Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Tin tức đó đây’ Category

Năm 1953, cậu thanh niên Trần Thanh Vân 16 tuổi rời quê hương Quảng Bình đi Pháp du học. Trong kỳ thi vấn đáp năm 1957, cậu đã gặp giáo sư Maurice Lévy, một trong những cha đẻ của vật lý nguyên tử Pháp và Thanh Vân quyết định theo ngành vật lý. Để giờ đây, giáo sư Trần Thanh Vân được xem là một bậc thầy trong lĩnh vực lý thuyết vật lý nguyên tử.

Giáo sư Trần Thanh Vân- Minh họa: Hoàng Tường
Giáo sư Trần Thanh Vân- Minh họa: Hoàng Tường

Ở tuổi thất thập, ông vẫn dồn hết tâm huyết cho những dự án mang tên “Việt Nam”. Ông nói: “Khoa học và quê hương là lẽ sống của tôi!”

Nói đến GS.TS Trần Thanh Vân là nói đến những ngôi làng SOS tại Việt Nam mà ông cùng vợ là GS.TS Lê Kim Ngọc và nhiều kiều bào ở Pháp kiên trì góp sức dựng xây…

Những năm đầu 1970, chiến tranh Việt Nam rất ác liệt, từ làng quê đến thành phố trong cả nước, trẻ mồ côi gia tăng từng ngày… Tại Pháp, để có thể làm được việc gì đó có ích cho quê nhà mà không bị coi là “làm chính trị”, chúng tôi đã thành lập hội Giúp đỡ trẻ em Việt Nam. Trong xa xôi, cách trở, nhờ sự đồng tình, ủng hộ của nhiều kiều bào và sinh viên ta bên đó, dự định thành lập làng SOS cho trẻ em tại Việt Nam đầu tiên tại Lâm Đồng đã có kết quả. Sau này, cũng với cách thức đó, chúng tôi tiếp tục có thêm một số làng SOS khác tại Việt Nam…

Đến nay nhiều người còn nhắc mãi câu chuyện hai vợ chồng giáo sư phải dầm chân trong tuyết lạnh để bán từng tờ thiệp mừng Noel ngày đó…

Khi ý định đã rõ ràng, kế hoạch đã thống nhất, việc cần thiết là phải tìm ra tiền. Mà lại không muốn có tiền bằng cách xin xỏ. Phải khẳng định với người Pháp và thế giới rằng, người Việt Nam có thể giúp người Việt Nam bằng chính sức lực, tiền bạc của mình. Chúng tôi rất kiên quyết trong chuyện này, không quản ngại khó khăn. Sau khi nhờ các anh em sinh viên trẻ giúp in thiệp Noel, mọi người, trong đó có vợ chồng tôi, đến các nhà thờ, chờ người đi lễ ra để bán thiệp cho họ…

Có lần nhắc tới tuổi thơ, giáo sư nói rằng do đã từng nghèo khó, nên “rất hiểu về sự nghèo khó của người khác”…

Tôi mồ côi cha mẹ từ sớm, nhờ anh chị em ruột làm nghề bán tạp hoá, chắt chiu vất vả nuôi ăn học. Dù vậy, tôi còn may mắn có anh chị em, trong khi nhiều đứa trẻ khác sống vất vưởng, thiếu thốn đủ thứ vì không có người thân… Những ấn tượng đó rất khó phai mờ.

Du học, ông nổi tiếng vì thành tích học tập: đứng đầu môn toán trong kỳ thi tú tài tại Pháp, đỗ cử nhân đại học Sorbonne năm 22 tuổi, đỗ tiến sĩ quốc gia – học vị tiến sĩ cao nhất – năm 27 tuổi… Tự học có phải là nguyên tắc số một của ông thời trẻ?

Tôi thường nghĩ, mình phải tự học, tự trau dồi kiến thức, luôn luôn sẵn sàng tất cả, để khi có cơ hội thì không để nó tuột khỏi tay mình!

Tiền bạc chỉ cần vừa phải, đủ để sống và để làm những việc mình muốn, chết đâu có mang theo được.

Điều gì đã khiến ông thuyết phục được GS.TS Odon Vallet dành 1/10 quỹ học bổng của mình để giúp các sinh viên giỏi Việt Nam?

Vấn đề là mình hãy bắt đầu từ những việc nhỏ. Từ đó sẽ có sự tin cậy.

Dành cả cuộc đời làm khoa học, sao giáo sư không chọn cách an hưởng tuổi già mà lại chọn con đường vất vả là làm cầu nối cho các nhà khoa học trên thế giới, đặc biệt là các nhà khoa học Việt Nam?

Do tích luỹ được chút kinh nghiệm sau 45 năm tổ chức các hội nghị khoa học quốc tế, có sẵn mạng lưới các nhà khoa học quốc tế, nên tôi nghĩ mình chưa thể dừng lại nghỉ ngơi lúc này… Thâm tâm tôi luôn muốn được đóng góp lâu dài, hiệu quả nhất cho quê hương.

Tên ông đã trở thành một bảo chứng cho thành công của nhiều hội nghị khoa học quốc tế, điều gì giúp ông có được sự tín nhiệm đó?

Ban đầu, khi tổ chức hội nghị ở châu Âu, tôi muốn giữa các đại biểu tham dự sẽ tạo được sự liên lạc mật thiết, do đó, rất chú ý đến sự có mặt của các nghiên cứu sinh trẻ. Làm sao để thế hệ tương lai có điều kiện gặp gỡ, trò chuyện với các nhà khoa học đi trước một cách thoải mái và hiệu quả nhất khi mà ở các hội nghị lớn, các vị giáo sư tên tuổi thường bị vây kín bởi những người hâm mộ, anh em trẻ rất khó tiếp cận. Nếu bố trí họ ở chung khách sạn và dùng cơm chung, thậm chí đi trượt tuyết cùng nhau… sẽ tăng được tối đa thời gian tiếp xúc giữa các thế hệ. Cách đó tuy bị một số chỉ trích là “như quân ngũ” nhưng người ủng hộ lại cho đó là “sự chuẩn bị điều kiện hợp tác trong tương lai” rất cần thiết trong nghiên cứu khoa học… Về sau, nhiều hội nghị khác của châu Âu, Mỹ cũng làm theo cách này.

Tới đây, tôi muốn Việt Nam tổ chức được những hội nghị tầm cỡ như vậy với điều kiện có một trung tâm Khoa học và giáo dục quốc tế mà chúng tôi dự kiến khởi công tháng 12 tới tại Quy Nhơn. Trong tương lai, đó là một điểm sáng trong khu vực, với các đối tác lớn là các trung tâm nghiên cứu vật lý hàng đầu thế giới, từ đó sớm có đóng góp cho nền khoa học nước nhà, nâng cao vị thế và hình ảnh đất nước Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế…

Với việc triển khai một dự án lớn, hẳn giáo sư có điều kiện để “biết” nhiều hơn về phong cách làm việc trong nước?

Tôi rất cảm động vì sự nhiệt tình của anh em ở Quy Nhơn. Trước tôi có nghe nói ở Việt Nam đưa ra một dự án phải mất khoảng mười năm để được phê duyệt vì mắc mớ nhiều thủ tục, giấy tờ; nhưng dự án của tôi mới trình… ba năm đã được duyệt (ở Pháp ba năm là dài nhưng ở Việt Nam thế là rất nhanh!) Hiện đã có thiết kế sơ bộ do KTS Milou giúp (tác giả công trình viện Bảo tàng quốc gia Singapore nổi tiếng). Mong sao hai năm nữa nơi đây có thể tổ chức được các hội nghị khoa học quốc tế quan trọng…

Giáo sư sẽ làm gì để có tiền xây trung tâm Khoa học và giáo dục quốc tế với quy mô lớn như thế?

Rất mừng là thời gian đi qua, dần dần tôi cũng đã thuyết phục được nhiều nhà khoa học trên thế giới, các viện nghiên cứu… ủng hộ việc triển khai dự án. Lúc đầu, quả thật chỉ định xây đơn giản, nhưng sau khi gặp KTS Milou trở về, chúng tôi thấy rằng “có cơ hội thì phải nắm lấy”, nên đã quyết định đầu tư toàn bộ số tiền 2 triệu USD mồ hôi nước mắt tích luỹ được từ việc tổ chức các hội nghị khoa học quốc tế hơn 40 năm qua vào thực hiện dự án. Nhưng 2 triệu đô đó chỉ vừa đủ để hoàn thiện giai đoạn một bao gồm nhà hội nghị và khu vực xung quanh, vẫn rất cần sự tham gia của các nhà đầu tư khác trong và ngoài nước…

Nghiên cứu khoa học hay làm nhà tổ chức, nhà giáo dục, với giáo sư trước sau vẫn chỉ là một con đường?

Nếu những 70 thế kỷ trước, tôi muốn thế giới biết đến Việt Nam qua những làng SOS do chính người Việt Nam chung tay dựng lên; những năm 90 tôi muốn các nhà khoa học trên thế giới tham gia các hội nghị khoa học mang tên Gặp gỡ Việt Nam để biết về Việt Nam nhiều hơn, thì với việc xây dựng trung tâm khoa học Quy Nhơn, đó là cơ hội quý báu để quảng bá một hình ảnh thực sự tốt đẹp về Việt Nam hôm nay.

Làm khoa học thì phải hết sức nghiêm túc. Nghiêm túc để tránh được mọi sai sót, lỗ hổng. Nghiêm túc để có kết quả đúng. Và còn một điều nữa mà hai chúng tôi đều tự rút ra: hãy làm nhiều, nói ít.

Trên mọi nẻo đường cuộc sống, khoa học, hoạt động xã hội, bên cạnh ông luôn có sự tham gia của GS.TS Lê Kim Ngọc. Ông bà đã cùng “nhìn về một hướng” như thế nào?

Chúng tôi đều là những thanh niên Việt Nam nghèo, sang Pháp với hai bàn tay trắng, không cha mẹ họ hàng. Khi kết hôn, chúng tôi đã định hướng con đường tương lai cho cả hai, là nghiên cứu khoa học. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng tôi sống như mọi người, không có gì khác, hầu như không bao giờ băn khoăn, đặt vấn đề tốt, xấu. Đó là một cuộc sống đơn sơ, không có gì phức tạp, ngoài khoa học thì chăm lo nuôi dạy con cái. Hai con gái của chúng tôi đều học hành tử tế, có sự nghiệp riêng (nhưng không làm khoa học vì thấy cha mẹ vất vả và ít thì giờ cho bản thân và gia đình quá). Đó là gia tài, là nguồn vui lớn nhất của vợ chồng tôi.

Làm khoa học, quan điểm khác nhau là chuyện bình thường. Với vợ chồng giáo sư?

Giáo sư Trần Thanh Vân và vợ, giáo sư Lê Kim Ngọc
Giáo sư Trần Thanh Vân và vợ, giáo sư Lê Kim Ngọc

Quan trọng là mỗi người đều có lĩnh vực riêng của mình. Tôi đi sâu về lý thuyết vật lý nguyên tử, còn Ngọc thiên về khoa học thực nghiệm trong sinh học. Năm 1970, Ngọc có một khám phá mới về lát mỏng tế bào, được giới khoa học đánh giá cao và rất có giá trị ứng dụng. Chúng tôi đều thấy làm khoa học thì phải hết sức nghiêm túc. Nghiêm túc để tránh được mọi sai sót, lỗ hổng. Nghiêm túc để có kết quả đúng. Và còn một điều nữa mà hai chúng tôi đều tự rút ra: hãy làm nhiều, nói ít.

Khi quyết định dành thời gian nghỉ hưu cho các dự án ở Việt Nam, giáo sư đã có được sự đồng thuận trong ngôi nhà của mình ra sao?

Mười năm nay, chúng tôi về hưu, 100% thời gian và sức lực mà chúng tôi có, đều dành cho các công việc liên quan đến Việt Nam. Chuyện gì làm được thì cả hai đều gắng làm. Như khi thấy trẻ em bất hạnh, nhớ mình hồi nhỏ (Ngọc cũng mồ côi mẹ từ năm hai tuổi, lớn lên là nhờ các anh chị nuôi), tôi và Ngọc đều tự nguyện đi bán thiệp, ở Pháp và ở Mỹ…

Có lúc nào, giáo sư chạnh lòng vì thời trẻ đã lãng mạn dành hết thời gian cho nghiên cứu mà quên mất mục tiêu… kiếm tiền?

Không. Trên thực tế, tôi cũng đã có nhiều cơ hội để kiếm tiền, để làm giàu, nhưng đã không chọn. Ví dụ, có thời điểm Chính phủ cho vay tiền, có thể mua những biệt thự cổ thế kỷ 15 – 16, sửa sang lại bán hoặc cho thuê rất được giá, và có người làm cách đó mà tậu được 10 – 15 ngôi nhà… Vợ chồng tôi đều biết nhưng không làm, vì thấy việc khác hợp với mình hơn. Tiền bạc chỉ cần vừa phải, đủ để sống và để làm những việc mình muốn, chết đâu có mang theo được.

Ngôi nhà hiện vợ chồng giáo sư đang ở – tài sản đáng giá nhất của hai nhà khoa học, nơi 40 năm trước đặt máy in thiệp Noel, bây giờ vẫn là nơi hướng về nguồn cội?

Đó là một ngôi nhà bình thường, có tầng trệt một nửa là hầm thấp dưới đất. Khi hội Giúp đỡ trẻ em Việt Nam thành lập, đây chính là địa chỉ hội họp, in thiệp đem đi các nơi bán… Ngôi nhà đó rất đặc biệt, vì không có nó, khó thực hiện được các việc từ thiện suốt bao năm qua. Đặc biệt hơn nữa, vì nó gắn với một sự kiện lịch sử của dân tộc Việt Nam: hội nghị Paris năm 1972. Thời kỳ đó, vợ chồng tôi vừa qua Mỹ làm việc về, lập hội Giúp đỡ trẻ em Việt Nam bên đó để xúc tiến xây làng SOS đầu tiên. Một sáng ngủ dậy, thấy trước cửa rất nhiều cảnh sát Pháp. Thì ra nhà hàng xóm là của đảng Cộng sản Pháp cho mượn để tổ chức cuộc gặp gỡ giữa ông Lê Đức Thọ và ông Kissinger. Quả là một sự tình cờ đầy duyên nợ đối với hai người Việt Nam đang xa quê như chúng tôi!

Một sự tình cờ khác, là cuộc gặp với “giáo sư cộng sản” Nguyễn Văn Hiệu, tiếp đó là một tình bạn đặc biệt, một giai đoạn mới trong cuộc đời ông?

Năm 1963, khi tôi vừa làm xong luận án tiến sĩ ở Paris, anh Hiệu cũng vừa xong tiến sĩ ở Moskva. Tại một hội nghị ở Ý, chúng tôi gặp nhau. Ngoài sự quý trọng về mặt khoa học, là một tình bạn thân thiết đến bây giờ… Thời kỳ đầu sau đổi mới, tôi có về Việt Nam, anh Hiệu nhờ tôi giúp tổ chức một hội nghị quốc tế vì biết tôi quan hệ rộng rãi với nhiều nhà khoa học trên thế giới, tôi đã từ chối bởi lúc đó, việc đi lại rất phức tạp. Từ Sài Gòn lên Đà Lạt, hay đi bất cứ một địa phương nào khác, đều phải có giấy phép. Khi tình hình được cải thiện, tôi nói với anh Hiệu có thể tổ chức được, và tháng 12.1993, Gặp gỡ Việt Nam lần thứ nhất được tổ chức. Lúc đó Mỹ còn cấm vận Việt Nam, một giáo sư Mỹ đoạt giải Nobel đến dự hội nghị, rất cảm kích vì sự đón tiếp trân trọng, cởi mở của phía chủ nhà, đã nói “sẽ viết thư đề nghị Tổng thống Bill Clinton bỏ cấm vận!”

Có trong tay 300 công trình khảo luận và là tác giả của 115 đầu sách đã xuất bản, là giáo sư đại học Paris, được Nhà nước Pháp tặng huân chương Bắc đẩu bội tinh, được viện Hàn lâm khoa học Nga bầu là viện sĩ… còn ước mơ nào giáo sư chưa thực hiện được?

“Ngôi nhà” Quy Nhơn mở cửa đón các nhà khoa học! Có lẽ đó chính là giấc mơ cuối cùng của đời tôi…

GS Mikhai Danilov, viện trưởng viện Vật lý lý thuyết và thực nghiệm Moskva – Nga:“Các nhà vật lý Nga rất quý trọng GS Trần Thanh Vân. Trần Thanh Vân là bạn thân tình của hầu hết các nhà vật lý nổi tiếng, cũng như các nhà vật lý trẻ trên thế giới. Tất cả chúng ta đều hãnh diện về ông. Mọi người Việt Nam đều có quyền tự hào về ông. Ông là một gương mặt lớn…”GS Trịnh Xuân Thuận, nhà vật lý thiên văn – Hoa Kỳ:“Trong giới khoa học quốc tế, GS.TS Trần Thanh Vân là người có sức hấp dẫn lớn, có tài tổ chức. Ngay ở châu Âu, cũng khó tìm được người khéo tổ chức các cuộc gặp gỡ vật lý đầy hứng thú như anh ấy, khó tìm được người thay thế anh”.

Kim Hoa (Theo Sài Gòn Tiếp Thị)

Read Full Post »

 Ngày 04/09 vừa rồi kỷ niệm 90 năm thành lập trường TH Cường Đễ, tôi có mặt ở Quy Nhơn nhưng không dự được vì bận lễ kỷ niệm 20 năm thành lập trường THPT Trần Cao Vân, vì tôi từng công tác ở đây. Trong Kỷ Yếu 20 năm thành lập trường có một bài viết đọc nghe chác chác. Tôi muốn mời anh em xem qua để thấy loại hình trường ngoài công lập của xứ Nẫu ta ra đời như thế nào.

KỶ NIỆM MỞ TRƯỜNG PT BÁN CÔNG QUY NHƠN

(Tựa trong Kỷ Yếu là “Kỳ Tích 20 Năm”, nhưng theo tác giả đó là tựa do biên tập đặt, không đúng ý tác giả – phieuthachba)

Trưa thứ 7, 20 tháng 5 năm 1991, sau buổi lễ bế giảng năm học thứ 2 của trường PT DL cấp 2, 3 Tuy Phước, tôi tiễn thầy Nguyễn Hữu Phiên, P. giám đốc Sở Giáo Dục Bình Định, ra về. Trên đường ra cổng, Thầy Phiên hỏi tôi:

–            Nếu Sở gọi anh về Quy Nhơn mở trường bán công thì anh về không?

Hơi bất ngờ nên tôi ngần ngừ:

–            Cho em suy nghĩ đã Thầy, còn ngôi trường này, phải giải quyết như thế nào?

Chúng tôi hẹn nhau sẽ trả lời chính thức vào đầu tháng sau.

* * *

Tối chủ nhật, vầng trăng trễ 17 vừa lên là lúc tôi và Phan Thanh đã sang tuần rượu thứ 5. Đã đến lúc, rượu vừa đủ ấm lòng và mềm suy nghĩ, tôi nói:

–            Thầy Phiên mời mình về mở trường Bán Công, Thanh cùng đi nhé

–            Thế trường trên này thì sao?

–            Mình sẽ đi với điều kiện được làm việc ở 2 nơi. Được không?

–            Có ai nữa không?

–     Ở Quy Nhơn mình không quen nhiều. Nhìn quanh ta, có lẽ anh Ba là tốt nhất: GV dạy giỏi, có uy tín và quen biết nhiều.

–     Được, cứ làm một cái gì mới đi. Em theo anh.

*

Cuối buổi chiều hè oi bức, đường vào thung lũng Phú Tài vẫn còn hơi nóng bốc lên như hun vào mặt, nhưng hình như tôi và Phan Thanh không thấy khó chịu. Phan Thanh có lẽ còn đang tâm trạng háo hức, còn tôi đang sắp xếp lý lẽ trình bày với anh Ba. Khá là khó vì anh Ba đang là cánh tay phải của Hiệu Trưởng, và là đối tượng cơ cấu, của trường PTTH Quy Nhơn 3. Nhưng tôi tin vào độ thuyết phục của ý đồ về xây dựng mô hình mới của mình.

Dĩ nhiên là phải có rượu. Ba anh em ba hoa trên trời dưới đất mấy ly. Phan Thanh có vẻ nóng ruột nhưng tôi phớt lờ, tôi đang chọn thời điểm. Và khi không khí đã giãn ra, tôi mới vào đề. Quả khó thật. Anh Ba tỏ vẻ ngạc nhiên:

–      Sao lại mời tôi. Tôi đang làm việc ổn định gần nhà thế này, xuống Quy Nhơn làm gì.

Tôi không có khả năng thuyết phục người khác, nhưng khả năng diễn đạt cũng không đến nỗi tồi. Sự ngỡ ngàng của anh Ba mất dần, niềm tin và sự háo hức về những ý đồ giáo dục trong mô hình mới được khơi dậy. Tôi càng trình bày, anh ấy càng đồng tình. Khi thấy anh đã có thiên hướng đồng lòng, tôi ra đòn quyết định:

–      Không có anh thì tôi không thể mời các giáo viên danh tiếng về cộng tác, như thế thì không thể thực hiện được ý đồ gầy dựng mô hình mới trọn vẹn được. Nên không có anh chắc tôi không mở.

–     Ông gây khó cho tôi quá. Thôi, mai trả lời. Mời.

Tôi nâng ly thầm nghĩ: Mai mốt gì nữa, ông nội ơi!

Tiệc hôm đó cực vui.

*

Không có câu trả lời nào vào ngày mai cả.

Chiều Quy Nhơn, ba chúng tôi gặp 4 anh em giáo viên: Nguyễn Ngọc Minh, Hà Ngọc Giao, Nguyễn Ngọc Tiến, Hồ Ngọc Hải.

Một người nào đó đùa: Có Bao Công, Công Tôn Sách, Triển Chiêu; lại có cả Vương Triều, Mã Hán, Trương Long, Triệu Hổ thì đợi gì nữa mà không làm.

*

Sau đó là các cuộc trao đổi với lãnh đạo Sở Giáo Dục:

Lần 1, với Thầy Nguyễn Hữu Phiên: Hai bên đồng ý sẽ tiến hành mở trường. Việc “làm việc ở hai nơi” “chắc không có gì lớn”.

Lần 2, với ông Huỳnh Đăng Khanh, Giám Đốc: Nội dung như lần 1. Sở sẽ lo Cơ sở vật chất: Trường và trang thiết bị.

Lần 3, họp chính thức với Ban Giám Đốc: Trường có tên tạm: Trường PT Bán Công cấp 2, 3 Quy Nhơn. Việc “làm việc ở hai nơi” không được nhắc đến. Cơ sở có thể là trường BTVH (nay là Trường Nguyễn Thái Học) hoặc trường cán bộ quản lý (cơ sở hiện tại của trường). Cuối buổi, không biết vô tình hay theo kế hoạch, ông Mai Ái Trực, P. Chủ Tịch tỉnh đến. Ông Trực động viên tôi và hứa sẽ sẵn sàng hỗ trợ để kịp khai giảng năm học.

Lần 4, với Thầy Nguyễn Hữu Phiên: Sẽ thu xếp để sử dụng trường cán bộ quản lý. Sở cấp 2 ram giấy để in tờ rơi.

Lần 5, với Thầy Nguyễn Hữu Phiên: Lãnh đạo không đồng ý “làm việc 2 nơi”

Lần 6, với ông Huỳnh Đăng Khanh: Nhập với trường BTVH. Buổi làm việc không vui vẻ lắm. Lời lẽ hai bên thiếu thiện cảm. Tôi gằn giọng: Đã sắp tuyển sinh. Thầy phải quyết định nhanh chóng và có quan điểm, cứ rề rà thế này làm sao kịp khai giảng năm học? Hệ PT Bán công làm sao học chung cơ sở với hệ bổ túc được?

Lần 7, với Thầy Nguyễn Hữu Phiên: Mượn sảnh trường cán bộ quản lý để chiêu sinh.

Lần . . ., lần . . ., lần . . . làm việc với ông Đặng Hùng, trưởng phòng tổ chức về đội ngũ giáo viên. Kết quả: Không có ai. (Năm đầu tiên, nhà trường có hai biên chế là thầy Thái Trí Dũng và cô Phan Ly Giang, nhưng hai người này tự xin về gần ngày khai giảng).

Lần . . ., lần . . ., lần . . ., với Thầy Nguyễn Hữu Phiên: Mượn hai dãy phòng học của trường PTTH Trưng Vương, được tự tìm thuê cơ sở tạm thêm (sau đó chúng tôi thuê một dãy tầng 1 của trường Đảng tỉnh)

16 giờ chiều thứ 5 ngày 19 tháng 9 năm 1991, tôi đến P. Tổ Chức SGD gặp ông Đặng Hùng (hú hồn):

–     Ngày mai trường khai giảng, tôi đã báo cáo và gửi giấy mời lên Sở cách đây một tuần.

–            Tôi biết.

–             Nhưng nhà trường chưa có lãnh đạo chính thức.

Ông Hùng rút ra một tờ Quyết Định khống:

–            Ông họ gì nhỉ?

–            Võ Thanh.

–            Bậc lương bao nhiêu?

Tôi đọc tờ Quyết định thấy chức danh P. Hiệu Trưởng, tôi hỏi:

–            Ai là Hiệu Trưởng vậy?

–            Không có. Ông là P. Hiệu Trưởng phụ trách, lo toàn bộ công việc của trường.

–            Nghĩa là tôi có quyền của một Hiệu Trưởng?

–            Đúng vậy.

–            Sao không ghi chức danh Q. Hiệu Trưởng?

Ông Hùng vỗ vai tôi:

–            Thì có khác gì đâu? Ai vô đâu mà lo.

–            !!!?

*

Diễn biến này vừa gây khó vừa làm nguội lạnh nhiệt tình của anh em mở trường. May thay, còn có xã hội, còn có anh em giáo viên trong ngành. Mọi người đón nhận thông tin về ngôi trường mới của một loại hình mới rất nhiệt tình và đầy hy vọng. Hình như một không khí mới, một làn gió mới vừa đến với ngành Giáo Dục Trung Học ở thành phố Quy Nhơn. Chúng tôi đến từng nhà các giáo viên danh tiếng của thành phố để mời dạy, ai ai cũng ủng hộ nhiệt tình, sẵn sàng tham gia. Có thể nói tất cả các giáo viên danh tiếng thời bấy giờ đều tham gia thỉnh giảng tại trường:

Văn: Trương Tham, Nguyễn văn Ba, Đỗ Em, Nguyễn Đình Thọ, Tăng Thị Vân, Cao Minh Châu . . .

Toán: Huỳnh văn Lắm, Trần Như Mật, Hoàng Công Thạnh, Đặng Dư, Mai Thành Đông . . .

Lý: Thầy Vương Quốc Tấn, Nguyễn Tự Phú, Bùi Thế Phụng, Mai Anh Dũng . . .

Hóa: Lê Đức Ái, Nguyễn Đình Vinh, Cô Nguyễn Tịnh Tâm . . .

Sinh: Nguyễn Quá, Tôn nữ Diệu Thường, Cô Hoan, Cô Nhung . . .

Tiếng Anh: Thầy Phạm Xuân Ẩn . . .

Tính cả giáo viên “cơ hữu !!!” năm đó nhà trường có 84 giáo viên.

*

Thứ 6, ngày 20 tháng 9 năm 1991 lễ khai giảng được tổ chức trang trọng tại hội trường trường Đảng tỉnh Bình Định. Học sinh ngồi đầy hội trường như những khán giả lịch thiệp. Sự tham dự của đại diện tỉnh ủy; Chủ Tịch và P. Chủ Tịch tỉnh; Giám Đốc và các phòng ban Sở Giáo Dục; đại diện BGH các trường bạn; đông đủ giáo viên thỉnh giảng, là những Thầy Cô hàng đầu thành phố, đã làm buổi lễ hoành tráng như cần có của một ngôi trường đi đầu trong việc xây dựng loại hình mới của giáo dục tỉnh nhà.

Tiếc thay . . . Trong diễn văn khai giảng, sau hồi trống khai trường tôi phải phát biểu: “Từ nay, 758 tâm hồn non dại của học sinh cùng gần 100 giáo viên, nhân viên nhà trường mong chờ sự quan tâm của các cấp lãnh đạo hữu quan”

Tiếc thay . . . MC Nguyễn Văn Ba, khi tóm tắt quá trình hình thành và hiện trạng của nhà trường, đã không giấu được nét phiền trách lãnh đạo cấp trên. Tôi chưa từng thấy lời giới thiệu lễ khai giảng nào sâu sắc, mạnh mẽ và man mác buồn như thế. Càng tiếc hơn là . . . anh Ba chỉ chịu đựng đến hôm ấy, bỏ hết mọi tâm huyết và công lao đã dành cho trường, về “ổn định gần nhà” ở Quy Nhơn 3. Mấy lời này xem như là sự ghi nhận những đóng góp của anh cho buổi đầu thành lập trường.

*

Sau lễ khai giảng là tọa đàm. Ý định ban đầu của nhà trường là Ban Giám Hiệu (gồm 01 P. HT phụ trách) đàm thoại với giáo viên, đặc biệt là giáo viên thỉnh giảng, về quan điểm và phương pháp làm việc của trường. Nhưng lãnh đạo tỉnh đề nghị được tham dự, do đó buổi tọa đàm chuyển đề tài thành tọa đàm về xây dựng và phát triển trường. Dù vậy, câu hỏi “trường của chúng (học sinh) đâu?” vẫn chưa có lời giải đáp.

*

Thời gian. Thời gian có khi tàn phá nhưng cũng có khi làm nên nhiều kỳ tích.

Một năm khốn khó rồi cũng trôi qua trong nỗ lực của những người yêu nghề, yêu học trò; những tốt đẹp, dù chậm chạp, rồi cũng đến. Lãnh đạo Sở đã nỗ lực thu xếp được một cơ sở tươm tất, có vị trí thuận lợi cho trường – chính là cơ sở đã tồn tại và phát triển 19 năm qua. Những bất đồng rồi cũng được san lấp. Trường, Sở chung tay xây dựng nhà trường. Một hội đồng giáo viên đúng chuẩn được đưa về.

Sự trưởng thành của nhà trường được khẳng định ngay trong năm học này với 3 dấu ấn nổi bật: Giải Nhất Hội Khỏe Phù Đỗng; hoạt động chyên môn được thanh tra Sở đánh giá là tốt, nhiều sáng tạo và sự hoạt động ổn định của một mô hình trường mới. Năm học khép lại bằng chuyến du lịch Đầm Ô Loan của Hội Đồng Giáo Viên với nhiều kỷ niệm êm đềm.

Năm học sau, một loạt trường Bán Công được mở ra ở tỉnh nhà. Đó cũng là một khẳng định nữa cho sự thành công của nhà trường. Cũng trong năm học đó,  thêm một P. Hiệu Trưởng về trường –  Anh Đặng Công Thuận, một P. Hiệu Trưởng hiền hòa, chăm chỉ – làm cho nhà trường thêm vững chải từ cấu trúc đến nề nếp hoạt động. Hội đồng giáo viên cũng được hoàn thiện trong năm học này: Nhiều giáo viên được tuyển thêm vào biên chế.

*

Đầu năm học 1994 – 1995, để hoàn chỉnh cơ cấu nhà trường, Sở bổ nhiệm Hiệu Trưởng – Anh Lê Đình Tạo, một lãnh đạo tài năng, ngoại giao giỏi và có uy tín trong ngành.

Cơ cấu đã vững chắc.

Hoạt động đã ổn định.

Đó là lúc tôi tạm biệt nhà trường. Buổi chia tay có vài giọt lệ và một bài thơ – của anh Tạo tặng tôi -. Bàn tay Chủ Tịch Công Đoàn Viền đưa từng vật dụng của tôi lên xe mãi mãi là một bàn tay đẹp.

*

Mười bảy năm trôi qua, tôi không ngừng theo dõi từng bước trưởng thành của trường và

mười bảy năm . . . nơi xa xôi đã có nụ cười.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 02 tháng 07 năm 2011

Ths. VÕ THANH VÂN

Read Full Post »

Tắm Thổ với các cô gái mặc bikini như vậy không phải kiểu truyền thống đâu. Muốn biết tắm Thổ truyền thống như thế nào phải lên Istanbul.” Ilknuk, người dẫn đoàn du lịch giải thích lại một lần nữa.
Hóa ra, chúng tôi vẫn chưa biết thực sự thế nào là tắm Thổ. Càng tò mò, rà lại Lonely Planet, chúng tôi ghi ra tên Nhà tắm Thổ truyền thống nổi tiếng nhất Istanbul và quyết tâm đi tắm một lần nữa.

Cemberlitas Hamami
Vezirhan Cad. No: 8 – 34120
Quá tình cờ, Nhà tắm Thổ Cemberlitas ở ngay khu phố cổ trung tâm Istanbul, đường Divanyolu, đối diện Cây cột Vòng Constantine nổi tiếng. Vào năm 1584, kiến trúc sư hoàng gia Sinan đã xây nhà tắm này dưới sự ủy nhiệm của Nurbanu Sultan, vợ của Hoàng đế Selim II. Nhà tắm này đối diện với Nhà thờ Hồi giáo Mehmed Pasa và ngay sát Lăng Hoàng đế Mahmud II.
Xếp hàng chờ mua vé vào nhà tắm Thổ
“Nhà tắm lại ngay sát Nhà thờ?” Có cái gì bất thường ở đây khi người ta sắp đặt một công trình thánh thiêng bên cạnh một nhu cầu “trần tục” của con người là tắm rửa. Hay đó là sự lập dị chỉ có ở Cemberlitas? Bạn đã nhầm, các nhà tắm Thổ (Hamam) trong văn hóa Ottoman thường được coi như một thành tố kiến trúc phụ trợ nhưng quan trọng trong Nhà thờ Hồi giáo. Theo thời gian, chúng nhanh chóng trở thành những công trình độc lập và hơn thế nữa, thành những kiến trúc hoành tráng. Cemberlitas là một trong số đó.
Chúng tôi tách đoàn và nhảy vào nhà tắm Thổ Cemberlitas vào quãng cuối giờ chiều. Nhà tắm đông như hội, biển ngoài chỉ rõ: nhà tắm mở cửa từ 6h sáng cho tới nửa đêm. Hamam này như các loại hình Nhà tắm khác từ La Mã không chỉ dành cho đàn ông. Quần thể Cemberlitas bao gồm những khu riêng cho nam và nữ.
“Nam nữ không tắm lẫn lỗn nhưng người tắm cho chúng tôi là nam hay nữ?” Anh bạn tôi hỏi đùa cô bán vé.
“Nam tắm cho nam và nữ tắm cho nữ.”
Hết chuyện, lần này không còn cô Nga nào tắm cho chúng tôi nữa. Dẫu sao thì chúng tôi cũng trả 59 Lira Thổ Nhĩ Kỳ, tương đương 40 đôla Mỹ để bước vào trong cánh cửa của nhà tắm Thổ. Một không gian hai tầng bằng gỗ được xây như kiểu Tứ Hợp Viện Trung Quốc, 4 mặt đều là ban công và các phòng thay đồ, ở giữa là sảnh lớn lớn nhộn nhịp người qua kẻ lại…
Một người đàn ông chờ chúng tôi ở ngay sảnh để phát khăn tắm và một hộp nhỏ chứa găng tay. Anh này dẫn chúng tôi lên một phòng ở tầng 2 để thay đồ.
Bảng giá của nhà tắm Thổ Cemberlitas xây từ năm 1584.
“Khi bước chân vào khu nhà tắm này, bạn được chào đón bằng một không gian hoài cổ, nơi thời gian như trôi ngược về quá khứ….” Tôi đọc nhanh mấy dòng chữ trên tờ rơi giới thiệu về Nhà tắm. Cuối cùng, cái cảm giác trôi về quá khứ Ottoman ấy cũng đến khi chúng tôi được dẫn vào phòng tắm nóng.
Tương tự như nhà tắm kiểu La Mã, một Hamam truyền thống có 3 phòng chính liên thông nhau, caldarium (phòng nóng), tepidarium (phòng ấm) và frigidarium (phòng lạnh).
Phòng nóng là trung tâm của Nhà tắm Thổ và chỉ khi bước vào đây với một chiếc khăn duy nhất quấn trên người, chúng tôi mới được trải nghiệm thật sự thế nào là tắm Thổ. Tắm Thổ Nhĩ Kỳ hay còn gọi là Hamam là một biến thể của tắm hơi, xông hơi và tắm kiểu Nga, nhưng chú trọng nhiều hơn tới sử dụng nước để phân biệt với tắm hơi truyền thống.
Kiến trúc của Phòng nóng mang đặc trưng Hồi giáo Ottoman và được giữ nguyên như 5 thế kỷ trước. Một căn phòng rộng, hình tròn với mái vòm như mọi nhà thờ Hồi giáo ở Istanbul. Điểm khác biệt chỉ là, người ta đục hàng trăm lỗ nhỏ trên mái để tạo ra hàng trăm tia sáng tự nhiên chiếu xuống phòng tắm. Giữa ánh sáng mờ ảo như thế, hàng chục người đàn ông nằm la liệt trên một tảng đá cẩm thạch lớn được đặt giữa phòng. Một số ngồi cạnh các bệ nước nhỏ gắn chặt vào hốc tường xung quanh căn phòng.
Một ông già Thổ người gày đét như La Hán chỉ cho chúng tôi một chỗ trên phiến đá tròn cẩm thạch khổng lồ ấy. Chúng tôi nằm xuống phiến đá, gối đầu lên một chiếc bát sắt và cảm nhận sức nóng rát khắp toàn thân. Phiến đá nóng này nhằm mục đích giúp cơ thể bạn được thư giãn, mở hết các lỗ chân lông và toát mồ hôi một cách tự nhiên. Chúng tôi thả lỏng cơ thể để cảm nhận hết sức nóng, nhìn lên những tia sáng đục chiếu qua đỉnh mái vòm. Hàng trăm năm trước, những hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ cũng từng được tắm như thế và bây giờ với 40 đôla Mỹ, chúng tôi đã có được cảm giác như họ.
20 phút thư giãn trôi qua và ông già người Thổ đến dựng chúng tôi dạy để bắt đầu màn tắm. Kỳ cọ bằng găng tay nhám, massage toàn thân, giội nước nóng ùm ụp và thổi xà phòng khắp người, lần này cũng khác bao nhiêu so với kiểu tắm cùng các cô gái Nga. Chỉ có điều, khác với bàn tay mềm mại lần trước, bàn tay của các ông già Thổ như gọng kìm miết khắp cơ thể chúng tôi.
Quang cảnh phòng chờ vào nhà tắm Thổ Cemberlitas
Đau quá, tôi kêu oai oái và mấy lần yêu cầu nhẹ tay. Có lúc, tôi tưởng bị chuột rút khi bàn tay cứng như sắt của ông già ấn vào hai bắp chân. Những người xung quanh lại có vẻ rất khoan khoái với màn tẩm quất như “tra tấn” này. Tắm Thổ truyền thông là như thế, một sự kết hợp kỳ lạ giữa xông xơi, tẩm quất và tắm thông thường, ngay giữa những di sản của đế chế một thời oanh liệt.
Không thấu hiểu hết những di sản lịch sử ấy thì việc tắm Thổ mất đi nhiều ý nghĩa. Từng dụng cụ tắm đang được sử dụng đều mang dấu ấn của lịch sử từ thời La Mã, loại khăn chúng tôi cuốn quanh cơ thể là peştemal làm bằng lụa hoặc cotton, nalın một loại guốc gỗ để tránh bị trơn trượt trong phòng tắm, keselà chiếc găng tay nhám để kỳ cọ cơ thể.
Trong giai đoạn thịnh trị của đế chế Ottoman ở Thổ Nhĩ Kỳ, thông thường, nhân viên tắm Thổ thường là những thanh niên trẻ có đủ sức khoẻ giúp khách hàng massage và kỳ cọ cơ thể. Những thanh niên này thường không phải người Hồi giáo, có thể là Do Thái, Hy Lạp, La Mã hay Armenia. Sau khi đế chế Ottoman sụp đổ vào đầu thế kỷ 20, những người đứng tuổi như ông già La Hán tắm cho chúng tôi mới thay thế thanh niên trong vai trò ấy.
Màn xông hơi, kỳ cọ, massage toàn thân ở phòng nóng dừng lại, chúng tôi được đưa ra phòng ấm để tắm tráng với xà phòng và nước. Tráng gội xong những tưởng đã đến lúc kết thúc, người hướng dẫn lại đẩy chúng tôi vào phòng nóng để nằm lên phiến đá một lần nữa. Lần toát mồ hôi thứ hai giải phóng nốt toàn bộ những mệt mỏi cuối cùng ra khỏi cơ thể.
Tắm tráng một lần nữa, chúng tôi được đưa trở ra phòng lạnh để thư giãn. Sảnh gỗ bốn mặt nơi chúng tôi bước vào đầu tiên chính là phòng lạnh theo quan niệm truyền thống Thổ Nhĩ Kỳ. Một cốc cam tươi lạnh hoàn toàn nguyên chất cho chúng tôi cảm giác sảng khoái trọn vẹn. Xung quanh, những khách tắm vẫn tấp nập đi lại như trảy hội.
Chúng tôi bước ra khỏi nhà tắm Thổ truyền thống với một tinh thần thoải mái và tươi trẻ hơn nhiều so với trước khi bước vào. Tắm Thổ có giá trị nhiều hơn việc làm sạch cơ thể, đó còn là biện pháp thư giãn và tập thể dục. Chưa hết, trong lịch sử huy hoàng của đế chế Thổ Nhĩ Kỳ, nhà tắm Thổ không chỉ là nơi tắm rửa mà còn được coi như một trung tâm xã hội. Đó là nơi gặp gỡ bạn bè, vui chơi giải trí (nhảy múa, ăn uống, đặc biệt trong khu phụ nữ), lễ hội (như trước đám cưới, lễ tết, thôi nôi). Vì thế, mô hình này nở rộ khắp Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn đế chế Ottoman thịnh trị.
Nơi nào trên thế giới con người chẳng tắm rửa, chỉ có ở Thổ Nhĩ Kỳ, những giá trị nội tại và giá trị gia tăng của hoạt động này mới được nâng lên thành một thứ văn hóa, một di sản văn hóa đích thực. Di sản ấy đã mang lại doanh thu rất lớn cho du lịch Thổ Nhĩ Kỳ mỗi năm.
Khách du lịch may mắn khi được tắm theo nghĩa đen giữa những di sản của đế chế Thổ Nhĩ Kỳ. Người Thổ Nhĩ Kỳ còn may mắn hơn, họ được hưởng lợi nhờ “tắm” giữa những di sản văn hóa giàu có cha ông để lại, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Read Full Post »

Phía sau vụ tấn công khủng bố gây hậu quả tồi tệ nhất trong lịch sử nước Mỹ là những sự thật mà không phải ai cũng được biết.

Một người đàn ông đứng giữa đống đổ nát sau sự sụp đổ của tòa tháp đôi WTC. Ảnh: AFP
Một người đàn ông đứng giữa đống đổ nát sau sự sụp đổ của tòa tháp đôi WTC. Ảnh: AFP

1. Có tới 3.051 trẻ em bị mất cha hoặc mẹ sau vụ 11/9. Bên cạnh đó, có 17 em bé đang nằm trong bụng mẹ khi những người cha của chúng thiệt mạng trong các vụ tấn công. Khoảng 9 tháng sau vụ khủng bố, số ca sinh ở thành phố New York tăng tới 20% so với cùng thời điểm điều tra vào năm 2000.

2. Tổng giá trị của các tác phẩm nghệ thuật bị mất đi sau khi hai tòa tháp Trung tâm Thương mại Thế giới (WTC) sụp đổ đã vượt quá 100 triệu USD. Trong số này có cả những bức tranh của danh họa Pablo Picasso.

3. Người ta ca ngợi những chú cảnh khuyển tham gia tìm kiếm người còn sống sau thảm họa mà quên mất một chú chó phi thường khác. Đó là Roselle, một chú chó săn dòng Labrador chuyên làm nhiệm vụ dẫn đường cho người chủ bị mù là Michael Hingson. Roselle đã đưa Hingson đi thang bộ từ tầng 78 của Tháp Bắc WTC xuống đường và tới nhà một người bạn một cách an toàn.

4. Các công nhân đã phải thu dọn khoảng một triệu tấn vật liệu vụn nát để tìm kiếm những người còn mắc kẹt và tư trang của những nạn nhâu xấu số. Họ đã tìm thấy khoảng 65.000 vật dụng, trong đó có 437 đồng hồ và 144 nhẫn cưới.

5. Ba giờ trước khi các vụ tấn công xảy ra, một chiếc máy có tên gọi Máy phát sinh Sự kiện Ngẫu nhiên đặt tại trường đại học Princeton đã tiên đoán được một sự kiện khủng khiếp sắp xảy ra.

6. Trong một cuộc tập trận mang tên “Người bảo vệ cẩn mật”, Trung tâm Chỉ huy Phòng vệ Vũ trụ Bắc Mỹ (NORAD), đơn vị chịu trách nhiệm bảo vệ không phận Mỹ, đã giả định ít nhất 4 vụ cướp máy bay trong tuần trước khi xảy ra vụ 11/9, và thậm chí còn dự định tiến hành một cuộc giả định nữa vào buổi sáng mà nước Mỹ bị tấn công.

7. Có tới 5 trong số 19 không tặc tham gia vụ tấn công 11/9 đã nghỉ lại tại một khách sạn ngay gần cổng dẫn vào Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ (NSA), trong những ngày trước khi tiến hành cướp 4 máy bay chở khách.

8. John Patrick O’Neill, một đặc vụ từng lãnh đạo Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) và tham gia điều tra về liên hệ của Al-Qaeda trong vụ đánh bom WTC năm 1993, đã rời FBI vì những bất đồng về chính sách. O’Neill đảm nhận công việc mới trong vai trò người phụ trách an ninh tại WTC, và mất trong ngày định mệnh 11/9.

9. Chỉ có 291 thi thể được tìm thấy nguyên vẹn tại hiện trường đổ nát của hai tòa tháp WTC. Cha mẹ của Lisa Anne Frost, 22 tuổi và là một hành khách trên chuyến bay số hiệu 175 của hãng United Airlines lao vào Tháp Nam, đã phải chờ gần một năm mới được nhận lại những gì thuộc về con gái họ.

10. Lính cứu hỏa mất tới 100 ngày mới có thể dập tắt hoàn toàn các đám cháy bị gây ra bởi các vụ tấn công nhằm vào hai tòa tháp WTC.

Nhật Nam (Theo Telegraph)

 

Read Full Post »

Nói đến du lịch biển miền Trung, du khách thường nhắc đến Đà Nẵng, Nha Trang, Ninh Thuận, Bình Thuận… mà bỏ quên những bãi biển đẹp và hoang sơ đến mức được ví như “nàng tiên còn say ngủ” của Quảng Ngãi.

Biển Dung Quất

Nhắc đến Dung Quất, du khách thường nhớ đến cảng và nhà máy lọc dầu Dung Quất mà quên rằng nơi đây còn sở hữu vụng Nho Na với làn nước trong xanh uốn mình bên những đụn cát trắng phau.
Ngoài việc tắm biển, đến đây, bạn còn có dịp thưởng thức những món ngon chế biến từ dông (nhông) – loại bò sát sống trên vùng đất cát có thịt thơm ngon, hay thưởng thức món bánh tráng nướng nhúng nước cuốn rau và những con mực tươi rói, chén nước mắm cay đậm.

Đừng quên dạo một vòng quanh cảng Dung Quất, chiêm ngưỡng những chiếc tàu “khổng lồ”, hay ngắm thành phố trẻ Vạn Tường đang phát triển.

Biển Sa Huỳnh

Tên chính xác của địa danh này là Sa Hoàng (cát vàng) nhưng do trùng với tên của vua Nguyễn Hoàng thời Nguyễn Sơ nên đọc trại thành Sa Huỳnh. Nằm trên trục đường tiên lý Bắc Nam, sở hữu ga xe lửa Sa Huỳnh, bãi biển này là địa điểm dừng chân lý tưởng cho du khách khắp các miền
Nét quyến rũ của biển Sa Huỳnh là bờ cát vàng, mềm mịn như một áng tóc dài của người con gái. Trên biển, những đảo nhỏ nhiều hình dạng nổi bật trên làn nước tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình. Nằm cách bờ vài km, ẩn dưới làn nước sâu khỏng 2-3m là rặng san hô nhấp nhô theo sóng và đàn cá nhiền màu sắc lượn lờ.

Đến Sa Huỳnh, ngoài tắm biển, bạn có thể ghé thăm các thắng cảnh khác như ghềnh đá Châu Me, Đảo Khỉ, khu di chỉ “Văn hóa Sa Huỳnh”, hoặc quan sát sự tất bật của các diêm sinh trên đồng muối rộng hơn 500ha với trữ lượng hàng ngàn tấn mỗi năm. Đặc sản nổi tiếng của nơi đây là mắm nhum và cua Huỳnh Đế, một giống cua to con, toàn thân có màu đỏ gạch, thịt nhiều và chắc.

Biển Mỹ Khê

Bãi biển Mỹ Khê nằm trên quốc lộ 24B cách thị xã Quảng Ngãi 15 km, cách cảng Dung Quất 16 km và gần cảng Sa Kỳ, thuộc địa phận thôn Cổ Luỹ, xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi.
Biển Mỹ Khê gây ấn tượng mạnh với khách du lịch bằng vẻ yên tĩnh, thanh bình của một bờ biển trong xanh được che chắn bởi rừng dương xanh thẳm và cung biển uốn lưỡi liềm. Ngoài nghỉ ngơi, tắm biển, bạn còn có dịp thăm quan tưởng niệm khu chứng tích chiến tranh Sơn Mỹ.

Biển Khe Hai

Biển Khe Hai hay còn gọi là biển Thiên Đàng thuộc xã Bình Thạnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, cách TP. HCM 875km.
Khe Hai có bãi cát trắng mịn, rặng phi lao ngút ngàn song hành với bờ biển xanh. Phía tây có dãy bàn Than chạy dài từ bờ rồi lấn sâu ra biển tạo thành một nửa vòng cung. Phía đông có hòn núi nhô lên gọi là Hòn Ông. Với hai địa danh này, du khách có thể lên thuyền đến Hòn Trà, Hòn Ông khám phá những hang động kỳ thú, hoặc men theo bãi đá ngầm bắt ốc đụn, khảy hàu.

Ngoài tắm biển, bạn còn được “no mắt” với bộ sưu tập 10.000 cổ vật của khu bảo tàng tư nhân nằm ven bãi biển Khe Hai – Chu Lai.

Biển trên đảo Lý Sơn

Với những bãi cát trắng dài, hàng dừa xanh ngát, làn nước trong vắt in bóng những viên cội nhiều hình dáng dưới dáy, bãi tiên thuộc đảo Bé của Lý Sơn mang vẻ đẹp của nàng tiên đang say ngủ.
Ngoài những bãi biển tuyệt đẹp, đảo Lý Sơn còn ghi dấu với du khách với hình ảnh chùa Hang 300 tuổi, chùa Đục nằm dưới chân miệng núi lửa, tượng Phật cao 27m nhìn ra đảo Bé, và cả những kiến trúc cổ độc đáo ở đền thờ Lăng Chánh, đình An Hải, đền thờ Cá Ông, dinh Tam Hòa…

Theo BĐVN

Read Full Post »

Ngày 5/9/2011, tại Viện Vật lý (Viện KH&CN Việt Nam), GS.TS Trần Thanh Vân đã có buổi nói chuyện với một số nhà khoa học về việc xây dựng Trung tâm gặp gỡ Quốc tế khoa học và giáo dục tại bờ biển thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

Cách trung tâm thành phố Quy Nhơn khoảng 5km về phía Nam, Trung tâm gặp gỡ Quốc tế khoa học và giáo dục có tổng diện tích khoảng 20ha.Trong đó, khoảng 2000m2 để xây dựng khu hội nghị bao gồm 1 hội trường 350 chỗ ngồi, 1 phòng hội thảo 120 chỗ, 2 phòng làm việc nhóm từ 30-50 chỗ và nhiều phòng làm việc cá nhân; khoảng 30.000-50.000m2 để xây dựng 1 khách sạn 4 sao với 100 phòng cùng bể bơi, tiệm cà-phê, quầy bar, khu liên hợp thể thao, nhà thiên văn, trường kỹ sư…

Quy hoạch tổng thể TT gặp gỡ quốc tế khoa học và giáo dục

GS.TS Trần Thanh Vân cho biết, tiêu chí của trung tâm là các chuyên gia, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đến với trung tâm sẽ vừa có chỗ làm việc hiệu quả, vừa có chỗ yên tĩnh để nghỉ ngơi, thư giãn. Ở đây sẽ không có những dịch vụ thương mại ngoài hoạt động chất xám.

Hiện trung tâm đang được triển khai xây dựng. Dự kiến, khu hội nghị sẽ hoàn thành và bắt đầu hoạt động từ năm 2012 và chậm nhất đến năm 2015 sẽ hoàn thành tất cả các hạng mục công trình còn lại khác. Mỗi năm sẽ có từ 70-150 hội nghị, hội thảo trong nước và từ 5-8 hội nghị quốc tế lớn được tổ chức tại trung tâm.

Phát biểu tại buổi nói chuyện, GS.TSKH Nguyễn Ái Việt, Chủ tịch Hội Vật lý lý thuyết cho rằng, sự ra đời của Trung tâm gặp gỡ khoa học và giáo dục chính là chiếc cầu nối cho các nhà khoa học Việt Nam có dịp giao lưu, học tập kinh nghiệm từ các nhà khoa học hàng đầu thế giới thông qua các cuộc tiếp xúc, hội nghị, hội thảo quốc tế được tổ chức tại trung tâm này.

GS-TS Trần Thanh Vân tên đầy đủ là Jean Trần Thanh Vân, 77 tuổi, giáo sư – tiến sĩ Vật lý nguyên tử người Pháp gốc Việt. Ông là Nghiên cứu viên Cao cấp Danh dự Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học Pháp. Ông đã có trên 300 công trình nghiên cứu và gần 120 đầu sách. Ông được nhà nước Pháp tặng Huân chương Quốc gia công trạng Pháp năm 1993 và Huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh năm 1999.
GS Trần Thanh Vân còn được biết đến bởi những sáng kiến tập nhằm hợp các nhà khoa học Vật lý hàng đầu thế giới, trong đó có cả những người đạt giải thưởng Nobel như hội nghị Rencontres de Moriond (1966), hội nghị Rencontres de Blois (1989) và đặc biệt là sự ra đời của tổ chức khoa học Gặp gỡ Việt Nam Rencontres du Viet Nam từ năm 1993 đến nay…

Tin, ảnh: Minh Cường

Read Full Post »

Thế giới Hồi giáo chứa đựng trong nó những kho báu lớn nhất của nhân loại. Dưới đây là 5 điểm đến bạn nên chiêm ngưỡng ở thế giới Hồi giáo

1. Đền Taj Mahal, Ấn Độ

Được xây dựng từ năm 1632 và kéo dài trong suốt 22 năm để vua Shah Jahan tưởng nhớ hoàng hậu đẹp và yêu quý của ông đã từ trần, Taj Mahal được xem như biểu tượng của Ấn Độ và biểu tượng của tình yêu. Mỗi ngày có tới hàng nghìn du khách từ các nơi trên thế giới đến thăm ngôi đền bằng đá cẩm thạch trắng được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới này. Đền thiêng Taj Mahal chính là di sản của lối kiến trúc Ấn – Hồi, vừa uy nghiêm, lộng lẫy mà vẫn rất tinh tế, nhẹ nhàng.

2. Thung lũng Hunza – Pakistan

Thung lũng Hunza nằm ở trong rặng núi Karakorum hết sức hiểm trở và tách biệt với thế giới bên ngoài. Tuy nhiên đây thực sự là một thung lũng thần tiên với cảnh đẹp hùng vĩ của núi non. Nằm trên con đường cao tốc Karakorum, con đường chiến lược dài tới 1300km từ Islamabad đến Kashgar với hai bên đường là bạt ngàn hoa dâu tây và hoa mơ, những ruộng bậc thang thẳng hàng và những cây cầu treo đẹp tuyệt vời. Vùng đất trái tim của phía bắc này là một linh hồn bí ẩn của Pakistan

3. Bukhara – Uzbekistan

Bukhara là thành phố cổ nhất Uzbekistan với trên 2500 năm tuổi. Nằm trên con đường tơ lụa, Bukhara là một trung tâm thương mại nổi tiếng từ thời trung cổ. Chính vì thế, thành phố cổ này được xây dựng tường thành bao bọc, có cổng thành rất vững chắc và nhiều lăng mộ muôn màu muôn vẻ. Được coi là thành phố linh thiêng nhất của trung tâm Châu Á, Bukhara tự hào với một nền kiến trúc kéo dài hàng nghìn năm lịch sử của mình.

4. Hồ Dal – Kashmir

Hồ Dal nằm ở thủ phủ mùa hè của Kashmir là Srinagar, được mệnh danh như “viên kim cương trên vương miện của Kashmir” hay “viên ngọc quý của Srinagar” là một trong những nơi có khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, thu hút rất nhiều khách du lịch trên thế giới ghé thăm hàng năm. Bốn bề là dãy Himalaya sừng sững, hồ Dal – biểu tượng du lịch của Kashmir độc đáo với những khu vườn nổi xinh đẹp. Những khu vườn này được gọi là “Rad” ở Kashmir và chúng được bao phủ bởi hoa sen trong mùa hè, đem đến màu sắc tươi thắm cho toàn bộ khu vực hồ.

5. Granada– thành phố của điệu Flamengo

Granada là một thành phố năng động, trẻ trung, giầu văn hóa và lịch sử ở phía Nam Tây Ban Nha. Mang trong mình một lịch sử lâu đời và hào hùng, Granada nổi tiếng với nhiều cung điện, lâu đài và thành quách. Trong đó, có hai kiệt tác kiến trúc là quần thể cung điện Alhambra và thị trấn Albaicin đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới năm 1984. Đặc biệt, những công trình này còn mạng đậm những nét văn hóa độc đáo của người Moor, người Do Thái, người Arập và Digan.

Tác giả: Nguyễn Minh Ngọc

Read Full Post »

« Newer Posts