Sao chúng ta không gom hết vũ khí trên trái đất, đúc thành những chiếc chuông nhỏ và phân phát cho tất cả mọi người, mời tham gia vào một cuộc đại diễn hành vòng quanh thế giới để đòi hỏi hoà bình: đồng loạt, đồng loạt những tiếng chuông cùng lúc gióng lên, ngân vang trong không gian, truyền đến mọi quốc gia trên quả địa cầu để tỉnh thức  tâm thiện của loài người.”

                                               

Trương Văn Dân

Milano 4-11-2005

Read Full Post »

Nam Thi.

 

Đó là  một sáng cuối năm 1970 ở Sài Gòn.

(more…)

Read Full Post »

Bùi Đăng Khoa

Tôi sợ nhất là viết thư, mà đã viết rồi thì không bao giờ đọc trở lại cả. Ý tưởng vừa viết ra đó, chỉ vài phút sau, thấy sao mà “ngố” quá đổi. Nếu “sơn sửa” lại, đọc cho xuôi tai thì cả tuần sau, thư vẫn chưa chịu xuất gia đến thùng thư. Bởi vậy, nên thư vừa viết xong, vội vàng dán lại, gửi đi ngay. Tú tài I học ban B, tú tài hai ban A. Sau “hai Tú” lại “phải” theo học khoa học kỹ thuật. Văn không có, chương lại quên, chữ nghĩa lỏng bỏng…Tôi phục lăn mấy ông cầm bút, chuyện có it, lại xít cho nhiều. Tài thật! Ngồi chưa nóng đít, tôi phải đứng dậy đi cái đã. Từ nhỏ, tôi thích nói chuyện hơn viết. Tháng nào cũng bị phê trong học bạ: “Hay nói chuyện trong lớp”. Đâu phải chỉ chấp nhận lời phê là yên thân đâu, bị ngồi viết phạt dài dài từ 200 đến 300 lần câu: “Tôi không được nói chuyện trong lớp”, sau lúc tan trường hay cà ngày thứ Bảy, Chủ Nhật, trong lúc ngoài kia trời xanh, mây trắng, tiếng chim non chím chíp đợi chờ hay rạp Tân châu đang chiếu phim mới,mà mình phải ngồi đây chịu trận. “Em tập làm văn” bắt đầu từ lớp Ba, lớp Nhì. Nhập đề, thân bài, kết luận. Tả thú vật thì nhập đề rằng: Nhà em có nuôi một con mèo, lông nó vàng…Tả trâu, tả chó, thì cứ theo đó mà..nhập. Đến lúc tả người, vẫn áp dụng cái câu cố hữu đó, ai ngờ lại bị ăn hột vịt lộn (00/20). “Nhà em có nuôi một ông nội, râu ông dài…” Kể chuyện, thì chỉ có năm, bảy người nghe, viết thì có nhiều người cùng nghe, (đọc), vậy thì phải viết, nghĩ sao viết vậy, viết bằng con tim, viết bằng cảm nhận của tấm lòng. Tất cả chuyện cổ tích đều bắt đầu bằng chữ Ngày xưa… Câu chuyện tôi viết đây cũng xưa, viết để tặng những người xưa, để cùng tôi về  lại Quinhơn trong tâm tưởng.

(more…)

Read Full Post »

Lê Xuân Tiến

Tháng chín, khi mưa gió bắt đầu dầm dề ở kinh thành Phú Xuân, thanh trà cũng chín tới. Những trái thanh trà màu xanh như ngọc, bóng lẫy như đôi vú con gái dậy thì. Bên trong là những tép thanh trà mọng nước ngọt và mát.

Tối hôm nay, dinh Bùi thái sư mở tiệc mừng lứa thanh trà đầu mùa. Bàn tiệc đặt trước hiên dinh, dưới những đèn lồng vàng đỏ tỏa xuống thứ ánh sáng lung linh ấm cúng. Mặc cho mưa lai rai ngoài vườn, trong bàn tiệc vẫn chuốc rượu mê say. Chuyện thanh trà chỉ là cái cớ. Trong dinh Thái sư vẫn ba ngày một tiệc nhỏ, năm ngày một tiệc lớn, thôi đủ mọi lý do: khi hoa nở, lúc trăng lên, lúc mừng toàn chuyện vặt. Cái chính là trong các bữa tiệc này, Bùi thái sư và các quan đồng rơ gặp nhau để tính toán chuyện triều đình, chuyện vây cánh.

Mở đầu tiệc rượu bao giờ cũng là chuyện đọc thơ, bình thơ và họa thơ. Tội nghiệp cho văn học. Lẽ ra nó có chức năng trung thực và cao thượng thì trong dinh Thái sư nó chỉ phục vụ cho những lời nịnh hót. Rượu đi theo thơ. Mỗi lời nịnh là tiêu đi một chén rượu. Mỗi khi Bùi thái sư gật gù, vuốt râu thì mặt người nào cũng sáng lên. Lộc phúc mỗi người sẽ tới từ cái vuốt râu ấy.

Ngắm nghía từng người Bùi thái sư chợt hỏi:

– Tình hình bọn Dũng, Diệu hiện nay ra sao?

Chưởng cơ Trần Đại Thiên – người đang cai quản mấy vạn quân bảo vệ Phú Xuân, đặt chén rượu xuống, vòng tay thưa gởi:

– Võ Văn Dũng trấn thủ Bắc thành, tình hình ngoài ấy rất phức tạp, ông ta trăm công nghìn việc, thì giờ đâu mà nghĩ đến việc triều đình. Còn Trần Quang Diệu đóng quân Diên Khánh, đang lo tối mắt về chuyện Nguyễn Ánh cứ đem quân ra quấy nhiễu, hơi sức đâu mà nghĩ đến chuyện thái sư. Ngoài biên ải không có chuyện gì đáng lo. Chỉ có việc trong triều người đáng lo là Lê Văn Hưng.

Thấy Thiên nhận định đúng ý mình, Bùi thái sư rót ra một chén rượu thưởng. Rượu hôm nay, nồng đậm quá nhưng nghĩ đến Hưng, Bùi thái sư cảm thấy đắng. Thái úy Phạm Công Hưng và đại tư mã Ngô Văn Sở là hai tướng tài, song tính tình nhu hòa, xử sự theo hướng yên dân nên Bùi thái sư rất dễ chiêu dụ. Chỉ cần chức tước, bổng lộc. Còn Lê Văn Hưng xuất thân là đầu đảng trộm cướp, lại ít học nên tính tình ngay thẳng, cương trực. Không thể lấy vàng bạc, nhà cửa mua chuộc. Dù được cấp cho ngôi nhà ngói ba gian ven bờ sông Hương, Hưng vẫn sống rất giản dị. Nhà không có rèm che trướng phủ, tối không có đèn lồng, không có con hát. Hưng vẫn mê ba điệu hát bài chòi dân dã như ở quê nhưng kinh thành làm gì có. Thế là khác với các dinh quan khác, Hưng dẹp tuốt.

Hưng là người “không có tóc”. Thân phận là đứa bé mồ côi, lăn lộn ngoài giang hồ rất sớm. Bà con gần rất ít, nên Bùi Thái sư muốn ban ơn cất nhắc ban phẩm hàm cho họ hàng cũng không tìm ra người. Muốn đưa Hưng lên chức, Hưng nhún nhường từ chối bảo thân phận mình được như vầy là phúc rồi. Bổng lộc, danh lợi không màng thì Bùi thái sư biết lấy gì mồi, nếu không có mồi, làm sao câu được cá. Cả vài năm, Bùi thái sư trăn trở vẫn không tìm ra cách để chiêu dụ Lê Văn Hưng.

Nhưng cách đây hai tháng, Bùi thái sư đã tìm ra ánh sáng cuối đường hầm. Người đáng được thưởng khi đưa ra sáng kiến chính là thái giám Lý Tựu. Nguyên Tựu là người hầu hạ cho Bùi thái hậu. Tựu quê huyện Phong Điền, Phú Xuân, có dáng đi ẻo lả như đàn bà. Viên thái giám này có đôi mắt mỏng lét, nói chuyện dẻo quẹo, cặp lồng mày tỉa tót hình lá liễu như lông mày phụ nữ. Cặp mắt lươn của y luôn luôn liếc ngang liếc dọc. Lúc Bùi Đắc Tuyên còn là thị lang bộ lễ, Quang Toản chỉ mới lên mười, Lý Tựu đã bày kế cho Tuyên với danh nghĩa cậu ruột thường lân la vào cung bày trò vui cho Quang Toản. Nhờ đấy, khi lên ngôi vua Quang Toản đã cất nhắc vượt bậc Đắc Tuyên lên làm thái sư. Nhờ thế, Lý Tựu cũng được nhờ.

Lý Tựu cho Bùi thái sư biết xưa kia, trước khi đi ăn cướp, Lê Văn Hưng có quen với cô gái tên là Ngọc Bích, hai người đã từng thề non hẹn biển. Hưng đã trao nhẫn cho Bích và hẹn năm năm sau sẽ về cưới Bích. Hưng đi ăn cướp rồi sau đó theo Tây Sơn. Bích ở nhà chờ đợi mòn mỏi. Đã qua năm năm mà chưa thấy Hưng về, Bích buồn tủi cho rằng Hưng đã phụ tình nên nhịn ăn mà chết. Nghe được tin Bích chết, Hưng rất hối hận và đau khổ. Dù đi đông, đi tây, đánh nam, dẹp bắc nhưng Hưng vẫn không nguôi nhớ đến Bích. Hôm ở Diên Khánh, Hưng có tổ chức cầu cơ. Nghe nói Bích có hiện về báo cho Hưng biết 13 năm sau, cả hai sẽ hội ngộ. Chuyện ma quỉ có tin được không, hạ hồi phân giải. Nhưng năm nay đúng là 13 năm từ lúc Hưng cầu cơ. Đây là cơ hội cho chúng ta.

– Nghe ông nói, tôi không biết cơ hội gì. Chẳng lẽ chúng ta lại nắn lên một Ngọc Bích thứ hai?

– Một vạn cô gái cũng có hai người giống nhau. Cố công tìm, ắt là có. Chừng đó chúng ta trang điểm lại rồi cho diện kiến với Lê Văn Hưng. Ắt hẳn Hưng sẽ cho là hồn Ngọc Bích đầu thai vào cô gái này. Lê Văn Hưng sẽ rất biết ơn lão thái sư. Chừng đó chúng ta muốn sai biểu Hưng cái gì lại không được. Bọn giang hồ mà, chúng trọng tình hơn lí.

Bùi thái sư cười hà hà, vuốt râu:

– Ông quả là cao kiến. Thằng Hưng này rất giỏi võ nghệ. Một mình hắn với cây roi có thể đánh ngã hàng chục người. Nó theo phe ta, thằng nào đụng tới ta. Hà hà

Nghĩ đến chuyện này, Bùi thái sư chợt nhìn sang Lý Tựu. Gương mặt gã thái giám đỏ lên vì rượu đang vểnh tai chờ thái sư sai bảo.

– Nè ông Tựu, chẳng hay vụ tìm ra cô Ngọc Bích của ông tới đâu rồi?

Gã thái giám cất giọng cười the thé

– Thành công mĩ mãn rồi thái sư ơi. Công lao tôi bỏ ra năm tháng trời tìm từ nam chí bắc không uổng công. Cô này là con gái phú hộ Thâm ở Quảng Nam. Bảo đảm cô ta giống Ngọc Bích như hai giọt nước. Nhìn thấy, thằng Hưng chắc phải mê mẩn.

Bùi thái sư lại vuốt râu:

– Rồi ông sẽ được thưởng. Nghe nói 10 ngày nữa là Lê Văn Hưng giỗ song thân. Ông mau mau đem cô ta lại.

Đến đây, Bùi thái sư lại nâng ly rượu lên mời các quan. Những tiếng khà vang lên như xóa tàn màn mưa ủ dột ngoài trời.

*

Đối với các quan, ngày kị song thân bao giờ cũng tổ chức nổi đình, nổi đám. Trước hết là để khoe của, để rạng rỡ tông môn. Sau đó là để kết giao với giới quyền lực hòng có lúc nhờ đỡ. Song ngày giỗ cha mẹ của Lê Văn Hưng ngay tại kinh thành Phú Xuân lại rất đơn giản. Chỉ một vài mâm cúng và dăm ba bạn thân đồng triều.

Giữa lúc tiệc mới sắp sửa, gia nhân vào báo “có thái sư tới”. Hưng phải đích thân ra cửa nghênh tiếp và tự hỏi: mình không mời, ông ta tới phải có chuyện.

Đi theo Bùi thái sư, lúc nào cũng có Lý thái giám và Trần chưởng cơ. Hưng vòng tay tạ tội:

– Dạ, hôm nay là ngày kị song thân. Hiềm ở chỗ tổ chức đơn giản quá, không dám mời thái sư

Bùi thái sư cười, xua tay

– Không cần lễ nghĩa gì. Lão nghe đề đốc có ngày trả hiếu nên cũng đến đây thắp mấy nén nhang bày tỏ lòng kính trọng.

Lê Văn Hưng thét gia nhân bày tiệc rượu. Ngồi chưa nóng đít, Bùi thái sư nói:

– Hôm nay, lão muốn tặng đề đốc một món quà. Chỉ một cái búng tay của thái sư, ngoài cửa hai tỳ nữ hộ tống một giai nhân mặc áo xanh bước vào. Một mùi hương thoang thoảng. Cô gái có gương mặt bầu bĩnh, mái tóc đen tuyền xõa ngang vai, đôi mắt to, cái miệng nhỏ chúm chím. Lê Văn Hưng nhìn cô gái rồi thảng thốt

– Ngọc Bích, có phải em không?

Phải rồi khuôn mặt này chính là của Ngọc Bích. Giống hệt nhau như hai giọt nước

Thuở hai đứa cùng đi ở cho hai nhà cùng làng chỉ cách nhau một con sông. Sáng nào Hưng dắt bò qua sông để ăn cỏ bờ bên kia cũng gặp cô gái ngồi giặt quần áo ở bờ đá. Qua lại, lần nào cũng gặp nên Hưng buông lời làm quen. Ngọc Bích không trả lời chỉ cười. Một nụ cười có duyên, làm Hưng mê mẩn. Rồi một hôm, trong làng có hát bội, Hưng ngỏ lời mời Bích tối nay cùng đi xem. Ngọc Bích từ chối “Em không quen đến chỗ đông người”. Không tới chỗ đông người lần sau, Hưng hẹn Bích ở bãi dài. Một bãi cỏ xanh ngát với những cây phi lao cao vút. Nhưng Hưng tới chờ một đêm trăng, buồn ngủ muốn chết, cho mãi đến gần khuya, mặc cho muỗi cắn, vẫn không thấy bóng dáng Bích. Sáng hôm sau, vừa thấy Bích ở bến sông, Hưng vội lên tiếng trách, Bích lại khóc thút thít: “Em muốn ra lắm nhưng chủ không cho”. Hưng lại lên tiếng xin lỗi, dỗ dành.

Về sau, Hưng thấy thương Bích như thương một viên ngọc. Rất mỏng manh, dễ vỡ và dễ mất. Bích là một cô bé hay hờn giận và mau nước mắt. Nói mà không giữ lời. Giận. Hẹn đến trễ. Giận. Nói chuyện với người khác phái. Giận. Đùa quá trớn. Cũng giận. Khoảng thời gian mà Hưng kết thân với Bích bao nhiêu hờn giận và bấy nhiêu nước mắt.

Tính Hưng nóng nảy và cộc cằn, anh như lửa cháy còn Bích thì ủy mị yếu đuối, Bích như giòng nước mát. Bích làm cho Hưng mát mẻ và cân bằng. Giờ phút ngồi bên Bích, Hưng cảm thấy hạnh phúc. Nhưng Bích luôn luôn nghi ngờ. Hưng mới rụt rè nắm tay Bích, cô vội vàng rụt lại, hỏi với giọng gay gắt: “Anh đã nắm tay bao nhiêu cô gái rồi”. Hưng lúng túng gãi đầu “đâu có!”. Hưng nhận một cái nhéo vào bắp đùi: “Mới ngồi bên con gái, anh đã vội nắm tay. Anh kinh nghiệm trai gái lắm phải không?”. Hưng ngẩn ngơ không biết trả lời sao. Anh nào biết cô gái nào ngoài Bích. Anh chỉ yêu có mình Bích.

Cuộc cầu cơ 13 năm trước ở Diên Khánh đã ứng nghiệm. Bích đã hứa và bây giờ Bích đã y hẹn. Hưng nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay phải của cô gái. Anh thấy vết hằn của chiếc nhẫn trên ngón tay út. Đúng là trước khi theo Tây Sơn, Hưng có trao cho Bích chiếc nhẫn một chỉ coi như là lễ đính hôn. Bích đã đeo nó vào ngón út chứ không phải ngón kế út. Anh hỏi: “vì sao?, Bích trả lời: “Giàu út ăn, khó út chịu”. Hưng hẹn năm năm sau sẽ về cưới Bích. Nhưng phong trào Tây Sơn như vũ bão. Hưng đã theo Nguyễn Huệ đánh nam dẹp bắc quên cả thời gian. Anh không còn nhớ ngày trở về. Thế rồi ở nhà, Bích đã quyết định xa anh mãi mãi.

Nỗi xúc động tràn ngập trong tâm hồn viên võ tướng. Một viên dũng tướng võ nghệ cao cường của Tây Sơn bỗng rơi nước mắt. Tất cả mọi người kể cả Bùi thái sư đều mờ nhạt trước mắt Hưng. Anh quì xuống trước mặt cô gái. Cô gái đâm hoảng hốt. Còn Bùi thái sư nhoẻn miệng cười mãn nguyện “cá đã cắn câu”. Hưng vừa khóc vừa nói:

– Ngọc Bích, hãy tha tội cho anh.

Cô gái giống Ngọc Bích như tạc không hề biết Ngọc Bích là ai. Cô tên là Thiên Phúc là đứa con gái độc nhất của viên phú hộ xứ Quảng. Đúng như tên gọi, đứa con gái như lộc trời ban xuống cho gia đình lão phú hộ hiếm muộn. Thời nhà Nguyễn, lão còn ruộng đất nhưng Tây Sơn tới đã chuyển hầu hết của lão cho dân nghèo. Cuộc sống của lão trở nên đạm bạc hẩm hiu nếu không nhờ con gái lão mà Bùi thái sư đã ban cho tiền bạc và phẩm tước. Về tới dinh thái sư, Thiên Phúc đã trải qua thời gian học đi đứng, ăn nói cho đúng với hình ảnh Ngọc Bích. Nhưng trước thái độ quá ủy mị của Hưng, Phúc không biết làm sao, cứ nhìn Bùi thái sư cầu cứu. Bùi thái sư nhìn cô nháy mắt, gật đầu.

Bối rối trong giây lát, Phúc nói bằng một giọng nhỏ nhẹ (đã được tập luyện)

– Em đã đến đây rồi

Hưng ngẩng đầu lên

– Nghĩa là em tha thứ

Thiên Phúc khe khẽ gật đầu rồi hai tay nâng Hưng dậy. Hưng đứng lên khóe mắt vẫn còn mấy giọt nước mắt như gương đã vỡ lại lành.

Hai người đứng trước bàn thờ quì lạy song thân. Thế là Thiên Phúc đã về với Lê Văn Hưng.

Lần ân ái đầu tiên với Thiên Phúc đã đưa Văn Hưng lên tuyệt đỉnh cảm xúc. Đã bao lần hẹn hò với Ngọc Bích dù ở những nơi thanh vắng, chưa bao giờ Hưng ôm trọn người yêu trong vòng tay. Vì Bích luôn luôn giữ một khoảng cách trước anh. Cô luôn luôn nói “hãy chờ đợi cho đến ngày ấy”. Nhưng gần Bích, Hưng luôn bị quyến rũ bởi mùi hương con gái trinh nguyên, mùi bồ kết trên mái tóc. Xa Bích làm cho Hưng nhớ quay quắt. Nhưng chiến tranh là sống hay chết, mình không giết, kẻ địch sẽ giết mình. Vì thế nhiều lúc Hưng không còn nhớ đến Bích. Khi nhớ thì “gương đã vỡ” Hưng ôm hận và đáng tiếc. Bây giờ ôm Thiên Phúc, anh cũng bị cái gạt tay chiếu lệ. Rồi Phúc lăn vào anh một cách dữ dội. Nằm bên Phúc mà anh tưởng như nằm bên Bích. Bao nhiêu nhớ thương đã được đền đáp. Hưng ngấu nghiến, say mê như chưa từng có.

Hôm sau, thức dậy Hưng bàng hoàng. Bên anh là một mùi hương khác lạ, không phải là mùi bồ kết dân dã, thôn quê trước đây. Nhìn kĩ người con gái anh vẫn thấy được Bích. Dù là ai đi nữa, Bích đã đến đúng hẹn rồi.

Hôm sau, Hưng mang lễ vật đến phủ thái sư

Bùi thái sư tiếp anh với nụ cười đồng cảm:

– Tôi mừng cho ông tìm được người yêu

– Dạ đêm qua tôi như rồng gặp mây nhưng sáng ra thì áy náy không biết lấy gì trả ơn cho thái sư

Bùi thái sư lại vuốt chòm râu, nhẹ nhàng bảo:

– Ơn nghĩa gì đâu, chỉ cần đề đốc cư xử đúng mực là được

– Thế nghĩa là sao? Thái sư chỉ bảo thêm

– Trong triều có kẻ không ưa lão, nên nói bậy nói bạ, họ có lôi kéo ông, ông cứ giữ mực trung dung như xưa nay: trung với vua, hiếu với nước là được.

– Gì chứ chuyện đó, dễ quá. Tôi xin tuân lệnh thái sư

Bùi thái sư cười rung rung cả chòm râu. Như vậy mục đích ông đặt ra đã đạt rồi

Lúc bấy giờ, trong triều đình phân hóa làm hai phe. Một phe ra sức nịnh nọt Bùi thái sư. Phe này thuê bọn làm thơ, ngày đêm làm ra những bài thơ ca ngợi Bùi Đắc Tuyên như một ngôi sao sáng vì dân vì nước. Bọn làm thơ thì tự cao tự đắc coi thiên hạ như cỏ rác mà thực chất chỉ là bọn giòi bọ bám vào đống phân. Phe thứ hai rất bất bình trước cách cư xử của Tuyên nhưng phần lớn im lặng, chỉ có một số người phản kháng thì hoặc là cách chức, hoặc bị lưu đày. Những trung thần có tiếng nói ngược lại thì hôm sau nhận chiếu chỉ của Quang Toản nhẹ thì lưu đày, nặng thì cách chức.

Một hôm Trần Long Vĩ đến dinh đề đốc với bộ mặt căng thẳng. Y lấm lét nhìn chung quanh rồi hỏi nhỏ Hưng:

– Ông là tướng Tây Sơn, theo tiên đế chinh chiến khắp nơi mà thấy cảnh chướng tai, gai mắt ở triều đình mà ông cứ ngồi yên là sao?

Lê Văn Hưng nhìn trừng trừng vào Trần Long Vĩ:

– Tới nhà tôi chơi, đừng bàn chuyện triều đình. Tôi không muốn nghe đâu

Trần Long Vĩ ngồi lại nói mấy câu nửa chừng thấy Hưng bịt tai, bẽn lẽn cáo lui như con chó cụp đuôi.

Hôm khác, vị quan đồng triều là Đình Sĩ An hớt hải chạy tới gặp Hưng, khuôn mặt uất ức

– Tôi có thằng cháu ở quê lên Phú Xuân chơi. Mải mê ngắm cảnh nhà phố nên không nghe tiếng ngựa, tiếng người thét tránh đường. Lúc đó quan chưởng cơ đang đi tuần. Vậy mà thằng lính đâm cháu tôi lòi ruột. Tôi tâu với quan thái sư xử tội kẻ giết người mà quan vẫn giả lơ. Biết ông có vai vế trong triều, ông nói giùm với thái sư một tiếng.

Lê Văn Hưng mặt lạnh như đồng, thản nhiên nói:

– Việc đó, xin ông nhờ người khác

Sĩ An nhìn vào mặt Hưng như nhìn con vật lạ

– Thôi rồi, người cương trực như ông mà đối xử như vậy thì nhà Tây Sơn suy sụp rồi.

Đình Sĩ An vừa bưng mặt vừa chạy ra khỏi nhà.

Không biết vì sao, tin tức ở đây lọt vào tai Bùi thái sư. Hôm sau, có chiếu chỉ của vua Cảnh Thịnh cách chức cả hai người.

Thường ngày Lê Văn Hưng rất quí Võ Văn Cao. Ông ta quê ở Phú Yên làm quốc tử giám trực giảng rồi thăng làm thái tử Trung Doãn thời Quang Trung, Võ Văn Cao đúng là một trí thức thời Tây Sơn. Kiến thức rộng nhưng Văn Cao luôn khiêm tốn, tính tình cương trực. Văn Cao cũng quí Hưng, thích cái tính mộc mạc, chân quê không rườm rà, huê dạng của một vị tướng xuất thân từ giới đạo tặc.

Rồi Văn Cao đến dinh của Hưng. Ông nói đến để chào từ biệt, về quê cư tang mẹ nhưng chắc ông không trở lại triều đình. Ông từ quan để ở nhà cày ruộng. Giọng ông xúc cảm:

– Thấy trái mà sợ, không mở miệng được. Ăn ba đấu gạo của dân chỉ làm bù nhìn thì ngồi ở triều đình để làm gì.

Lần này, Hưng không thể làm mặt lạnh được nữa

– Chuyện gì mà không nói được

Gương mặt Võ Văn Cao đau khổ:

– Chính ông là võ tướng nổi tiếng ngang tàng mà phải ngậm miệng huống chi tôi.

Hưng nghe nói, miệng chỉ ừ hử mà lòng đã bắt đầu xốn xang. Văn Cao về rồi, triều đình này còn ai để bầu bạn. Mấy tháng sau, Hưng nhận được thư của Võ Văn Cao. Mở ra, Hưng nhìn thấy một số bài thơ của Cao chê Tuyên là gian thần. Hưng lật đật đưa cho Thiên Phúc đốt đi. Không biết sao mấy bài thơ lại rơi vào tay của Bùi thái sư. Tuyên rất căm hận Cao, đến khi Cao chết Tuyên còn truyền cho quan huyện địa phương bắt phải mở quan tài ra xem coi thử chết thật hay chết giả.

Nghĩa tử là nghĩa tận, Hưng không chấp nhất hành động thô bỉ với người chết. Ngay khi nghe tin, Hưng đã đến tận dinh của thái sư để phản đối. Giống như chuyện mẹ Mạnh Tử, ba lần bị người vu cáo con mình là kẻ cướp, bà phải bỏ chạy. Niềm tin của Hưng với quan thái sư đã xói mòn. Khi Hưng đến phản đối Bùi thái sư tái mặt nói lại với thuộc hạ “thằng này đã phản chủ”.

Sau mấy tuần thân thiết với Thiên Phúc, Hưng thấy tình cảm không giống như những ngày đầu. Trong đầu Hưng bỗng hiện lên những dấu hỏi nghi ngại. Lại gần Thiên Phúc, Hưng nhận ra đó là Ngọc Bích ở khuôn mặt, ở cơ thể nhưng mùi hương da thịt không phải là nàng. Ngọc Bích là đóa hoa dại của đồng nội, hương thơm của cây cỏ, đồng ruộng. Còn Thiên Phúc là hoa kiểng nhà giàu, hương thơm sực nức nhưng kiêu sa không hợp với một thằng bụi đời như Lê Văn Hưng. Ngọc Bích như đóa hoa luôn khép cánh, còn Thiên Phúc lúc nào cũng mãn khai, không còn gì gợi sự tò mò. Qua đêm tân hôn, Hưng đã nhìn thấy Thiên Phúc tận đáy. Thỏa thê chỉ mang lại cảm giác chán chê.

Về với Hưng, Thiên Phúc đã biến dinh đề đốc trở thành lộng lẫy với rèm che trướng phủ và đèn lồng xanh đỏ vào ban đêm. Vài đêm lại có một đêm ca Huế xôn xao kèn trống. Ngọc Bích đâu có biết đến ca Huế nàng chỉ thích hát bội, bài chòi. Những đêm có hội thường có hát bội là đêm vui của hai đứa. Ngồi nghe ca Huế, Hưng thấy mất hình ảnh Ngọc Bích. Có đêm Hưng rời bỏ cuộc vui nửa chừng, đi tìm bọn vạn đò uống rượu đến sáng mới bò về nhà.

Hưng rất ghét Lý thái giám. Đàn ông không ra đàn ông mà cũng chẳng phải đàn bà. Cặp môi mỏng lét chỉ chuyên nói lời nịnh nọt. Nhưng vài ba đêm, Thiên Phúc lại gặp thái giám. Hình như để xin xỏ gì gì đó cho bà con họ hàng. Thật khác xa với Ngọc Bích, sống khẳng khái ít khi bợ đỡ ai. Từ đó Hưng có cái nhìn khác với Thiên Phúc.

Trước đây trong giấc mộng Ngọc Bích lại hiện về. Bây giờ có Ngọc Bích mới, Hưng không còn thấy nàng nữa. Ngọc Bích ở cạnh Hưng hiện nay chỉ là thể xác là dung mạo. Một cái thể xác rỗng không. Linh hồn của Ngọc Bích không có mặt ở đây. Bây giờ Hưng mới thấy rõ: cái đẹp của thể xác chỉ là nhất thời còn cái đẹp ở linh hồn mới là vĩnh viễn. Phụ nữ đến tuổi già đâu còn nhan sắc, nhưng họ vẫn còn tính cách, linh hồn.

Những ngày trôi qua với Thiên Phúc là những ngày buồn bã. Càng ngày Hưng lại nhìn thấy những cảnh chướng tai gai mắt ở triều đình. Hưng uống rượu nhiều hơn, nhiều lúc say mèm, Hưng lại muốn nhìn Ngọc Bích trong giấc mộng. Nhưng Hưng không thấy gì cả. Hưng muốn trở lại Diên Khánh để tìm lại nàng như 13 năm trước đã gặp trong buổi cầu cơ. Làm võ tướng anh sốt ruột khi thấy bọn ăn không ngồi rồi, suốt ngày chia phe phái chém giết lẫn nhau. Trong khi ngoài mặt trận biết bao nhiêu chiến sĩ Tây Sơn đang đổ máu để bảo vệ cơ đồ.

Lê Văn Hưng đã lên xin thái sư được ra chiến trường. Bọn Lý Tựu, Trần Đại Thiên bàn với Bùi thái sư là không nên “nuôi hổ gầm giường”. Sáng hôm sau có chiếu chỉ của vua Cảnh Thịnh, cấp một vạn quân cho Lê Văn Hưng đi Diên Khánh hỗ trợ cho Trần Quang Diệu.

Lê Văn Hưng điểm binh và tức tốc lên đường. Thiên Phúc hay tin muộn, thảng thốt vì Hưng không một lời từ giã. Nàng xúi gia nhân đóng ngựa vào xe, đuổi theo. Nhưng tới đèo Hải Vân thì mất dấu.

Thiên Phúc dừng ngựa ở đỉnh đèo nhìn bốn bể núi đồi chập chùng, biển trải rộng mênh mông. Bên tai chỉ nghe tiếng chim kêu, tiếng vượn rú. Thiên Phúc bưng mặt, nghẹn ngào cất tiếng khóc.

Lê Xuân Tiến

Read Full Post »

BNV

Ra khỏi phòng siêu âm, Loan tất tả ra đường, nơi chồng  đang đợi. Nhìn dáng đi của chị và nhìn vào đôi mắt đang hớn hở cười khi chị đến gần hơn, anh cũng có thể đoán được rằng kết quả đã đúng như anh chị mong đợi gần tháng nay: chị đã mang thai. (more…)

Read Full Post »

Tôi không phải dân Nẫu. Thằng bạn Việt kiều Ý gốc Nẫu xúi tôi viết về Nẫu, kèm theo lời khuyên (răn đe ?), nên tham khảo những bài do người Nẫu viết. Không ! Tôi chẳng cần tham khảo sách vở. Tôi viết về Nẫu dưới con mắt của người Sài Gòn, viết theo ký ức và cảm nhận.

Vũ Thế Thành

Ám ảnh

Hồi trung học, tôi từng chứng kiến bà vợ Bình Định mắng…chồng, chỉ hiểu loáng thoáng, rõ ràng bả đang hét bằng tiếng Việt, mà hình như xen lẫn tiếng… lạ. Hồi trẻ, gặp gái Bình Định là sợ, về già gặp mấy bà Bình Định là hãi. Chết xuống âm phủ, gặp ma nữ Bình Định thì coi như hết kiếp (khỏi đầu thai). Nói như thế để thấy hồi trẻ tôi bị ám ảnh thế nào. Đàn bà con gái gì mà roi quyền cung cước, thấy là muốn… ù té chạy. Tôi có phải là Lưu Bị đâu mà đứng lại vờ vĩnh sợ hãi, để Ngô quận chúa dẹp hết đao kiếm, dắt chả vào phòng… hoa chúc.

Hồi đó cứ tưởng Nẫu là dân Quảng Ngãi, sau mới biết mình lầm. Bình Định, và cả Phú Yên nữa mới là Nẫu. Tôi hỏi thằng bạn Nẫu: “ Bộ mấy bà Nẫu dữ lắm hả?”. Y tần ngần: “ Chỉ hơi nóng tính thôi, chứ còn chịu khó lo cho chồng cho con lắm”.

Người Nẫu bảo thủ, gia phong, khuôn phép, cục bộ đến độ hơi cố chấp. Đàm tiếu từ dòng họ làng xóm, thì Nẫu ngán, chứ dư luận bên ngoài thì Nẫu…chấp. Bạn tôi dân Sàigòn làm rể Nẫu, hàng năm về quê vợ ăn giỗ, đau khổ về mấy cái nghi thức “duy nhất đúng” kiểu Nẫu.  Về lại Sàigòn là y hú anh em ra quán nhậu xả stress, rồi đi đến kết luận: “364 ngày bả lo cho tao. Tao có 1 ngày để… khổ vì bả, cho bả nở mày nở mặt với bà con. Một ngày của tao còn gấp trăm lần cái ngày 8 tháng 3 ở Sàigòn. Mấy thằng mua hoa nịnh vợ là mấy thằng có…khuyết điểm”.

Dĩ nhiên chẳng dại gì lấy một vài trường hợp riêng lẻ, rồi khái quát thành đặc tính của cả một vùng, nhưng đó là cảm nhận, mà cảm nhận thì có ai giống ai?

Giọng Nẫu không khó nghe lắm, biến âm nặng một chút, nhưng chen vài “tiếng  lạ” thành ra khó hiểu. Phải nghe Hoài Linh hát cái bản thất tình (tôi quên tựa) mới thấm hết cái giọng Nẫu. Lại thêm cảnh tượng một Hoài Linh gầy nhom, lê la ở quán ven đường than thở “ …  Anh bây giờ, khoé mắt sầu cứ rung rinh có giọt lệ sầu, giọt lệ thảm như nước trong bình nó tuôn ra…”.  Trời ơi! Nghe thê lương, sầu thảm gì đâu… Đúng là “nẫu” cả…ruột gan. Chí Phèo có nghe, chắc cũng rơi lệ.  Tác giả, tôi đoán, chắc bị em Nẫu nào đó phóng cho một cước chí mạng mới làm nổi cái bài “Đệ nhất thất tình ca” này.  Tôi thích bản này, nghe rách cả băng video, nhớ lõm bõm vài câu.  Bây giờ muốn nghe lại, chẳng biết tìm ở đâu. Một di sản độc địa như vậy, sao cất kỹ thế !

Người Nẫu ghiền bánh tráng. Thằng bạn Nẫu hót với tôi về nghệ thuật cuốn bánh tráng quê nó tỉ mỉ tới tầm…quốc tế, cứ như nghệ thuật ăn bốc của dân Ấn. Mặc kệ ! Tôi chưa bao giờ thử  thách đôi tay mình theo cách này (dĩ nhiên, có ai đó cuốn sẵn thì vẫn hơn). Tôi từng dẫn mấy ông Tây bà đầm đi ăn bánh tráng phơi sương, thấy họ toát mồ hôi vì…cuốn. Tôi nói : “Làm theo tôi !”. Lấy bún, khế, chuối xanh, rau thơm, thịt, bánh tráng xé nhỏ ra cho hết vô chén, rưới mắm nêm lên. Rồi, Action ! Tây khen: Good…good…  Thiệt giả không biết, nhưng mặt họ tươi hẳn lên, trút được  gánh nặng ngàn cân.

Người Nẫu hiếu khách quê mùa kiểu… Nẫu.

Tôi thường đãi khách ở một quán quen.  Quen, nên có lần hỏi chuyện một cậu phục vụ ở đó. “Rượu Bàu Đá hồi đó uống ngon, sao bây giờ dở quá vậy. Kinh tế thị trường hả?”. “ Quê cháu đâu có làm rượu giả. Chú mua phải rượu dỏm rồi. Thứ 7 này về quê, cháu sẽ mua tặng  chú”. Chuyện tưởng quên.  Lần sau tôi trở lại, cậu ta mừng rỡ: “ Cháu chờ chú cả tháng nay”. Rồi quay vào bếp, mang lên bình 2 lít, trịnh trọng: “ Đây là rượu Bàu Đá quê cháu, tặng chú uống chơi”. Tôi cám ơn và trả tiền bình rượu. Cậu ta từ chối. Quê cậu ta ở An Nhơn, Bình Định.

 

” Tâu hoàng thượng, khi nào ngài tái sinh?

Hơn 10 năm trước, tôi đi công tác Quy Nhơn, rồi ghé Bảo tàng Quang Trung ở huyện Tây Sơn. Hôm đó vắng khách. Tôi vào thắp nhang, xem di tích, rồi ra ngoài điện thờ, chụp ảnh tượng đài. Đang loay hoay vì ngược nắng, thì một anh thợ chụp ảnh dạo bước đến đề nghị chụp dùm. Chuyện nhỏ! Biết tôi là dân Sàigòn, thế là anh “mở máy” nói, chỗ này là nền nhà xưa của anh em Tây Sơn, chỗ kia là nơi  luyện võ. Ông Nhạc dân gọi là ông Hai Trầu, Nguyễn Huệ là chú Ba Bình vì Huệ là tên chị dâu. Đây là giếng nước, cây me ngày xưa họ dùng. Rồi anh chỉ hướng nào là vựa trầu của ông Nhạc, chỗ nào là quê ông Dũng, chỗ nào quê ông Diệu, họ tụ nghĩa thế nào,…  Càng nghe càng hứng.  Đột nhiên, giọng anh trầm lại, “ Em nghe ông bà  kể lại, nơi đây, đêm đêm họ nghe thấy tiếng ngựa phi, tiếng binh khí, thấy cả bóng đoàn quân cưỡi ngựa qua núi. Bây giờ không còn nữa”..  Tôi cám ơn anh phó nhòm kiêm “sử gia dân dã”. Gửi biếu ít tiền, anh từ chối.

Tôi hiểu, quê Nẫu nghèo, cần kiệm đôi khi trên mức cần thiết một chút. Vùng đất này đã có thời là “hang ổ” của “ngụy quyền” Tây Sơn, bị nhà Nguyễn truy bức bách hại cả gần trăm năm. Họ trở nên khép kín, nhưng cái hào khí năm xưa vẫn là nỗi luyến tiếc và trở thành huyền thoại. Như cái lò xo bị nén, một khi lòng tự hào được bung ra, Nẫu sẽ chơi… xả láng. Tự ti xen lẫn tự tôn là thế!

Nói đến vua Quang Trung, tôi lại nhớ đến bài thơ : “Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.

Nay, cửa khuyết không còn, nhưng đền thờ còn. Tiện dân từ phương Nam khấu đầu, kính bẩm: “Tâu hoàng thượng, khi nào ngài tái sinh?”.

Vũ Thế Thành

Read Full Post »

 Đinh Tấn Khương

Ở cái tuổi trên 60, cuộc sống  của gia đình ông thì cũng tương đối ổn định. Với ông, ổn định có nghĩa là các con đã yên bề gia thất và tự nuôi lấy thân của chúng được rồi .Trời thương, sức khỏe vợ chồng ông cũng còn tương đối tốt. Không phải vì thế mà ông không chịu lo cho ngày chết, mặc dù tuổi đời của ông cũng chưa già lắm. Nhưng làm sao mà biết được cái chết sẽ đến lúc nào!?

Nghĩ vậy, vợ chồng ông bắt đầu tìm đọc kinh sách Phật giáo. Giáo lý của Đức Phật đã giúp ông hiểu được tính vô thường của cuộc sống. Nhờ thế ông cũng “ngộ” được một chút xíu.

 

Cái may mắn là, ông có được một vị Hòa Thượng tận tình nâng đỡ tinh thần và chỉ dạy. Bài học nhập môn, thập nhị nhân duyên, ngũ uẩn.. đã được giảng giải tường tận. Thầy rất kiên nhẫn vì nhận biết rằng ông vẫn chưa hiểu hết. Cũng có khi hiểu rồi mà lại không nhớ. Hay là nhớ rồi mà lại không biết làm sao thực hành cho đúng, theo giáo pháp.

Tính kiên trì học tập của ông đã được đáp lại bằng những lời dạy thực tế, nhờ thế việc tu học của ông cũng có phần tiến bộ, dù chậm.

Có khi, ông cảm nhận một chút tự hào về mình, chỉ một chút thôi. Nhưng vị Thầy của ông đã nhận biết nên khuyên ông là phải nổ lực hơn nữa để ngăn chận nó lại. Và ông tiếp tục hành trì theo những lời chỉ dạy của vị Thầy.

Ông nhớ mãi lời dặn:

–         Con hãy quên hết những gì con đọc, đừng ráng nhớ những gì Thầy đã dạy. Không cần nhớ thập nhị nhân duyên, ngũ uẩn giai không..Con chỉ tập làm sao để loại trừ  được “cảm thọ” trong tâm mình, là đủ cho con rồi.
Thầy mãi nhắc đi, nhắc lại 3 thứ cảm thọ cần phải tiêu trừ, đó là:

–         Cảm thọ vui

–         Cảm thọ buồn

–         Xả thọ

Riêng con, Thầy chỉ khuyên, cần bỏ hai cái cảm thọ đầu tiên là đạt. Khi nào con làm được như vậy, Thầy sẽ chỉ tiếp..

 

Ông hớn hở ra về và tự hứa với lòng mình là sẽ làm được như vậy, nhất định là phải được, cho dù có gặp phải những hoàn cảnh khắc nghiệt tới đâu!
Đã có nhiều lần ông vượt qua, nhưng chưa được hoàn hảo cho lắm. Dù thế, Thầy ông vẫn khích lệ bằng những bài học thực tế khác, giúp ông tiến bộ nhiều hơn trong việc tu học.

Cho tới một hôm…

 

Cái hôm mà người bạn đồng môn từ quê nhà sang Úc dự khóa tu nghiệp. Tình cờ người bạn nầy đọc thấy tên ông trên cái tấm plaque đặt ở phía trước văn phòng làm việc, lúc đang đi dạo dọc theo khu phố có nhiều người Việt.

Gặp nhau, hai người mừng rỡ và đưa nhau đi ăn trưa để tranh thủ thời gian được gần gũi, vì người bạn  phải trở về VN vào ngày hôm sau. Vừa bước vào cái quán ăn, ông chợt nhìn thấy một người đàn bà, độ tuổi ngang tầm mẹ ông. Bà có nét mặt quen quen mà ông không nhớ là đã gặp ở đâu. Câu chuyện giữa chừng, mà thằng bạn đang tiếp tục kể đã không cho phép ông bận tâm về người đàn bà ấy thêm nữa.

 

Một chặp sau, ông nghe bà nói nhỏ với người ngồi bên cạnh:

–         Cái cậu ngồi bàn kìa kìa, ngày xưa mẹ con nó nghèo khổ lắm, có người ác miệng cho là “thứ trôi sông lạc chợ”. Thương tình Ông Bà Nội tôi đem về cho ở giúp việc nhà, nhờ vậy mà có tiền nuôi con ăn học. Không biết nó còn nhớ tôi không nữa!?
Rồi hai người đàn bà tiếp tục thầm thì gì đó, mà ông không nghe rõ.

Ông cố giữ vẻ mặt cho được bình thường dù rằng tâm ông đang dậy sóng.  Quay sang người bạn, hỏi một vài câu bâng quơ để cố xua tan cái đám mây đen đang ùn ùn kéo tới, trong tâm ông.

Bấy giờ ông đã nhớ người đàn bà đó là ai rồi. Ông định xong bữa ăn ông sẽ bước đến chào bà, nhưng đã không kịp vì họ đã rời tiệm ăn không lâu sau đó.

Về lại văn phòng, tâm ông bắt đầu dậy sóng thêm nữa, nhưng công việc bề bộn đã  khiến ông tạm quên.
Buổi chiều về nhà, thấy ông không được vui nhưng vợ ông không muốn hỏi, vì nghĩ rằng chắc là có chuyện gì đó không ổn, nơi chỗ làm. Tính bà thường như vậy, lúc nào bà cũng nghĩ rất đơn giản: “mọi chuyện rồi cũng sẽ qua”.
Như để trấn an, ông nói với vợ rằng hơi khó chịu trong người một chút, chắc là sắp bị cảm, cần đi ngủ sớm.

 

Nhưng suốt đêm hôm đó, làm sao mà ngủ được. Cái tâm của ông nó chạy nhảy lung tung.. hết nhớ chuyện của quá khứ rồi lại đến cái câu nói đã nghe được trưa nay, nó cứ lập đi lập lại mãi trong tâm của ông. Nó đã làm cho ông buồn lắm. Không phải buồn cho ông nhưng buồn cho linh hồn của Mẹ mình, một người mẹ mà ông luôn coi là một người mẹ vĩ đại, lại bị người đời xúc phạm!?

 

Hôm sau, ông đến găp vị Thầy để mong chia sẻ và được chỉ dạy.

–         Tâm con đang có nhiều rác rưởi rồi đấy, phải không?
–         Sao Thầy nói vậy?
–         Nhìn mặt là hiểu được tâm con rồi, có gì khó đâu. Nói cho Thầy nghe chuyện gì đã xảy ra?

Ông tường thuật hết những gì đã xảy ra cho Thầy nghe. Thầy lại hỏi:

–         Có gì mà con lại buồn?
–         Thưa Thầy, con không sợ người khác làm khổ con. Nhưng con không cho phép một ai xúc phạm đến người Mẹ vĩ đại của con!
–         Con đi về đi, Thầy cần nghỉ ngơi.
Hơi lạ, ông lễ phép thưa:

–         Thầy nhóm bệnh mà sao không cho con biết, để mang thuốc cho Thầy?
–         Không, Thầy đâu có bệnh gì!
–         Thế sao Thầy  không chịu giúp con, trong lúc con đang rất cần đến Thầy!?

–         Bởi con chưa tu được, cái “ngã” của con còn quá lớn. Và nhớ là, đừng nên đến gặp Thầy nữa, nhé! Thầy đi nghỉ đây.

Ông lững thững về nhà với một tâm trạng hỗn loạn. Ông cố dỗ giấc ngủ nhưng cái đầu của ông cứ nghĩ ngợi lung tung làm cho mệt mỏi thêm hơn. Gần sáng, ông cũng chớp mắt được một chút. Một giấc mơ đã đến với ông trong giấc ngủ ngắn ngủi ấy. Ông không nhớ hết nội dung, chỉ mơ hồ nhớ được lời dặn của vị Hòa Thượng:

–         Hãy tìm vị Bồ Tát của ngươi mà nói lời cám ơn.
–         Vị Bồ Tát đó là ai, thưa Ngài?
–         Người đàn bà mà con đã gặp buổi trưa hôm nọ, không ai khác!
Thức dậy, ông nằm yên và mãi suy nghĩ mông lung về giấc chiêm bao ngắn ngủi vừa mới xảy ra. Ông chưa kịp hiểu gì cả!?

Rồi công việc bề bộn cũng khiến cho ông vơi đi nỗi băn khoăn trong đầu. Cho tới một hôm..

 

Trong lúc đang đứng chờ để nhận cái thư bảo đảm được gởi tới bằng đường bưu điện. Vô tình quay lại phía sau, ông chạm mặt người đàn bà hôm nọ, người mà ông đã nhớ được là ai.

–         Chào bác, có phải là  Bác X,  trước kia ở đường Y, không ạ!?
–         Ừ, đúng vậy. Cậu còn nhớ đến tôi đấy à!?
–         Dạ, thưa Bác, bây giờ cháu mới nhớ ra. Lần trước gặp Bác ở tiệm ăn, cháu hơi ngờ ngợ nên không kịp chào. Cháu xin lỗi Bác,
Bác vui  lòng cho cháu xin địa chỉ nhà, cháu sẽ đến thăm,  Hôm nay cháu bận việc gấp nên phải đi ngay, mong Bác hiểu!
Ông ghi nhanh  địa chỉ và số điện thoại, rồi cẩn thận cất kỹ vào bóp.

–         Cháu sẽ điện thoại cho Bác, mong gặp lại Bác sớm khi sắp xếp được thời gian.
Bà nhìn theo ông cho đến khi khuất hẳn sau cái khung cửa kính, bà mỉm cười một mình.

 

Ông đã gặp lại, người mà Mẹ ông đã luôn nhắc nhở như một vị ân nhân, trong những năm ông còn là một thằng bé lên 2 và luôn được bà đối xử như đứa con đẻ. Gia đình bà đã rời Viêt Nam rất sớm, theo diện bán chính thức. Mẹ con ông đã mất liên lạc kể từ đó.

Mọi thứ chuyện đều được nhắc lại, ông đã khóc thật nhiều theo sau cái ôm chặt vào lòng của bà. Ông nhận biết, những giọt nước mắt đó đã rửa sạch hết những thứ rác rưởi trong tâm của ông, những thứ rác rưởi mà nó đã được mang lại sau một cơn mưa cuối mùa, vừa qua.

 

Ông quyết định đi thẳng lại chùa để gặp Thầy, Cửa phòng mở rộng sau mấy tiếng gõ nhẹ. Lén nhìn mặt để thăm dò, vì ông vẫn còn nhớ lời Thầy đã dặn hôm nào.

–         Con xin lỗi Thầy, con không làm đúng theo lời Thầy đã dặn!
–         Không, Thầy xin lỗi con, vì thầy đang làm trái lời dặn của chính mình, đây mà!?

Rồi cả hai thầy trò lại bắt đầu cho một bài học mới…

 

Viết xong ngày 17tháng Tám năm 2011

Read Full Post »

Cảm giác

Truyện Ngắn

TRẦN MINH NGUYỆT

 

 

Cái cảm giác đó lại đến, Tâm cảm thấy lâng lâng như đang bước vào ngưỡng cửa của hư không – cõi bình yên nhẹ tênh như gió thoảng.  Mọi điều hiện ra, mờ ảo, quyến rủ – thực thực, hư hư – chơi vơi, lơ lửng. Lúc trước, phải lâu lắm cái cảm giác này mới ùa đến bên nỗi chán chường cô độc , còn bây giờ hầu như nó đến liên tục với cô, nó cắn rứt, tàn phá cơ thể cô, nó làm cô mất ngủ hằng đêm. Trái tim trước kia vốn có hàng trăm, hàng vạn ngọn đèn lung linh chiếu sáng, vậy mà theo thời gian những ngọn đèn này dần tắt, giờ chỉ còn le lói ánh sáng mờ ảo của những ngọn đèn cuối cùng. Cái ánh sáng bàng bạc, hiu hắt ấy không đủ làm ấm lòng, làm tan đi lớp băng giá lạnh trong tim mà theo thời gian ngày càng dày và cứng như những lớp băng vĩnh cữu trong lâu đài của “ Bà chúa Tuyết”.

                      

Cái cảm giác cũng lớn dần theo năm tháng của cuộc đời Tâm; cô cảm nhận thấy rất rõ ràng như vậy. Như đã nhìn thấy hoa trái quanh vườn thay dổi hình dạng và sắc mầu qua ngày tháng. Lúc Tâm còn nhỏ, nó nằm ở đâu đó trong tim, nó vô hình, vô ảnh và biết cách ẩn mình rất kĩ đến nỗi cô chỉ lờ mờ nhận ra nó. Đó là những cảm giác vui buồn lẫn lộn mà mỗi buổi chiều Tâm thơ thẩn trước sân nhà gởi hồn trôi theo những làn mây nhẹ trên không, hoặc những cơn gió lùa trên ngọn tre trước ngõ. Phía xa xa là núi đồi, là con đường cái quan mòn nhẵn trơ vơ…

Trong cái cảm giác đó, Tâm “ thấy” mình là một tiểu thư sống trong một gia đình quyền quý được cưng chiều hết mực. Cô lộng lẫy trong những bộ đầm sa tanh, gấm vóc đủ màu. Một bàn ăn với nhiều món ăn mùi vị hấp dẫn như gà quay, tôm hấp, thịt bò lụi… và trái cây đủ loại được bày ra đầy bàn. Cô muốn ăn gì cũng được. Vậy mà cái cảm giác đó lại đột nhiên biến mất, như cơn gió thốc qua – cô lại trở về với mình trong bộ đồ vải tám cũ rách, và cái bụng đang cồn cào vì đói.

Trên đường đi học. Tâm lại bất chợt lạc vào một hành tinh lạ, ở nơi đó không có bóng người, nhưng có rất nhiều hoa đẹp, mà mỗi hoa có một hương sắc riêng, rất đặc biệt mà Tâm chưa hề được thấy lần nào.. Tâm quanh quẩn bên khóm hoa có tên là “ Thông Minh “ vì cô thích mùi hương dịu dàng quyến rũ của nó. Sau đó cô cũng tìm được đường ra khỏi hành tinh huyền ảo ấy, và đến trường như bao ngày khác; nhưng cũng từ đó Tâm trở nên thông minh tuyệt đỉnh, cô có thể làm được những bài toán dù khó đến đâu, và có thể trả lời tất cả những câu hỏi mà các thầy giáo, cô giáo trong trường đặt ra cho cô. Bạn bè và các anh chị trong trường nhìn cô ngưỡng mộ, cái biệt danh “ ngớ ngẩn” dành cho cô không còn nữa. Các bạn trong lớp cho cô chơi cùng, cô không phải đứng ngoài mà nhìn họ chơi nữa. Và Tâm vui nhất là cha, mẹ bây giờ có thể tự hào về đứa con gái của mình, không còn nét buồn, nét giận trên gương mặt mỗi khi bạn bè , hay hàng xóm láng giềng nói về cô nữa.

Cái tuổi thần tiên của Tâm trôi qua lặng lờ, êm đềm như vậy đó. Rồi cũng đến ngày Tâm vào cấp ba, cái cảm giác lạ lẩm vẫn theo cô như bóng với hình, nhưng nó chỉ là những ý nghĩ thoảng qua trong đầu mà thôi. Không miên man. Hay đưa đẩy, dẫn dắt dài lâu như trước.

Rồi vào buổi chiều mùa đông, không gian buốt lạnh – đó là năm Tâm đang theo học lớp 10, thì đột nhiên nó lại xuất hiện. Trở về một cách khẻ khàng đến nỗi Tâm cũng không hề hay biết từng bước chân len nhẹ vào đầu mình. Hôm đó lớp của Tâm đang làm lao động thì trời đổ mưa, những cơn mưa mùa Đông dai dẳng như không bao giờ dứt. Cô và các bạn trong lớp nép mình dưới mái hiên của dãy hành lang trường học. Cô say sưa ngắm nhìn những giọt mưa rơi trên mái tôn, nước bắn ra như những hạt kim cương long lanh, huyền ảo. Tâm thấy mình mặc một chiếc áo ấm len màu đỏ rất đẹp, cô ôm chiếc cặp màu đen thả bộ trên con đường về nhà. Cô xinh và dể thương đến nỗi ai trên đường cũng quay lại nhìn cô và mỉm cười thân thiện. Trời đang lạnh nhưng cô cảm thấy ấm áp làm sao. Cô về tới nhà thì trời cũng vừa chập choạng tối, trong nhà mẹ cô đang đúc bánh xèo, mùi thơm bay ra đến tận ngõ. Cô cất cặp và ngồi xuống bên cạnh lò cuốn bánh với rau sống và một lát khế chua, chấm vào nước mấm ớt tỏi, chanh đường đã được mẹ làm sẳn. Cô đang ăn ngon lành như vậy thì bổng nghe một giọng nói to và sửng sốt: “ Trời ơi! em chưa về sao? Em còn ngồi đây làm gì? Đã tối quá rồi mà? ”. Tâm giật mình và cái cảm giác đẹp, hư ảo kia biến mất. Cô vẫn còn ngồi ở dãy hành lang của trường có một mình, thầy chủ nhiệm của cô đang đứng bên cạnh nhìn cô đầy ngạc nhiên. Trời vẫn mưa, và đã xẩm tối. Cô vội vã chào Thầy chủ nhiệm và đếm bước về nhà trong cơn mưa lạnh buốt…

Ngày khác, thầy giáo Thanh giàng dạy về tác phẩm “ Số Đỏ” của Vũ Trọng Phụng – học xong Tâm và các bạn còn được xuống hội trường xem phim nữa. Đó là lần đầu tiên cô xem những chuyện nam, nữ yêu nhau, hôn nhau và sống thác loạn như vậy. Bạn của Tâm đứa nào cũng cúi đầu, nhắm mắt, còn Tâm thấy lạ cứ lén nhìn, và trong lòng thoáng hiện một chút gì đó ước ao. Những ngày sau, cảm giác mới lạ ấy lại tìm đến cô nhiều hơn. Những giờ giải lao trong lớp, khi bạn bè Tâm tụ tập chuyện trò huyên thuyên thì cô lặng thầm nói chuyện với người yêu trong cảm giác mơ tưởng của mình  Anh ấy rất lịch thiệp, thông minh, và rất mực yêu thương cô – luôn luôn dành cho cô những lời thương yêu, an ủi, và sự đùm bọc chí tình.  Như một tia chớp – Tâm cảm thấy nhói đau ở đầu,  cô bừng tỉnh. Mấy thằng bạn hoang nghịch cùng lớp lại ùa đến, chúng buông lời chọc ghẹo sổ sàng với cô…

Cái cảm giác thời  thời 16, 17 của Tâm không cố định, mà biến đổi luôn. Nó như một dòng chày, qua bao ghềnh thác, hay có lúc êm xuôi giữa dòng suối rộng. Lúc thì Tâm thấy mình là một Thúy Kiều bạc phận, lúc lại là Phăng Tin khóc gởi con cho Giăng Van Giăng, hay là Men Đen với những thí nghiệm di truyền học… Cảm giác lúc đó vui buồn lẫn lộn nhưng đó là cả một thế giới hoàn toàn khác – một thế giới màu hồng với những điều tốt đẹp và đầy hứa hẹn

Tâm bước vào Đại học chỉ với một lượng kiến thức ít ỏi về cuộc đời thực, mà lại quá nhiều những giấc mơ, những cảm giác hão huyền mà cuộc đời thực không xảy ra hoặc chưa từng xảy ra với bất kì ai. Ngày ngày trong khi bạn cùng phòng ngoài giờ học chăm lo nhan sắc của mình, và kiếm một bạn trai cùng trường hay đồng hương để chia sẻ những buồn vui, thì cô lại sống và yêu thương người trong cõi mộng của mình. Và thế là cô trở nên ngơ ngẩn, khép kín – không giống ai. Cuộc sống như một vòng xoáy, nó cuốn cô vào đó, buộc cô phải chạy theo để mình không bị bỏ lại phía sau, nhưng chính cái cảm giác mơ tưởng kín bưng đó nó giữ chặt cô lại trong vỏ ốc của sự tự ti, ngăn cách – và cô không thể khẳng định được chính mình giữa cuộc đời rộng lớn và phức tạp đang xô kéo cuộc đời cô và tất cả mọi người nhu một cơn lũ…

Ra trường sau 4 năm học với mảnh bằng tốt nghiệp loại giỏi.                Tâm được nhận vào làm kế toán trưởng cho công Ty Gỗ Phát Đạt này đã hơn 18 năm rồi. Công ty cách nhà của cô cũng khá xa, gần 30 phút đi xe máy. Những năm đầu tiên trên đường đi đến công ty, Tâm vẫn an nhiên thả hồn mình theo cùng cảnh vật, mây trời, và chìm đắm trong cảm giác – cái cảm giác mà lúc đó nó làm cô cảm thấy vui vẻ, có niềm tin, có động lực hơn trong cuộc sống. Tâm đã tựa vào chúng như một nơi chốn yên bình duy nhất.

Trong những cảm giác dịu kì trong đầu, cô thấy mình được cơ quan cử đi học Thạc sĩ, rồi Tiến sĩ. Những công trình nghiên cứu của cô được ứng dụng nhiều trong đời sống. Cô được các nhà báo phỏng vấn và đưa lên trang nhất của các tờ báo lớn. Cô được mời sang nước ngoài tham dụ các cuộc hội thảo về kế toán tài chính, trao đổi kinh nghiệm với những nhà quản lý khinh tế nước bạn. Tiền Tâm kiếm được nhiều vô kể, cô có một biệt thự thật trang nhã ở trung tâm thành phố, và có một chiếc xe hơi đắt tiền, một tài xế riêng.. Bên cạnh cô, người yêu thương nhất của cô, luôn ủng hộ và thương yêu, chìu chuộng cô hết lòng. Mỗi ngày chủ nhật, cả hai thường cùng nhau đi du lịch, thăm viếng những thắng tích, những nơi yên vắng thơ mộng. Cô được nằm trong vòng tay của anh ấy và hạnh phúc với những nụ hôn ngọt ngào, nóng bỏng…

Có lúc Tâm lại có cái cảm giác, thấy mình quẩn quanh bên những bà xơ, những ni cô để cùng chăm sóc những trẻ em nghèo lang thang không cha, không mẹ. Chúng nhìn cô với ánh mắt biết ơn, và đều vui vẻ hồn nhiên gọi cô bằng  “mẹ “ khi cô dịu dàng ẵm bồng hay trò chuyện thân tình với chúng.. Hằng tháng, Tâm cũng đã dành phần lớn thu nhập để góp phần chung lo cho chúng như một người mẹ sẵn sàng hy sinh cho các con. Cha, mẹ, anh em của cô mỗi người cũng đều có một biệt thự riêng với đầy đủ tiện nghi sinh hoạt và vài người giúp việc. Họ sống trong hạnh phúc ngập tràn, không nhuốm mùi phiền lụy của cuộc sống đời thường như bao người đang kham khổ, nghèo đói chung quanh…

Rồi cảm giác lướt qua, cũng nhẹ nhàng như lúc đến. Tâm trở lại với cuộc đời trước mắt – Tâm vẫn chỉ một mình, vẫn phải cần mẫn lo làm sao có tiền để chi dụng đủ trong tháng.  Làm sao có thêm thu nhập để giúp đỡ cho cha, mẹ bớt khổ và tự lo tốt cho bản thân dường như luôn có sẵn bệnh trong người. Những lúc như vậy Cô thường cười – nụ cười thương hại và nhạo báng, cùng với ý nghĩ : Tâm ơi! Mầy hãy nhìn vào thực tế đi, cảm giác đó chỉ là điều hảo huyền thôi!”. Nhưng sự ngọt ngào của những điều hảo huyền ấy luôn có ma lực hấp dẫn cô, cuốn  hút cô vào vòng xoáy của nổi cô độc  mà cô không làm sao thoát ra được. Bởi vậy, Tâm là người cực kì ít nói, đến công ty chỉ biết có công việc và sống với cảm giác riêng của mình. Rất ít trò chuyện với bạn bè. chỉ mở miệng khi nào công việc cần thiết mà thôi.

Mười tám năm trôi qua là một khoảng thời gian không quá dài nhưng cũng không quá ngắn cho một đời người. Cái cảm giác mông lung cứ ám ảnh vẫn song hành với cô, nhưng cái cảm giác ngọt ngào dần tan biến đi – cô ngày càng cảm thấy cô độc, lẻ loi hơn, Cô lặng lẽ hơn trước, buồn nhiều hơn trước, và những đêm giấc ngủ không đến trọn thường xuyên hơn. Cuộc sống mãi mãi như một vòng xoáy vô hình, vô định – nó cuốn Tâm vào trong đó ngày càng sâu hơn. Nó buộc cô phải chạy, chạy theo để mình không bị bỏ lại phía sau.  Không bị là kẻ luôn đứng bên lề cuộc đời .Cảm giác êm đềm, quyến rủ và lạ lẩm trong cô dần dần tan mất và thay vào đó là những điều trần trụi, cằn khô và phủ phàng. Thực tế – hiện thực đời sống đã khiến cô trở nên lạnh lùng hơn, trống trải hơn. Có lẽ cô đang sa chân trên một con đường với màn sương mờ che phủ, ảo ảnh quyến dụ chập chờn – và cô cứ bước đi mà không hè biết đằng sau đó là những gì và trước mặt rồi sẽ đi về đâu?

Giờ đây Tâm không mơ mộng gì nữa, nhìn mọi người trong công ty ai cũng có gia đình riêng, có đôi có cặp và cứ có thời gian rảnh là họ lại nói về cái tổ ấm riêng của họ, về chồng, và con cái của họ với niềm tự hào và hạnh phúc ngập tràn trên nét mặt. Cô trở nên lặng lẽ hơn, và cái cảm giác lạnh lẽo, cô độc – cái cảm giác là một con người vô thừa nhận lại đến với cô.  Đôi lúc cô cũng mơ một vòng tay ấm áp để tựa đầu vào mỗi lúc buồn hay thất vọng – nhưng đó chỉ là cảm giác thoáng qua trong giờ rảnh rỗi, những lúc chạy xe trên đường.  Khi tối đến, cảm giác hoang mang luôn tồn tại trong đầu, và cô thấy mình thật vô dụng, không biết sống để làm gì. Có lẽ sự cô đơn làm đông cứng tâm hồn của Tâm mất rồi. Cô cảm thấy không được yêu thương, không được tôn trọng, không được giúp đỡ mà chẳng biết nhờ cậy vào đâu? Và cô trở nên chơi vơi, lạc lõng giữa đất trời xa lạ…

Tâm không biết phải làm gì để có thể thoát ra khỏi cái cảm giác đang hiện hữu trong đầu óc cô, nó xuất hiện ở mọi lúc mọi nơi, nó làm cô đau đớn không yên. Nhưng cô vẫn không muốn kết thúc nó, cô vẫn yêu cuộc sống của mình. Cô nhớ câu châm ngôn của Charlie Chaplin Cuộc sống như một màn kịch không có phần tập dượt trước. Bởi vậy: Hãy hát ca, nhảy múa và yêu mỗi một giây phút của cuộc đời bạn trước khi vở kịch hạ màn không một tiếng vỗ tay”.

TRẦN MINH NGUYỆT

Read Full Post »

Lời cảm ơn muộn màng

NAM THI

 

Chuyên về nhà sau cuộc họp của Hội Cựu Chiến Binh Xã để chuẩn bị kỷ niệm ngày thành lập QĐND. Những cựu chiến binh thời đánh Mỹ phần nhiều đã già yếu nên lần lượt xin nghỉ và “bàn giao” công việc của Hội cho lớp cựu chiến binh chiến trường Kampuchia như anh, phần đông mới trong ngoài bốn mươi. Vào thời điểm ấy nhiều người còn làm việc, riêng anh đã ra quân, nghỉ mất sức vì là thương binh 2/4. Mảnh đạn cối còn trong hộp sọ vẫn hành anh mỗi khi trở trời.

Nhà của Chuyên nằm trên bờ sông Sài Gòn, tuy cách trụ sở xã khoảng một ki-lô mét  đường chim bay, nhưng anh phải đi xa hơn theo đường vòng trong ấp ra. Đường nhựa chỉ chạy từ liên tỉnh lộ 8 rẽ vào ấp, đến đình Hòa Phú thì bắt đầu con đường đất rải đá chạy ngoằn ngoèo theo bờ con sông Lu, một nhánh phụ, ra đến điểm hợp lưu với sông Sài Gòn. Chiếc xe cúp cánh én của Chuyên tuy cũ nhưng lại dễ lái trên con đường gồ ghề trơn trợt đó. Hai bên đường mọc đầy lau sậy và cỏ Mỹ cao ngang tầm người. Chuyên yêu con đường hoang sơ vắng vẻ ấy, bốn mùa ngát hương cỏ dại và lộng gió.

Những năm gần đây cánh đồng lúa giáp bờ sông được quy hoạch thành đất vườn trồng cây lâu năm nên người ta bắt đầu trồng cây ăn trái thay thế lúa nước. Khi anh mới từ nội thành chuyển về đây bốn năm trước, cả vùng chỉ có vài căn nhà lá, nhưng nay đã có nhiều nhà cấp ba, cấp bốn lợp ngói, lợp tole. Nhiều “đại gia” từ thành phố về mua hằng mẫu đất để làm nhà nghỉ và đầu cơ đất đai. Họ bỏ tiền kéo điện hạ thế, rải đá con đường cho ô-tô chạy được bất kể mưa nắng. Chuyên không chỉ được “ăn theo” các tiện nghi đó mà còn được thuê trông nom nhà cửa, vườn cây, ao cá cho họ.

Sau khi ra quân, anh sống với cha mẹ trong nội thành một thời gian. Anh không kiếm được việc làm phù hợp vì lúc ấy vết thương ở đầu thường xuyên hành hạ. Một đồng đội cũ của anh quê ở ấpHòa Phú nầy khuyên anh nên về sống ở nông thôn sẽ tốt cho sức khỏe của anh hơn. Thật ra, lý do chính anh bỏ thành phố vì anh không chịu được cảnh ăn không ngồi rồi, trở thánh gánh nặng cho cha mẹ, anh em. Anh cảm thấy lạc lõng, dư thừa ngay trong gia đình mình. Những năm tháng trong quân ngũ anh luôn có đồng đội, sống chết có nhau. Hơn nữa, anh là một trung đội trưởng dày dạn chiến trường, được anh em yêu thương kính nể. Lòng tự trọng thúc giục anh phải ra sống tự lập.

Người đồng đội giúp Chuyên mua lại mảnh đất trên bờ sông Sài Gòn, gia đình và đơn vị cũ giúp dựng căn nhà lợp lá dừa và những vật dụng sinh hoạt cần thiết. Thời gian đầu anh vẫn ở chính trong nội thành, nhưng dần dần anh chuyển hẳn về căn nhà “riêng” của mình để chăm sóc ao cá và hai con bò cái giống. Đó là vốn liếng ban đầu. Với tiền trợ cấp thương binh, tiền thù lao của mấy đại gia chủ đất và hoa lợi thu được, cuộc sống của anh đã ổn định. Người thân trong gia đình và bạn bè khuyên anh kiếm vợ để có người “hôm sớm lúc về già” nhưng anh chỉ lắc đầu. Không phải anh không mơ ước một mái ấm nhưng ở tuổi anh tuy chưa già nhưng đã quá lứa thì tìm đâu ra người phù hợp. Có thể cũng có ai đó có cảm tình với anh vì dẫu sao anh cũng là một người đàn ông cao ráo, lịch sự, có học nhưng thương tật của anh làm họ nản lòng. Trước khi nhập ngũ anh cũng trải qua vài mối tình học trò nhưng chuyện ấy đã lùi xa trong ký ức nhạt nhòa. Anh không những đã quen với cuộc sống độc thân, mà thậm chí còn tránh xa những tác động làm xáo trộn nó.

Lúc đầu, nhà của anh nằm thoi loi giữa đồng ruộng, sông nước. Gần đây anh mới có hàng xóm. Đó là cô giáo Minh và cậu con trai nhỏ. Minh là con gái của người nông dân đã bán đất cho anh trước đây. Nghe nói Minh thôi chồng, dắt con về sống với cha mẹ một thời gian rồi được cha cho đất cất nhà ra riêng. Anh chưa bao giờ qua thăm nhà Minh. Thản hoặc, có tình cờ gặp nhau giữa đường họ cũng chỉ chào nhau. Ấy thế mà đã có lời xì xầm ngoài Ủy ban rằng anh và Minh sắp đậu gạo nấu cơm chung. Có người còn chêm “ nồi tròn úp vung tròn, nồi méo úp vung méo”. Anh hơi bực mình vì sự ám chỉ anh và Minh là loại nồi méo, vung méo…

Anh về đến nhà lúc gần 5 giờ chiều. Thấy trong nồi còn cơm nguội đủ ăn bữa tối, anh cho ít nước vào cơm và cắm điện hâm nóng. Rồi anh xúc thức ăn ra ao vãi cho cá. Lũ cá rô phi háu ăn cỡi len nhau giành mồi làm mặt nước ao sủi bọt. Anh lấy vợt bắt hai con bằng bàn tay và hái thêm mớ đọt rau muống mọc quanh bờ ao. Cá rô phi chiên xù, rau muống luộc, nước luộc rau làm canh. Một bữa cơm tối không đến nỗi tệ. Tuy vậy, ăn mãi món cá cũng ngán, nên anh tính mai sẽ ra chợ mua ít thịt để đổi khẩu vị. Hơn nữa, ba ngày rồi con chó Ky bỏ ăn, có lẽ nó cũng chán món cá chan nước rau muống như anh.

Thỉnh thoảng con Ky vẫn bỏ ăn như vậy, có khi do bịnh hoặc do nó mãi bận vào trong ấp tìm bạn tình. Nhưng lần nầy nó bỏ ăn lâu quá khiến anh áy náy. Thật ra, Minh mới là chủ của Ky, nhưng từ hơn năm nay nó vẫn ăn bữa trưa với anh. Vì hai nhà chỉ cách nhau hàng rào trúc thưa nên con Ky vẫn qua lại nhà anh dễ dàng. Lần đầu thấy nó thực lòng anh không biết chó của ai nhưng khi anh huýt sáo gọi, nó chạy lại ngoắc đuôi. Sẵn có mấy cục xíu quách còn lại từ bữa nhậu hôm trước anh ném cho nó. Và hai bên làm quen và thân thiện với nhau từ đó. Sở dĩ anh biết được tên nó vì thường nghe  chủ nó gọi. Hai mẹ con Minh thường nghỉ trưa ở nhà cha mẹ trong ấp nên anh trở thành “bảo mẫu” của Ky. Buổi trưa anh thường treo võng nghỉ lưng dưới gốc xoài và Ky khoanh đuôi nằm bên cạnh. Chiều tối, nghe tiếng máy xe của mẹ con Minh nó mới chạy về với chủ.

Có lần Minh đi làm sớm quên tắt bóng điện trước nhà, Chuyên chợt nghĩ một trò vui. Anh viết một mảnh giấy nhỏ nhắc Minh nhớ tắt đèn, xếp lại cho vào túi nylon nhỏ cột vào dây đeo cổ của Ky. Sáng hôm sau, như thói quen Ky chạy sang nhà anh mang theo “thông điệp” của chủ nó: “ Cảm ơn ông láng giềng nhắc nhở. Tôi cũng biết lâu nay con Ky ăn nhờ nhà anh. Cảm ơn anh lần nữa. Minh”. Kể từ đó, mỗi khi họ cần thông tin lẫn nhau đều nhờ Ky, một giao liên hoàn toàn đáng tin cậy. Lần gần đây nhất, Minh viết cho anh: “ Mấy bữa nay trời nóng quá, chắc anh bị đau đầu nên không nghe anh mở TV xem bóng đá?. Anh ở một mình nên cẩn thận…Minh”. Quả thật, thứ bảy tuần rồi anh đau đầu như búa bổ, phải uống thuốc ngủ và lên giường từ sớm, bỏ không xem bóng đá Anh mà anh vẫn ghiền.

Chuyên chuẩn bị ăn cơm thì nghe tiếng Minh gọi anh từ bên kia hàng rào trúc. Đây là lần đầu tiên Minh trực tiếp gọi như thế nên anh đoán ắt hẳn có việc quan trọng. Anh vội chạy ra. Minh nói vọng sang:

– Anh Chuyên ơi, con Ky đau nặng, bỏ ăn mấy bữa nay. Nó nằm một chỗ, coi bộ yếu lắm. Anh qua xem thử thế nào.

– Vậy hã. Hèn chi mấy bữa nay không thấy nó qua bên tôi. Tôi qua liền.

Chuyên chạy vào nhà, mặc vội cái áo rồi vạch hàng rào qua nhà Minh. Cô dẫn anh đến chỗ Ky nằm ở nhà bếp. Nó nằm khoanh trên tấm bao bố. Anh ngồi xuống bên nó. Nó nhìn anh yếu ớt. Minh cho biết hôm qua nó nôn mửa và tiêu chảy. Anh thoáng ân hận, lẽ ra anh phải đi tìm nó sớm hơn khi không thấy nó qua nhà anh mấy hôm rồi.

Anh bảo Minh nấu cho nó ít cháo loãng xem thử nó có uống được không vì xem ra nó mất nhiều nước do tiêu chảy. Anh quay về nhà lấy xe chạy vào ấp mua thuốc thú y. Hai mươi phút sau mang thuốc về, tự tay tiêm cho Ky như anh vẫn quen chữa bịnh cho bò, heo. Anh lấy ít muối và  đường pha dung dịch mặn ngọt rồi dùng muỗng đút cho nó. Dung dịch nầy giúp giữ nước cho cơ thể, trước đây anh vẫn thấy y tá đơn vị sử dụng.

Khoảng nửa giờ sau, Ky có vẻ tươi tỉnh hơn và ăn được một ít cháo loãng. Minh đắp cho nó bằng tấm mền cũ. Chuyên thấy có thể yên tâm ra về.

– Tôi về đây. Có lẽ nó qua khỏi. Nếu nó còn yếu, mai tôi nhờ thú y chuyền nước biển cho nó.

Minh vỗ đầu con Ky.

– Xin lỗi Ky, tao vô tình quá.

Khi anh đứng dậy ra về thì Minh khẽ bảo:

– Anh ở lại ăn cơm với em cho vui. Tối nay cu Tâm ở lại trong nhà ngoại.

Anh chưa kịp nói lời từ chối thì Minh đã nắm tay anh đưa ra nhà trước, rót nước cho anh uống và bảo anh đợi cô dọn cơm…

Sáng sớm hôm sau Chuyên sang thăm con Ky. Nó vẫn còn yếu nhưng đã biết ngoắc đuôi mừng. Anh nói nhỏ với nó: “ Tao cảm ơn mày, Ky à”. Lúc ấy, Minh đang pha hai phin café ở chiếc bàn ăn nhỏ. Mùi café thơm ngào ngạt…***

* Nam Thi

12-9-2011

Read Full Post »

           Trần Ba
Công bằng mà nói, nó học giỏi, thông minh, có kiến thức và ham đọc sách.  Nó kể chuyện rất hay. Trong trạng thái nửa tỉnh nửa say, nó kể và phân tích quan điểm triết học, luận về nhân sinh quan rất bài bản dù là chuyện tiếu lâm bình thường hay chuyện chính trị xã hội. Và, nó chỉ nói nhiều, ba hoa , khi uống rượu đã ngà ngà say.
           Tôi  nhớ nhất là chuyện nó kể về Khuất Nguyên, nhân ngày Tết Đoan Ngọ năm một ngàn chín trăm tám mươi. Tôi chưa đọc câu chuyện ấy và không biết nó có thêm thắt gì không. Nó kể  thế này : “ Ngày xưa Khuất Nguyên vì ngán ngẫm cái cảnh nhiễu nhương chốn quan trường đã cởi áo từ quan, lang thang ngao du sơn thủy. Một hôm gặp người bạn cùng nhau chén thù chén tạc, ông bộc lộ những nỗi niềm của mình :
               Đời đục cả chỉ mình ta trong
               Đời say cả chỉ mình ta tỉnh
               Nên ta buồn ta đi lang thang
     Người bạn của ông lại cho rằng :
               Đời đục cả sao anh không khuấy thêm bùn vỗ thêm sóng
               Đời say cả sao anh không ăn cả men húp cả bã
               Tội tình gì anh đi lang thang
 
              
 Khuất Nguyên không như vậy. Ông đã nhảy xuống sông tự vẫn”.
            Riêng tôi không biết rượu có trên trái đất này từ bao giờ, nhưng từ khi còn ngồi ghế nhà trường phổ thông, tôi luôn nghĩ rượu là để dùng cho mục đích sang trọng, lễ nghĩa như người xưa đã dạy: “ Vô tửu bất thành lễ”. Thời phong kiến, từ quan lại đến các tướng khi lập được công trạng đều được nhà vua ban rượu trọng thưởng. Ly rượu đó đã trở thành niềm mơ ước của nhiều bậc đại thần. Và, hồi đó tôi cũng nghĩ rằng, rượu chỉ dành cho những người có học, có chữ nghĩa, hoặc là những thi sĩ, văn nhân.
Ở làng tôi, vào những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước,  vào đêm giao thừa, tôi, nó và bạn bè cùng trang lứa quần tụ với nhau uống rượu, ngâm thơ và đàn hát đến hai, ba giờ sáng mới về nhà. Người ta thường nói, rượu vào lời ra, nhưng chúng tôi không bao giờ xúc phạm nhau, ngược lại còn thương yêu nhau hơn. Có chuyện thật vui – uống rượu ; thật buồn cũng lấy rượu để giải sầu. Uống riết rồi quen. Và, tôi luôn dành những tình cảm ưu ái đối với người uống rượu. Ai chê người uống rượu dẫn đến những chuyện ồn ào trong gia đình, làm rối an ninh trật tự trong làng xóm, thậm chí có hành vi nguy hiểm có thể dẫn đến gây án mạng, không hiểu sao lúc đó  tôi kịch liệt phản đối và nói rằng rượu không có lỗi. Có thể người ta bức xúc một điều gì đó với người thân của mình nên có những lời nói và hành vi quá trớn mà thôi…vân vân và vân vân. Tôi cho rằng uống rượu làm người ta thông minh hơn, đôi lúc thăng hoa, có những câu thơ hay, ý tưởng mới lạ, dễ thương và thật lòng với nhau hơn.
             Phải nói là tôi dành tình cảm đối với người uống rượu cũng được một thời gian khá dài. Đến khi làng tôi có nhiều người uống rượu hơn, chuyện ồn ào vì rượu cũng xảy ra nhiều hơn. Người lớn say, chửi con cháu. Con cháu say, chửi người lớn. Chửi đã, tìm người gây sự, đánh lộn. Thực tế ấy đã làm tôi phải im lặng khi trong làng có chuyện gây gỗ từ rượu.Và tôi cũng bắt đầu dè dặt hơn với người uống rượu. Rồi chuyện uống rượu lên tới đỉnh điểm khi nó không còn kể chuyện khi say rượu nữa mà trở chứng chửi thiên hạ. Khi nó say, nó chửi cả làng xóm, ông nội của nó cũng không tránh khỏi. Hôm trước nó chửi, hôm sau, nó mang một góc rượu đến nhà để xin lỗi, thế là xong. Lâu rồi thành quen. Thấy ai cũng nhịn, nó càng lấn tới, khi có dịp chỉ uống một vài ly thì nó đã quậy tưng lên. Mỗi khi gặp anh em bè bạn có chuyện gì vui muốn gọi nó thì đứa nào cũng lắc đầu ngài ngại, không khéo lại rách việc. Riêng tôi thì không nghĩ như vậy. Chỉ đến khi chuyện xảy ra vào chiều mồng hai tết của hai mươi năm về trước. Nó và anh em trên quê xuống thị trấn thăm xuân, ghé lại nhà tôi. Gặp nhau tay bắt mặt mừng, và tết nữa nên không khí vui như ngày hội. Không ngờ ly rượu mới chạy giáp quận hai vòng thì nó bắt đầu chửi, chửi từ trên xuống dưới, chửi không chừa một ai. Giận quá, tôi quăng ly uống rượu ra đường, đập bể cái bình củ tỏi rót rượu, đổ luôn cái canh năm lít rượu đặt ăn tết. Tôi vừa khóc vừa nói với anh em bạn bè là sẽ không bao giờ uống rượu. Và tôi không nhìn mặt nó nữa. Từ đó về sau, mỗi lần về quê ăn giỗ hay đám tiệc, tôi không chịu ngồi chung bàn với nó. Còn khi ngồi chơi với mấy người bạn, nó vào thì tôi đứng dậy xin phép về vì có công việc khômg thể tiếp tục ở lại. Ai cũng biết tôi không muốn chạm mặt với nó nên không nói gì. Tết đến, nó đến nhà ba má tôi chúc xuân, tôi tránh mặt và nói em tôi ra tiếp. Đôi khi tôi về quê thấy nó say, quần chẳng ra quần, áo chẳng ra áo, đứng chận xe qua lại quai tay múa chân như một thằng điên, không ra thể thống gì hết. Dù rất buồn nhưng tôi vờ như không thấy, lách xe vượt qua, coi như chưa gặp nó. Do đặc thù của công việc, tôi hay về các xã và thường đến các cơ quan trong huyện, khi nghe người ta bình phẩm về chuyện uống rượu của nó, mặc dù còn giận nó nhưng tôi vẫn cho rằng nó là thằng bạn tốt của tôi, chỉ có điều khi  rượu vào nó không kiểm soát được lý trí. Và tôi cũng không nói với ai, cũng vì chuyện quậy của nó, hai đứa không ngó mặt cũng chẳng chào hỏi  nhau ròng rã đến bốn năm, tức là tính đến cái ngày nó xuống nhà tôi mời về ăn đám giỗ ba nó.     Lâu ngày không gặp, bữa đó trông nó chỉnh tề ra phết. Áo trắng bỏ trong quần, giày xăng-đan, trên khuôn mặt tròn tròn của nó có chiếc kính cận trông rất sang trọng và ra vẻ học thức. Tôi nắm chặt tay nó một cách sung sướng như tìm lại được một cái gì rất quý mà mình đã bỏ quên lâu ngày rồi. Và, đến lúc đó tôi đã nhận ra cái tình bạn của hai đứa không thể xóa đi như lau một vết bẩn trên bàn, mà đó là một chuỗi dài những kỷ niệm buồn vui của cuộc đời. Cũng cầm một chai rượu lẻ, nhưng nó không hề nhắc chuyện bốn năm về trước nó quậy tại nhà tôi, mà nói một cách trịnh trọng :
–         Ngày mai là ngày giỗ ông già mình. Mình có làm một mâm cơm. Mời bạn về uống chén rượu.
–         Sao  giống đi nói vợ vậy, thằng quỷ?
Tôi nhớ, cũng gần mười lăm năm rồi, hai thằng hai chiếc xe đạp ra nhà người bà con của nó ở thôn bên cạnh để gặp người con gái mà sau này nó cưới làm vợ, quần áo của nó còn xấu và luộm thuộm hơn nhiều so với lúc này. Tôi lại nắm tay nó, lắc lắc và nói :
–         Được rồi, mai mình về.
        Đêm hôm đó, tôi cứ trằn trọc mãi. Đã bốn năm rồi còn gì. Nếu không về thì anh em sẽ cho rằng mình quá cố chấp, hơn nữa nó cũng buồn, bởi vì trong đám bạn, dù sao tôi với nó là thân nhau nhất. Từ bé đã coi nhau như anh em ruột, chia nhau từng viên kẹo cà, từng khúc mía bẻ trộm, rủ nhau ra mương tát cá, bắt cua, chiều chiều ra gò đánh trổng, thả diều…Hồi đó đứa nào đụng đến tôi là có nó, đụng đến nó là tôi nhảy vô. Bà con trong xóm gọi hai đứa là cặp bài trùng. Ngày nó đi coi mắt vợ cũng chỉ có tôi đi với nó, đám cưới của nó tại cơ quan tôi cũng làm công tác tổ chức, chuẩn bị nội dung từ A đến Z. Thân nhau là thế nhưng khi nghĩ đến chuyện nó uống rượu rồi quậy, người tôi như nóng lên, tức không chịu được. Rồi, không biết tôi chìm vào giấc ngủ vào lúc nào và mơ thấy nó cùng ngồi uống rượu với tôi. Nó ngâm thơ, tôi đệm đàn. Khi nó và tôi đã muốn say, tôi kể chuyện Khuất Nguyên, chuyện mà ngày xưa nó thường hay kể cho tôi và bạn bè nghe.
                – Hay, hay, mày tìm chuyện ở đâu mà hay thế ?- Nó vỗ đùi thật mạnh.
           – Thì chuyện mày từng kể cho bạn bè nghe chứ tìm ở đâu.
           – Thật thế sao ?- Nó ngơ ngác như người vừa từ trên mây rớt xuống.
           –   Mày uống quá nên quên hết, lại còn thật với giả.
           –   Vậy mày thấy tao giống ai ?
           –    Mày không giống ai hết. Mày không đủ đức hạnh để giống        Khuất Nguyên, và tầm của mày cũng không thể như bạn của ông ta.
         Bỗng dưng nó khóc, khóc như một đứa trẻ. Tôi giật mình thức giấc vì tiếng gà gáy sớm. Ngoài đường đã có tiếng người đi chợ. Trời chưa rõ mặt người, khoảng hơn một tiếng đồng hồ nữa mới sáng hẳn. Và tôi không ngủ thêm được nữa, nằm suy nghĩ về cái giấc mơ không trọn vẹn vừa mới đến. Tôi nghĩ, có lẽ rượu đã làm trí nhớ của nó giảm đi. Nó quên nhiều lắm. Nếu nó nhớ mình từng là một học sinh rất giỏi Pháp văn đã dịch tác phẩm  “Những Người Khốn Khổ “ của Victor Hugo từ bản tiếng Pháp ra tiếng Việt, thì nó đâu phải uống vô là chửi tất tần tật như một thằng khùng. Bởi niềm tự hào của bản thân, của cái tôi – không đẻ ra tiền, nhưng đó là hạnh phúc của con người! Rượu làm cho nó mất nhiều quá. Tôi giận nó thì ít, chỉ bốn năm thôi, nhưng tiếc cho nó thì nhiều. Mà xã hội này đâu chỉ một mình nó uống rượu. Sao nó lại phải như vậy? Tôi để ngõ câu hỏi ấy chờ dịp thuận tiện, vui vẻ sẽ hỏi nó.
            Do bận công việc đột xuất của cơ quan, tôi về muộn. Tôi bước vào cửa và chào mọi người.  Rượu đã bắt đầu thấm vào nó,  người nó đã nghiêng qua ngã lại, nhưng nó cũng kịp nhận ra tôi, tràn tới ôm chầm lấy tôi.
–         Mấy thằng bạn quan nó không về thì cũng đành chứ mày không về là tao buồn lắm.
–         Sao mày lại nói vậy?  Mày có nhà cửa, cuộc sống thoải mái như hôm nay chẳng phải nhờ mấy ảnh sao! Mày tính cái đất này được mấy người như mày? Kể cả chuyện uống rượu như mày, làng này chỉ có một.
Mọi người nghe vậy đều tỏ vẻ ái ngại dò xét phản ứng của nó ra sao, nhưng ai cũng biết đó là thực tế. Ngoài chế độ chung, nó còn được ưu ái hổ trợ nhiều mặt, vì nó có bạn là doanh nhân giàu có cỡ của huyện, đặc biệt là anh bạn đang làm lãnh đạo huyện- rất thương và giúp đỡ nó rất nhiều. Thực ra, khi tôi nói như vậy, nhân lúc có rượu- nó sẵn sàng chửi vào mặt tôi theo kiểu cả vú lấp miệng em, nhưng ngược lại nó như tỉnh hẳn, lại còn pha tiếu lâm, đánh trống lảng :
–         Em sợ anh hai mà! Mời anh hai ngồi.
       Tôi biết nó không  sợ ai cả, ít nhất là trong cái huyện này. Có điều  nó không muốn căng thẳng kéo dài giữa tôi và nó nên nó mới xuống mời tôi về ăn giỗ, chỉ vậy thôi. Và sau này tôi cũng không còn quan tâm chuyện nó say rượu nữa, bởi mỗi đứa có nhận thức và cuộc sống riêng. Tôi cũng chỉ tiếc vì nó là thằng giỏi về chữ nghĩa so với bạn bè cùng trang lứa trong làng. Tôi không tin rượu lại có tác dụng ghê gớm đến như vậy. Rượu có thể làm ta say, nhưng làm sao có thể thay đổi được bản chất con người? Có lần tôi hỏi tại rượu hay tại nó thì nó trả lời- do say quá nên tao có nhớ, có biết gì đâu. Bao năm qua, nó và nhiều người hay nói như vậy- tại rượu chứ không phải tại bản thân mình muốn thế. Những giọt nước trong có men sóng sánh thơm nồng và cay cay kia lại sai khiến được con người sao? Bây giờ nghĩ lại tôi thấy thương nó, vì đời  nó  rút cuộc lại  chỉ cứ chạy vòng vòng quanh cái ly rượu vô tri mà thôi. Đôi lúc – tôi lại nghĩ: “ Nó kết thân với ruợu, không rời xa được rượu , có lẽ rượu đã “ nói thay “ cho nó bao điều sâu khuất nhất tận  đáy  lòng  chăng? ”

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »