Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Âm nhạc’ Category

               Trương Đình Ngộ

                                Thượng thanh khí tiết ra nguồn tinh khí

                               Xa xôi đời trăng mọc nước Huyền Vi

                                Đây Miên Trường, đây Vĩnh Cữu tề phi

                                Cao cao vượt hai hàng bóng vía

 

Sao anh không về chơi thôn Vỹ                        Trời nhật nguyệt cầu vồng bắc tứ phía

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên                  Ôi Hoàng Hoa, hồn phách đến nơi đây

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc                    Hương ân tình cho kết lại thành dây

Lá trúc che ngang mặt chữ điền                       Mong manh như lời nhớ thương hàng triệu.

 

Gió theo lối gió mây đường mây                      Đàn cung bậc gió dồn lên âm điệu

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay                   Sững lòng chưa, say chấp cả thanh bai

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó                    Sang chơi thôi, sang chơi thôi, mà ai ?

Có chở trăng về kịp tối nay?                            Thu đây rồi bước lên cầu Ô Thước

Mơ khách đường xa, khách đường xa.            Đừng nói buồn mà không khí nao nao

Áo em trắng quá nhìn không ra                       Để chơi vơi này bông trăng lá gió

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh                        Để phiêu diêu này tờ thơ vàng vọ

Ai biết tình ai có đậm đà?                                 Để dầm dề hạt lệ ta đôi ta.

 

Thinh không tan như bào ảnh hư vô

Dải Ngân Hà biến theo cầu Ô Thước

Và ước ao và nhớ nhung lần lượt

Đắm im lìm trong mường tượng buồn thiu !

Việc chúng tôi sắp bài thơ Ở Đây Thôn Vỹ Dạ và trích đoạn của bài thơ Sao, Vàng Sao như trên có dụng ý. Không phải chỉ vì hai bài này được sáng tác trong thời điểm gần nhau, cũng không chỉ vì hai bài này nằm kề nhau trong tập Thượng Thanh Khí, và không phải chỉ vì mạch thơ của hai bài liên hệ mật thiết với nhau.

Hai bài thơ Ở Đây Thôn Vỹ DạSao, Vàng Sao được viết vì một người, cho một người và gửi đến người ấy: người con gái Huế thùy mị  Hoàng Thị Kim Cúc (Hoàng Cúc, Hoàng Hoa). Bao năm tháng qua đi, thơ Hàn ký gửi những bạn thơ tin tưởng nhất có thể thất lạc, hai bài thơ chép tay của Hàn Mặc Tử vẫn được Hoàng Cúc gìn giữ như kỷ vật trang trọng nhất.

Sao anh không về chơi Thôn Vỹ , lời mời như một ân cần thăm hỏi dịu dàng của người con gái Huế đã mang đến xúc động lớn nhất trong những ngày tháng cuối đời Hàn. Tất cả sương khói của bến Vỹ Dạ lúc hừng Đông hay một đêm trăng (trích thư Hàn Mặc Tử gửi Hoàng Hoa) làm gợi nhớ lưu luyến thuở ban đầu. Hàn viết Ở Đây Thôn Vỹ Dạ lúc biết mình sắp qua đời, trong thơ có nhạc, nhẹ nhàng thanh thoát. Về thôn Vỹ để ngắm vẻ đẹp của hàng cau trong nắng mới lên là muốn rũ sạch bụi trần thế.

Câu (tự) hỏi cuối bài thơ cũng mơ hồ như câu hỏi đầu bài mang bao nhiêu lưu luyến, lưu luyến của người biết mình sắp ra đi mãi mãi. Chúng ta tìm được câu trả lời trong giọng Huế êm ái của người con gái Huế Camille Huyền hát như lời ru trong tiếng kinh cầu.

 

Ai biết tình ai có đậm đà?

Có đậm đà[1]

Tiếng đàn và giọng hát, tất cả êm đềm (tranquillo), là lúc Hàn Mặc Tử đã tìm lại được Bình An trong Tâm để chuẩn bị cuộc hành trình về Cõi Vĩnh Hằng.

 

***

 

Sao, Vàng Sao là bài thơ viết cho và gửi đến Hoàng Hoa sau bài Đây Thôn Vỹ Dạ. Bạn bè Hàn đăng báo bài thơ này dưới tựa đề Đừng cho lòng bay xa, hai tuần sau ngày nhà thơ qua đời. Trong mường tượng của nhà thơ những ngày sắp mất, Hồn thơ đã đến Cõi Vĩnh Hằng.

 

Thượng thanh khí tiết ra nguồn tinh khí

Xa xôi đời trăng mọc nước Huyền Vi

Đây Miên Trường, đây Vĩnh Cữu tề phi

Cao cao vượt hai hàng bóng vía

Camille Huyền phổ nhạc Sao, Vàng Sao bằng tiếng hát trơn (a cappella), Walther Giger hòa âm nhạc tứ tấu đàn dây (string quartet) Sao, Vàng Sao với giọng đọc thơ Camille Huyền. Cả hai bản Sao, Vàng Sao mang mang huyền thoại bất tận của không gian và thời gian trên miền Thượng Thanh Khí.

Trời nhật nguyệt cầu vồng bắc tứ phía

Ôi Hoàng Hoa, hồn phách đến nơi đây

Hương ân tình cho kết lại thành dây

Mong manh như lời nhớ thương hàng triệu.

Dù đã đến Cõi Vĩnh Hằng, cõi lòng Hàn vẫn còn yêu thương da diết, kéo hồn phách Hàn về bước lên cầu Ô Thước để tìm lại người xưa dù chỉ là trong một đêm huyễn mộng. Tiếng hát Camille Huyền, tiếng đàn hòa tấu có lúc mong manh như sợ làm vỡ tan hình ảnh và hy vọng đã vô cùng mong manh như lời nhớ thương hàng triệu.

Đàn cung bậc gió dồn lên âm điệu

Sững lòng chưa, say chấp cả thanh bai

Sang chơi thôi, sang chơi thôi, mà ai ?

Thu đây rồi bước lên cầu Ô Thước

Rồi hình tượng trong tiếng hát, trong nhạc hòa tấu trổi lên hân hoan khi những Chàng Ngưu Ả Chức được về thăm nhau cho thỏa lòng mong nhớ. Nền nhạc diễn cảnh cầu Ô Thước bắc trên sông Ngân

Sao! Vàng sao rơi đầy trên sóng nước

Đừng ngả tay mà hứng máu trời sa

Thôi kéo về đừng cho lòng bay xa

Thu vươn này, thu vươn ra như ý

Mau rất mau trong muôn hoa kiều mỵ

Mùa rất trai và ánh sáng rất cao

Đừng nói buồn mà không khí nao nao

Để chơi vơi này bông trăng lá gió

Để phiêu diêu này tờ thơ vàng vọ

Để dầm dề hạt lệ ta đôi ta.

Tầng thượng tầng lâu đài ngọc đơm ra

Khói nhạt nhạt xen vô màu xanh biếc

Tiếng huyền địch gò theo tia yến nguyệt

Đẩy đưa dài hơi ngào ngạt trầm mơ.

 

Sao! Vàng sao rơi đầy trên sóng nước đã cho thấy giữa đoàn tụ đã nhuốm màu chia ly, cái hạnh phúc ngắn ngủi giữa khung trời mưa máu.

Thinh không tan như bào ảnh hư vô

Dải Ngân Hà biến theo cầu Ô Thước

Và ước ao và nhớ nhung lần lượt

Đắm im lìm trong mường tượng buồn thiu !

Không gian nhạc nhạt nhòa trong hương trầm và hình ảnh cầu Ô Thước dần tan đi, tất cả chỉ là bào ảnh (illusion), còn lại chỉ nặng một nỗi buồn trong điệu nhạc và tiếng hát như lời kinh cầu cho Hồn Thơ Hàn Mặc Tử.

Vitznau, 18.02.2012

Trương Đình Ngộ


[1] Ba chữ duy nhất Camille Huyền thêm vào cuối bài thơ lúc phổ nhạc bài Ở Đây Thôn Vỹ Dạ cùng với Walther Giger để nhấn mạnh câu trã lời Có đậm đà.

Read Full Post »

.
Tiếc chi chuyện xa xưa,
lời đâu nói cho vừa,
như tình trong sách sử,
cho người đời khen chê.
.
Ta bên nhau ngày đó,
bao men ấm tuyệt vời,
bao niềm riêng hạnh phúc,
đâu biết rồi xa xôi.
.

Giữ cho nhau một chút,
hương ái ân đầu đời,
dẫu ngày nay xa cách,
lòng vẫn không xa xôi.

.

Lá xanh nay đã úa,
anh bơ vơ đêm dài,
mơ chi đời mãi đẹp,
cho nặng oằn đôi vai.

.

Thì thôi em yêu hỡi,
nhớ anh nhớ lấy lời,
dẫu ta trong cách biệt,
mình mãi hoài của nhau

Read Full Post »

Trưa ngày 14 tháng Giêng năm Nhâm Thìn, 2012, NSƯT Ngọc Cầm đã trút hơi thở cuối ở quê nhà, hưởng thọ 85 tuổi. Ngôi sao cuối cùng của “Tứ đại danh ca” hát bội Bình Định đã tắt nhưng sự nghiệp rạng rỡ của bà với những vai diễn để đời: Liễu Nguyệt Tiêm, Lữ Bố, Địch Thanh… sẽ còn sống mãi trong công chúng yêu nghệ thuật hát bội.

 
Ngọc Cầm bắt đầu nổi tiếng với vai Lữ Bố trong tuồng “Lữ Bố hí Điêu Thuyền”. Trong ảnh: Ngọc Cầm trong vai Lữ Bố (trái) – ảnh chụp năm 1995 (Tư liệu của VŨ NGỌC LIỄN).

Theo cha, anh đi hát từ năm lên chín, lên mười, sân khấu và khán giả, những câu nam câu khách đã sớm ám nhập và đeo đẳng trọn đời Ngọc Cầm những vinh quang và cay đắng, đơn độc của một kiếp cầm ca. Bà đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý – Nghệ sĩ ưu tú (NSƯT) – cùng những danh ca một thời: Hoàng Chinh, Long Trọng, Tư Cá… Đây là những tưởng thưởng vừa đặc biệt vừa tượng trưng. Đặc biệt và tượng trưng vì danh tiếng họ quá vang dội trong hát bội Bình Định chứ không phải theo quy chuẩn thành tích thông thường.

Con nhà nòi

NSƯT Ngọc Cầm tên thật là Võ Thị Ngọc Cầm sinh năm 1927, quê An Hòa 2, Phước An, Tuy Phước. Bà là con Chánh ca Võ Đựng, và là em gái Bầu Thơm, một tài danh để đời với vai diễn không thể thay thế: Phàn Định Công trong “Sơn hậu”! Một gia đình tài danh nức tiếng của hát bội Bình Định.

Mới mười sáu, mười bảy tuổi, Ngọc Cầm đã thực sự nổi tiếng với vai Lữ Bố (trong “Lữ Bố hí Điêu Thuyền”). Vóc dáng cao, gương mặt sáng rỡ…, nói chung và các yếu tố thanh, sắc, thục, tinh, khí, thần đều hội đủ cho một khẳng định tài năng. Cũng như nhiều nghệ sĩ hát bội khác thời đó, bà rất giỏi võ. Người viết bài này từng hỏi chuyện và nghe bà kể tường tận chuyện thứ tự đánh ngã bốn thanh niên chận đường khiến “đại ca” cầm đầu nể phục để bà gánh hàng đi. Yếu tố biết võ là tiêu chuẩn đầu tiên mà thầy Đào Tấn xưa kia nhận học trò cho trường dạy nghề “Học bộ đình”. Võ giúp thực hiện được phần vũ đạo đặc chủng của nghệ thuật này đạt tới tầm tinh diệu.

Thời kỳ Ngọc Cầm bắt đầu nổi danh là thời kỳ hát bội cũng lao đao “cuộc chiến” giành khán giả với cải lương. Theo nhà nghiên cứu sân khấu Vũ Ngọc Liễn, những vở cải lương đầu tiên “chuyển thể” từ hát bội sang: “Sơn hậu”, “Phụng nghi đình” đã có chỗ đứng. Vậy là nghệ thuật này nhanh chóng xuất hiện hàng loạt các kịch bản có tính cạnh tranh mạnh: “Tái sanh kỳ ngộ”, “Cánh buồm trắng, cánh buồm đen”, “Trái tim xẻ nửa”…, những vở diễn “ăm dầm nằm dề” Trường hát Trung Hoa ở Quy Nhơn lúc đó. Hát bội “đói” dài nên các nghệ sĩ trẻ đã mạnh dạn nghĩ cách cải tổ cách hát, diễn và đã có những cuộc tranh luận nảy lửa giữa các thế hệ trước và lớp trẻ.

Ngọc Cầm lặng lẽ vào Sài Gòn xem nghệ sĩ cải lương Phùng Há diễn vai Lữ Bố. Lặng lẽ xem để học thêm cách diễn. Không chỉ tài năng và khổ luyện, Ngọc Cầm còn một phẩm chất nữa là chịu học, khao khát khẳng định mình. Tài năng giúp nghệ sĩ nhanh chóng được nhiều người biết đến. Nhưng để đạt tới một đỉnh cao, nghệ sĩ phải nỗ lực và sáng tạo lớn. Ngọc Cầm thuộc số này và bà đã có những Lữ Bố, Địch Thanh, Liễu Nguyệt Tiêm… để đời trên lộ trình tất yếu đó.

 
Nghệ sĩ ưu tú Ngọc Cầm.

Vinh quang

Trước Cách Mạng Tháng Tám, Bình Định có đến 13 Trường hát bội. Và bất kỳ đâu, chốn công cộng của làng xã hay vườn nhà, chỉ cần một ngày là đội dựng rạp chuyên nghiệp dựng xong một sân khấu cho hát diễn. Dù hát bằng “thanh” thật hay qua mi-cờ-rô, hát với ánh đèn mẻ dầu, măng-xông hay đèn điện, nghệ sĩ Ngọc Cầm cũng sáng rực trên sân khấu.

Theo nhà nghiên cứu Vũ Ngọc liễn, những đêm gió nam, dù hát tận Trường Gò Bồi, từng lúc ở Vũng Bấc (Nhơn Lý) cũng nghe vọng tiếng hát của Ngọc Cầm! Bà là diễn viên đắc “sô” và luôn được các ông bầu tranh nhau mời. Tất nhiên rồi, còn nhiều đào khác cũng rất nổi tiếng nhưng đặc điểm của hát bội Bình Định là tên đào kép thường mặc định với vai diễn trong công chúng. Hát “Lữ Bố hí Điêu Thuyền” mà không có Ngọc Cầm dân không chịu. Cũng vậy, tên bà thường được đặt điều kiện khi ký hợp đồng hát “Địch Thanh ly Thợn” hay “Phụng Nghi đình”… Vai Địch Thanh còn vài kép nam sắm xuất sắc nhưng đào đóng kép giỏi như bà có cái hay riêng.

Những năm sau 1954, bà cùng các tên tuổi danh tiếng khác: Hồng Thu, Lệ Suyền, Hoàng Chinh, Long Trọng, Tư Cá… làm nên một thời kỳ vàng son mới cho hát bội Bình Định. Những đêm diễn thâu canh. Những tiếng trống chầu trống chiến, thúc giục rồn ràng xuân kỳ thu tế, những dịp hội hè. Những câu hát nam hát khách lay động. Những tiếng quân ó xa ó gần dồn vọng lớp lớp.  Tất cả thường bắt đầu bằng phần “ra tuồng” tạo cảm xúc thật lớn, thật ấn tượng đến khán giả. Sân khấu đã làm được cuộc kích động cao độ sự phấn khích và mỹ cảm, và cái ngây ngất đón đợi của công chúng, roi chầu thúc, những khay thẻ “thướng” như những quầng sáng là hiệu ứng người xem đáp lại cũng tạo nhiều hưng phấn cho nghệ sĩ những phút giây xuất hóa.

Bà là một phần của “những đêm diễn” như thế. Từ nông thôn đến thành thị, trong tỉnh và ngoài tỉnh, sắm đào hay làm kép. Và làm thành “Tứ đại danh ca”, cùng các NSƯT Hoàng Chinh, Long Trọng, Tư Cá!

Sau năm 1975, NSƯT Ngọc Cầm không có nhiều đất diễn ở Nhà hát tuồng Đào Tấn, đơn vị nhà nước. Phần kịch bản mới không hợp, phần đã có thế hệ đào kép mới tài năng thay thế. Bà vẫn sống với sân khấu trong dân các huyện, xã. Và rèn dạy học trò.

Và cô đơn

Cách đây vài năm, người viết bài này có dịp nghe bà đối ca cùng ông Vũ Ngọc Liễn. Trước đây ông cũng là diễn viên nên hai người làm cái trích đoạn rất có không khí. Là theo gợi ý của ông, đoạn hồn Giả Thị về gặp Hoàng Phi Hổ trong “Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan”. Nghe bà hát câu nam rợn người: “Ái tía tỏ lời sinh tử/ Kể khôn cùng để sự thê lương”. Và câu tán: “Hồn lai phong lâm thanh phiêu phiêu hề di thế/ Giang tâm thu nguyệt bạch diếu diếu hề tương vong”. Câu này tôi nghe nhà nghiên cứu khen nhiều lần, và dịch nghĩa rằng, ‘‘hồn về rừng thông xanh chơi vơi trong cõi thế, trăng rọi lòng sông buốt hai cuộc đời tiêu tan’’. “Kể không cùng để sự…”, ừ đúng, đây là câu của hồn ma, nó vọng rợn, nó ám đến lạnh lưng.

Nói là NSƯT Ngọc Cầm được sinh ra để ca hát không phải là quá. Cũng vì thế mà bà, tuy cũng có gia đình, chồng con nhưng không phải là mẫu người phụ nữ của gia đình. Sau những hào quang những ánh đèn sân khấu, sau những phấn son và các thói quen ca kỹ, thường là một khoảng trống thật lớn. Tuổi càng cao khoảng trống càng hun hút.

Không riêng gì bà. Nhiều nghệ sĩ cải lương phía Nam trước đây có đêm thu vài cây vàng giờ cũng trắng tay, sống nhờ những giúp đỡ của bạn bè nghệ sĩ.

Hơn mười năm trước qua đề nghị của Nhà hát tuồng Đào Tấn và Sở Văn hóa, tỉnh cũng đã ưu ái tạo điều kiện cho bà có một lô đất ở Quy Nhơn. Rồi bán. Sòng sành mấy lúc lại hết veo. Đâu có lương hưu, bà sống dựa vào con cháu khi Quy Nhơn, lúc Gia Lai, và nhờ bạn bè, những người quen thân cũ, những người mến mộ. Long đong, thiếu hụt và buồn. Những tháng gần đây bà yếu hẳn và người thân đưa về lại quê nhà, trong một ngôi nhà xây tuềnh toàng. Và cuối cùng, sau ngần ấy năm đi và hát khắp vùng miền, bà về với đất ngay nơi làng quê mình.

Tôi đã làm tư liệu về bà từ cách đây mấy năm nhưng không thể viết bài. Vì không muốn tình cờ bà đọc được đoạn không thể không viết rằng, đích thực bà là người của cầm ca, và là một ngôi sao cô đơn. Cuộc sống hiu hắt cuối đời đã mỏi mệt, nghĩ không muốn để bà nặng lòng thêm.

Giờ viết như một nén hương dâng bà, một tài danh sáng chói của hát bội Bình Định. Chỉ còn vọng lại vùng hồi quang đọng hẳn trong ký ức, trong lòng người mến mộ những Liễu Nguyệt Tiêm, Lữ Bố, Địch Thanh…

Ngôi  sao cô đơn, ngôi sao sáng cuối cùng của “Tứ đại danh ca”, đã tắt!

  • LÊ HOÀI LƯƠNG (nguồn  baobinhdinh.com)

Read Full Post »

 

Khê Kinh Kha

em yêu
hãy ngồi xuống đây
ngồi gần bên tôi
ngồi kề đôi vai
cho hơi ấm quyện vào tim ta
dù bao đau thương mắt lệ nhòa
ngồi gần nhau, chia sớt cơn đau
ngồi gần nhau quên mối gian lao
ngồi gần nhau, mơ ước tình dài lâu

.

em yêu
hãy ngồi xuống đây
ngồi tựa bên tôi
ngồi tựa tim tôi
cho nước mắt tan vào đêm sâu
một trăn năm sau mãi yêu hoài
ngồi gần nhau, vai sát bên vai
ngồi gần nhau, cơm áo chia đôi
ngồi gần nhau, em hỡi, ngồi gần tôi

.

em yêu
hãy ngồi xuống đây
tựa vào đời tôi
cho yêu thương trọn kiếp con người
cho đau thương tan vào đêm tối

.

em ơi
hãy ngồi xuống đây
vòng tay ôm tôi
dù cuộc đời trăm nghìn gian dối
xin hãy yêu tôi
yêu tôi

.
em yêu
hãy ngồi xuống đây
ngồi cầm tay tôi
cầm chặt tay nhau
cho yêu mến nồng nàn lứa đôi
tình ta bao la ngát hương đời
ngồi gần nhau môi ấm đôi môi
ngồi gần nhau quên tháng năm trôi
ngồi gần nhau, em nhé, trọn đời tôi

.
KhêKinhKha

Read Full Post »

Đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, ca khúc Ngày xưa Hoàng Thị (thơ Phạm Thiên Thư, Phạm Duy phổ nhạc) đã từng gây xôn xao trong đời sống âm nhạc miền Nam. Cả thơ lẫn nhạc đều rất tuyệt vời…
Bìa bản nhạc Ngày xưa Hoàng Thị và Chân dung Phạm Thiên Thư – Ảnh: H.Đ.N

Từ tiếng hát cao vút của Thái Thanh, những ca từ của Ngày xưa Hoàng Thị chấp chới đi vào hồn người: “Em tan trường về,  đường mưa nho nhỏ. Chim non lề đường, nằm im giấu mỏ. Anh theo Ngọ về, gót giày lặng lẽ đường quê…”. Phải nói rằng, dạo đó thơ Phạm Thiên Thư là hiện tượng, bởi sau thành công của Ngày xưa Hoàng Thị, nhạc sĩ Phạm Duy phổ thêm liên tiếp những ca khúc từ thơ Phạm Thiên Thư: Đưa em tìm động hoa vàng, Em lễ chùa này, Gọi em là đóa hoa sầu… Người ta đua nhau tìm đọc thơ Phạm Thiên Thư – một tu sĩ Phật giáo – bởi hơi hướm thơ vừa nhuốm mùi thiền vừa vương tình trần. Thơ lục bát của Phạm Thiên Thư quá hay mà thơ 4 chữ (như bài Ngày xưa Hoàng Thị) lại cũng tuyệt… Chẳng thế mà tập thơ Đoạn trường vô thanh (hậu Kiều) của ông được trao Giải nhất văn chương – thể loại trường ca (Sài Gòn – năm 1973)… Rồi người ta đoán già, đoán non cô Hoàng Thị Ngọ là ai mà có sức hấp dẫn đến thế, khiến cho người thơ đã nương cửa Phật vẫn phải vướng mùi tục lụy?

“Anh tìm theo Ngọ…”

Phải đến 40 năm sau tôi mới có dịp diện kiến nhà thơ Phạm Thiên Thư, khác với những gì tôi mường tượng: tác giả Ngày xưa Hoàng Thị không mang dáng dấp thư sinh, nho nhã mà đẹp như một… “lão ngoan đồng”. Ông hiện là chủ quán cà phê Hoa Vàng ở cư xá Bắc Hải (Q.10, TP.HCM), tên quán chắc là để nhắc nhớ đến ca khúc Đưa em tìm động hoa vàng nổi tiếng một thời? Câu đầu tiên ông “chào” tôi là một câu lục bát: “Dễ gì được một vần thơ/Mà nghe nghiệp chướng, lại ngờ tiền oan”. Rồi ông kể về Ngọ: “Rất đơn giản, tôi tuổi Thìn (1940), còn cô ấy tuổi Ngọ (1942) cho nên được bố mẹ đặt luôn tên là Ngọ. Cách nhau 2 tuổi nhưng học cùng lớp đệ tam (lớp 10 bây giờ) ở trường Trung học Văn Lang (khu Tân Định). Ngọ có dáng người thanh mảnh với mái tóc dài thả ngang vai. Mỗi khi xếp hàng vào lớp, cô ấy đứng đầu hàng bên nữ, tôi đứng cuối hàng bên nam, tha hồ ngắm… Vào lớp, cô ấy ngồi bàn đầu, tôi bàn cuối. Ngọ học rất giỏi, còn tôi chỉ giỏi… đánh lộn (gia đình tôi vốn có truyền thống võ thuật). Có lần thầy giáo gọi tôi lên trả bài, tôi không thuộc nhưng thay vì lên tận bàn thầy giáo trên bục giảng, tôi chỉ đi đến ngang chỗ Ngọ ngồi thì dừng lại. Ngọ biết ý, mở cuốn tập ra cho tôi… liếc, đọc vanh vách!

Nhà tôi ở đường Trần Khát Chân, nhà Ngọ ở Trần Quang Khải, cũng cùng khu Tân Định nên đi về chung đường. Mỗi lần tan trường, cô ấy ôm cặp đi trước, tôi lẽo đẽo theo sau. Tóc Ngọ bay bay trên đôi vai gầy nhỏ nhắn. Có những hôm trời mưa lất phất, cô ấy đưa cặp lên che ngang đầu. Tôi thấy thương quá, muốn làm một cử chỉ gì đó như là để chở che nhưng… thở mạnh còn không dám, nói chi là…

Đậu tú tài xong tôi vào Đại học Vạn Hạnh”… “Tại sao ông lại trở thành tu sĩ Phật giáo?”. “À, như đã nói, gia đình tôi vốn có truyền thống con nhà võ, từng lập “Học hội Hồ Quý Ly” quy tụ cả trăm người, khiến chính quyền miền Nam lúc ấy nghi ngờ, phải giải tán. Năm 1964 tôi “trôi dạt” vào “ăn cơm chay” ở các chùa: Vạn Thọ (Q.1), Kỳ Quang, Bà Đầm (Q.Phú Nhuận), rồi Đại học Vạn Hạnh… Cho dù đã nương thân vào cửa chùa nhưng mỗi lần đi ngang qua con đường cũ, hình ảnh cô học trò ôm cặp, tóc dài bay bay trong gió vẫn thấp thoáng đâu đây… Và rồi những tứ thơ tràn về: “Em tan trường về/Đường mưa nho nhỏ/Chim non giấu mỏ/Dưới cội hoa vàng/Bước em thênh thang/Áo tà nguyệt bạch/Ôm nghiêng cặp sách/Vai nhỏ tóc dài… Em tan trường về/Cuối đường mây đỏ/Anh tìm theo Ngọ/Dáng lau lách buồn… Em tan trường về/Đường mưa nho nhỏ/Trao vội chùm hoa/Ép vào cuối vở/Thương ơi vạn thuở… Ôi mối tình đầu/Như đi trên cát/Bước nhẹ mà sâu… Mười năm rồi Ngọ/Tình cờ qua đây/Cây xưa vẫn gầy/Phơi nghiêng dáng đỏ/Áo em ngày nọ/Phai nhạt mấy màu/Chân theo tìm nhau/Còn là vang vọng… Dáng ai nho nhỏ/Trong cõi xa vời/Tình ơi… Tình ơi!”…

“Tại sao nhạc sĩ Phạm Duy biết thơ ông để phổ nhạc?”. “Là thế này, năm 1968, tôi có ra tập thơ đượm mùi thiền Phật giáo, in rất ít, chỉ để tặng bạn bè. Cụ Nguyễn Đức Quỳnh (nhà văn) đọc thấy thích mới giới thiệu với nhạc sĩ Phạm Duy, và nhạc sĩ đã phổ 10 bài đạo ca của tôi. Đó là cái duyên để đến năm 1971, nhạc sĩ Phạm Duy lại phổ nhạc bài Ngày xưa Hoàng Thị. Lạ một điều là bà xã tôi bây giờ lại rất giống Ngọ, có thể nói là một chín, một mười”.

Người viết tuy ngồi trong (động) Hoa Vàng nhưng tiếc ngẩn ngơ vì không được may mắn diện kiến nữ chủ nhân để ít ra cũng có thể hình dung được một nhan sắc thuở nào…

Hà Đình Nguyên

Read Full Post »

Sau hơn 10 năm ở Đức, nhạc sĩ Miên Đức Thắng đã trở về Việt Nam và sống lãng tử với những sáng tác gốm sứ độc đáo, vẽ tranh và ngao du với bạn bè.

Quyết định nghỉ hưu sớm rồi trở về sống tại Việt Nam từ năm 2000 đến nay, ngoài tranh, nhạc; gốm và sứ là niềm đam mê lớn nhất của nhạc sĩ Miên Đức Thắng hiện nay. Ông say mê nói về tác phẩm gốm Buồn Vui làm bằng đất nung ở Tiền Giang, chiếc bình gốm sứ làm ở Bình Dương ghi nguyên lời bài hát Lạ Lùng của chính ông. Một tác phẩm từ khi nặn, vẽ, phơi khô, lên men và nung mất hơn 1 tháng. Riêng gốm sứ, ông có vài chục tác phẩm, tranh thì trên 50 bức. Những tác phẩm nghệ thuật của ông có một chút gì đó thong dong, thảnh thơi, song lại không giấu được vẻ phóng khoáng.

Say đắm với hiện tại

Với những nhạc phẩm như Hát từ đồng hoang, Lớn mãi không ngừng…, Miên Đức Thắng của một thời từng thổi bùng ngọn lửa khát vọng hòa bình trong lòng giới trẻ miền Nam, nay lại không muốn nói nhiều về chuyện cũ nữa. Ông bộc bạch: “Tiếng Anh có câu: I am here and now – Tôi đang sống ở đây và bây giờ. Trong cuốn Tự Do Đầu Tiên Và Cuối Cùng của Krishnamurti, triết gia người Ấn Độ, có viết: Đường đời được vẽ nên từ nhiều chấm nối lại với nhau. Nếu ta sống mỗi phút thật trọn vẹn thì sẽ có một đời sống trọn vẹn. Sống với hiện tại có ý nghĩa và đáng quý hơn cứ nhìn quá khứ để tiếc nuối, huyễn hoặc chính mình”.

Theo ông, bản thân của mỗi sự việc không có thời gian. Những con số, những khái niệm đo lường chỉ là phương tiện, quy ước mà con người đặt ra để nói với nhau. “Con người mình đôi khi rất dở. Dù thời gian đã trôi qua rất lâu nhưng khổ nhất là cứ thích nhắc lại, nhớ tới và nói về nỗi khổ. Tôi thích sự chuyển động và sáng tạo liên tục, nên tôi không thích hoài niệm. Hãy say đắm với hiện tại, như vậy thôi đã thấy cuộc đời này quý giá biết chừng nào”, nhạc sĩ Miên Đức Thắng nói.

Tiếp mạch chuyện về khái niệm thời gian, ông chỉ cho tôi xem bức tranh của người bạn Lê Thanh vẽ tặng. Tranh vẽ một chàng thanh niên khỏe mạnh, vạm vỡ, ôm đàn, bên cạnh có khuôn mặt thiếu nữ, ông già và một khuôn mặt đầy trầm tư… Từ bức tranh này, ông viết bản nhạc Đi qua sắc màu nhớ nhau tặng Lê Thanh: “Một mùa tóc xanh còn nặng / Còn chờ vết thương ngày sau / Tìm về nét ai thầm lặng / Đi qua sắc màu nhớ nhau / Đường dài cũng là một chấm thôi / Anh ơi anh ơi đời quá mộng / Đường gần đường về một chấm thôi/ Theo nhau đi qua bóng chiều tà / Ngồi lại hôm nay bờ bến cũ / Để thấy bây giờ là mai sau”.

Câu cuối cùng, ông hát như đang rưng rưng. Miên Đức Thắng đa tài, hát hay và chơi thành thạo nhiều nhạc cụ: piano, keyboard, guitar, harmonica, mandolin… Nét đặc biệt của ông là gảy đàn bằng những ngón tay trái lão luyện. Những mất mát, trải nghiệm qua bao lần chứng kiến ranh giới mong manh giữa được và mất, đôi khi cũng khiến người nghệ sĩ này rơi nước mắt. Ngày còn bé, ông kể, mỗi khi đêm về thấy trăng và mưa là xúc động mạnh, buồn không ngủ được và muốn hát hò gì đó. Từ đó, hát trở thành nhu cầu khao khát ở bên trong. Còn vẽ tranh, ông không qua trường lớp, bắt đầu vẽ từ năm 1970, chỉ học qua bạn bè và suy tư từ việc đọc.

Chưa té sấp té ngửa vì phụ nữ

Vậy người đàn ông trong Miên Đức Thắng từng té sấp té ngửa trước cái đẹp chưa? Ông nói ngay: “Trước một tác phẩm hội họa, một bản nhạc không lời hoặc một cảnh thiên nhiên, kiến trúc đẹp của Ý, đôi khi tôi bị té sấp té ngửa thật. Nhưng với người đẹp thì hình như chưa”.

Đang sống yên ổn với vợ con ở Đức, một ngày, khi đã gần đến cái tuổi tri thiên mệnh, trong ông lại bùng lên khao khát được tự do sáng tạo. “Bỗng dưng tôi thấy cuộc sống của mình ở nước ngoài thừa thải và buồn quá!”, ông nói. Ông tâm sự với vợ và 4 cô con gái: “Các con để cho ba về Việt Nam, coi như ba đi xa đâu đó hoặc quên ba đi, đừng níu kéo ba nhiều quá, ba muốn bớt bận bịu để sáng tác”. Ý nghĩ đó ban đầu khiến vợ con ông bất ngờ, không mấy dễ chịu nhưng rồi cũng phải chấp nhận.

Tôi nói Miên Đức Thắng thuộc típ đàn ông đa tài lẫn đa tình. Không đồng ý mà cũng chẳng phủ nhận, ông mỉm cười: “Tôi khát khao mãnh liệt cuộc sống tự do. Chỉ có tự do sáng tạo, các cung bậc cảm xúc mới thăng hoa được”. Ông phủ nhận tư tưởng sở hữu trong tình yêu. Ông ít viết, vẽ về đề tài tình yêu. Theo ông, yêu và muốn sở hữu là giết chết tình yêu: “Người nghệ sĩ đôi khi thật lung tung và tham lam, nên ý nghĩ sở hữu đối với họ là không nên. Yêu là mênh mông, mà mênh mông thì không có giới hạn bao giờ”.

Miên Đức Thắng mê triết học, y học xã hội và ham thích tìm hiểu 2 lĩnh vực này từ nhỏ. Sang Đức, cái nôi triết học của nhân loại lại cho ông nhiều cơ hội tiếp cận và đắm chìm trong không gian của những khái niệm phản đề, tập đề, tâm lý, bệnh lý… Khi hiểu được sự thay đổi của con người qua bệnh lý thì có thể thay đổi xã hội. Tuy nhiên, ý niệm này không ít lần khiến ông mỏi mệt bởi ông hiểu, cái tận cùng, cao nhất của triết học cũng chỉ là khoảng không trống rỗng.

Không chỉ mang dáng phóng khoáng tự do trong sáng tạo của phương Tây, nhạc và hội họa của ông còn ẩn sự tinh tế trong triết lý phương Đông. Một bức tranh vẽ hồ sen của ông hội tụ 4 ý nghĩa: Sinh, lão, bệnh, tử. Ông nói, đó là chu kỳ của cuộc đời mà người ở phương nào cũng phải đi qua. “Vậy vạn vật rồi cứ phải cũ kỹ theo thời gian sao?”, “Không, có một thứ không bao giờ cũ, nếu bạn biết chọn lựa cách sống thế nào”, ông nói. Vẫn với tay trái ôm đàn, so phím lão luyện, ông hát: “Thời gian đâu có già / Thời gian đâu có dừng / Tâm già tâm đi quanh / Lạ lùng thay giận hờn / Lạ lùng thay phiền muộn / Sao mi cứ mới toanh”.

Chia tay ông khi thành phố đã lên đèn, tôi nói vội, dường như ông đang cổ súy cho lối sống gấp? Ông lắc đầu quầy quậy: “Không phải sống gấp! Tôi ủng hộ những sáng tạo, đột phá mới mẻ và sự chuyển động. Bởi nếu trên đời này có một từ “vĩ đại” thì sống thôi là vĩ đại lắm rồi, nhất là khi đối diện với tử thần!”.

Tôi khát khao mãnh liệt cuộc sống tự do. Chỉ có tự do sáng tạo, các cung bậc cảm xúc mới thăng hoa được”.

Nhạc sĩ Miên Đức Thắng

Sinh năm 1945

Đã học Đại học Khoa học Sài Gòn, Đại học Vạn Hạnh và cao học ở Đại học Đà Lạt.

1966: Do phát hành tập nhạc Hát từ đồng hoang gồm 10 bài phản chiến, bị Chính quyền Sài Gòn kết án 5 năm khổ sai biệt xứ.

1989: Sang Đức định cư.

Các tác phẩm tiêu biểu: Hát từ đồng hoang (1966), Lớn mãi không ngừng (1966), Sóng chờ (2005).

HẰNG NGA  

Read Full Post »

Món cá niên, ăn chung với rau dớn, lá lộc vừng vốn dĩ rất dân dã ở vùng rừng núi Bình Định đã trở thành món đặc sản ưa chuộng nơi phố thị. Giá cá niên vì thế cũng tăng vọt, có thời điểm lên đến 300 ngàn đồng/kg. Vì cái lợi trước mắt, không ít người đã dùng lưới, xung điện, thậm chí là thuốc nổ để đánh bắt…

Anh Đinh Văn Tuấn đang câu cá niên ở thác Đá Ghe, xã An Hưng.
Cá quý đầu nguồn
Được giới sành ăn ở An Lão giới thiệu, chúng tôi tìm đến nhà ông Nguyễn Bổng, người được mệnh danh là “vua cá niên” thường trú ở thị trấn An Lão.
Trong tiết trời se lạnh, ông Bổng trầm ngâm bên tách trà: “Chỉ còn đúng một tháng nữa là đến mùa cá niên. Loại cá này có nhiều từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Trước đây, vào thời điểm này, tôi đã chuẩn bị đồ đạc để vào mùa khai thác nhưng giờ bỏ nghề rồi. Vả lại, cá niên giờ còn nhiều đâu để mà câu…”.
Cũng theo ông Bổng thì cá niên ở An Lão có nhiều nhất ở 2 khúc sông có tục danh là Cò Bay và Cổng Sâu – Cây Tràm vì ở đó có nhiều hốc đá, nước lại sâu nên những người thả lưới không thể đánh bắt được.
Câu cá niên thì việc chuẩn bị mồi câu rất quan trọng. Vào thời điểm tháng 11 đến tháng chạp, câu cá niên có thể dùng mồi là trùn đỏ (loại trùn chỉ). Nhưng khi bước vào tháng giêng đến tháng 2 (âm lịch) cá niên chỉ ăn duy nhất mồi bọ đá (thường nằm dưới những tảng đá dọc theo sông Vố). Từ tháng 3 đến tháng 4, cá niên lại thích ăn mồi sâu xanh (một loại côn trùng nhỏ như que tăm, thường có ở dưới các tảng đá hoặc gốc cây rù rì).
Ông Bổng cho biết: “Tôi câu cá niên được nhiều bởi tôi rất hiểu đặc tính của loài cá này. Cùng một khúc sông nhưng tôi câu thì có cá còn người khác thì không. Kinh nghiệm cho thấy vùng nước nào khi quan sát thấy cá niên thường chao mình trắng bụng lên ăn mồi thì chắc chắn buông câu sẽ có cá”.
Câu cá niên là cả một nghệ thuật và đòi hỏi sự kiên trì. Do loài cá này chỉ tập trung ở những vùng thác nước nên khi buông cần người câu phải kéo cần qua lại để cá thấy mồi, đồng thời cảm nhận được cá đã ăn mồi hay chưa. Khi cá đã ăn mồi nếu nôn nóng giật cần thì coi như hỏng.
Mép của cá niên vừa mỏng lại mềm nên khi giật cần mạnh tay sẽ rách mép và cá sẽ rơi lại xuống nước. Vì thế khi cá cắn câu, người câu phải để cho cá tự kéo lưỡi câu bơi vài phút, khi cá đuối sức thì mới nhẹ nhàng giật cần lên.
Bắt cá niên ngoài việc dùng cần câu, người H’re còn dùng “súng”. Súng bắn cá niên được làm khá đơn giản gồm: một thanh gỗ, trên đầu có buộc một giàn thun, mũi tên thường được làm từ tăm xe đạp hoặc kẽm gai.
Người đi săn cá niên dùng kính lặn phía dưới những thác nước và khi phát hiện cá niên thì chỉ việc “lảy cò” để giàn thun kéo mũi tên lao về phía trước và ghim vào thân cá. Ông Bổng kể: “Cá niên dạn lắm, mình lặn xuống mà nó cứ bơi lượn lờ, tới lui trước mặt mình nên rất dễ bắn”.

Các món ăn được làm từ cá niên.
Cá niên thưa dần
Không chỉ có ở An Lão, cá niên còn có ở Vĩnh Thạnh, Vân Canh và những vùng rừng núi Quảng Ngãi, Quảng Nam. Tuy nhiên, theo giới sành ẩm thực thì cá niên ở An Lão là ngon nhất. Ngay cả ở An Lão thì cá niên sông Vố cũng được đánh giá là ngon hơn cá niên ở sông Nước Đinh.
Thông thường cá niên được đem nướng, ăn chung với muối ớt và rau dớn hoặc dầm nát vào nước mắm ngon pha tỏi ớt. Người sành điệu thích nhậu cá niên nướng bóp chung với rau dớn, lá lộc vừng non cùng tợp rượu Bàu Đá. Cá niên có vị béo rất riêng và đặc biệt là vị đắng ngon ngót từ mật và ruột cá.
Cá niên có nét hao hao giống cá diếc, trên lưng cá niên có sọc đỏ. Cá niên chỉ sống vùng nước chảy xiết ở các thác nước. Ngay cả khi đẻ trứng, cá niên cũng đẻ giữa dòng, trứng bám vào đá đến lúc nở ra. Cá niên thường ăn các loại tảo, côn trùng bám vào đá.Khi chúng tôi hỏi ông Bổng rằng tại sao cá niên có giá như thế mà ông lại bỏ nghề câu? Ông Bổng cười buồn: “Tôi bỏ nghề không phải vì già yếu, cũng chẳng phải vì hết cần tiền mà vì cá niên bây giờ không còn nhiều. Ngày trước, mỗi lần xách cần đi câu tôi có thể kiếm được 3-4kg cá, nhà ăn không hết phải đem phơi khô để dành ăn dần.
Bây giờ câu cả ngày giỏi lắm chỉ được vài con. Vì giá cá niên hiện nay quá cao nên người ta không từ kiểu khai thác nào, từ thả lưới, xung điện thậm chí đánh cả thuốc nổ. Cá lớn chưa kịp sinh sôi, cá con chưa kịp lớn đã bị bắt sạch rồi”.
Theo chân anh Đinh Văn Tuấn, tôi làm chuyến câu cá niên ở An Hưng và được “mục sở thị” sự kiên trì của việc câu loại cá được ví von là “cá đại gia” ở vùng đại ngàn An Lão này. Công đoạn đi tìm mồi câu đã khó, việc quan sát để tìm địa điểm có cá niên để buông câu lại càng cực hơn. Anh Tuấn cho biết: “Hôm nay rảnh rỗi tôi đi câu với hy vọng kiếm vài con cá về gia đình ăn, mấy ngày trước tôi cũng đi câu cả ngày mà chẳng có con nào, cá niên ở An Lão bây giờ gần hết rồi…”.
Chúng tôi vào quán ăn T.M do ông M.M làm chủ và được chủ quán mở thùng đá cho chúng tôi xem, cá niên được ướp khá nhiều. Mỗi kg được bỏ trong một hộp xốp để đáp ứng nhu cầu của thực khách tại quán và cả đưa đi các tỉnh khác. Tôi hỏi: “Quán thường có cá niên không?”, ông M.M đáp: “Lúc nào cũng có, nguồn cá ở quán này chủ yếu là do những người thả lưới và xung điện cung cấp”.
Trong thời gian qua, các cơ quan chức năng ở An Lão đã tìm cách ngăn chặn vấn nạn dùng lưới điện để “chích” cá và cả dùng thuốc nổ để đánh bắt. Nhưng những người chuyên đi chích cá bằng xung điện vẫn không từ bỏ công việc mà chuyển sang hoạt động vào ban đêm. Rõ ràng giữa rừng núi bao la, cơ quan chức năng khó mà phát hiện, ngăn chặn được hết vấn nạn này. Vì thế, hàng ngày cá niên vẫn bị khai thác một cách không thương tiếc nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường.
Ông Nguyễn Bổng cho hay: “Ngày xưa chúng tôi câu cá thì chỉ câu được các loại cá lớn. Những con cá nhỏ vẫn tiếp tục lớn lên và sinh sôi, nảy nở. Bây giờ người ta dùng đến xung điện, thuốc nổ thì gần như là diệt tận gốc. Cá lớn không sống nổi đã đành, cá nhỏ cũng tiêu luôn”.

Cá niên đóng hộp để chuyển đi địa phương khác.
Tôi thử gõ cụm từ “cá niên” trên khung tìm kiếm của google đã cho ra khoảng 31,9 triệu kết quả tìm kiếm liên quan đến cá niên. Chừng ấy thôi cũng đủ thấy món ngon cá niên-rau dớn được “phủ sóng” đến mức độ nào và đi kèm với nó là nhu cầu tiêu thụ của thị trường.
Hôm tôi đi công tác An Lão để tìm hiểu về cá niên, anh bạn thân dặn dò: Nghe nói món cá niên ở An Lão ngon và đặc biệt lắm, mày đi lên đó nhớ kiếm một ít về nhậu chơi nhé. Lời dặn của người bạn và những chú cá niên bé tẹo nằm la liệt trong những hộp xốp ở quán ăn T.M dồn tôi vào thế lựa chọn.
Xót xa cho một loại cá sắp đi vào dĩ vãng, tôi đã quyết định không mua. Đã đến lúc các cơ quan chức năng ở An Lão phải mạnh tay hơn nữa trong việc ngăn chặn khai thác cá niên kiểu hủy diệt này. Đừng để mai này những người già phải nói với đời sau rằng: Hồi ấy, An Lão mình nhiều cá niên lắm!
Theo CÔNG TÂM (Bình Định Online)

Read Full Post »

Phượng muộn

Bạch Xuân Lộc

Qui Nhơn buổi đầu thu,
Trời đang rải sương mù,
Hàng dương vẫn vi vu,
Tôi đi trong sương mù.

Tôi vẫn đi trong sương,
Đâu hay lớp bụi đường?
– Lòng vời vợi nhớ thương,
Tôi mảnh tình tha hương.

Ta chờ nhau – trường cũ,
Chút nắng hờn thu vương.
Ta đưa nhau về biển,
Nhìn núi Hàn buồn thương,

Cành hoa nào nở muộn
Phượng có hờn anh không?
– Không cành hoa nào muộn.
Vẫn là tình xa mong.

Vẫn nở trong lòng ta,
Một màu phượng thiết tha,
Vẫn là niềm yêu cũ,
Của dấu xưa chưa nhòa.

Mời các bạn nghe bản nhạc Phượng Muộn thơ Bạch Xuân Lộc,dòng nhạc Chánh Thiện Lộc và tiếng hát Ca Sĩ Ngoc Trang với sự hòa âm của Nhac Sĩ Ngô Chương

Read Full Post »

Nẫu ca

Người Việt mình từ văn minh lúa nước mấy ngàn năm đến giờ đã nổi tiếng là “nhà quê”, cho dù có ở thành thị thì vẫn là “dân nhà quê” so với các nước khác. Vậy thử hỏi trong đất Việt Nam mình, xứ nào là “nhà quê” nhứt? Đó chính là “xứ Nẫu”. Tôi đi khắp Việt Nam, ai hỏi tôi quê đâu? Tôi thưa rằng quê tôi xứ Nẫu, tôi dân Nẫu, Nẫu nè, Nẫu ơi…
Vì sao “quê”, vì ngay cái chữ “Nẫu” nghe nó đã quê rồi. Nó khởi thủy là chữ “nậu”, là một từ cổ ở miền Trung Nam Bộ, theo cụ Vương Hồng Sển, nó cổ đến mức gần như là nguyên thủy, ngày nay không còn ai dùng. Từ “nậu” để chỉ một nhóm người theo ngành nghề hoặc theo nơi ở: ví dụ: “Nậu nguồn” chỉ nhóm người trên rừng, “Nậu nại” chỉ nhóm người làm muối, “Nậu rổi” chỉ nhóm người bán cá, “Nậu rớ” chỉ nhóm người đánh cá bằng rớ, “Nậu cấy” chỉ nhóm người đi cấy mướn, “Nậu vựa” chỉ nhóm người làm mắm… mãi sau, bằng nguyên lý tăng âm đặc trưng của dân Việt mình: “ông + ấy = ổng”, “chị + ấy = chỉ”, thì cái “nậu + ấy= Nẫu”.
Xứ Nẫu bắt đầu từ Bình Định, Phú Yên và một phần của Khánh Hòa. Cũng như các vùng miền khác, mà gần nhất là xứ Quảng, giọng nói người xứ nẫu không lẫn vào đâu được. Người xứ Nẫu luôn nói lớn tiếng, giọng nặng và hầu hết các âm tiết đều bị biến dạng theo hướng nặng hơn, khó phát âm hơn…khó đến nỗi chỉ người xứ Nẫu mới nói được, làm như cái cấu tạo thanh quản của dân xứ Nẫu đã khác đi so với người xứ khác. Nẫu (người ta), rầu (rồi), cái đầu gấu (gối), trời tấu (tối), cái xỉ (muỗng), tộ (chén)…người xứ Nẫu nói cho người xứ Nẫu nghe, cho nên từ ngữ quê mùa cục mịch, đến mức câu ca dao mẹ hát ru con cũng nặng trình trịch, nhưng mà nặng nhất là cái tình:
Thương chi cho uổng công tình
Nẫu dzìa xứ nẫu, bỏ mình bơ vơ
Hồi nhỏ, mỗi lần tôi làm điều gì không đúng, ông nội tôi thường nói: “đửng làm dẫy, nẫu cừ” (đừng làm vậy, người ta cười), nhưng cũng có khi ông nội cho tôi thoải mái, muốn làm gì thì làm, kể cả vấn thuốc rê của ổng ra sân ngồi hút phì phà như người lớn, vì: “nẫu cừ thì kệ nẫu cừ, nẫu cừ lạnh bụng, hở mười cái răng”. Dân Nẫu đúng như giọng xứ Nẫu, hiền nhưng cộc cằn, phóng khoáng nhưng ngang ngạnh, tình cảm nhưng hơi thô kệch…
Dân Nẫu đi đến đâu cũng là “dân nhà quê”, học hành đến mấy vẫn không trút được cái gốc “nẫu” của mình. Nẫu không khôn ngoan, khéo léo như người Bắc. Nẫu không dịu dàng, lịch lãm như người xứ Huế. Nẫu cũng chẳng rộng rãi, vô tư như người Nam. Nẫu là Nẫu. “Nẫu dzẫy” (nậu vậy), Dân Nẫu không quan tâm người khác nghĩ gì về mình, tốt xấu gì cũng mặc, “kệ nẫu”. Cho nên dân Nẫu đi xứ khác làm ăn bị thiệt thòi nhiều, ít bạn, nhưng nếu có bạn, nẫu sẽ sống chết với bạn.
Công ty tôi có mấy trăm người công nhân, hầu hết là dân Nẫu. Công nhân của công ty tôi tay nghề cũng bình thường, không có gì đặc biệt hơn các công ty khác, nhưng đi làm ở đâu thường hay được chủ nhà thương, hàng xóm thương, vì dân Nẫu hiền queo, vì dân Nẫu không biết tính toán thiệt hơn, vì dân Nẫu cần mẫn…
Dân Nẫu cục mịch nổi tiếng, câu nói nổi tiếng của dân nẫu là một câu tỏ tình, “yêu không yêu thì thâu, nói dứt phát”. Ừ thì dân Nẫu rành rọt, yêu ghét rành rọt, tình yêu cũng “dứt phát” huống gì thứ khác. Rành rọt, dứt phát vậy nên Nẫu cũng thường bị từ chối, bị phản bội. Xin giới thiệu một bài hát nổi tiếng của dân Nẫu, bài hát “Trách Thân”, được chuyển lời từ bài dân ca cổ “Nẫu Ca”  bởi Nhạc Sĩ Phan Bá Chức và Nguyễn Hữu Ninh, bài này tôi đã nghe NS Phan Bá Chức trình bày, hay đến rơi nước mắt, bản này do Hoài Linh ca bằng giọng Nẫu nhưng chưa chuẩn lắm, chỉ là nghe được.
Thân, trách thân nè. Thân sao chớ lận đận nè
Mình, trách mình nè, số phận chớ sao hẩm hiu
Chớ bởi thân tui, Tui cực khổ, tui eo nghèo
Nên vợ tui nó mới không ở nữa
Mà nó theo Nẫu rồi…
Em ơi chớ bây giờ mà
Em ở kìa nơi đâu?
Chớ để cho anh nè
Anh trông đứng nữa trông ngầu (ngồi)
Rồi canh phia (khuya), chớ hầu (hồi) nào
Qua Phú Lễ ăn ẩu (ổi) chua
Chớ xuống Đại Lãnh, uống nước ngót
Chớ qua Hòn Dừa, ăn mực neng (nang)
Chớ bây giờ em không ngó nữa
Em không ngàng đến chồng nghèo nó cực khổ
Mà gian nan nó cơ hàn…Hầu (hồi) nào chớ em thất nghiêp, em đi lang thang
Chớ anh thấy em nữa tậu (tội) nghiệp
Anh mang anh nuôi rày.
Hầu (hồi) nào em bán nước đá rầu (rồi) anh đi may.
Hai đứa mình nè, chung sống chứ không biết ngày rầu (rồi) mai sau.
Chớ hầu (hồi) nào em bắt ốc rầu (rồi) anh hái rau.
Chớ bây giờ, em đở (để) lại mối sầu này cho qua…Hầu (hồi) nào trái chuối chín… Cũng cắn làm ba
Chớ trái cam tươi cũng cắn… Làm bốn
Nửa trái cà cũng cắn làm năm
Chớ bây giờ em lấy Nẫu
Em ăn nằm, em bỏ Qua
Chớ Qua hiu quạnh, năm canh một mình…Anh bây giờ, khoé mắt sầu cứ rung rinh
Chứ giọt lợ (lệ) sầu, giọt lệ thảm,
Như nước trong bình nó tuôn ra
Anh bây giờ, như con Cuốc nó kêu tù qua
Chớ nó lẻ đâu (đôi), nó lẻ bạn,
Í quơ chú cha ơi…. là buồn!

 

Tôi đi khắp Việt Nam, ai hỏi tôi quê đâu? Tôi thưa rằng quê tôi xứ nẫu, tôi dân nẫu, nẫu nè, nẫu ơi…

Nguồn: Người Lữ hành kỳ dị

Read Full Post »

« Newer Posts