Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Nghiên cứu và phê bình văn học’ Category

Sáng nay (7.2), tại đền thờ Đào Duy Từ thuộc xã Hoài Thanh Tây (Hoài Nhơn), Lễ kỷ niệm 440 năm năm sinh danh nhân văn hóa Đào Duy Từ được tổ chức long trọng. Đào Duy Từ- bậc khai quốc công thần, văn võ toàn tài đã có nhiều cống hiến lớn lao cho đất nước trong nửa đầu thế kỷ 17.

Cuối thế kỷ 16 đến nửa đầu thế kỷ 17, nước ta trải qua một thời kỳ lịch sử vô cùng phức tạp, thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh, chiến tranh, loạn lạc. Trong hoàn cảnh đó, Đào Duy Từ đã ra đời tại làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia (nay thuộc xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa). Vì xuất thân trong một gia đình làm nghề hát xướng, nên dù tư chất thông minh, có chí học hành, ông vẫn không có cơ hội vào trường thi. Dù vậy, ông vẫn tiếp tục theo đuổi học hành, tìm kế lập thân.

 

Đền thờ Đào Duy Từ. Ảnh:  TL

Nghe đồn chúa xứ Nam là Nguyễn Hoàng đang chiêu hiền đãi sĩ, Đào Duy Từ tìm đường vào Nam và dừng chân tại Bình Định. Do kế sinh nhai, ông giữ kín tung tích, ở chăn trâu cho một phú hào ở đất Tùng Châu phủ Hoài Nhơn (nay là xã Hoài Thanh Tây, huyện Hoài Nhơn). Nhân một cuộc bàn luận thế sự, quân tử – tiểu nhân của giới nho sĩ, ông tham gia ý kiến và được mọi người khâm phục, được chủ nhà mời làm thầy đồ dạy học cho con, sau đó được tiến cử đến khám lý Cống Quận Công Trần Đức Hòa. Mến tài Đào Duy Từ, khám lý Trần Đức Hòa đã gả con gái và tiến cử với chúa Sãi: Nguyễn Phúc Nguyên, được chúa trọng dụng trao cho chức “Nha úy Nội tán”, tước “Lộc khê hầu”, trông coi việc quân cơ trong đình, ngoài trấn, được tham lý quốc chính vào năm 1625.

Đào Duy Từ giúp chúa củng cố vương triều mới, ban hành nhiều chương trình cải cách có lợi cho dân. Ông đã hiến kế cho chúa Nguyễn đắp lũy Trường Dục ở Quảng Bình, đắp lũy Thầy ở sông Gianh bảo vệ cơ đồ sự nghiệp của chúa Nguyễn xứ Đàng trong và trở thành nhà quân sự tài giỏi trong lịch sử của dân tộc.

Để có người tài phục vụ đất nước, Đào Duy Từ đã đề đạt với chúa Nguyễn thi hành phép duyệt tuyển và khảo thí, tổ chức các kỳ thi để kén chọn nhân tài, xây dựng bộ máy chính quyền xứ Đàng trong, chấn chỉnh nội trị, tăng cường quốc phòng. Trên mặt trận ngoại giao, ông chủ trương đấu tranh mềm mỏng linh hoạt với nhà Trịnh và Chiêm Thành, mà tiêu biểu là việc lập kế để chúa Nguyễn trả sắc phong cho vua Lê- chúa Trịnh, tạo vị thế chính trị Đàng trong so với Đàng ngoài. Những đóng góp của Đào Duy Từ, chúa Sãi và các chúa Nguyễn sau này, đã giúp củng cố xứ Đàng trong thành một nhà nước độc lập, vững mạnh, đủ sức đương đầu với chính quyền Lê- Trịnh và dần mở rộng bờ cõi về phương Nam.

Đào Duy Từ còn để lại nhiều tác phẩm văn học có giá trị như: “Ngọa Long Cương Vãn”; “Tư Dung Vãn” được các nhà nghiên cứu đánh giá cao, xếp hàng đầu trong những tác phẩm văn học viết, của nền văn học Đàng trong giữa thế kỷ 17. Riêng bộ “Hổ trướng khu cơ” hướng dẫn về binh pháp và cách chế tạo vũ khí của ông có thể sánh với “Binh Thư Yếu Lược” của danh tướng Trần Hưng Đạo. Ông được tôn là sơ tổ khai sinh ra bộ môn nghệ thuật tuồng và các điệu múa cung đình ở nước ta.

Trong vòng 9 năm (1625-1634), với tư chất của một con người hành động, giàu ý chí, nghị lực, Đào Duy Từ đã hoạt động hết mình giúp chúa dựng nên nghiệp lớn. Ông qua đời vào năm 1634, hưởng thọ 63 tuổi. Chúa Sãi vô cùng thương tiếc, đã đích thân đến thăm ông tại nhà riêng khi bệnh nặng cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng. Chúa đã cho người đưa linh cữu của Đào Duy Từ về an táng ở đất Tùng Châu, lập đền thờ tự và truy tặng: “Hiệp mưu đồng đức công thần đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu”.

Tuy sống ở đất Tùng Châu không lâu nhưng Đào Duy Từ đã có nhiều công tích đối với dân làng. Ông hướng dẫn nhân dân khai khẩn lập làng, mở đường giao thông, đào sông làm thủy lợi, phát triển sản xuất… Cho đến ngày nay, một số tên sông, tên làng, tên đất vẫn còn gắn liền với những giai thoại về ông. Để tưởng nhớ công lao, đóng góp của ông, chúa Nguyễn và các vua triều Nguyễn sau này, đã truy phong ông nhiều chức tước quan trọng. Triều vua Gia Long thứ 4 (1805) xếp ông vào hàng: “Thượng đẳng khai quốc công thần” cho thờ ở Thái Miếu. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), ông được truy tặng “Hàm đông các đại học sĩ”, chức Thái sư, phong tước Hoằng quốc công. Đồng thời, nhân dân đã lập đền thờ tự ông ở nhiều nơi mà tập trung nhất là ở huyện Hoài Nhơn.

Tưởng nhớ đến công đức to lớn của Đào Duy Từ, năm 1994 Nhà nước đã công nhận xếp hạng đền thờ danh nhân văn hóa Đào Duy Từ thuộc thôn Ngọc Sơn Bắc, xã Hoài Thanh Tây, huyện Hoài Nhơn là di tích cấp Quốc gia.

Nguồn baobinhdinh

  • QUANG KHANH

Read Full Post »

  Hoài Nhơn, Quy Nhơn, Quy Ninh là địa danh qua các thời kỳ của tỉnh Bình Định ngày nay – vùng đất có nhiều gắn bó với việc ra đời và phát triển chữ Quốc ngữ, là nơi phôi thai chữ Quốc ngữ. Có một điều ít người biết, một trong ba nơi có cơ sở in sách Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam thuộc về Bình Định – Nhà in Làng Sông.

 
Tiểu chủng viện Làng Sông. Ảnh: Đào Tiến Đạt

Việc cấm đạo vốn đã có từ thời các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, đến thời Tự Đức còn được siết lại chặt hơn. Nhưng sách vở truyền đạo vẫn tiếp tục ra đời, chữ Quốc ngữ vẫn cứ thế phát triển theo quy luật tất yếu của ngôn ngữ. Vào nửa sau thế kỷ XIX, nhu cầu của cuộc sống buộc phải có nhà in. Do đó, một số nhà in của các giáo phận được thành lập, các loại sách – bao gồm các loại kinh sách, truyện, giáo khoa… bằng chữ Quốc ngữ được in và lan truyền nhiều hơn.

Ba nhà in sách Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam là: Nhà in Tân Định – Sài Gòn – Nhà in của giáo phận Tây Đàng Trong; nhà in Ninh Phú- Tây Đàng Ngoài (Hà Nội); để ở miền Trung, nhà in của giáo phận Đông Đàng Trong được đặt ở Tiểu chủng viện Làng Sông – ngày nay thuộc thôn Quảng Vân, xã Phước Thuận, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

 
Trang bìa Mémorial nhà in Làng Sông, tháng 3 năm 1908.

Đi cùng sự phát triển của chữ Quốc ngữ

Nghề in đúc (typô) đầu tiên du nhập vào Việt Nam tại Sài Gòn năm 1861, tất cả máy, chữ, mực in, giấy và công nhân kỹ thuật được đưa từ Pháp sang.

Tại địa phận Tây Đàng Trong (Sài Gòn), nhà in được xây dựng năm 1865 (có tài liệu viết 1863 hoặc 1867) tại sở quản lý Nhà Chung. Đến năm 1874 thì chuyển nhà in về Tân Định. Một trong những quyển sách đầu tiên mà nhà in Sài Gòn (Tân Định) in là một cuốn sách bằng tiếng Pháp: ABC ABCD (Vần An Nam để đọc tiếng Latinh), in năm 1867 và quyển sách Quốc ngữ Bổn dạy ABCD, của D. Eveillard, in năm 1868. Ở Đàng Ngoài, ngoài Từ điển An Nam-La tinh (Dictionarium Annamatico-Latium) của J.S. Theurel, nhà in Ninh Phú, 1887, quyển sách Quốc ngữ in sớm nhất hiện còn là Bổn giảng về bảy phép cực trọng chúa Jesu đã lập, Nhà in địa phận Tây Đàng Ngoài, năm 1882. Theo Báo cáo năm 1873 của Giám mục Puginier, địa phận Tây Đàng Ngoài có một nhà in thạch bản và hai nhà in typô, một dành cho các sách Latinh, một dành cho các sách Việt Nam (Quốc ngữ).

Tiểu chủng viện Làng Sông xây dựng vào thập niên 40, thế kỷ XIX. Sau đó, Tòa giám mục và Nhà in của địa phận Đông Đàng Trong (từ Quảng Nam đến Bình Thuận và Tây Nguyên) cũng được xây dựng tại chủng viện này.

Trong Báo cáo hiện tình giáo phận Đông Đàng Trong năm 1885 của Giám mục Van Camelbeck Hân, về những thiệt hại nhân sự và cơ sở vật chất có đoạn: “… hỏng 1 nhà in…”. Và Báo cáo tình hình giáo phận Đông Đàng Trong năm 1873 của Giám mục Charbonnier được viết năm 1872 ghi rõ: giáo phận có 3 nhà thuốc và 1 nhà in.

Căn cứ các báo cáo này, nhà in của giáo phận Đông Đàng Trong – nhà in Làng Sông có trước thời điểm năm 1872, bị hỏng năm 1885. Và có thể nhà in Làng Sông được xây dựng cùng thời với nhà in của giáo phận Tây Đàng Trong (Sài Gòn) và nhà in của địa phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội). Như vậy có thể tin rằng, sự phát triển của chữ Quốc ngữ có phần đóng góp của các nhà in này rất lớn.

Năm 1904, Giám mục Damien Grangeon Mẫn cho tái thiết nhà in Làng Sông và giao cho Linh mục Paul Maheu làm giám đốc. Linh mục Paul Maheu rất thông thạo về kỹ thuật in ấn, và đây là thời kỳ cực thịnh của nhà in Làng Sông. Với hệ thống máy in mới, khổ rộng và hiện đại nhất lúc bấy giờ, một số lượng sách, báo rất lớn đã được nhà in xuất bản.

Trong năm 1922, nhà in Làng Sông đã in 18.000 tờ báo định kỳ, 1.000 bản sách các loại, 32.000 ấn phẩm khác, riêng Báo Lời thăm mỗi tháng hai số, mỗi số ra 1.500 bản và phát hành cả Đông Dương. Tổng cộng ấn phẩm của nhà in Làng Sông (Quy Nhơn) trong năm lên đến 63.185 ấn phẩm với 3,407 triệu trang in.

Đáng chú ý, nhà in Làng Sông đã in nhiều loại sách của các cây bút Quốc ngữ nổi tiếng ở Nam Bộ lúc bấy giờ như: Chuyện đời xưa (tái bản lần thứ 2) của Trương Vĩnh Ký; Chuyện giải buồn (2 tập) của Pierre Lục; 30 đầu sách của Lê Văn Đức (một trí thức nổi tiếng, thế hệ sau Trương Vĩnh Ký) gồm nhiều thể loại hiện còn lưu giữ ở Thư viện Quốc gia (Hà Nội): Tây hành lược Ký, Đi bắt ăn cướp (tuồng), Tìm của báu (tiểu thuyết), Chúa Hài Nhi ở thành Nadarét (kịch), Du lịch Xiêm….

Imprimerie de Làng Sông, Imprimerie de la Mission de Quy Nhơn hoặc Imprimerie de Quy Nhơn đều là tên gọi ấn quán của giáo phận Đông Đàng Trong. Ngoài sách tiếng Latinh và tiếng Pháp, nhà in Làng Sông (Quy Nhơn) đã in một số lượng lớn sách Quốc ngữ đa dạng về thể loại như: Giáo lý, kinh thánh, giáo dục ấu học, trung học, truyện, tiểu thuyết, kịch, tạp chí, tuồng, lịch, sách dịch… Những ấn phẩm của Làng Sông được thống kê trong Mémorial– Bản thông tin hàng tháng của địa phận và được tổng kết vào trang cuối năm, bằng tiếng Pháp xen với tiếng Việt (Quốc ngữ).

Một trang Mémorial thống kê sách đã in của nhà in Làng Sông năm 1910 có 36 đầu sách, trong đó 25 đầu sách chữ Quốc ngữ, số còn lại là tiếng Pháp. Chia thành 4 nội dung: Sách trường học, sách giáo lý, sách cầu nguyện – đạo đức và các sách khác. Sách học được xếp mục đầu tiên với những loại sách như: Phép đánh vần (tái bản lần thứ 5), Con nít học nói (tái bản lần thứ 3), Ấu học (tái bản lần thứ 3), Trung học, Địa dư Sơ lược. Bản kê có ghi giá tiền từng đầu sách.

Tháng 11 năm 1933, nhà in Làng Sông bị bão đánh sập. Một nhà in mới của giáo phận được khởi công xây dựng vào năm 1934 tại Quy Nhơn (trong khuôn viên chủng viện Quy Nhơn). Năm 1935, nhà in Quy Nhơn hoạt động song song với nhà in Làng Sông (đã được tu sửa sau cơn bão). Ít lâu sau, nhà in Làng Sông được sát nhập về nhà in Quy Nhơn.

 
Ấn phẩm của nhà in Làng Sông năm 1910 được thống kê trong Mémorial.

Tham gia phục vụ kháng chiến

Trong chính sách tiêu thổ kháng chiến (1946 – 1947), cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà in Quy Nhơn được tháo dỡ, chuyển về giáo xứ Nam Bình (xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước) do thầy Paul Định làm giám đốc. Tại đây, các nhà tu hành đã mở dạy kỹ thuật sắp chữ in cho đội ngũ công nhân mới. Nhà in của nhà thờ được sử dụng để in tài liệu phục vụ kháng chiến, sách giáo khoa phục vụ giáo dục.

Một thời gian sau, theo yêu cầu của kháng chiến, máy in lại được chuyển ra Đại An (xã Cát Nhơn, huyện Phù Cát), rồi lên Ân Thường (xã Ân Thạnh, huyện Hoài Ân). Năm 1955 lại đưa về Kim Châu (thị trấn Bình Định, huyện An Nhơn) và cuối cùng được chuyển vào Nha Trang năm 1957.

Trong thời gian này, nhà in này đã in ra một lượng lớn ấn phẩm phục vụ kháng chiến, sản xuất và giáo dục, không chỉ cho Bình Định mà còn cho cả các tỉnh Liên khu 5 (từ Quảng Nam đến Bình Thuận và Tây Nguyên). Rất nhiều ấn phẩm ra đời trong giai đoạn này nay còn được lưu giữ tại Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bình Định như: Báo Tin Tức, Báo Dân Chúng, Bản tin, Tập san, Đặc san, thơ và sách văn, toán, lý, hóa trung học, tiểu học (sách lý và hóa của Đoàn Nhật Tấn, sách toán của Đinh Thành Chương, Việt ngữ chính tả của Nguyễn Châu, Chiều biên khu (thơ) của Nguyễn Tiểu Đào, Miền Trung khói lửa (thơ) của Nguyễn Đình …).

Mémorial Làng Sông (Quy Nhơn) – ấn phẩm của cơ sở ra số cuối cùng tháng 12.1953. Như vậy, đến năm 1954 nhà in Làng Sông – Quy Nhơn, sau gần một thế kỷ hoạt động đã giải thể, toàn bộ máy móc nhà in chuyển vào Nha Trang.

 
Bìa sách Chuyện đời xưa của Trương Vĩnh Ký in tại nhà in Làng Sông năm 1909.

Làng Sông – một địa danh lịch sử

Từ sau năm 1865, chữ Quốc ngữ được sử dụng rộng rãi trong các loại sách đạo, sách đời, riêng loại sách giáo dục chữ Quốc ngữ được in tái bản nhiều nhất. Số lượng đầu sách chữ Quốc ngữ từ năm 1865 đến những thập niên đầu thế kỷ XX lên đến hàng ngàn. Tuy nhiên, trải qua nhiều biến cố lịch sử, một số lượng lớn sách Quốc ngữ của các nhà in đầu tiên phần lớn đã thất lạc.

Hiện nay, tại Thư viện Quốc gia (Hà Nội) còn lưu giữ 241 đầu sách Quốc ngữ của nhà in Quy Nhơn (Làng Sông) như: Lưu tình (tâm lý tiểu thuyết), Nguyễn Vân Trai; Thiệt phận thuyền quyên (tiểu thuyết), Đinh Văn Sắt; Hai chị em lưu lạc (tiểu thuyết trẻ nhỏ), Pierre Lục; Nghề trồng rau, Mai Hữu Tưởng; Con nít học nói cho nhằm lễ nghi, Simon Chính; Địa dư tỉnh Phú Yên, Nguyễn Cầm; Địa dư nông học Bình Định, Bùi Văn Lăng …

Nhà in Tây Đàng Trong – Tân Định (Sài Gòn), nhà in Tây Đàng Ngoài (Hà Nội), nhà in Làng Sông (Quy Nhơn) – Đông Đàng Trong là ba cơ sở in sách Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam, đã có những đóng góp đáng kể trong việc phát triển chữ Quốc ngữ và văn học Quốc ngữ hậu bán thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.

Ngày nay, người ta biết đến Tiểu chủng viện Làng Sông phần lớn là ở góc độ là nơi có công trình kiến trúc đẹp, lâu đời. Rất ít người biết rằng nơi đây từng tồn tại một nhà in có nhiều đóng góp cho sự phát triển của chữ Quốc ngữ, có một đoạn rất dài đi cùng kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc.


  • Nguyễn Thanh Quang (Baobinhdinh.com)

Read Full Post »

Trường Nghị


Sông Nhị hay Sông Hồng, Sử xưa gọi là Sông Phú Lương. Cầu phao trên sông Nhị ở đây muốn nhắc đến là cái cầu mà thời Tôn sĩ Nghị đem binh Lưỡng Quảng và Vân Quý tiến vào Đại Việt cuối năm Mậu Thân (1788).

Theo tài liệu nghiên cứu của TS Nguyễn Duy Chính (Đại Học Ivrin – CaLifornia), Tôn Sĩ Nghị (1720 – 1796), viên tướng tư lệnh lực lượng viễn chinh của nhà Thanh là người tỉnh Chiết Giang, đỗ Tiến sĩ năm 1761, từng theo Phó Hằng (cha của Phúc Khang An) đánh Miến Điện năm 1769. Hoạn lộ của Tôn sĩ Nghị thăng tiến rất nhanh. Từ một công việc nhỏ lo soạn thảo tấu chương, thư từ, Tôn Sĩ Nghị được thăng Lang Trung Bộ Hộ, rồi Đốc Học Quý châu (1770 – 1774), Bố Chính Quảng Tây, rồi Tuần Phủ Vân Nam (1775). Chẳng bao lâu sau làm Tuần Phủ Quảng Tây rồi đổi sang Tuần Phủ Quảng Đông (1785). Năm sau nhận nhiệm vụ điều động quân lương, khí giới giúp Phúc Khang An bình định được loạn Thiên Địa Hội Lâm Sảng Văn ở Đài Loan nên được thăng hàm Thái Tử Thái Bảo, được vẽ hình trưng bày trong Tử Quang Các.

Sơ lược một chút tiểu sử của Tôn Sĩ Nghị để thấy Càn Long sủng ái, tin cậy Tôn Sĩ Nghị như thế nào khi giao cho trọng trách cầm đầu lực lượng viễn chinh. Binh tướng, quân lương được Càn Long cho tổ chức như thế nào để Tôn sĩ Nghị thực hiện chuyến nam chinh ?

Mượn tiếng cứu giúp vua tôi Lê Chiêu Thống, Tổng Đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị được quyền điều động binh mã không những của Quảng Đông, Quảng Tây, mà còn của 2 tỉnh Vân Nam, Quý Châu, quân nghĩa dũng Điền Châu và thủy quân Phúc Kiến. Dưới trướng của Tôn Sĩ Nghị gồm những tướng lĩnh phần nhiều từng xông pha trận mạc, giỏi chiến trận, dày công trạng. Có người từng có hình trưng bày trong Tử Quang Các như Hứa Thế Hanh. Có người từng xuất thân là Võ Tiến sĩ như Ô Đại Kinh, Lý Hóa Long, Hình Đôn Hành …

Ngày 28 tháng mười năm Mậu Thân (25/11/1788), Tôn Sĩ Nghị chia binh làm 3 đạo vượt biên giới Đại Việt. Cánh quân phía đông qua ngõ Nam Quan tiến xuống Kinh Bắc do Đề Đốc Quảng Tây Hứa Thế Hanh chỉ huy, hai Tổng Binh phụ tá là Tổng Binh Quảng Tây Thượng Duy Thăng với Phó Tướng Khánh Thành, Tổng Binh Quảng Đông Trương Triều Long với Phó Tướng Lý Hóa Long. Cánh quân phía Tây qua ngõ Mã Bạch Quan tiến binh theo đường Tuyên Hóa, Tuyên Quang xuống Sơn Tây do Đề Đốc Vân Nam Ô Đại Kinh chỉ huy, hai phụ tá là Tổng Binh Định Trụ và Tổng Binh Tôn Khởi Giao. Cánh quân ở giữa là Đạo quân nghĩa dũng của Thổ Tri châu Điền Châu là Sầm Nghi Đống thống lĩnh, theo đường Long châu sang Cao Bằng tiến xuống Thái Nguyên. Ngoài 3 đạo binh trên, Tôn sĩ Nghị còn có được một lực lượng hổ trợ khác là quân tướng của Lê Chiêu Thống, dù chẳng có bao nhiêu nhưng sẵn sàng bán mạng cho thiên triều.

Chuẩn bị cho cuộc tiến quân của Tôn sĩ Nghị xuống nam, Thanh triều giao cho Tổng Đốc Vân Nam – Quý Châu là Phúc Khang An chuyên trách việc vận trù quân lương. Đường tiến quân từ Vân Nam, Quảng Tây đến thành Thăng Long, Phúc Khang An cho lập tới 70 đồn quân lương to lớn, kiên cố. Chặng tiến quân từ Nam Quan đến Thăng Long là chặng đường bị Nội Hầu Phan Văn Lân ngăn chặn ở Thị Cầu, khi Tôn Sĩ Nghị đang tổ chức hành quân thì Phúc Khang An cũng đã thiết lập được 18 đồn lương. Xem thế mới thấy qua việc tổ chức cuộc chiến nầy, thâm tâm Càn Long đã có mưu lâu dài nắm lấy Đại Việt.

Thâm tâm, mưu đồ nầy còn hiện rõ trong một chỉ dụ cho Tôn Sĩ Nghị, Càn Long vạch ra chiến lược :

“… Cứ từ từ, không gấp vội. Trước hãy truyền hịch để gây thanh thế, sau cho bọn cựu thần nhà Lê về nước tìm tự quân nhà Lê đưa ra đương đầu đối địch với Nguyễn Huệ. Nếu Huệ bỏ chạy thì cho Lê tự quân đuổi theo, đại quân của ta thì đi tiếp sau, như thế, không khó nhọc mà thành công, đó là thượng sách.

Nếu như người trong nước, một nửa theo về Huệ mà Huệ không chịu rút quân, thì phải chờ thủy quân Mân Quảng (Phúc Kiến, Quảng Đông) vượt biển, đánh vào Thuận, Quảng (Thuận Hóa, Quảng Nam) trước, sau đó lục quân mới tiến công cả hai mặt, đằng trước, đằng sau, Nguyễn Huệ đều bị đánh, tất phải quy phục. Ta nhân đó giữ cả hai. Từ Thuận, Quảng vào Nam thì cắt chia cho Nguyễn Huệ. Từ Hoan Ái (Nghệ An) trở ra Bắc thì phong cho họ Lê. Mà ta thì đóng đại quân ở nước ấy để kiềm chế. Về sau sẽ có cách xử trí khác” (chép theo Đại Nam Chính Biên).

Với chiến lược nầy, Càn Long nuôi Lê Chiêu Thống để dùng Chiêu Thống gây nên can qua, dùng người Việt đánh người Việt. Ai thắng ai bại, Ai chết ai sống mặc ai, việc đưa đại quân của Thanh triều vào nằm giữa lòng Đại Việt vẫn thực hiện được để tính kế lâu dài về sau. Nhưng khi đưa binh đến được Thăng Long một cách dễ dàng, Tôn Sĩ Nghị đã tham công, trùng trình làm hỏng cả, đã chôn vùi binh tướng dưới dòng Phú Lương nghẽn cả sông, thây chất thành đống ở Gò Đống Đa.

Nói Tôn Sĩ Nghị đưa binh đến được Thăng Long một cách dễ dàng, nhưng thực sự Tôn Sĩ Nghị đã tốn nhiều thời gian, gian nan hơn dự định, phải tổn thất một viên tướng ở chiến trận Thị Cầu là Vũ Tông Phạm. Nội Hầu Phan Văn Lân và một nghìn tinh binh của Tây Sơn dàn trận bên bờ nam sông Thị Cầu đã làm chậm bước tiến của cánh quân tướng Hứa Thế Hanh, vừa nắm được tình hình cụ thể quân lực, sức chiến đấu của cánh quân nầy, giúp cho Quang Trung Nguyễn Huệ sau nầy tổ chức công thành đồn Ngọc Hồi rạng ngày mồng 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu (30/1/1789).

Ngày 20 tháng một (mười một) năm Mậu Thân (7/12/1788), quân Thanh vào được thành Thăng Long đã bỏ ngõ. Thủy lục quân Tây Sơn đã rút về nam lập phòng tuyến ở Biện Sơn – Tam Điệp Ninh Bình. Từ đây quân Tây Sơn có được một tháng trời để chuẩn bị cho cuộc chiến. Trong một tháng trời đó, Tôn Sĩ Nghị vào Thăng Long, tổ chức ngay lễ tấn phong cho Lê Chiêu Thống (ngày 22 tháng một Mậu Thân). Vua tôi Chiêu Thống cúi rạp thần phục, quân nhà Thanh được mặc sức vơ vét, nhũng nhiễu.

Tôn Sĩ Nghị hội binh ở Thăng Long, cho đạo quân Vân Quý của Ô Đại Kinh bố trí ở Sơn Tây (phía Tây Thăng Long), đạo quân Điền Châu của Sầm Nghi Đống đồn binh ở Khương Thượng (Tây Nam Thăng Long), đạo quân Lưỡng Quảng đóng ở hai bờ sông Nhị, cho làm cầu phao bắc qua sông để thuận tiện đi lại. Cái chết người là chính ở cái cầu phao nầy.

Xét theo cách bố trí binh lực của Tôn Sĩ Nghị, cánh quân của Đề Đốc Hứa Thế Hanh là cánh quân chủ lực. Hứa Thế Hanh đóng quân ở Ngọc Hồi (Thanh Trì, phía nam Thăng Long chừng 13 – 14 km), phía tiền tiêu còn có đồn Hà Hồi (Thường Tín, cách Ngọc Hồi chừng 6 – 7 km) án ngữ, xa hơn phía nam còn có đồn Gián Khẩu (trấn Sơn Nam) do binh tướng của Lê Chiêu Thống trấn giữ. Cánh quân chủ lực nầy nằm nhô xuống phía nam Thăng Long, trong khi các cánh quân của Ô Đại Kinh và Sầm Nghi Đống lại ở tư thế phòng ngự, ngơi nghỉ theo chủ trương của Tôn Sĩ Nghị là chờ sau mồng 6 tháng giêng mới cùng tiến quân xuống Tam Điệp. Từ chủ trương nầy, cánh quân của Hứa Thế Hanh dàn quân theo chiều dọc mà sau lưng là cây cầu phao bằng tre gỗ, không đủ sức chịu đựng cho cả cánh quân nếu phải triệt thoái khi bị tấn công không kháng cự nổi.

Bẻ gãy cánh quân của Đề Đốc Hứa Thế Hanh là phá vỡ bố trí binh lực của Tôn Sĩ Nghị. Để phá vỡ đồn Ngọc Hồi của Hứa Thế Hanh, Hoàng Đế Quang Trung phải chờ cho Đô Đốc Long tiêu diệt Khương Thượng của Sầm Nghi Đống xong mới từ thế bao vây chuyển sang tấn công Ngọc Hồi. Cánh quân của Thổ Tri châu Sầm Nghi Đống gồm những thổ binh người thiểu số được chiêu mộ dưới tên gọi là quân nghĩa dũng. Không phải là đội quân chính quy, quân số ít, nên lực lượng nầy phải nhờ sự yểm trợ, Tôn Sĩ Nghị bố trí cho nằm giữa 2 cánh quân Lưỡng Quảng và Vân Quý. Cánh quân Khương Thượng của Sầm Nghi Đống dù sao cũng nằm bên sườn của Ngọc Hồi. Tiêu diệt Khương Thượng là cắt đứt lực lượng tiếp cứu cho Ngọc Hồi. Phá vỡ Ngọc Hồi là phía sau sẽ rùng rùng bỏ chạy. Lúc nầy cây cầu phao trên sông Nhị gánh trên mình sự sai lầm của viên tướng viễn chinh Tôn Sĩ Nghị.

Trong 8 điều quân luật mà Tôn Sĩ Nghị ban bố trước khi xuất quân, có một điều liên quan đến phù kiều (cầu phao), theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí :

Điều thứ 6. Đại binh đi đường, nếu gặp khe suối, dòng sông, chỗ nào nước sâu thì phải lấy tre, gỗ bắc !àm cầu phao, để binh mã vượt qua cho tiện, chỗ nào sông hẹp nước nông, thì viên quan coi quân phải dò thử đích xác, rồi cho quân lính nối tiếp nhau như xâu cá mà kéo đi. Lúc xuống nước không được đem bùi nhùi, thuốc súng bạ đâu vứt đấy để bị ẩm ướt.

Hiện nay chưa có một tư liệu nào xác định rõ quy mô cái cầu phao mà Tôn Sĩ Nghị đã cho bắc qua sông Nhị. Nhưng cũng có thể hình dung được cây cầu có thể được tạo tác nên bằng tre nứa, có thể đặt trên những cái thuyền nhỏ nối kết lại với nhau. Dĩ nhiên bằng cấu tạo nào đi nữa, cây cầu cũng không thể nào chịu đựng nổi cả một đoàn quân hỗn độn thưở ấy cùng vượt qua.

Tư liệu, sách sử người nhà Thanh như Thánh Vũ Ký cho rằng chính Tôn Sĩ Nghị khi đã qua được bên kia cầu, đã hạ lệnh cho chặt đứt cầu để tránh quân Tây Sơn truy kích. Cũng giống như vậy, Thanh Sử Cảo còn cho biết thêm Võ Tiến sĩ Lý Hóa Long lọt xuống sông chết đuối khi cầu phao bị đứt. Các Đề Đốc Hứa Thế Hanh, Tổng Binh Thượng Duy Thăng, Trương Triều Long … không qua được, giao chiến, tử trận phía nam cầu. Cây cầu phao trên sông Nhị lại mang thêm dấu tích của kẻ qua cầu rút ván.

Đại bại dưới tài cầm quân của Hoàng Đế Quang Trung, nhờ tướng Khánh Thành bảo vệ chạy về đến Nam Quan, Tôn sĩ Nghị uất ức vạch vào tấm ván gỗ trước sụt sùi của Lê Chiêu Thống :

–   Mối hận nầy không giết được Quang Bình (tên tộc của Quang Trung Hoàng Đế) không thôi (dẫn theo Lê Quý Dật Sử).

Chẳng bao lâu sau Tôn Sĩ Nghị bị triệu về kinh, bị tước cả hồng bảo thạch, song nhãn hoa linh, bị thu hồi cả tước Mưu Dũng Công được ban cho lúc cầm quân nam chinh. Phúc Khang An thay thế làm Tổng Đốc Lưỡng Quảng, Đề Đốc cửu tỉnh binh mã. Nắm trong tay binh mã của chín tỉnh, nhưng Phúc Khang An chủ trương hòa hoãn với Đại Việt. Nhà Thanh bang giao với Hoàng Đế Quang Trung, Lê Chiêu Thống chết trong tủi nhục bên đất Trung Hoa, Tôn Sĩ Nghị không thực hiện được lời thề khắc trên ván.

Tôn Sĩ Nghị thất trận, bị triệu về kinh, tưởng là con đường hoạn lộ không còn hanh thông nữa. Nhưng thật ra về kinh, Tôn Sĩ Nghị được nhận chức Binh Bộ Thượng Thư, sung Quân Cơ Đại Thần. Mùa đông năm đó (1789) triều đình bổ làm Tổng Đốc Tứ Xuyên. Năm 1791 được triệu về kinh làm Lại Bộ Thượng Thư, Hiệp Biện Đại Học Sĩ … sau là Lễ Bộ Thượng Thư, Văn Uyên Các Đại Học Sĩ (1792).

Cầu phao sông Nhị đã vùi chôn tính mạng những chiến tướng dưới trướng của viên tư lệnh vô cảm, qua cầu rút ván. Tưởng là cầu phao sông Nhị vùi chôn luôn sự nghiệp của viên tướng tư lệnh nam chinh. Nhưng Tôn Sĩ Nghị còn có một cây cầu khác để bước qua máu xương của đồng đội. Tôn Sĩ Nghị đã nhờ vào cây cầu thân cận, nhờ vào quyền lực của Hòa Thân (Hòa Khôn) để che lấp những sai trái của mình. Theo đồn đại, Hòa Thân có khuôn mặt hao hao giống một tỳ thiếp của Càn Long, người tỳ thiếp nầy đã qua đời do lỗi của Càn Long. Càn Long ưu ái, nuông chiều Hòa Thân xem như là cách giải tỏa mặc cảm tội lỗi. Nhờ vậy Hòa Thân thao túng, làm loạn chốn quan trường, Càn Long vẫn bỏ qua và luôn nghe lời Hòa Thân. Nhờ mật ngọt của Hòa Thân rót vào tai Càn Long nên hoạn lộ của Tôn Sĩ Nghị vẫn cứ thông đường, sau vẫn cứ có hình vẽ trưng bày trở lại ở Tử Quang Các.

Sau nầy vào năm 1799, vua Gia Khánh nhà Thanh (con vua Càn Long) cho hành quyết sủng thần của cha mình là Hòa Thân với tội danh tham nhũng, lạm dụng chức quyền (Wikipedia). Phe đảng của Hòa Thân, phần Tôn Sĩ Nghị lúc nầy đã mất, nên con của ông bị Gia Khánh phế bỏ tập tước, cho ra khỏi kỳ binh, trở về nguyên tịch. Theo tài liệu của TS Nguyễn Duy Chính, trong lời dụ của Gia Khánh có câu nhận định về Tôn Sĩ Nghị trong cuộc nam chinh : “… có ý tham công, trùng trình cho nên làm hỏng việc, thua trận chạy về. Lời tâu lên phần lớn chỉ là lòe loẹt bề ngoài (sớ tấu đa hữu hư sức) …”

Tôn Sĩ Nghị đã sử dụng cây cầu thân cận để thẳng bước trên đường hoạn lộ, nên Tôn Sĩ Nghị sẵn sàng, không chút chùn chân, dễ dàng bước qua những cây cầu kiểu như Cầu Phao Sông Nhị, dù cho nó làm tổn thất sinh mệnh những người đã chiến đấu bên cạnh mình. Đối với người Việt, Cầu phao sông Nhị cũng đã vùi chôn luôn võ nghiệp, nhân phẩm của Tôn Sĩ Nghị. Vua Càn Long được tiếng là một minh quân, triều Càn Long là một triều đại hưng thịnh của nhà Thanh, nhưng Càn Long không tránh khỏi sai lầm vì yếu lòng, vì những mật ngọt.

Xuân Nhâm Thìn 2012

THAM KHẢO

•     Một Võ Trạng Nguyên Trung Hoa Tử Trận Tại Việt Nam  –  Bài viết của TS Nguyễn Duy Chính
•    Tìm Hiểu Thiên Tài Quân Sự Nguyễn Huệ   –  Nguyễn Lương Bích và Phạm Ngọc Phụng
•    Lê Quý Dật Sử  –  Bùi Dương Lịch
•    Khâm Định Việt Sử  –  Quốc Sử Quán Triều Nguyễn
•    Hoàng Lê Nhất Thống Chí  – Ngô Gia Văn Phái
•    Nhà Tây Sơn  –  Quách Tấn và Quách Giao

Read Full Post »

Thuận Nghĩa
Năm Rồng nói chuyện rồng, năm Khỉ nói chuyện khỉ, năm chó, mèo, dê heo…theo thông lệ trên báo chí cũng có những bài về các con vật trong mười hai con giáp.
Năm nay, cũng vậy. Trên báo giấy và báo mạng, báo hình, báo nói…con Rồng tràn ngập thị trường thông tin. Rồng Lý-Trần hiền lành ở nước ta. Rồng nhe nanh múa vút trên tem mới nhất của Trung Quốc mà nhà thiết kế Trần Thiệu Hoa cố tình tạo nét hung dữ răn đe cho phù hợp với vị trí cường quốc của TQ hiện đại.
Thật ra rồng chỉ là biểu tượng chứ không có thật, cũng chẳng phải hình ảnh của loài khủng long đã tuyệt chủng 60 triệu năm trước. Trong 12 con giáp, rồng là sản phẩm tưởng tượng, cũng như con lân trong tứ linh long-lân-quy- phung. Nhưng Rồng luôn ở địa vị cao quý, chóp bu cả về thế quyền và thần quyền. Ta có thể nghiệm ra rằng con người vẫn tôn vinh và thần phục những cái không có thật, hư huyền, không tưởng.
Ngược lại, con cá chép của táo quân lại có thật, bán đầy chợ. Truyền thuyết bảo rằng cá chép có thể hóa rồng khi vượt vũ môn. Một con có thật chuyển hóa thành con vật tưởng tượng. Thật ngược đời. Lẽ ra, phải biến cái tưởng tượng thành thực tế sờ được, thấy được thậm chí ăn được. Giới tinh hoa trong mọi thời đại thường có những trò mỵ dân như lão phú ông muốn chiếm đoạt cái quạt mo của Bờm nên đã hứa hẹn ba bò chín trâu, xâu cá mè, ba bè gỗm lim…Thà rằng chỉ một nắm xôi là Bờm ok vì nắm xôi với cái quạt mo là “ngang giá” có thể thực hiện một cuộc trao đổi happy and happy, một thương vụ phù hợp với kinh tế thị trường dầu ở hình thức sơ khai nhất hàng đổi hàng.
Chợt nhớ logo của hãng hàng không quốc gia của miền Nam trước đây “Air Vietnam” là con rồng cách điệu với những đường kỹ hà. Con rống ấy xoắn đuôi nên bị giới báo chí trêu là “e rồng lộn” ( “e” là air trong Air Vietnam). Với những chiếc máy bay cánh quat DC3, DC4 và sau nầy là boeing Caravelle, “e rồng lộn” cũng có tầm cỡ trong khu vực nhưng đã biến mất sau 1975. Dinh Độc lập, nay là Dinh Thống Nhất, được gọi là “Phủ Đầu Rồng”. Vậy cái đuôi rồng nằm ở đâu? Người ta cho rằng khi thiết kế dinh Norodom ( tên cũ của Dinh Độc Lập) các kiến trúc sư Pháp không biết phong thủy nên cái thân con rồng là đường Thống Nhất ( nay là đường Lê Duẫn) bị sở thú ở cuối đường chắn ngang làm con rồng cụt đuôi. Đã có thời người ta mê tín như thế đựa trên con rồng tưởng tượng của cơ quan quyền lực chính trị chóp bu ở Sài Gòn.
NGÀY nay, người ta quen gọi thủ đô nước ta là Thăng Long-Hà Nội. “Thăng Long” là rồng bay lên chứ không phải rồng bay ( phi long). Thăng là trình trạng của vật thể bay đang lấy độ cao sau khi cất cánh ( take-off), có lẽ Lý Thái Tổ chọn tên ấy vì nước Đại Việt mới giành độc lập đang cố bay lên – khiêm tốn nhưng đầy tham vọng vươn lên mãi mãi.
Trong Kinh Dịch, quẻ Càn nói về hình tượng con rồng: “Tiềm (hay ẩn) long tại địa, hiển long tại điền, phi long tại thiên…” ( con rồng ẩn mình dưới đất, con rồng hiện ra trên ruộng, con rồng bay trên trời,…). Đó là những giai đoạn, những hình thái xuất hiện của rồng. Một con người, một nước cũng có những giai đoạn như thế: lúc nào nên ẩn, hiện, bay… phải tính toán dựa trên tình hình thực tế. Ông Lý Quang Diệu đặ tên con trai là Lý Hiển Long( thủ tướng hiện nay) có lẽ gửi gắm mong muốn nước Singapore sẽ xuất hiện trên vũ đài thế giới ( hiển long tại điền) và các thế hệ sau sẽ làm cho đất nước sư tử biển bay lên.
Cũng có thể nói xunau.org vào thời điểm nầy là từ “hiển long tại điền” chuyển sang “phi long tại thiên” trong năm tới vì đã tích lũy được nội lực và phù hợp với tình hình khách quan của xã hội dân sự đang hình thành. Muốn nhanh hơn cũng khó mà không bay lên (thăng) là tự thải loại khỏi cuộc chơi.
Trở lại con rồng in trên tem TQ năm rồng nầy. Chẳng biết tác giả và những người “duyệt” nó có nghiên cứu quẻ Càn trong Kinh Dịch hay không? Không khéo rồng khủng lại thành “rồng lộn” …
( Mồng Một Tết Nhâm Thìn)

Read Full Post »

Nguyễn Thị Phụng.



Mùa đông miền Trung đâu lạnh lắm. Sao thèm cái lạnh trong thơ Xuân Diệu “ Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm/ Anh nhớ em, em hỡi anh nhớ em” Lại nhớ da diết đến nao lòng từ khi “Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm” rồi! Xin mạn phép anh được đảo các danh từ “anh, em” đã dùng như đại từ trong câu thơ tiếp theo “Anh nhớ em, em hỡi anh nhớ em” thành “ Em nhớ anh, anh hỡi em nhớ anh”. Có lẽ anh mỉm cười khi em vừa thủ thỉ điều bí mật này. Em yêu thơ anh, nên mới yêu anh. Ta cùng chung quê nên cùng tự hào Tuy Phước. Em không đi xa mà sao cứ vời vợi nhớ thương. Còn anh bao rạo rực đong đầy trong ngày trở về thăm quê mình:

ĐÊM NGỦ Ở TUY PHƯỚC
Đêm ngủ ở Tuy Phước là để mà không ngủ
Những con dế cùng tôi thức suốt năm canh.
Thức những ngô
i sao, thức những bóng cành,
Đêm quê hương thương cái hương của đất…
 

Ngủ không được bởi gió nồm từ biển lên cứ nhắc
“Trọn mình anh đã nằm giữa lòng tôi
Khi má anh sinh ra
Anh đã thở hơi nước mắm ngon của vạn Gò Bồi
Nên tới già thơ anh còn được đậm đà thấm thía…”
Ngủ không được bởi nhớ cha tôi là thầy đồ Nghệ
Đem tôi theo ngồi dạy học các làng
Nghe bài chòi cắc cụp cắc ở chợ Tết xã Văn Quang.
Ôm cái cột đình làng Luật Bình rồng lượn…
 

Tim ta ơi, ta đố em ngủ được
Khi những buổi trưa của thuở nhỏ lại về…
Đi lượm xoài non rụng với khèo me
Một cái vườn hoang là một địa đàng cho mình khám phá
Có gì hơn mẹ với con, có chi bằng cơm với cá
“Lục lạc kêu rang rảng, bánh tráng bẻ dòn dòn”
Những ngọt bùi của quê má thân thương
Cái sân trường có trái vông đồng rụng xuống…
 

Bây giờ Tuy Phước rộng đồng tốt ruộng
Con đê ngăn mặn gió biển ru trời
Đập Thạnh Hoà kênh mương toả xanh tươi
Tiếng trạm bơm động ba hồ chứa nước
Một mảnh thịt của hồn ta – ôi Tuy Phước!
Bà Ngoại ta còn phảng phất ở đâu đây
Bánh ít lá gai, bánh ú mập đầy,
Hoa quả bốn mùa cũng từ ngoại mà ra tất cả…

Đêm ngủ ở Tuy Phước để mà không ngủ
Thức với quê hương như vậy đã vừa đâu
Xin thơ ta được thức mãi về sau.
Với Tuy Phước, ngày nào còn đất nước
                       (16/2/1982 – 25/2/1985 / Xuân Diệu)
Về Tuy Phước là về thăm quê ngoại, nơi anh được sinh ra và lớn lên bên dòng sông Gò Bồi bên bồi bên lở, từng nghe anh tâm sự “Từ lúc má tôi đẻ tôi ra ở cái vạn Gò Bồi làm nước mắm/ Một hạt muối trong tim để mặn với tất cả những gì đằm thắm/ Một cành lá trong hồn để biếc cùng muôn làng mạc của quê hương”(Miền Nam quê ngoại). Hạt muối mặn đằm thắm, cành lá biếc xanh cho tình yêu mỗi ngày thắp lên như hoa gạo đỏ mùa tháng ba trở về. Cùng bao vùng quê khác như An Nhơn, Tây Sơn thì Tuy Phước chỉ là một huyện trong tỉnh Bình Định nằm ở vùng hạ lưu sông Côn, nhận nước từ nguồn cho đất dai màu mỡ, là nơi tiếp tục khai dòng thông ra biển lớn. Và ai dám tự hào quê mình là vùng đất địa linh nhân kiệt, nếu từng ngày ta không biết vun trồng chăm sóc cho mỗi cây hoa người tỏa hương rồi tự khẳng định giá trị “ Người ta là hoa đất” (Tục ngữ) nâng niu thưởng thức:
Đêm ngủ ở Tuy Phước là để mà không ngủ
Những con dế cùng tôi thức suốt năm canh.
Thức những ngôi sao, thức những bóng cành,
Đêm quê hương thương cái hương của đất…

Vâng “Đêm ngủ ở Tuy Phước là để mà không ngủ” đâu riêng gì anh. Những con dế ngoài đồng ruộng kia, những ngôi sao xanh giữa bầu trời đêm lấp lánh, những bóng cành rợp mát chở che năm tháng đi qua mãi vô tận trong cảm xúc nhà thơ. Chính “Đêm quê hương thương cái hương của đất…” cho anh thức mãi những kỉ niệm về  hương vị của đất trào dâng theo ngọn gió nồm ấm áp nhắc nhở:
Trọn mình anh đã nằm giữa lòng tôi
                  Khi má anh sinh ra
Anh đã thở hơi nước mắm ngon của vạn Gò Bồi
Nên tới già thơ anh còn được đậm đà thấm thía
…”
Phải chăng nơi Vạn Gò Bồi thuở nào với Xuân Diệu là cái tình sâu đậm không thể nào quên! Bởi “trọn mình anh đã nằm giữa lòng tôi”. Dù có cách xa bao nhiêu tính theo chiều dài kilomet, nó là liều thuốc bổ thấm sâu cho đôi mắt anh trong sáng tinh tường, cho trái tim anh rộn ràng nồng thắm . Lòng biết ơn nhắc nhở : “ Ngủ không được bởi nhớ cha tôi là thầy đồ Nghệ/ Đem tôi theo ngồi dạy học các làng”.  “Cha tôi là thầy đồ” thầy làm nghề dạy chữ nho thời trước. Thầy đồ có gốc gác quê hương. Thầy đồ xứ Nghệ yêu lắm miền đất vạn Gò Bồi trù phú đã trở thành ruột thịt khi bước chân dừng lại nơi đây biết “ Gánh tên đất tên làng sau mỗi chuyến di dân”( Nguyễn Khoa Điềm). Nên coi việc tải đạo cho lớp trẻ là trách nhiệm vẻ vang chung của “thầy đồ”. Cái nôi làng quê bé nhỏ nhưng trong tầm nhìn tuổi thơ ngày nào, văn hóa làng xã in đậm dấu ấn khó phai: “Nghe bài chòi cắc cụp cắc ở chợ Tết xã Văn Quang/ Ôm cái cột đình làng Luật Bình rồng lượn…” Dù ở miền quê, chợ Tết rất nhiều trò chơi hấp dẫn lôi cuốn người xem, nhưng với tuổi thơ của cậu bé Bàng (tên thường gọi của Xuân Diệu lúc còn nhỏ) khi nghe bài chòi lại là sức thu hút mạnh mẽ nhất. Những câu hát dân ca bắt nguồn từ điệu hô trong cuộc, người hô thường ngồi trong các chòi tranh tre hễ bên này hô, thì bên kia đáp lại, chẳng hạn bên nữ vừa hô: “ Tiếng đồn anh hay chữ, cho em thử vài lời, ba mươi mùng một sao trời không có trăng?” vừa gõ thanh tre cắc cụp cắc kèm theo nhịp câu hô. Bên nam phải đáp lại, và nếu không đáp được là thua cuộc. Kích thích sự hào hứng hai bên cũng như những người tham dự. Nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa nghệ thuật dân gian kích thích tư duy ứng xử. Muốn hô – đáp cân xứng là phải tìm hiểu vốn sống từ trong sách vở, thực tế thường ngày. Và nơi đây là điểm gặp gỡ giao lưu trai tài gái sắc nên duyên chồng vợ của ngày xưa ở Nam Trung bộ. Đến giờ còn duy trì ở chơ Gò Tuy Phước trong hai ngày mùng một và mùng hai Tết cổ truyền dân tộc. Tuổi thơ Xuân Diệu còn thích ôm cái cột đình làng Luật Bình rồng lượn như là một trò chơi leo lên tụt xuống, săm soi thích thú vì thấy nó lớn quá so với cột ở nhà, cũng có thể từ nếp“đất có lề” cần duy trì gìn giữ, cũng có thể phép vua vẫn thua lệ làng đó sao! Tất cả nườm nượp như khiêu khích:
Tim ta ơi, ta đố em ngủ được
Khi những buổi trưa của thuở nhỏ lại về…
Đi lượm xoài non rụng với khèo me
Một cái vườn hoang là một địa đàng cho mình khám phá
Có gì hơn mẹ với con, có chi bằng cơm với cá
“Lục lạc kêu rang rảng, bánh tráng bẻ dòn dòn”
Những ngọt bùi của quê má thân thương
Cái sân trường có trái vông đồng rụng xuống

Cái hồn của đoạn thơ trong bức tranh khắc họa một cậu bé bỏ cả ngủ trưa trốn cha, trốn mẹ cùng đám bạn đi lượm xoài non rụng, khèo me rồi hồn nhiên đưa lên miệng ngấu nghiến ngon lành. Những quả chua kích thích dịch vị thèm thuồng đến thế! Tha hồ tự do vui chơi, chuyện trò thỏa thích giữa cái vườn hoang không chủ. Sực nhớ mẹ vội chia tay bạn, quay về: “Có gì hơn mẹ với con, có chi bằng cơm với cá” là hơn cả. Trẻ con có bao giờ muốn xa mẹ. Vắng mẹ một chút là nhớ quay nhớ quắt làm sao. Chỉ có bàn tay mẹ dù tảo tần vất vả bao nhiêu vẫn dành thời gian chăm chút miếng ăn, dạy dỗ mọi điều tốt đẹp mong con khôn lớn nên người. Mẹ còn đeo vào chân con vòng tròn bằng bạc có cái lục lạc kêu rang rảng với ý nghĩ của người xưa trừ tà ma, con không phải bị giật mình để ngon giấc ngủ. Miếng bánh tráng mẹ mua về bẻ nhai dòn dòn thơm phức ngày ấy còn đọng lại đến giờ. Sao hết những ngọt bùi quê má thân thương được. Điều nhớ nhất là “Cái sân trường có trái vông đồng rụng xuống…”. Sân trường rộng với bóng cây vông tỏa mát cho tuổi thơ sau những giờ học trong lớp, là nơi tung tăng nô đùa cùng các bạn. Nhà thơ không gợi tả sắc đỏ hoa phượng mùa hè chia tay, hay sắc đỏ của hoa vông có lá xanh gói nem hay làm thuốc, Xuân Diệu chỉ nhắc đến trái vông đồng rụng xuống. Cho bọn con trai các anh tranh nhau lượm làm bánh xe chạy đua chơi, thú vị nào quên!
Tim ta ơi, ta đố em ngủ được” về hình ảnh thân thương gắn bó kỉ niệm đẹp ngày nào ùa về, quê ngoại đã từng nuôi dưỡng tâm hồn anh trong sáng quá. Những xúc động lòng biết ơn khi thở hơi nước mắm vạn Gò Bồi đến giờ phút trở về Tuy Phước trào dâng trong trái tim vốn nhạy cảm của anh:
Bây giờ Tuy Phước rộng đồng tốt ruộng
Con đê ngăn mặn gió biển ru trời
Đập Thạnh Hoà kênh mương toả xanh tươi
Tiếng trạm bơm động ba hồ chứa nước
Một mảnh thịt của hồn ta – ôi Tuy Phước!
Bà Ngoại ta còn phảng phất ở đâu đây
Bánh ít lá gai, bánh ú mập đầy,
Hoa quả bốn mùa cũng từ ngoại mà ra tất cả…
Niềm vui dào dạt trước cảnh yên bình hiện ra trước mắt. Đó là con đê Khu Đông chạy dài ngăn mặn từ biển tràn vào, có đập Thạnh Hòa kiên cố giữ nước tưới tiêu cho mùa lúa bội thu, cho hoa quả xanh tươi. Anh yêu quá Một mảnh thịt của hồn ta – ôi Tuy Phước! Anh đang tận hưởng màu xanh trải dài tiếp nối từ biển trời đến ruộng đồng nơi khúc ruột tình quê. Giờ còn đâu để gọi ngoại ơi như thuở nào, cho ngoại tận hưởng không khí trong lành như hôm nay. Lòng biết ơn ngoại đã sinh ra mẹ, lòng biết ơn mẹ đã sinh ra anh. Biết ơn tấm lòng những người phụ nữ nhân hậu, giàu đức hi sinh như ngoại, như mẹ cho Bánh ít lá gai, bánh ú mập đầy/ Hoa quả bốn mùa cũng từ ngoại mà ra tất cả….
Xuân Diệu đã thật với lòng mình:
Đêm ngủ ở Tuy Phước để mà không ngủ
Thức với quê hương như vậy đã vừa đâu
Xin thơ ta được thức mãi về sau.
Với Tuy Phước, ngày nào còn đất nước

Đêm ngủ ở Tuy Phước để mà không ngủ” Câu thơ được lặp lại từ khổ thơ đầu nào phải bộc bạch giải bày hay mong được sẻ chia. Chính cảm xúc rộn ràng trong trái tim “cậu bé” về thăm quê ngoại. Những náo nức tuổi thơ ùa về sao ngăn được. Những khởi sắc quê hương sau ngày thống nhất đất nước. Nên không ngủ, ngủ không được, đố em ngủ đượcthức suốt năm canh, thức những ngôi sao, thức những lá cành,thức với quê hương như vậy đã vừa đâu, rồi Xin thơ ta được thức mãi về sau. Phải chăng những trăn trở suy tư của tâm hồn nhạy cảm khát khao cuộc sống, tin yêu đủ đầy, trào dâng lên giữa quê nhà trong tứ thơ anh. Có sao nói vậy, nghĩ sao thì viết vậy, không hề giấu diếm điều gì. Tình trước sau vẫn như một. Cũng có thể là sâu sắc mặn mà hơn thế kia. Đấy là phong cách thơ Xuân Diệu nên từng con chữ, câu từ như con sóng dạt dào trân trọng “Hôn mãi ngàn năm không thỏa” niềm tự hào đất nước, trong đó Gò Bồi Tuy Phước chính là máu thịt ruột rà Anh. Nơi đã ươm mầm xanh tỏa hương kết trái cho người con Tuy Phước, Việt Nam: Xuân Diệu. “Đêm ngủ ở Tuy Phước” là thực tế được viết trong lần về thăm quê nhà. Cuối bài Anh ghi lại hai khoảng thời gian (16/2/1982 – 25/2/1985).
Người Tuy Phước nhớ Xuân Diệu là nhớ đến “Đêm ngủ ở Tuy Phước”, là Thức với quê hương mình.
14.12.2011/ Nguyễn Thị Phụng.

Read Full Post »

Lâm Bích Thủy

Âu yếm. Tranh sơn mài.Phạm Lực

Từ trước tới nay, nói về “thơ tình” hay “mùa xuân” thì người ta chỉ nhắc tới Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Xuân Quỳnh … chứ mấy ai biết đến tình và xuân trong thơ linh Lân tức Yến Lan của Bàn Thành tứ hữu của miền đất vang lừng thế võ.

Ai đâu biết, có bao nhiêu suối tình và xuân trong thơ của nhà thơ Yến Lan. Những con suối tình đã âm thầm chảy không ngừng nghĩ, bền bỉ, dạt dào cho tình yêu quê hương và mùa xuân của nhân loại trong thơ Yến Lan. Đầu năm đến với thơ tình và xuân của Yến Lan để rung động trước vẻ đẹp của non sông đất nước và tình người cũng là để nhà thơ dắt ta đi qua cuộc hành trình nhân thế với những nét tế vi của cuộc sống.
Đề tài về tình yêu văn học nhân loại “nhiều như sao trên trời, như cát dưới biển” Đặc biệt là thơ mới 1930-1945 luôn choáng ngợp trong mọi cung bậc của tình yêu. Người ta cho rằng “Thơ Yến Lan không nằm ngoài qui luật đó. Nhưng thơ tình Yến Lan với cái riêng trong phong cách đã cho ra đời nhiều bài thơ tuyệt tác.” Đóng góp của ông trong mảng đề tài này là cái chất riêng khó gặp ở phong cách thơ khác cùng thời. Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” từng đánh giá thơ Yến Lan “có cái không khí là lạ nhưng nhẹ nhàng dễ khiến người ta thích.”
Sắc xuân và tình yêu của linh Lân như những con suối âm thầm chảy cả một đời thơ:
Mây mãi sa đà đình núi cao
Chim say tổ ấm chẳng rời nhau
Nếu không ngọn suối ra sông lớn
Một chút tình quê biết gửi đâu”
Ơn suối

.

Thật vậy, nếu tình yêu trong thơ Xuân Diệu được nhận định “Vừa có cái cao khiết của tâm hồn vừa có cái cường tráng lành mạnh của nhục thể” thì tình yêu trong thơ Yến Lan rất chân thật trong cảm xúc bởi được bao phủ lớp sương khói bàng bạc, huyền diệu, thơ mộng. Cảnh vật, con người được ông tả hết sức bình thường nhưng được nhà thơ phủ lên không gian thơ một lớp sương khói của thời gian.
Ai về xóm Cửi năm năm trườc
Đều thấy em ngồi dệt đoạn tơ
Quanh em vàng tựa trời gieo xuống
Vàng ở trong màu xuân lắm thơ
Vàng
Hình ảnh đẹp của cô thôn nữ đang ngồi quay tơ, dệt vải bình thường nhưng hình ảnh bình thường ấy của cuộc sống được nhà thơ vẻ đậm nét huyền diệu. Người đọc được chìm trong không gian vàng huyền hoặc, nhẹ nhàng và thơ mộng
Không biết tự bao giờ, nỗi buồn đã đi vào thơ ca, trải dằng dặc theo cuộc sống nhân loại. Với Nguyễn Du đó là nỗi đau của đời: Trong “Kiều”
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
Còn nữ sĩ Xuân Hương là nỗi buồn, ngán ngẫm cho duyên phận không trọn vẹn như mong ước (Tự tình)
Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại
Mảnh tình san sẽ tí con con
Xuân Diệu thì ngẫn ngơ buồn vì cô đơn bơ vơ, ngay trên mảnh đất quê hương
Hôm nay trời nhẹ lên cao
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn
Hàn Mặc Tử thì tái tê:
Thân tàn ma dại đi rồi
Rầu rầu nước mắt bời bời ruột gan
(Muôn năm sầu thảm)

.
Với tính cách hiền hòa, kín đáo và tế nhị, thơ tình Yến Lan không thể hiện sự đòi hỏi của ham muống mãnh liệt. Cả với nỗi buồn phải chờ đợi mỏi mòn Yến Lan cũng trải nó ra man mát:
Lầm lũi em đi chẳng nói năng
Vắng em anh cũng thắt buồng gan
Gần nhau hay phải xa nhau mãi
Mặt biển tình ta dải thẳng băng
Cam chịu

.
Tình yêu trong thơ ông dù dang dở, song không phải “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở/Đời mất vui khi đã vẹn câu thề” (Hồ Dzếch), bởi cái triết lý rất nhẹ nhàng mà thâm thúy của ông về qui luật cuộc đời:
Cái triết lý về thời điểm hạnh phúc cứ theo mãi kiếp người, dằn vặt, trăn trở. Cảm nhận về tình yêu thì nhẹ nhàng, trong sáng nhưng lại khắc khoải khôn nguôi
Em đi, ngày tháng biệt mùi tăm
Kén đã luân sinh mấy kiếp tằm
Một mảnh hồn ta còn đọng mãi
Trên vành nong úa sắc thời gian
(Mùa xuân này lạnh lắm em ơi).

.

Viết về tình yêu, Yến Lan thường mượn hình ảnh ẩn dụ “Thuyền và bến”. Đó là hình ảnh trở đi trở lại như một bài ca dao, nhưng thơ Yến Lan vẫn rất mới, mới ở thể thơ, ở cảm hứng thơ. Không hoảng loạn như Hàn Mặc Tử, không đắm say, cuồng nhiệt như Xuân Diệu, không kỳ bí như Chế Lan Viên; Yến Lan cứ nhẹ nhàng, từ tốn, giản dị như cuộc sống. Nhưng cuộc sống vẫn luôn vận động, biến chuyển với cái triết lý riêng của nó. Đó là nỗi buồn về những cuộc tình dang dở, là nỗi khát khao được yêu âm thầm mà mãnh liệt, là niềm tự hào được sống, được là tinh hoa và được liên đới với bao kiếp người:
Ta đang sống vì có người đã chết
Hồn kết tinh bằng bao nhớ thương xưa
Đời lớn nhanh và mạnh như bẹ dừa
Tôi là cả tinh hoa muôn thế kỷ
Sống phút sống của hàng ngàn thi sĩ
Mơ giờ mơ của bao cửa không gian
Mơ hồn xuân như đã mở thiên đàng
Tôi sống khỏe và hoa hồn độ nở
Những giọt bông hường

.
Tình yêu đôi lứa trong thơ Yến Lan không dữ dội, cuồng nhiệt mà đằm thắm, thiết tha lắm!

.
Vì với tình tôi phải nhẹ nhàng
Phải là ý ngọc, phải tim vàng
Phải là trọn vẹn, là trong sáng
Là một bài thơ khắc chữ nàng
(Đồng nội hồn tôi)
Còn thứ tình nào mảnh liệt hơn thế khi dòng trường giang không còn cuộn sóng và lòng người trở thành một bến đò của dĩ vãng, của ngàn năm đợi:

.
Em đi bờ bãi cũng theo đi
Sóng lặng trường giang trải phẳng lì
Từ ấy lòng anh làm cố độ
Câu thơ chờ đợi hóa chòm si
(Cố độ)

.
Quê hương trong mỗi người là sự mặc định của số phận. Người ta có thể có nhiều vợ, nhiều chồng nhưng quê thỉ mỗi người chỉ một mà thôi. Chính vì triết lý rất đời ấy, tình quê của Yến Lan không bao giờ đổi thay, không bao giờ chối bỏ.
Sống đời nô lệ, bị áp bức thơ ông thể hiện trạng thái “đau, ngơ ngẩn, sầu muộn, quặn mình, nức nở” đến tái tê trong “Bình Định vào năm 1935”.

.
Nhánh tòng bá có đau vì xứ sở
Chớ quặn mình thêm nức nở hồn tôi
Không được sống xin cho cùng được thở
Vạn lý tình trong gió ngọt xa xôi

.

Bao đời nay, thi sĩ yêu trăng trong thế bị động, vầng trăng là đối tượng để yêu để được say đắm thở than. Không hiểu sao, chỉ riêng Bình Định quê tôi, vầng trăng lại phát ra thứ ánh sáng đến diệu kỳ, lạ lẫm, để các thi sĩ sinh ra trên dải đất này đều bị ám ảnh. Thứ ánh sáng kỳ ảo đó, với Hàn, trăng ở xa đến vậy mà ông đã sở hữu được  để rồi: “Ai mua trăng tôi bán trăng cho” Ông say ánh trăng như ma cà rồng say máu:
Gió rít tầng cao trăng ngã ngữa
Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô
Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra
Say trăng

.
Ánh trăng trong thơ Xuân Diệu, thường gợi một không gian rộng đến choáng ngợp như một sự đối lập với nỗi cô đơn, nhỏ bé của con người:
Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá
Ánh sáng tuôn đầy các lối đi
………
Trăng sáng , trăng xa, trăng rộng quá
Hai người, nhưng chẳng bớt bơ vơ
Với Yến Lan trăng là chủ động, trăng ấp ủ, nó như chất vi lượng bồi bổ cho cơ thể:

.
Trăng đi từ tóc đi vào máu
Như sữa tuôn dòng chảy khắp thân
Tôi yêu trăng quá, mê trăng quá
Như má yêu môi, đến đến gần
(trích)    Bệnh trăng
Bởi vì chỉ có mình ông được ánh trăng vây phủ, bao bọc nâng niu vỗ về khi ông vừa lọt lòng mẹ trên bãi cát vàng dưới ánh trăng “Tôi lọt lòng ra giữa bãi trăng.. Từ đó ánh trăng là tình yêu là cội nguồn  Cho nên có hệ lụy là:

.
Từ thuở lên hai đã yêu trăng
Đã bồng đã ấp, đã nâng niu
Ban ngày tôi ngủ trong lòng mẹ
Lại ngủ trong trăng lúc tắt chiều.
(trích)    Bệnh trăng

.
Yến Lan đã nhẹ nhàng, đỉnh đạt bước vào làng thơ cùng “Bến My Lăng” với hình ảnh ông lái đò u buồn đợi khách trên bến sông đầy trăng huyền ảo, ánh trăng chạy dọc theo thời gian và chiếu sáng lung linh như một nhân chứng lạnh lùng chờ đợi khắc khoải suốt bao năm, mãi đây vẫn còn ám ảnh lòng khách thơ.
Khi dòng thơ mới chiếm lĩnh trên văn đàn, các thi sĩ thi nhau làm thơ tình yêu. Thơ tình Xuân Diệu thật giản đơn và hời hợt “Đố ai định nghĩa được chữ yêu” Không ai trả lời nên ông giải bày tiếp “Có khó gì đâu một buổi chiều/Gặp người con gái ngây thơ ấy/Rồi thương, rồi nhớ thế là yêu” Có lẽ tình yêu quá đơn giản như thế nên cuối cùng cuộc tình của ông không trọn bề.
Tình yêu đôi lứa mấy ai đong, đo, đếm, diễn tả được, cho dù muôn vạn chiếc máy tính siêu hiện đại. Thời gian, mọi thứ trở nên bất lực nhưng tình yêu trong thơ Yến Lan thì không, nó trở thành vĩnh cữu……..

.
Dồn lên thành thạch nhũ
Lớp phấn -đá – tình – em
Cuồn cuộn như bão tố
Cơn gió lộng hồn anh
Thời gian vút mủi tên
Em kể gì năm tháng
Tảng thạch nhũ tan ra
Bên gối người sấp mặt
Cơn bảo cũng chan hòa
Con suối tình dào dạt
Tình yêu của nhà thơ thật giản dị, hạnh phúc khi cuộc sống thanh bình ở một vùng quê, lúc ông cháu dạo chợ ngày Tết cổ truyền khiến ông trở nên tươi trẻ hơn

Ta đến hàng đồ chơi
Ngựa gỗ chen gà đất
Xem nghệ nhân vẽ vời
Có đậm màu dân tộc
Ta đến hàng sứ, sành
Chọn bình hoa chậu kiểng
Vui còn chú môn sinh
Đem biếu chùm lan biển

.
Sắc màu mùa xuân, hương vị Tết tràn ngập trong thơ ông mặc dù xuân nhà ông đến muộn hơn:
Vụng sắm cành đào không kịp tết
Ra giêng chợt hé một vài bông
Xuân người lả tả bay đi hết
Ngoảnh lại xuân ta mới chớm hồng .
Xuân muộn

.

Ngoài sắc xuân, tình đời, tình người nhà thơ không ước mơ gì lớn, ông chỉ chọn cho mình cái quí hơn – đó là tình người :
Mơ một mùa xuân đẹp
Tình đời rộng bao la
Chớ vin nhà chật hẹp
Cổng khép người lại qua

.
Thơ tình của Yến Lan thể hiện sự mạnh mẽ, nhưng tha thiết và nồng nàn. Thế mà đến giờ tôi chưa nghe ai nhắc một câu thơ tình nào của ông. Tiếc thật!…

Read Full Post »

Tối 20.12 vừa qua, những người yêu thích thơ Bùi Giáng một lần nữa lại có cơ hội gặp mặt và trò chuyện về thơ ông trong buổi tọa đàm thơ Bùi Giáng diễn ra tại Trung tâm Văn hóa Pháp (24, Tràng Tiền, Hà Nội).

 
 

Buổi tọa đàm được tổ chức nhân sự kiện cuốn thơ văn tinh tuyển mới nhất của cố thi sĩ mang tên “Đười ươi chân kinh” được xuất bản.

Bùi Giáng trong chiếc kính vạn hoa

Đó là cảm nhận của nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn, cũng là một thành viên trong đại gia đình thi sĩ Bùi Giáng, về nhân vật được coi là “hiện tượng” của thi ca Việt Nam hiện đại này. Chỉ cần điểm qua một cách ngẫu nhiên nhan đề của một số trong rất nhiều bài viết về Bùi Giáng, ta cũng có thể hình dung phần nào về chiếc kính vạn hoa ấy: “Bùi Giáng, một hồn thơ bị vây khốn”, “Bùi Giáng, một tâm hồn mênh mông ảo diệu”, “Bùi Giáng, giang san một gánh dị thường”, “Cuộc hòa giải vô tận: trường hợp thơ Bùi Giáng”… Theo nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn, tất cả những ai đến với Bùi thi sĩ đều được ông trao tặng cho chiếc kính vạn hoa ấy, để thấy mình như vui hơn, đẹp hơn, sâu hơn, “vô ngần trong bóng nguyệt”.

Và cũng trong chiếc kính vạn hoa ấy, Bùi Giáng hiện lên với những hình ảnh khác nhau, thiên tài hay kẻ điên cũng chỉ cách nhau một lằn ranh mỏng. Thơ văn Bùi Giáng không phải ai cũng tiếp cận được, cũng như con người ông, bạn bè thân quen hiểu thì xem ông như một “lão ngoan đồng” lúc nào cũng hồn nhiên, thơ trẻ. Người lạ không biết thì nghĩ ông điên loạn, “dở hơi”. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo kể lại lần đầu tiên gặp mặt Bùi Giáng ở Sài Gòn: “Đó là ấn tượng khó quên với hình ảnh một ông già tóc bạc ngồi sau chiếc xe thồ, nhưng không ngồi theo kiểu thông thường, mà là ngồi quay lưng lại với anh lái xe, hai tay giơ lên trời như đang đàm đạo với trời xanh. Tôi vẫn băn khoăn về cái dáng ngồi ấy của Bùi Giáng, như là quay lưng lại với tương lai để nói chuyện quá khứ, hay là quay lưng với tất cả những gì xuôi chiều để nói những điều “ngược”: ngược thời gian, ngược với tư duy thông thường…?”

Còn nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn thì kể, hầu như chưa bao giờ thấy Bùi Giáng làm việc, chỉ thấy ông suốt ngày như thế, rong chơi, đùa giỡn với cuộc đời. “Có lần ông vào nhà tôi, thấy mấy chậu hoa lan đẹp liền tròng vào cổ rồi chạy ra đường chơi, ông bảo “Hoa đẹp thế sao lại để một mình chú thưởng, phải mang ra cho thiên hạ cùng ngắm!”; rồi lại có lần ông rượt theo cô dâu ở đám cưới vì thấy cô dâu đẹp quá, kết quả là bị người nhà cô dâu đánh cho “thừa sống thiếu chết”…” – ông Sơn kể lại.

Thế nhưng cũng chính Bùi Giáng ấy, lại có thể ngồi đọc thơ vanh vách cho người khác chép lại, đọc liền một mạch, đọc không ngừng nghỉ. Thơ nói mà hay như thơ viết, có logic, có hệ thống, có triết học hẳn hoi. Cũng chính Bùi Giáng ấy trong một ngày có thể viết tới năm, bảy trăm trang sách. Không chì làm thơ, ông còn dịch thuật, phê bình văn học. Người ta bảo ông đọc nhiều quá nên chữ nghĩa đã ngấm cả vào người, nên lúc cần thì cứ thế mà “tuôn” ra, không cần thời gian suy nghĩ, đắn đo, cân nhắc.

“Đười ươi chân kinh” – một Bùi Giáng thuần khiết
 
.

Có mặt trong buổi tọa đàm, dịch giả Nguyễn Nhật Anh, người biên soạn cuốn “Đười ươi chân kinh” của Bùi Giáng chia sẻ: “Hiện tại có một nghịch lý đang tồn tại khi nói về văn thơ Bùi Giáng. Là một tác gia lớn, với khối lượng tác phẩm đồ sộ hàng trăm đầu sách, nhưng giờ đây, việc đọc và tiếp thu Bùi Giáng lại có tác dụng ngược. Di sản khổng lồ ông để lại trở nên khó tiếp cận với quá nhiều tạp nham, lặp lại, không rõ ràng… Xuất bản miền Nam trước 1975 thường in tác phẩm của Bùi Giáng theo kiểu viết gì in nấy, để lại một Bùi Giáng mênh mông hỗn tạp, thượng vàng hạ cám, và hẳn là “tẩu hỏa nhập ma” trong những thời kỳ “điên rực rỡ”. Đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến những quan điểm trái ngược nhau về con người và thơ ca Bùi Giáng”.

Bởi vậy, “Đười ươi chân kinh” xuất bản lần này đã làm nhiệm vụ gạn lọc, bỏ đi những thứ tạp nham, trôi nổi và giữ lại một Bùi Giáng thuần khiết, một Bùi Giáng rất vui, nhưng cũng rất triết, rất sâu. Tuyển tập dành phần ưu tiên cho những thi phẩm của Bùi Giáng xuất bản trước 1975, thời kỳ Bùi Giáng vẫn còn là một “trung niên thi sĩ” đích thực. Ngoài ra, cuốn sách cũng dành một chương cho những câu thơ lẻ xuất thần được nhiều người yêu thích của Bùi Giáng, những câu thơ như: “Yêu cầu cô bán cho tôi/ Một bó rau muống chịu chơi quê nhà” hay “Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi/ Đi lên đi xuống đã đời du côn”

Bên cạnh thơ là phần dành cho đoản văn và tiểu luận, cùng với một tập truyện chưởng “Kim kiếm điêu linh” của tác giả Ngọa Long Sinh do Bùi Giáng dịch. Tất cả nhằm tạo nên một bức họa đầy đủ nhất về con người và sự nghiệp của “đười ươi thi sĩ”, một huyền thoại sống đúng nghĩa, một gương mặt văn học đa tạp thuộc loại kỳ lạ nhất, người được nhà thơ Thanh Tâm Tuyền ví như một thiên tài – “thiên tài tự hủy ghê gớm nhất của thi ca Việt Nam hiện đại”.

 

Read Full Post »


Lời giới thiệu

BÀN TAY ẤY VẪN THANH XUÂN

Vẫn là câu chuyện về tình yêu và cái chết.

Vẫn là câu chuyện khổ đau và hạnh phúc

Vẫn là câu chuyện hỗn loạn và bình an.

Nhưng Bàn tay nhỏ dưới mưa vẫn mang một phong vị đặc thù.

Người đàn bà tên là Gấm tìm kiếm sức mạnh để sống và để chết trong một phối cảnh đáng sợ: trái đất đang chết dần.

Con người tham lam

Và trái đất cạn kiệt.

Thiên nhiên, bà mẹ của phong nhiêu, từ nhiều năm qua đã sống lây lất đoạn trường giữa một nền văn minh điên loạn.

Nhiên liệu sống liên tục bị đốt cháy một cách phí phạm và vô ích trong cuộc đời hối hả cuồng quay.

Người đàn bà khát sống ấy đã chết trên một cõi đất hoàng hôn hấp hối:

“Nhìn nét thanh thản và mãn nguyện trên khuôn mặt Gấm tôi hiểu là người tôi yêu đã chết, nhưng không phải vì ung thư. Cô ấy chết vì ngộp thở khi bay đến đỉnh cao và hạnh phúc. Tình yêu và sợ hãi mất mát đã gặm nhấm buồng phổi, nó đốt cháy nhiên liệu sống và triệt tiêu toàn bộ năng lượng sinh học của nàng.

Thế giới bừng lên rồi chìm trong màn đêm đen kịt, chỉ có một tia sáng duy nhất là từ trái tim tôi, cháy bùng như ngọn đuốc, bay vút lên trời, quán chiếu vũ trụ này trong một niềm đau vô cùng vô tận.

Cái phong vị nồng thắm của tác phẩm nằm trong những nghịch lý mà nó muốn hóa giải: sống – chết, khổ – lạc, sáng – tối, mất – còn, ngã – tha, cũ – mới, tự nhiên – văn minh, vô thường, vĩnh cửu,…

Chọn điều này sẽ phải bỏ điều kia, và như vậy khác nào đánh mất cả hai?”

Nhân vật và người kể chuyện muốn vượt qua vô vàn tình huống phân biệt đó để trải nghiệm cái nhất như hoan lạc, một tư tưởng nhuốm màu sắc Phật giáo, đặc biệt phảng phất hương vị Kinh Duy Ma.

 

Bàn tay nhỏ dưới mưa là một tác phẩm đương đại, pha lẫn tiểu thuyết và tiểu luận, trữ tình văn xuôi và ký sự báo chí. Lằn ranh giữa những thể loại ấy dường như bị xóa nhòa, như một chiếc cầu trong mưa trong một bức tranh ấn tượng.

Dù vậy, ta vẫn nhìn thấy “bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả, một bàn tay vẫy gọi của tình yêu?

Tác giả Trương Văn Dân không còn trẻ, nhưng bàn tay ấy vẫn thanh xuân.

Để viết những dòng văn đầy xao xuyến, đầy nhục cảm, đầy tâm linh, đầy kích động mà cũng đầy bình an.

Nhà Văn Nhật Chiêu

Bàn tay nhỏ dưới mưa

Trích đoạn 2        Ám ảnh

Tóm tắc: Sau một thời gian chung sống cực kỳ hạnh phúc thì “tôi chợt hiểu  rằng hạnh phúc không phải là thứ mà ai cũng được quyền sở hữu. Có hay không, đó là ý muốn của thần linh. Chỉ có các thần  thánh mới có thể tạo nên điều hoàn hảo; còn con người, dù tài hoa cách mấy cũng không được phép.” Và sự tồn tại tình yêu tuyệt vời của tôi và anh là một sự xúc phạm. Mà một khi đã xúc phạm đến thần linh thì trước sau cũng bị trừng phạt.”

Khi người đàn ông đi công tác, bị tai nạn và phải nhập viện ở xa. Và cũng trong thời gian này Gấm lại phát hiện mình bị ung thư.

Đây là trích đoạn về nỗi ám ảnh và cơn ác mộng của Gấm:

 

 “….Tôi chả tâm sự với ai về những gì đang xảy đến với mình. Bởi cái làm tôi đau thì chỉ mình tôi cảm thấy đau. Điều làm tôi lo lắng chỉ mình tôi lo lắng. Trong nỗi đau này chắc chẳng ai hiểu được tôi mà có lẽ tôi cũng chẳng hiểu được ai. Tôi nghĩ mọi an ủi xã giao vô thưởng vô phạt của bạn bè đều vô ích. Nó chỉ làm mình tủi thân. Vả lại, do tính cao ngạo, tôi hoàn toàn không muốn biến thành đối tượng cho sự thương hại của bất kỳ ai.

Nhưng còn anh? Tôi cũng chưa nói gì với anh về căn bệnh!

Tôi sẽ phải làm gì đây? Nói cho anh biết sự thật hay âm thầm trốn chạy? Tôi sẽ phải làm gì? Thế nào là chọn lựa “đúng” trong lúc này?Tôi không biết. Băn khoăn, tôi thường hay đến bên cửa sổ, ngơ ngẩn nhìn người qua lại. Mỗi con người đều có  vẻ vội vã, hấp tấp đến, vội vàng đi. Tôi nhìn họ,  một chút hờn ghen  trỗi dậy vì tất cả đều biết mình sẽ đi đâu, còn tôi chẳng biết mình sẽ làm gì.

Chẳng có ai nói cho tôi biết.    ”

………

 

“…Trời gần sáng nhưng người tôi ê ẩm, không dậy nổi. Đột nhiên tôi nghe có  tiếng động nhỏ trên sàn. Tiếng động như cào nhẹ, tôi nhìn thấy những vết màu đen, to bằng ngón chân cái, như những trái táo tàu nằm rục rịch trên sàn. Ban đầu ít, thưa thớt. Thoắt cái,  táo từ trần nhà rớt xuống. Mỗi lúc mỗi nhiều. Lăn. Di chuyển. Chậm chạp. Bỗng một trái chạy lướt qua, bất ngờ hiện thành một con gián. Rồi một con đen đúa khác chạy theo, con thứ  ba, thứ tư…những bước chân nhỏ xíu thoăn thoắt chạy. Vài con đứng giương râu nhìn quanh quất. Có một con chạy lạc, bò lên tấm chăn đang đắp trên vùng ngực. Tôi hốt hoảng, muốn hất nó nhưng  cánh tay cứng đờ, không vung lên nổi.

            Thế rồi nhiều con gián khác, mười, hai mươi… hằng trăm con đổ ra từ mọi phía. Chúng leo lên giường, bò lên tủ, chạy trên  thảm, tràn ngập khắp  căn phòng. Thoắt một cái, chúng hiện diện khắp nơi…có con còn dám chui vào chăn. Tôi lạnh mình, hai tay bấu chặt mép chăn, ép người sát nệm. Nhưng cảm giác rùng rợn của những que chân bò lướt trên da, bò lên bò xuống dọc theo cơ thể vẫn không chấm dứt.Tôi giãy dụa, ngồi bật dậy, tung mền, huơ tay cố hất …nhưng  hai bàn tay lạc lõng, quơ vào khoảng không.

Hoảng, tôi hét lên và muốn nhảy xuống đất, nhưng đôi chân cứng ngắt, không đỡ nổi thân mình. Có một sức lực vô hình giữ lại khiến không cựa quậy.

Tôi thu mình, nửa nằm  nửa ngồi. Lưng dựa vào thành giường.

Chết ngất.

Những con gián vẫn hùng hổ chạy. Tôi chỉ nhớ là cảnh đó diễn ra rất lâu. Không dứt.

Cuối cùng tôi ngã lăn ra.

Mất hẳn mọi ý niệm về thời gian.

Rồi tôi tỉnh lại thấy mình nằm dưới đất. Đau đớn. Khắp người ê ẩm. Một nỗi khiếp sợ vẫn bám lấy. Toàn thân tôi mệt mỏi một cách tuyệt vọng.Tôi cảm thấy như gã thần chết đang sờ mó trên thân thể mình. Trong đời người sao lại có thể cảm thấy cái chết đến gần mình đến thế. Tôi nghe được hơi thở của gã. Một thứ mùi khét lẹt như nhựa cháy.

Căn buồng mất ánh sáng, tối lờ mờ.

Màn đêm đắng nghét.

Có một bàn tay vừa chạm lên người tôi.

Tôi hét lên….

 Kinh hoàng.

Lúc mở mắt thì thấy anh ngồi trong phòng đang ve vuốt lấy đầu tôi.

            Thế là người đàn ông quan trọng nhất thế giới này đã trở về!

            Xương thịt của tôi mà định mệnh đã từng muốn cắt lìa!

 

Anh đặt một bàn tay lên trán tôi. Hơi ấm của bàn tay chồng lên nỗi lạc lõng, lo âu. Anh giữ lại thật lâu và cho tôi cái cảm giác là tôi sẽ không còn bơ vơ nữa. Anh áp đầu tôi vào ngực anh rồi thì thầm: “Em vừa  mới đi qua địa ngục phải không?”

 

Read Full Post »

Tạp Bút

Trần Minh Nguyệt

 

 

            NHÀ THƠ LỚN XUÂN DIỆU – người con thân yêu của xứ Vạn Gò Bồi, Tùng Giàn –  Phước Hòa, Tuy Phước đã vĩnh biệt chùng ta thấm thoát đã 26 năm ! 26 lần tôi được dịp về đây – nơi căn nhà lưu dấu kỷ niệm cuộc đời và sự nghiêp thơ ca của Ông – để dâng nén tâm hương tưởng nhớ Ông trong nỗi thương tiếc, ngậm ngùi!

           Gần 70 năm có mặt với đời, và hơn nửa thế kỷ hiến dâng sự sống cho thơ ca – nhà thơ Xuân Diệu đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp nghệ thuật to lớn,  và một niềm tự hào sống mãi với Quê Hương. Với 6 tác phẩm được xuất bản, hơn 470 bài thơ đã được giới thiệu- nhà thơ Xuân Diệu đã quặn lòng qua bao nỗi xúc động, đã thở vào thơ bao nhịp đập của trái tim Yêu Thương hồn nhiên và cuồng nhiệt, và đã nhỏ xuống trang thơ bao dòng nước mắt vì Quê Nhà và Dân Tộc…

           Nhà thơ Hàn MặcTử lúc sinh thời đã gởi tặng cho nhà thơ Xuân Diệu tập thơ đầu tay của ông, với lời ghi tặng như sau: “ Tôi gởi tặng Anh tập thơ của tôi, vì đọc thơ Anh tôi thấy nỗi đau của tôi được xoa dịu nhiều lắm! “. Nhà văn – nhà nghiên cưu văn học Hoài Thanh cũng đã viết về Xuân Diệu gần nửa thế kỷ trước trong tác phẩm “ Thi Nhân Việt Nam “ : “  Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới; nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất của thời đại “ . Gần đây, học giả người Nga – ông Marian Tcasep cũng đã nhận định: “ Xuân Diệu khác với các nhà thơ khác ở chỗ thơ Anh thực tế, duyên dáng và nhạc điệu du dương, thánh thót. Trong thơ Xuân Diệu là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trữ tình và tính công dân cao cả! “.  Nhà thơ Xuân Diệu đã rất xứng đáng được các viện sĩ viện hàn lâm nước cộng hòa dân chủ Đức bầu là “ Viện sĩ thông tấn viện hàn lâm nghệ thuât nước CHDC Đức “ vào năm 1983, và vinh dự nhận lãnh danh hiệu cao qúy nhất của văn học nghệ thuật năm 1996 :  “Huân Chương Hồ Chí Minh”

            Suốt cuộc đời gắn bó với Thơ với bao đổi thay của vận nước – nhà thơ Xuân Diệu vẫn luôn trài lòng hiến dâng cho Tình Yêu, ca ngợi cuộc sống, niềm vui và đam mê sống. Viết về Tình Yêu –  là nhà thơ đã ca ngợi tuổi trẻ, ca ngợi mùa Xuân, ca ngợi thiên nhiên – bởi chính đó là tổ ấm, là cái nôi của Tình Yêu dành cho đời người:

          “… Anh xin làm sóng biếc

                  Hôn mãi cát vàng em

                  Hôn thật khẻ, thật êm

                  Hôn êm đềm – mãi mãi

 

              …Anh không xứng là biễn xanh

                  Nhưng cũng xin làm bể biếc

                   Để hát mãi bên gành

                   Một tình chung không hết “

                                 ( Biển )

 

             Trong bài thơ “Tình Thứ Nhất “, nhà thơ Xuân Diệu đã từng khẳng định:

           “ Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất

              Anh cho em, kèm với một lá thư

               Em không lấy – và tình ta đã mắt

               Tình đã cho không lấy lại bao giờ “

             Và chúng ta hãy lắng lòng nghe nhà thơ tâm sự như lời trần tình thẳm sâu tận đáy lòng mình qua bài “ Vì Sao “ :

            “ …Rồi một ngày mai tôi sẽ đi

                Vì sao? Ai nỡ hỏi làm chi

                Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ qúa

                Chỉ biết yêu thôi – chẳng hiểu gì “

             Nhà thơ Xuân Diệu đã rất hồn nhiên với “ tình đã cho không lấy lại bao giờ “ và quá đổi chân thành trước cuộc sống “ Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì “ . Qua 3 biến đổi trong đời thơ của Xuân Diệu –  nhưng chúng ta vẫn luôn nhìn thấy dòng thơ Ông mãi mãi là nổi khát khao mảnh liệt đến với cuộc sống, luôn hòa nhịp giao cảm với đời – làm nên những trang thơ bất tuyệt sống mãi với Quê Nhà và Tình Người!

            Tấm lòng thiết tha cao khiết ấy đã thể hiện rõ nét trong bài thơ Ông viết sau 30 năm được trở lại Quê Ngoại :

              “  …Ôi biển Qui Nhơn, biển đậm đà

                      Thuyền đi rẽ sóng, sóng viền hoa

                      Cám ơn quê má muôn yêu dấu

                      Vẫn ấp yêu hoài tuổi nhỏ ta “

           Và quê Mẹ Gò Bồi, Tùng Giản, Tuy Phước đã sống mãi trong thơ Ông với tuổi thơ dong ruổi đó đây, với bao kỷ niệm đằm thắm ngọt ngào bên Mẹ không bao giờ quên:

              “ …Buổi chiều trong bếp nấu cơm

                     Má đang lặt rau, lửa nhè nhẹ cháy

                     Một buổi chiều trong vườn sạch lá

                     Đất còn mang dấu chổi quét ban mai “

          Bài thơ “ Đêm Ở Tuy Phước “ là một trong những bài thơ viết về Quê Nhà hay nhất của Ông : Tuổi thơ, kỷ niệm, hòai vọng, ước mơ đã ùa về trong Trái Tim nồng nhiệt thương yêu của Ông như bao đợt sóng thân thương của xứ Van Gò Bồi thuở nào ngày đêm vẫn rì rào mời gọi :

             “ Đêm ngủ ở Tuy Phước là để mà không ngủ

                Những con dế cùng tôi thức suốt năm canh

                Thức những ngôi sao, thức những bóng cành

                Đêm quê hương thương cái hương của đất

            …Ngủ không được bởi gió nồm từ biển lên cứ nhắc

                  “ Trọn mình anh đã nằm giữa lòng tôi

                      Khi má anh sinh ra

                      Anh dã thở hơi nước mắm ngon của vạn Gò Bồi    

                      Nên thơ anh tới giờ vẫn còn đậm đã thấm thía “

              … Đêm ngủ ở Tuy Phước để mà không ngủ

                   Thức với quê hương như vậy đã vừa đâu

                    Xin thơ ta được thức mãi về sau

                    Với Tuy Phước, ngày nào còn đất nước “

             Sau những năm tháng đất nước được hoàn toàn thống nhất – dường như nhà thơ Xuân Diệu đã dành trọn thời gian viết về quê nhà, viết về Miền Nam, để khơi dậy những tình cảm, những kỷ niệm sâu sắc đã từng được ấp ủ, thao thức của mình. Đó là những hình ảnh đã được Ông chắt lọc qua nhiều năm tháng, để chỉ còn lại những gì thực sự là máu thịt, là rung động cho thơ.

            Ông đã tâm sự:

             “  Hãy để cho tôi được giả từ

                 Vẫy chào cõi thực để vào hư

                 Trong hơi thở chót dâng trời đất

                 Cũng vẫn si tình đến ngất ngư “

             Nhà thơ Xuân Diệu của chúng ta đã “ si tình “ đến “ hơi thở chót “ – theo nghĩa, đây là một “ khối tình lớn “ mà suốt đời Ông đã tận tụy hy sinh cho Quê Hương và Dân Tộc!

            Khái quát về cuộc đời và thơ của Xuân Diệu – nhà thơ Thanh Thảo đã viết rất chân tình:

               “ Anh quen sống như người nghèo đi chợ

                   Tính chi li từng phút từng giây

                   Khoèo câu thơ như thuở nhỏ khoèo me

                   Dọc phố hè Quinhơn lắm bui!(…) “

            Sau 26 năm ngày Xuân Diệu đi xa – hôm nay, ngày 18 tháng 12 năm 2011 – Tôi, người may mắn được sinh ra cùng quê hươngTuy Phước – kẻ hậu sinh yêu quý thơ Ông – thành kính tưởng nhớ Ông với đôi vần thơ góp nhặt trong sự nghiệp thi ca đồ sộ của Ông – để tỏ lòng ngưỡng mộ và tri ân, là những thế hệ tiếp bước Ông trên cùng quê hương Tuy Phước thân yêu. để cùng góp phần nhỏ dựng xây cho Quê Nhà ngày càng thêm khởi sắc, và giàu đẹp.

                  Xin kính dâng lên Người chút lòng của người em nhỏ đồng hương nhưng rất nặng tình nhân ngày giỗ thứ 26 của Người :

                   “ Bóng Người dù đã khuất xa

                      Nhưng tình còn mãi, đậm đà ngàn năm

                      Thơ Người là ánh Trăng Rằm

                      Sáng soi khắp nẽo tối tăm cuộc trần

                      Thơ Người “ thức mãi về sau “

                      Tháng năm hồ dễ thay mầu Trái Tim! “

 

 

Tưởng nhớ nhà thơ Xuân Diệu

Nhân ngày giỗ thứ 26

Phước hòa, ngày 18 tháng 12 năm 2011

 

Read Full Post »

Hoàng Lộc

đã biết rằng yêu nữ sinh rất khổ

nào hay yêu cô giáo lại khổ hơn

ta, trái đất – một đời quay lảo đảo

một đời yêu mà chẳng thể tròn vòng

.
ai áo trắng của ngày xưa biền biệt 

vang trong hồn nỗi nhớ cuối tà huy

để thơ dại tưởng sắc màu chỉ một

trắng không màu là màu trắng không phai

.

em mùa thu áo vàng, mùa đông áo tím

và mùa xuân cũng trắng nõn sân trường

mỗi sắc áo – mỗi sắc đời lồng lộng

ta bốn mùa sững sốt những trầm luân

.
một sắc áo một đời không giữ nổi

huống chi em trăm thứ áo, trăm màu

nên yêu nữ sinh khổ chi bằng yêu cô giáo

ta điếng hồn thêm mấy cõi xưa sau… 

_______________________
MỘT CHÚT TÌNH NHÂN NGÀY 20 Th 11

Bài “Thơ Tặng Cô Giáo” của Nhà thơ Hoàng Lộc tôi vừa  tìm được trong ngăn tủ sách cũ sau đây- có lẽ đã được anh viết từ rất lâu rồi – khi còn là cậu học sinh, hay sinh viên ? Nhất là hãy còn ở vào cái tuổi tình thơ mơ mộng của ” cái thuở ban đầu” bước vào những cuộc tình ” mây gió” xa xôi?  Thế mới có…” thơ tặng cô giáo” chứ nhỉ? ( nếu viết sau khi HL làm Thầy giáo thì chắc là sẽ khác rồi?).

           Vẫn giọng ” thơ tình” hồn nhiên mà sâu – cười cợt mà đau/ HL viết:
             ” Đã biết rằng yêu nữ sinh rất khổ…

             Nào hay yêu cô giáo lại khổ hơn?

             Ta,trái đất – một vòng đời lảo đảo,

             Một đời yêu mà chẳng thể tròn vòng!
         HL có trái tim rất  ” nhạy cảm” với chuyện yêu thương-nên điều anh trải nghiệm đã giải bày thật chí lý: ” Yêu nữ sinh-khổ! Yêu cô giáo – càng khổ! “. Tại sao vậy? Bởi một lẽ đơn giản mà như một định luật  ” Yêu là chết ở trong lòng một ít”( XD) mà ! Chết nhiều hay chết ít – cũng là chết rồi! Biết vậy -nhưng có mấy ai không yêu? . Nhà thơ Dương Kiền có cả một tập thơ  với nhan đề ” Thú Đau Thương” là vậy. HL không nói thẳng ra, nhưng lời thơ anh cũng quá ngậm ngùi: ” Ta, trái đất -một vòng đời lảo đảo/ Một đời yêu mà chẳng thể tròn vòng”. Một đời yêu – trân quý Tình Yêu – mà vẫn chưa hề tròn mơ ước?  Hãy theo dõi nhà thơ tâm sự:
                 ” Ai áo trắng của ngày xưa biền biệt,

                 Vang trong hồn nỗi nhớ cuối tà huy…

                 Để thơ dại tưởng sắc màu chỉ một,

                 Trắng không màu là màu trắng không phai!
          Nhà thơ dẫn chứng cho chúng ta biết ” yêu nữ sinh rất khổ” ấy mà! Lời trách thầm rất êm – mà cũng lắm da diết như vọng lại từ chốn  ” cuối tà huy”xa xưa nào của một thời kỷ niêm khó mờ phai! Vì ” thơ dại tưởng sắc màu chỉ một ” nên tận trong lòng vang mãi nỗi niềm đau! Màu trắng ( không màu) của tà áo dài nữ sinh thướt tha của một thởi thương thầm nhớ trộm cũng đã tàn phai theo tháng năm để nhà thơ phải bàng hoàng kêu lên:” Một đời yêu mà chăng thể tròn vòng”! – Yêu nữ sinh  khổ là vậy!

               Còn yêu cô giáo thì sao?
                  ” Em mùa Thu áo vàng, mùa Đông áo tím,

                 Và mùa Xuân cũng trắng nõn sân trường!

                 Mỗi sắc áo – mỗi sắc đời lồng lộng…

                 Ta bốn mùa sững sốt những trầm luân!

              Cô giáo đài các thục nữ trang nghiêm, nhưng vẫn thường thay đổi màu áo theo mùa – mỗi sắc màu là một ” sắc đời lồng lộng” – như những mơ ước kia cao xa mãi với cuộc tình mà nhà thơ hàn sĩ thì ” bốn mùa sững sốt những  trầm luân” ! Những lận đận chìm nỗi của dòng đời cứ mãi ập đến xô dạt người thơ suốt tháng năm dài lang bạt để bao lần phải ” sững sốt”  tra vấn :
           “Một sắc áo một đời không giữ nổi,

           Huống chi em trăm thứ áo trăm màu?

           Nên yêu nữ sinh khổ sao bằng yêu cô giáo…

           Ta điếng hồn thêm mấy cõi xưa sau! “
               Đọc đến đây – tôi hiểu  HL  dù có ” điếng hồn” – thì tâm hồn nhà thơ chắc cũng sẽ luôn rộng mở  để đón những cái ” thú đau thương ” kia tràn ngập hồn mình ?- Cái tâm hồn thi sĩ vốn suốt đời vẫn hồn nhiên phiêu lãng ước mơ ấy chắc là sẽ còn ” sững sốt ” dài dài?! Nhưng tôi tin – tâm hồn Nhà thơ vẫn mãi xanh niềm khát vọng Yêu Thương cho đến ngàn ” cõi xưa sau ” ấy…

          Thơ là cả tấm chân tình một thời chứ không phải “ chạy theo “ cái hời hợt để mong cầu cái ngoài thơ ca vị kỷ, riêng tư! Tâm trạng của HL tuy rất riêng, mà cũng là cái chung khiến tất cả chúng ta có được phút giây hồi tưởng êm đềm!

            Xin chia sẻ đôi điều thô thiển cùng Nhà Thơ – nhà giáo Hoàng Lộc & bằng hữu cho vui nhân ngày 20 tháng 11 khó quên! Cám ơn H L vậy…
M A N G  V I Ê N  L O N G

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »