Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Uncategorized’ Category

Phát hiện vũ trụ đang giãn nở với tốc độ ngày càng lớn giúp ba nhà khoa học đoạt giải Nobel Vật lý 2011. Những quan sát của họ cho thấy sau vụ nổ lớn (Big Bang), vũ trụ giãn nở liên tục và nguội dần.

 
Tiến sĩ vật lý thiên văn Adam Riess trong phòng làm việc tại Đại học Adam Riess, Mỹ. Ảnh: AP.

Telegraph cho biết, tiến sĩ Adam Reiss, một trong ba người đoạt giải thưởng trị giá 1,5 triệu USD, đã nói về nghiên cứu của ông sau khi Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển công bố những người đoạt giải Nobel Vật lý hôm qua. Ông dùng hình ảnh chiếc bánh mỳ kẹp nho khô trong lò nướng để minh họa sự giãn nở của vũ trụ. Mỗi quả nho tượng trưng cho một thiên hà. Địa cầu nằm trong một những quả nho.

“Nếu ngồi bên trong một ổ bánh mỳ kẹp nho khô, bạn sẽ thấy những quả nho khô di chuyển ra phía xa. Đó là do vũ trụ giãn nở. Sự kiện gì sẽ xảy ra tiếp theo là một câu hỏi khó. Trước đây chúng ta dự đoán tốc độ giãn của chiếc bánh mỳ, tức vũ trụ, sẽ giảm dần cho đến khi quá trình giãn nở dừng lại. Thế rồi vào năm 1998 chúng tôi phát hiện tốc độ giãn của vũ trụ không hề giảm, mà còn tăng dần theo thời gian. Vũ trụ ngày càng to hơn”, Reiss nói.

Chưa ai tìm ra nguyên nhân khiến vũ trụ giãn nở với tốc độ ngày càng lớn, song phát hiện của ba nhà khoa học khiến giới khoa học quan tâm hơn tới lý thuyết về “vật chất tối” – thứ có thể chiếm tới ba phần tư vũ trụ. Hiện tại giới khoa học đang cố gắng tìm ra bằng chứng về sự tồn tại của vật chất tối bằng máy gia tốc hạt lớn của Tổ chức Nghiên cứu Nguyên tử châu Âu.

Minh Long

Read Full Post »

DS TRƯƠNG TẤT THỌ

Tình yêu là vật đẹp muôn màu, sống mà thiếu tình yêu thì cuộc sống sẽ cô đơn, trống vắng.

Họ yêu nhau, đó là chuyện bình thường. Họ cưới nhau, đó cũng là chuyện bình thường. Nhưng yêu nhau, cưới nhau ở lứa tuổi gió heo may đã về  cho thấy niềm mơ ước khát khao được sống trong yêu thương hạnh phúc ở những người thuộc lứa tuổi gừng càng già càng cay… Và tình yêu của họ phải vượt qua bao nhiêu khó khăn để có thể đến được với nhau.

CHUYỆN TÌNH ĐẸP NHƯ MƠ

Gặp nhau rồi yêu nhau

Danny Li, một giảng viên ngoại ngữ thuộc đaị học Y  gặp Yuan Dibao tại Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang rồi yêu nhau năm 1953. Tuy nhiên, số phận đã buộc cặp đôi này phải sống ở hai lục địa khác nhau suốt nửa thế kỷ. Thật kỳ diệu, vào tháng 5/2010, Danny Li và Yuan Dibao đã đoàn tụ và kết hôn vào tháng 9 cùng năm.

Chuyện tình của họ được đánh giá là “chuyện tình thanh tao nhất thế giới”. Hai nhân vật chính:

-Nàng-Danny Li-là con một phụ nữ Pháp với chồng người Trung Quốc là “ngôi sao” ở độ tuổi 24, là một trong những giáo viên trẻ nhất tại trường y Chiết Giang, lại thành thạo 4 ngoại ngữ, gồm Trung, Anh, Nga và Pháp.

-Chàng -Yuan Dibao-, diện mạo khôi ngô, là sinh viên trường Y xuất sắc nhất trong lớp tiếng Nga mà Li dạy, họ gặp nhau năm 1953. Li nhận định “Tất cả sinh viên lẫn giáo viên đều thích anh ấy”. Rồi họ yêu nhau, cả gia đình Li cũng đều quí mến chàng trai trẻ Yuan.

-Nghịch cảnh của cuộc tình đẹp về phía Li là những trở ngại tình cảm giữa cô giáo với sinh viên mình giảng dạy còn Yuan thì dấu Li việc mình đã có vợ ở quê-lấy em gái một người bạn-theo sắp xếp của gia đình trước khi vào đại học.

Năm 1954, trước khi cùng trường chuyển tới Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên ở tây nam Trung Quốc, Yuan cuối cùng đã có đủ dũng khí để nói với Li rằng mình đã có vợ, một người mà anh cảm thấy có nghĩa vụ phải quan tâm và chăm sóc tới khi cô ấy qua đời. Li choáng váng. Dù yêu Yuan, nhưng hai người đã chia tay. “Tôi không còn lựa chọn nào khác. Chúng tôi không thể xây dựng hạnh phúc trên sự đau khổ của một người phụ nữ vô tội khác”, Li nói. Kể từ đó, hai người không gặp lại nhau.

Chức Nữ chờ Ngưu Lang 55 năm

-Năm 1956, Li cùng mẹ về Pháp và viết thư báo cho Yuan biết và họ giữ liên lạc qua thư. Cuộc sống mới của cô vô cùng khó khăn. Li không những phải vật lộn để sống sót tại một xã hội xa lạ với cô, bằng cấp bị phủ nhận mà còn bị sốc văn hóa. , rồi cuối cùng tìm được công việc thư ký tại một công ty thương mại quốc tế. Trong khi đó, Yuan tốt nghiệp và bắt đầu làm việc tại Hạ Môn.Trong những bức thư gửi cho nhau, Yuan chia sẻ với Li về hạnh phúc được làm cha và Li gửi cho Yuan những gói sữa bột trẻ em, quần áo vì biết những món đồ này ở Trung Quốc lúc đó là rất hiếm.

-Khi cách mạng văn hóa nổ ra (1966-1979) tại Trung Hoa thì những lá thư của Li bắt đầu bị gửi trả lại. Để tránh gây rắc rối cho Yuan, Li ngừng viết thư. Tuy nhiên, cô không quên chàng trai mình yêu quý.”Tôi không thể bắt đầu một quan hệ mới dù nhiều người đã tìm đến tôi. Tôi cảm thấy tình yêu của Yuan với tôi là tha thiết nhất và không ai có thể sánh bằng anh ấy”.

-Năm 1976, khi chắc là mọi thứ đã an toàn, Li viết thư gửi về nơi làm của Yuan như trước kia. Tuy nhiên, lá thư này cũng lại bị gửi trả.do Yuan đã thay đổi nơi làm việc và có thông báo cho cô trong một lá thư gửi đi từ năm 1973 nhưng nó không tới được tay Li.

Gặp lại người xưa nhờ con dâu

Vào dịp Tết năm 2010. Ouyang Luying, con dâu thứ 3 của Yuan biết qua một người họ hàng (từng giúp Yuan giấu thư của Li) rằng cha chồng từng hẹn hò yêu đương một giáo viên dạy ngoại ngữ. “Khi ông kể cho tôi nghe chuyện, tôi cảm thấy rất xúc động. Mẹ chồng tôi đã qua đời từ năm 1994 vì vậy tôi khuyến khích ông viết thư”. Ouyang đã đánh thức những kỷ niệm sâu kín trong ông. Yuan đã thức khuya để viết 5 bức thư gởi cho Li và họ hàng với mong ước tìm biết hiện giờ Li đang ở đâu.Yuan sau đó mỗi ngày lại gửi một lá thư. Cuối cùng, một lá thư ghi nơi gửi là Pháp đã được gửi tới Yuan.Tay run run, Yuan mở thư. Nhìn nét chữ quen thuộc, Yuan nghĩ “tạ ơn trời, cô ấy còn sống”.Phong bì chứa một tấm ảnh của Li và bức thư dày 3 trang. Trong đó, Li đưa Yuan đi suốt những gì xảy ra trong cuộc đời cô.Năm 1974, chín năm sau lần thư từ cuối cùng, Li đạt học vị Thạc sĩ về tiếng Trung và làm giáo viên tiếng Trung tại Jean Moulin – đại học 3 ở Lyon với điều kiện cô phải có học vị Tiến sĩ trong vòng 10 năm, điều kiện mà cô đã đáp ứng được vào năm 1979. Năm 1992 Li về hưu và làm phó Chủ tịch của một tổ chức phi lợi nhuận chuyên giúp đỡ sinh viên Trung Quốc. Li vẫn độc thân và sống một mình trong căn nhà của ông bà để lại sau khi bố mẹ cô qua đời.

Ngày 1/5/2010, Li thấy lá thư của Yuan đã chờ sẵn cô ở nhà. “Tôi không trả lời ngay vì không tin đó là sự thật”. Li cầm lá thư của Yuan và ngồi trong sân từ chiều tới nửa đêm. Ngày hôm sau, bưu tá lại mang một lá thư khác tới, cuối cùng Li tin đây không phải là mơ.

KẾT HÔN SAU 55 NĂM CHIA LÌA: CHÀNG RỄ 82T, CÔ DÂU 83T

Hai người bắt đầu thư từ cho nhau như trước. Lần đầu tiên gọi điện cho Li, nàng dâu thứ ba Ouyang đã gọi “chào mẹ Danny”, điều mà Li chưa từng được nghe bao giờ khiến bà không diễn tả được cảm giác hạnh phúc lúc ấy rồi sau đó với sự giúp đỡ của Ouyang, họ nói chuyện điện thoại. Tuy nhiên, hai người vẫn viết thư vì Yuan hơi bị điếc tai. Một tháng sau, Yuan mời Li tới Hạ Môn và nói tùy thuộc vào Li muốn sống cùng ông tới cuối đời hay chỉ tới thăm cũng được. Khi Li bay tới Hạ Môn, Yuan và gia đình tới gặp Li ở sân bay. Yuan đem theo một bó hồng 55 bông.Li chấp nhận lời cầu hôn của Yuan và họ đăng ký kết hôn vào ngày 21/9/2010, một ngày trước trung thu, thời điểm đoàn tụ gia đình theo truyền thống ở Trung Quốc. Con trai Yuan tổ chức một hôn lễ lớn cho cha vào ngày 26/9.

Li và Yuan hiện sống trong nhà của con trai thứ 3. Mỗi sáng, họ lại nắm tay nhau đi dạo trên biển.”Cái gì đã qua thì cũng qua rồi, chúng tôi muốn ở bên nhau tới cuối đời. Tôi mắt kém, Yuan điếc tai. Tôi là tai của Yuan còn anh ấy là mắt của tôi”.

(Tổng hợp từ China Daily, Cultural China)

Read Full Post »

Đầu thế kỷ 20 đàn ông Nam bộ không còn búi tóc củ hành nên nghề cắt tóc ra đời; giày dép bắt đầu phổ biến làm xuất hiện nghề sửa giày… Ngày nay trên vỉa hè vẫn còn ông thợ hớt tóc dạo, người thợ sửa giày lâu năm…

Không còn hình ảnh lam lũ chân đất áo bà ba như xưa, nhưng trong mưu sinh người Sài Gòn ngày nay vẫn giữ những nét văn hóa cơ bản của đầu thế kỷ 20.

Từ những năm 1910-1930, nam giới đã không còn búi tóc củ hành mà bắt đầu cắt tóc ngắn. Theo đó, nghề hớt tóc dạo đường phố ra đời. Đến nay, các tiệm cắt tóc, salon tóc đã chuyên nghiệp hơn, tích hợp nhiều dịch vụ tiện ích, nhưng thỉnh thoảng đâu đó trên vỉa hè đường phố Sài Gòn, dưới những bóng cây mát vẫn còn những người thợ cắt tóc bình dị, với những dụng cụ hành nghề rất đơn giản, nhỏ gọn.
Là phương tiện vận chuyển tiện lợi, taxi bắt đầu xuất hiện ở Sài Gòn – Chợ Lớn vào khoảng cuối những năm 40 và thịnh hành những năm 50 của thế kỷ 20. Trong ảnh là chiếc taxi năm 1970 (ảnh trên) và hiện nay (ảnh dưới).
Sài Gòn xưa có hàng nước, quán cóc bán trà đá, trà chanh…thì trên phố Sài thành hiện nay cũng phổ biến gánh hàng, bàn giải khát với đủ loại nước có ga, nước chanh, sâm lạnh, nước dừa…
Nghề đưa thư ở Sài Gòn bắt đầu phát triển từ đầu thế kỷ 20, chủ yếu là bằng chân, do các đoàn người vận chuyển từ nơi này đến nơi khác, chỉ một số ít thư được vận chuyển bằng xe. Khi đó đất phương Nam còn nhiều rừng rậm thú dữ nên nghề đưa thư khá nguy hiểm. Ngày này nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin, máy móc thiết bị hiện đại nên việc thông tin liên lạc đã nhanh chóng, tiện lợi hơn nhiều lần.
Hình ảnh chiếc xe đẩy bán hủ tíu dạo gắn liền với văn hóa ẩm thực Sài Gòn hơn 100 năm nay. Những chiếc xe bán hủ tíu đến nay gần như vẫn còn giữ nguyên cách buôn bán lề đường, đặc biệt là là tiếng gõ “lách cách” đặc trưng. Ngày nay vẫn còn những tiệm bán hủ tíu trên 50 năm tuổi như các tiệm của người Hoa ở khu Chợ Lớn, trên đường Triệu Quang Phục (quận 5), đường Gia Phú (quận 6),…
Gánh hàng rong đã có từ rất lâu đời, và trở thành một nét văn hóa đặc trưng rất Sài thành. Trải bao thăng trầm dâu bể của thời cuộc, gánh hàng rong ngày nay không khác xưa là mấy, vẫn đơn sơ quà vặt, bình dị những tiếng rao.
Nghề sửa giày bắt đầu xuất hiện vào đầu thế kỷ 20, cho đến nay đã trở thành một trong những nghề thủ công lâu đời nhất tại Sài Gòn. Sửa giày được xem là một nghề khá nhàn nhã, thu nhập không cao nhưng ổn định, bất cứ khi nào cũng có việc để làm. Ngày nay, nghề sửa giày ít nhiều đã bị mai một, nhưng vẫn có thể bắt gặp những người thợ già đang miệt mài đóng giày trên hè phố, nhất là ở các đường Lê Thánh Tôn, Hai Bà Trưng (quận 1)…

Lê Phương – Mai Nhật
(Ảnh tư liệu Sài Gòn xưa tổng hợp từ nhiều nguồn

Read Full Post »

“Chưa đi chưa biết Hoa Kỳ –
Đi rồi mới thấy… kỳ kỳ làm sao!”

“Chưa đi chưa biết Hoa Kỳ – Đi rồi mới thấy… kỳ kỳ làm sao!” – Phải, một trong những sự “kỳ kỳ” ở xứ Mỹ này là đạo luật “Pull Your Pants Up” hay “Kéo quần lên” mới được ban hành ngày 31 tháng 8 vừa rồi.

Đây là thành quả vĩ đại mà thượng nghị sĩ Gary Siplin thuộc đảng Dân Chủ ở Orlando, tiểu bang Florida đã gặt hái được sau hơn 6 năm vận động. Nhân mùa khai giảng niên học 2011-2012, các cậu đương kim sinh viên trở lại trường và các cựu nam học sinh vừa từ cấp trung học bước lên ngưỡng cửa đại học đã được “cụ thượng” Siplin hồ hởi phấn khởi chào mừng bằng việc phân phát miễn phí 200 dây nịt hay còn gọi là thắt lưng.
Món quà này không phải nhằm vận động các cậu nhớ bỏ phiếu cho ứng cử viên tổng thống của đảng Dân Chủ vào tháng 11 năm tới hoặc để các cậu diện cho bảnh hầu bắt mắt con gái – nhưng thông điệp rất rõ rệt: Dây nịt này dùng để giữ quần không bị xệ xuống mà lòi bộ mông của chủ nhân ra! Nói nhẹ thì như có vẻ khuyên bảo nhẹ nhàng, nhưng thật sự là nghiêm cấm đấy dù mông có đẹp, có trắng, có tròn, có nẩy nở hay phát triển khổng lồ hoặc sexy cỡ nào thì cũng không được triển lãm ra trong phạm vi học đường.

Đã gọi là đạo luật thì hẳn nhiên có phần qui định hình phạt. Theo đạo luật “Pull Your Pants Up”, kẻ nào không chịu thường xuyên “kéo quần lên” mà cứ “vô tư” để quần xệ khiến lòi cả mông ra cho mát mẻ hay vì một mục đích thầm kín nào đó thì lần đầu tiên được nhắc nhở; sau đó nếu còn ngoan cố tái phạm thì phạm nhân sẽ bị đuổi học “tối đa 3 ngày và lên đến 30 ngày cho các sinh hoạt ngoại khóa”.

Về phía nữ sinh viên, đạo luật này cấm “mặc áo hở ngực và váy quá ngắn”. Cô nào mặc quần thì cũng phải tuân thủ đạo luật mới này, nghĩa là không được mặc quần xệ, mà nếu nó lỡ xệ thì phải lo mà… kéo lên chứ không được nhân danh phái đẹp mà khoe mông ra. Khiếp, ngứa mắt lắm!
Trong chiến dịch “chống nạn sinh viên quần xệ” của thượng nghị sĩ Gary Siplin ở Florida, không nghe nói và không thấy báo chí viết, nữ sinh viên có được phân phát dây nịt không hay “cụ thượng” này cũng lại áp dụng quan niệm “trọng nam khinh nữ”.
Trong trường hợp này, “trọng” là làm hại, gây thiệt còn “khinh” thì lại mang lợi, sinh ích. Bởi con giai đã nhận được dây nịt mà còn để quần xệ ắt hết lý do để bào chữa cho hiện tượng lòi mông. Ngược lại, con gái mà có bị bắt về tội phơi mông, vẫn có thể chống án bằng cách viện lý không được “bố thí” dây nịt trong khi lại sống trong hoàn cảnh nghèo, có bao nhiêu tiền thì đã dốc vào mục đóng học phí, còn đâu nữa để mua dây nịt hay có tiền đấy, nhưng chưa kịp sắm thắt lưng hoặc chưa chọn được thứ đúng ý, hợp mốt. Đã gọi là ai cũng được bình đẳng trước luật pháp mà vẫn có cảnh “người ăn ốc, kẻ đổ vỏ”, nghĩa là bất công thì Hoa Kỳ vẫn chỉ là đất… “kỳ kỳ làm sao”!
Kể cũng lạ, giữa thời buổi kinh tế xuống dốc, giữa lúc hàng triệu người dân thất nghiệp khiến phải “chạy ăn từng bữa toát mồ hôi”, bỗng dưng QUẦN lại chiếm được một vị trí quan trọng trong luật pháp Hoa Kỳ. Mà quần là cái thá gì, bỗng có giá quá như thế? Đó chẳng qua theo định nghĩa thông dụng trong các tự điển Việt ngữ, là vật dùng để che phần dưới thân thể. Chữ “vật” ở đây quá ư mơ hồ, thứ gì miễn che được hạ thể mà chẳng là “vật” chứ đâu cứ phải là vải? Quay trở lại lịch sử loài người, ta thấy ngay.
Chẳng nhà khảo cứu cổ học nào có thể xác nhận quần có từ niên đại nào và ở đâu có đầu tiên. Thế nhưng, có điều chắc chắn bất khả chối cãi là trong tôn giáo, điển hình Thiên Chúa giáo, tổ tiên loài người “thuở ban đầu lưu luyến ấy” sống trần truồng, bởi chưa phạm tội nên không biết xấu hổ, mà đã không biết xấu hổ thì cần gì che với đậy.
Một bài đọc trong cuốn Cựu Ước kể rất rõ: Chỉ sau khi ăn trái cấm, ông A Dong và bà E Và mới nhận ra từ thuở tạo thiên lập địa đến giờ mình vẫn… trần như nhộng, bèn mắc cở – dù chỉ có hai người nhìn nhau và hai người này từ xưa vẫn là vợ chồng với nhau, tức là của người này cũng là của người kia, vậy mà nay nhìn lại những cái của nhau (cũng là vật sở hữu của chính mình) vẫn thấy… kỳ kỳ làm sao ấy.
Thế là… mắc cở. Sách không kể tiếp “mắc cở” hay “xấu hổ” rồi thì ông A Dong và bà E Và làm gì để chế ngự những cảm giác và nhận thức ấy, nhưng xem nhiều bức họa thì được thấy các họa sĩ đã lấy một chiếc lá – giống lá nho 3 cạnh – to hơn bàn tay mà che dùm cho ông A Dong; còn với bà E Và thì có họa sĩ cũng cung cấp cho bà một chiếc lá be bé – y chang lá tre – có họa sĩ lại để bà đứng núp sau một bụi cây. Nói là “che” cũng chỉ để nói cho có lệ, cho oai tí chút chứ thật sự chỉ làm khuất đại khái được rừng, núi còn thì những vùng hoang địa khác thì vẫn là phần thiên nhiên. Thế nhưng nhân đấy, ta vẫn có thể coi chiếc lá là “cái quần” đầu tiên của loài người.
Rồi chẳng hiểu cuộc sống tiến triển như thế nào mà rồi các thế hệ sau này cuối cùng chiếc lá che thân của “thuở ban đầu… mắc cở ấy” cũng không cánh mà bay đi đâu mất. Lại trần hơn nhộng. Có bộ lạc nào trong rừng sâu núi thẳm mang “quần” đâu. Cả nam lẫn nữ đều tô hô “bình đẳng bình quyền” nên “cả nút chẳng xấu hổ”. May mà phái nam sớm khám phá ra sự bất tiện, nhận diện được vật cản trở những bước tiến trong việc săn bắn hay lúc bị voi rượt, cọp đuổi… nên lấy dây cỏ cột “chướng ngại vật” này lại hoặc nhét nó vào một cái ống cho “an toàn trên xa lộ”. Vậy ta lại có lý do xem sợi dây hay cái ống ấy là một thứ “quần” sơ khởi của nam giới. Còn phái nữ, chắc cũng chỉ cái lá hẳn là “ắt có và đủ” chứ chẳng có thứ gì “vừa tiện lại vừa lợi” hơn thế nữa.
Xem lại: Cái bịt chim

Đến khi đời sống nhân loại được tổ chức thành xã hội, nghĩa là khởi sự có những hoạt động về kinh tế, quân sự, chính trị… – dĩ nhiên chỉ “qua loa rờ măng”, nhưng đã có chút ánh sáng văn minh – tổ tiên loài người dệt được vải. Cái khố ra đời. Dụng cụ này bọc được phía trước, che được phần giữa phía sau. Hiện nay trong rừng rậm còn rất đông bộ lạc đóng khố; ở nhà quê cũng không thiếu dân cư “thi đua” đóng khố.
Đã đóng khố thì có đóng… kịch đến cỡ nào cũng vẫn lòi cái nghèo ra. Bởi thế có câu: “Khố rách áo ôm”. Thảm hơn nữa khi gặp cảnh: “Con đóng khố bố cởi truồng”. Nhưng rồi theo thời gian mà cái khố được “phăng” rộng ra, kéo dài xuống để rồi thành cái quần chính hiệu. Thế nhưng cái quần lúc đầu chỉ cần đậy cho “chủ nhân” những phần được coi là “chiến trường”, dần dần ngoài công tác che chở, còn trở thành đồ trang sức cho loài người.
Nói tổng quát, quần cũng thay hình đổi dạng theo thời gian, nhưng nếu chiều dài từ thắt lưng xuống đến mu chân thì gọi là quần dài, nhưng nếu được cắt ngắn lửng lơ trên đầu gối lại mang tên là quần đùi (chỉ che đùi) hay sà-loỏng hoặc “soóc”. Tuy nhiên bài này không có ý tường thuật lý lịch của cái quần, cũng không nhằm sưu tầm các kiểu quần – dù chỉ là quần của nam giới, chứ chẳng dám sờ đến quần đàn bà vốn nhiêu khê và phức tạp vô cùng tận y như tâm lý của nữ giới vốn muôn đời là: “Sông sâu còn có kẻ dò, lòng người (nữ) nham hiểm ai đo cho cùng”.
Ấy vậy mà cái quần cũng góp phần vào việc qui định địa vị của chủ nhân của nó trong xã hội. Chẳng thế mà những ai mặc “quần chùng áo dài” là được thiên hạ đặt vào giai cấp giầu sang, luôn ăn mặc chỉnh tề, sống phong lưu nhàn hạ, không phải lam lũ, vất vả, nhưng lại chuyên “làm cha” tất cả “dân ngu khu đen”, chỉ huy những kẻ “cầy sâu cuốc bẫm” hay “buôn thúng bán mẹt” vốn là giới ngày đêm chỉ biết “quần manh áo vá” hay “quần manh áo vải”.
Thế nhưng, nhà giầu mà keo kiệt, ăn uống không bằng người nghèo thì dân gian chế là: “Quần dài thì ăn mắm thối – quần đến đầu gối thì xơi mắm thơm”.
Mà thôi, giờ xin trở về với chủ đề: “Kéo quần lên!” Quần đã xệ thì mông lòi ra. Đó là lẽ tự nhiên. Nhưng hình ảnh này đã làm thượng nghị sị Gary Siplin ở Orlando ngứa mắt thật sự nên ông không những đã soạn ra đạo luật “Pull Your Pants Up” mà sau khi đã được Quốc Hội thông qua, ông còn xuất quỹ (chắc là công quỹ hoặc quỹ tranh cử chứ không phải tiền túi của ông) để mua những 200 chiếc dây nịt để giúp các sinh viên chuyên mặc quần xệ lòi mông kéo quần lên. Ông Siplin tâm sự với hãng thông tấn Reuters rằng ông “mong muốn các bạn trẻ tin rằng họ đang cắp sách đến trường đại học với cung cách ăn mặc sao cho văn minh và lịch sự”. Nhân ngày phân phát dây nịt, “cụ thượng” Siplin khoe rằng các giáo chức cũng ủng hộ việc làm của ông, bởi thế có câu: “Kéo quần quá rốn mới hay – Lòi mông, hở ngực… các thày ớn ghê”!
Trong khi đó ở hầu hết nước Tây Phương, chính quyền chủ trương lột bớt y phục của các nữ tín đồ Hồi Giáo, đòi càng hớ hênh nhiều càng tốt, nhưng với ông Siplin thì khác, trai không lòi mông, gái chẳng hở ngực. Nhưng có dư luận đặt câu hỏi: Ông đã cung cấp dây nịt cho nam sinh viên, tại sao ông không cùng lúc ủng hộ “cái khiên đỡ đạn” để che ngực cho nữ sinh và phân phát vải cho các cô may thêm vào những chiếc “váy quá ngắn”? Hóa ra ông vẫn chưa công bằng hay ông chỉ ghét mông con giai còn chỉ giả vờ tấn công “ngực hở và váy ngắn” của con gái chứ ông không chịu đưa ra biện pháp và vật dụng cụ thể nào để triệt tiêu tệ trạng, phải chăng như ông muốn ngầm bảo “ừ, cứ như vậy nhé!”.

Xét ra thì việc ăn mặc ở học đường vốn thuộc phạm vi kỷ luật (discipline) mà thôi hay cùng lắm nằm trong các bài học “công dân giáo dục”, vậy mà “cụ thượng” Gary Siplin lại đưa lên tận hàng đạo luật tiểu bang thì kể cũng hơi… quá đà.

Chẳng thế mà “ông và các đồng viện đã phải thúc đẩy từ hơn 6 năm qua”, dự thảo luật mới được thông qua. Người ta tặng ông tấm phiếu thuận chắc phần lớn để tưởng thưởng đức tính kiên nhẫn của ông.
Sau hết, đạo luật mới này trừng phạt các cô, cậu sinh viên nào vẫn ngoan cố mặc quần xệ bằng cách đuổi học tối đa 3 ngày. Kẻ hèn này lại thắc mắc, “cụ thượng” Siplin mong muốn “các bạn trẻ cắp sách đến trường đại học” một cách đàng hoàng mà sao lại nỡ bắt tội nhân ở nhà những 3 ngày, mất biết bao bài vở cần thiết và quan trọng. Không những thế, mỗi phân khoa đại học lại phải thành lập một ủy ban chuyên môn đi săn lùng “các bạn trẻ nào mặc quần xệ”, bắt ngay về hoặc dùng cellphone chụp ngay tại trận cái mông đang lòi ra để làm tang chứng. Rồi lại phải thêm một ủy ban chuyên môn khác nữa xét định mức lòi mông như thế đã vi phạm đạo luật “Pull Your Pants Up” hay chưa. Theo tinh thần dân chủ, bị cáo có quyền đưa luật sư riêng tới, đấu khẩu với các ủy ban chuyên môn nói trên trước khi có phán quyết chung thẩm. Trời, đang khi đó ngân sách giáo dục bị cắt giảm thảm hại; giáo chức bị sa thải, học trò, sinh viên phải đóng thêm học phí chết bỏ. Không lý lại giao các công tác kiểm soát “mông lòi, ngực hở, quần xệ, váy ngắn” cho cảnh sát? Bộ ông Siplin chắc đã quên công dụng của cái mông rồi sao? Thưa ông, ngoài việc để ngồi, để khoe khoang hay để hấp dẫn, cái mông – tự mông đít – còn để quất roi vào. Cổ nhân Việt Nam đã dậy: “Yêu cho roi cho vọt” – lại còn căn dặn cẩn thận: “Cứ mông mà đét” hay “Cứ đít mà quật” – ắt mọi sự sẽ đâu vào đấy. Bố bảo “bạn trẻ” nào còn ngoan cố mặc quần xệ “để lòi mông ra” nữa. Roi đâu?!
Hoài Mỹ

Read Full Post »

Hôm nay xunau.org tròn một tháng một ngày với 80.000 lượt người truy cập. Con số này không phải là lớn nhưng cũng không nhỏ đối với một website tò te mới ra đời.

Trước ngày 17/8 chưa hề có ý nghĩ thành lập trang web xunau.org.  Sáng 17/8,Nam Thi phone gọi Sáu Nẫu ra quán cafe vĩa hè góc Võ Văn Tần-Trần Quốc Thảo tán dóc.Quán cafe nằm dưới hàng cây sao cổ thụ mùa này lá xanh mướt . Chợt nhớ đến lời hẹn với Trương Văn Dân…lại phone. Té ra Trương Văn Dân là người quen cũ của Sáu cách đây gần 50 năm. Gặp lại ,Trương Văn Dân chỉ thốt lên một câu rất ngắn “Trái đất nhỏ hẹp quá”  Chợt lóe lên ý nghĩ lập một trang web kết nối những người xứ Nẫu. Tại sao không?

Buổi trưa về nhà phone cho già làng, nhà văn Mang Viên Long và vài người bạn về dự định thành lập trang web mới thay cho nguoixunau.com đóng cửa trước đó vài ngày.Tất cả bạn bè xa gần từ Quy Nhơn ,Sài Gòn đến Nha Trang,Phú Yên đều ủng hộ nhiệt tình. Anh Mang Viên Long bảo “cậu cứ làm đi mình ủng hộ hai tay hai chân” .Buổi trưa quên cả cơm trưa,mày mò thiết kế website Xứ Nẫu .Hai giờ chiều trang xunau.org đã hoàn tất. Ba giờ chiều bấm nút enter…trên màn hình, banner bầy chim tứ xứ tụ về xứ Nẫu trong ánh hoàng hôn rực rỡ  xuất hiện.Vậy là xunau.org đã chính thức góp mặt cùng hàng tỉ website trên cõi đời này

.

Cú tưởng Xứ Nẫu không đứng được, thành thử những người chủ trương ngần ngại không đưa những hình ảnh đông vui của buổi tiệc nho nhỏ ngày khai trương lên mạng. Ngộ nhở nửa đường đứt gánh thì biết ăn nói làm sao !

Nhưng hình như nhờ nhiều người ..tội nghiệp và thương .. .xunau.org cứ chập chửng lớn lên trong vòng tay yêu thương của bạn bè .Tình cảm ấy biết nói sao cho vừa!

Ngay cả buổi ra mắt xunau.org cũng rất bất ngờ. Đang ngồi uống cafe Đơn Dương nhiều bạn bè gọi đến thúc hối sao chưa rửa web. Tưởng chuyện gì ,chuyện cụng ly côm cốp này thì không khó.Cái khó nhất là có rượu có mồi nhưng mời hoài mà không ai đến

Cứ phone và phone,vậy là xong !

.

Mai Thanh,Nam Thi,Trương Văn Dân,Thiên Bồng, Hà Văn Hoàng sau tuần rượu thứ n ở quán Sĩ Phú trên đường Cách Mạng Tháng Tám .Hình như ai cũng phê quá thì phải?

.Phàn Lê Huê từ Tây Sơn cũng kịp ghé qua. Người ngồi cuối bàn là Nguyễn Hữu Duyên Elena và Nguyễn Quy

.Bagiakhoua Lâm CẩmÁi từ Thái Lan về hôm nay trông rất dễ ưa! Ai cũng muốn tranh thủ chụp chung với nhà thơ kiêm chủ quán cafe Gia Nguyễn nổi tiếng

.

.Hai cha con Vinh Rùa và Chính Rùa đang rất phiêu!

.Hà Văn Hoàng lúc nào cũng rất trầm tư,ngày còn đi học anh đã được mệnh danh là triết gia

.Elena, phu nhân của Trương Văn Dân ,nhà báo từ Ý qua làm cho buổi gặp mặt có vẻ quốc tế hóa. Elena quấn bánh tráng chấm mắm nêm còn ngon lành hơn nhiều người xứ Nẫu xịn .Ciao ! ciao!

.Mai Thanh Nam Thi và Trương Văn Dân ba cây bút văn xuôi nổi tiếng của xứ Nẫu

Bagiakhoua và Elena hình như đang trao đổi những câu chuyện bí mật ..về trái tim!!!

.

.Nguyễn Quy rất ga lăng còn phanlehue rạng rỡ trong buổi ra mắt xunau.org

.

.Nào cụng ly mừng Xứ Nẫu

Nhiều người thắc mắc tại sao phóng sự ảnh lại ghi Xứ Nẫu một tháng một ngày và một giờ. Một tháng một ngày thì dễ hiểu rồi .Còn một giờ là để nhắc nhở những người chủ trương xunau.org không chủ quan. Sự thất bại của một website có thể đến bất kỳ lúc nào ,bất kỳ từ đâu. Khôn ba năm dại một giờ là vậy đó hì hì.

Hy vọng xunau.org cứ chầm chậm đồng hành cùng những người yêu xứ Nẫu

Sáu Nẫu

Read Full Post »

Trần Qui Nhơn

Bạn thân trong nhóm nhà nông Houston , hôm qua  gởi khoe tấm hình tô dưa mắm cô mới làm tháng trước , giờ đã ăn được . ..
Trời ui , với QN thịt cá còn có thể bỏ qua , chứ rau hay mắm thì không thể nào , thấy là thèm .
Nhìn tô dưa mắm với ớt tỏi lênh đênh , trông ngon lành quá
Đúng là số khổ , cao lương mỹ vị gì cho cam , chỉ là dưa mắm , món này ở VN bình dân biết chừng nào …
Vậy mà , hình ảnh tô mắm khêu gợi  tâm hồn ăn uống của QN ngay tức khắc , ngoài  vườn , giờ này , dưa leo , dưa gan rộ quá chừng , món dưa mắm coi bộ hợp thời trang lắm bởi  cây nhà lá vườn . Muối , đường  nhà cũng đang có sẳn .
Vậy là a lê hấp ,  cắt .. hái .. .Đem vô nhà một trái dưa leo dài cả thước , một trái dưa gan còn xanh , nhưng vỏ đả mỏng  … QN  ra tay trổ tài đưa lũ chúng nó vào …. tô mắm ..
Dưa leo và dưa gan vườn nhà
gọt vỏ , bỏ ruột , cắt khúc  , ngâm nước muuối 1 ngày
ngâm nước đường một tháng .
Theo công thức của sis Mỹ lệ (forum .CN)như sau :
SUSU- DƯA LEO – DƯA GANG RỬA SẠCH BỔ ĐÔI NGÂM NƯỚC MUỐI KO CẦN NẤU PHA TỈ LỆ 10 NƯỚC THÌ 1 MUỐI .
NGÂM 24 H ĐỔ SUSU MUỐI RA CÁI RỖ CHO RÁO. NẤU NƯỚC ĐƯỜNG ( MYLE LƯỜI NÊN MYLE CHO GOLDEN SYRUP CŨNG NGON NHƯ THƯỜNG HIHIHI ) , CHO SUSU MUỐI VÔ KEO CHẾ NƯỚC ĐƯỜNG VÔ NGẬP SUSU NHỚ CHÈN CHẶT ĐẬY NẮP LẠI ĐỂ Ở NGOÀI .
MỘT THÁNG SAU ĐỔ BỎ NƯỚC ĐƯỜNG ĐỂ RA RỔ CHO RÁO ,CẮT MIẾNG VỪA ĂN XONG CHẾ THÊM 1 LẦN NƯỚC ĐƯỜNG CẤT TỦ LẠNH MẤY NĂM CŨNG KO BỊ GÌ HẾT , MÀ MYLE THẤY CÀNG ĐỂ LÂU MIẾNG DƯA MẮM CÀNG TRONG VÀ VÀNG ÓNG TRÔNG HẤP DẪN HƠN ĐÓ .
KHI NÀO ĂN GIÃ ỚT -TỎI- NƯỚC MẮM -TÍ CHANH LÀ NGON TUYỆT VỜI LUÔN ( CÓ THỂ MẤY SIS ĂN CHAY CŨNG DÙNG ĐƯỢC LUÔN )
NGÂM NƯỚC MUỐI
thắng nước đường .
VÀ ĐÂY LÀ LÚC MYLE LÀM BIẾNG NÊN CHO SYRUP LUÔN HIHIHI
THÀNH QUẢ  SAU KHI NGÂM NƯỚC ĐƯỜNG MỘT THÁNG
CẮT MIẾNG NHỎ VỪA ĂN
MYLE CHO NỨƠC ĐƯỜNG 1 LẦN NỮA VÀ LÚC NÀY DƯA MẮM SUSU ĐÃ CÓ THỂ ĂN ĐƯỢC NẾU CHƯA ĂN THÌ CẤT TỦ LẠNH ĂN DẦN

VÀ ĐÂY LÀ DƯA MẮM DƯA LEO làm từ mấy tháng trước

dưa mắm tròn một tuổi , ngon chưa ?
Tip : khi nấu nước đường cho vô một chút nước màu để có màu đẹp .
Chúc các bạn làm được một thố dưa mắm ngon như thế này , thêm  ớt , tỏi ,chanh , là ăn hết cơm luôn .
Quinhơn11

Read Full Post »

Nói đến chữ quốc ngữ, hầu như ai cũng biết công lao của giáo sĩ Alexandre de Rhodes. Tuy nhiên, ông chỉ là người thừa hưởng, hệ thống lại và phát triển thêm từ sự khai mở của các giáo sĩ đi trước, những người vốn được Khám lý Cống Quận công Trần Đức Hòa che chở.

Vào thế kỷ thứ 16, đạo Kitô thâm nhập vào Nhật Bản bởi một số nhà truyền giáo Dòng Tên từ Ma Cao đến. Đầu thế kỷ 17, Nhật ban lệnh cấm đạo và trục xuất các nhà truyền giáo. Trong số các giáo sĩ bị trục xuất từ Nhật Bản, có 4 vị thừa sai là hai linh mục Bồ Đào Nha Francesco Buzomi và Diego Carvalho cùng hai trợ sĩ người Nhật là Jose và Paolo được lệnh của của Nhà Dòng, thay vì trở về Ma Cao thì chuyển hướng xuống Hội An của xứ Đàng Trong.


Hậu duệ của Cống Quận công Trần Đức Hòa bên tấm biển ghi công trạng của vị đại quan – Ảnh: Hà Đình Nguyên

Ngày 18.1.1615, họ cập bến Hải Phố (Hội An). Lúc này ở Hội An, cộng đồng Nhật kiều theo Thiên Chúa giáo đã hình thành và các giáo sĩ này đã dùng tiếng Nhật để chăm sóc họ. Năm 1617, nhóm giáo sĩ ở Hội An được tăng cường thêm linh mục Francesco de Pina và một tu sĩ, tiếp đó lại có thêm các linh mục Cristofono Borri và Pedro Marquez – chứng tỏ, việc truyền giáo ở Hội An có những kết quả khả quan. Chẳng may ít lâu sau, Đàng Trong bị thiên tai hạn hán, dư luận cho rằng do trời đất trừng trị vì có người bỏ thờ cúng tổ tiên, ông bà mà theo đạo mới. Họ quy trách nhiệm cho các thừa sai và giáo dân. Đầu năm 1618, các giáo sĩ lại bị trục xuất khỏi nước Việt. Linh mục Marquez và một tu sĩ được các giáo dân Nhật kiều giúp che chở, trốn tránh ở Hội An. Còn các linh mục Pina, Buzomi, Borri và hai thầy dòng khác thì được quan Khám lý Cống Quận công Trần Đức Hòa, khi đó đang là Trấn thủ Quy Nhơn, ra tận Hội An đón về Quy Nhơn.

Trong cuốn Xứ Đàng Trong năm 1621, linh mục Borri đã ghi chép khá đầy đủ quan Khám lý Trần Đức Hòa đã đối xử rất “biệt nhãn” với các giáo sĩ phương Tây, ông ghi: “Các cha Francesco Buzomi, Francesco de Pina và tôi rời Hải Phố đi Pulucambi với quan trấn tỉnh này. Suốt hành trình, quan trấn đối với chúng tôi hết sức lịch sự và nhã nhặn. Ông cho chúng tôi ở cùng đoàn, dành riêng cho chúng tôi và người thông dịch một chiếc thuyền, hành lý chúng tôi để ở một thuyền khác, chứ không ngổn ngang bên chúng tôi. Suốt mười hai ngày, đi trong những điều kiện thoải mái như thế, sớm chiều ghé vào các cửa khẩu hoặc phố xá tỉnh Quảng Nghĩa (Quảng Ngãi – NV), nơi mà quan trấn có quyền như ở Quy Nhơn… Chúng tôi giãi bày mong muốn ở thị trấn để dễ truyền đạo hơn là ở trong dinh nằm giữa cánh đồng, xa thị trấn tới ba dặm. Vì thương mến, quan trấn không muốn xa chúng tôi, nhưng hy sinh quyền lợi cho dân chúng và gạt lòng yêu thích qua một bên. Quan truyền xây cho chúng tôi một ngôi nhà thờ tiện nghi trong thị trấn Nuocman…”.

“Nuocman” ở đây chính là Nước Mặn – một phố thị cảng sông nằm bên đầm Thị Nại của phủ Quy Nhơn (thế kỷ thứ 17-18). Nơi đây thuyền buôn phương Tây và các nước Đông Nam Á thường xuyên ra vào buôn bán. Cảng thị Nước Mặn xưa kia nay là các thôn: An Hòa, Lương Quang (xã Phước Quang) và thôn Kim Xuyên (xã Phước Hòa) huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

Các vị thừa sai Dòng Tên sang truyền giáo ở Đàng Trong từ năm 1615 chủ yếu tập trung ở ba điểm: Cửa Hàn (Đà Nẵng), Hội An – Thanh Chiêm (Quảng Nam) và Nước Mặn (Bình Định) nhưng ở Nước Mặn là trụ sở chính, có cha bề trên Buzomi. Cũng ở đây, linh mục Francesco de Pina mới có điều kiện học tiếng Việt để thành lập thí điểm truyền giáo tiên khởi (cha Pina là thầy dạy tiếng Việt cho Alexandre de Rhodes sau này). Sau đó, linh mục Pina và các linh mục Buzomi, Borri khởi sự nghiên cứu, phân tích và phiên âm tiếng Việt đều ở Nước Mặn.

Ngay trong Lời giới thiệu tác phẩm Xứ Đàng Trong năm 1621 của linh mục C.Borri, hai dịch giả Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị có nhắc đến chi tiết ông đã cố gắng học tiếng Việt, tuy không thạo lắm, nhưng ông cũng hiểu biết đủ để giảng giáo lý Kitô. “Có một vài câu chữ quốc ngữ trong bản tường thuật của ông cho chúng ta biết: ngay từ những năm 1618-1620 đã có một khởi đầu hình thành thứ chữ này. Cái đặc biệt ở nơi ông, cái làm cho khác với de Rhodes sau này, đó là ông đã phiên âm tiếng Việt theo chữ viết của người Ý, chứ không phải người Bồ. Rõ ràng ông phiên âm và viết gn chứ không nh như nho (trái nho) ông viết là gnoo, nhỏ (trẻ nhỏ) ông viết là gno. Cũng vậy xin ông viết scin, bởi vì theo tiếng Ý nếu viết cin thì đọc uốn lưỡi còn nếu viết sc thì đọc cũng như x”.

Do đó, có thể coi Nước Mặn là nơi phát tích cho buổi đầu phôi thai chữ quốc ngữ. Vì thế, sự bao che của Khám lý Cống Quận công Trần Đức Hòa (nếu không thì các giáo sĩ đã bị trục xuất khỏi Việt Nam) cũng có ý nghĩa nhất định với sự hình thành chữ quốc ngữ trong giai đoạn đầu.

Hà Đình Nguyên

Read Full Post »

Elena Pucillo Trương

(Bản dịch của Trương Văn Dân)

 

 

Có khá nhiều lý do để du khách lên đường du lịch : quan sát phong tục cá biệt của một dân tộc, tìm hiểu về những nền văn hoá, hay tiếp xúc với thiên nhiên, đào sâu kiến thức về  lịch sử hay địa lý…Nhưng với tôi, điều làm giàu tâm hồn nhiều nhất là khi trở về nhà, ngoài những bức hình đã chụp, chính cái cảm giác vương vấn còn lại trong tâm trí, có lẽ nhờ các  bạn đồng hành hay cảm xúc vừa trải nghiệm, đã làm cho chuyến đi  trở thành duy nhất. Và cuối cùng  cảm thấy như vừa thực hiện xong những giây phút quan trọng trong đời mình.

            Đó là cảm giác của tôi sau chuyến đi Cam bốt.

 

Rất nhiều lần tôi muốn thực hiện chuyến đi này, viếng thăm những đền đài Ankor-Wat và tham quan một đất nước, như Việt Nam, đã từng hứng chịu những điều kinh khủng trong cuộc chiến.

Thế nhưng, chuyến đi cứ bị  dời đi dời lại nhiều lần, may là cuối cùng  vợ chồng tôi cũng có thể khởi hành và, chúng tôi chọn chuyến đi bằng pullman được tổ chức bỡi một công ty du lịch tại Sài Gòn.

Thường thì tôi thích đi bằng xe Pullman hay xe Bus bỡi vì muốn được di chuyển cùng dân bản xứ : Tôi nghĩ là chỉ bằng cách đó tôi mới có dịp học hỏi, quan sát hiểu thêm các phong tục tập quán của một dân tộc. Hơn nữa, một chuyến đi như vậy thường rất vui  và có nhiều kỷ niệm. Bởi, làm “du khách”chung  với những người ngoại quốc khác, theo tôi  sẽ có nhiều giới hạn về kiến thức về cuộc sống của một nước.

 

            Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ một chuyến đi chừng một giờ  trên xe Bus, tuyến Sài Gòn-Biên Hoà. Trên xe có tài xế, cô gái bán vé và một phụ xe. Nhiệm vụ của anh này là “ bắt ” các hành khách đang đợi ở dọc đường hay đứng chờ ở bến. Dọc theo tuyến đường có những quãng không có  bảng hướng dẫn hay trạm chờ  xe và hành khách  phải đón xe ở   bất kỳ một chỗ nào đó trên đường. Tôi đã thấy một người đàn ông, để tài xế xe bus thấy, ông phải chồm ra gần giữa lòng đường, thách thức những chiếc xe máy chạy vun vút, đứng vẫy vẫy tay, và khi xe bus gần đến, tài xế giảm tốc độ nhưng không dừng hẳn, ông được  anh phụ xe “túm” lấy  và kéo lên xe!

 Trước khi đến một bến dừng, anh phụ xe giơ hai tay vẫy vẫy, có khi nghiêng cả nửa người ra ngoài thành xe và nói lớn báo cho khách đứng chờ hãy sẵn sàng. Xe chưa kịp dừng lại thì anh đã nhảy xuống và thuyết phục khách hãy leo lên xe bus của mình, chất lượng cao hơn các xe khác, để đến đích mà họ cần.

Dường như có một lý do sinh tử chèo kéo nhiều khách bao nhiêu có thể. Và tất cả các điều này xảy ra trong tiếng cười, hò hét, kêu gọi, nhảy xuống, trèo lên khi xe còn đang chạy, giữa những gói, thùng hàng xách tay.

Cho đến bây giờ như vẫn còn nguyên trước  mắt tôi cái nhìn lanh lợi và lém lỉnh của cậu thanh niên đó, thân hình tuy mảnh khảnh nhưng hàm chứa một sức lực dồi dào, hai ống quần của chiếc quần jean được  gấp lên cho gọn gàng phơi rõ hai bàn chân to bè trên đôi sandale đầy bụi. Nhưng điều làm tôi lưu ý là trên thân hình hơi gầy ấy có chứa một sức mạnh, thứ sức mạnh cần thiết để trưởng thành trong vội vã  để có thể chiến thắng sự nghèo nàn.  Tôi nói “ cám ơn”  và mỉm cười, khi cậu ta cũng giúp tôi, một người ngoại quốc bước xuống  xe bus còn đang chạy chậm…

 

Và cũng như thế, trong chuyến đi  Cam Bốt  tôi  cũng là người ngoại quốc duy nhất trên xe. Sau vài giờ di chuyển chúng tôi đến biên giới Việt Miên và sau các thủ tục kiểm tra hộ chiếu, tất cả các hành khách phải chuyển sang một chiếc xe nội địa khác. Bên cạnh người hướng dẫn tên  Nam, lúc này còn có thêm một nữ hướng dẫn viên khác, một cô gái người Cam Bốt mà trước đây cùng gia đình đã  trốn sang Việt nam để tránh hoạ diệt chủng của Polpot. Cô theo học ở Đại Học Cần Thơ và sau khi hoà bình lập lại, cô đã trở về Cam Bốt, khai thác vốn kiến thức và  khả năng  nói thạo tiếng Việt cho ngành du lịch.

 

Đây không phải là lần đầu tiên hai người này làm việc chung để hướng dẫn du khách. Họ biết rất rõ các điểm cần đến hay nên dừng lại. Họ cung cấp cho du khách các thông tin cần thiết, thí dụ như nên tranh thủ ở các điểm dừng, vì  trên xứ Cam Bốt rất khó tìm được nhà vệ sinh, và, nếu ai đó có nhu cầu, chỉ còn cách chạy ra đồng, nép mình sau một thân cây hay một bụi rậm.

Nơi chúng tôi dừng lại để ăn uống thường cũng là nơi tụ tập của các người bán hàng rong. Họ bán đủ thứ, từ  hoa quả đến những thứ đặc biệt để ăn…và chính vì thế mà, tôi, vì tò mò đã cố lấy can đảm để cắn thử một cái chân nhền nhện chiên giòn.

 

Sau khi đến Seam Reap, một thành phố đầy khách sạn, cửa hàng, tiệm matsa và các tiệm ăn, nhà hàng… tất cả như được chuẩn  bị để chào đón du khách đến thăm các đền đài miếu viện của  Ankor Wat.

 Ngay từ sáng sớm chúng tôi đã phải xếp hàng để chụp hình ở một trạm gác và sau vài phút các nhân viên ở đây cấp cho chúng tôi một  tấm vé có hình để có thể tham quan các ngôi đền.

Đối với tôi, hình ảnh làm tôi xúc động nhất, hơn cả Ankor Wat,   chính là những phế tích và những rễ cây  hoá thạch của Ankor Thom. Tất cả  hình như được bao phủ bởi một lớp bụi của thời gian và rơi vào quên lãng, xung quanh chỉ còn muôn ngàn tiếng gào thét của ve sầu… Một thành phố bị bỏ quên, bỗng dưng sống lại nhờ những hoa văn khắc sâu trên đá và làm cho chúng ta  nghe được hơi thở của một nền văn minh của dân tộc Khmer, đã bị người Thái tiêu diệt  và  tàn phá.

Vượt lên trên những nguy nga của đền tháp Ankor Wat chính là những khắc hoạ Khmer  dưới chân  những tường đá của  Ankor Thom. Những hoa văn đó mới là những bằng chứng hùng hồn về một dân tộc cần cù và trí tuệ . Họ đã khắc lên đá những hình ảnh bình lặng thường ngày, nấu ăn, câu cá và chinh phục cá sấu, tuy nhiên bên cạnh những hình ảnh thanh bình đó, vì trớ trêu của lịch sử, còn có những hình ảnh của chiến tranh, chiến đấu chống lại  đội quân  xâm lăng của Thái lan trên  mặt biển. Sau khi chiến tranh chấm dứt, nhân dân được hưởng cánh thái bình, họ tìm sự thư giãn với những nhạc cụ,  để đệm nhạc cho các vữ nữ, hay đúng hơn, các tiên nữ trong vũ điệu  “Apsara”  mê hồn : Một vũ điệu trong đó các động tác đều rất chuẩn mực và  nhịp nhàng,   các chuyển động vô cùng quyến rũ, các bàn tay, ngón tay được uốn  cong một cách điêu luyện  cùng với thân hình uyển chuyển, uốn lượn, gợi cảm trong mong cầu phồn thực…tất cả những điều đó đều đã trở thành thành bất tử nhờ các khắc hoạ trên đá, giờ đây đang hứng chịu những đổ nát sau nhiều thế kỷ thách đố với thời gian.

Chúng tôi đứng như bị thôi miên trước những cái nhìn và các khuôn mặt của đức Phật được khắc hoạ một cách sống động trên đỉnh tháp, mặt hướng về bốn hướng Đông Tây Nam Bắc. Hình tượng đó còn được lập lại trong một  hành lang dài được trang trí bằng những vòng cung dọc theo một lối đi có những bậc thang lên xuống, tất cả  các nét mặt hiền từ, miệng mỉm cười, với đôi mắt nửa nhắm nửa mở,mà đặc biệt là  không có khuôn mặt nào giống khuôn mặt nào. Cuối hành lang có một cầu thang 80 bậc, được kiến trúc và xây dựng một cách đặc biệt để những kẻ đến đây phải tỏ lòng tôn kính : Những bậc thang rất hẹp , và  ngắn, để những  kẻ viếng thăm tượng Phật trên đỉnh tháp phải cúi mình, tư thế bắt buộc phải giữ cho khỏi ngã khi leo lên , rồi khi đi xuống…họ cũng  buộc phải giữ tư thế như lúc  đi lên, vì bậc thang rất dốc,  để giữ lòng tôn kính và  khỏi phải xoay lưng về phía Phật.

Đây là một trong những kỳ quan của thế giới, và các dân tộc trên thế giới tham gia cùng Unesco với ước muốn bảo tồn. Nhìn chung, Ankor Wat là một sự kết hợp kỳ diệu của đá, từ những khối có kích cỡ trung bình đến những viên nhỏ vài centimét đặt khít vào nhau tạo thành những cột đá bền vững, đứng bất động giữa thiên nhiên như một sự thách thức về luật cân bằng. Tuy nhiên, nắng gió đi qua, cũng có những  đống đá đổ nát  nằm dưới chân đền như chứng tích về sự mỏi mệt với thời gian. Bên cạnh những khu vực đang được tái tạo, người ta còn thấy có những ngọn tháp đổ  xuống, các tảng đá lớn nhỏ  nằm ngổn ngang, rời rạc…trông giống như một  nỗi thống khổ của Sisifo (Sisyphe), cứ tiếp tục lăn tảng đá lên đỉnh núi và khi tới đỉnh nó lại lăn xuống vực.

 

Nhiều người nói là có những nơi trên trái đất  mà chúng ta cần  phải đến ít nhất một lần trong đời. Trong trường hợp đó, tôi nghĩ Ankor Wat chính là nơi mà chúng ta cần phải đến thăm, trước khi kỳ quan này biến mất một lần nữa…Nhưng lần sau sẽ không phải bị bỏ rơi vì nhân dân chạy giặc  hay để nó bị  phá huỷ bởi bàn tay của người Thái hay bom đạn Mỹ mà chính là vì  thiên nhiên sẽ nuốt chửng những tháp đền này vì không có kinh phí hay sự quan tâm nhằm khôi phục lại vẻ huy hoàng của vài trăm năm trước, bởi vì các chính phủ hiện nay chỉ chú tâm đến « hiện đại hoá » , xây dựng những cao ốc nhiều tầng bằng kính, những resorts, khách sạn hiện đại ngay sát những sinh hoạt của đa số thần dân trong khu ổ chuột.

 

Nhưng chuyến đi CamBốt còn mang đến cho tôi  những xúc cảm khác…

 

            Vài người khách trong chuyến đi, nghe bạn bè  nói lại, đã hỏi ý hướng dẫn viên để có thể tham quan  Biển Hồ ( Tonse Lap). Sau khi tham khảo ý kiến, hai hướng dẫn viên cho biết là họ có thể tổ chức cho chuyến thăm ngoài chương trình, nhưng cần phải có đủ số người tham dự. Tưởng chẳng mấy ai quan tâm…nhưng, chỉ trừ một vài người, hầu kết khách trong đoàn đều  ghi danh cho chuyến thăm này.

Ai không biết, có thể nghĩ rằng đi nhìn một cái hồ thì có gì đặc biệt ?  Thế nhưng, sau khi được giải thích, mọi người đều vỡ lẽ về những điều thú vị cho chuyến viếng thăm này. Trước hết, đó là một cái hồ rất quan trọng được tạo nên bỡi dòng sông to lớn : Mê Kông.  Nó quan trọng đến nỗi người Việt đã gọi đó là “ Biển Hồ”. Hồ to như biển.

Trong năm, có vài tháng hồ này ít nước, mực nước thấp và có ít tôm cá. Thế nhưng  vào mùa mưa, biển hồ chính là một nơi tích trữ nước khi mực nước trên  sông Mê Kông dâng cao. Chính tính chất đặc biệt ấy  mà Biển Hồ giữ một vai trò quan trọng trong hệ sinh thái của khu vực này. Thiếu nó, tất cả  các khu vực hạ lưu của chín con rồng ở Việt nam chắc chắn bị chìm trong biển nước. Chính  đó là một điều kỳ diệu của thiên nhiên, đã tự thiết kế  và kiến tạo để giữ thế quân bình sinh thái, không cần  bất cứ sự tham gia nào của con người, thường chỉ gây ra tai hoạ. Thí dụ như, nếu một ngày nào đó, nhà nước CamBốt quyết định xây dựng một con đập trên sông Mê Kông, thế là tất cả  các vùng đất phì nhiêu, nhiều tôm cá, như Cà Mau, sẽ không còn hiện hữu nữa.

 

Nhưng chuyến thăm Biển Hồ còn có thêm một ý nghĩa khác. Và không kém phần quan trọng.

            Trên bờ hồ, bên cạnh những người bản xứ, còn có một cộng đồng  người Việt sinh sống. Bỏ quê hương để mưu sinh, hành trang của họ mang theo chỉ là sự nghèo nàn và sợ hãi.. Họ   dừng bước ở đây, một nơi heo hút, xa lạ  với những ánh đèn thành phố.

            Hai hướng dẫn viên lấy ra một túi xách mà họ đã chuẩn bị  từ trước, trong đó có nhiều sách vở và bút mực… và gợi ý cho đoàn moi lục túi xách để lấy ra những  cục xà bông, chai sữa tắm, bàn chải đánh răng… được khách sạn cung cấp mà chúng tôi chưa dùng đến để làm quà tặng. Sau khi gom góp mọi thứ, một du khách đề nghị và anh ta  đứng lên quyên góp tiền của mọi người để mua thêm quà cho những cư dân người Việt nam này. Trong phút chốc, chiếc mũ vải đã đón nhận nhiều loại ngoại tệ đến từ khắp nơi trên thế giới, từ tiền Việt,đô la Mỹ đến đồng Euro… từ tấm lòng của du khách Việt đến từ khắp nơi… Sau khi kiểm tra và tổng kết, một số tiền không nhỏ đã được lạc quyên, tất cả đều đồng ý dừng lại ở một  ngôi chợ ở Siem Reap để mua mì gói, một thứ súp đã nấu chín và sấy khô, chỉ cần bỏ vào một ít nước nóng là có ngay một bữa ăn nóng hổi; chúng tôi còn mua thêm một ít sữa cho trẻ em, bánh ngọt, một ít xà bông và số tiền còn lại dành để mua thêm aspirine, sách vở và bút mực.

Trong một thoáng, chúng tôi đã nghĩ và mua sắm mọi thứ.

Có người nhắc  là vài năm trước, một người Việt nam khi có việc qua nơi này, nhận thấy phần lớn trẻ em đều thất học, không mấy ai trong bọn chúng biết đọc hay biết viết tiếng Việt, ông đã quyết định  dừng chân, kêu gọi mọi người thu xếp nơi chốn và tình nguyện ở lại để mở lớp, nhằm dạy cho các trẻ  viết và đọc, kèm thêm một ít hiểu biết về quy luật vệ sinh. Nơi chốn chọn lựa để mở trường là một chiếc bè nổi trên mặt biển hồ.

Khi thấy chúng tôi đến từ một chiếc thuyền lớn, các học sinh nhao nhao nhưng vẫn ngồi trong lớp học và vẫy tay chào. Lúc chúng tôi bước lên   chiếc bè nổi, các em, tuy ồn ào, nhưng vẫn ngồi ngay ngắn sau bàn học. “ Bàn học”  là những mảnh gỗ đóng ghép sơ sài và tạm bợ. Nhiều, rất nhiều học sinh đủ mọi lứa tuổi ngồi chen chúc trong một ít mét vuông… Ông giáo nhìn chúng tôi cảm động và cảm ơn. Phần lớn các thứ đã mua, chúng tôi chia nhau đi phân phát cho các em để mang về nhà.

Với phần quà còn lại chúng tôi chia nhau phân phát cho các gia đình nghèo đang tụ tập đứng xung quanh. Họ nghèo đến nỗi không thể cho con em đến lớp. Chúng phải giúp ba mẹ làm các việc nhà hay phụ lực mưu sinh. Các gia đình ấy, được thông báo qua cửa miệng rằng có đoàn cứu trợ, đã tập trung đến và vây quanh chiếc thuyền của chúng tôi. Và đây, còn những đứa trẻ khác…những đôi mắt mất thần vì đói… một hình ảnh làm đau lòng khi chúng tôi nhìn thấy những em bé  áo quần rách nát, có nhiều  bé ở truồng…bởi vì  cha mẹ không mua nổi những tấm vải để chúng có thể che thân…

Tôi đứng nhìn xung quanh trường. Trên một chiếc bè gần bên có dấu  thập giá, đó là môt nhà thờ Tin Lành, họ đến đây để giúp đỡ và tìm kiếm con chiên. Xa xa, còn có một ngôi trường tươm tất hơn, đó là một  trường học mới cất, dành cho các trẻ lớn hơn và được chính phủ Úc tài trợ.

Dường như thông tin  về cộng đồng nghèo khổ này đang  được truyền đi và bắt đầu  có một sự chuyển mình… tôi hy vọng là họ có thể nhận được nhiều trợ cấp và giúp đỡ hơn trong tương lai.

 Tôi nhìn ra xa. Các ghe thuyền chính là  căn nhà lưu động của những người sinh sống nơi đây. Để che lấp sự  tuyềnh toàng của nơi  ăn chốn ở, các di dân thường đặt những chậu hoa  ở  be thuyền để trang trí và  đánh dấu nhà mình. Theo lời của hướng dẫn viên, để phân biệt đó là  nhà  của người Cam Bốt hay của người Việt, chỉ cần nhìn chậu hoa  trên đó, nếu đó là màu vàng của  hoa mai thì là nhà của người gốc Việt. Nhưng theo tôi, ngoài vấn đề trang trí, đó cũng chính là một sự giữ gìn bản sắc, dù rất mong manh, với quê hương nguồn cội mà họ đã phải lìa xa.

Khi chúng tôi rời Biển Hồ lòng chúng tôi vẫn còn giữ mãi một tình liên đới với các cư dân ở đây, nhất là cới các em bé ở trường.  Lòng tôi rất vui vì vừa làm một điều có ích, tuy rất nhỏ nhoi.

Rồi cuộc hành trình của chúng tôi tiếp tục.

 

Khi đến thủ đô Phnom Peng chúng tôi như không thể tin được mắt mình khi nhìn thấy một tượng đài thật đặc biệt nằm giữa một quảng trường.Tôi sẽ không thể tin nếu không phải chính mắt mình nhìn thấy, đó là một khẩu súng lục vĩ đại, có lẽ là chứng tích của thời kỳ Polpot, khi sự đàn áp chống những trí thức và hành vi diệt chủng, đã làm cho nhân dân Cam Bốt xấp  xỉ 8 triệu người trước đó, giờ chỉ còn hơn 4 triệu người sống sót.Và như cô hướng dẫn viên người Cam bốt cho biết, nhân dân Cam Bốt rất biết ơn Việt nam vì không những đã giúp cho đất nước họ thoát khỏi hoạ diệt chủng  mà lại còn giúp đỡ họ về kinh tế. Và thực vậy, ở một quãng trường khác, chúng tôi còn thấy có một tượng đài khác mà người Cam Bốt đã dựng lên để tưởng nhớ  công ơn của quân đội việt nam, và nhất là các phụ nữ, biểu tượng của lòng kiêu hãnh và sự kiên trì của dân tộc Việt.

Ở  Phnom Peng, cũng như các thành phố khác ở Á Châu, chính màu sắc là thứ  làm thu hút du khách. Trong đám đông,  hàng trăm sắc màu quần áo được chen lẫn với màu sắc của trái cây và thực phẩm. Nhưng  ở đất nước Chùa tháp màu sắc còn là biểu tượng và mang theo một ý nghĩa rất đặc biệt : sợi vải hồng của các cô gái còn muốn nói là các cô ấy chưa chồng, một thông điệp tế nhị mà cũng là một lời mời gọi đến các chàng độc thân… Ở Cam Bốt, các cô thường  mặc áo quần có  màu  tươi trẻ, thường là màu hồng hay xanh blu có pha sắc tím, hoặc tất cả những màu đó pha trộn với nhau bằng một phối hợp rất bắt mắt. Phnom Peng là một thành phố khá  nhộn nhịp, màu sắc và những tiếng rao hàng  thường tạo chú ý cho du khách, nhất là ở khu chợ trung tâm.

Buổi chiều,  đoàn chúng tôi đi thuyền trên sông Mekong  để  nhìn toàn cảnh thành phố, thuyền đi qua các toà nhà  cao, các khách sạn, các quán cà phê nằm dọc bờ sông…mà  cách kiến trúc và bài trí thường làm  ta nhớ lại thời thuộc Pháp.

Sáng hôm sau chúng tôi  khởi hành để quay về Việt Nam, điểm đến là thành phố Hồ Chí Minh. Hành trình khá dài, sau ba ngày liên tục đi bộ, nhưng chuyến về cũng không kém phần hào hứng. Giữa những truyện tiếu lâm, những tiếng hát, có khi lạc giọng, của hướng dẫn viên,  khách trong đoàn…tất cả chúng tôi như đều quên đi nhọc mệt  và cùng vui vẻ, cởi mở với nhau hơn sau khi đã cùng sống với nhau những phút giây đặc biệt. Làm sao chúng tôi có thể quên nụ cười thật hiền của cô hướng dẫn viên, cũng tên Hiền,  người Cam Bốt, khi chia tay ở biên giới, Việt-Miên ? Không thể !!

 Và còn có bao điều, vui, buồn mà chúng tôi đã cùng nhau chia sẻ !!!

Buổi tối, chúng tôi đến thành phố Sài Gòn. Tất cả mọi người đều có vẻ mệt mỏi và  khuôn mặt ai nấy cũng đều hơi ngái ngủ, nhưng thành phố dễ thương này đang chào đón chúng tôi bằng những ánh đèn màu. Lễ Giáng Sinh  sắp đến, đèn màu giăng mắc trên khắp các ngã đường và các quảng trường. Chúng tôi vô cùng kinh ngạc  trước những tác phẩm  của nghệ nhân ánh sáng của thành phố Sài Gòn. Đúng là những tài hoa bậc thầy. Bằng một trí tưởng tượng đặc biệt, họ đã tạo nên những bức tranh ánh sáng, khi là một chùm hoa, khi là  những hình vẽ đẹp mắt, hình những gói quà  Noel chớp sáng như những vì sao, giăng mắc trên những gốc cây hay treo lơ lửng trên các phố chính như Lê Lợi và Nguyễn Huệ. Thật tuyệt vời và cũng thật bất ngờ, nhưng trong tôi hình như còn đọng lại một sự tương phản quá lớn giữa những hotel sang trọng, sự phung phí điện năng ở Sài Gòn và những hình ảnh tiêu điều của một Ankor Wat, Ankor Thom  đang bị lãng quên, sắp chìm trong hoang phế.

Nhưng trong lúc đó, khi ánh đèn của các cao ốc Sài Gòn  cùng với sự điêu tàn của Chuà Tháp vừa biến mất trong mắt tôi, thì không hiểu vì sao, trí óc tôi bỗng quay về với ánh mắt của một cậu học trò nhỏ ở trên một chiếc thuyền  đậu cạnh ngôi trường nổi ở Biển Hồ. Đó là hình ảnh của một cậu bé đầy tự hào, e thẹn chìa bàn tay nhỏ bé để nhận lấy hộp bánh cho đứa em bé trần truồng mà cậu đang bế trên tay.Rồi, như vẫn còn đó những  khuôn mặt mỉm cười, đứng bên kia những sợi giây sắt che chắn quanh ngôi trường nổi đang vẫy tay chào. Chính những đôi mắt đó  ngay lúc này vẫn đang đồng hành cùng tôi và  làm tôi nhớ mãi chuyến đi được thực hiện bằng trái tim mình.

Cambogia, 19/12/2008

Elena Pucillo Trương

(Bản dịch của Trương Văn Dân)

(Bài đã đăng trên tạp chí MeKong- Torino, Italia)

Ankor Wat .

Đi, với trái tim

Elena Pucillo Trương

(Bản dịch của Trương Văn Dân)

 

 

 

Read Full Post »

Sài Gòn một ngày gần đây, nắng bỗng vàng hơn khi khắp đường phố xuất hiện những mẹt thị bày bán ngay bên vỉa hè; tập trung nhiều trên đường Điện Biên Phủ và thi thoảng đâu đó trên những con phố quen lại thấy người ta chở thị từng giỏ bằng xe honda đi bán dạo. Có mấy giọng đùa nghịch còn đuổi theo tíu tít: “Đừng chê em xấu em già/Em đi bán thị nhà nhà đều… hôn!”.

Mà nào rẻ đâu, có người bán 40K/ký nhưng cũng có vài mẹt thách giá tới 80K/ký. Dân Sài Gòn ngộ lắm, người háo hức thì mua cả ký về ăn, ăn rồi lập tức chê thị nhạt thị kém duyên, người điềm tĩnh hơn thì chỉ mua vài quả về để trong nhà hay để trên bàn làm việc.

“Thị rụng bị bà, bà hôn bà hít chứ bà không ăn”.

Cái quả của cô Tấm vốn là thế! Ngoài câu chuyện cổ tích quen thuộc kia, xung quanh thị còn có nhiều chuyện. Ở các vùng quê, những người nấu rượu gạo rất kị mùi thị, nếu để quả thị trong nhà thì cả mẻ rượu sẽ bị hỏng hết. Không ai có thể chỉ ra được bất cứ mối liên hệ nào liên quan giữa mùi thị và việc cất rượu; cũng như vài chuyện khác…

 

Hình ảnh Tấm bước ra – chui vào từ quả thị giúp đỡ bà lão nghèo khó luôn là chi tiết hấp dẫn nhiều người đến tận bây giờ.

Và, cái sự “chui vào” đó đã được giới nghệ sĩ … phát triển thành một hình ảnh mang tính kiêng kị: đi ký hợp đồng không được mang theo quả thị, đi diễn đi quay đi hát…tức là tất tần tật các thứ có dính dáng đến công việc.

Đạo diễn Xuân Phước bảo rằng, quả thị sẽ “hút” hết công sức và những gì mình đang làm vào trong đó và chỉ còn chừa lại những chuyện xui xẻo.

Đã cận rằm tháng 8 mà Sài Gòn lại mưa suốt. Giữa tuần, bắt đầu các sân khấu chộn rộn đi phát thiệp mời ăn… giỗ.

Giỗ tổ sân khấu, mà Sài Gòn bây giờ mọc ra nhiều sân khấu quá, rồi sân khấu làm ăn nên ra lại mở thêm chi nhánh: Nhà hát kịch TP.HCM, Idecaf, rồi 5B, Hoàng Thái Thanh, Phú Nhuận của Hồng Vân nè, Nụ cười mới đóng tên Hoài Linh, Nhà hát Trần Hữu Trang, rồi cả mấy đoàn hát bội nữa…

Giới sân khấu năm nay làm giỗ lớn, các sân khấu cũng tăng xuất, tăng điểm diễn đều đều. Tiệc tùng ì xèo suốt hai ngày 11, 12/08, người nào cũng phải chạy show …ăn. Nghe một danh hài buột miệng than: “Sao tui diễn không thấy mệt mà đi…ăn mệt quá trời!”, là vậy đó.

Coi bộ giới này đang được Tổ…đãi, mà muốn Tổ đãi hem có dễ đâu. Người nào cũng kiêng kỵ đủ thứ, rồi còn phải lo…o bế Tổ nữa.

 

Cúng heo

Sẽ thấy trên mâm cúng chung ở các sân khấu, nhiều nhất là heo quay. Con nào con nấy bóng nhẫy mỡ xếp hàng lớp lớp từ trong ra ngoài. Mang heo tới cúng tức là người đi trả lễ, đã từng khấn nguyện và được phù hộ gặt hái nhiều thành công trong suốt năm qua.

Người tài lộc ít thì cúng gà, cúng bánh bao, bánh chưng, bánh giò… tùy theo hầu, nhưng tuyệt đối không ai cúng vịt. Giới sân khấu xếp con vịt vào đội ngũ “cạp cạp” chỉ biết nói dối, bày chuyện đơm đặt và ưa đố kị đồng nghiệp.

Heo cúng phải kỹ lưỡng, không quấy quá được: bộ đồ lòng phải đầy đủ và xếp gọn gàng vào bên trong con heo để thể hiện… lòng thành của mình. Khi cúng xong, mang xuống chặt xẻ ra cũng phải đúng lễ nghĩa nha, người ta lật con heo quay lên và bắt đầu rạch bộ lòng ra trước, ý như kiểu con thật lòng phơi bày gan ruột vậy đóa.

Ngoài heo quay ra, thì trái cây rất nhiều nhưng có mấy thứ không được bỏ lên bàn thờ tổ nè: Quít được nhưng cam thì không – cam chịu, trái thơm nhiều mắc lại xù xì nhiều gai góc quá – khó, khổ: không luôn, Mãng cầu xiêm cũng thế, quả thị lại càng tối kị.

Nhưng ngược lại chuyện kiêng kị với quả thị trên kia, dân sân khấu không dám cúng quả thị vì sợ mùi thị thơm tho làm.. ông Tổ mất tập trung lờ lớ lơ luôn xấp nhỏ. Một thứ không thể thiếu trên bàn thờ tổ nữa là đường miếng, cúng đường thì Tổ mới đãi cho giọng hát… ngọt ngào…

Theo học giả Đinh Bằng Phi, có thể xem lễ giỗ tổ này xuất phát từ hát bội. Mà mấy trăm năm mở cõi vào Nam, khởi từ các chúa Nguyễn, ngành sân khấu với hát bội ban đầu và cải lương sau này, gần như là phương tiện giải trí độc tôn của cả vùng đất phía Nam, nên ngày lễ giỗ tổ và chuyện ông tổ sân khấu được người dân quan tâm khá nhiều.

Những từ ngữ như tổ trác, tổ đãi… của giới sân khấu đã trở thành từ cửa miệng để người dân chỉ sự may mắn hay xui rủi trong nghề nghiệp.

Tuy nhiên, cho đến nay chẳng ai biết ông tổ sân khấu là ai và lễ giỗ tổ xuất phát chính xác từ đâu. Chỉ biết rằng từ khi những nghệ sĩ lão thành NSND Thành Tôn, Năm Châu, Phùng Há… còn nhỏ xíu thì đã thấy có lễ giỗ tổ rồi. Các học giả như Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Đinh Bằng Phi… đã có nhiều nghiên cứu về ông tổ sân khấu và đưa ra nhiều yếu tố lịch sử, giai thoại, truyền thuyết… nhưng không chuyện nào giống chuyện nào.

Nhiều truyền thuyết cho rằng ông thợ may, thợ rèn, thợ mộc, bà bán quán, một đứa bé, cả thần bạch mi của giới bán phấn buôn hương… là tổ sân khấu. Song phổ biến nhất là câu chuyện: Tổ sân khấu là ba người gồm ông vua, ông ăn cướp và ông ăn mày. Truyền thuyết này ảnh hưởng mạnh đến mức cho tới tận nay, giới nghệ sĩ rất kiêng cho tiền người ăn xin.

Ông Tần Nguyên, ký giả kịch trường trước 1975, kể: Nghệ sĩ Thành Được lúc nào cũng bảnh bao, tay đeo nhẫn hột xoàn nhưng ông không bao giờ cho tiền người ăn xin, chỉ bảo họ muốn ăn uống gì thì kêu đi rồi ông trả tiền.

Theo nghệ sĩ Kim Cương, cha bà (chủ gánh hát bội Phước Cương) còn trai trẻ, đi hát bằng ghe, ở những vùng xa, ăn cướp đi thành bang bằng ghe lớn nhưng không bao giờ đánh cướp ghe hát. Ghe của cha bà mỗi khi gặp cướp chỉ cần đánh trống thùng thùng thật lớn, họ biết là ghe hát là yên chuyện.

Truyền kỳ về hai vị hoàng tử mê hát, bị vua cha đang truy tìm, trốn trong hậu trường gánh hát rồi chết cháy mà hiển linh thành tổ sân khấu cũng phổ biến nên bàn thờ tổ luôn được đặt trong hậu trường.

Hay truyền thuyết ông tổ sân khấu là một vị hoàng tử mê sân khấu, trốn vua cha vào trong bộng cây vông để theo gánh hát rồi chết trong bộng cây vông cũng được biết rộng rãi nên giới nghệ sĩ kỵ mang guốc vông và tượng tổ luôn làm bằng gỗ cây vông.

Về tượng tổ sân khấu, đây là hình một nam nhân đen thui, mặc áo đỏ, quấn khăn đỏ. Ông Tần Nguyên nói thêm, tượng thường do người trong các đoàn hát làm.

Nghệ sĩ Kim Cương nói bà chẳng biết ai làm: “Hồi tôi còn nhỏ đã thấy mỗi đoàn hát có vài tượng tổ gọi là cốt ông. Các đoàn chỉ thờ số tượng lẻ chứ không thờ chẵn.”

“Khi trưởng thành, làm chủ đoàn hát, tôi thấy hễ ai lập gánh thì đến Hội Ái hữu nghệ sĩ ở đường Cô Bắc, Sài Gòn (có từ năm 1948) thỉnh tượng tổ về thờ. Việc lập gánh, rã gánh trước 1975 rất dễ dàng, bầu nào bị rã gánh thì lại gửi cốt ông vào hội”.

Nhấp chuột để xem album ảnh ngày giỗ Tổ sân khấu

Giỗ tổ sân khấu, nói chuyện kiêng kỵ của nghệ sĩ

Nguồn yahoo blog cogaidolong

Read Full Post »

Tắm Thổ với các cô gái mặc bikini như vậy không phải kiểu truyền thống đâu. Muốn biết tắm Thổ truyền thống như thế nào phải lên Istanbul.” Ilknuk, người dẫn đoàn du lịch giải thích lại một lần nữa.
Hóa ra, chúng tôi vẫn chưa biết thực sự thế nào là tắm Thổ. Càng tò mò, rà lại Lonely Planet, chúng tôi ghi ra tên Nhà tắm Thổ truyền thống nổi tiếng nhất Istanbul và quyết tâm đi tắm một lần nữa.

Cemberlitas Hamami
Vezirhan Cad. No: 8 – 34120
Quá tình cờ, Nhà tắm Thổ Cemberlitas ở ngay khu phố cổ trung tâm Istanbul, đường Divanyolu, đối diện Cây cột Vòng Constantine nổi tiếng. Vào năm 1584, kiến trúc sư hoàng gia Sinan đã xây nhà tắm này dưới sự ủy nhiệm của Nurbanu Sultan, vợ của Hoàng đế Selim II. Nhà tắm này đối diện với Nhà thờ Hồi giáo Mehmed Pasa và ngay sát Lăng Hoàng đế Mahmud II.
Xếp hàng chờ mua vé vào nhà tắm Thổ
“Nhà tắm lại ngay sát Nhà thờ?” Có cái gì bất thường ở đây khi người ta sắp đặt một công trình thánh thiêng bên cạnh một nhu cầu “trần tục” của con người là tắm rửa. Hay đó là sự lập dị chỉ có ở Cemberlitas? Bạn đã nhầm, các nhà tắm Thổ (Hamam) trong văn hóa Ottoman thường được coi như một thành tố kiến trúc phụ trợ nhưng quan trọng trong Nhà thờ Hồi giáo. Theo thời gian, chúng nhanh chóng trở thành những công trình độc lập và hơn thế nữa, thành những kiến trúc hoành tráng. Cemberlitas là một trong số đó.
Chúng tôi tách đoàn và nhảy vào nhà tắm Thổ Cemberlitas vào quãng cuối giờ chiều. Nhà tắm đông như hội, biển ngoài chỉ rõ: nhà tắm mở cửa từ 6h sáng cho tới nửa đêm. Hamam này như các loại hình Nhà tắm khác từ La Mã không chỉ dành cho đàn ông. Quần thể Cemberlitas bao gồm những khu riêng cho nam và nữ.
“Nam nữ không tắm lẫn lỗn nhưng người tắm cho chúng tôi là nam hay nữ?” Anh bạn tôi hỏi đùa cô bán vé.
“Nam tắm cho nam và nữ tắm cho nữ.”
Hết chuyện, lần này không còn cô Nga nào tắm cho chúng tôi nữa. Dẫu sao thì chúng tôi cũng trả 59 Lira Thổ Nhĩ Kỳ, tương đương 40 đôla Mỹ để bước vào trong cánh cửa của nhà tắm Thổ. Một không gian hai tầng bằng gỗ được xây như kiểu Tứ Hợp Viện Trung Quốc, 4 mặt đều là ban công và các phòng thay đồ, ở giữa là sảnh lớn lớn nhộn nhịp người qua kẻ lại…
Một người đàn ông chờ chúng tôi ở ngay sảnh để phát khăn tắm và một hộp nhỏ chứa găng tay. Anh này dẫn chúng tôi lên một phòng ở tầng 2 để thay đồ.
Bảng giá của nhà tắm Thổ Cemberlitas xây từ năm 1584.
“Khi bước chân vào khu nhà tắm này, bạn được chào đón bằng một không gian hoài cổ, nơi thời gian như trôi ngược về quá khứ….” Tôi đọc nhanh mấy dòng chữ trên tờ rơi giới thiệu về Nhà tắm. Cuối cùng, cái cảm giác trôi về quá khứ Ottoman ấy cũng đến khi chúng tôi được dẫn vào phòng tắm nóng.
Tương tự như nhà tắm kiểu La Mã, một Hamam truyền thống có 3 phòng chính liên thông nhau, caldarium (phòng nóng), tepidarium (phòng ấm) và frigidarium (phòng lạnh).
Phòng nóng là trung tâm của Nhà tắm Thổ và chỉ khi bước vào đây với một chiếc khăn duy nhất quấn trên người, chúng tôi mới được trải nghiệm thật sự thế nào là tắm Thổ. Tắm Thổ Nhĩ Kỳ hay còn gọi là Hamam là một biến thể của tắm hơi, xông hơi và tắm kiểu Nga, nhưng chú trọng nhiều hơn tới sử dụng nước để phân biệt với tắm hơi truyền thống.
Kiến trúc của Phòng nóng mang đặc trưng Hồi giáo Ottoman và được giữ nguyên như 5 thế kỷ trước. Một căn phòng rộng, hình tròn với mái vòm như mọi nhà thờ Hồi giáo ở Istanbul. Điểm khác biệt chỉ là, người ta đục hàng trăm lỗ nhỏ trên mái để tạo ra hàng trăm tia sáng tự nhiên chiếu xuống phòng tắm. Giữa ánh sáng mờ ảo như thế, hàng chục người đàn ông nằm la liệt trên một tảng đá cẩm thạch lớn được đặt giữa phòng. Một số ngồi cạnh các bệ nước nhỏ gắn chặt vào hốc tường xung quanh căn phòng.
Một ông già Thổ người gày đét như La Hán chỉ cho chúng tôi một chỗ trên phiến đá tròn cẩm thạch khổng lồ ấy. Chúng tôi nằm xuống phiến đá, gối đầu lên một chiếc bát sắt và cảm nhận sức nóng rát khắp toàn thân. Phiến đá nóng này nhằm mục đích giúp cơ thể bạn được thư giãn, mở hết các lỗ chân lông và toát mồ hôi một cách tự nhiên. Chúng tôi thả lỏng cơ thể để cảm nhận hết sức nóng, nhìn lên những tia sáng đục chiếu qua đỉnh mái vòm. Hàng trăm năm trước, những hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ cũng từng được tắm như thế và bây giờ với 40 đôla Mỹ, chúng tôi đã có được cảm giác như họ.
20 phút thư giãn trôi qua và ông già người Thổ đến dựng chúng tôi dạy để bắt đầu màn tắm. Kỳ cọ bằng găng tay nhám, massage toàn thân, giội nước nóng ùm ụp và thổi xà phòng khắp người, lần này cũng khác bao nhiêu so với kiểu tắm cùng các cô gái Nga. Chỉ có điều, khác với bàn tay mềm mại lần trước, bàn tay của các ông già Thổ như gọng kìm miết khắp cơ thể chúng tôi.
Quang cảnh phòng chờ vào nhà tắm Thổ Cemberlitas
Đau quá, tôi kêu oai oái và mấy lần yêu cầu nhẹ tay. Có lúc, tôi tưởng bị chuột rút khi bàn tay cứng như sắt của ông già ấn vào hai bắp chân. Những người xung quanh lại có vẻ rất khoan khoái với màn tẩm quất như “tra tấn” này. Tắm Thổ truyền thông là như thế, một sự kết hợp kỳ lạ giữa xông xơi, tẩm quất và tắm thông thường, ngay giữa những di sản của đế chế một thời oanh liệt.
Không thấu hiểu hết những di sản lịch sử ấy thì việc tắm Thổ mất đi nhiều ý nghĩa. Từng dụng cụ tắm đang được sử dụng đều mang dấu ấn của lịch sử từ thời La Mã, loại khăn chúng tôi cuốn quanh cơ thể là peştemal làm bằng lụa hoặc cotton, nalın một loại guốc gỗ để tránh bị trơn trượt trong phòng tắm, keselà chiếc găng tay nhám để kỳ cọ cơ thể.
Trong giai đoạn thịnh trị của đế chế Ottoman ở Thổ Nhĩ Kỳ, thông thường, nhân viên tắm Thổ thường là những thanh niên trẻ có đủ sức khoẻ giúp khách hàng massage và kỳ cọ cơ thể. Những thanh niên này thường không phải người Hồi giáo, có thể là Do Thái, Hy Lạp, La Mã hay Armenia. Sau khi đế chế Ottoman sụp đổ vào đầu thế kỷ 20, những người đứng tuổi như ông già La Hán tắm cho chúng tôi mới thay thế thanh niên trong vai trò ấy.
Màn xông hơi, kỳ cọ, massage toàn thân ở phòng nóng dừng lại, chúng tôi được đưa ra phòng ấm để tắm tráng với xà phòng và nước. Tráng gội xong những tưởng đã đến lúc kết thúc, người hướng dẫn lại đẩy chúng tôi vào phòng nóng để nằm lên phiến đá một lần nữa. Lần toát mồ hôi thứ hai giải phóng nốt toàn bộ những mệt mỏi cuối cùng ra khỏi cơ thể.
Tắm tráng một lần nữa, chúng tôi được đưa trở ra phòng lạnh để thư giãn. Sảnh gỗ bốn mặt nơi chúng tôi bước vào đầu tiên chính là phòng lạnh theo quan niệm truyền thống Thổ Nhĩ Kỳ. Một cốc cam tươi lạnh hoàn toàn nguyên chất cho chúng tôi cảm giác sảng khoái trọn vẹn. Xung quanh, những khách tắm vẫn tấp nập đi lại như trảy hội.
Chúng tôi bước ra khỏi nhà tắm Thổ truyền thống với một tinh thần thoải mái và tươi trẻ hơn nhiều so với trước khi bước vào. Tắm Thổ có giá trị nhiều hơn việc làm sạch cơ thể, đó còn là biện pháp thư giãn và tập thể dục. Chưa hết, trong lịch sử huy hoàng của đế chế Thổ Nhĩ Kỳ, nhà tắm Thổ không chỉ là nơi tắm rửa mà còn được coi như một trung tâm xã hội. Đó là nơi gặp gỡ bạn bè, vui chơi giải trí (nhảy múa, ăn uống, đặc biệt trong khu phụ nữ), lễ hội (như trước đám cưới, lễ tết, thôi nôi). Vì thế, mô hình này nở rộ khắp Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn đế chế Ottoman thịnh trị.
Nơi nào trên thế giới con người chẳng tắm rửa, chỉ có ở Thổ Nhĩ Kỳ, những giá trị nội tại và giá trị gia tăng của hoạt động này mới được nâng lên thành một thứ văn hóa, một di sản văn hóa đích thực. Di sản ấy đã mang lại doanh thu rất lớn cho du lịch Thổ Nhĩ Kỳ mỗi năm.
Khách du lịch may mắn khi được tắm theo nghĩa đen giữa những di sản của đế chế Thổ Nhĩ Kỳ. Người Thổ Nhĩ Kỳ còn may mắn hơn, họ được hưởng lợi nhờ “tắm” giữa những di sản văn hóa giàu có cha ông để lại, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »