Trúc Diệp Thanh.
Chùa Trăm Gian (Quảng Nghiêm tự) không chỉ nổi tiếng là ngôi chùa cổ với hàng nghìn năm tuổi mà từ đầu những năm 70 thế kỷ XX còn thêm nổi tiếng về các di vật của Đô đốc Long,vị tướng Tây Sơn huyền thoại, do GS Phan Huy Lê (GS PHL) phát hiện cùng với các di bản đời Tây Sơn ở Lương Xá cùng thuộc huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội),Gần đây dư luận phẩn nộ lên tiếng về di sản quốc gia cực kỳ quý hiếm-Chùa Trăm Gian,bị xâm hại dưới danh nghĩa “trùng tu di tích” là rất chính đáng.Song điều đáng ngạc nhiên là việc xuyên tạc các di bản đời Tây Sơn ở Lương Xá có liên quan đến các di vật ở Chùa Trăm Gian, giới khoa học xã hội phát hiện,công luận lên tiếng,đã hơn một thập kỷ qua cho đến nay vẫn chìm vào im lặng!
Năm 1973s GS PHL đã phát hiện nhiều di bản,di vật thuộc đời Tây Sơn ở Lương Xá (nay thuộc xã Lam Điền,huyện Chương Mỹ,Hà Nội) và ở Chùa Trăm Gian.Qua khai thác nguồn tư liệu quý hiếm này,GS PHL đã công bố một khám phá sử học nổi tiếng: Đô đốc Đặng Tiến Đông thuộc Đặng tộc ở Lương Xá chính là Đô đốc Long,vị tướng Tây Sơn chỉ huy đánh thắng quân Thanh ở phòng tuyến Đống Đa tiến trước vào giải phóng Thăng Long trong trận đại phá 29 vạn quân Thanh xâm lược do vua Quang Trung chỉ huy dịp Tết năm Kỷ Dậu (1789).Bằng chứng là các di bản đời Tây Sơn bằng chữ Hán Đặng tộc còn lưu giữ ở Lương Xá gồm: Bộ “Đặng gia phả hệ toản chính thực lục” 6 quyển do chính Đô đốc Đặng Tiến Đông biên soạn dưới triều Tây Sơn,bản Sắc của Tây Sơn phong cho Đô đốc Đặng Tiến Đông tước Đông Lĩnh hầu có niên đại Thái Đức 10 (tức năm 1787) và tấm bia đá có khắc bài văn:”Tông đức thế tự bi” do Phan Huy Ích biên soạn, Ngô Thì Nhậm nhuận sắc có niên đại Cảnh Thịnh 5 (tức năm 1797).Ngoài ra GS PHL còn phát hiện tại Chùa Trăm Gian tượng “quan Đô”(Đô đốc Đặng Tiến Đông) bằng gổ,một chuông đồng có khắc bài minh nói rõ do Đô đốc Đặng Tiến Đông đúc tặng chùa năm 1794.Bằng chứng có sức thuyết phục nhất là GS PHL trích dẫn đoạn dịch văn bia “Tông đức thế tự bi” chép về công trạng của Đô đốc Đặng Tiến Đông như sau:”Năm Mậu Thân (năm 1788-T.g.),đầu đời Quang Trung (hai chữ Quang Trung bị đục-T.g.),quân Bắc xâm chiếm nước Nam,ông (tức Đặng Tiến Đông-T.g.) phụng chiếu cầm đạo tiên phong tiến đánh làm cho quân Bắc tan vỡ,ông một mình một ngựa tiến lên trước,dẹp yên nơi cung cấm.Vũ Hoàng đế vào Thăng Long,tiến hành khen thưởng,ban riêng cho ông xã quê hương là Lương Xá làm thực ấp vĩnh viễn…” GS PHL giải thích:quân Bắc là quân Thanh và kết luận:”Không nghi ngờ gì nữa,Đô dốc Đặng Tiến Đông có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Thanh và là vị tướng chỉ huy quân Tây Sơn đánh thắng trận Đống Đa lịch sử”.
Tuy nhiên,GS PHL vẫn còn đặt vấn đề nghi vấn:”Đô đốc Đông có phải là Đô đốc Long hay Đô đốc Mưu được ghi chép trong sử cũ hay không?Hiện nay chưa tìm thấy tài liệu nào nói rõ Đô đốc Đông là Đô đốc Long hay Đô đốc Mưu.Nhưng phân tích và đối chiếu các tư liệu,các sự kiện có liên quan thì theo tôi:có nhiều khả năng Đặng Tiến Đông là tên thật của Đô đốc Long hay Đô đốc Mưu”(1) Tuy GS PHL còn thận trọng nêu:”có nhiều khả năng…” tức cũng chỉ mới là “giả thuyết”, song với uy tín của một giáo sư sử học hàng đầu cùng với bằng chứng lịch sử là gia phả,Sắc phong,bia đá,chuông đồng,tượng gỗ…giả thuyết “Đặng Tiến Đông chính là Đô đốc Long” của GS PHL nhanh chóng được “Nhà nước” công nhận đưa vào chính sử.Từ những năm 70 (Tk XX),Đô đốc Long được chính thức mang tên họ đầy đủ là Đặng Tiến Đông thuộc Đặng tộc quê ở Lương Xá (Chương Mỹ-Hà Nội).
Tên nhân vật”Đặng Tiến Đông” vốn chưa hề có trên bất cứ một tài liệu sử học nào chép về Tây Sơn từ cuối thế kỷ 18 đến trước thâp kỷ 70 thế kỷ 20 nay lại hiện diện thay “Đô đốc Long” trên sách giáo khoa các cấp học,trong Bảo tàng lịch sử(Hà Nội-Bình Định), trong Từ điến Bách Khoa VN,trên các trang sách báo viết về lịch sử Tây Sơn,về Chiến Thắng Ngọc Hồi-Đống Đa Tết Kỷ Dậu (1789), một con đường cạnh gò Đống Đa lịch sử ở Thủ đô mang tên “phố Đặng Tiến Đông”…Cũng từ sau thời điểm trên, các trang sử,Từ điển mạng trên thế giới giới thiệu về danh nhân lịch sử VN đều nêu tên “Đặng Tiến Đông” thay thế Đô đốc Long…Khám phá mới của GS PHL nhanh chóng được công nhận không có bất cứ một phản ứng nào còn có nguyên nhân khách quan:vào những năm đầu thập kỷ 70,ở miền Bắc đang hứng chịu cuộc chiến tranh phá hoại tàn khốc của không lực Mỹ nhưng vẫn dốc nhân,tài,vật lực chi viện cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam.Các di bản đời Tấy Sơn ở Lương Xá là độc bản bằng chữ Hán do Đặng tộc lưu giữ ngót 200 năm chưa được khai thác và cũng chưa có nhà nghiên cứu nào biết đến.GS PHL là người đầu tiên phát hiện và khai thác có hệ thống các di bản trên.Thôn Lương Xá vào thời điểm này còn là vùng quê hẻo lánh không phải ai cũng dễ dàng tìm đến.Với những yếu tố trên việc GS PHL độc quyền phát ngôn kết luận về các di bản,di vật nêu trên, không một ai có ý kiến khác cũng không lạ!
Tuy nhiên,GS PHL vẫn còn đặt vấn đề nghi vấn:”Đô đốc Đông có phải là Đô đốc Long hay Đô đốc Mưu được ghi chép trong sử cũ hay không?Hiện nay chưa tìm thấy tài liệu nào nói rõ Đô đốc Đông là Đô đốc Long hay Đô đốc Mưu.Nhưng phân tích và đối chiếu các tư liệu,các sự kiện có liên quan thì theo tôi:có nhiều khả năng Đặng Tiến Đông là tên thật của Đô đốc Long hay Đô đốc Mưu”(1) Tuy GS PHL còn thận trọng nêu:”có nhiều khả năng…” tức cũng chỉ mới là “giả thuyết”, song với uy tín của một giáo sư sử học hàng đầu cùng với bằng chứng lịch sử là gia phả,Sắc phong,bia đá,chuông đồng,tượng gỗ…giả thuyết “Đặng Tiến Đông chính là Đô đốc Long” của GS PHL nhanh chóng được “Nhà nước” công nhận đưa vào chính sử.Từ những năm 70 (Tk XX),Đô đốc Long được chính thức mang tên họ đầy đủ là Đặng Tiến Đông thuộc Đặng tộc quê ở Lương Xá (Chương Mỹ-Hà Nội).
Tên nhân vật”Đặng Tiến Đông” vốn chưa hề có trên bất cứ một tài liệu sử học nào chép về Tây Sơn từ cuối thế kỷ 18 đến trước thâp kỷ 70 thế kỷ 20 nay lại hiện diện thay “Đô đốc Long” trên sách giáo khoa các cấp học,trong Bảo tàng lịch sử(Hà Nội-Bình Định), trong Từ điến Bách Khoa VN,trên các trang sách báo viết về lịch sử Tây Sơn,về Chiến Thắng Ngọc Hồi-Đống Đa Tết Kỷ Dậu (1789), một con đường cạnh gò Đống Đa lịch sử ở Thủ đô mang tên “phố Đặng Tiến Đông”…Cũng từ sau thời điểm trên, các trang sử,Từ điển mạng trên thế giới giới thiệu về danh nhân lịch sử VN đều nêu tên “Đặng Tiến Đông” thay thế Đô đốc Long…Khám phá mới của GS PHL nhanh chóng được công nhận không có bất cứ một phản ứng nào còn có nguyên nhân khách quan:vào những năm đầu thập kỷ 70,ở miền Bắc đang hứng chịu cuộc chiến tranh phá hoại tàn khốc của không lực Mỹ nhưng vẫn dốc nhân,tài,vật lực chi viện cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam.Các di bản đời Tấy Sơn ở Lương Xá là độc bản bằng chữ Hán do Đặng tộc lưu giữ ngót 200 năm chưa được khai thác và cũng chưa có nhà nghiên cứu nào biết đến.GS PHL là người đầu tiên phát hiện và khai thác có hệ thống các di bản trên.Thôn Lương Xá vào thời điểm này còn là vùng quê hẻo lánh không phải ai cũng dễ dàng tìm đến.Với những yếu tố trên việc GS PHL độc quyền phát ngôn kết luận về các di bản,di vật nêu trên, không một ai có ý kiến khác cũng không lạ!
Tuy nhiên,vài thập kỷ sau,khi các di bản ở Lương Xá đã được giới thiệu rộng rãi,cũng qua nghiên cứu khai thác các di bản này,một số nhà khoa học xã hội đã phát hiện một số điều cơ bản khác biệt với kết luận và giả thuyết của GS PHL đã công bố.
Cụ thể: năm 1999s,trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (Viện Sử học) số 3,tháng 5 và 6 năm 1999,nhà khảo cổ Đỗ Văn Ninh (sau này là PGS-TS Đỗ Văn Ninh) là người đầu tiên đưa ra lập luận phản bác ý kiến của GS PHL:theo đúng các di bản đời Tây Sơn ở Lương Xá,tên của nhân vật không phải là “Đông”(Đặng Tiến Đông) mà phải đọc là “Giản”(Đặng Tiến Giản)và Đặng Tiến Giản là vị tướng giúp Bắc Bình vương Nguyễn Huệ đánh ra Thăng Long trừng trị phản nghịch Nguyễn Hửu Chỉnh đầu năm Mậu Thân.Đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Giản không phải là Đô đốc Long chỉ huy đánh thắng trận Đống Đa trong trận đại phá quân Thanh do vua Quang Trung chỉ huy dịp Tết năm Kỷ Dậu (1789).Tiếp ngay sau đó cũng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 4,tháng 7 và 8 năm 1999 đã đăng bài đáp lại của GS PHL “về nhân vật Đặng Tiến Đông”,bài viết dài hơn bài của Đỗ Văn Ninh tới năm,sáu lần nêu mấy vấn đề chính:”tên nhân vật bằng chữ Hán trong các di bản phải đọc đúng là “Đặng Tiến Đông”;”Đặng Tiến Đông là Đô đốc Long là một giả thuyết có cơ sở”.
Bài đáp lại của GS PHL không những không làm thỏa mãn dư luận về những phát hiện của tác giả Đỗ Văn Ninh mà còn làm dấy lên cuộc tranh luận sâu rộng hơn của giới khoa học xã hội về đề tài này.Trên cuốn “Đối thoại sử học”(ĐTSH) (Bùi Thiết chủ biên-Nxb Thanh niên 2000) đã đăng ba bài:.Đỗ Văn Ninh có bài:”Đô đốc Đặng Tiến Đông hay Đô đốc Đặng Tiến Giản?”.Học giả Trần Văn Quý(Sử học,Hán nôm học) có bài “Phải gọi là Đô đốc Đặng Tiến Giản”, nhà nghiên cứu lão thành Lê Trọng Khánh (Sử học) có bài “Xin trả lại công đánh trận Đống Đa cho Đô đốc Long”.Như vậy vị Đô đốc họ Đặng ở Lương Xá tên là “Đông” hay “Giản”?Học giả Trần Văn Quý qua đọc bộ :”Đặng gia phả hệ toản chính thực lục” bằng chữ Hán do chính Đặng Đô đốc biên soạn (bản ký hiệu A633 ở thư viện Hán nôm) đã phát hiện một câu do chính tác giả giải thích cho người đời sau biết tên ông phải đọc là chữ gì và chữ đó có ý nghĩa ra sao!.
Trong 6 quyển phả,trừ quyển1 chép về nguồn gốc Đặng tộc hiện còn nghi vấn,có người cho rằng quyển này không phải do Đặng Đô đốc biên soạn…Từ quyển 2 đến quyển 6 do chính Đặng Đô đốc biên soạn mỗi quyển tác giả chép đầy đủ thân thế sự nghiệp của một vị tiên tổ họ Đặng bắt đầu từ Nghĩa quốc Hậu trạch công Đặng Huấn-người sáng lập chi phái học Đặng ở Lương Xá (quyển 2) mỗi quyển tiếp theo chép về một người nối nghiệp theo thứ tự đời sau nối tiếp đời trước,tất cả đều là những nhân vật có sự nghiệp lẫy lừng “phò Lê cự Mac” khi sống đều được phong tước Quận công chết đều truy tặng “Thượng đẳng đại vương”,quyển 6 cũng là quyển cuối của bộ phả chép về nhân vật đời thứ tư của Đặng Huấn là Dận Quận công Đặng Đình Miên,thân phụ của Đặng Đô đốc.Như vậy toàn bộ phả không có một trang nào nói về thân thế,sự nghiệp của Đặng Đô đốc nhân vật đời thứ 5 cũng là người biên soạn bộ phả.Tuy nhiên ông Trần Văn Quý đã phát hiện tại trang cuối quyển 6 của bộ phả,tác giả chép một câu tự thuật,cũng là tư liệu duy nhất tìm thấy về Đặng Đô đốc trong bộ phả.Câu đó như sau (phiên âm):”Mậu Ngọ niên,ngũ nguyệt sơ nhị,Quý Sửu thì,sinh đệ bát tử “Đông”(東) hậu cải 暕 (Giản) dĩ tự vựng vân: trùng âm tích vũ chi hậu,hốt kiến nhật sắc,cố tri danh yên”. Dịch nghĩa:”Năm Mậu Ngọ,tháng 5,ngày 2,giờ Quý Sửu,sinh con trai thứ 8 (của Dận quận công Đặng Đình Miên-TDT) đặt tên là Đông (東) sau đổi tên Giản (暕),ý theo tự vựng nói:sau khi mây mù tích mưa bổng thấy ánh mặt trời,cho nên đặt tên như thế” (2).Như vậy chính Đặng Đô đốc để di bút trong tộc phả rằng: “Đông” là tên của ông lúc đầu mới sinh,về sau đã cải tên “Giản” theo định nghĩa chữ Giản là “ánh mặt trời xuất hiện sau thời tiết âm u tích mưa”(trong chữ Hán 2 chữ “Đông” và “Giản” tự dạng khác nhau,ý nghĩa cũng khác nhau không thể nhầm lẫn,một số từ điển Hán ngữ hiện đại có từ mục暕 (Giản) với định nghĩa đúng như trong tộc phả).Đây là bằng chứng khoa học không thể bác bỏ khẳng định tên nhân vật trong các di bản là “Giản”(Đặng Tiến Giản) không thể đọc là “Đông”.Tuy nhiên điều quan trọng hơn là phải xác định Đặng Đô đốc ở Lương Xá có phải là Đô đốc Long? Nếu không phải là Đô đốc Long vậy Đặng Đô đốc là ai? Điều quan trọng này đã được Đỗ Văn Ninh và Lê Trọng Khánh phân tích cả trên 2 phương diện :chữ nghĩa trong văn bia và thực tiễn lịch sử.Qua đọc”Tông đức thế tự bi”cả 2 ông Ninh và Khánh đều thống nhất khẳng định:văn bia chỉ nói trận đánh Đặng Đô đốc tham dự diễn ra đầu năm Mậu Thân không hề có 2 chữ “Kỷ Dậu”, đối tượng tác chiến của Tây Sơn trong trận năm Mậu Thân văn bia nói là “Bắc binh” không nói cụ thể là “quân Thanh”.GS PHL giải thích “Bắc binh” là quân Thanh nhưng theo các tác giả Ninh,Khánh thì vào thời điểm đầu năm Mậu Thân Lê Chiêu Thống còn cai quản Bắc Hà chưa có bóng dáng quân Thanh ở Thăng Long thì “Bắc binh” không thể là “quân Thanh”mà phải là quân nhà Lê (quân Bắc triều ở Bắc Hà so với quân Tây Sơn ở Nam triều,Nam Hà).Theo sách sử chép vềTây Sơn cho thấy trận đánh của quân Tây Sơn do Vũ Văn Nhậm chỉ huy tiến phạm Thăng Long đầu năm Mậu Thân(1788) bắt giết Nguyễn Hửu Chỉnh và trận đại phá quân Thanh ở Thăng Long đầu năm Kỷ Dậu(1789) là 2 trận khác nhau chỉ cách nhau gần đúng một năm.Trận đầu năm Kỷ Dậu.quân Tây Sơn do vua Quang Trung chỉ huy đã đánh tan 29 vạn quân Thanh xâm lược là chiến thắng lịch sủ vô cùng oanh liệt của dân tộc VN.Trong trận này Đô đốc Long là vị tướng được vua Quang Trung tín nhiệm giao nắm đội tiên phong đánh vào phòng tuyến Đống Đa và tiến trước vào Thăng Long buộc Tôn Sĩ Nghị cùng tàn quân Thanh tháo chạy về nước.Riêng về trận đầu năm Mậu Thân sách sử chép chi tiết về đội quân Tây Sơn do Vũ Văn Nhậm chỉ huy tiến phạm Thăng Long bắt giết Nguyễn Hửu Chỉnh,buộc Lê Chiêu Thống phải tháo chạy và cầu viện nhà Thanh. Song về vị tướng lĩnh ấn tiên phong trong đạo quân Vũ Văn Nhậm thì không có nơi nào chép cho đến khi phát hiện và khai thác văn bia “Tông đức thế tự bi” (1797) Đỗ Văn Ninh là người đầu tiên phát hiện văn bia chép Đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Giản là vị tướng được Nguyễn Huệ trao quyền chỉ huy đội tiên phong trong trận Mậu Thân.Đỗ Văn Ninh còn trích dẫn trong cuốn Tây Sơn thuật lược (dã sử) xuất bản dưới triều Nguyễn đoạn thuật về trận Mậu Thân (1788) cũng có chép về vị tướng chỉ huy đội tiên phong trong đạo quân của Vũ Văn Nhậm là “Đặng Giản quê ở Lương Xá dòng dõi Đặng Nghĩa Huấn” (3).Đặng Giản trong Tây Sơn thuật lược xuất bản dưới triều Nguyễn đầu thế kỷ XX với Đặng Tiến Giản chép trong bia Tông đức thế tự bi có từ 1797 chỉ là một người.
Cụ thể: năm 1999s,trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (Viện Sử học) số 3,tháng 5 và 6 năm 1999,nhà khảo cổ Đỗ Văn Ninh (sau này là PGS-TS Đỗ Văn Ninh) là người đầu tiên đưa ra lập luận phản bác ý kiến của GS PHL:theo đúng các di bản đời Tây Sơn ở Lương Xá,tên của nhân vật không phải là “Đông”(Đặng Tiến Đông) mà phải đọc là “Giản”(Đặng Tiến Giản)và Đặng Tiến Giản là vị tướng giúp Bắc Bình vương Nguyễn Huệ đánh ra Thăng Long trừng trị phản nghịch Nguyễn Hửu Chỉnh đầu năm Mậu Thân.Đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Giản không phải là Đô đốc Long chỉ huy đánh thắng trận Đống Đa trong trận đại phá quân Thanh do vua Quang Trung chỉ huy dịp Tết năm Kỷ Dậu (1789).Tiếp ngay sau đó cũng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 4,tháng 7 và 8 năm 1999 đã đăng bài đáp lại của GS PHL “về nhân vật Đặng Tiến Đông”,bài viết dài hơn bài của Đỗ Văn Ninh tới năm,sáu lần nêu mấy vấn đề chính:”tên nhân vật bằng chữ Hán trong các di bản phải đọc đúng là “Đặng Tiến Đông”;”Đặng Tiến Đông là Đô đốc Long là một giả thuyết có cơ sở”.
Bài đáp lại của GS PHL không những không làm thỏa mãn dư luận về những phát hiện của tác giả Đỗ Văn Ninh mà còn làm dấy lên cuộc tranh luận sâu rộng hơn của giới khoa học xã hội về đề tài này.Trên cuốn “Đối thoại sử học”(ĐTSH) (Bùi Thiết chủ biên-Nxb Thanh niên 2000) đã đăng ba bài:.Đỗ Văn Ninh có bài:”Đô đốc Đặng Tiến Đông hay Đô đốc Đặng Tiến Giản?”.Học giả Trần Văn Quý(Sử học,Hán nôm học) có bài “Phải gọi là Đô đốc Đặng Tiến Giản”, nhà nghiên cứu lão thành Lê Trọng Khánh (Sử học) có bài “Xin trả lại công đánh trận Đống Đa cho Đô đốc Long”.Như vậy vị Đô đốc họ Đặng ở Lương Xá tên là “Đông” hay “Giản”?Học giả Trần Văn Quý qua đọc bộ :”Đặng gia phả hệ toản chính thực lục” bằng chữ Hán do chính Đặng Đô đốc biên soạn (bản ký hiệu A633 ở thư viện Hán nôm) đã phát hiện một câu do chính tác giả giải thích cho người đời sau biết tên ông phải đọc là chữ gì và chữ đó có ý nghĩa ra sao!.
Trong 6 quyển phả,trừ quyển1 chép về nguồn gốc Đặng tộc hiện còn nghi vấn,có người cho rằng quyển này không phải do Đặng Đô đốc biên soạn…Từ quyển 2 đến quyển 6 do chính Đặng Đô đốc biên soạn mỗi quyển tác giả chép đầy đủ thân thế sự nghiệp của một vị tiên tổ họ Đặng bắt đầu từ Nghĩa quốc Hậu trạch công Đặng Huấn-người sáng lập chi phái học Đặng ở Lương Xá (quyển 2) mỗi quyển tiếp theo chép về một người nối nghiệp theo thứ tự đời sau nối tiếp đời trước,tất cả đều là những nhân vật có sự nghiệp lẫy lừng “phò Lê cự Mac” khi sống đều được phong tước Quận công chết đều truy tặng “Thượng đẳng đại vương”,quyển 6 cũng là quyển cuối của bộ phả chép về nhân vật đời thứ tư của Đặng Huấn là Dận Quận công Đặng Đình Miên,thân phụ của Đặng Đô đốc.Như vậy toàn bộ phả không có một trang nào nói về thân thế,sự nghiệp của Đặng Đô đốc nhân vật đời thứ 5 cũng là người biên soạn bộ phả.Tuy nhiên ông Trần Văn Quý đã phát hiện tại trang cuối quyển 6 của bộ phả,tác giả chép một câu tự thuật,cũng là tư liệu duy nhất tìm thấy về Đặng Đô đốc trong bộ phả.Câu đó như sau (phiên âm):”Mậu Ngọ niên,ngũ nguyệt sơ nhị,Quý Sửu thì,sinh đệ bát tử “Đông”(東) hậu cải 暕 (Giản) dĩ tự vựng vân: trùng âm tích vũ chi hậu,hốt kiến nhật sắc,cố tri danh yên”. Dịch nghĩa:”Năm Mậu Ngọ,tháng 5,ngày 2,giờ Quý Sửu,sinh con trai thứ 8 (của Dận quận công Đặng Đình Miên-TDT) đặt tên là Đông (東) sau đổi tên Giản (暕),ý theo tự vựng nói:sau khi mây mù tích mưa bổng thấy ánh mặt trời,cho nên đặt tên như thế” (2).Như vậy chính Đặng Đô đốc để di bút trong tộc phả rằng: “Đông” là tên của ông lúc đầu mới sinh,về sau đã cải tên “Giản” theo định nghĩa chữ Giản là “ánh mặt trời xuất hiện sau thời tiết âm u tích mưa”(trong chữ Hán 2 chữ “Đông” và “Giản” tự dạng khác nhau,ý nghĩa cũng khác nhau không thể nhầm lẫn,một số từ điển Hán ngữ hiện đại có từ mục暕 (Giản) với định nghĩa đúng như trong tộc phả).Đây là bằng chứng khoa học không thể bác bỏ khẳng định tên nhân vật trong các di bản là “Giản”(Đặng Tiến Giản) không thể đọc là “Đông”.Tuy nhiên điều quan trọng hơn là phải xác định Đặng Đô đốc ở Lương Xá có phải là Đô đốc Long? Nếu không phải là Đô đốc Long vậy Đặng Đô đốc là ai? Điều quan trọng này đã được Đỗ Văn Ninh và Lê Trọng Khánh phân tích cả trên 2 phương diện :chữ nghĩa trong văn bia và thực tiễn lịch sử.Qua đọc”Tông đức thế tự bi”cả 2 ông Ninh và Khánh đều thống nhất khẳng định:văn bia chỉ nói trận đánh Đặng Đô đốc tham dự diễn ra đầu năm Mậu Thân không hề có 2 chữ “Kỷ Dậu”, đối tượng tác chiến của Tây Sơn trong trận năm Mậu Thân văn bia nói là “Bắc binh” không nói cụ thể là “quân Thanh”.GS PHL giải thích “Bắc binh” là quân Thanh nhưng theo các tác giả Ninh,Khánh thì vào thời điểm đầu năm Mậu Thân Lê Chiêu Thống còn cai quản Bắc Hà chưa có bóng dáng quân Thanh ở Thăng Long thì “Bắc binh” không thể là “quân Thanh”mà phải là quân nhà Lê (quân Bắc triều ở Bắc Hà so với quân Tây Sơn ở Nam triều,Nam Hà).Theo sách sử chép vềTây Sơn cho thấy trận đánh của quân Tây Sơn do Vũ Văn Nhậm chỉ huy tiến phạm Thăng Long đầu năm Mậu Thân(1788) bắt giết Nguyễn Hửu Chỉnh và trận đại phá quân Thanh ở Thăng Long đầu năm Kỷ Dậu(1789) là 2 trận khác nhau chỉ cách nhau gần đúng một năm.Trận đầu năm Kỷ Dậu.quân Tây Sơn do vua Quang Trung chỉ huy đã đánh tan 29 vạn quân Thanh xâm lược là chiến thắng lịch sủ vô cùng oanh liệt của dân tộc VN.Trong trận này Đô đốc Long là vị tướng được vua Quang Trung tín nhiệm giao nắm đội tiên phong đánh vào phòng tuyến Đống Đa và tiến trước vào Thăng Long buộc Tôn Sĩ Nghị cùng tàn quân Thanh tháo chạy về nước.Riêng về trận đầu năm Mậu Thân sách sử chép chi tiết về đội quân Tây Sơn do Vũ Văn Nhậm chỉ huy tiến phạm Thăng Long bắt giết Nguyễn Hửu Chỉnh,buộc Lê Chiêu Thống phải tháo chạy và cầu viện nhà Thanh. Song về vị tướng lĩnh ấn tiên phong trong đạo quân Vũ Văn Nhậm thì không có nơi nào chép cho đến khi phát hiện và khai thác văn bia “Tông đức thế tự bi” (1797) Đỗ Văn Ninh là người đầu tiên phát hiện văn bia chép Đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Giản là vị tướng được Nguyễn Huệ trao quyền chỉ huy đội tiên phong trong trận Mậu Thân.Đỗ Văn Ninh còn trích dẫn trong cuốn Tây Sơn thuật lược (dã sử) xuất bản dưới triều Nguyễn đoạn thuật về trận Mậu Thân (1788) cũng có chép về vị tướng chỉ huy đội tiên phong trong đạo quân của Vũ Văn Nhậm là “Đặng Giản quê ở Lương Xá dòng dõi Đặng Nghĩa Huấn” (3).Đặng Giản trong Tây Sơn thuật lược xuất bản dưới triều Nguyễn đầu thế kỷ XX với Đặng Tiến Giản chép trong bia Tông đức thế tự bi có từ 1797 chỉ là một người.
Như vậy,cùng các di bản đời Tây Sơn ở Lương Xá nhưng qua đã có 2 cách khai thác với 2 kết luận khác nhau:GS PHL với kết luận:”Đô đốc Đặng Tiến Đông chính là Đô đốc Long với chiến thắng quân Thanh ở Đống Đa năm Kỷ Dậu“.Nhóm ĐTSH kết luận: “Đặng Đô đốc ở Lương Xá là Đô đốc Đặng Tiến Giản đánh quân Lê Chiêu Thống-Nguyễn Hửu Chỉnh năm Mậu Thân,ông không phải là Đô đốc Long đánh quân Thanh ở Đống Đa dịp Tết Kỷ Dậu (1789)”Sau khi xuất hiện,lập luận của nhóm “ĐTSH”đã được nhiều học giả trong và ngoài nước nhất trí đồng tình nhưng nghi vấn lịch sử này vẫn chìm trong sự thờ ơ.im lặng của các cơ quan NN có thẩm quyền trong khi nhóm “ĐTSH” gặp khó khăn: Trần Văn Quý qua đời(2003),Lê Trọng Khánh tuổi già và bệnh tật,Đỗ Văn Ninh bận theo một số đề tài nghiên cứu khác.Từ sau năm 2000, một số nhà nghiên cứu không chuyên,là bạn của nhóm “ĐTSH” trong đó có người viết bài này đã tình nguyện nối tiếp công việc với quyết tâm không để cho nghi án lịch sử này chìm xuống.Vấn đề chúng tôi quan tâm là phải tìm được nguyên tác chữ Hán (bản sao) các di bản từng được 2 bên khai thác.để có thêm cơ sở chứng minh ai đúng ai sai!Sau nhiều năm sưu tầm,đến 2005 chúng tôi đã có trong tay bản sao nguyên tác chữ Hán của 2 di bản Sắc phong và văn bia,riêng bộ “Đặng gia phả ký” đã được Viện Hán nôm dịch và xuất bản thành sách năm 2000.Qua nghiên cứu thấy vấn đề tên Đặng Đô đốc phải đọc là Đông hay Giản đã được học giả Trần Văn Quý giải đáp một cách khoa học:tên ông phải đọc là Đặng Tiến Giản là đúng theo di bản không thể bàn cãi.Về lai lịch Đặng Tiến Giản xuất thân từ dòng dõi Đặng tộc danh giá ở Lương Xá và là một võ tướng của nhà Lê về đầu quân cho Tây Sơn vào giữa năm 1787 được Nguyễn Huệ gia phong chức Đô đốc đồng tri tước Đông Lĩnh hầu như GS PHL phát hiện,ngoại trừ đọc sai tên Giản thành Đông,hầu hết cũng là sự thật không bàn cãi.Chỉ còn phân vân về công trạng của Đô đốc Đặng Tiến Giản có phải là Đô đốc Long như GS PHL từng xác nhận?
Cho đến nay cả 2 kết luận khác nhau về công trạng của Đặng Đô đốc chỉ có căn cứ lịch sử duy nhất để phân định là một đoạn trong văn bia Tông đức thế tự bi” mà 2 bên đồng thời sử dụng. Nguyên tác chữ Hán đoạn văn bia như sau (phiên âm): ”Mậu Thân ……(2 chữ tiếp theo bị đục) sơ,Bắc binh nam mục,công phụng chiếu tiên phong đạo, tiến chiến nhi Bắc binh hội,công đương kỵ đương tiên túc thanh cung cấm.Võ Hoàng đế giá lâm Thăng Long sách huân hành thưởng đặc tứ bản quán Lương Xá vĩnh vi thực ấp” ).Câu này trước đây GS PHL từng dịch và công bố từ 1993s:” Năm Mậu Thân,đầu đời Quang Trung (2 chữ Quang Trung bị đục) quân Bắc xâm chiếm nước Nam,ông (Đặng Tiến Đông)phụng chiếu cầm đạo tiên phong tiến đánh làm cho quân Bắc tan vỡ,ông một mình một ngựa tiến lên trước,dẹp yên nơi cung cấm…Vũ Hoàng đế vào Thăng Long,tiến hành khen thưởng,ban riêng cho ông xã quê hương là Lương Xá làm thực ấp vĩnh viễn…” Nhóm ĐTSH trước đây từng vạch một số điểm sai trong câu trích dẫn này (chưa kèm theo nguyên bản chữ Hán).Sau khi có nguyên tác chữ Hán như trên,càng thấy thêm cái sai của GS PHL.Bất chấp niên đại trận đánh chép trong văn bia là năm Mậu Thân,GS PHL lại dùng 2 chữ Quang Trung do tự phán đoán lắp vào 2 chữ bị đục để xác định trận đánh chép trong văn bia là trận đại phá quân Thanh đầu năm Kỷ Dậu là việc làm phiêu lưu không khoa học,hơn nữa dù 2 chữ bị đục đúng là Quang Trung nhưng cụm từ “Mậu Thân Quang Trung sơ” phải dịch đúng là “Mậu Thân năm đầu niên hiệu Quang Trung” không thể dịch là “Mậu Thân đầu triều Quang Trung” với ý đồ di dịch năm Mậu Thân sang năm Kỷ Dậu!Tiếp đến,cụm từ “Bắc binh nam mục”GS PHL dịch “quân Bắc(quân Thanh) xâm lược VN”.Nhóm ĐTSH từng xác định “Bắc binh” trong văn bia không thể là quân Thanh mà là quân nhà Lê (bắc triều) là chính xác,khoa học.”Nam mục” (南 牧) dịch là “xâm lược nước Nam” cũng không chuẩn.Chữ “mục”(牧) không nơi nào có định nghĩa là “xâm lăng,xâm lược”.”Mục” có nghĩa là chăn dắt (mục đồng,mục sư) cũng có nghĩa là cai quản,cai trị (châu mục).”Bắc binh nam mục” là cụm từ 2 ông Phan Huy Ích,Ngô thì Nhậm dùng để diễn đạt sự kiện đầu năm Đinh Mùi/Vị (1787) Nguyễn Hửu Chỉnh xúi dục Lê Chiêu Thống đòi lại quyền cai quản xứ Nghệ An khiến Huệ nổi giận sai Vũ Văn Nhậm điều quân đánh ra Thăng Long để trừng phạt bè lũ phản nghịch ở Bắc Hà.Tây Sơnxuất quân cuối năm Đinh Mùi/Vị (1787) tiến phạm Thăng Long đầu năm Mậu Thân (1788).Tuy nhiên “Bắc binh nam mục” mới chỉ là mưu toan đòi lại đất chưa phải là hành động “chăn dắt dân ở phía Nam”, rất khó dịch,chúng tôi tạm dịch là “quân bắc triều(nhà Lê) nhòm ngó lĩnh thổ Tây Sơn ở phia nam” . Cụm từ“Bắc binh hội”(tiến chiến nhi Bắc binh hội) nhằm chỉ bè lũ phản nghịch ở Bắc Hà,với 29 vạn quân Thanh không thể gọi là “Hội”.”Túc thanh cung cấm” dịch đúng là “làm trong sạch nơi cung cấm” có nghĩa “thanh trừng nội bộ chấn chỉnh triều chính Bắc Hà” phù hợp hơn là nói đến quét sạch quân Thanh khỏi bờ cõi đất nước.Câu“Vũ(Võ) Hoàng giá lâm Thăng Long sách huân hành thưởng đặc tứ bản quán Lương Xá vĩnh vi thực ấp” chỉ sự kiện sau chiến thắng đầu năm Mậu Thân,Vũ Văn Nhậm được giao trấn Thăng Long,Đặng Tiến Giản trấn Thanh Hoa.Nhậm sinh kiêu căng,tự phụ không coi ai ra gì.Tại Phú Xuân,được tin báo sự lộng quyền của Nhậm,Huệ tức tốc dẫn một đạo khinh binh ra Thăng Long bất ngờ bắt giết Nhậm,bố trí lại việc phòng thủ trấn Thăng Long và cả Bắc Hà,phong chức tước cho số sĩ phu Bắc Hà mới đầu quân Tây Sơn,khen thưởng người có công trong đó Đặng Tiến Giản được tặng “làng quê Lương Xá làm thực ấp vĩnh viễn”.GS PHL gán việc khen thưởng chép trong văn bia vào trường hợp của Đô đốc Long được vua Quang Trung khen thưởng sau ngày Thăng Long được giải phóng là một việc “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia” nhằm tô điểm cho nhân vật Đô đốc Đông do mình ngụy tạo! Lưu ý:cho đến đầu năm Mậu Thân,Nguyễn Huệ vẫn còn là Bắc Bình vương vì sao văn bia nêu “Vũ Hoàng đế gía lâm Thăng Long”?”Vũ Hoàng đế” là miếu hiệu của vua Quang Trung.Bia tưởng niệm Đặng Tiến Giản lập năm 1797,sau 5 năm ngày vua Quang Trung qua đời, dưới triều Cảnh Thịnh, vua bất tài nhu nhược để gian thần lộng quyền làm cho Tây Sơn suy yếu trong khi kẻ không đội trời chung là Nguyễn Ánh lại lớn mạnh đánh đâu thắng đó.Trong bối cảnh đó ,để cho bia tưởng niệm Đặng Tiến Giản-người bạn đồng hương,đồng triều,đồng chí hướng mà 2 ông Phan,Ngô rất kính mến tồn tại qua biến cố của thời cuộc, các tác giả biên soạn văn bia buộc phải viết và lách: bia chép về công trạng một đại tướng Tây Sơn nhưng làm sao cho người đọc không nhận ra!Trong văn bia không có 2 chữ Tây Sơn,cũng không có tên nhân vật nổi bật nhất là Nguyễn Huệ,vua Quang Trung…duy nhất có 2 nơi chép 2 niên hiêu Quang Trung,Cảnh Thịnh đã được đục bỏ.Hai ông Phan,Ngô dùng các cụm từ “Bắc binh,nam mục”,”bắc binh hội” để chỉ âm mưu của nhà Lê chống lại Tây Sơn,sử dụng miếu hiệu của vua Quang Trung để nói đến Nguyễn Huệ (tiên đế) chính là nhằm mục đích che dấu lai lịch “Tây Sơn”cho người được tưởng niệm.Thực tiễn lịch sử cho thấy ý đồ bảo vệ lâu dài cho tấm bia đời Tây Sơn của 2 ông Phan,Ngô đã thành công.Song 2 ông không thể lường trước ngót 200 năm sau, một hậu duệ dòng họ Phan đã phát hiện ra tấm bia ca ngợi một vị tướng Tây Sơn nhưng hiểu xuyên tạc nội dung văn bia dẫn đến việc tạo ra “Đặng Tiến Đông”một tên người không có thật nhưng đội lốt Đô đốc Long để đất nước tôn vinh và Đặng tộc thờ phụng còn nhân vật đích thực do 2 ông lập bia để tưởng niệm lại bị gạt ra rìa ! . .
Vậy Đô đốc Long quê ở đâu?Ngoại trừ giả thuyết Đô đốc Long quê ở Lương Xá đa bị loại như trên,hiện tồn tại một số giả thuyết khác.Đô đốc Long là Lê Văn Long quê Quảng nam,là Nguyễn Tăng Long quê Quảng Ngãi,là Đặng Văn Long quê Bình Định!Giới nghiên cứu có hướng thiên về nhân vật Đặng Văn Long. Theo Tây Sơn lương tướng ngoại truyện của Nguyễn Trọng Trì (1854-1922) biên soạn xuất bản dưới triều Nguyễn, Đô đốc Long là Đặng Văn Long,tự Tử Vân,người Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn (Tuy Phước,tỉnh Bình Định).Đây là nguồn tư liệu đáng tin cậy,người biên soạn là một danh sĩ nổi tiếng dưới triều Nguyễn. Gần đây, trong cuốn Tây Sơn bi hùng truyện của Lê Đình Danh (Nxb Văn hóa-Thông tin 2006), ‘Lời mở đầu” do nhà văn Bùi Minh Tường nêu “tác giả Tây Sơn bi hùng truyện không hề nhắc đến tên Đặng Tiến Đông mà chỉ có tên Đô đốc tài danh Đặng Văn Long “và kêu gọi “chính quyền TP Hà Nội nên đổi tên phố Đặng Tiến Đông thành phố Đặng Văn Long”.Nhiều báo in,báo mạng trong và ngoài nước đã công bố tư liệu xác minh các di bản đời Tây Sơn ở Lương Xá không nói về Đô đốc Long mà nói về Đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Giản. đúng như các thông điệp của tiền nhân để lại qua các di bản. Vì sao đã hơn một thập kỷ qua các cơ quan có thẩm quyền giữ gìn truyền thống văn hóa,lịch sử lại vô cảm không tiếp nhận ý kiến công luận, thậm chí Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch đã 2 lần có công văn do 2 thứ trưởng ký-thứ trưởng Trần Chiến Thắng năm 2008 và thứ trưởng Lê Khánh Hải năm 2010,gửi ông Viện trưởng Viện Khoa học xã hội VN cùng có nội dung “Ý kiến phản biện giả thuyết “Đặng Tiến Đông…” của GS Phan Huy Lê là vấn đề có liên quan đến bộ môn khoa học lịch sử và văn bản học,Bộ VHTTDL trân trọng chuyễn tài liệu đến quý Viện ,yêu cầu ông Viện trưởng xem xét giải quyết và trả lời theo quy định của pháp luật” nhưng cho đến nay Viện KHXHVN vẫn “im lặng”? Câu hỏi trên thực ra đã được một số nhà nghiên cứu có uy tín nói rõ nguyên nhân và cảnh báo từ trước.Năm 2001,sau khi đọc các bài báo trên ĐTSH,sử gia Tạ Chí Đại Trường nhà nghiên cứu chuyên sâu về Tây Sơn quê Bình Định đã từng viết bài tặng GS PHL danh hiệu:”người chôn Đô đốc Long lần thứ hai” và cảnh báo:”Sai lầm đã gắn liền với một chế độ,một quyền lực thì không dễ gì xóa bỏ mà không làm mất mặt người đương thời” Cũng thời gian này nhà phê bình Lại Nguyên Ân có lời nhận định:”giới sử học Việt nam đã lãng tránh nghi án “Đặng Tiến Đông” vì lẽ giới sử học VN hơi giống khuôn khổ các nhà trường,tức có hệ thống thầy-trò..Thế hệ thầy có những người có kết quả không còn đứng được nữa nhưng thế hệ trò ngại việc thay đổi tức là ngại đụng chạm đến thầy hơn là bảo vệ những điều đúng đắn hơn trong nghiên cứu”.Nguyên nhân sâu xa như một số bài báo từng nêu: thời nay là thời “giả dối lên ngôi”.GS Trần Kinh Nghi chua chát nhận định:“ở Việt Nam mọi thứ đều giả, chỉ có dối trá là có thật!”.Nhà văn Nguyên Ngọc:”“Tôi cho rằng căn bệnh nặng nhất, chí tử nhất, toàn diện nhất của xã hội ta hiện nay là bệnh giả dối. Chính cái giả dối tràn lan khiến người ta không còn thật sự tin vào bất cứ điều gì nữa…”Với thực trạng xã hội như vậy việc tồn tại dai dẳng một nhân vật lịch sử giả tạo như “Đặng Tiến Đông” cũng không lấy gì làm lạ!Chuyện ông Đông hay ông Giản có sao đâu? Người bịa chuyện cùng người có trách nhiệm xem xét vẫn là những giáo sư,tiến sĩ,viện sĩ lừng danh đấy thôi!Chỉ khổ cho lịch sử đất nước,cho các thế hệ yêu sử và học sử hôm nay và cả mai sau! Hà Nội 5-9-2012- TDT.
Vậy Đô đốc Long quê ở đâu?Ngoại trừ giả thuyết Đô đốc Long quê ở Lương Xá đa bị loại như trên,hiện tồn tại một số giả thuyết khác.Đô đốc Long là Lê Văn Long quê Quảng nam,là Nguyễn Tăng Long quê Quảng Ngãi,là Đặng Văn Long quê Bình Định!Giới nghiên cứu có hướng thiên về nhân vật Đặng Văn Long. Theo Tây Sơn lương tướng ngoại truyện của Nguyễn Trọng Trì (1854-1922) biên soạn xuất bản dưới triều Nguyễn, Đô đốc Long là Đặng Văn Long,tự Tử Vân,người Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn (Tuy Phước,tỉnh Bình Định).Đây là nguồn tư liệu đáng tin cậy,người biên soạn là một danh sĩ nổi tiếng dưới triều Nguyễn. Gần đây, trong cuốn Tây Sơn bi hùng truyện của Lê Đình Danh (Nxb Văn hóa-Thông tin 2006), ‘Lời mở đầu” do nhà văn Bùi Minh Tường nêu “tác giả Tây Sơn bi hùng truyện không hề nhắc đến tên Đặng Tiến Đông mà chỉ có tên Đô đốc tài danh Đặng Văn Long “và kêu gọi “chính quyền TP Hà Nội nên đổi tên phố Đặng Tiến Đông thành phố Đặng Văn Long”.Nhiều báo in,báo mạng trong và ngoài nước đã công bố tư liệu xác minh các di bản đời Tây Sơn ở Lương Xá không nói về Đô đốc Long mà nói về Đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Giản. đúng như các thông điệp của tiền nhân để lại qua các di bản. Vì sao đã hơn một thập kỷ qua các cơ quan có thẩm quyền giữ gìn truyền thống văn hóa,lịch sử lại vô cảm không tiếp nhận ý kiến công luận, thậm chí Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch đã 2 lần có công văn do 2 thứ trưởng ký-thứ trưởng Trần Chiến Thắng năm 2008 và thứ trưởng Lê Khánh Hải năm 2010,gửi ông Viện trưởng Viện Khoa học xã hội VN cùng có nội dung “Ý kiến phản biện giả thuyết “Đặng Tiến Đông…” của GS Phan Huy Lê là vấn đề có liên quan đến bộ môn khoa học lịch sử và văn bản học,Bộ VHTTDL trân trọng chuyễn tài liệu đến quý Viện ,yêu cầu ông Viện trưởng xem xét giải quyết và trả lời theo quy định của pháp luật” nhưng cho đến nay Viện KHXHVN vẫn “im lặng”? Câu hỏi trên thực ra đã được một số nhà nghiên cứu có uy tín nói rõ nguyên nhân và cảnh báo từ trước.Năm 2001,sau khi đọc các bài báo trên ĐTSH,sử gia Tạ Chí Đại Trường nhà nghiên cứu chuyên sâu về Tây Sơn quê Bình Định đã từng viết bài tặng GS PHL danh hiệu:”người chôn Đô đốc Long lần thứ hai” và cảnh báo:”Sai lầm đã gắn liền với một chế độ,một quyền lực thì không dễ gì xóa bỏ mà không làm mất mặt người đương thời” Cũng thời gian này nhà phê bình Lại Nguyên Ân có lời nhận định:”giới sử học Việt nam đã lãng tránh nghi án “Đặng Tiến Đông” vì lẽ giới sử học VN hơi giống khuôn khổ các nhà trường,tức có hệ thống thầy-trò..Thế hệ thầy có những người có kết quả không còn đứng được nữa nhưng thế hệ trò ngại việc thay đổi tức là ngại đụng chạm đến thầy hơn là bảo vệ những điều đúng đắn hơn trong nghiên cứu”.Nguyên nhân sâu xa như một số bài báo từng nêu: thời nay là thời “giả dối lên ngôi”.GS Trần Kinh Nghi chua chát nhận định:“ở Việt Nam mọi thứ đều giả, chỉ có dối trá là có thật!”.Nhà văn Nguyên Ngọc:”“Tôi cho rằng căn bệnh nặng nhất, chí tử nhất, toàn diện nhất của xã hội ta hiện nay là bệnh giả dối. Chính cái giả dối tràn lan khiến người ta không còn thật sự tin vào bất cứ điều gì nữa…”Với thực trạng xã hội như vậy việc tồn tại dai dẳng một nhân vật lịch sử giả tạo như “Đặng Tiến Đông” cũng không lấy gì làm lạ!Chuyện ông Đông hay ông Giản có sao đâu? Người bịa chuyện cùng người có trách nhiệm xem xét vẫn là những giáo sư,tiến sĩ,viện sĩ lừng danh đấy thôi!Chỉ khổ cho lịch sử đất nước,cho các thế hệ yêu sử và học sử hôm nay và cả mai sau! Hà Nội 5-9-2012- TDT.
Chú thich: (1) Đô đốc Đặng Tiến Đông-một vị tướng Tây Sơn chỉ huy trận Đống Đa-Phan Huy Lê-Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 154 (1/1974).
(2) Phải gọi là Đô đốc Đặng Tiến Giản-Trần Văn Quý-Đối thoại sử học (Nxb Thanh Niên 2000- tr. 359-365).(3) Tây Sơn thuật lược-phần chữ Hán đăng trên tạp chí Nam Phong số 148- bản dịch của ông Tạ Quang Phát chuyên viên Hán học Viện Khảo cổ Sàigòn đăng trên tạp san Sử Địa (Saigon) số đặc biệt Xuân Mậu Thân 1968.

nhà báo Trúc diệp Thanh nên gửi bài này đến tạp chí XƯA VÀ NAY do nhà sử học Dương Trung Quốc làm Tổng biên tập xem sao. Đừng trông chờ vào sĩ khí, sự dũng cảm và lòng tự trọng của những người từ lâu mặc định mình là người duy nhất đúng.
Để lâu cức trâu hóa bùn
Tác giả Trúc Diệp Thanh đã dẫn lời Nhà văn Nguyên Ngọc thay cho kết bài như một dấu hỏi còn bỏ ngõ :
“Tôi cho rằng căn bệnh nặng nhất ,chí tử nhất ,toàn diện nhất của xã hội ta hiện nay là bệnh giả dối. Chính cái giả dối tràn lan khiến người ta không còn thật sự tin vào bất cứ điều gì …”
Đọc mà ngấm buồn ! Như vậy ,thế hệ mai sau yêu sử Nhà biết đâu mà lần ?
Vẫn thường nghe người ta nói: Dân ta phải biết sử ta! Nếu mà không biết thì … tra GU- gồ ( Google!). Còn, nếu không có thì giờ tra Google thì cứ lên … ti vi xem phim lịch sử các nước Tàu, Hàn Quốc , v.v để mà bổ sung kiến thức sử quốc tế(?). Chứ nếu đọc sách sử ta và xem phim lịch sử nước ta thì càng tức lộn ruột. Thế mà lâu nay chẳng hề nghe các vị học giả, các nhà nghiên cứu lịch sử lên tiếng gì cả. Câu nói của nhà văn Nguyên Ngọc thật khái quát, ngắn gọn mà đầy đủ… về một thời kỳ? Tình hình như thế, trách gì học sinh, sinh viên Việt Nam ngày càng chán ngán, không tha thiết gì đến việc tìm đọc sách sử nước nhà?! Không biết các vị, các nhà nghiên cứu lịch sử nghĩ sao?
Posted by 222.254.184.60 via http://webwarper.net, created by AlgART: http://algart.net/
This is added while posting a message to avoid misusing the service
Ai cũng có thể có lúc phạm phải sai lầm, do vô tình hay hữu ý hay vì nhiều lý do này khác, bất khả kháng… Song, vấn đề là phải biết sửa sai, phải làm những việc phải làm. Tập thể hay cá nhân cũng vậy! Điều đáng tiếc, trước nay vẫn thường xảy ra, là trí thức nước ta dường như đã đứt hết dây thần kinh xấu hổ, và thiếu lòng tự trọng cần thiết, thiếu sự lương thiện tri thức( honnetete intellectuelle)? Bài viết của Trúc Diệp Thanh trình bày rất đầy đủ, hệ thống, tưởng đã có thể đi đến một kết luận sau cùng về vụ Đô đốc Long…, nhưng sao các vị chức sắc có trách nhiệm liên quan không hề có một động thái nào thích hợp?? Đành phải chờ thôi. Nhưng biết đến bao giờ?!?
Posted by 222.254.190.10 via http://webwarper.net, created by AlgART: http://algart.net/
This is added while posting a message to avoid misusing the service
Những chuyện bá láp vậy mà vẫn xãy ra thì thật quá đáng
Chẳng lẽ pó tay sao các bác ?
Việt Nam mình những chuyện này thì đầy rẫy. Nhưng dù sao cũng cám ơn nhà báo Trúc Diệp Thanh.
Chán thì qua OSAKA uống cà phê với NOBITA là hết chán liền hè…
NGHĨ MÀ CHÁN