Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Ba, 2012

Tháng Ba Và Em

 Văn Công Mỹ

Chim biết đùa với
Nắng biết giỡn tóc thề
Ngày có em bỗng lạ
Tháng Ba đầy đam mê
. (more…)

Read Full Post »

Không phải đến khi được tiến cử lên Chính phủ để phê duyệt là quốc hoa, vẻ đẹp của hoa sen mới được ghi nhận. Từ rất lâu, không chỉ tượng trưng cho sự bình dị, tinh khiết, sen chinh phục người Việt còn vì gần gũi với đời sống hằng ngày. Bình Định chưa nổi tiếng lắm về sen như kinh đô Huế, cố đô Hoa Lư nhưng những mùa sen ở Bả Canh (thị trấn Đập Đá, thị xã An Nhơn) và Thanh Minh (thôn Phụng Du 1, xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn) cũng rộn ràng và đầy nét quyến rũ. Mùa sen năm nay đang về!

(more…)

Read Full Post »

   Nguyễn Ngọc Thơ
Mười năm  ! Về lại đất Tây Sơn.
Ai xây kè đá , dọc Sông Côn ?
Đồng lúa Xuân xưa : _ Giờ phố thị  !(1)
Trên cầu lữ khách ngắm hoàng hôn .
.
Lấp ló hàng tre cuối bãi sông .
Ai trồng còn đó: _ Đứng che giông ?
Xanh như mây, nước ngàn năm đợi .
Hò hẹn trăng về tắm gió đông …
.
Ta về đây ! Sau nhiều năm lưu lạc ,
Ghé Đùng Đình nhìn từng giọt sương rơi .(2)
Thương quê hương rót kín bến sông gầy,
Mùa nước lũ bơi thuyền trong cội nhớ.
.
Kìa lối cũ ,đường xưa thay áo mới .
Mà hồn cây cỏ đọng đầy nơi đây ?
Quán Đùng Đình  đêm nay trời se lạnh,
Ta thu mình hớp trọn chén men cay .
.
Như nuốt cả ân tình chưa tan vỡ .
Xúm xít cười  còn đó vẻ thơ ngây .
Thời trốn học rủ nhau về Tháp cổ ,
Nắng bụi đường nhuộm đỏ áo thư sinh .
.
Và nhớ mãi chiếc hôn đầu bỡ ngỡ .
Dưới gốc bàng rụng lá ráng chiều thu .
Từ dạo đó ! Tha phương đi biền biệt,
Mắt mẹ nhòa lặng lẽ đứng trông theo…
.
Bao giờ ! Ta về thăm lần nữa ?
Đất Võ   điểm dừng của khách du .
Hầm Hô  thác đổ ru người đến .
Vó ngựa trời Tây sử sách lưu !
(1)Thôn Phú Xuân xưa -quê hương Bùi Thị Xuân.
                                                (2)Quán cà phê sát Cầu mới Phú Phong.
 
                                                                         Cà phê Đùng Đình ,Tây Sơn

Read Full Post »

Tưởng rằng đã quên

Nguyên Minh

Gần ba mươi năm hầu như tôi không còn viết văn nữa. Đã quên đi cái thời thanh xuân từng làm tôi say mê  chữ nghĩa. Ngồi nghĩ lại trong khoảng thời gian dài đăng đẳng, cả nửa đời người, tôi  đã sống thế nào để lấp đi nỗi đam mê như một phần cuộc sống như da thịt mình. Sáng nay tôi ngồi trên căn gác gỗ ở vùng cao nguyên, nhìn những dãy đồi thông trước mặt, đang thay đổi màu sắc từng giây phút theo tia nắng ban mai. Cũng khung cảnh này, cũng những dãy núi chập chùng đó, một vài ngôi nhà ẩn hiện trong lùm cây nhưng từng màu sắc thay đổi khác nhau, mỗi suy tưởng của tôi cũng không dừng lại một chỗ.

Bỏ xa thành phố ồn ào, náo nhiệt. Gác  đi những công việc sinh nhai hằng ngày cùng những phiền toái của cuộc sống. Tôi theo hai người bạn họa sĩ già lên Đà Lạt nghỉ ngơi. Họ cầm cọ vẽ, còn tôi tìm cho mình một chỗ ngồi yên tĩnh để viết lách. Bao nhiêu đề tài lấy từ cuộc sống bao nhiêu năm tháng như những cơn sóng biển cả dâng cao và ồ ạt vỗ vào bờ làm tôi ngợp ngàng. Không biết bắt đầu từ đâu, từ trong cuộc đời mình?

Ngân vừa hoàn tất tập thơ, anh đánh máy vi tính sưu tập lại những bài thơ từ năm 1965 đến nay. Tôi nhận phần in và trình bày. Công việc này tôi đã bỏ  đi từ lâu. Cả một phần tư thế kỷ. Tôi giao tất cả công việc của cơ sở in cho con gái đầu lòng trông coi. Còn tôi mang những trang thơ đã in laser, xếp lại từng tay một rồi lục lọi từ chiếc hộp thiếc của con gái út lấy một cây kim may tay cùng cuộn chỉ thêu. Tôi xỏ mãi sợi chỉ luồn qua lỗ kim nhưng sợi chỉ cứ trệch ra ngoài, mặc dầu tôi đã mang kính lão. Bé Phượng – con gái út – tuổi mười lăm, thấy vậy vội xỏ chỉ hộ tôi, nhưng nó vẫn hỏi:

– Ba may cái gì vậy?

Tôi trả  lời nhát gừng:

– Sách.

– Hồi giờ con không thấy ba may. Bộ ba biết  đóng sách hả?

– Đừng hỏi, để ba yên.

Một vài lần mũi kim châm vào đầu ngón tay tôi, đau nhói. Tôi hít hà. Ba mươi năm tôi không sử dụng tới. Công việc tôi làm đâm ra vụng về. Nước mắt cay cay. Ừ. Mình đã già. Tôi lục đục tìm mãi hộp hồ  mới đây thợ dùng còn bỏ dở. Vợ tôi moi nó ra từ một góc kệ. Nàng cũng ngạc nhiên hỏi:

– Sao anh không đưa xuống bảo thợ dán gáy cho?

Tôi cầm lấy hộp hồ, trả lời vội rồi bỏ  vào phòng:

– Anh thích tự làm lấy.

Bôi lớp hồ lên gáy tập thơ, vội vàng tôi lấy bìa ra từ máy in laser, còn hâm hẩm nóng, vuốt cạnh rồi dán gáy. Tiếp tục lại từ đầu cho một cuốn khác. Cũng vụng về. Đứa con trai thấy cha mình cặm cụi làm với tư thế luộm thuộm cũng lên tiếng:

– Ba đưa thợ làm vừa nhanh vừa đẹp mà ba đỡ mệt.

Tôi bực dọc:

– Mày biết gì. Tao thích vậy.

Thằng con trai chưng hửng, im lặng nhìn người cha làm tiếp. Sách chưa kịp khô hồ, tôi đã cầm lên ngắm nghía. Lật từng trang, mùi mực in còn thoang thoảng.

Buổi chiều nắng đã tắt. Tôi vội vàng thay quần  áo và bỏ mấy tập thơ vừa in xong vào chiếc cặp da đến nhà Lữ, gặp bạn bè. Vừa bước xuống cầu thang vừa hát nho nhỏ vài câu trong miệng. Tân, đứa con trai thứ, vội nổ xe chuẩn bị chở tôi đi. Tôi như một đứa trẻ, bước lên ngồi trên xe, ôm chặt vào bụng thằng con trai. Như ngày nào, ba mươi năm về trước, T. đã từng ôm chặt lấy tôi khi tôi chở nàng rong chơi. Tháng chín trời Sàigòn thường đổ mưa bất chợt. Tân dừng xe lại vội mặc áo mưa. Còn tôi chỉ chui đầu vào vạt áo mưa của thằng con. Chiếc cặp kê chính giữa hai thân thể cha con. Hết sợ nước thấm ướt mấy tập thơ. Như ngày nào tôi đã bỏ T. bên lề đường, núp dưới mái hiên gần cột đèn, cùng chiếc xe gắn máy hết xăng, còn tôi thì ôm trong lòng mấy tập báo Ý Thức số đầu tiên, đón taxi đến nhà Ngân, nơi bạn bè văn nghệ đang chờ. Thấy tôi đến một mình, vợ Trọng thắc mắc: “Sao ông không chở T. đến?” Kịp nhớ ra tôi bỏ T. giữa đường. Trọng đưa khăn cho tôi lau nước mưa làm ướt tóc, hỏi nơi T. đang đứng để anh đón về hộ. –“Khúc nào đó trên đường Phan Thanh Giản.” – “À, tôi chưa gặp mặt T. lần nào, ông tả sơ đi, chẳng hạn tóc thề hay tóc uốn, mặc áo màu gì. Còn dáng dấp chắc là mảnh khảnh rồi.” – “Hình như tóc thề, áo dài màu vàng.” – “Sao lại hình như, hai người yêu nhau từ năm năm trước, khi còn ở cùng một thị trấn nhỏ cơ mà.” – “Ừ nhỉ. Sao lại hình như?”.

Khi T. ngồi bên cạnh tôi trong buổi họp mặt ra mắt số  báo Ý Thức đầu tiên, Trọng nói kháy: “Chữ  Ý Thức của tờ báo số một màu gì hở  ông Tổng thư ký tòa soạn”. Không đầy một giây tôi đáp ngay: -“Màu đỏ bầm”. Trọng cười, hỏi tiếp: -“Đúng một trăm phần trăm. Còn T., người yêu của chàng đang mặc áo dài màu gì đây?”. Tôi phải nhìn Tuyên và khựng lại phút chốc, ngạc nhiên tự hỏi: -“Sao T. lại mặc áo màu tím không phải màu vàng như mình cứ tưởng.”

Trọng cho biết lý do mất cả tiếng đồng hồ mới tìm ra T.. Trọng không theo lời diễn tả của tôi nữa, vì anh đi suốt cả con đường dài gần 10 cây số mà chẳng thấy người con gái nào núp mưa dưới mái hiên dù có mái tóc thề, mặc chiếc áo màu vàng. Trọng phải đi lại từ đầu đường đến cuối đường, lần này anh chỉ nhận dạng chiếc xe suzuki có gắn nắp bình thủy thế nắp bình xăng đã mất, cùng người con gái đứng run vì lạnh, và hỏi tên: “Có phải T. không?”. Trọng còn cho biết chỗ T. đứng là ngã tư, cạnh trường Gia Long. Còn chiếc xe gắn máy anh vất bừa ở trước cổng trường.

Buổi sáng hôm đó, tôi có hẹn đến nhà  chở T. đi chơi. Ngang qua nhà in, tôi ngừng lại, vào xem anh em thợ xếp chữ đã “mi” được trang báo  Ý Thức số 2 chưa, hối thúc họ để mình được yên tâm cùng T. rong chơi. Cô thư ký nghỉ việc không báo trước. Tôi phải thế chân, cặm cụi sửa bài, rồi quên hẳn giờ hẹn. Đến khi sực nhớ trời trưa rồ, nhưng tôi cũng vội đến nhà T.. Đến nơi thấy T. vẫn còn mặc bộ đồ ngủ. Tôi nổi cáu, hối thúc: -“T. thay đồ lẹ lên, tụi mình đi ăn trưa.” T. vẫn ngồi thừ người ra nơi bàn học. Vẻ mặt nàng ra dáng nghiêm nghị. Lúc đó tôi mới nhận ra lỗi mình trễ hẹn nên cười trừ: -“Không đi ăn sáng giờ ăn trưa vậy. Thôi, đi em.” Thơ, cô bạn học sư phạm cùng trường, thuê cùng phòng trọ với T. ra chào tôi và nói nhỏ: -“T. nó giận anh, sáng cứ ra vô, thay đồ đi chơi, đợi mãi chẳng thấy bóng dáng chàng, quê quá mặc lại đồ ngủ, nó bảo nếu anh đến để mặc anh ra về.” Tôi chỉ cười. Thơ nói tiếp, giọng nhỏ lại: -“Nhưng bây giờ lại khác, con gái mà”.

Đáng lẽ tôi chở T. thẳng đến nhà hàng, tôi lại ghé tạt nhà in – như ma dẫn đường – định xem qua công việc tiến triển ra sao, và phân công cho anh em thợ làm đêm. Cô thư ký vẫn chưa đến. Tôi bắt T. thế chân, ngồi sửa lỗi bản in thử. Còn tôi hì hục gắn bản in nhủ lên ma-két. Đói bụng, tôi nhờ nhân viên đi mua cơm phần. Nghỉ tay một lát, tôi và T. vội vã ăn cho xong để tiếp tục công việc. Mãi đến tối, mấy cô thợ may sách mới hoàn tất một ít số báo Ý Thức số đầu tiên. Tôi vội chở T. đến nhà Ngân, quên mang cả áo mưa, mặc dầu lúc đó trời đang chuyển tối ầm lại, báo hiệu cơn mưa lớn sắp đến. Những hạt mưa bắt đầu rơi xuống, lúc đầu thưa thớt sau ồ ạt, tầm tã. Máy xe lại chết. Tôi chỉ kịp tấp vào lề đường. Cả T. và tôi ướt như chuột lột. Tôi bỏ nàng đứng bơ vơ một mình. Còn tôi đón taxi, ôm trong lòng mấy tập báo Ý Thức.

Trong buổi ra mắt số Ý Thức đầu tiên, bạn bè, anh em trong nhóm chủ trương hầu hết có mặt trên căn gác nhỏ ọp ẹp của vợ chồng Ngân. Chúng tôi vừa uống rượu vừa nhắc lại những kỷ  niệm, chuyện vui buồn trong những ngày làm báo. Trời đã khuya và men rượu cũng đã thấm. Trong cái ngà ngà, lâng lâng, chúng tôi vẫn còn đề cập đến hướng đi cho các số báo tới. T. đã thấm mệt. Nàng nhắc nhỏ tôi chở nàng về, ngày mai còn đến trường. Tôi còn lưỡng lự, Ngân lãnh phần chở T. về thay tôi.

Mới đó mà đã 30 năm qua. Giờ đây, trên cao nguyên này, nắng đã lên cao, hắt chút hơi ấm vào người tôi. Những rừng thông đã rõ nét, những thân cây thẳng đứng, hàng hàng lớp lớp. Những cành lá xanh um vươn lên, bao bọc ngọn đồi, những tia nắng đã xua tan sương mù ban mai. Cảnh vật đậm đà như mang một sức sống mới. Tôi ngừng viết, xuống phòng khách xem Trọng và Ký đang phác họa trên vải. Cả hai đều vẽ ngọn đồi trước mặt, nhưng chắc chắn là hai lối nhìn khác nhau về một màu thời gian. Tôi cũng bị không khí đam mê hội họa níu kéo, thúc đẩy. Tôi không biết vẽ, không biết làm thơ. Tôi chỉ biết viết văn.

Sau năm 1975 tạp chí văn học Ý Thức của chúng tôi không còn nữa. Hầu hết anh em còn ở Việt Nam lần lượt bỏ quê cũ vào Sài Gòn sinh sống. Chúng tôi vẫn thường có dịp họp mặt nhau, uống rượu và nói chuyện phiếm. Tuyệt nhiên không đề cập đến văn chương chữ nghĩa. Cả một khoảng đời dài, một phần tư thế kỷ, chúng tôi đã ngừng bút. Trong những buổi họp mặt đó, tôi chỉ ngồi lặng câm, không nở nổi một nụ cười. Những mộng ước văn chương còn dang dở. Sao không ai nhắc đến món nợ phải trả. Cuộc chơi cay nghiệt của thời tuổi trẻ đã từng làm tôi đam mê đến nỗi đã đánh mất đoạn kết tốt của một mối tình.

Ngày xưa T. bỏ tôi đi lấy chồng, tôi chỉ  buồn đôi chút rồi qua đi. Vì bên cạnh tôi còn có tờ báo Ý Thức, còn nhà xuất bản Tiếng Việt, còn văn chương chữ nghĩa, còn anh em bạn bè văn nghệ. Có lẽ T. so sánh với thời hai đứa yêu nhau trước đó, khi còn ở một thị trấn nhỏ, lúc ấy tôi chỉ là một nhà giáo, ngày hai buổi chỉ biết đến trường, về nhà âm thầm sống trên căn gác nhỏ, đọc sách, nghe nhạc. Trọn trái tim tôi chỉ dành cho tình yêu đối với T.. Những chiều mưa T. đến với tôi. Tiếng chân người con gái gõ nhẹ lên từng bậc tam cấp, gõ đều từng tiếng như tiếng mưa rơi tí tách, nhỏ từng giọt vào lòng tôi. T. hay khóc. Nhìn nước mắt lưng tròng của người con gái mới lớn làm tôi đâm ra vụng về, luống cuống. Tôi chỉ biết lấy khăn tay chậm nhẹ lên những giọt nước mắt như những giọt sương long lanh còn đọng lại nơi cánh hoa hồng mong manh trong khu vườn của một buổi sớm mai còn sương mù lãng đãng.

T. bị dằn vặt giữa hai đường. Gia đình và tôi. Ba mẹ T. không chấp nhận cuộc tình của chúng tôi. Nghỉ hè, về nhà sống trong gia đình êm  ấm, bao nhiêu lời khuyên răn nhẹ nhàng cùng những dự định kiên quyết của cha mẹ buộc T. phải lìa xa tôi. Không cần T. nói ra, cứ nhìn T. âm thầm ngồi khóc bên tôi, tôi đã hiểu. Chúng tôi chỉ lén lút gặp nhau. Bao nhiêu lần tôi uống rượu một mình say mèm mà vẫn gọi tên T.. Bao nhiêu lần chúng tôi tự bảo là sẽ xa nhau, mỗi người đi mỗi ngã. Gặp nhau một lần cuối để nói lên lời giã biệt nhưng rồi chỉ tạo thêm cơ hội gắn bó nhau thêm. Mãi đến khi T. rời bỏ thị trấn nhỏ này. Rồi tôi cũng bỏ ra đi. Chuyện tình của chúng tôi gián đoạn. Gần năm năm sau tình cờ chúng tôi lại gặp nhau tại Sàigòn. Tôi làm báo. T. học sư phạm.

Những ngày Trọng và Ký triển lãm hội họa chung tại phòng tranh Tự Do ở đường Đồng Khởi, anh em thường tụ họp vào buổi chiều có mưa rơi lác đác, trong không khí đông vui đó gợi lại trong tôi một thời xa xưa đã qua, một thời tuổi trẻ hăng say với những nỗi đam mê văn chương chữ nghĩa, cùng chung nhau làm báo văn học. Bây giờ tuổi đã già. Sao không có một chỗ ngồi chung nhau, tiếp tục mộng ước còn dở dang. Phải đi cho trọn con đường còn lại, để nhận dạng được con người đích thực của mình.

Ngày xưa, tôi không hiểu thấu những đam mê về  bóng đá, gà chọi đã theo suốt cuộc đời của ba tôi. Tôi bực bội có lúc gần như chống đối. Cuộc chơi của ba tôi đã gây biết bao nhiêu phiền toái cho mẹ tôi, anh chị em tôi. Lúc tôi mười tuổi, một thằng bé con, còi cọc, ôm trong lòng con gà chọi, nặng chịch, cứ cử động tía lia, đập cánh, chân có cựa nhọn và dài cứ đạp lên đạp xuống, móc vào da thịt non nớt của tôi làm rớm máu, làm tôi ngã xuống đất, còn nó – con gà nòi chết tiệt – cứ xông vào đá chính hình ảnh nó phản chiếu từ tấm gương soi của chiếc tủ đứng. Tôi đứng xem mải mê đến khi con gà chọi liểng xiểng, té lên té xuống. Tôi vỗ tay cười hả hê, cứ tưởng mình đang ở trong trường đá gà, chung quanh toàn người ơi là người, vỗ tay, la hét, cổ vũ. Tôi cũng nhảy lên theo cái đá chân của con gà vào tấm kính kêu lốp đốp. Mẹ tôi đi chợ về thấy tôi đứng cười, còn con gà đã nằm bệt xuống đất thở khò khè. Mẹ tôi la hoảng: -“Thôi chết rồi. Làm sao cho con gà tỉnh lại để khi ba con về không khám phá được.” Lúc đó tôi mới sợ hết hồn, mặt mày xanh mét khi liên tưởng đến những trận đòn nát mông. Tôi chỉ biết ú ớ: -“Làm sao đây hả mẹ?” Mẹ tôi vỗ đầu tôi, nói nhỏ nhẹ: -“Con bắt chước ba, vỗ khăn ướt vào thân con gà, rồi ngậm rượu phun lên đầu nó như ba con thường chăm sóc nó sau một trận xổ gà.” Nhờ mẹ tôi mách nước, tôi nhớ lại từng li từng tí cảnh chăm sóc đó của ba tôi. Tôi làm theo, nhưng khi ngậm rượu chưa kịp phun ra thì tôi lại nuốt ực vào. Mùi rượu nồng nặc và cay cay làm tôi sặc sụa. Hồn vía như lên mây. Buổi trưa ba tôi không ăn cơm nhà, chiều ông mới về, nhờ khoảng thời gian dài đó con gà mới hồi phục phong độ như trước. Mỗi lần ba tôi đến cạnh cái lồng nhốt gà nhìn nó oai vệ đứng hiên ngang, ông cười hãnh diện, tôi mới yên tâm. Tưởng mình đã thoát. Qua ngày mai, khi đi học về, ba tôi chỉ tay vào một góc hiên nhà, giọng Huế nặng trịch: -“Mi ngồi chồm hổm xuống đây.” Tôi chưa hình dung hình phạt nào tôi phải gánh chịu. Tôi cũng ngạc nhiên tự hỏi: “Làm sao ba tôi phát hiện ra lỗi lầm của tôi.” Ba tôi vào nhà sau cầm ra một cái lồng nhốt gà đá thật to, đan bằng tre lưới mắt cáo, chụp xuống người tôi. Tôi ngồi co ro. Ông lấy viên đá lớn đè dằn lên nắp lồng và cảnh cáo tôi: -“Mi thế chỗ con gà chọi. Hễ viên đá này rớt xuống đất là nát đòn nghe con. Chỉ trông gà đừng để cho nó nhìn vào gương soi mà cũng không nên chuyện. Hư cả mỏ, may mà tao khám phá ra. Chăm sóc nó cũng phải cả tháng mới đến trường gà được.” Con gà chọi nhốt trong lồng còn đi qua đi lại được, cái cổ dài còn lắc lư. Còn tôi ngồi chồm hổm, co ro như con mèo thu mình lại. Đôi mắt trẻ thơ của tôi rơm rớm nhìn xuống đất, tủi thân. Lũ học trò bạn tôi đi học về ngang qua thấy lạ, dừng lại ngạc nhiên hỏi: -“Nguyên, mày giở trò gì vậy?” Một đứa lanh hơn nói khẽ: -“Nó bị ba nó phạt đó.” Lên trường tụi nó chọc quê tôi đủ thứ. Có lẽ vì vậy mà lớn lên tôi rất ghét trò chọi gà.

Ba tôi say mê đá gà bao nhiêu thì bóng đá  ông cũng mê như vậy. Trong nhà tôi lúc nào cũng đầy cầu thủ bóng đá. Ba tôi tuyển chọn cầu thủ rất kỹ lưỡng. Toàn những danh thủ của các tỉnh khác, kể cả thủ đô Sàigòn. Ông đem họ về ăn ở trong nhà. Sau này ba tôi bị tù đày. Đội bóng tan rã. Họ tản mác ra đi. Sau này ba tôi ở tù ra thì đã mắc bệnh lao, hậu quả bao nhiêu lần tra tấn dã man, nhưng chiều thứ bảy nào cũng vậy, một ông già đạp xích lô, cũng mê đá gà như ba tôi, đến chở ba tôi đến trường gà. Ông ngồi xem hai con gà đá nhau tơi bời, máu me đầy đầu, quẹo cổ, có khi gục chết tại chỗ. Xung quanh toàn là thanh niên, trung niên, một ít người già như ba tôi, họ toàn là đàn ông, tuyệt nhiên không có một phụ nữ nào. Họ ngồi chồm hổm hoặc đứng bên nhau. Họ la, họ hét, họ cười rộ, họ chưởi đổng, họ buồn, họ vui, họ giận theo từng cú đá của con gà chọi. Sau giờ nghỉ giữa khoảng cách hai trận đá gà chọi, ba tôi giở cà mèn, lấy cơm ăn một mình và nghỉ ngơi một chút cũng trên chiếc xích lô ấy.

Trong trận lụt năm Thìn nước dâng vào thị xã, mọi người trong nhà đều lo di chuyển những đồ vật quí  giá lên căn gác gỗ, riêng ba tôi chỉ ôm được con gà chọi trong lòng và cậu tôi phải cõng một ông già bệnh hoạn cùng con gà chọi lên gác lánh nạn. Lúc ấy tôi tỏ vẻ khó chịu, bực dọc về thái độ của ba tôi. Nỗi đam mê đá bóng, đá gà đã theo ba tôi suốt cả cuộc đời cho đến khi ông chết. Bây giờ nghĩ lại, nếu thiếu những đam mê đó chắc gì giờ này tôi nhớ đến ba tôi như thế này.

Không riêng gì ba tôi, mẹ tôi lại có một  đam mê khác: Chơi bài tứ sắc. Chiều chiều, trên tấm ván gỗ gõ bóng láng, mẹ tôi cùng ba người bạn ngồi chơi bài mãi đến tận khuya. Chỉ đến lúc ngừng chơi để ăn tối lót dạ, tôi mới nghe họ nói chuyện, cười vui. Còn trong cuộc chơi sự im lặng bao phủ lấy họ. Thỉnh thoảng họ mới thốt lên tiếng “tới”, “hụi”, những từ tôi không hiểu gì cả. Thường trong cuộc chơi bài, như đánh phé, bài cào, xì lát, người chơi thích sát phạt nhau, ồn ào, to tiếng. Bao nhiêu tính xấu, tốt, từng cử chỉ nhỏ nhặt như rút bài, lùa bài, sóc bài. Khi thua bạc mặt rầu rĩ, ảm đạm. Khi ăn bạc cười nói huyên thuyên. Đôi khi có người tỏ ra nóng nảy, phản ứng không đẹp với mọi người chung quanh. Những người bạn chơi bài của mẹ tôi đều như vậy. Riêng mẹ tôi, không ai biết được trong cuộc chơi mẹ tôi thắng hay thua, vì bất cứ lúc nào nét mặt bà vẫn không thay đổi. Vẫn nụ cười hiền. Vẫn đôi mắt đăm chiêu. Sở dĩ mấy anh chị em tôi không muốn mẹ tôi ngồi chơi bài vì lo tới sức khỏe của mẹ tôi mà thôi. Mẹ tôi còn phải đi xa, những chuyến hàng buôn lớn, vào Sài Gòn, ra Đà Nẵng.

Chị Chi lúc chưa có chồng, thường phản ứng tỏ vẻ khó chịu bằng cách nguýt nguấy, trả  lời nhát gừng với những ai tới rủ mẹ tôi chơi bài. Sau khi khách về mẹ tôi hỏi chị: -“Con xem cuộc chơi của mẹ có làm phiền ai không?” Chị Chi im lặng. –“Sao con phản đối?”. Chị Chi chỉ biết mỉm cười. Sau này chị lại đam mê, sa đà, đến mức tôi phải hỏi lại chị: -“Ngày xưa chị ngăn cản mẹ, sao giờ chị còn đam mê hơn mẹ nữa. Bao nhiêu cơ đồ, tài sản chỉ trong giây phút sau những trận sát phạt đều tan tành. Sao chị không như mẹ, chơi bài như một trò giải trí?” Chị gật gù: -“Cái khó là ở chỗ đó.” Sau những ngày ủ dột, chán đời vì thua bạc, chị lại buôn bán lớn, gầy dựng lại. Rất nhanh. Trong thời gian đó chị lo chạy đôn chạy đáo. Tôi mừng thầm cho chị. Giàu có rồi chị lại tiếp tục. Tiếng cười chị thật dòn tan, khuôn mặt chị rạng rỡ khi nghe điện thoại, tôi hiểu ngay có ai hẹn chị, rủ chị tới nhà chơi bài. Khi chị về nhà, tôi chỉ nhìn dáng đi của chị là hiểu ngay kết quả của cuộc chơi. Tiếng chân của chị nặng trịch và chậm chạp bước lên cầu thang, tay phải vịn vào thành lan can, người đi liểng xiểng. Tôi nói nhỏ với chị Hồng – chị kế của tôi: -“Chị Chi thua bạc đó, chị đừng hỏi gì hết”. Khi thắng bạc, chưa kịp vào hẳn trong nhà, còn ngoài cửa, gặp ai chị cũng nhìn với đôi mắt như biết cười. Tiếng chân chị bước nhẹ nhàng, êm ái, lên từng bậc thang, tay vẫn ung dung đánh đàng xa. Tôi cười mỉm. Thiếu tiền đi chơi, tôi chỉ cần lên phòng gặp chị. Không cần tôi nói gì chị cũng rút tiền, không đếm, vui vẻ cho tôi ngay. Khi nhìn vẻ mặt ủ dột của chị, tôi tránh mặt. Những lúc ấy chị Hồng lại đối diện chị nên lãnh tất cả những trút bỏ bực dọc, chị la mắng về mọi người thân trong gia đình. Chị Hồng ngồi chịu trận. Cứng đơ như khúc gỗ. Chị Hồng như tấm phên đỡ lấy những buồn bực của chị Chi về tôi. Gặp tôi chị mách nhỏ: -“Mày chuẩn bị nghe chị Chi chửi!” Tôi cười: -“Chị nghe hộ em, đã rồi. Chị ấy còn gì để la mắng em nữa. Em chờ chị ấy ngủ một giấc, rồi em mới gặp, chị chờ xem.” Thật vậy, gặp tôi chị im re, như tôi chưa bao giờ làm chị phiền lòng. Chị Hồng thắc mắc và phân bì tình cảm chị Chi đối tôi khác với chị. Tôi giải bày: -“Tại chị không hiểu tâm trạng của một người thua bạc.”

Như Ngân, người em gái kế của tôi, trách tôi: -“Tại sao anh không ngăn cản để chị Chi đam mê cờ bạc. Làm em mà thờ ơ sao được.”  Trách tôi xong, mặt Ngân hầm hầm tiến đến sòng bạc, lấy tay hất tung cả lên trước sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng của mọi người. Ngân nói như hét lên: -“Các bà chuyên môn đánh bạc lận, lừa chị tôi ăn hết, phá tan hạnh phúc gia đình tôi phải không?” Và nước mắt Ngân chảy dài. Tôi đứng ngây người ra. Chị Chi cũng đến lay vai tôi: -“Mày xem em mày đối xử với tao, làm tao mất mặt với người ta nè.” Tôi chưa kịp phản ứng thì Ngân cũng đến nắm lấy vai tôi, lắc mạnh: -“Anh làm em mà thờ ơ để chị mình cứ tiếp tục bài bạc đến sạt nghiệp.” Tôi chỉ biết im lặng.

Sau này, những người thân ở Mỹ về thăm. Gặp tôi họ kể chị Chi không còn say mê chơi bài nữa. Còn Ngân sau khi nghỉ việc làm, thì giờ rỗi rảnh bắt đầu hát. Thời tuổi trẻ tiếng hát của Ngân đã từng làm rung động bao nhiêu người. Tôi nhận được cuộn băng vidéo thâu Ngân hát. Tiếng hát của Ngân tuy không trong như ngày nào, giọng hơi run nhưng vẫn còn truyền cảm. Đã ba mươi năm trôi qua rồi còn gì.

Mặt trời lặn dần sau chân đồi. Rừng thông trước mặt tôi cũng đã đổi màu. Xám lại. Một màu lãng đãng không còn phân biệt đâu là cành lá,  đâu là thân cây, đâu là màu tia nắng vàng óng ánh xuyên qua cành lá. Đâu đó còn một vài điểm chấm nhỏ li ti đỏ bầm của những mái nhà ngói đỏ bên kia đồi. Đâu còn màu trắng chữ thập giá nhỏ li ti gắn trên nóc nhà thờ. Màu khói lam chiều ai đốt lửa xa xa dưới thung lũng bay lơ lửng. Tất cả những màu sắc đó đã hòa lẫn với nhau thành một màu duy nhất. Màu của bóng đêm. Cảnh vật đã chìm mất.

Một cơn gió thoảng, quyện vào đó giọng nói của một phụ nữ, rất quen thuộc, từ bên kia nửa quả địa cầu. Bẵng đi ba mươi năm tôi mới nghe lại  được, dù qua điện thoại, trước khi tôi lên Đà Lạt vài ngày. Những lời hỏi thăm về con đường Phan Thanh Giản, về trường Gia Long, về chiếc xe suzuki, về tòa soạn Ý Thức. Và cuối cùng, giọng nói nhỏ lại: “Sao anh không còn viết văn nữa. Con đường mà ngày xưa anh đã chọn.” Như một lời nhắc nhở. Cám ơn.

Vâng. Văn chương là một cái nghiệp mà khoảng đời còn lại tôi phải trả. Thời gian trôi đi. Tuổi già kề cận. Nhận dạng lại những người thân yêu đã đi qua đời tôi. Tưởng chừng như  đã quên.

Read Full Post »

Lê Đức Vũ
Hôm nay 14 tháng hai,sao mấy con không tìm một góc riêng cho lãng mạn ; tập trung về đây lại còn muốn tía má kể chuyện cổ tích ??? Lại còn Ớt bay với Xoài tượng nữa, còn tí xíu mà cũng xáp dzô hóng chuyện người lớn à?
…………………………………..
Thôi ,má bây ừ thì tía kể dzậy……
Hồi tía còn đang học tập,bà nội thằng Lán vào thăm cho mấy ràng bánh tráng dừa ;chiều chiều , tía thường xin phép cô quản giáo cho nghĩ sớm một tí để nướng bánh mấy anh em cùng giải lao, cô quản giáo đồng ý và có giao ước trước cổ sẽ bỏ đi qua bên kia cầu,anh em nghỉ đến khi nào cổ quay lại thì về trại…
-“Cô quản giáo là ai dzẩy ông thầy ?”
-“A ! thằng này rộn chuyện,là bà thầy của con bây giờ đó, thôi để yên ông thầy kể cho mọi người cùng nghe,bữa khác con hỏi riêng ông thầy nghen?”
……
Được mấy hôm thì cô quản giáo mang thêm mấy cái bánh phồng qua tham gia…
Trời ! thấy cô quản giáo cầm hai cái cây ,lật qua lật lại cái bánh phồng trên bếp lửa tía mầy mê hổng chịu nổi , cứ như Tề thiên đại thánh múa thiết bản…một lát là có cái bánh phồng vàng ươm ,phẳng phiu ,không một vết cháy,ăn giòn rụm…Một bửa tía làm gan hỏi
-“Cán bộ nướng bánh phồng hay quá, hay là bửa nào nướng thử bánh tráng dừa của tui xem ,biết đâu chừng  ngon hơn tui nướng “
-“Hứ! ngày mai anh để tui nướng nghen!”
Hôm sau tía mang luôn hai cái cho chắc ăn; mà thiệt ,cô quản giáo nướng bánh tráng dừa cứ y như nướng bánh phồng cho nên cái bánh chỗ thì cháy đen chỗ thì còn trong veo màu bánh sống mà hay ở chỗ cái bánh lỳ chay ,không có chỗ nào phồng mặt…
-“Trời ơi ,bánh nướng kiểu dzì mà giống chó lác dzữ nè trời…” cô quản giáo than
Thiệt tình là tía mầy nhịn cười  không nổi,nhưng cũng may là cô quản giáo không giận ,thế là tía mầy chui  dzô bụi ô rô lấy ra cái khác.
-“Thôi để tui nướng cái khác cho anh em có cái ăn, cái này để tui nướng lại kỹ thêm một tí để pha trà, đừng có buồn tui sẽ chỉ tại sao bánh không chín mà chỉ cháy…”
Tía mầy cời rộng  rồi dập tắt lửa ngọn vừa nướng vửa chỉ dẫn…lửa phải riu riu ,lật bánh liên tục mà cái quan trọng là phải dùng que cời ém mặt bánh xuống sát mặt than…
-“Sao anh không nói sớm ,thôi để tui nướng tiếp coi sao !”
-“Thôi để tui nướng cho chắc ăn ,anh em đang tới kìa ,mai tui mang luôn hai cái cho cô tha hồ nướng”
-“Anh hứa rồi đó nghen !”
…..
Hôm sau tía mầy thủ luôn ba cái gọi là cho chắc ăn…chưa tới giờ mà cô quản giáo đã te te đi tới
-“Hôm qua anh hứa tui sao,anh nhớ hông?”
-“Nhớ chứ ,tui mang tới ba cái lận tha hồ nướng , hôm nay hy vọng là cô khỏi phải nướng bánh phồng”
-“Sao dzậy ?”
-“Thì ba cái chắc ăn được hai, đâu cần phải nướng thêm bánh phồng”
-“Ờ hé!… thôi mình làm luôn đi.”
Tía mầy lấy bập dừa nổi lửa ,lấy ấm đi múc nước , tới chừng đi lên thì thấy cô quản giáo miệng méo xệch, mắt thì đỏ kè…đang thút tha thút thít ,hai tay dấu sau lưng ,ngó lại thì bánh còn hai cái ,lửa thì tắt ngóm mà chỉ toàn khói là khói…
-“Thôi tui hiểu rồi, đừng có buồn, tại vì cô hấp tấp, chờ nấu ấm nước đã lúc đó có than rồi mới nướng bánh ,cũng may là tui mang đến ba cái bánh…”
Nấu xong ấm nước thì cô quản giáo bảo
-“Thôi thì anh cầm tay chỉ dziệc đi chớ nó mà hư nữa thì tui …hận anh suốt đời…,gì mà hổng chịu chỉ luôn một lần cho có đầu có đủa,dạy kiểu gì  mà giống như dạy con nít học a b c…”
Trời đất!!! tía mầy đứng chết trân…
Sau đó tía mầy ra sau lưng cô quản giáo hai tay …dzịn hai tay cổ…bỗng nhiên tía thấy cái ngực mình nó …rần rần ,hai cái tay nó.. giựt giựt ,ngó lại thấy mặt cô quản giáo ..đỏ lựng…thì ra cô quản giáo đang nổi dza dzịt …mắc cở
-“Thôi chết! tui dzô ý dzô tứ quá…xin lỗi cô…”
-“Tui hổng trách anh đâu ,thôi thì anh cứ làm ,đừng …ngại…”
Thế là cái bánh đầu được nướng xong
-“Thôi cái sau cô tự làm đi , còn cái này tí nửa sửa lại sau, chỉ tại vì tui còn ngượng hơn cô nên nó mới như dzậy “
-“Thôi đi …c…h…a…”
Mà tía mầy cũng không ngờ là cái sau cổ nướng chẳng thua gì tía…
Từ đó cô quản giáo giành  nướng bánh mỗi chiều…,cũng bởi vì rảnh việc, nên tía mới xin cô quản giáo đi tắm sớm, bửa sau cổ nướng bánh xong rồi chạy ra bờ sông kêu tía vào; bất đồ thấy tía đang…nằm ngữa trên nước…
-“Hay quá ta ! anh này ngó dzẩy mà nhiều tài dzặc quá ta , mai phải chi tui ngón này nữa à nghen!!!”
-“Dạ !!!”
Hôm sau tía được đặc cách về sau với cô quản giáo …thế là tía chỉ luôn ba thế nằm sấp,đứng ,nằm ngữa…cho chắc ăn…tía thực hành trước cho cổ thấy, rồi nhắc đến lúc cổ thực hành
-“Anh đừng ngại , thế nằm sấp ,thế đứng ở đây con nít cũng làm được còn nằm ngữa thì chưa ,dzì dzậy tui cho phép anh đỡ.. lưng tui khi tui tập”
Trời đất…phải cẩn thận thôi ,tía nghĩ thầm…đang đỡ nằm ngữa,bỗng dưng cổ đưa tay vuốt mũi…thế là …chìm một bên, tía chưa kịp hoàn hồn thì nghe thấy cái gì âm ấm đang giựt giựt ở trứơc ngực…
-“Thôi rồi đời mình tiêu rồi…” lần trước là lưng cạ ngực tay nắm tay còn bây giờ thì ngực cạ ngưc, tay tía thì đang ôm hông cô quản giáo,mà tay cô quản giáo thì đang quàng cổ tía…
Tháng sau tía được ra trại và sau đó thì cô quản giáo là …bà thầy của… mấy con ; thôi cho mấy đứa nhỏ đi ngủ đi ,coi con Xoài tượng kìa ,nhắm tít con mắt…
-“Con có ngủ đâu…con đang nghĩ con là công chúa,anh Ớt bay là hoàng tử ,bà thầy là hoàng thái hậu còn ông thầylà…”
Ha ha…ha ha…….

Read Full Post »

Về bến xưa

Phạm Ánh

Đôi khi tìm nắng trong mưa

Tìm dịu ngọt giữa cay chua giận hờn

Biển khơi sao cạn nỗi buồn

Nghìn trùng dáng núi mỏi mòn nỗi đau.

 

Lơ ngơ râu tóc ngã màu

Đã “tri thiên mệnh” còn câu mây trời

Vụng về đành vậy em ơi

Dẫu vô tích sự vẫn người yêu thương.

 

Tìm trong nắng gió tha hương

Một chiều bình lặng mảnh vườn chân quê

Cánh cò khẽ chạm bờ tre

Em ơi nỗi nhớ anh về bến xưa.

Read Full Post »

Tôi có

Lê Văn Ngăn

Tôi có một vì sao trên nền trời
đêm đêm, tôi và bạn bè tôi từ những nơi cách xa nhau
vẫn có thể có chung một điểm sáng .

.

Tôi có một cánh hoa đào ở Hà thành hay Đà Lạt
hoa nở hoa tàn dưới tiết trời, nhưng trái tim người vẫn là nơi
gìn giữ một cánh hoa không phai tàn .

.

Tôi có trong tâm hồn tôi một chút giá rét
bao nhiêu năm, qua giá rét và đối cực của mùa xuân
tôi thường lắng nghe tiếng chân mùa xuân bước lại gần

.

Từ đấy, tôi tin : cuối con đường tuyệt vọng chẳng phải là sự chết
nhưng chính là niềm hy vọng .

Read Full Post »

               Trương Đình Ngộ

                                Thượng thanh khí tiết ra nguồn tinh khí

                               Xa xôi đời trăng mọc nước Huyền Vi

                                Đây Miên Trường, đây Vĩnh Cữu tề phi

                                Cao cao vượt hai hàng bóng vía

 

Sao anh không về chơi thôn Vỹ                        Trời nhật nguyệt cầu vồng bắc tứ phía

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên                  Ôi Hoàng Hoa, hồn phách đến nơi đây

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc                    Hương ân tình cho kết lại thành dây

Lá trúc che ngang mặt chữ điền                       Mong manh như lời nhớ thương hàng triệu.

 

Gió theo lối gió mây đường mây                      Đàn cung bậc gió dồn lên âm điệu

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay                   Sững lòng chưa, say chấp cả thanh bai

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó                    Sang chơi thôi, sang chơi thôi, mà ai ?

Có chở trăng về kịp tối nay?                            Thu đây rồi bước lên cầu Ô Thước

Mơ khách đường xa, khách đường xa.            Đừng nói buồn mà không khí nao nao

Áo em trắng quá nhìn không ra                       Để chơi vơi này bông trăng lá gió

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh                        Để phiêu diêu này tờ thơ vàng vọ

Ai biết tình ai có đậm đà?                                 Để dầm dề hạt lệ ta đôi ta.

 

Thinh không tan như bào ảnh hư vô

Dải Ngân Hà biến theo cầu Ô Thước

Và ước ao và nhớ nhung lần lượt

Đắm im lìm trong mường tượng buồn thiu !

Việc chúng tôi sắp bài thơ Ở Đây Thôn Vỹ Dạ và trích đoạn của bài thơ Sao, Vàng Sao như trên có dụng ý. Không phải chỉ vì hai bài này được sáng tác trong thời điểm gần nhau, cũng không chỉ vì hai bài này nằm kề nhau trong tập Thượng Thanh Khí, và không phải chỉ vì mạch thơ của hai bài liên hệ mật thiết với nhau.

Hai bài thơ Ở Đây Thôn Vỹ DạSao, Vàng Sao được viết vì một người, cho một người và gửi đến người ấy: người con gái Huế thùy mị  Hoàng Thị Kim Cúc (Hoàng Cúc, Hoàng Hoa). Bao năm tháng qua đi, thơ Hàn ký gửi những bạn thơ tin tưởng nhất có thể thất lạc, hai bài thơ chép tay của Hàn Mặc Tử vẫn được Hoàng Cúc gìn giữ như kỷ vật trang trọng nhất.

Sao anh không về chơi Thôn Vỹ , lời mời như một ân cần thăm hỏi dịu dàng của người con gái Huế đã mang đến xúc động lớn nhất trong những ngày tháng cuối đời Hàn. Tất cả sương khói của bến Vỹ Dạ lúc hừng Đông hay một đêm trăng (trích thư Hàn Mặc Tử gửi Hoàng Hoa) làm gợi nhớ lưu luyến thuở ban đầu. Hàn viết Ở Đây Thôn Vỹ Dạ lúc biết mình sắp qua đời, trong thơ có nhạc, nhẹ nhàng thanh thoát. Về thôn Vỹ để ngắm vẻ đẹp của hàng cau trong nắng mới lên là muốn rũ sạch bụi trần thế.

Câu (tự) hỏi cuối bài thơ cũng mơ hồ như câu hỏi đầu bài mang bao nhiêu lưu luyến, lưu luyến của người biết mình sắp ra đi mãi mãi. Chúng ta tìm được câu trả lời trong giọng Huế êm ái của người con gái Huế Camille Huyền hát như lời ru trong tiếng kinh cầu.

 

Ai biết tình ai có đậm đà?

Có đậm đà[1]

Tiếng đàn và giọng hát, tất cả êm đềm (tranquillo), là lúc Hàn Mặc Tử đã tìm lại được Bình An trong Tâm để chuẩn bị cuộc hành trình về Cõi Vĩnh Hằng.

 

***

 

Sao, Vàng Sao là bài thơ viết cho và gửi đến Hoàng Hoa sau bài Đây Thôn Vỹ Dạ. Bạn bè Hàn đăng báo bài thơ này dưới tựa đề Đừng cho lòng bay xa, hai tuần sau ngày nhà thơ qua đời. Trong mường tượng của nhà thơ những ngày sắp mất, Hồn thơ đã đến Cõi Vĩnh Hằng.

 

Thượng thanh khí tiết ra nguồn tinh khí

Xa xôi đời trăng mọc nước Huyền Vi

Đây Miên Trường, đây Vĩnh Cữu tề phi

Cao cao vượt hai hàng bóng vía

Camille Huyền phổ nhạc Sao, Vàng Sao bằng tiếng hát trơn (a cappella), Walther Giger hòa âm nhạc tứ tấu đàn dây (string quartet) Sao, Vàng Sao với giọng đọc thơ Camille Huyền. Cả hai bản Sao, Vàng Sao mang mang huyền thoại bất tận của không gian và thời gian trên miền Thượng Thanh Khí.

Trời nhật nguyệt cầu vồng bắc tứ phía

Ôi Hoàng Hoa, hồn phách đến nơi đây

Hương ân tình cho kết lại thành dây

Mong manh như lời nhớ thương hàng triệu.

Dù đã đến Cõi Vĩnh Hằng, cõi lòng Hàn vẫn còn yêu thương da diết, kéo hồn phách Hàn về bước lên cầu Ô Thước để tìm lại người xưa dù chỉ là trong một đêm huyễn mộng. Tiếng hát Camille Huyền, tiếng đàn hòa tấu có lúc mong manh như sợ làm vỡ tan hình ảnh và hy vọng đã vô cùng mong manh như lời nhớ thương hàng triệu.

Đàn cung bậc gió dồn lên âm điệu

Sững lòng chưa, say chấp cả thanh bai

Sang chơi thôi, sang chơi thôi, mà ai ?

Thu đây rồi bước lên cầu Ô Thước

Rồi hình tượng trong tiếng hát, trong nhạc hòa tấu trổi lên hân hoan khi những Chàng Ngưu Ả Chức được về thăm nhau cho thỏa lòng mong nhớ. Nền nhạc diễn cảnh cầu Ô Thước bắc trên sông Ngân

Sao! Vàng sao rơi đầy trên sóng nước

Đừng ngả tay mà hứng máu trời sa

Thôi kéo về đừng cho lòng bay xa

Thu vươn này, thu vươn ra như ý

Mau rất mau trong muôn hoa kiều mỵ

Mùa rất trai và ánh sáng rất cao

Đừng nói buồn mà không khí nao nao

Để chơi vơi này bông trăng lá gió

Để phiêu diêu này tờ thơ vàng vọ

Để dầm dề hạt lệ ta đôi ta.

Tầng thượng tầng lâu đài ngọc đơm ra

Khói nhạt nhạt xen vô màu xanh biếc

Tiếng huyền địch gò theo tia yến nguyệt

Đẩy đưa dài hơi ngào ngạt trầm mơ.

 

Sao! Vàng sao rơi đầy trên sóng nước đã cho thấy giữa đoàn tụ đã nhuốm màu chia ly, cái hạnh phúc ngắn ngủi giữa khung trời mưa máu.

Thinh không tan như bào ảnh hư vô

Dải Ngân Hà biến theo cầu Ô Thước

Và ước ao và nhớ nhung lần lượt

Đắm im lìm trong mường tượng buồn thiu !

Không gian nhạc nhạt nhòa trong hương trầm và hình ảnh cầu Ô Thước dần tan đi, tất cả chỉ là bào ảnh (illusion), còn lại chỉ nặng một nỗi buồn trong điệu nhạc và tiếng hát như lời kinh cầu cho Hồn Thơ Hàn Mặc Tử.

Vitznau, 18.02.2012

Trương Đình Ngộ


[1] Ba chữ duy nhất Camille Huyền thêm vào cuối bài thơ lúc phổ nhạc bài Ở Đây Thôn Vỹ Dạ cùng với Walther Giger để nhấn mạnh câu trã lời Có đậm đà.

Read Full Post »

Đêm trăng phơi áo

Hạc Thành Hoa

Ngày mai đã hết quần áo mặc

Một bộ diện gần cả tháng nay

Ta lười trời đất còn nể mặt

Thì sá gì đôi trận gió bay…

.

Nhưng đêm trăng sáng trăng huyền diệu

Gác trọ lòng không bóng mây vương

Bạn vừa đi khỏi trăng vừa tới

Đem áo quần ra giặt đỡ buồn.

.

Dưới bóng trăng mình ta một cõi

Đất trời im vắng giấc cô miên

Bên thau quần áo cao như núi

Nỗi buồn trong dạ cũng cao thêm.

.

Trăng soi từng chỗ cho ta giặt

Áo quần trắng toát một màu trăng

Vò từng chiếc áo nghe tim buốt

Lòng cũng sầu theo những nếp nhăn.

.

Ta ngồi nhìn bọt xà bông vỡ

Mỗi bọt tan theo một phiến trăng

Tiếng của đời ai đang nức nở

Giữa tiếng đêm thu mộng xế tàn.

.

Cố thức giặt cho xong quần áo

Ngậm ngùi vắt những ánh trăng trong

Trăng theo nước chảy về vô tận

Từng giọt trăng dư rụng xuống lòng.

.

Đêm nay phơi áo trên sân thượng

Phơi cả đời ta giữa quạnh hiu

Phơi cả hồn ta trong sương lạnh

Một trời trong vắt bóng trăng treo.

Read Full Post »

Nhớ mẹ

Phạm Viết Kha

Biển bao la sao bằng tình mẹ
Con ước mong Mẹ khỏe Mẹ ơi
Ngàn trùng quê mẹ xa xôi
Tháng ngày lam lũ đầy vơi lệ nhòa

Mái nhà tranh song thưa rét mướt
Thân guộc gầy vải mộc bao năm
Mắt nhòa sương muối tóc râm
Thân già gánh nặng luân trầm mà đau

Gánh khổ ải chuốc sầu mưa nắng
Ôm gian nan để tránh khổ con
Thời gian vóc hạc hao mòn
Tương lai kỳ vọng dốc lòng vọng trông

Con là điểm mơ mong mở ước
Đứng thẳng người để được tin yêu
Mẹ chừ bóng xế tuổi chiều
Con mong gần Mẹ thật nhiều..Mẹ ơi

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »