Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Mang Viên Long’

Ta ngồi lại soi xuống dòng suối rách
Vốc nước lên kỳ cọ mặt mày
Hồi ta ra đi hai bàn tay trắng
Giờ ta trở về trắng hai bàn tay
Giá như người xưa…gác gươm sườn đá
Tháo đôi giày cỏ thả trôi
Cởi áo vắt vai cười ha hả
Vời trông bốn hướng đất trời
Ta, một kẻ hèn – kẻ hèn đời mới
Hèn, không đáng mặt kẻ hèn
Đức bạc tài sơ, bảy chìm ba nổi
Sao còn vất vả đua chen ?
Dãy đồi bên kia là lau là cỏ
Có cây đa già tỏa mát trăm năm
Giá như người xưa … cùng bầy trẻ nhỏ
(Mặc áo Huyền Đoan đội mũ Chương Phủ)
Múa ca vui với trăng rằm
Ta còn gì chăng ? Trái tim nguội lạnh
Ta còn gì chăng ? Khối óc rỗng không
Tầm mắt yếu không đủ nhìn cuối dặm
Đâu bóng con trâu nhòa nhạt giữa đồng
Mặt sạm da mồi tóc râu ngã bạc
Ta trở về quê lỡ thợ lỡ thầy
Muốn theo Lão Tiều non Du hái củi
Sợ lưỡi rìu làm chảy máu thân cây

.

BÀI HÁT NGÀY VỀ CỦA TRẦN HUIỀN ÂN

CUỘC HÀNH TRÌNH THẦM LẶNG TRỞ VỀ CHƠN TÂM
            TÔI  có duyên được đọc thơ Trần Huiền Ân từ những sáng tác đầu tiên trên tạp chí Bách Khoa, tập thơ đầu tay THUYỀN GIẤY, cho đến những sáng tác đều đặn, những tập thơ vừa được xuất bản trong vài năm gần đây. Bên cạnh cái duyên thơ ấy, tôi cũng được có cái duyên quen biết, thân tình với anh (và cả gia đình) trong những năm tôi về dạy học tại Tuy Hòa, Phú Yên. Chính vì nhờ hai “trợ duyên” đặc biệt, thâm sâu ấy tôi rất hiểu anh và thơ anh… Bài thơ “Bài hát ngày về” đã thực sự làm cho tôi thấy được cái mới, cái chuyển hóa tâm thức trong anh đang nẩy mầm, đang có chiều hướng về tâm linh, về bản chất hồn nhiên – về cái sinh hoạt nhiệm màu mà theo tư tưởng Đạo Phật gọi là  “Phật Tánh”, và nhà Thiền gọi là  “Bản lai diện mục” của chính mỗi con người, mà  với cái tâm điên đảo, lăng xăng dính mắc… không thể hiểu và tìm thấy ra được.
          Nhà thơ đã bắt đầu có giây phút (hay chỉ vài “sát na” thôi) nhìn lại nội tâm, nhìn lại “cái đích thực là mình,  tuy rằng cái tâm (hay dòng sông dòng suối tâm linh) có vì bao đổi thay, bao gian truân của cõi đời vô thường bị gần khô cạn:
Ta  ngồi lại  soi  xuống dòng suối rách
Vốc nước lên kỳ cọ mặt mày.
          Đúng là anh đã có giây phút tuyệt vời mà không phải ai cũng có thể làm được. Có ai trong chúng ta có giây phút nhìn lại tận cội nguồn của chính tâm ta, để tự xét, tự hỏi một cách trung thực, nhi nhiên như thế chăng ? Kỳ cọ mặt mình cũng chính là kỳ cọ Tâm mình.
          Anh cũng đã nhận ra, sau khi cái Tâm đang dần trở lại trong sáng qua cái sát na “đốn ngộ” tự tâm: Rằng đời người là quá ngắn ngủi, trăm năm ở cõi ta bà cũng chỉ như “mộng, huyễn, bào, ảnh”, con người đến với cõi trần với hai tay trắng và lúc trở về với hư vô, cũng chỉ có từng ấy mà thôi ! Đó là  “Tánh KHÔNG”, cốt lõi của Phật giáo.
          Tôi cho giây phút chánh niệm ấy vô cùng quý báu bởi vì, tu sĩ quên cả đời học tập kinh sách, qua bao giới luật khổ hạnh, cũng chỉ mong “tự chứng” được như thế : Lòng từ bi chân chánh cũng bắt nguồn từ đó.
          Bắt nguồn từ cái “thức tỉnh” (hay nói theo Đạo Phật là giác ngộ ban đầu) nhà thơ đã ngược dòng thời gian (thời gian của tâm linh) để tự vấn lòng mình:
                             Giá như người xưa … gác gươm sườn đá
                             Tháo đôi giày cỏ thả trôi
                             Cởi áo vắt vai cười ha hả
                             Vời trông bốn hướng đất trời…
          Lại có chút lòng tự sám hối :giá như người xưa”. Nếu “người xưa” (một hình ảnh phân thân của tác giả ở quá khứ) sớm tỉnh giác, sớm hiểu ra cõi đời là “xuân sinh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàn”, là “vô thường và vô ngã”, tất cả pháp hữu vi đều giả tạm (Kinh Kim Cang Bát Nhã : “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”. Kinh Đại Thừa Kim Cang : “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh, như lộ diệc, như điệm”), thì đã sớm trở về với cội nguồn trong sáng, an tịnh của Tâm mình rồi. Đã “cởi áo vắt vai… vời trông bốn hướng…”.
          Nhưng thực tế thì không được như vậy. Hay nói theo triết lý nhà Phật thì nhà thơ đã bị “bức màn vô minh từ muôn ngàn kiếp” che phủ… Rồi phải tranh giành, bon chen, được mất, thành bại… Cuối cùng, khi chợt tỉnh “giấc mộng Nam Kha” ấy thì “Ta một kẻ hèn”. Ý chữ “kẻ hèn” ở đây phải được hiểu : Ta đã mù quáng vì vô minh, tham ái, sân si, nên không hiểu ra được cái Tâm thanh tịnh bản nhiên, hằng có, hằng sáng trong ta đã bao lâu, để không xứng đáng với “con người đích thực” như gã cùng tử con nhà giàu sang quyền quý đã “quên hạt châu vô giá trong thân” để đi lang thang sống đói khổ trong “Phẩm Thí Du” của “Kinh Pháp Hoa” vậy.
                             Ta, một kẻ hèn – kẻ hèn đời mới
                             Hèn, không đáng mặt kẻ hèn
                             Đức bạc tài sơ, bảy chìm ba nổi
                             Sao còn vất vả đua chen ?
          Tôi đã rất kinh ngạc và thích thú, khi được nghe lời tâm sự (cũng là lời tự thú, lời sám hối) quá đỗi khe khắt, nghiêm túc, tận cùng nỗi “tỉnh thức” của mình. Đúng như lời các vị Thiền sư đã từng nói : “Có giác mới có ngộ”. Không giác thì chẳng bao giờ ngộ được. Ấy là lẽ huyền nhiệm không thể lấy lời lẽ, ngôn từ mà bàn luận vậy ! Có thể gọi đó là “Trí tuệ vô lậu”.
          Sau giây phút “phản tỉnh” với tâm mình một cách rất trung thực, rất can đảm (vì không phải ai cũng dễ làm), nhà thơ đã lóe sáng niềm vui, niềm an lạc – có thể gọi là “Pháp hỉ” (nhờ hiểu theo Phật pháp mà có niềm vui, hạnh phúc).
                             Dãy đồi bên kia là lau là cỏ
                             Có cây đa già tỏa mát trăm năm.
          Kinh Phật có dạy : “Biển khổ mênh mông, quay đầu là bén”. Bên này là vô minh, bên kia là giác ngộ. Chỉ biết hướng về, quay lại – hay vượt qua “bên kia đồi” là sẽ có an vui, thanh tịnh, sẽ không còn quay lăn trong sinh tử luân hồi, không còn “hơn, thua, được, mất”, không còn có khổ đau, phiền não do tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến quấy nhiễu …
          Ở đây, qua đến giai đoạn tâm thức đã có chút lóe sáng, chút thanh tịnh hồn nhiên, mà nhà thơ vẫn hãy còn bị ray rứt, áy náy, hoang mang về “cái nghiệp” cũ của mình một cách hết sức đáng trân trọng :
                             Giá như người  xưa … cùng bầy trẻ nhỏ
                             (Mặc áo Huyền Đoan đội mũ Chương Phủ)
                             Múa ca vui với trăng rằm.
          Nếu như (lại nếu như) thuở xưa sớm tỉnh giác, sớm hiểu “tất cả các hành đều vô thường và khổ đau” (Kinh Pháp cú), mặc áo Thiền, đội mũ Lão Trang vui với thiên hiên, hoa lá, với “ánh trăng rằm” tròn đầy chưa từng thiếu mất của Phật Tánh, thì đâu có nỗi trầm luân, đâu còn sinh tử luân hồi nữa? Hình tượng “Trăng Rằm” trong từ ngữ Phật giáo Đức Phật thường chỉ cho “bản tâm, chơn như” của mỗi con người. Vui với cái “chơn như” hằng hữu trong sáng, tròn đầy ấy – thì có niềm vui nào lớn hơn đâu?
          Lại có sự soi xét, nhìn lại thấu đáo từ chính con người mình, chính sinh hoạt tâm linh đã từng dính mắc, nhiễm ô với danh lợi bấy lâu, để tuổi già gần kề, sự vô thường biến đổi đang tiến đến hủy diệt thân tâm, mới chợt biết :
                             Ta còn gì chăng ? Trái tim nguội lạnh
                             Ta còn gì chăng ? Khối óc rỗng không
                             Tầm mắt yếu không đủ nhìn cuối dặm
                             Đâu bóng con trâu nhòa nhạt giữa đồng?
          Cái “” và cái “không” ở đây phải hiểu là có phước đức, trí huệ, và không có phước đức, trí huệ, chứ chẳng phải là sự “có không” thường tình (được tính theo tiền bạc, tài sản, địa vị …). Đây là một cách “phản quan tự kỷ” nghiêm khắc thấu đạt tôn chỉ Thiền. Tự nhận mình là “đức mỏng tài hèn” hay “không có gì cả”, lời thơ tuy có hơi cường điệu (mà tính chất cuả thi ca là vậy) nhưng cho người đọc biết, nhà thơ đã có giây phút trực nhận của “trí huệ vô lậu”, đã theo cách nhìn của Đạo Phật, là nhà thơ đã “có” từ cái “không” rồi vậy!
          Hình ảnh “bóng con trâu” đã nói lên rõ nét sự quay lại, trở về, tìm kiếm chân tâm bị phủ lấp, lu mờ, nhưng buồn tiếc thay – nhà thơ đã phân vân chưa thấu rõ “đâu bóng con trâu nhòa nhạt giữa đồng”. Trong nhà Thiền, người tu Phật (hay chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo) đều phải biết mười bức tranh tu Thiền nổi tiếng “thập mục ngưu đồ”. Kẻ chăn trâu (là chính ta) đi tìm trâu, chăn giữ trâu, hàng phục trâu và đồng nhất với trâu (Tâm) là con đường đi đến giải thoát, an lạc, mà có lẽ tất cả chúng sanh đều ao ước. Tuổi đã về già, sức yếu, mắt mờ… nhà thơ đâu tìm thấy “bóng trâu” rõ ràng nữa để mà chăn giữ, hàng phục, hòa nhập với bản tâm thanh tịnh? Đây là một biểu tỏ thâm tình, chân thực nhìn nhận sự bất lực của chính mình, chứ không khoa trương, lộng ngôn, tự cho là mình đã chứng đạt.
          Đoạn cuối bài thơ làm sáng tỏ lên tâm từ, tâm bao dung, tâm hỉ xả – đây chính là cái còn lại quý báu của con người: “Sợ lưỡi rìu làm chảy máu thân cây”. Tuy nhà thơ không còn gì, có gì, nhưng quả thật anh đã có cái rất lớn, đó là tấm lòng yêu thương bao la đến muôn loài, ngay cả với cỏ cây :
                             Mặt sạm da mồi tóc râu đã bạc
                             Ta trở về quê lỡ thợ lỡ thầy
                             Muốn theo Lão Tiều non Du hái củi
                             Sợ lưỡi rìu làm chảy máu thân cây…
          Chúng ta đã hiểu nhà thơ muốn tâm sự điều này: “Đối với cỏ cây xưa nay được coi là vô tri vô giác, nhưng đã không nỡ “làm chảy máu” chúng – thì với cõi đời, với mọi người, làm sao anh không yêu thương, gắn bó, kiến tạo chúng cho tốt đẹp, để tất cả đều được hạnh phúc, an vui”. Quan yếu là ở cái Tâm từ bi chân chính ấy, chứ không phải ở những khoe trương, thủ đoạn, gian dối để mãi trôi nổi trong sinh tử khổ đau muôn ngàn kiếp.
          Tuy vẫn hiểu rằng từ thơ ca đến đời sống thực là một quãng đường dài, có nhiều đổi thay cách trở – nhưng qua cái phút giây tự vấn, tự soi lại tâm mình của nhà thơ cho ta một niềm tin yêu, rằng anh còn có những thời khắc can đảm, tỉnh giác như tếh trong cuộc đời để rèn luyện tâm mình theo dõi từng bước chân tìm về với chơn tâm, sống trong cuộc đời vô thường ngắn ngủi nhưng vẫn phải làm được đôi điều có ích cho số đông, cho quê nhà…
          Bài thơ thắm đượm sâu sắc tư tưởng Phật giáo, có chút âm hưởng của Lão Trang, là một sự hòa điệu rất vi tế, như cùng một dòng sông. Tóm lại, Bài ca ngày về của Trần Huiền Ân đã cho ta có được giây phút quý báu, để có thể tự nhìn lại đời mình, cõi tâm luôn luôn giao động của mình, để sống cho hữu ích một kiếp người vậy.
                                                         Huệ Thành –MANG VIÊN LONG                                                                                 Quê nhà

Read Full Post »

Chúng tôi tình cờ đọc được ở trang website newvietart.com – có bài viết của
nhà văn Mang Viên Long về bài thơ ” Còn Gặp Nhau ” một thời chúng tôi rất yêu thích.
Xin phép được trích nguồn từ newvietart.com để chia sẻ cùng thân hữu xunau.org…


 

 CÒN GẶP NHAU

 Tôn Nữ Hỷ Khương

Còn gặp nhau thì hãy cứ vui
Chuyện đời như nước chảy hoa trôi
Lợi danh như bóng mây chìm nổi
Chỉ có tình thương để lại đời

Còn gặp nhau thì hãy cứ thương
Tình người muôn thuở vẫn còn vương
Chắt chiu một chút tình thương ấy
Gửi khắp muôn phương, vạn nẽo đường

Còn gặp nhau thì hãy cứ chơi
Bao nhiêu thú vị ở trên đời
Vui chơi trong ý tình cao nhã
Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời

Còn gặp nhau thì hãy cứ cười
Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi
Cho hương thêm ngát, đời thêm vị
Cho đẹp lòng tất cả mọi người

Còn gặp nhau thì hãy cứ chào
Giữa miền đất rộng với trời cao
Vui câu nhân nghĩa tròn sau trước
Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau

Còn gặp nhau thì hãy cứ say
Say tình, say nghĩa bấy lâu nay
Say thơ, say nhạc , say bè bạn
Quên cả không gian lẫn tháng ngày

Còn gặp nhau thì hãy cứ đi
Đi tìm chân lý, lẽ huyền vi
An nhiên tự tại lòng thanh thản
Đời sống tâm linh thật diệu kì.

TNHK

        

Bài Thơ “ CÒN GẶP NHAU”  Của TÔN NỮ HỶ KHƯƠNG-

MỘT TRIẾT LÝ SỐNG GẦN GŨI, AN LẠC & THẮM ĐƯỢM ĐẠO VỊ. ..

 

Bài Viết : M a n g  V I ê n  L o n g

 

           Bài thơ “ Còn Gặp Nhau” ( trong tập thơ “ Hãy Cho Nhau” nhà XB Trẻ-XB lần đầu/ năm 2004)) được Nhà Thơ Tôn Nữ Hỷ Khương viết vào năm 1993-khi nữ sĩ bước vào tuổi 56. Hơn 17 năm qua, bài thơ đã được rất nhiều người biết đến như một bài thơ hay nhất của chị-vì đã chuyễn tải đến cho người đọc một triết lý sống rất gần gũi, an lạc và thắm đượm Đạo vị!

          Ngay tựa đề bài thơ-“ Còn Gặp Nhau” ,đã gợi lên một hiện thực đời sống rất đơn giàn, mà cũng rất đau xót :  Chúng ta còn sống được đến hôm nay-bây giờ, đã là một diễm phúc, vô cùng quý báu, so với bao người đã vắng mặt- đã ra đi…Nhà thơ Kahlil Gribran ( Liban)  cũng có niềm  đồng cảm  như vậy khi tha thiết thốt lên “ Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy/ Cho tôi thêm ngày nữa để Yêu Thương”.

         “Còn gặp nhau thì hãy cứ vui

          Chuyện đời như nước chảy hoa trôi

         Lợi danh như bóng  mây chìm nỗi

         Chỉ có tình thương để lại đời …”

 

          Mở đầu bài thơ nữ sĩ đã khẳng quyết  một điều tưởng  bình thường- nhưng thật  vô cùng  quan yếu cho nhận thức về cuộc sống :“ Chuyện đời như nứớc chảy hoa trôi”“ Chỉ có tình thương để lại đời”-đây là một nhận thức dựa trên kinh nghiệm trực tiếp từ đời sống chứ không phải là một điều gì mơ hồ. Chính tính xác thực của sự cảm nhận căn bản này, đã khởi đầu cho “ Còn Gặp Nhau” như một dòng chày tự nhiên, hồn nhiên – miên man trong lòng người đọc.  Chân lý mà Đức Phật đã khuyến dạy từ hơn 2500 năm trong “ tứ thánh đế” ( Khổ/ Không/ Vô Thường/ Vô Ngã)-đã là nguồn cảm xúc thẳm sâu như máu thit trong  tâm hồn người thơ và chợt  thốt lên  lời  nhắn gởi rất êm nhẹ, rất đơn giản: “Còn gặp nhau thì hãy cứ vui…”. Bởi vì “ Lợi danh như bóng mây chìm nỗi” – có gì mà phải khổ tâm nhọc  sức mà cố bám víu vào cái “ bóng mây chìm nổi” có/ không ấy?

          Để cho cuộc sống được an vui/ hạnh phúc đích thực thì chúng ta nên làm gì ?

         “Còn gặp nhau thì hãy cứ thương

           Tình người muôn thuở vẫn còn vương

           Chắt chiu một chút tình thương ấy

           Gửi khắp muôn phương, vạn nẽo đường…”

          Cuộc sống vốn dĩ chất chứa nhiều phiền não, khổ đau-phần lớn chính vì sự thù ghét, sân giận luôn có mặt trong đời. Cuộc đời ngắn ngủi, tạm bợ là thế-“ thân như điện ảnh hữu hoàn vô” ( Thiền sư Vạn hạnh) là thế-“ còn gặp nhau thì hãy cứ thương”-là một liều thuốc nhiệm mầu , là một triết lý sống thực tiễn đem lại niềm an lạc cho chính mình ( và cho người)-bời vì” Tình người muôn thuở vẫn còn vương”-Tình Người không bao giờ mất, còn mãi bên đời ( trong lúc mọi thứ- vạn hữu luôn quay theo cái vòng vô thường bất biến : Sinh/ Trưởng/ Hoại/ Diệt). Đây là một cảm nhận “ rất người”, rất chân thật-như một lời tâm sự tha thiết:

          “ Chắt chiu một chút tình thương ấy

             Gửi khắp muôn phương, vạn nẻo đường”

           Không cần nhiều-chỉ “ một chút “ thôi/ mà phải chắt chiu, phải gom góp, phải cẩn trọng, phải chân thành-thì cũng có thể  “ Gửi khắp muôn phuơng, vạn ngã dường”-để sẻ chia -xoa diu,  an ủi cho cuộc đời  lắm hệ lụy đau buồn này . Một chút thôi-một giọt nước nhiễu lâu ngày cũng đầy bình-“ Một chút tình thương ấy” là cả một tấm lòng thành của Người đến với Người.  “ Một chút” ấy thôi-mà đã có mấy ai còn nhớ ?

           “ Còn gặp nhau thì hãy cứ chơi

              Bao nhiêu thú vị ở trên đời

              Vui chơi trong ý tình cao nhã

              Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời “

             Cuộc sum vầy trong niềm vui, tiếng cười-trong tình thương yêu  gần gũi chân thành – đúng là một cuộc hội ngộ hạnh phúc của đời người. “ Hãy cứ chơi”-là một thái độ thong dong, tự  tại-biết tận hưởng cái phút giây hiện taị mầu nhiệm của đời sống. Vội vàng, bon chen-giành giựt  thì chỉ đắm chìm trong âu lo, đau khổ mà thôi!  Bởi vì “ Bao nhiêu thú vị ở trên đời/ Vui chơi trong ý tình cao nhã”  đang mở ra, chờ đón những tâm hồn biết sống/ biết đặt tình thương yêu lên trên mọi thứ ở đời. Ai đã làm đuợc điều ấy-thì hiển nhiên “ Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời”-hay là cõi an lạc vĩnh hằng ( nhà Phật gọi là Niết Bàn/ Cực Lạc) đang có mặt ở cõi trần gian này vậy.

               “ Còn gặp nhau thì hãy cứ cười

                  Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi

                  Cho hương thêm ngát, đời thêm vị

                  Cho đẹp lòng tất cả mọi người “

            Nụ cười là một biểu lộ tình cảm giữa người với ngừơi –là sợi dây thân ái nối kết  những tấm lòng –nhưng trong thực tế đời sống, lắm khi rất hiếm bắt gặp nụ cười! Vì đâu? Vì tâm đang  mãi đảo diên dong ruỗi theo dục vọng, tham sân-vì lòng chưa mở và tình chưa chớm! Vi vậy-ở đây-Nhà thơ đã thúc giục, đã  thống thiết kêu goi: “Còn gặp nhau thì hãy cứ cười” . Hãy cười lên đi! Cười thoải mái. Vì chúng ta có  diễm phúc đang  còn sống,  còn có mặt bên nhau, bên cuộc đời này-“ còn gặp nhau”! Bời vì nụ cười sẽ làm “ Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi/ Cho hương thêm ngát, đời thêm vị/ Cho đẹp lòng tất cả mọi người” !  Nụ cười cần thiết cho ta/ cho người và cho đời là vậy-thì sao  dại gì không “ cười” ?- lại  ưu sầu, đắn đo?

               “ Còn gặp nhau thì hãy cứ chào

                  Giũa miền đất rộng với trời cao

                  Vui câu nhân nghĩa tròn sau trước

                  Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau…”

           Người xưa đã có nói “ Tiếng chào cao hơn mâm cỗ”– nhưng mâm cỗ thì tốn tiền. còn tiếng chào đâu có mất mát gì? Vậy mà, lắm khi-chúng ta gặp nhau-lại tỏ ra rất  “hà tiện “ tiếng chào? , Vì e ngại điều gì? Hay vì phân biệt, sân giận, tỵ hiềm? Nhà thơ đã gạt bỏ ra tất cả những hệ lụy oan khiên của đời sống-với tâm rộng mở, trải lòng với đời- nhà thơ đã cổ vũ mọi người: “ Còn gặp nhau thì hãy cứ chào”. Hãy cứ chào nhau thân tình, chào nhau thương yêu-thì tất cả  mọi sự sẽ êm đẹp thôi! Giữa đất trời lồng lộng kia cũng sẽ đồng cảm, chia sẻ với người “ Vui câu nhân nghĩa tròn sau trước/ Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau”.  Cùng chào nhau/ cùng tặng nhau “ chân tình “ ( tình người chân thật) son sắc, thủy chung -thì cuộc sống sẽ tươi đẹp biết bao!

                   “ Còn gặp nhau thì hãy cứ say

                      Say tình, say nghĩa bấy lâu nay

                      Say thơ, say nhạc-say bè bạn

                      Quên cả không gian lẫn tháng ngày..”

               Lập lại đến 6 lần “ say” trong một khổ thơ-nữ sĩ mong muốn mọi người-trong giây phút hiện tại đây/ còn gặp nhau- đã là một niềm vui lớn-thì “ hãy cứ say”/ cứ vui-cứ thương- cứ chơi-cứ cười và cứ say/ đừng bận tâm đến sự ràng buột của toan tính, so đo, thù hận (…) nữa !

                   “ Say tình, say nghĩa bấy lâu nay

                      Say thơ, say nhạc-say bè bạn..”

                Trong đời ngừơi, đã có lúc nào chúng ta đã được  một lần thôi “ say tình, say nghĩa “ chưa?  Thật là diễm phúc ( và đáng trân trọng thay) cho những ai đã có được cái “ say” cao quý ấy! Đây là một cái “ say” nồng nàn nhất, ấm cúng nhất-và cũng khó quên nhất của đời người. “ Say thơ, say nhạc” thì có lẽ cũng thường có, nhưng “ say bè bạn” thì thật cũng rất hiếm! Bè bạn mà làm ta phải say ư? Có đó. Say nghĩa là “ quên” mọi thứ quanh đời để trải lòng với tri âm sau bao năm tháng cách xa-nay “ còn gặp nhau” -bên đời nhau như ngày nào, thì hỏi không “ say” sao được? Ôi! Những cái “ say” đầy ắp  tình người  trong sáng thiêng liêng như vậy thì sao ta lại bỏ quên?  Không gian và tháng ngày đâu còn ý nghĩa gì cho cuộc sống ta trong giây phút tuyệt vời hạnh phúc ấy? . “ Quên cả không gian lẫn tháng ngày” buồn bã, khổ đau để cùng nhau tận hường cái thời khắc “ còn gặp nhau” của sát na hiện tại nhiệm mầu này!

                     “  Còn gặp nhau thì hãy cứ đi

                         Đi tìm chân lý, lẽ huyền vi

                         An nhiên tự tại lòng thanh thản

                         Đời sống tâm linh thật diệu kì! “

                 “ Còn Gặp Nhau”-là vẫn còn hiện diện trên cõi tạm này-thời gian tồn tại của đời người không dài ( Đức Phật nói là chỉ dài trong một hơi thở/ thở ra mà không thở vào-là coi như  trở lại “ không”)-nên nhà thơ đã bày tỏ thêm  niềm ước mong cuối cùng của mình với người là “ Còn gặp nhau thì hãy cứ đi!”/ hãy cứ tinh tấn, dũng mãnh bước lên phía trước để “ Đi tìm chân lý lẽ huyền vi”. Chân lý lẽ huyền vi ở đây-chính là triết lý sống cao cả, mầu nhiệm  để giải thoát khỏi cuộc trầm luân, khổ đau, phièn não của kiếp nhân sinh- hướng đến chân trời mới  an lạc vĩnh hằng. Chân lý ấy sẽ đem lại cho tất cả  được “ An nhiên tự tại lòng thanh thản”-điều mà trong thâm tâm của chúng ta đều hoài vọng, ước mơ! Và khi đã đạt được niềm an vui tự tại, cảm nhận được niềm hỷ lạc nhiệm mầu của “ chân lý lẽ huyền vi”- có thể “ thõng tay vào chợ” thì ngay lúc ấy-chúng ta mới  hiểu được rằng “ Đời sống tâm linh thật diệu kì” – thật vi diệu, bất khả tư nghì-mà từ bấy lâu chúng ta  đã lãng quên, bỏ bê, xem thường “ đời sống tâm linh” – để  điên đảo chạy theo những cám dỗ vật chất tạm thời luôn luôn dính chặt với nỗi khổ đau và phiền não…Đây cũng là lời  “ cảnh báo” thống thiết trứoc một thực tại thực dụng của đời sống văn minh vật chất đã dần làm khô cằn, xói mòn-tiêu mất cái phần đời rất quan yếu ấy trong tâm mỗi con người…Đây cũng là một thãm họa  chung của nhân loại đang đứng trước bờ vực thẳm vì sư vắng mặt của một “ đời sống tâm linh diệu kì”!

              Tôi đã đọc bài thơ “ Còn Gặp Nhau” của  Tôn Nữ Hỷ Khương nhiều lần ngay  từ  khi chị mới công bố ( khoảng giữa năm 1993)  đến thuộc lòng ( khi ấy bài thơ chỉ có 6 khổ đầu ). Được nghe nhạc sĩ Võ Tá Hân phổ thành ca khúc. Sau này, tôi cũng vô cùng ngạc nhiên khi có dịp dự nhiều cuộc gặp gỡ vui  chơi của bạn bè-nhiều thế hệ, nhiều thành phần xã hội-lại được nghe nhiều người đọc  thuộc nó .  Tôi nghĩ,  chính vì  tình cảm quá chân thành, quá gần gũi thực tế của bài thơ nên nó đã được mọi giới yêu thích-từ cô bé học sinh, cậu sinh viên, đến người  có học vị, quan chức- hay người đi xe thồ, sữa xe gắn máy,cô thợ may-cũng đều cảm thấy  là tiếng lòng và niềm ao ước của chính mình? Tính phổ quát của bài thơ  vì thế là rất lớn. Sức chuyễn tải  của bài thơ cũng  thật mạnh. Theo tôi-một bài thơ đạt được hai yêu cầu ấy- là một bài thơ “để đời “- “ Còn Gặp Nhau” là  một bài thơ rất hay của nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương vậy!

            Điệp khúc “ Còn gặp nhau/ còn gặp nhau…”-được lập lại đến 7 lần trong bài thơ như âm vang bất tận- lời thì thầm khôn nguôi, lời nhắn gửi ân cần, và  là ứơc mơ của những tâm hồn rộng mở dào dạt yêu thương…

 

Quê nhà, tháng 8/2010

     

     

Read Full Post »


 


MANG VIÊN LONG

Tôi mượn ý thơ của thi sĩ Tản Đà để làm cái tựa cho bài tiểu luận nầy, đồng thời, cũng nhìn từ đó, để đề cập, dẫn chứng cho cái quan niệm riêng tư của mình, về tính chất đa tình, lãng mạn, hay gì gì đó của người con gái Phú Yên, đã được xác nhận (bằng thơ Tản Đà, ca dao, phong dao, hay thơ của Quách Tấn, Lam Giang, Huy Lực) nhưng hoặc chỉ là cái ca ngợi, cái nồng nhiệt riêng tư ; hoặc được ngắm nhìn, và phát biểu với sự lừa dối (vô tình, hay hữu ý) khiến cái khía cạnh rực rỡ nhất, chói sáng nhất trở nên lu mờ, hoen ố.

Cho tới nay tôi cũng chưa tìm thấy một tài liệu chính xác nào cho biết thi sĩ Tản Đà đã ghé lại Phú Yên vào năm tháng nào trong mấy chuyến xuôi ngược Bắc Nam của ông từ năm 1926 (sau khi làm được 10 số báo An Nam tạp chí, số đầu tiên ra ngày 1/7/1926) ở lại Phú Yên bao lâu, để được hưởng mùi vị của cước cá và sò hào ” lấy chi vui với thu tàn, Phú câu cước cá, Ô Loan miếng hào”. Theo tôi, ngoài cái tiếng về rượu, và ăn nhậu, Tản Đà còn có một đặc tính tuyệt vời khác: Đó là cái con mắt đa tình của ông. Con mắt có đa tình, mới nhìn thấy đôi mắt khác đa tình. Đôi mắt có lãng mạn, thơ mộng, mới nhìn thấy đôi mắt khác lãng mạn, mơ mộng. Bởi vậy, tôi đã bỏ ra trên bốn năm, chỉ tìm hiểu coi Tản Đà đã ở lại Phú Yên bao lâu, ghé lại vào dịp nào, để mới có thể hiểu được đôi mắt Tản Đà đa tình tới bực nào, đồng thời, cũng giúp cho bài nghiên cứu được dễ dàng trong việc dẫn chứng ví dụ, hay có một khoảng không gian giới hạn nào đó (trong cái bao la, biền biệt của ca dao) mà tra cứu.

Phạm Văn Diêu (trong Việt Nam Văn Học giảng bình Hoàng Sơn in lần thứ 3, Saigon 1970) cho biết “…Trên đường viễn du, ông (Tản Đà) ghé Hà Tĩnh thăm núi Sót,  xuống Huế đến Thuận An, ngậm ngùi trước cảnh Trấn Hải Đài tàn phế, tìm gặp Phan Bội Châu ngày 20/04/1927, rồi đi Đà Nẵng qua chơi Ngũ Hành Sơn, Đồng Dương, rồi thẳng vào Quy Nhơn, Nha Trang và Saigon“. Một đoạn khác, trong cùng tác phẩm nói trên, ông Phạm Văn Diêu kể: “…Ngày 14 tháng 2 năm 1928 Tản Đà lại xin thôi (Đông Pháp Thời Báo) về Bắc, và ra đi hai hôm sau đó, trong túi chỉ còn 7 đồng giống như lúc vào Nam. Trên đường về, Tản Đà có ghé Bình Định vài ngày thăm mả Nguyễn Huệ”.

Trong báo Tao Đàn số 9 và 10 ngày 16 Juillet 1939, nhà văn Lan Khai đã thuật lại kỷ niệm với Tản Đà, cũng phát họa dáng điệu tâm tính của Tản Đà, ông đã có nhắc tới một chuyến vào Trung của thi sĩ: ” Năm 1930, giữa lúc xứ Trung kỳ đương nín thở dưới cơn giông khủng bố, thi sĩ (Tản Đà) tự nhiên một mình vào tận quê hương vị anh hùng Nguyễn Huệ…”

Gần đây báo Văn số 175 ra ngày 1/4/1971, Ông Quách Tấn có viết một bài hồi ký, có tựa ” kỷ niệm với Tản Đà“, cũng đề cập tới chuyến Nam du của Tản Đà, nhưng lại mập mờ: “Nhân cuộc Nam du (tôi không nhớ rõ năm nào, chừng vào năm 1924-1925, đi ngang qua Bình Định, Tản Đà tiên sinh ghé lại đình (ghi chú của người viết: “Đình thờ ba vua ây Sơn ờ làng Kiên Mỹ, quận Bình Khê, tỉnh Bình Định)”.

Như vậy, dầu có nhiều tài liệu khác khau nói tới các chuyến vào Trung, và Nam của Tản Đà, nhưng không có nói tới việc Tản Đà ghé Phú Yên vào tháng năm nào, trong bao lâu. Tôi có thể ước đoán, ông ta tới Phú Yên, vào Thu, chớm Đông, thời gian nhiều nhất là 1 tháng. Trong 30 ngày, ở một chỗ, Tản Đà  (hay bất cứ ai nếu có sẵn tiền) cũng có thể tìm thấy các món ăn đặc biệt ở nơi đó; nhưng chỉ một câu thơ Tản Đà nói tới con gái Phú Yên, làm tôi bàng hoàng, kính nể. không phải dễ nhìn thấy cái đặc tính độc đáo của người con gái một miền nào, cho dầu thời gian có kéo dài tới đôi ba năm. Tôi đã sống ở Phú Yên trên tám năm, đã nghĩ tới câu thơ Tản Đà trên mười năm (lúc chưa tới nơi đây), hôm nay mới có thể đặt bút viết bài lý luận nho nhỏ này.

Như đã nói ở trên, đôi mắt có đa tình, lãng mạng mới nhìn thấy đôi mắt khác đa tình, lãng mạn giờ có thể nói thêm, tâm hồn có phóng khoáng, như nhiên, mới biết được tâm hồn khác phóng khoáng như nhiên. Tôi viết những giòng này, sau khi đã dọn mình sẵn sàng để lòng được thành, và trí được sàng. Bởi vậy, tôi đã nhìn thấy cái dấu giếm, cái ác ý trong hai câu ca dao sau:

Chớ lấy vợ Gò Cà

Chớ mua gà Mỹ Phú

Bởi vì, tôi đã nhìn thấy cái buồn cười, giả nhân giả nghĩa, của người đời –  qua hai câu sau:

Nhất gái La Hai

Nhì trai Đồng Nghệ

Bởi vì, tôi đã nhìn thấy cái lố bịch, cái hài hước của hai câu sau đây nữa:

Trai Ngã Thạch

Cái Bàu Hương

Tôi đã sống rất khắc khe với chính tôi, và rất bao dung tha thiết với Phú Yên, trong 6 câu ca dao mà tôi vừa trích nêu, trong tám năm trời. những chữ “Vợ Gò Cà” ” Gái La Hai” và “Gái Bàu Hương“, đã ám ảnh, ray rức tôi không ngớt, từ ngày tôi đặt chân vào Phú Yên. Trong một vài bài viết ngắn, nói tới Phú Yên, gởi cho mấy tờ báo ở Saigon (hay tại Tuy Hòa) tôi dầu tỏ lộ vẻ bồn chồn, khổ sở vì cái ám ảnh của các chữ đó. Tôi còn nhớ ba bài viết có đề cập thẳng tới tính chất ” Vợ Gò cà”, “Gái La Hai”,  “Gái Bầu Hương” nên tuần báo Khởi Hành, nhật báo Tự Do, và trang Văn Học Nghệ Thuật Tiền Tuyến. Ngoài ra, trong tất cả các nhân vật nữ (dầu là bà già) của các truyện tôi viết tại Phú Yên, không khí và khung cảnh Phú Yên, tôi đều bộc bạch tâm sự, và cảm nghĩ sâu kín nhất của tôi, đối với các chữ đó: ” Vợ Gò cà, Gái La Hai, Gái Bầu Hương“.

Ở đây, nơi bài này, tôi sẽ nói dứt khoát và thẳng thắn, nói thành thực, và sau cùng, về vấn đề chung ” Đa tình con Mắt Phú Yên“- hay riêng về các người  nữ ở Gò cà, La Hai và Bầu Hương. Tất cả mọi người đều hỏi: “Gò cà, vợ Gò cà là vợ ở đâu? Tại sao là Gò Cà?”. Xin đáp: Xã An Hiệp, quận Tuy An có 7 thôn (Mỹ Huận, Mỹ Thạnh, Tuy Dương, Hội Đức, Phước Hậu, Mỹ Phú, Phong Phú), diện tích 3.460 ha, Gò Cà thuộc thôn Tuy Dương.

Người ta cũng đã nói: ” Nhất Gái La Hai, gái La Hai là gái ở đâu, tai sao nhất, nhất cái gì?”. Xin đáp La Hai thuộc xã Xuân Long, quận Đồng Xuân. Từ Chí Thạnh, theo liên tỉnh lộ số 6, ( tỉnh lộ dài 36 km dẫn tới Mục Thịnh ranh giới tỉnh Bình Định), qua Phong Viên, tới La Hai. Xã Xuân Long có 2 thôn là Phước Long và Hà Trung, diện tích 2.270 ha. La Hai là tên chợ quận lỵ.

Sau chót, người ta đã sốt sắng và niềm nở hỏi: ” Gái Bàu Hương ở đâu?” Xin đáp: Bầu Hương thuộc xã Hòa Phong, quận Hiến Xương. Xã Hòa Phong có 10 thôn (Phước Thành, Mỹ Thạnh Đông, Mỹ Thạnh Tây, Mỹ Thạnh Trung, Tân Mỹ, Lương Phước, Thạch Bàn, Liên Thạch, Nam Bình và Lạc Mỹ); Bầu Hương nằm ở thôn Mỹ Thạnh Trung (và 1 phần  Hòa Mỹ) dưới chân núi Hương (cao 132 m), gần chùa Hương Tích.

Theo nguyên nghĩa: ” Chớ lấy vợ Gò Cà“, bởi vì ở vùng này con gái có thể giết chết chồng (bằng cách này hay cách khác) để theo người đan ông khác. Hoặc có thể bỏ chồng con, gia đình, theo người đàn ông khác. Nói tóm, ” Vợ Gò cà” không ” thủy chung“, nguy hiểm, giống như…gà ở Phú Mỹ (cũng thuộc xã An Hiệp). Xã An Hiệp, được chê về… con gái và gà!

Con gái La Hai cũng được chê trách về phẩm hạnh: Lẳng lơ, lãng mạn, theo trai. Con gái La Hai cũng được coi là dễ sợ, nguy hiểm, không chuyên chính đứng đắn giống như các chàng trai xứ Đồng Nghệ (cùng quận Đồng Xuân, xã Xuân Sơn).

Ở Phú Yên, người ta khen “Gái Bàu Hương“, đã xinh đẹp thơ mộng như thằng tích ở đó, mà phẩm hạnh cũng vẹn toàn.

Vậy Tản Đà (hay gần đây Huy Lực, Trần Huiền Ân, Phạm Cao Hoàng, Hoàng Đình Huy Quan, Khánh Linh, Đỗ Chu Thăng, v.v…) đã nhìn thấy “Con mắt đa tình” Phú Yên, ở vùng nào? Không có tài liệu nào cho biết Tản Đà đã lên chơi núi Hương, viếng chủa Hương Tích, ngâm vịnh ở Bàu Hương, trong lúc phát  biểu về “Con mắt đa tình Phú Yên“. Như thế, tôi có thể kết luận, Tản Đà (và các thi sĩ khác) đã nhìn thấy “đôi mắt ấy” bàng bạc khắp nơi, ở đây. Theo kinh nghiệm (đã có trên tám năm), cộng với việc suy nghĩ, nghiên cứu, tôi cũng đồng ý như vậy: con mắt Phú Yên rất đa tình. Rất thơ mộng và như nhiên.

Trở lại vấn đề cũ: Tại sao lại vợ Gò Cà? Tại sao gái La Hai là nhất?

Chúng ta phải sống trở lại với các vùng này về hoàn cảnh địa lý, thiên nhiên, đời sống của họ. Nhất là cái xã hội của các câu ca dao, phong dao trên kia ra đời. Sau đó, truy tầm tác giả và nguyên do.

Sống trở lại đời sống của xã hội An Hiệp, tôi dễ dàng nhìn thấy các chi tiết sau đây: Ở An Hiệp sản xuất rất nhiều mật ong và đường. Ở La Hai, hai sản phẩm kể rên lại nhiều hơn nữa:

Nếp màng màng

Đàng Tân Lập”

Hoặc :

“Tiếng đồn chợ xổm nhiều khoai

Đất đỏ nhiều bắp, La Hai nhiều đường”

“Hôm nay ăn mía Triệu Tường

Đợi mắm Nam Ổ, đợi đường Phú Yên”.

Ở An Hiệp (Tuy An) và La Hai (Đồng Xuân) cũng nổi tiếng về trái cây (tôi không chú ý tới : Bông vải, đậu nành, đậu phụng, thuốc):

“Cam Đa Lộc

Thuốc Lỗ Dưng”

Tuy An có ba danh nhân đáng lưu ý: Liễu Quán Hòa Thượng (xã An Thạch), nhà ái quốc Lê Thành Phương (xã An Hiệp), và Đại đức Thích Quãng Hương (xã An Ninh). Đồng Xuân có : Nhà ái quốc anh hùng Nguyễn Hào Sự (xã Xuân Phước), Võ Trứ (di cư ở La Hai). Đô Đốc Chương, Phủ Sự Đào Trí, Thống Chế Nguyễn Nhàn. Riêng Đồng Xuân cũng đã nổi tiếng về các bậc hiếu tử đã được ghi vào sử sách.

Khi tìm hiểu các đặc biệt của An Hiệp (Tuy An) và La Hai (Đồng Xuân), tôi nhận thấy có hai điểm giống nhau: Hai vùng này đều phong phú về đường, mía, mật ong và trái cây. Sự trùng hợp này khiến ta nghĩ tới sự trùng hợp ở trên: Con gái bị mang tiếng xấu, lãng mạn, lẳng lơ.

Điều đáng lưu ý thêm nữa, ở Bàu Hương (Hòa Phong), sản phẩm phong phú, đặc biệt cũng là: đường , mía và mật ong. Nhưng tại sao là “Gái Bàu Hương” mà không là :

Nhất gái La Hai

Nhì gái Bàu Hương?

Xin đáp : Núi Hương thơ mộng; chùa Hương Tích hấp dẫn du khích, đạo hữu; sau cùng là cái bàu tên Hương với huyền thoại có con rùa khổng lồ nổi lên làm bàn thạch cho chư Tiên hiện xuống uống rượu, đánh cờ, ngâm thơ, vân vân. Đã có sẵn khung cảnh hữu tình, lại được “che chở” bởi cái lý do mầu nhiệm Thần Thánh; Bàu Hương luôn luôn phải được ca ngợi, dầu là con gái, hay bà già. Ở Bàu Hương, chùa Hương Tích có rất nhiều thi nhân, hay khách tài hoa, giàu sang, đến viếng, đề thơ và khen ngợi.

Còn Tuy An và Đồng Xuân (hay nói riêng Gò Gà và La Hai) có chi? Xin đáp: Chỉ có đường mía, mật ong và trái cây. Khi người ta cần những thứ đó, người ta chỉ tới chợ (hay nhờ người đi) mua rồi về. Gò Cà và La Hai không có thiên nhiên, và nhất là Thánh Thần che chở ! Trong lúc đó, ở Bàu Hương, với thiên nhiên và đời sống đặc biệt của nó, con gái có nhiều tính chất lãng mạn, lẳng lơ hơn.

Các dữ kiện vừa nêu trên, ai cũng dễ dàng trông thấy cả. Tuy nhiên, truy tầm tác giả của 3 câu ca dao đã trích không phải dễ. Ca dao là gì? Là bài hát ngắn, được đọc từ miệng người này tới miệng người khác, tồn tại là do truyền khẩu. Ca đao có nhiều tính chất, khía cạnh. Và, tác giả của ca dao được ghi là “vô danh“. Vậy, ở đây, tôi chỉ tạm ấn định cho tác giả của 3 câu ca dao trên chung một hạng “Lớp nho sĩ phong kiến“. Thời gian xuất hiện cũng vì thế mà ấn định được: Xa chúng ta (1974) ít nhất cũng trên 150 năm (ông Lương Văn Chánh được Nguyễn Hoàng cử vào đánh Thành Hồ, đuổi quân Chiêm Thành, lấy lại đất Phú Yên đã được vua Lê Thánh Tông chinh phục năm 1470. Khoảng năm Mậu Dần = 1578).

Như thế, chúng ta có thêm hai yếu tố mới để truy tìm nguyên do nói tới “Vợ Gò Cà, gái La Hai, gái Bàu Hương“: 1). Tác giả là lớp nho sĩ phong kiến (đổ đạt hay không), hoặc giả, ở lớp người đã chịu ảnh hưởng sâu đậm, bị ràng buộc khe khắt vào cái quan niệm lễ nghĩa, đạo đức Nho giáo một cách hẹp hòi, sai lệch. 2). Thời gian thực xa xưa, mờ mịt, như cái giai đoạn đạo Nho đang cực thịnh trong dân chúng. Cực thịnh đến nỗi khe khắc, giả tạo, và không nhìn thấy chính mình, hoặc xa hơn một chút.

Nhận chân được vài điểm đại cương như trên, chúng ta có thể kết luận, rất vắn tắt: Những ý tưởng, nhận xét qua 3 câu ca dao đó, đã được đưa ra từ một tư tưởng, một đôi mắt (hay nhiều đôi mắt, thời đó), không phải thực là của chính mình (không dám là mình): Nó bị dòm ngó, lệ thuộc, ảnh hưởng bởi một nền luân lý đạo đức cố chấp, hẹp hòi, sai lệch. Ý tưởng đã bắt nguồn từ một sự thiếu sót, sai lệch, cổ hủ như thế, thì cái giá trị của nó cần phải đặt ngược trở lại. Đó là chuyện dĩ nhiên. Cái thời, cách nay hai ba trăm năm, và các thời chúng ta đang sống, có vô số thay đổi, tiến bộ, phong phú (nhìn về phía những ưu điểm). Đôi mắt chúng ta nhìn, tâm hồn chúng ta xúc động, ý tưởng chúng ta phát biểu, hẳn nhiên là khác xưa. Không ai ngờ nghệch, thiển cận nhìn “vợ Gò Cà, con gái La Hai, con gái Bàu Hươong” với cái tâm địa kín mít và đôi mắt lù mù kia nữa.

Tiếp theo, tôi muốn định  nghĩa và xác định giá trị trở  lại các tính chất của những chữ “lãng mạn, đa tình chung thủy, lẳng lơ, trắc nết“. Định nghĩa và xác định, là tôi muốn so sánh cái quan niệm cũ (thời có các câu ca dao kia xuất hiện), với sự đổi thay, tiến bộ đang đi tới. Theo cũ, những chữ trên đều gán cho cái nghĩa xấu, tồi tệ, ngay cả chữ vô tội nhất là “lãng mạn” và “đa tình“. Các chữ “chung thủy, lẳng lơ, trắc nết” cũng bị bóp méo, thu nhỏ sao cho vừa với cái đôi mắt, cái tâm hồn nhỏ xíu kia. Sự “chung thủy” lúc xưa, khác với sự “chung thủy” bây giờ. Cái chuyện “lẳng lơ” lúc các cụ học “Nam nữ  thọ thọ bất thân” cũng khác với quan niệm “lẳng lơ” chúng ta đang sống. Hồi đó , hôn nhân là một sự sắp đặt, hay tệ hơn là đổi chác, mua bán của các bậc sinh thành (ông bà, cha mẹ ,v.v.). Chữ “Tình yêu” không có. Phủ nhận “Tình yêu” là giết chết tâm hồn, sự rung động của con người. Đời sống luôn luôn bị gò bó, thu mình ép buộc. Không coi đời sống của tâm hồn có giá trị (trong tình yêu), vì thế, họ lên án những người dám (hay liều lĩnh, ngây thơ, thành thật) sống với sự xúc động, khao khát của lòng mình; bởi vì con người đã là người khi hiện hữu. Ở vào cái khung cảnh tối tăm đó, cái ngục tù ác nghiệt đó, người con gái Gò Cà đã hành động theo tâm hồn mình. Đã là người với trọn vẹn tính chất khả hữu của nó. Đó là một hành động quả cảm, đáng được thán phục, yêu quý. Người con gái La Hai dám coi thường những lề thói hẹp hòi, những đôi mắt quái lạ kia, để “theo trai“. Chữ “theo trai” phải hiểu: Theo tình yêu, theo khát vọng trung thực, sâu thẵm của tim mình. Sống vào thời đó, chung quanh có vô số sợi dây ràng buộc mà bỏ đi được (dám sống là người), quả họ đã suy nghĩ, đã chân thành quá mức rồi. Tôi nghĩ tới những tù nhân khao khát tự do. Tuy vậy, việc phá vỡ những ràng buộc như thế, đối với thời xưa, là một việc hệ trọng. Đáng … đem vào ca dao, tục ngữ ! Xét hiện tại, ai cũng nghĩ là cái việc “như thế” ở đâu cũng có, và không có gì phải sợ hãi. Nhiều chuyện “động trời” , còn có thể hiểu, cắt nghĩa, và bao dung được. Tôi nghĩ: “Giá còn tác giả của mấy câu ca dao trên sống tới nay, có lẽ họ đã ngã ngửa ra mà chết” . Hoặc : “Họ sẽ hối hận mà sửa lại“. Nói thế, không có nghĩa tôi phủ nhận sự có mặt cần thiết và đáng ca ngợi của quý chữ “Thủy chung, lẳng lơ, trắc nết“, mà đòi hỏi chúng ta phải hiểu chúng, bằng sự tiến bộ, bằng cái sâu thẳm nhất của tâm hồn, của con người.

Thiên nhiên và đời sống có ảnh hưởng tới con người, đó là điều dĩ nhiên. Ở Phú Yên, thiên nhiên đầy đủ và hữu tình quá: Rừng núi sông biển, đồng ruộng, thành hồ, hào rạch, đồi tháp ở cùng khắp. Phú Yên ở giữa hai ngọn đèo, hai cái ải, là Đèo Cả (cao trên 500m) và Đèo Cù Mông (cao 245m ) nên đời sống cũng bị giới hạn, khép lại trong khung cảnh, đất đai của mình. Bởi vậy, tính chất “lãng mạn” và “đa tình” dễ tìm thấy trong những đôi mắt thiếu nữ, nếu có sẵn “một đôi mắt đa tình” để nhìn ngắm.

Tản Đà (hay Huy Lực, Trần Huiền Ân, Hoàng Đình Huy Quan, Phạm Cao Hoàng, Đỗ Chu Thăng, Khánh Linh, v.v…) đã xác nhận với tôi điều đó, trong các thi phẩm của họ. Như thế, vấn đề “vợ Gò Cà, gái La Hai, gái Bàu Hương” còn là một điều đáng chú ý nữa thôi?

Riêng tôi, viết xong mấy dòng này, tôi đã gột sạch tất cả những ám ảnh. Đã dứt khoát một quan niệm về những người nữ Phú Yên. Và, để kết luận cho bài lý luận nho nhỏ này, tôi coi cái tính chất “Đa tình và lãng mạn” của Phú Yên là một ưu diểm, một đặc tính hồn hậu, chân thành, tự nhiên như hoa nở, trăng mọc, mưa rơi …/.


Read Full Post »

Quà Trung thu của ba

Truyện Ngắn

                        MANG VIÊN LONG

Mẹ tôi mất sớm, hai chị em tôi sống với ba. Sau khi sinh đứa em trai tôi được ba tuổi thì mẹ tôi mất. Bà ra đi nhẹ nhàng và nhanh chóng đến nỗi ai đến thăm cũng sửng sốt. Chị em tôi ngạc nhiên đến bàng hoàng khi lay gọi mẹ đến chục lần, nhưng đôi mắt bà vẫn khép kín, im lìm như đang ngủ say. Đời người rồi ai ai cũng sẽ có giấc ngủ cuối cùng, ngàn năm vĩnh viễn như thế sao?

Ba tôi im lặng, lầm lũi, cẩn trọng lo chu toàn mọi việc để tiễn mẹ tôi, giọng lạnh lùng, buồn buồn : “Ba không ngờ mẹ con đã từ giã cha con mình sớm như thế!”.

Những tháng năm sau này, ba tôi đã dành nhiều thời gian gần gũi chị em tôi nhiều hơn – nhất là cu An. Muốn được vậy, ông phải thu xếp việc trồng hoa ngay từ sáng sớm lúc hai chị em tôi còn mơ ngủ. Khi thức dậy, bao giờ tôi cũng nhìn thấy gương mặt ba tươi cười, vén mùng, đùa cợt: “Con gái gì ngủ dậy trễ thế? Lại có tật ngủ nướng rồi? – Còn thằng kia, bắt chướt chị mày ngủ nướng thêm nữa à ? Chị em dậy ăn sáng, ba chở đến  trường, trễ học rồi kìa…”.

Ba tôi có một chiếc xe gắn máy cũ kỹ – hiệu Gobel, làm thêm chiếc “rờ-moọc” để kéo theo phía sau. Hằng ngày ông chỉ chạy hai chuyến : buổi sáng chở bạn hàng lên thị trấn mua bán, buổi chiều chở về… Lúc mẹ tôi còn, thỉnh thoảng trong thôn có gia đình cần xe chở vật gì, ông đều sốt sắng nhận. Ông nói với tôi : “Con giúp mẹ trông em, ba chạy chuyến này kiếm thêm tiền cho mẹ con đi chợ…”. Từ ngày mẹ tôi mất, ông luôn từ chối các chuyến xe bất ngờ như vậy, để được gần chị em tôi. Lần đầu, khi nghe ba tôi khước từ chạy xe chở hàng cho khách, tôi ngạc nhiên hỏi : “Sao ba không nhận chạy thêm để kiếm tiền đi chợ?” – Ba tôi cười, giọng vui vẻ : “Bỏ mất dịp làm thêm kiếm tiền cũng tiếc, nhưng bỏ hai chị em con ở nhà một mình lại đáng tiếc hơn!”.

Ngày nào cũng thế, ba chở hai chị em tôi trên chiếc “rờ-moọc” hoen rỉ, cũ kỹ ấy đến trường. Tôi đã lên lớp Năm, còn em An thì vừa vào lớp Một. Hai chị em học cùng trường, nên ngoài việc học, tôi còn phải trông nom, hướng dẫn cho em. Cũng rất may, cu An thông minh, dạn dĩ, hoạt bát nên được cô giáo rất thương, còn đám bạn ngỗ nghịch không dám ăn hiếp ! Nghe tôi kể chuyện về em ở trường, lần nào ba tôi cũng nói : “Mẹ con phải sống chờ nó đến ba tuổi mới ra đi, còn Phật Trời thì trợ giúp cho nó được như vậy để đỡ buồn tủi!”.

Kỷ niệm của chị em tôi với ba mà tôi nhớ nhiều nhất có lẽ là những dịp vào ngày Tết Trung thu. Trước Trung thu gần một tuần, tôi trông thấy ba đã lo chẻ tre, vót nan, làm sẵn sườn hai chiếc lồng đèn : một chiếc kiểu ngôi sao, một chiếc hình trái ấu. Sau đó mấy ngày liền, hễ xong việc vườn tược, tưới hoa, cắt hoa giao cho bạn hàng là ba tôi cặm cụi cắt dán giấy màu… Mỗi ngày, ba đều thêm vào hai chiếc lồng đèn nhiều kiểu trang trí, nhiều chi tiết rất đẹp mắt.

Xế chiều ngày 14, ba chở chị em tôi – cũng trên chiếc “rờ-moọc” cũ kỹ ấy, về thăm bà ngoại. Như đã hẹn trước, chiều hôm ấy, chị em tôi được bà đãi cho một bữa ăn rất ngon, có cả chè xôi, trái cây rất hấp dẫn. Buổi tối, hai chị em tôi thắp sáng lồng đèn, hãnh diện theo bà lên chùa lễ Phật. Lũ trẻ trong xóm cũng kéo theo chị em tôi về chùa rất đông. Trăng trong, gió mát, cảnh vật trải dài trong mắt tôi một màu vàng êm đềm. Màu vàng êm đềm và tĩnh lặng ấy, sau này cứ ám ảnh, réo gọi tôi – kể cả trong những giấc mơ…

Chùa làng quê vào những ngày Rằm, nhất là rằm tháng Bảy và tháng Tám, mọi người lũ lượt  về chùa rất đông. Chánh điện chật hẹp, nhiều người phải trải chiếu lễ lạy từ ngoài sân. Dưới ánh trăng thu trong sáng, êm ái, tĩnh lặng ấy ; mọi người thành kính đọc kinh, niệm Phật – làm cho chúng tôi không dám hó hé, mở to đôi mắt ngạc nhiên mà nhìn… Cảnh tượng an bình, hạnh phúc ấy của những mùa trăng thu đã khắc sâu vào tâm khảm tôi, theo tôi lớn lên từng năm tháng…

Chị em tôi ở lại chơi với bà ngoại đêm hôm ấy – bà  cháu  trải  chiếu  ngoài hiên  trò chuyện  đến khuya Càng về khuya, trăng càng sáng tỏ. Tôi cứ ngỡ là được chơi giữa ban ngày dịu nắng. Cu An thắp hết mấy cây đèn sáp mang theo, nằm nghe bà ngoại kể chuyện “Phạm Công Cúc Hoa” chưa đến hồi kết thúc đã ngủ say.

Khi tôi đã được lên cấp ba, vào dịp Trung thu, ba tôi không còn làm lồng đèn cho tôi nữa. Cu An nhìn thấy chỉ có sườn một chiếc lồng đèn ngôi sao treo ở góc hiên, nó hỏi: “Sao ba không làm lồng đèn cho chị My?”.

Ba cười :

-My lớn rồi, không cầm đèn đi dạo như trước được, ba sẽ có món quà khác !

-Quà gì vậy ba ? – Cu An tò mò.

-Bí mật. Rồi hai chị em con sẽ biết.

Tôi không dám hỏi ba, nhưng trong lòng thì hồi hộp lắm. Mấy ngày ghé mắt theo dõi, tôi chẳng hề thấy ba tôi làm gì cả, ngoài việc trang trí chiếc lồng đèn cho cu An. Có lẽ ba chỉ làm lúc tôi đi ngủ chẳng ?

Chiều 14 năm ấy, lúc chị em tôi đã lên ngồi yên trên chiếc “rờ-moọc” sau xe, ba tôi mang ra một chiếc hộp hình chữ nhật, dán kín, sáu mặt hộp đều có trang trí giấy màu rất đẹp. Ba dặn : “Đây là quà của My, má con vừa gửi đến, nhưng phải đợi đến nhà bà ngoại mới được mở hộp ra nhé !”. Tôi sung sướng đón chiếc hộp, nhìn ba với đôi mắt thầm biết ơn…

Khỏi phải nói, tôi và cả cu An đã nóng lòng mong được đến nhà bà ngoại sớm như thế nào. Nhưng chiếc xe Gobel ngày càng cũ, càng chạy chậm hơn. Cứ lắc lư xình xịch không biết gì đến nỗi mong chờ của chúng tôi!  Chưa bao giờ tôi cảm thấy chiếc xe chạy chậm quá như thế. Cu An cũng có cùng tâm trạng náo nức như tôi, nó nói : “Chị My cho em coi quà của chị với nhé!”. Tôi gật đầu, cười sung sướng.

Việc gì đến sẽ phải đến, đã trông thấy rõ chiếc cổng vôi sơn vàng của nhà ngoại kia rồi. Chờ xe chạy qua ngõ, dừng lại, hai chị em tôi chạy ùa vào nhà bà, quên cả việc chào hỏi, cười vui với bà như các bận trước. Tôi ngồi bệt xuống thềm hiên, cẩn thận khui mở nắp hộp ra. Tôi lôi ra từng món một đặt ngay trên thềm: chiếc nơ kẹp tóc màu hồng, chiếc vòng giả ngọc màu xanh, cây bút máy hiệu Diamond, bốn bì bánh chocolate, một gọi kẹo…

Năm đầu tiên tôi phải xa gia đình để theo học Trường Đại học Y Dược- khoa Dược ở Sài Gòn ; Trung thu năm ấy ba tôi gửi cho tôi một phong thư lớn – trong ấy là một bài thơ , đề :”Tặng con gái thương yêu của ba”; viết trên khổ giấy lớn, được trang trí tỉ mỉ, công phu: “Quà Trung thu cho con”. Bài thơ thật chân tình, cảm động. Quà Trung thu cho tôi không là lồng đèn, bánh kẹo, mà ấy là trăng – một ánh trăng quê dịu hiền, một thứ “tình thắm thiết” – của trăng vàng và của cả quê hương !”.

Vừa tròn tuổi năm mươi nhưng ba tôi đã gầy yếu. Ông bị bệnh rối loạn trung khu tiền đình., và hởi valve tim. Vài năm sau này, ông thường xuyên bị choáng, buồn nôn và tức đau ở ngực trái – kéo dài khoảng năm mười phút. Người thân, bạn bè đến nhà thăm chơi, thường nhắc ông hãy “bước thêm bước nữa” để có người chăm sóc, đỡ đần công việc. Ông chỉ cười : “Đời người, đã lỡ bước một bước là đã khổ rồi. Sao lại bước thêm bước nữa làm gì trong cảnh khổ của mình ? Có lẽ cũng chỉ làm khổ thêm cho người khác mà thôi !”. Nghe lời tâm sự của ông, tôi cảm thấy lòng mình trào dâng niềm thương kính vô bờ. Tôi đã dần dần hiểu được ba đã dành tình thương yêu cho hai chị em tôi, mà phải chịu cô độc, vất vả. Ba tôi thường nói với bạn bè: “Cuộc đời tôi bây giờ chỉ còn lại hai đứa con…”.

Một buổi chiều cuối Xuân, sau khi đã chở đám bạn hàng từ thị trấn về, ông chạy xe vào ngõ, bỗng cảm thấy chuếch choáng. Đã quá quen với bệnh tình của mình, ông gắng gượng, lảo đảo bước vào nhà định tìm thuốc uống. Đến bậc hiên ông ngồi xuống, cơn buồn nôn kéo đến dữ dội. Kèm cơn đau thắt ngực – rất khó thở . Ông cố trấn tĩnh, chờ dịu cơn choáng và đau sẽ vào nhà lấy thuốc ; nhưng ông chợt ngã lăn trên thềm hiên, và sau đó không bao giờ bước vào nhà nữa…

Ba tôi đã chờ cho tôi vừa tốt nghiệp đại học, An cũng kịp thi đậu vào trường Đại học Sư phạm – mới giã từ chúng tôi. Giống như mẹ tôi khi xưa, đã chờ cho An được ba tuổi.

Mỗi mùa Thu đến, mỗi lần trăng thu tròn đầy vằng vặc ánh sáng, là mỗi lần chị em chúng tôi ngồi bên nhau mà khóc. Suốt 5 năm ở đại học, dường như tháng nào tôi cũng nhận được thư ba tôi hai lần. Tôi đã gom tất cả những lá thư ấy, bỏ vào ba chiếc hộp chứa quà trung thu thuở nào của ba – xem chúng như bảo vật, sẽ theo tôi trong suốt cuộc đời. Mấy bài thơ của ba tôi gửi cho, tôi cũng cẩn trọng lồng chúng vào khung kính, treo ngay góc bàn ngồi…

Một mùa Thu nữa lại đến. Trung thu gần kề. Tôi đã hẹn với An, đêm 14, hai chị em sẽ cùng nhau đi chùa lễ Phật – và nguyện cầu cho ba mẹ tôi luôn được an lành, trong sáng như ánh trăng thu…

MANG VIÊN LONG

Read Full Post »

Dì Lucia

Truyện ngắn

MANG VIÊN LONG

Ông xã trưởng đang nói với đồng bào ấp L.N. về tình hình đất nước, vấn đề hòa bình và ngưng bắn, và lập đi lập lại lập trường của chính phủ. Tôi đứng trên bục gỗ (chỗ tụ họp nói chuyện, học tập, thảo luận là một ngôi trường sơ cấp hai lớp, một phòng bị ngã sập, mái tôn thủng nhiều lỗ đạn loại lớn) tay chắp sau lưng, ngó ra ngoài khung cửa sổ lớn. Đây là lần thứ tư hay thứ năm gì đó, tôi quay mặt ra ngoài, qua khung cửa sổ.

Tôi nhìn ra vùng nắng chiều ngoài cánh đồng, có mấy con trâu đang đi dạo theo bờ ruộng hẹp. Tôi muốn nghĩ tới một chuyện khác hơn là cứ để sự bực dọc ray rứt. Tôi chăm chú nhìn vào luồng nắng, nắng vàng, êm ả và mong manh quá. Tôi chợt nghĩ là từ khi vào lính, mặc vào người bộ áo quần dầy cộm nầy, tôi chưa có được một dịp nào, để nhìn một chút nắng êm đềm như vậy, mà mơ tưởng tới một ước mơ nhỏ nhắn tầm thường cho đời sống mình. Tôi bận rộn, tôi ngơ ngác. Tôi bồn chồn. Bấy nhiêu tình cảm đó cũng đủ khiến tôi mệt đừ trong hai mươi bốn giờ của một ngày.

Bóng nắng hình như mỗi lúc một vàng võ, yếu ớt hơn. Tôi đoán có lẽ trời đầy mây. Mùa đông – tháng mười, nắng vẫn đượm một màu vàng bạc buồn bã như vậy. Nếu là một người bệnh, nhìn màu nắng nầy, chắc hẳn sẽ thấy nôn mửa, hay chếnh choáng. Chiều hôm qua dì Lucia hình như cũng đã nói một cảm tưởng tương tự như thế với tôi khi tôi tới thăm dì. Lúc tôi đẩy cánh cửa sổ sát chỗ dì nằm, dì đã kêu chóng mặt vì ánh nắng chiều chếch xuống. 

Tôi nhớ dì Lucia bị bệnh từ thứ hai tuần trước. Buổi chiều chúng tôi di chuyển từ chỗ công tác tới nhà thờ T.A. để nghỉ đêm, dì còn đứng ở cổng Cô nhi viện, nhìn bâng quơ ra cánh đồng, bầu trời lờ lững mây trước mặt. Tôi tìm một chỗ để cởi bỏ súng đạn, ba lô xong, tiến lại phía dì. Tôi không ngờ tôi đã gặp một người nữ tu trẻ, và đẹp như dì Lucia. Chắc là tôi khó có thể tả lại được một vẻ đẹp như vẻ đẹp của dì Lucia, nhưng tôi có thể nói chắc một điều, xưa nay tôi chưa hề được gặp một người nữ nào có một vẻ đẹp, vừa quyến rũ, vừa thánh thiện như thế.Có lẽ nét hồn hậu, điềm tĩnh của dì, khiến tôi về sau này, thấy nhớ dì hơn.

Tôi dừng lại trước mặt dì Lucia – gợi chuyện :

-Thưa dì, buổi chiều chắc dì rảnh? Dì Lucia nhìn tôi hơi ngạc nhiên.

-Chúng tôi ít khi rảnh lắm, hơn nữa, chúng tôi không muốn được rảnh rổi làm gì.

Tôi cười:

-Có lẽ dì khác ở với anh em chúng tôi nhiều. Chúng tôi mong được nghỉ, cũng không được. Đi công tác thế này, buổi chiều, sau năm giờ, coi như được thư thả đôi chút.

Dì cười:

-Phải khác chứ!

Dì Lucia nhìn tôi thật chậm sau câu nói. Tôi thấy đôi mắt dì có nhiều điều thích thú. Tôi hút một hơi thuốc dài, nhìn xuống chút khói mỏng ở đầu điếu thuốc : “Thưa dì, phải khác, nhưng có lẽ cũng có một điểm nào đó giống nhau chứ dì?”

-Ông ví dụ như điểm nào?

-Chẳng hạn như chiều nay, dì cũng có một tình cảm buồn như tôi… dầu cho là mỗi người có một cái buồn khác.

-Không được. Tại sao ông biết tôi buồn ?

-Tôi biết nhưng không thể nói được. Dì có đồng ý là có nhiều điều chúng ta biết, mà không thể diễn đạt, nói ra không?

Đôi mắt dì mở lớn:

-Tại sao vậy?

Tôi im lặng. Tiếng một đứa trẻ gọi dì Lucia ở dãy hành lang đầu. Dì vén tay áo, xem giờ, rồi hỏi : “Ông đóng ở đâu?”.

-Thưa dì, tối nay chắc phải ngủ nhờ tại nhà thờ. Ngủ quanh hiên. Mấy đêm rồi ngủ canh đồn Đại Hàn bên kia, đêm đêm chúng bắn đại bác gọi la ơi ới, ngủ không được.

Dì cười:

-Lúc nào rảnh, mời ông tới chơi, giờ tôi phải đi chích thuốc, rồi lo tắm rửa, coi sóc chỗ ngủ cho lũ nhỏ.

Dì Lucia quay vào cổng viện. Bước đi vội vàng. Bước đi thoăn thoắt. Những bước chân dì dầu có vội vã, nó vẫn là những bước êm ái nhẹ nhàng như những bước chân chim. Chim sẻ. Thực sự là tôi ngơ ngẩn vì những bước chân dịu dàng đó. Tôi nhớ: “Lúc nào rảnh, mời ông tới chơi”. Lời dì Lucia thốt lên tự nhiên ngọt ngào quá. Bây giờ tôi đã được rỗi rảnh đây, tôi muốn được đi theo dì vào viện, tôi muốn được nhìn lại nụ cười ánh mắt ấm cúng hồn hậu của dì lúc này. Tôi búng mẩu thuốc xuống đất, quay nhìn vào phía trong viện, những bóng áo chùng đen, những bóng áo dài trắng, thấp thoáng trong các dãy hành lang sâu lòa nhòa bóng tối. Tự nhiên tôi đi ngược trở lại ngôi nhà thờ. Buổi chiều âm u. Có lẽ đêm nay sẽ có một cơn mưa lớn…

*

Qua hệ thống liên lạc của trung đội nghĩa quân trú đóng gần căn nhà được mượn tạm dùng làm trụ sở xã, tôi nói chuyện với ông Loan Bích. Tôi trình bày cùng ông tình hình an ninh của xã, về mấy ông nhân dân tự vệ, về phương tiện và sức khỏe của toán công tác và xin được tạm nghỉ đêm ở một tọa độ khác. Ông ta vui vẻ chấp thuận lời đề nghị của tôi, kêu tôi cho một tọa độ chính xác, để có thể yểm trợ nếu có việc gì xảy ra. Tôi giở bản đồ, đọc tọa độ mới, tọa độ của ngôi nhà thờ chúng tôi đã nghỉ tối hôm trước. Ông Loan Bích hỏi: “Báo cáo trong ngày anh có gặp trở ngại nào không?”. Tôi đáp : “Thưa Thiếu tá, không có gì”, và đặt ống liên hợp xuống.

Suốt ngày nay, chúng tôi đã theo trung đội nghĩa quân, nhân dân tự vệ, cảnh sát xã, đến ấp X.M – một ấp được ghi nhận tình trạng an ninh yếu kém nhất của xã. Theo sự lưu ý của ông cuộc trưởng, tôi nhìn thấy bất cứ ngôi nhà nào của ấp này cũng có một chiếc bàn thờ, nhang đèn nghi ngút. Dân cư thưa thớt, từng ngôi nhà rải rác, vườn tược hoang vắng, tôi chỉ gặp được toàn đàn bà, con nít và ông già. Tất cả họ đều có vẻ sợ hãi, nghèo khó, và tội nghiệp. Sống ở đây, tôi biết họ phải gánh lấy nhiều điều đau lòng, nhưng tôi biết làm sao hơn, khi tôi chỉ ở lại với họ một ngày, chỉ có nhiệm vụ giải thích, loan báo cho họ về một ngày ngưng  bắn hay hòa bình sắp tới. Tôi không được làm gì khác, và tôi cũng không có đủ quyền để làm khác. Tôi cũng đã cầu nguyện hòa bình, yên ổn như họ. Tôi chỉ biết cùng họ ước mong rằng thù hận, và máu lửa, thôi không còn kéo dài, tiếp diễn trên quê hương này nữa mà thôi. Hình ảnh kham khổ của họ đã cho tôi nhìn thấy rõ chiến tranh, thù hận, là một điều đáng ghê tởm, và đáng nguyền rủa nhất. Có bao giờ, những người chủ chiến nhìn thấy được những nét mặt, những đời sống cùng khổ này không?

Tôi được Souer Thérèse cho hay, dì Lucia đang nằm trong phòng, cuối dãy nhà, vì bệnh nặng. Tôi xin phép Soeur được tới thăm di Lucia. Soeur do dự một lúc, nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên, rồi cười khỏa lấp: “Ông vào xin Bề Trên. Có lẽ Bề Trên sẽ cho phép”. Tôi ngập ngừng, chưa nói được gì thì Soeur đã bước đi. Tiếng lũ trẻ ồn ào cười nói phía sau khu nhà giữa. Tôi bước dần ra phía sau, nghĩ tôi có thể lén Bề Trên tới thăm dì Lucia một chút cũng không hề gì. Tôi chắc tôi sẽ không làm một điều gì có tội khi thăm một người bệnh.

Dì Lucia kêu lên:

-Ông, làm sao ông biết tôi nằm ở đây?

Tôi cười:

-Hỏi thăm, thưa dì.

Dì ngồi dậy, hai chân xếp trên nệm, dáng bình thản;

-Ông hỏi thăm ai ?

-Thưa , dì Thérèse.

Tôi thoáng thấy trên nét mặt dì Lucia hiện lên một chút lo lắng, hay một chút gì bàng hoàng. Dì cúi đầu nhìn xuống tấm drap trắng phủ nệm, im lặng, khó xử. Tôi đẩy cánh cửa sổ cạnh giường của dì, ánh nắng chiều chiếu chếch vào chỗ dì ngồi. Dì Lucia ngẩng lên, nói nắng chiều buồn quá. Nó làm người bệnh chóng mặt. Lúc tôi định kéo khép cánh cửa lại, thì dì cười, nói thôi, để vậy cho sáng sủa. Tôi khuyên dì nên để cửa cho quen, đau bệnh mà thiếu ánh sáng, có lẽ dì sẽ khó khỏi. Dì cho tôi hay dì bị sốt đột ngột, từ nửa đêm hôm qua. Cơn sốt nóng kéo dài tới ba, bốn giờ sáng, rồi dì bị rét. Bây giờ, đã khỏe rồi, nhưng Bề Trên chưa cho phép rời khỏi phòng. Tôi cũng kể cho dì Lucia nghe mấy ngày công tác vừa qua của tôi, những chiếc bàn thờ hương khói nghi ngút, những chiếc hầm bí mật, những nét mặt nhăn nhó của đám người tôi được gặp, và sau cùng là ước mơ của tôi về một ngày hòa bình được trở về dạy học, được vun xới một mảnh vườn, được viết những điều muốn viết.

Dì Lucia tươi cười:

-Ông ước mơ nhiều quá.

Tôi hút một hơi thuốc, cười theo dì:

-Đâu có gì là nhiều, thưa dì. Sống như tôi mà không có hy vọng, ước mơ, thì khổ chết. Đời lính ngắn ngủi và buồn lắm – không biết “ra đi” lúc nào!

Dì hỏi:

-Vậy ông có tin được như vậy không?

Tôi đáp:

-Dĩ nhiên là phải tin. Tôi cầu nguyện luôn…

-Tôi cũng cầu nguyện cho ông!

-Được vậy thì diễm phúc cho tôi quá – Xin dì hãy cầu nguyện cho tôi.

Dì nhìn tôi xúc động. Đôi mắt dì chợt sáng lạ thường. Trong tia sáng của đôi mắt dì Lucia, tôi mơ hồ đã gặp, đã thấy được ở đâu đó. Tôi nhìn dì, im lặng. Chúng tôi ngồi im lặng. Tôi nghe rõ tiếng chim sẻ kêu dọc theo mái hiên ngói, phía ngoài hành lang. Buổi chiều đã xuống thật thấp bên ngoài…

*

Tiếng vỗ tay nổi lên. Tôi quay phắt lại, thấy mọi người nhìn tôi – Ông xã trưởng nhường lời cho tôi. Tôi tiếp tục kêu gọi bà con nêu ý kiến, thắc mắc. Tôi lập lại lời hứa là sẽ lấy sự thành thực, lấy sự suy nghĩ chân xác để trả lời. Tôi không thích chiến tranh. Tôi không là cán bộ tuyên truyền. Nhưng là một người trẻ biết trách nhiệm với quê hương, còn tin tưởng và hy vọng để xây dựng. Chính chúng ta phải xây dựng xứ sở của chúng ta chớ không ai khác, sau ngày ngưng bắn và hòa bình.

Chúng tôi đi từ giã mấy gia đình cạnh đó, rồi trở về xã. Đây là ngày công tác cuối cùng của chúng tôi, ngày mai sẽ trở lại chi khu, nhận lãnh công tác ở xã khác. Tôi nôn nao chờ xe để trở lại ngôi nhà thờ. Trong đầu tôi, hình ảnh dì Lucia đứng ở cổng Cô nhi viện, bóng áo trắng lẻ loi, đôi mắt xa vời buồn bã, như lúc nào cũng khiến tôi nao nức, hoang mang. Trong giấc ngủ muộn màng đêm khuya, tôi vẫn thường mơ thấy dì Lucia đứng đó, trước cánh cửa sắt, bờ tường rêu đen chạy dài theo con lộ vắng vẻ. Từ ngày gặp dì Lucia, tôi thường tự hỏi, tôi có còn dịp nào gặp lại được dì sau này chăng? Dì đã nói: “Xa đây, chắc ông không còn dịp nào gặp tôi nữa đâu. Tôi cũng sắp đi nơi khác rồi”.

Tôi đến nhà thờ thì anh em đã treo võng nằm hút thuốc, nói chuyện, rải rác dọc bờ rào. Tôi vội vã cởi bỏ súng đạn, nói với mấy người bạn là đi thăm dì Lucia lần chót. Họ cười : “Còn ngày nào ở đây, ông còn nói đi thăm dì Lucia ngày đó mà”, một người bạn nói.

Tôi cười:

-Ở đây hay ở đâu, chắc tôi phải đi thăm dì Lucia mỗi ngày.

Tôi rời họ ngay để tránh những câu nói đùa cợt, khó lòng ngăn cản. Thực sự là họ đoán đúng: Tôi đã yêu dì Lucia. Điều đó hẳn dì Lucia cũng nghiệm thấy. Phần tôi, tôi chưa thể đoán biết rằng dì có nghĩ gì về tôi, có giống như tôi đã yêu và nhớ dì ngay trong những giấc ngủ. Tôi chỉ thấy dì thực vui khi gần tôi, nói chuyện, và dì trầm lặng khi nghe tôi từ giã. Tôi đọc được ở đôi mắt dì nhiều hơn là lời nói. Đôi mắt ấy thực tinh khiết và nồng nàn.

Dì Lucia hỏi:

-Như vậy là sáng sớm ngày mai ông đi rồi phải không?

Tôi lập lại:

-Thưa dì, sáng sớm ngày mai.

Dì cười :

-Mấy ông khổ nhỉ?

Tôi ngước nhìn dì:

-Khổ nhiều chuyện lắm dì ạ.

-Tôi biết.

-Dì có buồn không?

Dì Lucia ngập ngừng:

-Tôi cũng là một con người…

Chúng tôi đi dọc theo bờ tường, phía trong, dưới những hàng bạc hà cao. Cánh đồng phía trước im vắng. Khu nhà nguyện chưa có bóng người. Dì Lucia lặng lẽ hơn sau câu nói, như một lời tự thú, một câu giải bày giản dị nhưng quá khó với dì lúc này. Tôi nghe tôi bàng hoàng. Nếu dì Lucia không cầm xâu chuỗi trên tay, không mặc bộ áo chùng trắng, không còn vướng bận tới những lời khấn trước đức Chúa để hiến dâng trọn đời dì, thì tôi đã nói thực với dì rằng tôi đã yêu dì như một mệnh số. Tôi không thể quên dì. Và ước mơ của tôi, sau cùng, là được gần dì mãi như chiều nay. Nhưng dì Lucia đã quay lại hỏi : “Giáng sinh này ông ở đâu?”

-Thưa dì chưa rõ được.

Dì Lucia cười:

-Tôi hỏi để coi ông có thể tới vui với mấy em ở đây được không?

Tôi quả quyết:

-Tôi sẽ tới, thưa dì. Chắc là ở đâu tôi cũng sẽ về đây ngày Giáng Sinh… Dì hãy cầu nguyện cho tôi còn sống để trở lại.
MANG VIÊN LONG

 (1) Tạp chí Bách Khoa-số384 tháng 11.1973)

 Tuần báo Văn Nghệ – Hội Nhà Văn VN – Hà Nội đăng lại/ 2008

Read Full Post »

Một ngày cô độc

  Mang Viên Long

Có đôi lúc tự dưng Thạc bỗng thấy ghét giận lão Thỉ quá!. Buổi sáng lão ta trở về, chạm mặt, Thạc nhận thấy nỗi ghét giận xuất hiện nơi ý nghĩ mình, đành nén lại quay đi, không đáp lại cái cười cười cố hữu của lão. Tuy bỏ vào phòng, Thạc cũng gắng nhếch mép, mơ hồ,  gượng gạo để tỏ ý thân mật với những cái ngớ ngẩn vô lý, kỳ khôi của lão. Có đôi khi, không giằn được cơn giận, Thạc im lặng trở vào, đóng cửa, hoặc hỏi một câu vu vơ như cái cười khó thương nọ: Dạo này trên đồn tình hình đánh bài có gì khả quan không ông Thỉ ? Những lúc nghe vậy lão cũng cười cười, nói lí nhí một câu gì đó, hoặc làm thinh. Lão thường cười hơn nói. Cười ngớ ngẩn. Cười vô lý. Cười chỉ nhếch môi, lộ hai hàm răng vàng bệch, cáu bẩn. Lão làm y như cái cười của lão là đẹp, quyến rủ lắm vậy. Nhưng lão đâu có ngờ, cái cười cười của lão chỉ khiến cho những người đàn bà góa chồng như bà Sen mê thôi. Vậy mà Thạc đã phải trông thấy những cái cười đó thường ngày. Anh tự nhủ, gắng mà chịu đựng. Và sự chịu đựng của Thạc đã tới lúc chỉ còn biết im lặng, giữ gìn gượng gạo. Có lẽ cái cười với cặp môi lát lướt mỏng dính với hàm răng vàng bệch, cáu bẩn đã làm Thạc thấy không chịu được ngay lần gặp lão đầu tiên. Một người ưa cười, dễ cười, lại là người thường làm cho kẻ khác khóc. Bà Sen càu nhàu, khóc lóc với lão những bận từ đồn trở về lấy thêm tiền bạc, bòn chắt nữ trang; nhưng lão vẫn lui tới, tỉnh bơ, lai rai, và cười cười như thường. Dễ chừng lão không biết buồn bã, tủi nhục là gì ? Thấy vậy, Thạc lại ghét ghét lão sao đó, mặc dù bà Sen với anh không có chút tình thần mật nào hơn một người cho thuê phòng với giá cắt cổ. Nhiều lần, chui vào phòng rồi anh vẫn còn cảm giác hậm hực. Thạc nghĩ, mình không nên cư xử với một người đã luống tuổi như vậy, tuy lão là người đàng điếm, dị kỳ. Đã bao lần vì kính mến  ,tin mình- lão đã kể cho mình nghe vài cuộc tình rày đây mai đó thời chiến- lâu lâu, lại được nghe vài chuyện lục đục giữa lão với bà Sen, với bà này bà nọ- thấy lão vẫn cười cười như chẳng hề có gì xảy ra-Thạc lại thấy nỗi ghét giận lão thoáng tới, khiến anh khó chịu. Ở đời, lại có những chuyện kỳ cục như vậy: Có người thương kính mình mà ngược lại mình không thể đáp lại . Giá mình dửng dưng lạnh nhạt, bỏ qua được thì khỏe biết chừng nào ? Cái khổ của Thạc còn ở chỗ đó nữa. Giá lão Thỉ cứ lầm lì, im lặng thì đỡ cho anh biết bao. Sau bao lần cố gắng , Thạc quyết định: Đừng bao giờ giận ghét người nào, khi họ không là kẻ thân tình gắn bó với mình. Làm được vậy, anh cảm thấy yên ổn, tỉnh trí hơn giữa những người bạn xấu bụng, và những người chung quanh kỳ khôi  như lão Thỉ.
        Thạc nghe có tiếng gõ cửa nhè nhẹ. Đúng là tiếng gõ cửa của lão Thỉ, Thạc ngồi im. Lão Thỉ lại quấy rầy mình về những bức thư gởi về cho vợ con rồi đây? Nhớ lại lúc lão đọc cho anh viết những giòng thư nhắn nhủ, dặn dò, mà Thạc muốn nỗi lên cười: “Thân gửi vợ con, bà ở nhà làm ăn ra sao có mạnh giỏi không cho tui biết tin tức nhớ coi sóc tụi nhỏ lỡ đau ốm thì khổ lắm. Phần tui vẫn mạnh khỏe nhờ Trời không hề hấn gì cả, làm chỗ cũ, một ngày gác ít giờ hay không gác chỉ  phân công thôi đi đốc canh rồi về lô cốt nằm uống rượu nhớ bà và lũ nhỏ quá bà à, chắc cuối tháng tui xin phép được sẽ về thăm. Thôi chúc bà mạnh khỏe, tui mừng”. Tiếng gõ cửa lại vang lên, nhẹ nhàng, e dè. Đúng là tiếng gõ sợ sệt, khẽ khàng của lão Thỉ rồi. Chắc lão dư biết mình làm phiền người khác khi bắt họ viết thư hộ cho vợ con  nên thường tỏ ra lúng túng, rụt rè . Lần thứ ba, tiếng gõ cửa tuy nhỏ, nhưng âm vang như xáo động tận trong đầu Thạc. Từng tiếng một rõ ràng, thôi thúc. Thạc đứng dậy, mở cửa thật mạnh . Ồ, Kim Trâm. Trâm từ bên kia cây cầu dài hai mươi mốt nhịp, nơi cái quận lỵ ngơ ngác, miền đất chộn rộn những đêm ồn ào đạn pháo kích rơi rải rác dọc đường- quận lỵ có cái tên nghe cũng khiếp: Hiếu Xương. Tại sao là Hiếu Xương mà không Phú Lâm như trước ? Phú Lâm nghe vẫn hiền, và hay hơn đó chứ ? Trâm trong tấm áo man-teau màu xanh lá cây, tấm áo thấm vài giọt nước mưa-Trâm trông có vẻ co ro, rét mướt, tội nghiệp. Thạc hỏi :
        -Sao em qua sớm dữ vậy – Trâm ?
Trâm cười, bước vào phòng, cởi áo manteau treo lên móc. Nàng làm những động tác đó rất tự nhiên và khoan  thai. Thạc nhìn đắm đuối vào đôi mắt Trâm, tự dưng anh thấy thương thương nàng quá đi. Một nỗi chân tình và tội nghiệp như toát ra từ thân thể gầy hư của nàng bên mối tình đầu với anh, mà nàng đã nguyện gắn bó, tha thiết. Chợt Trâm nhìn chậm lên mắt Thạc, cười khẽ :
-Qua sớm không thì anh đi mất…
Thạc hỏi – trong tiếng cười :
-Anh đi đâu mà mất ?
– Ai biết được chuyện đó ?
Ai biết được chuyện đó. Phải, làm sao em biết được hết những lo lắng, lận đận của anh ? Ngay cả khoảng thời giờ cuối tuần dành riêng cho em, nhiều lúc anh cũng không thể giữ được. anh bận bịu quá, xuôi ngược quá. Làm sao anh nói hết cho em những gì anh phải lo lắng, thực hiện cho đời sống anh lúc nầy ? Ai biết được chuyện đó, con gái khi đã quá yêu, dễ sinh những ngờ vực kỳ cục như vậy. ai biết được chuyện đó, vâng, em cứ nghĩ như vậy đi, cho vui. Thạc nghĩ tiếp, cứ để cho Trâm có những giận dỗi, nghi ngờ, ghen tuông bóng gió như thế cũng tốt. Trong tình yêu, không có những thứ đó cũng hơi buồn phải không Trâm ? Và, Thạc không dè, cô bé cũng thành thạo trong việc ghen tuông quá sức. Có ai dạy cho nàng những điều này đâu ?
Trâm  ở lại suốt buổi sáng chủ nhật hôm đó bên Thạc. Bà chủ nhà trọ đã quen lệ mang sẵn hai phần cơm để ở bàn chờ. Những sáng chủ nhật, Thạc coi như đã dành hẳn cho nàng. Thạc nghĩ trong suốt một tuần lễ khó khổ, buồn bã nhất cũng phải có một ngày cho mình, cho người yêu chứ ? Giá không có ngày chủ nhật –  ngày dành cho tình yêu trong tuần thì đời sống sẽ buồn nản, cô độc biết bao ? Nghĩ vậy nên anh rất mãn nguyện với việc thu xếp hết mọi bận rộn, dành cả ngày chủ nhật cho Trâm.
Thạc nôn nao nhìn bầu trời xám hẳn mây, lòng thầm buồn, lo. Những đám mây đen vần vũ, dập dềnh kia sẽ là những cơn mưa dữ dằn sắp tới, chắc Trâm sẽ ướt hết, và anh cũng sẽ khổ cùng với bọn học trò cả ngày nay rồi. Những cơn mưa dai dẳng kia cũng sẽ làm kết qủa của ngày quyên góp cứu trợ giảm sút hẳn đi. Thạc đứng ở hiên., nhìn bầu trời, nhìn đồng hồ, càu nhàu trách giận ông Trời. Đã gần 8 giờ rồi, sao Trâm chưa thấy qua cà ? Thế nào nàng cũng phải tới trước những cơn mưa. Thạc cau có: Mưa, gió, bão, lụt cả tháng không ưng bụng sao, giờ còn mù mịt, ướt át thế này ? Hãy để cho thiên hạ thấy chút nắng mặt trời mà lo dựng lại nhà cửa, sửa san vườn tược đã gãy sập đã chớ ? Mưa, mưa, mưa lèm nhèm tối ngày. Quá nóng lòng, Thạc trở vào lấy mảnh giấy ghi vội mấy hàng cho Trâm : “Kim Trâm, anh lên trường lo chút công việc, có lẽ chỉ trở về buổi trưa rồi một giờ lại đi ngay. Nếu thích, em cứ nằm đây đọc sách, chờ anh. Chìa khóa vẫn để chỗ cũ đó, nhớ chưa? Xin lỗi , không kịp thông báo cho em vì nhà trường  quyết định quá gấp. Mong em ở lại”.  Ghim mảnh giấy lên cửa, Thạc vội vã lên trường. Nghĩ tới  cái tính ưa dỗi hờn, ghen tuông bóng gió của Trâm, tự dưng Thạc mỉm cười. Cái ý định sẽ mang Trâm cùng tham gia công tác quyên góp ở trường Thạc không thể thực hiện được nữa. như vậy cũng đỡ bị bọn học trò chọc ghẹo.
Học sinh đứng nhốn nháo, lộn xộn, ồn ào trong sân trường. Thấy Thạc, nhiều đứa reo lên. Anh cười dễ dãi với bọn học trò. Phần đông những đứa học trò anh đều ở tận các vùng quê, lên tỉnh học, rồi lại hối hả quay về đỡ đần cho cha mẹ. vì thế, ngoài dáng dấp trẻ thơ đáng mến, anh còn nhìn thấy nhiều nét tội nghiệp, chân tình. Chúng thường hiền -chịu khó, và chăm chỉ. Bước vào văn phòng, anh thấy ông thầy già cựu giám thị đang thẫn thờ chờ đợi. Thạch, người vừa được ông giám đốc đưa lên làm giám thị thay cho ông thầy già, lăng xăng ghi ghi chép chép gì ở bàn. Và cô thư ký thu ngân đang ngồi ở góc phòng chải lại mớ tóc. Tất cả những gì cho cuộc lạc quyên chưa được chuẩn bị chút nào, Thạc trở ra, mượn vài đứa học trò đi mua kẹp, đinh ghim.  Niêm phong các thùng lạc quyên. Phát kim và huy hiệu. Chia toán . Phân công. Lập danh sách. Dặn dò. Tất cả những điều đó đều chưa thực hiện. Cái lối thực hiện “chỉ trong vòng 5 phút” của gã giám đốc chủ trường đã nhiều bận làm Thạc nản quá. Tổ chức Trung thu : Trong vòng 5 phút. Tổ chức Giáng sinh: Trong vòng 5 phút. Những khoản 5 phút kia thực là hợp với tính lười biếng, lừng khừng, và tài lợi của lão giám đốc giàu sụ mà dốt đặt.
Thầy Chuyên (ông thầy già, cựu giám thị) dáng điệu buồn bã chán nản sau nhiều lần đi ra đi vào thất vọng .Ông liền gọi một đứa học trò, bảo :
-Mày tới coi thử ông giám đốc đang làm cái gì ở nhà ? Hỏi thử sáng nay có đi lạc quyên không còn cho học trò chúng về ?
Tiếng một học sinh trong đám đông nói lớn :
-Ổng ở nhà thu băng, chạy áp phe kiếm tiền chứ làm gì nữa, thầy ?
Nghe lời nói đó, Thạc bỗng nhớ tời lời nói của gã giám đốc mê thu băng hơn dạy học: Ở nhà thu băng, khỏe. Dạy học làm gì cho mệt ? Thì giờ tôi ở nhà thu băng kiếm tiền gấp mấy lần đi dạy nữa. Tôi bây giờ không cần dạy học. Và, gã tự chia cho mình một tuần với những giờ phụ phất phơ đi trễ về sớm, cho khỏe.
Lúc mới vào nhận dạy thêm giờ ở trường này, Thạc nghĩ là anh sẽ gắng giúp cho học sinh bằng những hướng dẫn và hoạt động trong phạm vi học tập cũng như sinh hoạt, nhưng sau bao lần thử thách, những cố gắng bị ngăn cản và phá hoại, anh nản định chờ ngày xin thôi việc. Không thể nào sống chung hoặc làm việc bên cạnh những kẻ tự phụ, lười biếng, tài lợi, và bất tài như vậy. Và, Thạc nghĩ, những hy sinh phục vụ của mình rồi đây cũng sẽ bị hiểu lầm và nghi kỵ, xoi bói. Từ đó, dù có tha thiết bao nhiêu với những dự định tuổi trẻ, bên những đứa học trò quê mùa, nghèo khổ, Thạc cũng khó một mình mà chống chỏi với bao khó khăn, hiềm tị, nhỏ nhen chung quanh. Ở đời, không làm được gì thì bị chê, mà có làm được gì, thì lại bị ghét. Sự có mặt  của Thạc trong ngôi trường này, vì vậy là một sự nhẫn nại, cố gắng vì bọn học trò của anh hơn là số tiền được lãnh thêm vào cuối tháng.
Khi phân chia các thùng đựng tiền, đinh ghim huy hiệu, và những địa điểm  cần phải có mặt vừa xong, thì trời đổ mưa. Gió thổi rạt rào, lạnh buốt. Tuy vậy, qua dáng điệu co ro, chịu đựng của bọn học trò, Thạc còn tìm thấy thực nhiều niềm hân hoan, phấn khởi. Sự khổ nhọc của đời sống đã dạy chúng coi thường mọi khó khăn. Gió, và mưa cũng chẳng làm sờn được tấm lòng hăng say, nồng nhiệt nơi tuổi trẻ. Những ánh mắt hực sáng, những đôi môi luôn nở nụ cười, những xoắn xít mừng rỡ của đám học trò trước mặt làm Thạc xúc động. Anh thấy niềm tin yêu của mình không đến nỗi lẻ loi, cô độc như anh đã tưởng. Lúc đi ngang qua toán nữ sinh, bọn Tú, Ngọc, Hồng, Lan nhao nhao lên hỏi: Thưa thầy, thưa thầy, làm sao nói xin tiền được thầy ? Thạc bỗng cười: Đã nói rồi, các cô cứ hỏi mãi ? Thạc dặn lần chót: Muốn người ta cho tiền mà không thấy áy náy, ngờ vực, buồn lòng, các cô phải ăn nói dịu dàng, lễ phép, về lý do của việc quyên góp, và sau khi đã nhận được tiền bỏ vào thùng, phải thay mặt người đói rét bất hạnh cảm ơn lòng tốt của họ cho đàng hoàng… Thạc chịu trách nhiệm các toán lớp 9 do anh làm giáo sư hướng dẫn, và trông coi tổng quát các địa điểm khác. Đó là phần trách nhiệm mà anh tự đặt ra, bắt mình phải hoàn tất. Gã giám đốc chủ trường tứ thời đeo ống nghe vào hai tai, thấy bọn học trò quá nhiệt thành, và quí thầy cô lên nhận công tác xã hội, cũng không nỡ bỏ đi về nhà, dù lòng rất tiếc những cuộn băng đang thu dở.
Toán Thạc được phân công dẫn tới ngã Năm trung tâm thị xã. Trời mưa nhẹ nhưng cũng đủ  ướt đẫm mớ tóc của bọn Ngọc, Hường, Nguyệt , Thúy ; cũng đủ ướt áo quần của bọn Nông, Quà, Mạnh, Quảng, Ngung, Thanh…; cũng đủ làm ướt rũ mái tóc bềnh bồng của Thạc lòa xòa xuống trán. Thạc chia làm hai toán, ở mỗi góc đường phố. Người đi dạo phố chủ nhật thưa thớt hơn mọi khi. Từng đoàn xe nhận còi chạy lướt qua, lạnh lùng. Sau một lúc làm việc không có kết quả, thường bị người đi đường từ chối, bị những ông quan lớn nhà giàu cự nự khi xe hơi bị chặn, bọn học trò buồn tiu nghỉu, bu quanh Thạc:
-Thưa thầy, mấy ông kia la quá, thầy ? Thưa thầy, họ cằn nhằn cau có làm tụi em sợ. Buồn quá, thầy ơi …
Thạc im lặng, thấy thực khó xử. Anh biết nói sao đây, với lũ học trò mình – ôi, những đứa học trò tâm hồn còn trinh trắng, tấc lòng đang bừng nóng nhiệt thành về những gì chúng đã thấy, đã hỏi ? Chính mắt anh cũng đã trông thấy một ông lái xe hơi nọ cự nự xài xể học trò mình, chính tai anh nghe những người nhàn tản đùa ghẹo dửng dưng trước những lời lẽ tha thiết kêu gọi của đám học trò áo quần, tóc tai ướt rũ, đang run lên vì lạnh, vì nỗi lạc lõng, cô độc ? Cuối cùng, để giúp chúng nhẫn nại làm việc, Thạc nói giọng tự nhiên;
-Các em đừng ngại, cứ làm việc cho hết lòng là được. Ai nói gì, mặc họ. Nào, toán của Ngọc chia làm hai xuống ngã dưới, toán của Cúc, của Trương, của Quà, của Nông mỗi người một góc đường đi.
Trời bỗng đổ mưa ào ào. Mưa lớn rồi. Thạc nói, cho các em vào nghỉ một lát đi. Tiếng của Nông, của Quà đáp lại,  giọng quả quyết: Thưa thầy, không. Cứ việc làm, thầy. Tiếng cười của bọn nữ sinh phụ họa theo. Thạc phải nói : Nghỉ một lát đi, tạnh mưa rồi hãy làm.
Dù anh nói vậy, lũ học trò vẫn đứng im ngoài trời dưới làn mưa dày, đón từng chiếc xe, hỏi xin từng đồng bạc lẻ. Hình ảnh này làm Thạc thấy thương yêu lũ học trò mình, dù trong bọn, có đứa ở lớp cũng thường nghịch ngợm như Thiên, như Siêu. Thạc cũng có mặt bên cạnh chúng, nhắc nhở, an ủi, khuyến khích chúng. Anh nghĩ, nếu không có nỗi an ủi cần thiết cho tuổi trẻ, chúng dễ bị thất vọng chán nản lắm. Hễ gặp một trường hợp buồn lòng, Thạc luôn miệng nói : Các em đừng ngại, cứ làm việc đi. Họ nói gì, mặc họ. Cố gắng đi, được bấy nhiêu hay bấy nhiêu.
Khi trời vừa tạnh mưa, có đứa đề nghị với Thạc :
-Xin thế này, ít quá thầy ơi. Hay thầy cho một toán đi vào tận các nhà buôn coi thử sao …
Từ trước, Thạc cũng đã nhìn thấy sự quyên góp thực là ít ỏi, khó khăn. Kẻ nghèo thì giàu tình thương nhưng ít tiền bạc, còn người giàu thì nhiều tiền bạc nhưng ít lòng thương, do vậy những đồng bạc lẻ chắt mót, quyên góp được dù đã thể hiện được tấm lòng từ bi, bác ái đối với đồng bào mình đang bị nạn bão lụt làm phải khốn đốn, đói khổ nhưng chưa thể đem lại cho họ những an ủi cấp thiết bằng bát cơm, tấm chiếu. Do đó, khi nghe lời đề nghị, Thạc chấp thuận liền: đúng rồi toán nào lĩnh phần trách nhiệm này ? Nhiều học sinh giơ tay, Thạc chọn những đứa hơi lớn một chút, và có khả năng ăn nói để “cạy tủ được” những nhà buôn những nhà giàu có trong thị xã. Thế là một toán nữa bắt đầu mang thùng vào các dãy nhà dọc phố.
Sau khi đôn đốc nhắc nhở, các toán còn lại, Thạc lấy xe chạy một vòng các địa điểm khác trong thị xã. Lên tới đầu cầu, Thạc gặp ngay một bọn học trò lắt chắt của lớp 6 và 7, chúng thấy Thạc mừng rỡ reo lên :
-Thưa thầy, xin được nhiều tiền lắm thầy! Ở đây, mấy người nhà quê đi chợ nhiều lắm thầy ơi…
Thạc nhìn quanh địa điểm: Đó là một bến xe Lam; và cửa ngõ của vùng quê Đông Phước, Hòa Thắng, Hòa Trị đổ xuống phố. Ở đây, xin được nhiều tiền cũng phải. Nghĩ tới câu nói: “Ở đây, mấy người nhà quê đi chợ nhiều lắm thầy ơi”. Thạc thấy thực là tội nghiệp cho những người nghèo khổ, quê mùa. Lúc này, chỉ có những người khổ nhọc mới cứu giúp nhau thực lòng mà thôi. Ôi, những đồng bạc  quí báu và thiêng liêng đã chia sớt  từ một bữa chợ của những gia đình nghèo  khổ tản cư. Thạc thăm hỏi, và an ủi, nhắn nhủ với những học sinh – những đứa học sinh nhỏ bé đứng dầm dưới cơn nưa tháng mười hai – rồi chạy rẽ xuống các ngã đường số 4, tới chợ. Nhóm học sinh lớp 9 và 10 đang  đi rong trong các dãy chợ thấp, lầy lội. Gặp Thạc, chúng liền tỏ rõ nỗi thất vọng, buồn bã : Sao người ta lơ là; dửng dưng; lạnh lùng với lũ em quá, thầy à? Cũng có người nạt nộ, gắt gỏng nữa, lũ em buồn quá. Thạc lại phải lập lại những câu an ủi cũ, mong giữ được lòng tin yêu nơi đám học trò. Đôi lúc anh thấy thực là khó khăn để xoa dịu nỗi thất vọng nơi những gương mặt ngơ ngác; buồn thiu của chúng: Chính anh cũng đang cô độc, lạc lõng, làm sao có thể mang lại niềm vui cho kẻ khác ? Tại ngã tư Bùi Nguyên Ngãi – Trần Hưng đạo, một toán nữ sinh lớp 10 chặn xe Thạc lại, than :
-Kỳ quá thầy ơi, người ta cứ chạy xe như gió, không ai chịu dừng lại cả?
Thạc cười:
-Gì mà kỳ ? Đâu có  phải mình quyên góp cho riêng mình tiêu xài đâu ? Cứ gắng lên là được. Điều quan trọng là phải nhẫn nhục, cố gắng …
Nói xong Thạc đi thẳng lên những toán của anh ở ngã Năm. Các toán vẫn làm việc hăng hái, chăm chỉ. Dừng xe lại, Thạc đưa tay xách thử chiếc thùng chứa bạc đã quyên góp, anh nói lớn:
-Vậy là được rồi, nặng lắm, gằng nữa đi…
Nói xong, anh thấy bọn học trò đều cười theo anh, trong dáng điệu rét run, tội nghiệp …
Ở trường về -Thạc thấy nỗi buồn ngút lên, lan rộng, xâm chiếm mọi tưởng nghĩ trong đầu. Hình ảnh những đứa học trò ướt đẫm run rẩy, những nhẫn nhục bỏ từng đồng bạc cắc vào thùng, những cử chỉ nhạt nhẽo với nhiều khinh bạc của những gã lái xe hơi, những lới nói gắt gỏng dửng dưng của khách nhàn tản giàu có; tất cả những thứ đó, in đậm trong trong trí óc Thạc, và làm anh khó chịu, buồn nản. Anh nghĩ tới Trâm- Kim Trâm. Nghĩ tới Trâm lúc này như một nỗi an ủi gần gũi, và nồng nàn có thể giúp anh quên hết mọi trắc trở, phiền muộn: Tình yêu quả là một điều màu nhiệm vô biên cho kẻ cô độc, muộn  phiền. Có lẽ nàng còn chờ đợi mình ở nhà? Kim Trâm, anh mong em ở lại. Anh cần có em, ngay lúc này. Phải -chỉ có em  là nàng tiên với phép màu  mới có thể xoa dịu nỗi cô độc của anh mà thôi. Kim Trâm ơi, chỉ gọi tên em, anh cũng đủ ấm lòng.
Thạc đầy của, bước vào phòng: Căn phòng trống trơn, vắng vẻ quá. Kim Trâm .Kim Trâm. Nàng đã về. Đã trở qua bên kia chiếc cầu đen dài 21 nhịp. Đã âm thầm bên cái quận lỵ ngơ ngác, nghèo khó đó rồi. Hiếu Xương hay Phú Lâm cũng vẫn là nơi người yêu ta đang sống. Thạc cúi xuống nhặt tấm giấy lên đọc: “Anh Thạc ơi, em về! Em không thể chịu được nỗi cô độc  khi vắng anh trong căn phòng trống trải này.” Thạc lấy bút ở túi áo viết bên cạnh dòng chữ yếu ớt của Trâm :” Anh cũng vậy! “
MANG VIÊN LONG
( Tuần báo Khởi  Hành, số 112/ngày8-th7/1971)

                               

Read Full Post »

Buổi chiều còn đọng những giọt nắng vàng trên những cành cây gòn cao lêu nghêu, xương xẩu, cành cây chìa ra cứng nhắc giữa vòm trời sẫm tối trông giống như cánh tay dang rộng, bất động, vạch nét đen đậm im lìm. Chỗ Nhật đứng cỏ cây đã nhuốm hẳn bóng tối chập choạng đìu hiu giữa bụi bờ lau lách hoang dại phủ ngập. Trước mặt Nhật là những soi bắp đã mọc cao, những đám bông vải đã khô nứt vỏ bông trắng trông điểm rõ trong khoảng tối âm u. Vượt lên trên những thân bắp, đám bông vải đã nở, những chiếc cột xi măng cốt sắt của khu chợ cách khoảng đều đặn đen đúa, rêu mốc. Nhật đếm thấy có mấy dãy cột đã bị đào xới để dễ trồng trọt, có mấy cột bị mòn gãy cong quập xuống một cách ảo não, phiền muộn. Thường ngày, buổi chiều, những buổi chiều mênh mông vắng lặng giữa cỏ cây hoang tịch, Nhật đứng nhìn mấy chiếc cột chợ đã bị phá hoại, mấy soi bắp cao dần, và những đám bông vải nở khô bông trắng; thấy lòng trống trải, bình thản hết sức. Trống trải như bầu trời, và yên lặng như cây cỏ. Trong những phút quay về đắm hồn trong từng ngõ ngách bụi bờ tịch mịch, Nhật cạnh nhớ tới đời sống mình bấy lâu: ngơ ngác và ảo não quá. Chính những buổi chiều ra đứng giữa bãi cỏ trước nhà, nhìn ngó mông lung ở mấy soi bắp, đám bông vải, hàng gòn, cột chợ, lau lách, bầu trời ; Nhật mới cảm nhận được hết nỗi lẻ loi, lạc lõng của mình trong gần một năm nay. Một năm đầy tai biến, đổi thay, lận đận, bơ phờ.. Và, cũng trong những buổi chiều như vậy, Nhật đã khóc cho mẹ anh, cho dì anh, cho những đứa em khốn khó thơ dại như một bầy thỏ bạch. Người mẹ dáng cao, nụ cười đen láy , hàm răng nhuộm đều, tóc bới, áo vải nâu thâm, cuống quít bên đàn con nheo nhóc như một con gà tình nghĩa vừa kiếm mồi cho bầy con, vừa nơm nớp lo sợ đàn diều, đàn quạ. Còn bà dì, gần nửa đời người góa bụa không có một mụn con lây lất trôi dạt tới bên mẹ Nhật như một cùng đường, một bến cuối cho đời sống dừng lại. Bà đã mãn nguyyện yên thân bên gia đình Nhật để cúi xuống với bao nỗi nhọc nhằn mong đắp đổi chút êm ấm an vui của một túp lều còn hồng ánh lửa, còn vọng tiếng cười. Từ ngày có dì tới, Nhật thấy thương xót mẹ hơn qua dáng dấp hao gầy, buồn thảm của người dì rất đổi giống mẹ: dáng cao, răng đen, tóc bới, áo vải thô nâu. Hai chị em đã gặp lại nhau sau mấy năm biền biệt chỉ để nhìn rõ sự lạc lõng, cô quạnh, âu sầu. Mẹ có bao giờ ngờ rằng có ngày mẹ sẽ gặp lại dì với bao đau xót đó không? Ngày rời gia đình theo chồng của ai cũng huy hoàng, phấn khởi bên muôn ngàn câu chúc tụng, giữa những giấc mộng êm đềm, nhưng ngày cuối của đời người có mấy ai còn giữ được nụ cười thưở trước?

Dì Nhật. thì mới nửa đời người, đã héo hắt, khổ lụy; còn mẹ Nhật thì đôi mắt đã mờ dần sau bao mong ngóng xa vời nơi rừng sâu núi thẳm. Bây giờ, mẹ , dì, những đứa em; tất cả đã im ngủ, đã bỏ đi, đã xa mờ như núi rừng. Nụ cười lấp lánh hàm răng đen, mớ tóc bới cao, tấm áo vải xi ta nâu cờn rách nghèo khó đã mất. Đã lặng chìm đâu đó trong những bờ bụi, hào rạch, bóng đêm. Tất cả nay đã thành mây bay mỗi sớm, gió thổi mỗi chiều, trăng sáng mỗi đêm. Và Nhật bỗng thấy đời mình còn lại chỉ biết thiết tha, chìm đắm với gió, mây, trăng, và cây cỏ nồng nàn.
Nhật ngồi xuống bãi cỏ tươi mượt, mát rượi. Con đường dẫn lên ga trơ trọi những hòn sỏi trắng cạnh những cây lá hoang sơ lan tràn, lấn át, phủ lấp. Có dôi chỗ những nhánh cây mọc dài ra, ngăn giữa đường. Những dây leo nhãn lồng bò ngoằn ngoèo trổ bông tím trái vàng che khuất lớp đá sỏi giữa lộ ở xa trông như một lớp cỏ xanh. Con đường này, chính trên con đường hoang vu cô tịch này, Nhật đã mỗi chiều đi qua, lặng lẽ, thơ thẩn, dàu dàu như sắc lá hoàng hôn. Như nắng vàng tàn tạ. Nhật đã đi hết con đường lau lách qua khỏi nghĩa địa trập trùng, để đến ngồi trên thềm sân ga vắng tanh nhìn hút mắt con đường sắt hoen rỉ hai chiều mà ước mơ tưởng nghĩ tới những giấc mộng hoang đường có một chuyến tàu ghé bến chở anh trong một toa tàu rộn ràng tiếng cười đi mất vào một bến bờ nào đó không có bên cuộc sống. Nhưng ga vẫn vắng bặt, chuyến tàu mơ mộng không nghe kéo còi, con đường sắt hoen rỉ trơ vơ chìm dần vào bóng tối mịt mù; lúc đó Nhật mới đứng dậy, chậm chạp, thơ thẩn quay trở lại nghĩa địa, qua con đường mập mờ cây cỏ, về nhà.
Có một buổi chiều từ ga trở về, Nhật không theo lối cũ để qua nghĩa địa, và con đường vắng vẻ kia. Anh đi vòng xuống cửa Tây để vào Thành. Có lẽ Nhật không muốn phải đi mãi trên ngõ đường buồn bã, ghê rợn nọ: Anh sợ những nấm mộ bỏ hoang đất bày dấu đạn, và những nhánh cây tua tủa vướng mắc gót chân như có bàn tay nào vô tình giữ lại. Cửa Tây: con đường dẫn vào thành Đồ Bàn, thành nội, vùng đất mênh mông, dãy gòn lớp lớp kết trái dày đặc, hoa trắng nở đầy, gió lùa mênh mang, dấu tích rực rỡ một thời Chiêm Vương, Chiêm nương ẩn hiện. Giữa cõi bao la của đất trời, những bông gòn trắng rơi nhẹ, bay bay, lãng đãng như những chùm hoa mong manh, từ tay những Chiêm nương trên cổng thành thả xuống. Gió âm thầm đưa những cụm bông gòn, thổi dạt dào mùi hương những bông hoa dại kết tụ của bầu trời đầy hoa trái hiền dịu, cách biệt. Vào trong thành, Nhật ngỡ như mình đi lạc vào một chốn nào êm ái, thơ mộng, bình yên quá. Cỏ cây hoa trái một màu tươi tốt nguyên vẹn không hề có bàn tay người lay động. Màu xanh ngút trong tầm mắt. Xa xa, những chiếc cổng đồ sộ, loang lỗ, rêu mốc sừng sững cô độc với năm tháng mịt mờ, dâu bể. Nhật đi lan man giữa cõi yên lành khôn cùng đó với ý nghĩ rằng mình đã trở về, sống lại thuở đời hoang dã, lạnh lùng, đơn độc của mấy nghìn năm trước.
Một trái gòn khô rơi phía trước mặt Nhật, anh cúi xuống nhặt: trái gòn đã nức hẳn vỏ, lớp bông trắng đã bay đi gần hết. Nhật nghĩ, có lẽ đã quá ngày hái gòn rồi. Bấy năm, những trái gòn được hái đúng ngày nhưng gần hai năm nay, những trái gòn đã bị bỏ quên bởi những trận oanh tạc và càn quét của Pháp mỗi ngày một tiến sâu vào những làng cách xa bờ biển. Tới lúc nhà cửa, ruộng vườn còn bỏ lại, thì những trái gòn có đáng gì để cho người ta tiếc nghĩ đến đâu? Vậy mà những năm trước, ít ai được quyền nhặt, hái những trái gòn này cả. Họ có bao giờ nghĩ tới lúc những trái gòn bị gió cuốn bay đi gần hết, và rụng rải rác giữa đất cát bụi bờ hoang vắng này, mà đừng cãi cọ, tranh giành ồn ào ? Thói thường vẫn vậy, người ta thường bị lôi cuốn bởi những đòi hỏi lợi lộc trước mắt mà hiếm khi chịu nghĩ xa hơn một tí. Chỉ một hai năm thôi, những trái gòn này đã là một thứ bị bỏ quên, không cần thiết nữa.
Nhật bỗng nhận ra bóng một người thấp thoáng, ẩn hiện sau những thân gòn, những bụi cây cạnh ngôi chùa cổ đã sập đổ. Anh bước dần về hướng đó: một người lạ nào đã lẩn quẩn trong thành? Từ sau những bận khu phố bị bỏ bom lửa, bị oanh tạc ngày đêm, anh chưa hề gặp bóng người nào lui tới trong thành: Người nấn ná ở đây đã bỏ theo đoàn người tản cư lên sâu những miệt núi. Ngay ở xóm Nhật, sự còn lại của anh và một vài gia đình lẻ tẻ, khốn khó, là một nỗi tuyệt vọng, liều lĩnh, thí mạng với bom và đạn. Ở trong thành, vốn ít người, tất cả đã gồng gánh, dắt díu nhau ra đi từ mờ mờ sáng, sau buổi chiều, cả xóm bị dội bom, đốt cháy gần trọn nhà cửa. Nhật vạch từng lùm cây, bụi cỏ, dõi mắt tìm sau những hàng gòn sù sì, to lớn. Bóng người vượt thoăn thoắt qua những thân gòn, người lom khom, bé nhỏ. Nhật bỗng reo lên : Ê, nhỏ, thằng nhỏ… Thằng nhỏ nghe tiếng gọi vang dội đứng khựng lại, ngơ ngác, láo liêng, chợt nhìn thấy Nhật, nó mỉm cười. Nó cúi xuống nhặt những trái gòn dưới chân, chờ đợi.
Nhật cười với thằng bé :
-Nhặt được nhiều không em?
Thằng nhỏ ngửng đầu cười lộ hai chiếc răng gãy :
-Nhiều, nhiều lắm à …
-Em nhặt về làm gì mà nhặt nhiều vậy ?
-Chị Cơ sai em đi nhặt gòn, chị ấy nói nhiều chừng nào giỏi chừng đó mà.
Nhật ngó nét mặt thơ ngây nhưng đã sạm đen màu kham khổ của thằng bé, thấy nó dễ thương lạ lùng. Nhất là đôi mắt của thằng nhỏ: Đôi mắt mở to, tròn, đen láy dưới hàng lông mi dài. Mái tóc hớt carê lởm chởm không ngay ngắn. Nó mặc một chiếc áo đen, nhiều lỗ vá, kỹ lưỡng, và một cái quần cụt trắng đã ngã màu đất. Nhìn những mảnh vải vá cẩn thận chằn chịt, Nhật biết chắc nó cũng được cưng chìu, lo lắng nhiều. Những tấm áo quần rách được chằm vá lại cũng là một điều hiếm hoi với những đứa nhỏ. Nhật xoa vào đầu thằng nhỏ, cười lớn :
-À, chị Cơ, bây giờ chị Cơ đâu rồi ?
Thằng bé ngước lên nhìn Nhật kỹ hơn, giọng ngạc nhiên :
-Bộ anh quen chị Cơ tui hả ? Chị Cơ ở nhà chớ đâu ở đây mà hỏi ?
Nhật vẫn giữ giọng nói trong tiếng cười cợt cũ :
-Quen , quen chứ . Mà nhà em ở đâu, xa không?
Thắng nhỏ xoay người lại, đưa tay chỉ?
-Đó, nhà tui ở trong cổng thành kia kìa…
Nhà tui ở trong cổng thành kia kìa: À, thì ra căn nhà của thằng nhỏ, của người con gái tên Cơ nào đó chui đục ở trong một cổng thành. Cái cổng thành đồ sộ trăm nghìn lớp đá vững chắc nọ làm một nơi trú ẩn kiên cố dưới những làn đạn oanh tạc của những đoàn máy bay Pháp thì thật là tuyệt. Căn nhà, chiếc cổng thành Đông cỏ mọc um tùm bốn phía, sớm chiều chim sáo dập dìu làm tổ trên nóc, là nơi dừng lại của gia đình thằng nhỏ từ một vùng biển gió cát khốn đốn nghèo xơ. Nhật đã không ngờ, một miền đất mà người vừa hãi hùng rời bỏ lại là vùng đất yên lành, là cõi sống cho gia đình người con gái có cái tên rất nên thơ: Mỵ Cơ, Huỳnh Thị Mỵ Cơ.
Nhật đi theo những bước chân của thằng nhỏ trở lại “căn nhà”, chiếc cổng thành trơ trọi trống trải, như đi theo sự dẫn dắt tình cờ rộn rã. Từ giữa con đường bưng bít những cây ổ tàu, vú dẻ, hoa dại, Nhật đã trông thấy Mỵ Cơ – người chị nhu hiền, e lệ. Trông thấy chị, thằng nhỏ chạy tới, trên vai mang nặng bao gòn đã nhặt được. Nhật giữ từng bước đi chậm, thực chậm, cốt ý để cho thằng nhỏ trả lời nỗi ngạc nhiên của người chị bé nhỏ kia.
Thấy Nhật tới gần, Cơ nói :
-Anh cũng ở trong thành ?
Nhật nhìn thằng nhỏ, cười :
-Tôi là chủ thành mà. Hồi nãy tôi đã nói chuyện với chú em rồi.
Cơ cười theo Nhật. Tôi chủ thành mà, chắc nàng cũng cảm thấy yên vui khi biết được, trong khu thành mênh mông cây cỏ này, còn có những người lưu lạc, lang thang, bơ vơ như nàng. Sự khổ cực lạc loài bao giờ cũng dễ đem lại nỗi gần gũi tha thiết cho hai cảnh ngộ cùng số phận. Một thoáng, tự dưng Nhật nhìn người con gái với ánh mắt khác lạ: Anh coi nàng như một đứa em tội nghiệp cần được cưng chiều, cần được vỗ về, an ủi. Những đứa em gái của anh nếu còn sống, cũng bằng tuổi nàng.
Thằng nhỏ bỏ đi vào phía trong cổng thành với bao gòn khô. Bóng nó mất hút, im lìm sau những bụi cây phía trước cổng. Trông nó rất giống một con thỏ chui vào hang. Nó là một con thỏ con. Trong hang đó còn những thỏ mẹ, thỏ chị nữa. Con thỏ chị đang rụt rè, bỡ ngỡ trước mặt anh đây. Con thỏ có đôi mắt to, tròn, đen lấp lánh. Có đôi má hồng, có mớ tóc mượt, có nốt ruồi nhỏ dưới khóe môi tươi. Nhìn suốt từ tóc tới chân Cơ một lượt, Nhật hỏi:
-Bác đi đâu rồi ?
Cơ ngước đầu lên, cười má lúm đồng tiền :
-Má đi qua bên kia sông…
Một buổi tối trăng lên thực sớm, thực trong, thực lạnh, Nhật nghĩ tới Cơ và chiếc cổng thành hoang vu giữa cỏ cây u tịch. Nhớ tới Cơ như nhớ đến hình ảnh êm dịu cuối cùng còn lại giữa lớp lớp lau lách phiền muộn. Trong nỗi cô độc mỏi mòn lòng người dễ yếu mềm xúc động. Nhật nhận thấy, bóng dáng Cơ khó lãng quên được trong giòng nhớ tưởng vu vơ mỗi chiều. Những giây phút êm ả hiếm hoi với nàng trong chiếc cổng thành ấm cúng của khoảng đời bạc bẽo, trống không đã vô tình khắc đậm lên trí nhớ Nhật đến nỗi anh cứ ngỡ là đã cùng nàng trải qua ngàn ngày thênh thang thơ mộng. Huỳnh Thị Mỵ Cơ, con thỏ xinh xắn, người chị bé bỏng rụt rè, tấm thân lưu lạc, đứa con gái miền biển sôi động mịt mù gió cát, bây giờ đã là ánh lửa ấm áp nhất sưởi ấm anh nửa đời dong ruổi còn lại. Nàng như một nàng tiên giáng trần kịp lúc để cứu vớt Nhật ra khỏi nỗi thất vọng của những buổi chiều thơ thẩn trong con đường quấn quít cây lá, khu nghĩa địa lạnh lẽo, sân ga buồn tênh không còn nghe tiếng còi tàu nào vọng lại cho ước mơ được một lần nhìn thấy. Từ ngày gặp thằng nhỏ, có Cơ, Nhật đã thấy sợ hãi con đường bụi rậm hoang dại dẫn lên ga.
Trăng sáng vằng vặt trên cao soi rõ nỗi vắng lặng mênh mông của cây cỏ chung quanh. Những chiếc trụ cột của dãy chợ đằng xa trông lâu như những thân người dựng đứng, chờ đợi. Những nhánh gòn in rõ nét giữa khoảng trời bao la, nhuộm vàng ánh sáng, cũng lặng lẽ, đìu hiu quá. Nhật nhìn xuống con đường dẫn ra phố: Trong ánh trăng rộn rã trong vắt kia, anh không còn nhìn thấy một bóng dáng nào. Những gia đình nào ở lại chắc đã trở về với công việc quanh quẩn trong nhà, trước sân. Nhật quyết định: Phải vào thành.
Qua khỏi con đường nhỏ phủ nhập cỏ, anh đi vội vã giữa hai dãy phố hoang phế, âm thầm. Thỉnh thoảng. Nhật quay ngó lại những căn nhà quen đã đổ sập, cháy đen, rồi lại cắm cúi bước. Bước. Bước. Bước cho nhanh vào trong thành. Ở đây, chung quanh chẳng còn gì để nhìn ngó, trông đợi. Nhật bỗng nghe tiếng chân mình gấp gáp vội vàng, anh lại ngửng đầu nhìn ngó chung quanh: Những chiếc cột cháy đen, những bức vách ngã sập một nửa, vài căn nhà còn sót cửa đóng im ỉm, những đống gạch vụn lồ lộ, từng mảnh áo quần lay động, những tiếng chân chuột chạy lạt sạt, vài chú mèo lang thang; tất cả như đang nghe ngóng, dõi theo từng bước chân khua động của Nhật. Trăng vẫn sáng. Trăng vẫn lạnh. Trăng vẫn Bình yên. Nhật vừa bước, vừa ngước nhìn mảnh trăng tỏ trên đầu.
Tới cửa thành đầu tiên để dẫn vào thành nội, Nhật chợt dừng hẳn lại: Màu trăng ở trong thành có vẻ gì khác lạ với ánh trăng dưới phố. Trăng ở đây rực rỡ, êm ái hơn. Ánh sáng không nhuốm chút vàng vọt héo hắt như giữa hai dãy phố tan hoang, ảo não dưới kia. Trăng sáng ở trong thành một màu tươi thắm, bao la, dịu dàng đến ngây ngất. Nhật chui vào trong cổng thành, đi sâu vào thành nội. Anh đi nhìn bóng mình loáng thoáng bên bóng của những hàng gòn, nhánh gòn in rõ trên đường. Anh đi nhớ tới con thỏ dịu hiền, đưa con gái miền biển nước da đen chắc, người chị cam phận nhỏ nhoi, đôi mắt mở to tròn đen láy, nốt ruồi nhỏ điểm dưới khóe môi tươi. Hình ảnh Cơ như càng sáng rõ hơn trong nỗi tưởng nhớ của Nhật. Chừng như ánh trăng trong tươi thắm chung quanh đã giúp anh chắp nối, tìm kiếm thêm từng mảnh vụn nồng nàn thắm thiết về nàng.
Nhật nhận ra chị em Cơ đang ngồi trên tản đá phía trước cổng thành. Giữa màu xanh của cây cỏ bị nhuốm ánh trăng, tản đá nổi rõ màu trắng, và dáng Cơ trông lung linh, mơ hồ như một tấm tranh vẽ nhòe. Thấy được Nhật, Cơ lên tiếng hỏi sau chuỗi cười dòn dã :
-Anh Nhật, anh Nhật kia…Anh Nhật tới chơi à ?
Vâng, anh Nhật không tới chơi mà anh Nhật tới thăm Cơ vì nhớ quá. Anh Nhật tới vì nhớ, không phải vì đi chơi. Từ ngoài đó vào đến đây chơi ban đêm thực là một chuyện anh chưa làm trước đây bao giờ. Nhật đến ngồi trên tản đá, cạnh thằng Cương(thằng nhỏ, em Cơ). Cương ngồi sít vào chị, tay khác chống xuống tản đá, nhìn Nhật cười thẹn thuồng. Chắc thằng nhỏ cũng biết Nhật nhớ chị mình? Nó đã chẳng nằng nặc theo hỏi Nhật sao anh tới nhà em hoài vậy, anh Nhật, đó sao ? Nhật xoa tay lên đầu nó, thấy nó rất giống chị: Ưa cười rụt rè, hay cúi đầu phân vân. Nhật cầm cánh tay trần gầy ốm của nó:
-Má đâu rồi Cương ?
-Má ở trong nhà …
Cơ bỗng cười lớn :
-Em đã dạy nó cái cổng thành không phải là “nhà” mà cứ kêu “nhà” với cửa hoài …
Nhật nói:
-Thì trước đây là cổng thành, bây giờ là nhà không được sao? Gọi như Cương mà đúng, nơi mình trú ngụ, thì gọi là nhà được hết, lại hay nữa.
Cơ cười, xoay lại nhìn em:
-Anh bênh nó nữa mà…
Nhật rủ chị em Cơ đi bộ về ngã sông Trường Thi một lát cho mát, Cơ chịu liền. Cương lẵng lặng đi theo chị. Đi hết quảng đường ngắn đắp cao trên bờ thành, ba người rẽ xuống con hẻm nhỏ dẫn xuống một ngôi xóm nhỏ, bỏ hoang, cây cối mọc lan tràn hiu quạnh. Đi giữa những hàng tre dày lã ngọn, bóng trăng mơ hồ, gió dìu dặt lay động những cành tre nhỏ. Nhật nghe như mình đi vào cõi êm ái, riêng rẽ nào đó không dấu chân người. Không còn những ưu tư, xao động, đau xót. Cơ ngoan ngoãn rụt rè bên anh, trong bóng tối mờ nhạt của những bóng trăng loang lỗ, rất giống đứa em gái nặng lòng. Còn Cương, từ khi rời tản đá, rời cổng thành, nó lặng lẽ như một cái bóng âm thầm, tội nghiệp. Cơ bỗng nói, thường ngày mẹ qua đây để thăm một người thím ở mãi tận trong cái xóm gần núi, nàng ít khi được mẹ cho đi theo. Nàng không ngờ, ở mãi trong hóc núi kia, vẫn còn có người sống. Bám núi mà sống như thuở người du mục. Nhật bảo cái xóm này lúc xưa đông đảo người ở lắm, từ sau ngày bị bỏ bom, oanh tạc liên tiếp, họ bỏ trốn hết trơn. Xóm làng không có người ở, trông dễ sợ, và buồn bã quá. Cơ cười, anh cũng sợ nữa à ? Từ ngày về sống dưới cổng thành lẻ loi, hoang dã này, em không còn sợ hãi như bấy khi nữa. Hồi còn ở dưới quê, chỉ toàn thấy biển, cát, và hàng dương thôi. Đi tản cư lần hồi hết miền này tới miền khác, được thấy nhiều, phải sống cô độc giữa đồng, dưới chân núi, lâu rồi thấy quen hết. Nàng kể lại những cảnh đẹp ở quê nàng: Đó là một xóm miền biển. Từ nhà trông ra biển, một bãi cát rộng, một hàng dương dày, những chiếc thuyền buồm, những tấm lưới đen giăng mắc, đám dân đen đúa hiền hậu, những buổi sớm đi bộ ra bãi cát, thơ thẩn dưới hàng dương mà nhìn từng đợt sóng vỗ êm đềm, những chiều tà ngồi với mẹ và bạn bè đón trăng hóng gió dưới gốc dương cao vút, trên bãi cát trắng mịn, rủ Cương chạy đi đuổi còng bắt còng… Nàng kể lại một mạch tất cả những chuyện cũ từng hình ảnh chất chồng, nối tiếp khiến Nhật không nhớ rành mạch, thứ tự được. Anh chỉ nhớ được một điều : Giọng nàng kể thực tha thiết, triền miên. Qua giọng kể, những tiếng cười, những hình ảnh chắp vá, Nhật cũng hình dung được bóng dáng nàng nồng nàn ở một cái xóm kề biển nào đó rất thơ mộng. Anh bị xúc động và phấn khởi cũng bởi cái giọng nàng nhiều hơn là những kỷ niệm mơ hồ, êm ấm xa lơ nào đó. Thỉnh thoảng, qua ánh trăng chiếu xuyên những cành tre thưa, Nhật cố ý nhìn lâu trên nét mặt nàng . Đó là một khuôn mặt đầm ấm, dịu dàng.
Đứng bên này bờ sông nhìn bên kia bờ sông ánh trăng rực rỡ, bằn bặt, mênh mông trên một thảm cây lá màu xanh thẫm, nhung mượt. Rất xa, những túp nhà tranh thấp, lẩn khuất lờ mờ bên những bờ bụi, cây lá vươn cao. Dãy núi tận cuối xóm đen hẳn, như một con vật khổng lồ nằm im lìm, bao quanh cánh đồng, làng mạc. Cơ chợt kéo tay Nhật, chỉ xuống dòng nước lặng lờ, một lớp khói sương phủ kín mờ ảo, vương vắt. Dòng sông lạnh băng. Khói sương phủ nhẹ. Cạnh dòng sông nhuốm màu óng ánh của ánh trăng bạc, bãi cát nổi trắng ngần trông lâu như lớp vải mỏng căng đầy, rung rinh, chuyển động. Gió từ hướng sông thổi hắt hơi nước, mang nỗi vắng tanh của làng xóm hiu quạnh, đem hơi thở của trùng điệp cỏ cây tới, tự dung, cả hai người cùng muốn quay trở lại. Hai bàn tay đã nắm chặt trong nỗi cô độc nghìn trùng này.
Khi đưa Cương vào thành, Cơ vẫn còn thấy mẹ ngồi nhặt bông gòn ra khỏi vỏ dưới ánh đèn dầu dừa lù mù. Nàng hỏi sao mẹ không mang ra giữa sân, có ánh trăng, có mát hơn không. Bà ngước lên nhìn Cơ, ánh mắt sáng dưới ánh đèn đỏ, nụ cười nhẫn nại bao dung, nói ra ngoài lâu, mẹ bị lạnh. Ánh trăng trong, gió rộn rã, cỏ cây vắng vẻ quá, có thể sẽ làm mẹ bị lạnh. Một nỗi lạnh lùng được toát ra từ những nhớ tưởng sum vầy, đoàn viên cũ. Mẹ đã nghĩ gì từng đêm ngồi làm việc lặng lẽ bên ánh đen dầu lù mù, cô độc đó ? Nếu biết được hết những xót xa, ray rứt đã cam chịu trong lòng mẹ, chắc là nàng sẽ buồn lắm.
Cơ ngồi xuống bên cạnh mẹ, ngước nhìn bà, giọng cười trong vắt:
-Con đi chơi trong thành với anh Nhật một chút, nghe má ?
Bà dừng tay làm, quay lại nhìn Nhật mỉm cười :
-Đừng dẫn em đi xa, nghe con ?
-Dạ.
Cơ đứng dậy:
-Con đi quanh quẩn trong thành thôi…
Hai người nắm tay, đi về hướng ngôi chùa cổ. Đó cũng là con đường duy nhất dẫn ra giữa thành, giữa những hàng gòn cao, đơm bông trắng như tuyết. điểm trên những nhánh gòn dài, đen, những trái bông gòn nở trắng trông như một đóa hoa tinh khiết dưới ánh trăng bàng bạc. Ở xa, Nhật đã nhìn thấy dày đặt những trái bông gòn trắng mịn nở đầy cành. Phía dưới, một vùng bao la cây cỏ lấp lánh, một màu tối, êm ả lạnh lùng. Giữ tay Cơ trong tay mình, anh cảm thấy như được chuyền dẫn tới tâm hồn vô vàn niềm vui, và hy vọng. Những niềm vui và hy vọng mà suốt trong tuổi thanh xuân, anh chưa hề bắt gặp, tìm thấy.
Họ bắt đầu đi dưới những hàng gòn cao. Hai chiếc bóng thấp thoáng, nhỏ bé, im lặng như cây cỏ. Ánh trăng dõi theo, soi rọi từng bước chân dè dặt, khép nép. Thỉnh thoảng, gió thổi bay tung mái tóc thả dài, óng ả của Cơ. Nàng đưa tay cuốn lại mớ tóc rối. Nhật nói :
-Em có tưởnng tượng nỗi cũng chính trong ngôi thành này đã có một thời huy hoàng, tấp nập những Chiêm nương lui tới không?
Cơ ngước lên nhìn chậm vào mặt Nhật:
-Bây giờ hoang tàn quá, em khó mơ tưởng được.
Nhật vẫn mắt nhìn mông lung vào cỏ cây, khoảng trống phía trước:
-Anh thì khác, mỗi bận vào thành, anh lại bị cái cô tịch này ám ảnh, nhắc anh tưởng nghĩ tới những lúc trước, thật xa…
-Anh thường nghĩ tới những hình ảnh gì nhất ?
-Anh nghĩ tới một thời xao động, vàng son của một triều đại. Cảnh vua Chiêm xênh xang áo mão, bầy tôi ra vào tấp nhập, và những Chiêm nương xinh đẹp trong những tấm áo màu loạn sắc cười nói ríu rít trong những ngày hội…
Tiếng Cơ cười ròn rã :
-Vậy anh có mê cô nào không?
Nhật đi chậm hẳn lại, hôn nhẹ lên mái tóc ẩm lạnh của Cơ :
-Cái đó thì dĩ nhiên rồi. Anh còn mơ sẽ được cùng một Chiêm nương nào đó đi dạo, vào một đêm trăng tròn, bây giờ thì anh đã toại nguyện rồi…
Cơ cười thầm, cười rúc rích bên Nhật. Ánh trăng chênh chếch ngã về hướng Tây, gió về khuya nghe lạnh thấm thía. Nhật chỉ cho Cơ nhìn thấy cái nền đất cao, nơi đó một dấu tích còn lại, mình tới đó ngồi một lát, rồi về. Và, hai người rẽ vào đám cỏ cao. Cỏ cây dày đặt trên những con đường Chiêm nương đã đi. Cỏ cây mọc hoang vu trên nền xưa là đền đài của một tiểu quốc kiêu hùng nhưng vô cùng lạc lõng, bất hạnh. Cỏ cây rồi sẽ mọc lan tràn, tịch liêu khắp chốn. Ngay bây giờ, lúc này, cỏ cây đã bao phủ bốn bề, tốt xanh trong tâm hồn Nhật.
Cơ ngồi xuống bực thềm, cạnh những ngọn cỏ mướt. Nhật đứng từ nền cao, hướng nhìn về bốn phía: Đông, tây, nam, bắc, tất cả cũng đều bị cỏ cây và nỗi đìu hiu xâm chiếm. Nhật cúi xuống đặt một bàn tay lên vai Cơ. Nàng quay lại, ngước lên. Nhật cúi lên hôn đôi má nàng, hôn lên đôi mắt mở to tròn đen láy, hôn lên nốt ruồi cạnh khóe môi tươi, hôn lên con thỏ hiền hậu, hôn lên người chị bé bỏng rụt rè buổi chiều nào mới gặp. Nhật ngồi xuống, cảm thấy thân thể nhẹ hẫng, ngây ngất…
Trăng mê man, bất tận vẫn còn sáng rực rỡ trong thành Đồ Bàn.

Mang Viên Long

Read Full Post »

« Newer Posts