Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Ẩm thực’ Category

Việt Nam cùng các nước ở Đông Á sắp đón Tết trông trăng. Cùng với một ý nghĩa đoàn viên, mang hạnh phúc, vui vẻ cho trẻ em, tết trông trăng của người Việt còn mang riêng màu sắc, hồn cốt quê hương với chiếc đèn ông sao, ông tiến sĩ giấy… và đặc biệt không thể thiếu mâm quả đêm rằm.

Mỗi rằm tháng 8, người dân đất tổ Tò he (thôn Phượng Dực, xã Xuân La, Hà Tây) lại dâng lên tổ tiên mâm ngũ quả bằng bột nặn tò he, mong một mùa an vui, hạnh phúc.
Mỗi rằm tháng 8, người dân đất tổ Tò he (thôn Phượng Dực, xã Xuân La, Hà Tây) lại dâng lên tổ tiên mâm ngũ quả bằng bột nặn tò he, mong một mùa an vui, hạnh phúc.

Tết trung thu, trái cây mùa thu đang vào vụ, mâm ngũ quả dâng lên bàn thờ tổ tiên cũng mang đậm hương sắc trái chín mùa thu. Đó là nải chuối chín vàng thơm lừng, là trái hồng đỏ mang hi vọng, là trái na nhiều hạt đen nhánh mang ước nguyện lộc nở, sinh sôi, là trái bưởi mang những điều mát lành và trái lựu chứa đựng bên trong những ngọt ngào, may mắn. Mâm quả có xanh, có chín, như quan niệm của người xưa, màu xanh của hoa quả mang tính âm, trái chín mang tính dương. Mâm ngũ quả là tượng trưng cho luật cân bằng âm dương của vũ trụ.

Ngày nay, với nhu cầu thẩm mĩ cao, để có mâm ngũ quả đẹp dâng lên tổ tiên ngày Tết trông trăng, có khi cả chục loại quả được xếp vào đĩa, người ta vẫn chẳng ai gọi là “khay/đĩa thập quả”. “Mâm ngũ quả” hàng trăm năm nay vẫn được người Việt gọi tên – dù đang xa xứ hay ở quê nhà thể hiện tấm lòng, sự tôn kính dâng lên tổ tiên, mong may mắn, hạnh phúc về với gia đình, dòng họ.

Bên cạnh mâm ngũ quả dâng lên tổ tiên ngày Tết trung thu, mâm quả để trẻ con phá cỗ đêm rằm cũng là một nét đẹp riêng trong văn hóa Việt Nam.

 Mâm quả tết Trung thu truyền thống của những gia đình Việt Nam - hài hòa các hương vị mùa thu của hồng, bưởi, chuối, na…
Mâm quả tết Trung thu truyền thống của những gia đình Việt Nam – hài hòa các hương vị mùa thu của hồng, bưởi, chuối, na…

Bà Đào Lệ Mão, 77 tuổi, một người Hà Nội gốc ở phố Bát Đàn kể lại những tết Trung thu từ ngày xa xưa, khi bà còn là thiếu nữ đất Hà thành: “Mỗi gia đình quây quần ăn bữa cơm tối với các đồ cúng gia tiên, sau đó sửa soạn mâm quả trông trăng.” Bà kể, tương truyền xa xưa, khi dân ta đang đón Tết trông trăng, có con sư tử tới quấy phá, trong làng có ông cầm gậy tới đánh đuổi được sư tử, cả làng làm mâm cỗ ăn mừng – đó là sự tích cho mâm cỗ ngày rằm Trung thu.

Đa dạng quả và cầu kì hơn với dưa hấu tỉa hoa, mâm quả đêm rằm tháng 8 của người Việt vẫn vẹn nguyên ý nghĩa mong những điều bình an, may mắn.
Đa dạng quả và cầu kì hơn với dưa hấu tỉa hoa, mâm quả đêm rằm Trung thu của người Việt vẫn vẹn nguyên ý nghĩa mong những điều bình an, may mắn.

Mâm cỗ đêm rằm được cha mẹ bày thật đẹp cho các con, trong đó là bánh nướng, bánh dẻo, mía, bỏng gạo và vô vàn các loại cây trái mùa thu. Các mẹ khéo tay còn tết cho con chú cún xinh bằng trái bưởi… Mâm quả đêm rằm là một bản hòa tấu các hương vị mùa thu, đa dạng sắc màu như lời nhắn nhủ của mẹ cha tới các con, cuộc sống vốn là nhiều màu sắc. Cha mẹ cùng ăn bánh, thưởng trăng, uống trà, phá cỗ cùng con, mong cho các con một mùa an vui, một đời hạnh phúc…

Độ non tuần lễ nữa là tới rằm tháng 8, các mẹ, các chị cũng sắm sửa trái cây, rục rịch nhiều địa chỉ trên phố Hà Nội đã nhận tết cún con bằng bưởi, bày mâm ngũ quả đẹp, nhiều trường học, khu phố cũng nhộn nhịp những cuộc thi cho các cháu học bày mâm quả dân gian…

Cuộc sống hiện đại, thật đáng mừng khi nhiều văn hóa đẹp của Việt Nam còn nguyên giá trị trong không ít gia đình truyền thống!

Thúy Hằng

Read Full Post »

Con móng tay

image

Người ta thường bảo “nhỏ như cái móng tay”, nhưng con móng tay (tên gọi địa phương ở Long Sơn, Bà Rịa-Vũng Tàu) ở đây có thể dài đến 15cm và khi đó nó giống cái cán dao hơn (người Pháp gọi con này là couteau).

image
Loài nhuyễn thể này thường sống trong cát bùn ở các cửa biển, chủ yếu ăn phiêu sinh vật. Khi thuỷ triều lên, nó trồi ra khỏi hốc và nhanh chóng lủi sâu xuống cát mỗi khi có động nhờ vào cái chân thật mạnh. Thịt con móng tay giòn và ngọt, khó tìm thấy ở các nhà hàng. Món chế biến đơn giản ở địa phương là hấp hoặc xào.Lời người chép bài : Con này đem nấu cháo cũng ngọt lắm à . Bên ta hình như không có nhiều nhưng ở bờ biển nước Pháp phía Đại tây dương thì đầy .

==========

Con móng tay ở chợ bó từng bó thế này.. khi còn tươi con nào con nấy le lưỡi ra nung núc những thịt.

image
Con móng tay, có người bảo là con ốc trúc
image
Con móng tay xào satế.
Ốc móng tay xào cay
image
Thú thực là nhìn mấy con ốc móng tay này mình không thấy hoàn toàn được thoải mái cho lắm, lý do thì không tiện nói ra sợ có người nhìn lại tưởng tượng lung tung. Lần đầu tiên mình biết đến loại ốc này là trong dịp đến Nha Trang cuối năm ngoái, vào hàng ốc thấy có món ốc nghe lạ tai, vừa túi tiền, chủ quán cũng góp lời nói món ốc này ngon lắm, thế nên mình gọi ăn thử. Ăn thì đúng là không chê vào đâu được, rất ngon, rất ấn tượng, nhưng nhìn hình dạng thì mình hơi ớn.
Món ốc bày trên đĩa trông còn ngon lành, chứ khi mình nhìn đám ốc còn sống thì thôi rồi, không dám đụng vào luôn vì chạm vào là nó sẽ bắt đầu “uốn éo” cái đầu. Mình chỉ dám đụng khi nó đã ngoẻo thôi.
Ốc này chọn con tươi là khi đụng vào đầu nó nó sẽ “đong đưa lắc lư” cái đầu. Đem ốc về, ngâm trong nước lạnh để ốc nhà hết cát bên trong ra. Gọi là ốc theo thói quen gọi của người VN thôi, còn đúng ra nó thuộc về họ hàng nhà “sò”. Tiếng Anh loại sò này có tên gọi là Razor clams (tức là con sò có hình cái lưỡi dao cạo)
image
Về hương vị thì mình đảm bảo ai không quá kén ăn thì ăn một lần là sẽ thích ngay. Ốc móng tay có thể chế biến thành nhiều món ăn từ món xào đến món hấp. 1 loại rau thơm thường không thể thiếu trong các cách chế biến là rau răm. Không hiểu sao rau răm đi với thứ ốc này rất hợp nhé.
Nguyên liệu: (4 người)
image
– 500g ốc móng tay
– vài tép tỏi, băm nhỏ
– 1 quả ớt sừng, băm nhỏ
– 1 tbs nước mắm
– 2 tsp đường trắng
– 2 tsp tương ớt
– 1 tbs dầu ăn
– rau răm, thái nhỏ
Cách làm:
– Đun 1 ấm nước sôi, cho ốc vào nồi to rồi dội nước sôi vào, đảo qua đảo lại đến khi ốc mở hết nắp thì đổ ra cho ráo. Tách bỏ 1 bên vỏ, giữ lại 1 bên vỏ còn gắn với con ốc.
image
– Làm nóng dầu ăn trên chảo lớn, cho tỏi, ớt vào phi thơm. Cho nước mắm, đường, tương ớt vào, quấy đều. Sau đó cho ốc vào, đảo đều nhưng nhẹ tay để ốc không bị rơi ra khỏi vỏ.
image
– Xào ốc chừng 4-5 phút cho ốc ngấm và hỗn hợp sệt lại.
image
– Rắc rau răm rồi bắc ra khỏi bếp.
image
Bắt “móng tay” trên biển Đồng Châu
image
(DVT.vn) – Đường biển trải rộng tít tắp, nước chỉ xâm xấp đến mắt cá chân. Xa xa, lũ trẻ chăm chỉ bắt những con móng tay bé tí tẹo.
Bãi biển Đồng Châu nằm trong địa bàn huyện Tiền Hải – Thái Bình lâu nay không phải là bãi tắm lý tưởng. Địa hình đặc biệt của vành đai biển này với độ dốc thoai thoải trải dài và đất bùn, giúp ích cho việc nuôi trồng thủy sản. Lội ra xa đến vài trăm mét, nước biển cũng mới chỉ đến nửa ống chân.
Vào những lúc thủy triều lên, nước cũng chỉ cao đến ngang bụng người ra biển. Những cánh đồng Vạng mọc lên trên khắp bãi biển với những gác canh, vài chiếc thuyền thúng trong làn nước dập dờn.
image
Những cánh đồng Vạng mọc lên trên khắp bãi biển với những gác canh.
image
Lội ra xa đến vài trăm mét, nước biển cũng mới chỉ đến nửa ống chân.
Theo cách gọi địa phương, vạng là tên của con Ngao. Ở miền Trung có nơi gọi nó là con xìa. Bãi biển này là khu vực nuôi vạng, là nguồn thu nhập chính của người dân trong vùng. Những chòi canh vạng được bà con dựng lên như những ngôi nhà trên cọc để trông nom và chăm sóc mùa vạng.
Loài gao không đòi hỏi phải đầu tư lớn như nuôi tôm, nuôi cua, mỗi ha chỉ cần khoảng vài triệu đồng tiền lưới bảo vệ, trông nom và giống, không cần phải cho ăn thêm bởi ngao, ngán ăn phù du sẵn có trong bãi nuôi. Cả bãi biển chạy dài 5 km được dành cho nuôi ngao. Trong vài năm trở lại đây, con ngao đã trở thành nguồn làm giàu cho Tiền Hải nhờ xuất khẩu.
image
Với lợi thế của nghề nuôi ngao giúp cho nhiều hộ ngư dân giàu lên nhanh chóng.
image
Trong vài năm trở lại, du lịch biển tại địa phương này hoàn toàn nhờ vào nguồn thủy hải sản mà tìm đến.
Cách đó không xa, trên cánh đồng nuôi Vạng là bóng dáng của những bé trai bé gái đang tìm kiếm một loài thủy sản khác nằm rải rác trên khắp bãi biển và cũng phong phú không kém: những con ốc móng tay. Nằm sâu trong lớp đất bùn, ốc móng tay có dáng dấp giống với sá sùng, màu trắng sữa.
Chỉ cần một que thép nhỏ và làm cong một phần đầu dây là có thể sọc được một chú ốc móng tay nằm sâu trong cát. Đám trẻ rành nghề thoáng thấy sủi tăm bọt nước trên gợn bùn là nhanh chóng túm được ngay một con. Những con móng tay chỉ ở cách nhau vài cm, trong một nhoáng đã tìm được một rổ đầy.
Con móng tay bán với giá 20.000 đ/kg, được các nhà hàng phía trên chào đón mua cho khách. Một rổ mới được hơn một cân nên cũng nhiều khách mua ăn thử vì thấy không đắt lắm mà món cũng khá lạ. Đơn giản mà lại có tiền nên khá nhiều trẻ đang cặm cụi tìm bắt trên khắp bãi biển trải dài.
image
Những cô cậu bé hăng say làm việc từ sáng đến tối bắt móng tay.
image
Con móng tay bán với giá 20.000 đ/kg, được các nhà hàng phía trên chào đón mua cho khách.
“Em bắt con này được hơn 1 năm rồi, khách họ thích ăn lắm”. – Khanh, cậu bé đội mũ lưỡi trai nói với tôi – con này vào mùa đông nhiều hơn, mùa hè nắng và nóng chúng nấp sâu nên khó bắt lắm. Nếu không bán được cho nhà hàng trên kia mua thì em mang về cho mẹ em nấu canh ăn, cũng ngon lắm”.
Con móng tay không phải nuôi, sống rất nhiều trên bãi biển này. Cứ sau một đêm nước lên, quay lại là lại thấy móng tay nằm đầy dưới lớp cát. Nhưng bắt được nó cũng phải có kĩ thuật riêng, chứ không là không bắt được hoặc sẽ xiên ngang qua người nó.
Loài móng tay có cùng một hệ thức ăn giống với con ngao. Quanh vùng biển gần với các cửa sông lớn đều có loài phù du này nhưng nhiều nhất và dễ bắt nhất là bãi biển Đồng Châu. Những con móng tay nho nhỏ, một loài thủy sản ít người để ý tới cũng trở thành một nguồn thu nhập không nhỏ cho những đứa trẻ tại huyện Tiền Hải.
image
Những con móng tay trở thành một nguồn thu nhập không nhỏ cho những đứa trẻ tại huyện Tiền Hải.
image
Những cửa hàng mọc san sát nhau đua ra với biển tạo thành một tổ hợp liên hoàn.
Từ khi người đến du lịch Đồng Châu với cái thú thưởng thức hải sản là chính thì bãi biển này không lúc nào vắng những cô cậu bé hăng say làm việc từ sáng đến tối bắt móng tay. Ốc móng tay khi mang từ biển lên được ngâm trong khoảng 10 đến 15 phút cho sạch cát bên trong rồi mới đem luộc hoặc hấp. Khi ăn tách vỏ, thịt ngọt và thơm. Vỏ móng tay tách rất dễ và giòn tan, thịt trắng đục, dễ ăn.
Trên bãi biển lúc nào cũng có khoảng gần 20 em, tranh thủ lúc nghỉ học chạy ra biển bắt móng tay, kiếm chút tiền phụ giúp gia đình. Tầm gần trưa, một số em rời khỏi bãi biển đi học. Cho đến khi chúng tôi ăn xong bữa thì xuất hiện một tốp các em nhỏ khác bắt tay vào việc.
Biển Đồng Châu mấy năm nay nhờ vào con ngao mà phát triển. Những cửa hàng mọc san sát nhau đua ra với biển tạo thành một tổ hợp liên hoàn. Các chòi được xây cao hẳn với mặt biển bằng các cọc tre. Ngó từ đầu đến cuối dãy cũng khoảng 40 nhà hàng. Từ trên cao vươn tầm ra những bãi ngao trải dài là mặt biển và những chòi canh tạo nên vẻ đẹp riêng cho biển cả…
Vào những buổi bình minh, cả bãi biển long lanh một màu óng ả của trời và biển hòa quyện một màu đỏ thắm đầy cuốn hút.
image
Vỏ móng tay tách rất dễ và giòn tan, thịt trắng đục, dễ ăn.
image
Ốc móng tay khi mang từ biển lên được ngâm trong khoảng 10 đến 15 phút cho sạch cát bên trong rồi mới đem luộc hoặc hấp.
Muốn ghé qua đây tắm biển nên chạy thuyền ra đảo Cồn Vành, Cồn Thủ cách Đồng Châu khoảng 7km. Đảo Cồn Thủ thích hợp với một buổi picnic với một bãi tắm cát trắng và những rừng thông xanh. Đảo Cồn Vành lại là nơi dành cho khám phá với những rừng nước ngập mặn là nơi lưu trú của nhiều loài chim quý hiếm như cò thìa, bồ nông…thu hút nhiều khách ra tham quan.
Với lợi thế của nghề nuôi ngao giúp cho nhiều hộ ngư dân giàu lên nhanh chóng. Trong vài năm trở lại, du lịch biển tại địa phương này hoàn toàn nhờ vào nguồn thủy hải sản mà tìm đến.
Trên bãi biển, thấp thoáng bóng dáng của những ngư dân đang chăm cho bãi vạng của mình. Biển Đồng Châu một ngày mới với cuộc sống mưu sinh.
image
Với lợi thế của nghề nuôi ngao giúp cho nhiều hộ ngư dân giàu lên nhanh chóng.
image
Biển Đồng Châu một ngày mới với cuộc sống mưu sinh.

Read Full Post »

Cá dìa nướng muối ớt.
Cua Huỳnh Đế.
Tôm nướng.
Lẩu hải sản thập cẩm.
Cá ninja ăn ngon như thịt gà ta.
Gỏi da cá nhám.
Cá mặt quỷ.
Cá bốp kho tộ.
Bánh hỏi cháo lòng.
Các loại bánh truyền thống của Bình Định.
Bánh ít lá gai.

Read Full Post »

TTO – Người Bình Định tha hương sau chuyến thăm nhà thường mang theo một vài thứ phong vị quê mình, trong đó không thể thiếu nem chua. Du khách về vùng đất võ, trước khi rời xa ai cũng cố tìm mua vài chục nem chua làm quà cho người thân.

Nem chua Bình Định – Ảnh: T.L.

Nói Bình Định là xứ sở của nem chua quả không ngoa. Suốt quốc lộ 1A ngang qua huyện lỵ Tuy Phước hay trên những con phố dài Quy Nhơn, người đi đường dễ dàng bắt gặp nhiều quán bày bán đặc sản nem chua với nhãn hiệu quen thuộc: Năm Thu, Bốn Lai, Bốn Tạo… Ở nơi này hầu như nhà nào cũng có thể làm nem. Tuy nhiên, để có một chiếc nem đặc trưng của đất Bình Định, người chế biến phải tuân thủ nhiều nguyên tắc nhất định, bắt đầu từ khâu chọn nguyên liệu.

Người ta chọn những con lợn cỏ đã vừa tầm làm thịt (không quá già, không quá non, chỉ nặng trên dưới 10 kg). Lóc lấy những thớ thịt tươi (cón nóng hổi), lau khô bằng vải sạch, lạng bỏ gân và lớp nhầy rồi dùng dao thật bén xắt ra từng lát mỏng. Công đoạn xắt thịt cũng là một “nghệ thuật”, phải xắt mỏng đến mức… tận cùng. Thịt xắt xong cho gia vị như muối, tiêu, đường, một ít bột ngọt, sau đó bỏ tất cả vào cối quết nhuyễn, càng quết săn tay càng ngon.

Các loại gia vị phải đúng liều lượng, nếu mặn quá sẽ ăn mất ngon, nhạt quá nem sẽ không thấm. Phần da heo xắt sợi mảnh (như cọng bún hoặc hột lựu) trộn đều trong thịt nhuyễn, không quên thêm vài hạt tiêu.

Thịt sau khi đã quết chỉ cần dùng lửa than nướng là được món nem tươi. Khi nem sủi bọt, nhỏ từng giọt gia vị xuống bếp than hồng kêu xe xè, thơm ngây ngất thì nhanh tay nhấc khỏi bếp. Người ăn thưởng thức nem tươi kèm với rau mùi, tía tô, rau răm, chuối, khế xắt nhỏ, hoặc cuốn với bánh tráng mỏng để cảm nhận cái dai, cái giòn của món đặc sản này.

Nếu nem tươi là món ăn liền, muốn để dành hoặc làm quà cho người thân thì mua nem chua. Nem chua cầu kỳ hơn ở công đoạn gói với mục đích bảo quản chiếc nem thơm ngon trong thời gian dài. Người ta chọn từng chiếc lá ổi non xanh, loại bỏ lá già, sâu, rọc từng tờ lá chuối đếm phơi nắng cho dịu, chẻ lạt rồi vuốt thật mỏng để buộc nem (có thể dùng dây nhựa thay thế).

Những miếng nem vừa bóc trông thật hấp dẫn – Ảnh: T.L.

Nem muốn gói to hay nhỏ thì tùy ý nhưng phải bọc trước bằng lá ổi non để tạo mùi thơm. Vốc một muỗng thịt vào bàn tay, nắn thành từng miếng nho nhỏ, vuông vuông quấn lá ổi quanh thịt. Xé lá chuối thành miếng có bản rộng bằng chiều dài miếng thịt, quấn lại nhiều vòng quanh lá ổi, bẻ gập chéo hai đầu lá chuối ta được một chiếc nem, lấy dây buộc chặt. Bảo quản nem nơi thoáng mát, vài ngày sau là có thể sử dụng.

Một số gia đình thay lá ổi bằng lá vông, thứ cây thuốc này vừa làm đẹp cho chiếc nem vừa tạo mùi vị hấp dẫn, thịt lại thơm ngon và dịu hơn.

Những ai từng đến vùng đất võ tha hồ ngắm tháp chàm, thành Đồ Bàn… rồi thưởng thức nhiều món ngon. Chắc hẳn khó có thể quên được vị bánh hỏi thơm nồng, hương quê mộc mạc của bánh ít lá gai hay mùi rượu bầu đá nồng nàn… và cả những chiếc nem nhỏ tí mà hội tụ đủ vị chua, cay, mặn, ngọt của tình người nơi đây.

THANH LY

Read Full Post »

BÁNH HỎI THỊT NƯỚNG QN ..

Questions cake .

Hôm nay QN mời các bạn món Bánh hỏi thịt nướng nhé . Nhớ lúc con gái còn nhỏ , mổi lần thấy nhà làm món này là cháu reo lên ghẹo mẹ :
Oh ! hôm nay Má làm  Questions cake ….( Cháu rất thích món này .)
Giờ con lớn đi xa hết rồi ,  mổi lần làm chỉ vừa đủ 2 đĩa nhỏ thôi , làm nhiều không có người ăn …

Có nhiều loại bún khô để làm , nhưng thử đi thử lại ,  bánh hỏi khô , hiệu Bình tây là QN thích nhất  . Món này phải có hẹ , mà là loại hẹ lá nhỏ , phi với dầu hành  trét lên bánh ,  mới đúng điệu bánh hỏi QN .
Đôi khi  chỉ cần bánh hỏi thoa dầu hẹ , chấm xì dầu , ớt tỏi thật cay là cũng đủ ngon . Tuy nhiên thường thì  bánh hỏi  ăn chung với thịt nướng , hoặc thịt heo quay . Thêm vài cái chả ram ,  rau sống đủ loại  … vậy là có một bữa ăn đúng điệu , đậm mùi vị quê hương rồi .
 Nhưng với kiểu ăn của dân nẫu ,  thế nào cũng phải có bánh tráng đi kèm . Hoặc nướng , hoặc nhúng như một thói quen .
Bên này bánh tráng bán ngoài tiệm mỏng quá , ăn không phê , ( OX tôi và nhiều người nói vậy  ) . Nên từ TX , chúng tôi hay gởi về CA mua bánh tráng do mấy bác người QN làm tại nhà , và gởi đi bán ở những nơi có đông dân nẫu . Bánh tráng này đặt biệt dày , chỉ dân nẫu ăn thấy ngon thôi  . Sản xuất cá thể  , nên có khi số lượng cung không đủ cầu , do vậy lắm khi khách hàng phải đặt trước và chờ đợi ….
bánh trráng xứ nẫu sản xuất tại California

 

Bánh này , nhúng ăn liền dù tuy dòn hay bị bể , nhưng vẫn ngon , chứ để lâu , sẽ dai , răng người lớn tuổi đã iếu ( như tôi ) , e nhai không nổi .
Dân nẫu hay còn gọi là dân Bình định có cách ăn riêng khá lạ , mà dân miền khác không ăn được . Hôm  ăn bánh xèo ở nhà tôi , có một anh bạn người Bắc , thấy chúng tôi ăn bánh tráng nhai rau ráu , một cách ngon lành , trông mời mọc quá  . Anh cũng thử , nhưng bỏ cuộc , vì bánh  quá dày ( đối với anh ) ,
Anh nói : ” bánh kiểu này , ăn một cuốn , no mất làm sao ăn được thứ khác .”
 Tôi cười đểu : Vậy mới đỡ hao đồ ăn ..!
Thật ra ,  Dân miền trung mình , vốn nghèo ,…  mùa đông thiếu áo , hạ thời thiếu ăn …Còn có câu ..” đất cày lên sỏi đá “..  , nên ăn chỉ cốt no bụng  , lâu ngày thành thói quen , và thiếu … thì nhớ … nhớ … vô cùng .
Có hôm làm việc khuya , đói bụng , OX  xuống bếp , loay hoay một lúc , đem vào phòng  hai cuốn bánh tráng  , to như bắp tay , mỗi người một cuốn … ăn ngon gì đâu ….
Có thể dân miền khác , nhìn cách mình ăn sẽ hết hồn  nhưng với dân nẫu mình , thì đây là  ” chuyện thường ngày ở ruộng ” , chỉ cần đổ chả vài cái trứng gà , nhúng hai cái bánh tráng dày  ,, là no bụng và ngon quá trời ..! ( đang viết mà nghỉ đến cũng thấy thèm nè ! ) .

 Bonus : tô dưa gan mật ong ăn  tráng miệng .

Nói vậy nhưng thật ra bên này , loại bánh tráng này mua cũng không rẻ đâu nhé . Tiền bánh , tiền cước phí gởi tận nhà cũng khá  nhiều , vậy mà tới tay cũng bị bể hết 1/3 ràng . Tuy vậy cũng không sao , dân nẫu mà , nhiều cách ăn lắm , bể thì ăn theo bể . ..
Đây nè , QN bày cho cách ăn bánh tráng bể nhé , nước soup bún bò còn dư , canh kiểm ( canh chay ) , canh don ( hến ) ,  nước phở .v.v.v.. nói chung là nước soup , bạn bỏ bánh tráng bể này vào …
Ui chu cha ơi !… ngon lắm nghen , nhiều khi hết bánh tráng bể , OX phải lấy bánh tráng nguyên bóp nhỏ bỏ vào đó , hôm nào bạn thử đi … ngon thì khen Ông Xã QN một phát , món này do sáng kiến của OX đó ..

( PS : Thịt cá , bỏ không tiếc , nhưng bánh tráng thì không bỏ đâu , kiểu lạ vậy đó … hehehe )

Dù bây giờ , trên xứ người thức ăn không còn thiếu thốn , có thể nói , món ngon vật lạ dư thừa , nhưng không hiểu sao : ràng bánh tráng , chút mắm , chút rau …. chỉ là những món bình dân , rẻ tiền của một  thuở nghèo khổ , ở mảnh đất cày lên sỏi đá miền trung , lại trở thành niềm ước ao  , hiện diện trong trí nhớ của những người xa xứ .

Nhất là những hôm mưa dầm …. ngồi trong bếp nhìn ra hồ cá sau vườn , bên cạnh đám rau , giàn bí xanh mướt , ướt sũng .. mà nhớ về thôn xóm cũ … Chúng tôi hay  chép miệng ước ao :
…. Trời này mà có món bánh xèo vỏ chấm mắm nêm , hoặc … nếu có món này …, hoặc …. nếu có món kia …., như ở quê mình thì  ngon biết mấy …?

Thôi QN xin dừng ở đây , người có tâm hồn ăn uống như QN  , hễ nhắc tới thức ăn thì … mơ mộng lắm . Tản mạn thêm … lại thấy nhớ , rồi thèm …
Hôm nay mời ăn tạm món bánh hỏi thịt nướng , kèm rau sống , bánh tráng Qui nhơn này đi nhé  . Đặc sản do chính QN chuẩn bị đấy . Chúc các bạn ngon mắt  .
Thân mến hẹn các bạn  lần tới …QN còn nhiều món lắm …./.

Quinhơn11

Read Full Post »

Bút kí của Vĩnh Hoan

Cá nục rộ suốt mấy tháng qua ở vùng biển quê mình. Cũng là những ngày oi nồng bức bối bởi giữa mùa hè. Biển lại êm ở những khoảng thời gian này và ghe tấp các bến ở Bình Định bắt khẳm bởi nục ơi là nục. Quá chừng chừng cá nục… Trên bãi, dưới thuyền, trên bờ, trong chợ, sân phơi, lò hấp… đâu đâu cũng cá, đâu đâu cũng nục.

 
Cá nục kho.

1.

Có cá nục bữa cơm ở nhà thật phong phú mà khuôn mặt của vợ lại  thấp thoáng nụ cười. Không hỏi chồng cũng hiểu ngay và chạnh lòng xót xa. Vật giá leo thang ngày một mà thu nhập lại chẳng chịu leo theo. Đi chợ ít ỏi, lèo tèo thì cực lòng chẳng đặng mà không, thâm thủng lấy đầu bù? May quá lại tới mùa cá nục.

Cá nục nấu thơm cà, tô canh thanh cảnh đẹp tươi sắc màu. Này nhé, màu xám đen của cá, đỏ rực những miếng cà, vàng ươm những lát thơm và ngắt xanh hành ngò. Nước canh trong mà ngọt lịm đầu môi. Chưa kịp bới cơm đã muốn múc ngay mấy muỗng vô chén để húp. Người miền Trung, dân biển có kiểu dùng mắm trong lấy muỗng giằm mấy trái ớt hiểm và đựng mắm vô cái đĩa có lòng rộng, sâu. Chừng bắt đầu ăn mới vớt cá từ tô canh ra đặt vô lòng đĩa mắm. Ở Bình Định, nếu muốn thay đổi thì bữa sau lại nấu canh cá nục lá giang, ăn giải nhiệt. Cá nục nấu lá giang mới nghe nói đã thấy cái giọng xứ củ mì phảng phất…

Ngoài canh thế nào vợ cũng chiên một ít cá nục ăn với xoài bằm dầm mắm ớt tỏi chanh đường, hấp dẫn khỏi chê. Cá nục lớn hơn kho nước sền sệt và nước đó thêm trái ớt, làm nước chấm rau luộc mới là đúng kiểu. Rồi cá nục nho nhỏ kho keo, dẻo tốn cơm thôi khỏi nói. Vợ đã biết chừng mua hơi nhiều nhiều để sáng ngày ra làm soong cháo đặc. Ăn nhẹ bụng mà nhẹ cả túi tiền gia đình.

 
Cá nục hấp cuốn bánh tráng là một món ăn đặc trưng của Bình Định.

2.

Hồi ở ngoài quê, chợ đã xa mà phải theo phiên nên mỗi lần đi, phải lo mua đồ ăn nhiều nhiều. Tới mùa cá nục má tha hồ mua vì cá nục đâu có mắc. Thường má cho nhà ăn xổi canh, chiên, cháo, hấp… gì đó ngay trong ngày, còn bỏ kho hết. Cái thứ cá kho đó mà phải là cá nục kho, dầm sấu làm canh có một hương vị hết sức độc đáo. Cũng là chua nhưng chua của khế, của lá giang, của chanh không hề giống cái chua khó quên của sấu. Đã vậy lại thêm những miếng cá nhỏ đã dầm hết sức đậm đà. Tôi ghiền món canh này do được ăn suốt một thuở ấu thơ, qua rất nhiều mùa cá nục. Giờ thì chịu vì trong này đâu có trái sấu.

Người giàu ăn nhiều đồ ăn cao cấp bỗ dưỡng. Ăn hoài cá thu, cá chẽm, cá cam… cũng ngán. Muốn đổi bữa cho chồng con bằng tô canh cá nục hay mớ cá nục nhỏ xíu kho tiêu dẻo quẹo mặn mòi. Như vậy là người giàu đã biết thương cá nục rồi đó! Mà cá nục cũng đâu có “mặc cảm” gì với người giàu. Thấy cũng thân thiện, gần gụi. Còn hỏi người nghèo có thương cá nục không? Trời ơi! Thương hung và ham lắm. Bởi cá nục rẻ, ngon, dễ chế biến, mát, hiền và ăn hoài không ngán.

3.

Tôi có người bạn ở Sài Gòn mở một nhà hàng bán toàn thức ăn miền Trung. Một bữa vợ chồng anh ấy nhận được một cái đơn đặt hàng với chỉ một món: cá nục hấp theo kiểu “nẫu” cuốn với rau sống, bánh tráng Bình Định. Mà cái bàn đặt ấy nói toàn giọng Trung lai lai, không cần tinh ý vẫn nhận ra đó là những người ngoài này vô sống đã lâu năm trong đó. Còn cá nục hấp kiểu “nẫu” là hấp trơn cá với cá, hấp không có phụ liệu đi kèm. Hấp thiệt nên cái ngon, cái ngọt rất thiệt. Đúng cách kiểu chân chất, mộc mạc của người miền Trung. Cũng may giờ có dịch vụ gửi hàng theo xe khách và họ có nhận cả đồ hải sản. Nên trong đó chỉ cần alô về đây bữa nay là ngay ngày mai nhà đã có cá mú, mực, tôm… tươi rói của biển giả ngoài này để kho, nấu, chiên, um.

Tuần trước bà cô tôi gọi điện về nói thèm tô cháo cá nục nấu kiểu Tam Quan. Nấu cháo kiểu này là nấu với nước cốt vắt từ cơm dừa. Ngon lắm! Tô cháo thơm lựng và béo ngậy. Cũng do Tam Quan hồi xưa dừa bạt ngàn nên mới dám hoang lung dừa tới vậy. Chứ giờ dừa Tam Quan cũng đâu còn nhiều mà giá lại cao, nấu một nồi cháo kiểu đó tốn kém cũng không ít. Cũng may là chưa hết mùa nục và tuần dăm lần vợ tôi cho cả nhà điểm tâm cháo đặc ăn với cá kho keo. Keo cá, dẻo cháo và dẻo queo tình cảm gia đình. Bởi đó đã thấy lo lo khi sắp qua mùa cá nục…

Mùa cá nục, có việc ra bến bãi thấy lòng rộn vui. Tâm hồn lang thang theo từng cái ghe tấp bờ khẳm cá, theo bước chân người gánh, theo cánh tay người bưng… Những rổ, những thúng, những mủng đầy vun cá nục. Ăm ắp nục suông, nục bông, nục gai, nục giời…

Nguồn baobinhdinh.com.vn

  • V.H

Read Full Post »

Võ Phiến

Tranh Khánh Trường

Thỉnh thoảng chúng ta gặp ở tiệm một vài người Mỹ ngồi ăn phở. Có người cầm đũa khá thạo. Trong số một đôi triệu người Mỹ luân phiên đến xứ này rồi ra đi, những kẻ tò mò tiến xa vào nếp sống Việt Nam tới mức ấy chắc không lấy gì làm nhiều. Các kẻ ấy trở về nước, giữa dăm ba câu chuyện ly kỳ về đất Việt xa xôi kể với bạn bè, có thể múa biểu diễn cặp đũa, có thể nói đến cái mùi lạ lùng của rau quế vừa ăn vừa ngắt từng lá bỏ vào tô phở, đến cái vị ngộ nghĩnh của những tép củ hành nhúng trong nước dùng vớt ra với chỏm lá xanh xanh v.v… Như thế là vượt xa quá những khuôn sáo, những chỗ gặp gỡ thông thường của các du khách rồi. Du khách Tây phương nói về món ăn Việt, bất quá gặp nhau ở món nước mắm, rồi thôi.

Vậy những người Mỹ hiếm hoi nọ đáng khen, về sự hiểu biết rộng rãi.

Tuy nhiên từ chỗ biết ăn phở cho đến cái trình độ am hiểu các đặc điểm, các sở trường sở đoản của từng thứ phở bò, phở gà, phở nước, phở áp chảo, phở tái, phở chín, phở nạm, phở gầu, phở sụn v.v…, còn nhiều cách biệt. Rồi từ chỗ thạo phở cho đến cái tâm tình về phở như của Nguyễn Tuân, lại còn một tầng cách biệt nữa. “Nắm vững” một món ăn — chỉ một món thôi — đâu phải dễ.

Thật vậy, không cứ là khách ngoại quốc, ngay đến người Việt Nam không phải ai cũng bưng tô phở mà ăn như nhau, với những cảm tưởng giống nhau. Một nông dân ở thôn ấp nào đó ngoài Phú Yên, Quảng Ngãi v.v… ăn phở Bắc cũng như ăn hủ tiếu Mỹ Tho, cũng như ăn mì Tàu, nghĩa là hững hờ. Còn người nông dân ở Cà Mau, Rạch Giá v.v… chẳng hạn có thể có sự thiên vị bất lợi cho phở. Người Việt miền Nam chỉ hoan hỉ chấp nhận món phở sau một vài canh cải, tức sau khi đã trút vào tô phở được non nửa dĩa giá sống.

Phở là món ăn phổ biến hết sức rộng rãi từ Bắc chí Nam mà còn thế, huống hồ là những món ăn khác. Mỗi món ăn thường chỉ được sủng ái ở một vùng, hoặc rộng hoặc hẹp. Xơi nó thì ai cũng xơi được, nhưng gọi là tri kỷ, biết đến tận cùng cái ngon của nó, chỉ có thể là người một địa phương. Chả cá, bún thang, là những thứ quí của đất Bắc; từ ngày vào Nam dường như nó lạc lõng, ít ai thấu triệt ý vị của nó. Bún bò, bánh lá, ngày nay lưu lạc khắp nơi; nhưng tôi tưởng tượng ở một góc chợ Trương Minh Giảng, ở một hẻm Bàn Cờ, thỉnh thoảng miếng bánh lá mỏng mà gặp lại một cái lưỡi Huế có phảng phất mùi thuốc Cẩm Lệ nó sẽ mừng rơn. Bỏ một miếng bánh, húp một muỗng bún vào mồm, có phải ai cũng thưởng thức như ai đâu. Giữa món ăn với người ăn phải có sự tương đắc. Khi đã tương đắc, đã cảm thông sâu xa với nhau, người Nam ăn ba khía, ô môi, người Huế ăn cơm hến, người Bình Định ăn mắm cua chua chan bún thấy thấm thía, nồng nàn. Cái mùi vị nồng nàn ấy, kẻ khác không chịu được.

Mỗi món ăn chỉ có một số người thực sự hiểu nó, số người ấy là của một địa phương. Vậy món ăn có liên hệ đến khí hậu địa phương chăng?

Ở xứ lạnh dễ thấy cái ngon trong trong chất mỡ béo, ở xứ nóng dễ rành về các thứ rau, canh. Người Huế ăn cay, một phần hình như cũng vì khí trời ẩm ướt của những mùa mưa dai dẳng. Người miền Nam thích giá sống vì nó giải nhiệt?

Khi đã chuyên ăn một món nào đó, người ta càng ngày càng thành thạo trong việc chọn lựa, sử dụng, người ta tìm thấy ở nó những đặc điểm mà kẻ khác không để ý đến; do đó người ta vượt bỏ, tách rời khỏi quần chúng. Về quả ớt chẳng hạn, chắc chắn đồng bào ở các nơi ít ai theo kịp người Huế trong cách thưởng thức: kẻ yêu ớt không chỉ yêu nó vì cái vị cay, mà còn vì mùi hăng nồng, vì cái tiếng kêu giòn phát ra dưới răng khi cắn nó, lại yêu vì trông nó sướng mắt, cầm nó sướng tay trong giây phút mân mê trước khi đưa lên mồm… Người Huế ngoài cách ăn ớt bột, ớt tương, ớt xắt, ớt giã v.v…, còn thích lối ăn cầm cả trái ớt tươi rắn chắc mà cắn kêu đánh bụp trong miệng thật ngon lành; để cắn, họ chọn ớt xanh.

Nhưng một chuyện khí hậu nhất định không đủ. Cái ăn còn tùy thuộc ở sản phẩm sẵn có của địa phương, ở lịch sử v.v… Ở lịch sử? Nghe thì to chuyện, nhưng chính tại lịch sử mà người Bình Định quen ăn bánh tráng. Thứ bánh tráng Bình Định tìm mua ở Sài Gòn rất khó, vì không thấy bán ở các chợ, chỉ gặp tại một vài nơi ngoại ô hẻo lánh; người Bình Định có những bữa ăn dùng toàn bánh tráng thay cơm, cho nên bánh tráng ở đây có địa vị quan trọng hơn ở các địa phương khác. Đi xa, người Bình Định nhớ bánh tráng như người Việt sang Âu châu nhớ cơm, nhớ bánh cuốn. Như thế có phải vì bánh tráng từng là lương khô dùng trong quân đội Nguyễn Huệ, xuất phát từ Bình Định?

Món ăn còn quan hệ với lịch sử theo cách khác. Thiết nghĩ người Việt Nam đời Trần dùng món thịt cầy không đối diện với dĩa rau thơm giống dĩa rau thơm chúng ta có trước mặt ngày nay. Không phải đột nhiên tự lúc đầu lá mơ đã đi với thịt cầy, rau om đã tìm đến thịt cầy. Tôi chắc thế. Các đấng tổ tiên phải có một thời kỳ mò mẫm, thí nghiệm; có thể các ngài đã thử dùng lá chanh và rau răm ăn với thịt heo chẳng hạn, dùng rau om với thịt gà, dùng lá lốt với thịt cầy chẳng hạn v.v… Cả tập thể tham gia vào cuộc tuyển trạch, mọi người đều có quyền tự do khen chê. Những cái không thích hợp dần dà bị đào thải, các lầm lẫn được sửa chữa, các thiếu sót được bổ túc. Cứ thế, từ thế kỷ nọ sang thế kỷ kia, hết thế hệ này đến thế hệ khác kế tiếp nhau canh tân, rốt cuộc mới đến chỗ toàn mỹ.

Nhưng đã toàn mỹ chưa? Chưa chắc. Hôm nay ta nhắm nháp chả cá, lấy làm đắc ý và hãnh diện về nghệ thuật nấu nướng của dân tộc; tam bách dư niên hậu, có thể cách ấy sẽ bị xem là quá thô sơ. Trước đây năm bảy thế hệ, trên mâm chả cá có thể thiếu thìa là, có thể thiếu chén đậu phụng rang, mắm tôm có thể thiếu giọt cà cuống… Sau đây năm bảy thế hệ người Việt nữa, ai ngờ được sẽ xảy ra thêm những phát kiến gì mới?

Một món ăn, nó cần có thời gian để tự cải tiến; mỗi địa phương cần có thời gian để hoàn thiện các món ăn của mình. Lâm Ngữ Đường chê bai món ăn Tây phương nghèo nàn: nó nghèo nàn như vậy phải chăng vì lịch sử văn minh của Tây phương ngắn ngủi hơn của Trung Hoa? Lịch sử dần dà làm phát triển văn chương, khoa học; nó cũng làm phát triển các món ăn nữa. Nhưng trong khi các kế hoạch gia hy vọng đốt giai đoạn để sản xuất gấp bom nguyên tử, không ai đốt được giai đoạn để cải thiện món phó-mát, để sản xuất gấp một thứ phó-mát mới ngon hơn các thứ cũ. Nghệ thuật khoan thai đủng đỉnh hơn khoa học; nó không chịu sự thúc bách giục giã. Phải chờ đợi. Phải có thời gian cho nó.

Sự hình thành của một món ăn cũng như của một câu ca dao, của một điệu dân ca. Ấy là những công trình tập thể, trong đó mỗi cá nhân đều có sự đóng góp. Thật dân chủ, bình đẳng: mỗi người một lá phiếu. Lá phiếu ở đây là cái lưỡi. Và sự chọn lựa của mỗi người không có lý do gì để thiếu chân thành. Mỗi người chọn lựa bằng cả các tạng phủ của mình, bằng tất cả các đặc điểm thể chất của mình, để cùng nhau đi đến cái kết quả chung trong đó mỗi người của địa phương đều có trách nhiệm: người Huế tìm ra cái hay ho của ruốc, người Nam thấm thía ý vị của nước cốt dừa v.v… Tại sao vậy? Người ta không tìm được câu trả lời dễ dàng. Sự chọn lựa ấy, căn nguyên của nó bắt nguồn từ những cội rễ nào thâm thiết sâu xa trong kiến trúc sinh lý của con người mỗi nơi. Người của mỗi địa phương có một cá tính riêng về tâm lý: có nơi hào hùng, có nơi keo kiệt, có nơi ưu du nhàn dật… Mỗi địa phương cũng có thể có một cá tính sinh lý chăng? Sự dị biệt trong thứ cá tính ấy hẳn là mong manh, tế nhị, tinh vi lắm; khó lòng mà biện biệt phân minh. Tuy nhiên rõ ràng nó đã nêu ra những đòi hỏi khác nhau, những sở thích khác nhau.

Như vậy người ta không chỉ ăn bằng mồm. Con người ăn là ăn bằng cả gốc gác quê hương, bằng phong tục tập quán của mình, bằng cái khí chất riêng biệt của cơ thể mình, cũng như bằng lịch sử, bằng trình độ văn hóa của xứ sở mình. Trong một dĩa đồ ăn, có phản ảnh của khí hậu một miền, của những đặc điểm sinh lý con người địa phương… Và giả sử nói có cả phản ảnh của một phần nào những đặc điểm tâm hồn trong đó có quá chăng? Cái vị ngọt rất thanh của các thứ chè ở Huế gợi nhớ đến nét dịu dàng trong giọng nói và trong tính tình người Huế. Nhất là nếu so sánh thứ nước chấm pha chế rất dịu ở Thừa Thiên với thứ nước mắm thường dùng giữa khoảng đèo Hải Vân cho đến đèo Đại Lãnh, người ta không khỏi nghĩ đến cái tâm lý xẳng xớm bộc trực của người dân Việt từ Quảng Nam Quảng Ngãi trở vào…

Từ chút nước mắm chấm rau chấm thịt mà nói đến tâm hồn con người, e đã quá xa. Tưởng không nên tiếp tục chuyện ăn uống nữa, nếu không muốn lạc vào chỗ viển vông lố bịch.

Nhưng văn chương nghệ thuật lại cũng không khác cái ăn là mấy. Ca dao, dân ca là sản phẩm của một địa phương; và thưởng thức đến tận cùng cái hay ho của nó hình như cũng chỉ có thể là người của địa phương. Nghe một điệu ru à ơi trong đêm khuya chúng ta rung cảm thấm thía đến đáy lòng, tưởng trên thế giới khó có một giống dân nào nghe điệu hát ấy mà cùng có được cái rung động của chúng ta. Họ có nghe chăng bất quá là nghe bằng lỗ tai thẩm âm tinh tế; còn chúng ta nghe bằng cả quãng đời thơ ấu của riêng mình, bằng truyền thống của dân tộc mà mỗi chúng ta thừa tiếp nơi mình…

Hiểu một câu ca dao, một bài thơ cũng vậy. Ngôn ngữ dùng để làm ra thơ văn không thể là cái ngôn ngữ chỉ có nghĩa mà thôi. Tiếng Espéranto không có hy vọng dùng vào thi ca. Nó chỉ có nghĩa, nó không có hồn.

Hồn của ngôn ngữ là cái quái gì?

Mỗi tiếng nói: non sông, ruột thịt, xanh, vàng v.v…, ngoài cái nghĩa nó ra, còn có khả năng khơi động nơi mỗi chúng ta một rung cảm nào đó. Liên quan giữa rung cảm nọ với ý nghĩa của mỗi tiếng nói thật xa xôi mơ hồ. Bởi vì cùng một tiếng có một nghĩa nhất định, lại có thể gợi lên những xúc động khác nhau tùy mỗi người, mỗi dân tộc. Cái nội dung tình cảm mơ hồ nọ do cuộc sống của tập thể gửi vào ngôn ngữ. Có dự vào cuộc sống của tập thể nào mới cảm thông với cái hồn của ngôn ngữ nấy. Chủ trương thơ thuần túy chính căn cứ vào sức tác động bí ẩn của ngôn ngữ, chứ không phải vào ý nghĩa minh bạch của nó; bởi vậy cái hay mà thơ thuần túy nhằm đạt tới là ở ngoài phạm vi ý nghĩa. Và như thế một kẻ trí thức ngoại quốc, sống ngoài cộng đồng dân tộc Pháp, một kẻ mà những buồn vui sướng khổ trong đời không liên hệ gì đến tiếng nói Pháp, mà hàng ngày những tai nghe mắt thấy cùng xúc cảm trong lòng không dính líu gì đến tiếng nói Pháp…, một kẻ như thế có thể thưởng thức được gì ở thơ Valéry, Mallarmé? có thể thưởng thức sao được như một người Pháp?

Cũng như ăn không chỉ bằng mồm, người đọc không chỉ đọc bằng khối óc suy xét. Người ta thưởng thức cái đẹp của một văn phẩm nước nào bằng cả cái kinh nghiệm chung chạ cùng tiếng nói nước ấy, bằng cả sự gần gũi với nếp sống đã từng phát sinh và không ngớt bồi đắp cái tiếng nói ấy… Nếp sinh hoạt nọ đã thổi sinh khí vào ngôn ngữ kia, làm sao hiểu hết một công trình mỹ thuật xây dựng trên ngôn ngữ kia mà không cần biết đến nếp sinh hoạt nọ?

Nguyên một tiếng nói để sử dụng đã thế, những công trình xây dựng bằng tiếng nói ấy lại còn mang thêm nhiều nét cá tính của từng xứ sở, từng dân tộc.

Âm thanh và cuồng nộ của Faulkner là một tuyệt phẩm của Mỹ. Con người Việt Nam chúng ta biết tìm ở chỗ xó xỉnh nào trong tâm hồn mình cho ra cái “cuồng nộ” tương tự? Sách đọc mà thực tình thấy khoái là khi nào người đọc cảm thấy giữa mình với tác giả có chỗ đồng thanh đồng khí. Đàng này cái “cuồng nộ” nọ chỉ làm ta kinh ngạc.

Người Mỹ, qua các nhân vật của Steinbeck, của Hemingway, của Caldwell v.v…, thấy quả thấp thoáng họ có cái bạo liệt dữ tợn riêng. Những anh chàng mê say vuốt lông chuột, ham đấm đá, đấu bò rừng, những ông cha trông thấy đứa con trai độc nhất vừa tự tử chết lại tiến đến bắn thêm cho nó một phát vào đầu, trông thấy thằng rể da đỏ liền quạt cho nó một loạt đạn dưới chân v.v…, những nhân vật ấy đã mang sẵn ít nhiều cuồng nộ nơi mình; tâm hồn của họ tương ứng với nhau. Gặp nhau họ thích thú, họ khoái trá. Còn chúng ta, không phải là cá mà đòi vui cái vui của cá sao được!

Trái lại, một vài tác giả Việt Nam như Nguyễn Tuân chẳng hạn làm sao được thưởng thức ở một dân tộc hiếu động? Nguyễn Tuân tiền chiến có cái ề à dềnh dang, chuyển ra ngoại ngữ có lẽ là vô duyên mà đối với chúng ta thì là hấp dẫn. Bút pháp ấy biểu hiện một phong thái đặc biệt, quen thuộc ở một lớp người trong xã hội ta, nhắc nhở đến nếp sống của dân tộc ta trong một thời đã qua; ta thấy nó đẹp, người ngoài có thể chỉ thấy là lạ, nếu không là kỳ cục.

Như vậy bảo rằng nhân loại giống nhau quả có giống, nhưng chú ý đến chỗ khác nhau thì cái khác cũng sâu xa lắm lắm.

Hơn ba mươi năm trước, khi những cuốn truyện của Pearl S. Buck ra đời, Âu Mỹ lấy làm ngạc nhiên. Trong bài tựa cuốn Người mẹ, Louis Gillet cho rằng Pearl Buck đã trình bày được chỗ lạ lùng nhất của người Tàu, ấy là họ rất giống người Âu Mỹ.

Xưa kia, phương tiện giao thông hiếm hoi, xứ xứ cách nhau, người người xa nhau, vì vậy dân Tàu cho dân Âu là quiû, dân Âu cho dân Tàu cổ quái: tục lệ kỳ dị, ăn mặc lố lăng, ngôn ngữ líu lo. Cái bề ngoài dị biệt làm cho các dân tộc không hiểu nhau. Sau bước đầu tiên kết thân, người ta thở ra nhẹ nhõm: Thì ra Tàu với Tây cùng là người cả, không ai là quỉ. Cũng hỉ, nộ, ai, lạc… Giống nhau đáo để! Hay nhỉ.

Nhưng rồi gần gũi lâu dài hơn chút nữa, đi sâu vào các hỉ nộ ai lạc ấy, mới lại thấy muôn vàn khía cạnh khác nhau.

Như thế có một thời kỳ để chúng ta phát giác ra chỗ giống, và một thời kỳ nữa để nhận định ra các chỗ khác của nhau.

Một cuốn sách về cơ học, dịch ra tiếng nước nào cũng hiểu được cùng một cách; nhưng một tác phẩm văn nghệ phải tìm đến những tâm hồn đồng điệu. Bạn đồng điệu, tôi ngờ rằng không thể cách ta quá xa trong không gian.

Thỉnh thoảng gặp những người không thích ứng được với những món ăn của đồng bào khác địa phương ở ngay trong nước mình, mà lại tiếp đón niềm nở tấm tắc ngợi khen ngay các hình thức văn nghệ mới lạ từ xa đến, các trường hợp đó đôi khi đáng ngờ.

Cơ thể chọn món ăn riêng cho nó và có những yêu ghét rõ rệt; tâm hồn chọn cái đọc lại dễ dàng hơn sao?

(Đăng trên tạp chí Tân Văn số 4. — Xuất bản trong cuốn Tạp luận năm 1973, tại Sài Gòn.)

Read Full Post »

SGTT.VN – Khác với các loại cua sống ở biển, ở đầm và ở đồng ruộng, con cua đá thường sống trong các hốc đá trên suối ở miền núi. Loại cua này ít được con người khai thác đến cạn kiệt. Thịt cua đá thơm, chắc; chế biến được nhiều món ngon lạ, nhất là “phối” nó với gia vị của rừng.

Cua đá vừa được bắt từ dưới suối, tươi nguyên. Ảnh: Mỹ Tuyết

Trong những tháng này, chúng tôi thường rủ rê nhau lên vùng rừng núi thôn Xuân Trung, xã An Xuân, huyện Tuy An – Phú Yên thăm thú; giăng cá, tắm suối, ăn rau rừng… Và đáng nhớ nhất là bắt cua đá. Theo dân bản địa thì hiện cua đá có nhiều nhất ở vùng này. Cua đá mang sắc đỏ nâu, sống trong hốc đá dưới những con suối lớn, nhỏ; trong vườn chuối, nương rẫy… Chúng ăn côn trùng, lá rừng và sinh sản nhiều. Cua đá thường bằng nắm tay, con lớn có khi bằng cái chén với hai càng to khoẻ.

Để bắt cua đá không khó tí nào. Thường sau nhiều ngày nắng, trời làm giông rồi đổ mưa, khi đó cua đá từ trong hang hốc bò ra uống nước dầm mưa. Nếu trời không mưa thì dùng cơm nguội trộn với đậu phộng giã nhỏ, đem rải theo các hũng nước. Nước suối chảy, trôi mồi vào các hang đá, chỉ khoảng mười phút, các chú cua lớn, nhỏ bò ra gắp mồi. Tha hồ chọn con mập mà bắt. Cua đá rừng chế biến nhiều món hấp dẫn nhưng theo anh bạn tôi, “loại cua này, mình nên làm những món có chút rừng rú mới ngon”. Thế là, trưa hôm đó, chúng tôi được thưởng thức những món cua đá chưa bao giờ được thưởng thức.

Cua nướng giã muối ớt làm đơn giản nhất. Chọn những con vừa nắm tay, nướng trên lửa than cho chín vàng, chọn phần thịt phía bụng đem giã nhuyễn với muối hột, ít bột ngọt, lá ngò tàu mọc ngoài bờ suối và ớt sim rừng. Chén muối cua này ăn với cơm nắm hay cơm nóng đều thơm lạ – ngon đến lớp cơm cháy cũng hết ráo. Canh cua đá cũng là món độc đáo, nấu canh nên chọn những con cỡ vừa, loại này mềm, mau ngọt nước. Sau khi rửa sạch thân ngoài, bóc gạch vỏ, không rửa nước lã, có thể giã cho con cua giập sơ. Canh cua đá phải nấu với rau săn rừng mới nồng nàn. Rau này cũng mọc quanh bờ suối, chọn lá non, canh sôi thả săn rừng vào chừng năm phút – rau còn xanh bắc xuống mới ngon.

Cua đá rang muối, cua đá hấp sả, cua đá nấu bún riêu, cháo… món nào cũng đặng, nhưng tuyệt sắc phải là muối cua đá và canh săn rừng.

Mỹ Tuyết

Read Full Post »

Ảnh Tư liệu.

SGTT.VN – Những buổi sáng ở một nơi thật xa Việt Nam, ăn những bữa điểm tâm tự chọn món, với những ly càphê loãng, tôi không thể ngăn được nỗi nhớ về cách uống càphê và món càphê rất Việt ở quê nhà. Cái món càphê đặc biệt kiểu miền Nam, ở những vỉa hè, với vài ba cái bàn nhỏ và ghế cũng nhỏ – một thời sau năm 1975 được định nghĩa là càphê “cái nồi ngồi trên cái cốc”.

Uống ly càphê ấy nó đòi hỏi phải thư thả hoàn toàn. Phải chờ từng giọt càphê nhỏ xuống dưới đáy chiếc ly thuỷ tinh thường gọi là ly xay chừng (phiên âm từ chữ tiểu tịnh của người Hoa, tộc Tiều). Vừa nhìn vừa cảm nhận những giọt rơi cho đến những giọt cuối cùng rời khỏi phin. Lúc đó, mới từ tốn giở nắp phin để ngửa xuống bàn và đặt phin lên đấy, để những tí càphê sót lại không làm dơ mặt bàn. Khuấy đường cũng cần có thời gian khuấy đều, cho đến khi có lớp bọt nổi lên. Chỉ có nửa ly càphê xay chừng thật đậm đặc mà người uống phải mất nhiều thời gian để uống xong… Đó là cách uống càphê mà lần nào đi xa tôi cũng ngồi tưởng niệm mỗi khi hớp ngụm càphê từ những cái máy lọc sẵn.

Và nhớ về càphê, người ta chỉ có thể nhớ về càphê Ban Mê. Công thức pha càphê mỗi nhãn hiệu mỗi riêng, nhưng bao giờ cũng phải có đủ hai loại càphê robusta và moka, một thứ tạo độ đậm một thứ tạo hương. Càphê thứ thiệt không bao giờ có chất tạo đắng vô duyên mà một số nhà sản xuất cho vào công thức của mình. Loại càphê thứ thiệt đó khi uống không đường bao giờ cũng có cái hậu ngòn ngọt…

Khởi Thức

Cách pha một ly càphê

– Cho vào phin 3 muỗng càphê bột khoảng 20g.
Lắc đều và ép nhẹ bên trong.
– Dùng nước tinh khiết nấu sôi, đổ vào phin chừng 20ml, chờ càphê thấm đều và hạt càphê nở ra, sau đó đổ nước sôi vào phin lần hai, thêm khoảng 45ml là đủ.
– Đường, sữa hoặc không đường tuỳ theo sở thích của bạn. Cũng có công thức cho cỏ ngọt sẵn trong càphê, nên không dùng các chất tạo ngọt khác nữa.

Read Full Post »

Các nhà khoa học Trường Đại học bang Georgia, Hoa Kỳ phát hiện ra rằng chiết xuất từ gừng có triển vọng ngăn ngừa ung thư tuyến tiền liệt.

Theo bài báo được đăng tải trực tuyến trên tạp chí British Journal of Nutrition, các tác giả cho biết chiết xuất từ gừng có hiệu quả đáng kể trong việc ngăn chặn sự phát triển các tế bào ung thư và gây chết tế bào ung thư tuyến tiền liệt.

Củ gừng – Ảnh: Internet.

Ngoài ra, các nghiên cứu trên động vật cho thấy dịch chiết này không gây độc cho các mô bình thường như tủy xương.

Đánh giá số liệu nghiên cứu cho thấy sử dụng khoảng 90g dịch chiết từ gừng trong chế độ ăn hàng ngày có thể mang lại lợi ích.

Theo Tiền phong

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »