Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn xuôi’ Category

dinh tấn khương

Nghe kể, ngày xưa vào ngày đầu của năm mới, trong cái khoảnh khắc giao thừa thiêng liêng ấy thì các cụ (ông đồ, thầy đồ, học sĩ..) trịnh trọng nâng bút lông, nắn nót từng chữ, đề thơ, đề văn.. để khai bút đầu năm, mong một năm mới mọi việc được hanh thông.

Ngày nay,  ai muốn khai bút đầu năm cũng được, chúng ta lại may mắn hơn,  chỉ việc chọn  font chữ đã cài sẵn trong computer rồi ung dung mà gõ vào phiếm, chữ nào chữ nấy trông cũng ngay ngắn và đẹp đẽ, không cần phải siết chặt  tay cầm, cho bớt run, không cần phải nắn nót để viết thành  những chữ thật xinh, trông cho có hồn, để mong suốt năm  gặp được mọi điều tốt đẹp.

Chuyện khai bút đầu năm của tôi thì chỉ mới bắt đầu chừng mấy năm trở lại đây thôi. Có lẽ, là để vơi bớt cái thì giờ nhàn rỗi trong mấy ngày nghỉ Tết, chẳng biết làm gì, chỉ lẩn quẩn trong nhà với vợ cùng con mà thôi!.
Bà con, bạn bè gần xa thì đã gọi điện thoại, gởi email, những người ở gần, thân hơn thì chúng tôi cũng đã ghé thăm, chúc Tết trước rồi. Vào nghĩa trang thăm mẹ thì cũng đã hoàn tất luôn!

Không có họ hàng ở gần để lui tới trong ngày đầu năm , bà con ở xa thì nhiều nhưng còn lại tình thân thì rất ít, thế nhưng cũng không dám gọi để chúc Tết, e rằng , đầu năm gặp người kiêng cữ quá mức sợ gây phiền cho họ, bởi vì tuổi của tôi lại có mang chữ “canh” ở phía trước!

Người xưa nói “canh côi”, có người lại nói “canh cô”. Côi có nghĩa là đơn côi, chắc cũng chẳng khác gì với “cô”, có nghĩa là cô độc, cô đơn,  ai đó lại nói với tôi rằng, cô là “cô lập” đấy, chắc cũng không sai!

Thôi thì, mình đã lỡ sinh ra nhằm cái năm “canh” như vậy thì đành phải chịu cái số phần đã được định sẵn, chứ biết làm sao mà cải số cho được!?  Nhưng  cứ mãi van vái, “cô”  gì thì cũng được, miễn đừng phải  bị gọi là “cô hồn” thì mừng lắm rồi!?
Cũng may, tôi có được thêm bạn để chia sẻ, qua việc làm, qua giao tiếp hằng ngày, nơi mình ở,  cũng như các bạn đã gặp trên mạng.. cho nên niềm vui trong cuộc sống cũng tạm ổn, cám ơn các bạn rất nhiều!

Bỏ qua chuyện đó đi, đầu năm, phải nghĩ, phải viết, phải nói cái gì đó cho vui vui, để cả năm được vui, phải không thưa quí vị?
Tạm tin như vậy, tôi xin kể cho các bạn nghe một câu chuyện vui, mà tôi đã đọc được ở đâu đó, bây giờ còn nhớ man mán như sau:

Câu chuyện như vầy, có một gia đình gồm đủ 3 thế hệ, sống chung cùng dưới một mái nhà. Thế hệ thứ nhất, là người mà ngày trước đã đạt tới chức phẩm cao nhờ sở học, thế hệ thứ hai thì sinh ra trong hoàn cảnh không thuận duyên nên không theo đuổi con đường khoa bảng, và thế hệ thứ ba thì có nhiều cơ hội hơn,  đỗ đạt bằng cấp rất cao, có địa vị trong xã hội.

Tiếng đồn về gia đình nầy lan ra khá rộng, chính vì vậy mà thế hệ thứ nhất (ông nội) và thế hệ thứ ba (cháu nội) rất lấy làm không vui về người đàn ông thuộc thế hệ thứ hai (là con của thế hệ thứ nhất và là cha của thế hệ thứ ba).

Thế hệ thứ nhất chì chiết mãi với thế hệ thứ hai:

–         Cả đời mầy chẳng có gì để hảnh diện, mầy không thấy xấu hổ sao!?
Thế hệ thứ ba cũng thường than phiền:

–         Bố chẳng có gì riêng để tự hào, con thấy buồn dùm cho bố!
Chuyện nầy cứ bị nhắc đi nhắc lại nhiều lần, vượt quá mức chịu đựng của người đàn ông thuộc thế hệ thứ hai. Mượn dịp ngày đầu năm, ngày mừng tuổi và chúc Xuân, người đàn ông thế hệ thứ hai thưa với người đàn ông thế hệ thứ nhất rằng:

–         Thưa bố, bố của con là một quan lớn và đứa con trai của con lại có bằng cấp cao. Bố của bố và con trai của bố đâu có được như vậy, phải không?
Rồi ông quay qua người đàn ông thuộc thế hệ thứ ba, nói:

–         Con ơi, bố của bố đạt chức quan lớn, thế mà bố của con đâu có được như vậy, phải không? Vậy thì tại sao lại cứ bảo là không  có gì để hảnh diện với người đời chứ!!??
Câu chuyện nầy cho thấy, đâu phải người không có cơ hội học cao, lại là người  không có quyền hảnh diện với đời!?

******

Xin kể thêm một câu chuyện nữa nhé, chuyện có thật, xảy ra chừng vài năm về trước, cái thời mà phong trào coi phim Hàn đang nở rộ. Phim Hàn nào cũng có nhiều tập, mỗi tập hình như  kéo dài gần như cả tiếng đồng hồ.

Vợ tôi, lúc đó cũng là một fan rất trung thành, mặc dù công việc hằng ngày rất bận rộn. Nghe người ta kháo rằng, coi phim mà không thấy mấy bà rơi lệ thì đó không phải là phim Hàn. Tôi cũng tin như vậy, vì ngân sách gia đình lúc ấy bị hao hụt trầm trọng, bởi số tiền chi tiêu cho khăn giấy tăng vọt thật đáng kể!

Một hộm, ngày nghỉ trong tuần, tôi vừa  trồng xong mấy bụi hoa ngoài sân vườn, bước vô nhà thì thấy vợ tôi đang khóc thút thít, một tay đặt trên ngực trái, tay kia thì cầm miếng khăn giấy chặm chặm hai dòng lệ đang chảy dài trên đôi gò má. Tôi bổng giật nẩy mình, tưởng rằng vợ tôi quá xúc động khi nghe tin không lành từ người thân hay sao. Tính hỏi xem tin xấu gì và của ai thì chợt thấy đôi mắt của vợ tôi cứ dán chặt vào màn ảnh chiếc TV, đang chiếu phim tập Hàn quốc. Lạy Chúa tôi, lòng bổng nhẹ hẳn đi!

Gần tới giờ cơm chiều rồi mà vợ tôi vẫn  cứ ngồi đó mà khóc tức tưởi. Nhắc mấy lần, là con sắp về rồi, chuẩn bị bữa tối là vừa, nhưng vợ tôi nài nỉ cho xem hết tập vì đang hồi gay cấn, thôi thì cũng ráng chìu cho yên. Hết tập đó rồi mà vợ tôi cũng lại xin cho coi thêm một “chút xíu” nữa  thôi, vừa nài nỉ vừa thút thít:

–         Anh giúp nấu hộ dùm nồi cơm, lấy 4 ly gạo đổ vô nồi, vo vài lần rồi đổ nước cho tới ngang cái mức số 4, bấm nút nồi cơm điện nấu dùm em. Tội nghiệp cái đứa con gái nầy quá, cho em coi một chút nữa thôi, thử xem tụi nó có gặp lại nhau không?
–         Trời ơi, chồng em, con em không có cơm ăn mà em không chịu lo, lại ngồi đó mà khóc thương cho mấy đứa đóng phim lấy tiền!?

Nói thì nói vậy chứ tôi cũng đành phải để cho vợ tôi ngồi đó mà khóc, vì nếu không thì chúng tôi phải ăn những chén cơm có trộn  nước mắt thì tội nghiệp quá đi!

Nghĩ đến câu chuyện nầy mà ngẫm lại chuyện đời, có lắm người không thấy gia đình mình khổ cực mà lại đi khóc dùm cho người khác, đang sống sung sướng. Quả thật, người Hàn rất có tài, biết làm cho người ta đổ lệ. Vì thế, mà tôi tin chắc rằng, người dân bắc Hàn đã khóc thật lòng khi lãnh tụ của họ qua đời, như mới đây vậy!

Đầu năm Nhâm Thìn

dinh tấn khương

Read Full Post »

BS  Đổ Hồng Ngọc

 

Chủ nhật 8.1.2012 (rằm tháng Chạp) tuy đang có việc bận ở bệnh viện, tôi cũng ráng thu xếp chạy đến Sông Trăng nơi xunau.org hẹn hò để chào, để thăm và để chúc mừng các bạn trong buổi họp mặt Mừng Xuân sớm. Tôi đọc được thông báo trên mạng, tuy chưa quen ai biết ai trong nhóm mà lòng cũng thấy nôn nao…
Xunau.org ra mắt chưa lâu mà đã tỏ rõ là một trang web văn chương nghệ thuật chửng chạc, dễ thương, đặc trưng của một vùng miền, vốn là một trong những cái nôi của văn học, ở đó mỗi con người, dòng sông, bãi cát, rặng dừa… đều mang hơi hướm văn chương thi phú của một vùng đất văn học, võ học, vùng đất thiêng- cố kinh của một thời xưa nhan sắc. Tôi nói đặc trưng không phải chỉ vì bài vở được chắt chiu, chọn lọc, minh họa sắc sảo mà còn toát ra một nỗi nồng nàn tha thiết hiếm thấy qua những “còm” (comment) với một sắc thái riêng không lẫn vào đâu được. “Còm” này chồng lên “còm” kia, chuyện chung chuyện riêng nhiều khi chẳng ăn nhập gì với nội dung bài viết, xunau.org bỗng trở thành một nơi cho người ta trải những hẹn hò, những hờn dỗi, yêu thương, trách móc, cợt đùa… Ở đâu tìm được một trang web văn chương mà ngộ nghĩnh đến vậy? Không đao to búa lớn, chỉ những ngọt ngào, chua chát, đắng cay, và những yêu thương, da diết, giận hờn… Cái “văn chương chi sự thốn tâm thiên cổ” có vẻ được “chứng minh” rõ nhất ở đây, bởi nó từ tấm lòng đến với tấm lòng, một thứ “trực chỉ chân tâm”…
Nó có cái giọng riêng, tiếng nói, ngôn ngữ không lẫn, mà trước đây có người đã nhận định rằng là bởi nó nằm giữa Hải Vân và Đèo Cả, tạo nên một vũng trũng cho những tâm tình, nên tiếng nói, ngôn ngữ có cái hồn riêng của nó.

(Hàng trên: Hà Thúc Hùng.Vinh Rùa ,Ngô Quang Hiển,Văn Công Mỹ

Hàng dưới:Trần Dzạ Lử,Đổ Hồng Ngọc,Lương Viết Khiêm,Nguyễn Quy}

.
Tôi lớ ngớ đến Sông Trăng, chưa quen biết ai trong nhóm xunau.org, mong gặp chủ nhân hay “chủ xị” gì đó của buổi họp mặt mừng xuân để chào một tiếng, chúc Tết rồi lui. Một người hãy còn trẻ, khá đẹp trai, dong dỏng cao, dáng gầy, thấy kiểu lớ ngớ của tôi nhã nhặn hỏi: Anh kiếm ai? Kiếm Ngô Quang Hiển. Em là Hiển đây. Còn anh là ai? Anh là…Đỗ Hồng Ngọc. Ôi anh Đỗ Hồng Ngọc hả? Anh Đỗ Nghê hả? Rồi Hiển ôm chầm lấy tôi, siết chặt muốn ngộp thở! Không ngờ anh đến. Mừng quá! Mừng quá! Vào đây. Vào đây. Hiển lôi tôi vào. Anh đến thăm chút đi ngay. Không được. Vào đây. Mấy bạn gặp anh mừng lắm đó.
Vẫn biết anh em trong làng xưa nay chưa lần gặp gỡ mà tình đã thâm, như “ từ muôn kiếp trước”, nhưng tôi vẫn bất ngờ và cảm động. Sông Trăng còn vắng. Chỉ có mấy bạn đến sớm, có lẽ trong ban tổ chức. Đây rồi, có Trần Dzạ Lữ, quen lâu! Rồi biết thêm LươngViết Khiêm, Nguyễn Quy, Ngô Đình Hải, Ngô Thành Hùng, Mai Thanh, Lê Đức Vinh, Văn Công Mỹ và một người từ Đà Lạt xuống từ khuya: Hà Thúc Hùng! Khiêm, giọng Huế trân, nói tôi Huế gốc nhưng là thân hữu của xunau.org, đã đọc anh Đỗ Nghê từ thuở Thư cho bé sơ sinh, một bài thơ quá hay, nhớ mãi!  Nguyễn Quy bảo:  “Em là Tú gàn. Ba mươi năm trước, ẳm con lại anh chữa bệnh nên em gọi anh là “bác sĩ của con tôi” trong cái “còm” bài thơ Rùng mình của anh trên xunau”. Các bạn đều nói đọc Rùng mình thấy rùng mình thiệt! Lê Đức Vinh hóa ra là Vinh Rùa. Vinh rùa là “vua rình” đó anh! Vinh tự giới thiệu. Rồi nói thêm: Trần Dzạ Lữ là người ở trần… đi trong đêm. Dzạ Lữ là đi đêm, mà lại ở trần nữa! Tôi hỏi nhỏ Trần Dzạ Lữ: Lúc rầy sao rồi? Còn dang nắng giữ xe đạp nữa không? Không anh. Lúc này tôi toàn ngồi… phòng lạnh! Nhớ xưa Trần Dzạ Lữ ôm một chồng “Hát dạo bên trời” tìm đến bạn bè. Mai Thanh, người đẹp duy nhất đến sớm, là người đang viết luận văn về tạp chí Bách khoa… Văn Công Mỹ nói  ai hỏi em làm gì, em nói em “bán nước” anh ạ. Văn Công Mỹ chính là chủ quán Sông Trăng mà! Mỹ nói thêm: Em mua một lúc 3 cuốn Nghĩ từ trái tim của anh, một cho mình, một cho bà xã còn một cho thằng con trai chưa đầy 30 tuổi.  Nó còn nhỏ, đọc sao được? Tôi hỏi.  Không, nó còn kêu tụi em sao không dẹp tiệm Sông Trăng này đi để mà lo tu tập đó anh ạ. Văn Công Mỹ gọi phu nhân ra giới thiệu, đây là “cook” chính của Sông Trăng đó anh! Bà chủ nồng nhiệt bắt tay mừng rỡ vì cũng đã quen lâu qua Nghĩ từ trái tim! Nhờ đến sớm, tôi được Hiển tặng ngay cuốn Một thời để thương yêu của Mang Viên Long và tập thơ-nhạc của Bùi Chí Vinh, Nguyễn Hiệp, Nguyễn Lâm. Tuyệt vời!…
Tiếc phải về sớm không được gặp thêm các bạn bè khác đông vui của xunau.org trong ngày họp mặt này. Xin hẹn lại một dịp khác.
Phải nói thêm rằng cái duyên đến với xunau.org của tôi là nhờ bài thơ Rùng mình. Vừa xuất hiện trên xunau.org đã có ngay gần 60 cái “còm” của bè bạn, thật bất ngờ!
Bài thơ lại không do tôi gởi – vì trước đó tôi không biết có xunau.org –  mà do Trương Văn Dân, tác giả “Bàn tay nhỏ dưới mưa” – một người xứ nẫu chính hiệu- chọn và gởi đi. Trương Văn Dân cùng với phu nhân là Elana còn nhiệt tình hứa sẽ “rùng mình” để dịch Rùng mình sang tiếng Ý và tiếng Pháp!
Rồi Trần Dzạ Lữ, rồi Mang Viên Long, Cao Quảng Văn, … những người bạn của “những ngày xưa thân ái” đã “còm” trên xunau.org nói Đỗ Hồng Ngọc… chính là Đỗ Nghê, tác giả của Thư cho bé sơ sinh, Lời Ru, Tâm sự Lạc Long Quân… của tập “Tình Người”, của tuyển sinh viên “Tiếng hát những người đi tới”…gần nửa thế kỷ trước! Lâu nay nhiều người đọc thơ Đỗ Hồng Ngọc, tưởng bác sĩ … mà bày đặt đi làm thơ, nhưng khi biết đó là Đỗ Nghê thì hóa ra “nhà thơ” mà bày đặt đi làm… bác sĩ! Lộ tẩy hết trơn.
Cảm ơn các bạn. Cảm ơn xunau.org! Chúc Năm Mới thân tâm an lạc.

Read Full Post »

Ngô Phan Lưu

– Nhớ lại những cái Tết xưa hồi còn thơ ấu mà thèm thuồng. Tuổi thơ ấu nằm bên ngoài lo toan, nhu cầu, dự tính… thế nên đáng yêu làm sao. Cái Tết lúc ấy là một vùng thật sự hạnh phúc trong đời.

1. Nhà văn Pháp Fontenelle (1657 – 1757) thọ 100 tuổi nói rất chí lý rằng: “Đòi được nhiều hạnh phúc là chướng ngại của hạnh phúc”. Quả đúng như vậy. Trẻ thơ không đòi hạnh phúc nên hạnh phúc lại đến chơi chung. Người lớn cứ đòi, nên hạnh phúc lảng tránh biệt tăm. Nhưng lúc này đây, chỉ dành nói riêng về cái Tết, bởi vì lúc này thời điểm là Tết. Không chỉ là Tết mà lại là Tết xưa lúc tôi còn thơ ấu. Quãng thời gian ấy, lòng háo hức đón Tết sôi sục. Tôi cứ mãi hỏi bố mẹ: “Tới Tết chưa?”. Bố mẹ trả lời: “Còn 7 ngày nữa”. 7 ngày mà cứ như dài cả năm. Đấy, lòng tôi đã đầy Tết trước khi gặp Tết.

2. Còn nhớ, ngày cuối năm, mẹ nấu bánh tét. Bánh Tét có hai loại: đòn to và đòn nhỏ. Loại nhỏ để cho trẻ nhỏ. Úi chà, không gì vui sướng bằng, bẻ một nhánh cây quảy gánh hai đòn bánh Tét nhỏ xíu đi chơi cùng tụi bạn trong xóm. Đứa nào cũng mặc đồ mới xúng xa xúng xính, rộng phùng phình (thời ấy, bố mẹ thường may trừ hao để còn lớn), bọn tôi đốt pháo chuột đì đẹt, đùa giỡn, và đói bụng thì bóc bánh tét ra ăn. Bạn nhỏ nhà quê cả, mình mẩy có thể lấm đất cát, nhưng đôi mắt sáng hơn sao, tấm lòng trong hơn nước suối. Chúng tôi đầy ắp tuổi vàng bởi lòng chúng tôi không có vàng ngự trị.

3. Nơi Tết xưa, giờ phút Giao thừa quả thật kỳ lạ trong mắt bọn trẻ chúng tôi. Chúng tôi tin có ông Giao Thừa. Cái ông ấy luôn hào phóng ban phát niềm vui và sự mau lớn. Cái ông ấy vơ vét bệnh đau, buồn phiền cơ cực quẳng tuốt xuống hầm rác.

Tôi hỏi bà nội: “Ông Giao Thừa không mặc quần, phải không nội?”. Bà cốc nhẹ vào đầu tôi: “Cháu lẫn lộn với ông Táo rồi. Ông Táo có áo dài mà không quần. Còn ông Giao Thừa đàng hoàng lắm, đẹp lắm”.

Càng lớn lên, ông Giao Thừa càng mất dần, để bây giờ ông Giao Thừa lại là chính mình còm cõi, niềm vui hiếm hoi như lá mùa Thu. Nay, chính mình phải cật lực vơ vét cơ cực mà quăng xuống hầm rác…

Còn nhớ, lúc Giao thừa ấy, chiếc đồng hồ lên giây cót trong thùng thiếc reo vang. Âm thanh do thùng thiếc khuếch đại thúc giục liên hồi. Đồng hồ reo 11h30 khuya. Tôi dậy súc miệng rửa mặt, tự động thay đồ mới. Đó là bộ đồ bà ba cổ kiềng vải Trăng Đầm sột soạt, bóng láng. Trẻ nhỏ thế hệ tôi thường ít lệ thuộc cha mẹ. Khổ nghèo tập quen tính tự lực từ bé. Đó là một đức tính mà trẻ con bây giờ ít có. Lúc ấy, tôi ra đứng giữa sân chuẩn bị đốt pháo chuột. Lại cũng không hiểu sao, tôi cứ tin rằng tiếng nổ lẹt đẹt của pháo chuột chính là tiếng cười hoành tráng của ông Giao Thừa.

Ừ, tôi đón giây phút của năm mới bằng tiếng cười hoành tráng ấy. Và, trong màn đêm bát ngát, như có một làn gió hiu hiu mát mẻ tràn qua, xuyên suốt con người bé bỏng của tôi.

Trong nhà đã sáng đèn, hương khói nghi ngút. Bố tôi cúng năm mới. Cả nhà đã sẵn sàng tinh thần đón ông Giao Thừa tinh khôi. Và, ngoài sân, tôi châm ngòi pháo chuột…

4. Ông Giao Thừa đã cười một tràng liên tục, bốc khói, thơm mùi diêm sinh. Chuỗi cười như thể chạy dài suốt một năm tương lai, bắt đầu từ giờ phút tuyệt vời ấy. Giờ phút hân hoan mà nghiêm trọng khó quên…

Read Full Post »

Huỳnh Như Phương
Chiều 29 Tết, từ Quảng Ngãi, Trần Nhã Thuỵ nhắn tin cho tôi: “Năm nay thầy ăn Tết ở đâu? Em đưa vợ con về thăm quê. Cuối năm thời tiết đẹp lắm”.
Tôi đang ngồi một mình trong quán cà-phê ven đường sắt ở Phú Nhuận đây, Thuỵ à. Hai mươi lăm năm rồi tôi chưa một lần ăn Tết ở quê mình.

 


Chuyến tàu cuối năm đầy ắp người và hành lý vừa chạy qua. Những hành khách chờ đợi suốt mấy ngày ở ga Hoà Hưng cuối cùng cũng tìm được chỗ ngồi trong toa. Nếu còn trẻ, dù không có vé, chắc tôi cũng xách ba lô nhảy tàu để về được đến nhà trước giờ giao thừa, kịp tắm một nồi nước lá sả tẩy trần đón năm mới.
Nhưng mà bây giờ thì tôi đang chôn chân nơi xa xôi này và mường tượng cảnh quê những ngày cuối năm qua tin nhắn của Thuỵ. Từ xưa đến giờ, cái Tết vẫn được chờ đợi nhất ở nông thôn chứ không phải ở thành phố. Dù người nhà quê ăn Tết chẳng tốn kém là bao, ngày Tết vẫn là thời gian đền bù cho những vất vả và lam lũ cả năm. Ở quê đồng tiền kiếm được rất khó, nên bà con mình thường để đến gần Tết mới móc hầu bao mua sắm. Tấm áo mới mua có khi mãi đến chiều 30 mới giặt sạch lớp hồ, và lòng người nôn nao chờ phơi khô để thay chiếc áo bạc màu năm cũ. Con đường từ nhà Thuỵ dẫn xuống chợ Đồng Cát, vòng vào phía cầu Vĩnh Phú gần nhà tôi, sáng nay chắc đông người và xe, trẻ con tíu tít theo sau quang gánh của các bà các chị. Ngày nhỏ tôi vẫn thường ra chợ, nơi mẹ tôi có một quầy hàng tạp hoá. Sau nhiều năm xa quê, tôi trở về, chợ không thay đổi mấy, vẫn tanh nồng mùi cá tươi, vẫn chen chúc và lầy bùn dưới mưa. Nhưng điều đó lại làm thoả mãn ký ức có phần ích kỷ của tôi.
Hồi xưa, cứ đến rạng sáng 30, xóm tôi lại ồn ã tiếng người ta mổ heo làm cỗ Tết. Những bạn hàng xóm của tôi, nhà đứa nào nuôi được con heo lớn để mổ thịt, thì đắc chí lắm. Lúc đó gia đình tôi khó khăn, lại ít người, nên chỉ có thể đến nhà quen chia lại một xâu thịt, đủ để bà tôi làm nhân gói bánh chưng và món cúng ngày Tết. Chắc Thuỵ đã đọc truyện ngắn Cái bong bóng lợn của Phan Văn Tạo? Đứa bé trong truyện đó ao ước đến sáng 30 được bác nhiêu Cầu giúi cho cái bong bóng lợn, rồi lấy cái xe điếu của bố thổi lên thành quả banh hay bịt lon sữa bò làm ống nghe điện thoại, và cảm nhận nỗi sung sướng vô bờ trong tình thương yêu của gia đình. Tôi là đứa cháu duy nhất sống với ngoại, tình thương không thiếu, nhưng vẫn ghen thầm với bạn bè về nỗi nhà mình không bao giờ mổ heo để có được một cái bong bóng làm đồ chơi.
Có một năm gần Tết, dưới cây rơm ẩm mục sau nhà tôi bỗng dưng mọc đầy nấm, dì Bảy tôi hái hết đợt này thì nấm mọc ra đợt khác, sáng nào cũng bán được bộn tiền, ai cũng bảo đó là điềm may. Bà tôi nuôi được con heo đến ngày xuất chuồng, tôi mừng thầm, chắc năm nay nhà có tiền tiêu Tết, bà không phải bán heo mà mổ thịt, để nhà tôi không bị thua sút với xóm giềng. Nhưng năm đó dì Mười tôi vừa đi lấy chồng, mẹ tôi ở trong tù đến Tết vẫn không được thả ra, sáng 30 mà nhà tôi vắng vẻ đìu hiu giữa khung cảnh rộn ràng của cả xóm.
Làm lơ tiếng pháo chuột lẹt đẹt của mấy đứa bạn muốn nhắn nhe rủ đi chơi, tôi giúp bà ngoại lau chùi bàn thờ, cắm hoa và chưng trái cây cúng tổ tiên. Bà tôi thắp hương khấn vái thật lâu, tôi đoán chừng bà đang mời linh hồn ông tôi mà thân xác gửi ở tận miền Bắc xa xôi về ăn Tết với gia đình và nguyện cầu cho ngày hoà bình mau tới gần, để các con bà từ bốn phương trời được quay về đoàn tụ dưới mái nhà này. Khi hương tàn, tôi bước ra khu vườn nở đầy hoa vạn thọ, thì mưa xuân đã lắc rắc trên đầu.
Năm nay tiết lập xuân bắt đầu vào ngày 28 tháng chạp, ngoài mình trời đã mưa xuân chưa, hả Thuỵ? Dưới mưa xuân, cảnh và người đều tươi nhuận lại. Thuỵ hãy đi giùm tôi vô thôn 5, đến ngã tư đường xuống Quýt Lâm, ăn một tô bún bò thật nóng và thật cay trong cái quán ven đường đó. Thuỵ sẽ nhìn thấy ngôi trường tiểu học của tôi, giờ đã khuất sau những dãy nhà mới xây. Không chừng Thuỵ sẽ gặp một tốp học trò đi chúc Tết thầy. Thuỵ sẽ sống lại tuổi thơ mình cùng đám trẻ con vui cười ấy.
Chúng ta còn một món nợ lớn với quê nhà. Thuỵ có để ý là hoà bình đã hơn 30 năm mà ở thị trấn huyện lỵ của mình vẫn chưa có một thư viện đàng hoàng, thậm chí không tìm đâu ra một hiệu sách có bán sách văn học. Học trò bây giờ chẳng khác chúng mình ngày xưa, muốn tìm sách đọc phải đi ra thành phố. Tôi đang nóng lòng chờ cuốn sách của Cao Chư viết về Mộ Đức được xuất bản; và tôi cũng rất mong đọc một tác phẩm mới của Thuỵ với những chất liệu từ mảnh đất đã nuôi nấng chúng mình từ thuở ấu thơ mà lòng mình luôn chịu ơn sâu nặng. 

 

Read Full Post »

Huỳnh Kim Bửu

Tôi xa quê đã lâu, ăn Tết quê người đã bao nhiêu cái Tết, nhưng không quên được Tết quê nhà thuở tôi còn thơ.
Mới đầu tháng Chạp, các chợ Gò Chàm, Đập Đá, Cảnh Hàng…đã nhộn nhịp cảnh mua bán những mặt hàng ngày Tết: Vải vóc, quần áo, gạo nếp, dụng cụ gia đình… Từ ngày 22 trở đi, chợ còn nhóm đêm nữa. Tôi mừng lắm mỗi khi được mẹ dẫn đi chợ Tết. Thế nào tôi cũng vòi vĩnh mẹ mua cho được, khi thì con gà cồ đất, khi thì anh giã gạo bằng gỗ, cái trống rung bịt giấy bóng…Đem về nhà, tôi chơi với những đồ chơi ấy không chán, tôi thúc dậy sớm để gáy con gà cồ đất lúc sáng sớm, rồi đi học. Và còn đem đi khoe với lũ đồng trang lứa trong xóm.
Mấy ngày trước Tết, nhà nào cũng lo trang trí nhà cửa, lau chùi bàn thờ gia tiên, tham gia tổng vệ sinh đường làng ngõ xóm. Các cái hàng rào xanh được cắt ngay ngắn. Nhiều nhà trồng trụ đèn trái ấu, cây nêu cao ở trước sân, dán câu đối Tết ở hai trụ ngõ. Các chợ chỉ bán hoa giấy ngũ sắc cắt thủ công, dán vào cọng thép hoặc thanh tre chuốt mảnh tạo thành cành huệ, cành cúc, cành mai…được nhiều người mua, bảo là về chơi cho bền. Nhiều nhà trồng cúc, thược dược, vạn thọ…hoa nở khoe sắc khoe hương như một báo hiệu Xuân sang,
Mỗi năm, mỗi Tết qua đi, tuổi tôi mỗi lớn khôn. Mỗi lần sắp đến Tết, tôi thấy người ta ra chợ, mua những tấm bức đại tự viết chữ Phước hoặc Thọ hoặc chữ Thái Sơn hoặc Càn Khôn về treo trên bàn thờ ông bà. Các thầy đồ ngồi viết bức thờ khăn đen, áo dài đĩnh đạc, chữ viết như “Phượng múa rồng bay”. Mà khách mua cũng là những người đàn ông thành tâm, lịch sự, bà ba trắng guốc mộc, thưa gởi rất lễ phép với thầy đồ.
Không ít nhà treo tranh Tết mua ở các hiệu tàu trên Bình Định, Đập Đá… Tranh Đông Hồ Húng dừa, Đám cưới chuột, Đàn gà mẹ con… kén người mua. Người ta mua tranh ”Tứ bình” in mộc bản Mai – Lan – Cúc – Trúc, Bát Tiên, Mục Kiền Liên, Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Quốc Toản…Mẹ đi chợ Phú Đa mua về một bộ tranh Phũ Đỗng Thiên Vương đuổi giặc An treo ở phòng khách.  Đi học về thấy tranh, tôi và thằng Út dán mắt vào xem. Thấy thế, đến tối mẹ giảng sự tích Tháng Gióng cho nghe, để tôi nhớ suốt dời.
Tôi cảm thấy hạnh phúc gia đình ở đêm 30 Tết: Gia đình tôi đoàn tụ và cả nhà thức để đón giao thừa. Ba làm cai lục lộ, quanh năm đi làm xa nhà,  chị Hai buôn bán với các cô gái hái chè ở đồn điền chè Bàu Cạn, đến chiều 30 Tết mới lục tục về để cho mẹ trông đợi. Nhà trên, Ba đã thắp đèn nến sáng choang và báo cho chúng tôi giao thừa đã đến. Lòng tôi bồi hồi cảm động vì thấy bao điều thiêng liêng ở phút giây này. Gương mặt của mọi người trong nhà đều tươi vui. Mẹ đi thăm nồi bánh tét còn chị Hai thì ngồi tỉa tót những bánh hoa qủa: Mãn cầu, chanh, ớt…bằng bột nếp nhuộm màu, trông giống như thật. Sáng Mồng một, mẹ dặn mọi người phải tử tế với nhau để cho cả năm gặp toàn chuyện vui. Tôi và thằng Ut, nhỏ nhất nhà, nghe mẹ nói thế, mừng lắm. Chị Hai dẫn tôi và thằng Ut Nhàn ra đường làng, chị bảo là đi xuất hành. Có đông người đi xuất hành như chị em chúng tôi. “Chi cha chi chát khua giày dép” (TTX) và lược là phấn son làm rộn lên âm thanh và sắc màu con đường làng sáng Mồng Một Tết.
Mấy ngày Tết, các đình làng ở trong vùng đều có tổ chức các trò chơi: Đánh bài chòi, đánh đu, đập ấm, bịt mắt bắt dê…Người trong làng ra xem. Chàng trai cô gái làng nọ sang làng kia xem như thể vừa du xuân vừa giao duyên để sau đó đã có bao ”chuyện tình”:
Trai Thuận Thái nhớ gái Kim Tài
Trách con sông Gò Chàm nó chảy, rẽ hai chúng mình.
(Ca dao)
Đình Trung Lý, đình Tân Dân, chùa Ông trong thành Bình Định, Tết nào cũng xổ cổ nhân. Cổ nhân là một trò chơi đòi hỏi kiến thức, là dịp cho mấy thầy đồ ngồi sẵn hè phố bàn ”thai” ăn tiền. Đánh cờ người thì hay tổ chức ở Cảnh Hàng, Háo Lễ… Những nhà có học thức: Thư sinh, hàn sĩ, thầy đồ, tú, cử…thường lấy việc ”khai bút” đầu xuân làm thú tao nhã theo tinh thần:
Chẳng hay ho cũng đỗ Tú tài
Ngày Tết đến cũng một vài câu đối  (Trần Tế Xương)
Đến đêm Rằm tháng Giêng thì mọi người tụ hôi về nhà ông Cử Nhì ở Thuận Thái để ”trình làng” những bài thơ khai bút đó. Thật là một cuộc uống rượu ngâm thơ dưới vầng trăng Nguyên tiêu đầy thi hứng.
Từ mồng Năm trở đi diễn ra nhiều lễ hội ở các đình chùa: Vía Chùa Ông Bình Định 12, chùa Bà Liêm Lợi 17, Tổ nghề dệt Chùa Kén – Phương Danh 21, Thành Hoàng của các làng thì lần lượt mỗi làng một ngày…Các lễ hội có cúng tế, hát bội, náo nức lắm, người xem đến mỏi mắt mà không chán. Đặc biệt, lễ hội Đống Đa, kỷ niệm trận đại thắng của anh hùng dân tộc Quang Trung, ngày mồng Năm Tết, là lớn nhất. Người đi trẩy hội, từ  các nơi đổ về Điện Tây Sơn (Nay là Bảo tàng Vua Quang Trung) như nước chảy.
Đã gọi là ăn Tết, cho nên Tết phải có ăn:
Chẳng phong lưu cũng ba ngày Tết
Keo kiết như ai cũng rượu chè (Trần Tế Xương)
Mấy ngày Tết, khi thì ba mẹ dẫn, khi anh chị cho đi theo, tôi được đi thăm Xuân, mừng tuổi, chúc Tết nhiều nhà trong dòng họ, bà con. Đi đến đâu, tôi cũng được tiền mừng tuổi, ăn bánh trái. Người lớn nói với nhau những câu chúc tụng, ăn uống nhiều rượu thịt.Trong làng, có nhà Phú ông và mấy người Chức việc có phúc lộc, được tá điền, thuộc cấp đi Tết gạo nếp, gà vịt, bánh trái, trà rượu…để chật nhà, ăn Tết to lắm. Tôi nhớ món ngon ngày Tết của quê tôi: nem chua, chả lụa, thịt thưng, thịt bì…Thứ nhất, nhớ bánh tét của mẹ làm. Mới đến ngày đưa ông Táo về Trời, 23 tháng Chạp, mẹ đã lo chọn nếp ngon, đậu xanh đều hột, đặt phần thịt heo đậu tay… Mẹ bảo đâu đó cho sẵn  để đến sáng ngày 30 dậy sơm  gói bánh và nấu cho kịp đến giao thừa thì bánh chín. Bánh tét của mẹ nấu chín rồi, lột lớp lá chuối thấy cây bánh xanh, tét ra mặt miếng bánh mịn, nhân bánh ở giữa, phảng phất mùi thơm ngon. Ăn với thịt bì hay thịt heo phay, dưa kiệu …đều ngon. Có lần ngồi ăn bánh tét với cả nhà, anh Ba đố: Trong trắng ngoài xanh trỉa đỗ trồng hành, thả heo vô chạy. Đố là cái gì? Tôi nghĩ một thoáng, đáp: -Bánh tét. Anh Ba khen tôi thông minh cho tôi vui, chớ câu đố đó dễ ợt. Tôi nhớ mâm cơm ngày Tết, mẹ dọn lên bữa nào cũng tinh tươm: Đủ thứ thịt (kho tàu,thưng, bì) bánh tráng, dưa kiệu, dưa leo, nhiều bữa có nem chả…Ba tôi vừa ăn vừa uống. Ba tôi bảo một năm được uống rượu Bàu Đá mấy ngày Tết, ở quê người nhớ bao món ngon của quê hương.

H.K.B.

Read Full Post »

Tạp Bút
Mang Viên Long

Dường như từ khi bước qua khỏi tuổi 60, người ta thường có nhiều thời gian hơn cho những giờ phút “ ngồi mà nhớ lại “? Ngồi yên một mình trong vườn, hay bên hiên vắng vào buổi sớm mai mặt trời chưa  sáng rõ hay khi chiều tà còn vướng vất chút nắng hanh vàng góc cuối chân trời phía xa, để tỉnh giác mà nhớ lại bao chuyện dã qua trong ngày, trong đời – như một cái thú luôn hấp dẫn và mời gọi cho tuổi già?
Những ngày gần cuối năm – tôi thường thức dậy sớm hơn, cảm thấy lòng thư thái và bình lặng hơn khi ra ngồi ở chiếc ghế mây cũ dưới gốc cây hoa sữa bên hiên nhà. Nhín ngó trời đất êm ả một mầu  nắng rất mỏng, rất tươi của  mùa xuân đang khẻ khàng bước đến…để đón đợi một ngày mới! Phút giây lặng lẽ trải lòng cùng trời xanh, đất rông- và thiên nhiên hiền dịu tươi mát ấy đã cho tôi một ngày an vui với bao công việc cuối năm đang chờ đợi …
Có thể cái giá lạnh và ẩm ướt của những cơn mưa dầm, những ngày gió giật bão dông đang lùi xa, nhường lại cho cái nắng ấm, gió hiền của mừa xuân đang lướt đến đã làm cho lòng ta nhẹ bớt đi bao nỗi lo toan, bao điều trăn trở như bầu trời dổi thay trong trẻo và thênh thang trên cao kia chăng? Mùa xuân với cỏ cây hoa lá trổi dậy sức sống xanh tươi dường như cũng đã chuyễn hóa được bao tâm hồn u buồn, bao cảnh đời bất hạnh vươn lên một năng lực tiềm ẩn về một tương lai mới mẻ, an lành hơn cho đời mình!? Tôi chợt nhớ câu thơ của Tống Anh Nghị đã ám ảnh tôi từ nhiều năm nay – nhất là mỗi khi xuân về: “  Mỗi lần xuân, đời tôi – tôi lại bắt đầu…” . Mỗi lần hết năm cũ- mỗi lần  sang xuân mới – cũng chính là mỗi lần tâm hôn ta bước sang một trang đời khác với bao ước mơ & hy vọng? Tâm hồn ta như cũng nảy mầm, trổ nụ cùng với sự đổi thay mầu nhiệm của đát trời ? Có lẽ nhà thơ đã “ bắt gặp “ ý tưởng ấy khi “ ngồi mà nhớ lại”  vào mỗi lúc xuân về?
Dù cho sống trong bất cứ  hoàn cảnh riêng lẻ nào, sa chân lỡ bước vào tình huống bi đát nảo – thì mùa xuân bao giờ cũng an nhiên và công bình mang lại cho tất cả lóng khát khao thương yêu, nỗi mong chờ hy vọng cho tháng ngày dài sắp trôi qua đời mình tựa đôi bàn tay mầu nhiệm của Mẹ hiền xoa dịu bớt những vết thương đau. Bởi vậy – mùa xuân còn là mùa thiêng liêng của những lời nguyện cầu, của khát vọng,  thương yêu dành cho tất cả!
Hơn 60 mùa xuân đã lướt qua đời mình – tôi chiêm nghiệm được rằng: “ Mùa xuân luôn thủy chung với những tấm lòng thành, luôn sẻ chia với bao cuộc đời trong sáng, và cũng mãi mãi là tia nắng ấm cho nỗi khát vọng vị tha dựng xây cuộc sống !”.  Tôi luôn tự nhủ: Hãy bắt đầu mùa xuân từ tâm hồn mình trước khi đón chờ mùa xuân của đất trời chuyễn đến…Và hãy ưu tiên dành thời gian cho Tình Thương Yêu, bởi đó chính là thời gian quý báu nhất của đời sống!
Tôi vẫn thường thức giấc vào khoảng 4 giờ sáng – thói quen nầy đã có từ lúc nào tôi không để ý, nhưng tôi không thể làm khác! Hôm nay, không biết sao – tôi lại thức dậy sớm hơn, bật chiếc điện thoại để ở đầu giường thấy mới chỉ được 2 giò 12.  Tôi nhớ đêm qua, tôi ngủ sớm hơn lệ thườg – một giấc ngủ quên bất chợt, cứ chìm dần vào giấc ngủ mê đến nổi chưa kịp móc mùng như thường đêm…Tôi chợt nhớ, từ ngày đất trời chuyễn tiết xuân – mùa xuân đã gọi tôi thức dây sớm chăng?
Nằm yên – cố dỗ thêm giấc ngủ, nhưng không thể được. Tôi vẫn thường dỗ giấc ngủ bằng thầm niệm hồng danh chư Phật, chư Bồ Tát miên mật, nhưng sáng nay – tôi lại tỉnh táo, không thể dễ dàng chợp mắt trở lại thêm chút nào?
Tôi quyết định xuống giường khi trời còn mập mờ ánh sáng – phía ngoài khung cửa sổ là một mầu xám  và lạnh lẽo. Hình như đang có sương mù…Tôi khẻ khàng xuống gác, mở cửa, bước ra hiên: Khu chợ phía trước nhập nhoạng bóng người, từng bóng người di chuyễn thầm lặng, và có trên 10 chiếc xe honda kềnh càng bao giỏ chất đầy, cao lêu nghêu phía sau, chờ rời khu chợ tản về các miền quê mang theo hàng hóa rau quả cho các phiên chợ cuối năm hối hả…
Ngồi vào chiếc ghế dựa bên hiên nhà, dưới gốc cây hoa sữa – trong nỗi yên bình trống vắng của tâm hồn và cảnh vật buổi sáng ngày vào xuân – tôi nhớ đến buổi sáng của ngày 27 tháng Chạp cách nay gần 60 năm…
Mấy ngày trước trời mưa bay bay, khu chợ trong cảnh chiến tranh hoang tàn xám xịt – một mầu trống vắng, hiu quạnh. Mực nước sông phía sau nhà tôi vẫn còn đầy, con nước lũ của mùa mưa bão vẫn cuồn cuộn suốt ngày đêm.  Khoảng hai giờ sáng ngày 27 tháng Chạp năm ấy ( 1952 ) – người giúp việc cho gia đình có nhiệm vụ chăm sóc riêng cho mẹ tôi nơi căn nhà nhỏ đưới phố đã đập cửa gọi anh tôi – báo tin : “ Cậu ơi! Mẹ cậu đã chết rồi! “.  Người anh cả của tôi mở tung cửa, vội vàng khoát tấm áo tơi lá kè, chỉ kịp quay lại nhìn hai chị em tôi đang từ trong bồ lúa đã leo ra đứng co ro bên cạnh – ấm  ức khóc : “ Má đã chết rồi! Hai đứa ở nhà ngủ đi! Trời lạnh, còn sớm lắm… “
Mấy ngày sau, hình như đúng vào sáng ngày Mồng Một Tết – tôi đã đọc được câu này trên vách tường nhà của anh tôi viết bằng than: “Kể từ 2 giờ sáng ngày 27 tháng Chạp âl 1952, tôi mãi mãi không còn thấy hình bóng mẹ tôi nữa! ”. Cũng như anh tôi – hai chị em tôi đã mất Mẹ từ năm ấy – năm chị tôi được 12 tuổi. còn  tôi vừa tròn 8 tuổi!
Cho đến buổi sáng hôm nay – ngày 27 tháng Chạp năm 2012 – tôi đã bước vào tuổi 68 – nghĩa là, tôi đã xa mẹ tôi gần 60 năm! Sáu mươi năm, hơn nửa thế kỷ – tôi đã phải sống không cha mẹ ( cha tôi đã chết khi tôi còn là một bào thai 6 tháng trong bụng mẹ ) – nhớ sao hết bao nỗi khổ đau, phiền lụy của một kiếp sống như một thân cây giữa khu rừng hoang cô tịch? Vậy mà tôi đã sống. Đã lớn lên. Bằng đôi chân & tâm hồn & trí tuệ của mình để không lãng phí một kiếp làm người khó khăn bao nỗi mới thành tựu!
Sáng nay – sau gần 60 năm, cũng nơi khu phố chợ này- cũng tại căn nhà cũ thuở xưa – trời không mưa bay, chí có sương mù nhẹ. Con phố rộng đang thức dậy – để bắt đầu một ngày vào xuân nhộn nhịp. Phía đông, ráng mây đỏ hồng, hứa hẹn một ngày nắng dẹp. Mùa Xuân hôm nay khác mùa Xuân 60 năm trước. Cảnh vật đã muôn vàn đổi thay – khác lạ, nhưng lòng tôi, vẫn một mầu buồn thương nhớ! Vẫn cô độc trong đời sỗng bất hạnh. Vẫn ngơ ngác trước cuộc truân chuyên của đời người, đời mình như cách nay gần 60 năm…
Tôi ngồi lặng yên nhớ Mẹ – nhưng tôi không còn giữ được chút gì của mẹ bên cạnh đời tôi: Chưa được một lần hôn lên đôi má của mẹ để có thể nhớ ( dầu ngày nào bà cũng cho gọi tôi vào hôn lên trán bà), chưa được một lần cầm lấy tay mẹ âu yếm để nhìn ngắm, cho đến chưa nói được cùng mẹ một lời nào thốt lên tự đáy lòng thương yêu của mình! ( cho dầu từ khi biết nói mẹ đã tập cho nói nhiều câu…). Tôi chưa làm được chút gì cho mẹ, ngoài nhận của mẹ bao biết bao tình thương yêu, sự chăm sóc, và nuông chiều hết mực dành cho đứa con trai út xấu số!
Mẹ có thể ngờ rằng, gần 60 năm sau ngày mẹ đã đi xa – đứa con 8 tuổi ngày nào chỉ biết rong chơi – bây giờ đã trưởng thành. Là cha của bồn đứa con đã tốt nghiệp đại hoc và chúng đang sống có ích.  Là ông ngoại của 5 dúa cháu. sắp sửa được làm  ông nội… Đang ngồi đón xuân – nhớ mẹ mà không cầm được những giọt nước mắt thương nhớ ngậm ngùi?
Một ngày xuân mới đang đến kia rồi – mặt trời đã bắt đầu rực rỡ ráng mây sắc hồng phía đông. Tôi đốt thêm một điếu thuốc, và mỉm cười, đứng dậy…

Những Ngày Vào Xuân Nhâm Thìn

Read Full Post »

Má và chợ Chạp

NGUYỄN MỸ NỮ

Má nói ở ngoài quê, chợ quán cách nhà dăm ba cây số là bình thường. Đã vậy, chợ nhóm theo phiên và ai cũng biết, cũng nhớ. Nên chừng cần bán, mua hay nhà có công chuyện là cứ theo đó mà cắp rổ đi. Không phải hồi tết nhất, giỗ quẩy thì cũng mua chút đỉnh đồ dùng trong nhà như bút vở cho con cháu, cái tim đèn, đôi dép… thêm ít đồ ăn. Nhiều khi, vườn nhà có mớ ớt, luống rau, buồng chuối, dăm trái đu đủ, vài cái mướp hương… cũng đem ra chợ bán.

Người nhà quê khổ trăm bề. Khổ từ hồi xới đất vun luống hoa màu cho tới hồi ươm trồng, tưới tắm, chăm chút, được thứ nào ngon lành màu mỡ thì đem bán. Còn mấy thứ eo sèo, xấu xí thì để nhà ăn. Má nói vô trong thành phố, sống không đất, không sân trước, vườn sau vậy mà thiệt hay. Cứ cái thứ nào ngon là mình được hưởng. Rồi, một thành phố có tới mấy cái chợ, ngày nào cũng nhóm.

Má rất thích đi chợ. Ngày thường má đi chợ đã mấy lần huống hồ khi gần Tết. Má mới đem cá về dặn tôi nấu canh và kho. Nghe tôi hỏi: “Đồ nấu chua đâu, má?”. Miệng à quên và chân má quay lại chợ tức thì. Rồi nửa người đã bước vô nhà mới hay chưa mua ớt, lại đảo ra chợ ngay. Gần tới Tết khi đang chạp, má đi chợ ngày không biết bao lần mà kể. Má phải đi nhiều hơn ngày thường gấp nhiều lần, để sắm sanh cho gia đình, để lo mua đồ biếu tết.

Tháng Chạp, má đi chợ muốn say. Đi rồi về nhà ngồi tính toán. Đường cho ai, bột ngọt cho ai, rồi chai dầu ăn, ràng bánh tráng… Má đi chợ từ đầu tháng cho tới chạng vạng chiều ba mươi. Chạp, tôi có cảm giác má đi rũ cả chân. Thằng Út hay chọc “Đồ má đi cho “mỏng cơm” quá mà cứ cho hoài. Tết nào cũng cho…”. Má la “Đồ tao cho mỏng mà tấm lòng tao dày thôi chứ!”.

Chạp hồi trước, má đi chợ nhiều hơn tôi là cái chắc rồi. Nhiều lắm! Rồi ít dần, ít dần và thôi hẳn. Không đi chợ được, tới tháng Chạp, ngó má bần thần… Má chỉ còn biết nhắc con dâu mua sắm thứ này, thứ khác. Nhưng giờ má chỉ nhắc con dâu mua đồ cho nhà dùng chứ không hề nhắc mua đồ đi cho. Rồi, má có thêm niềm vui là chờ con dâu đi chợ Chạp về, để hỏi thăm.

Năm ngoái, miền trung tơi tả theo bão theo lụt. Nhìn con dâu xắn quần lội nước trùm áo lướt thướt ở chợ về, má thở dài khan. Hỏi mưa vầy “nẫu” mua bán chắc ế ẩm há con? Hỏi chứ mấy người bán đồ trưng tết, ngồi thông thốc giữa trời. Không sạp không mái chắc ướt hết há con? Rồi hỏi cái bà già đổ bánh thuẩn gần hàng cá, con hay kể đó, lạnh lẽo vầy có đi bán được không? Má hỏi. Con trả lời. Nghe trong giọng hỏi và giọng đáp có quá nhiều âm chùng đục, nghèn nghẹn.

Và, tôi lặng người nhận ra cả má lẫn tôi đều rất ghiền chợ Chạp. Chợ. Vẫn chợ. Tôi thường đi. Nhưng Chạp trước, rồi là Chạp này, nghe lòng rưng rức. Bước chân giữa chợ lựng chựng và mắt cay xè. Giờ, chợ Chạp, những háo hức cũ đã đi đâu hết. Bởi, không còn nữa một người luôn chờ mình đi chợ về để hỏi đủ thứ chuyện trần ai trong chợ

Read Full Post »

Bức tranh vẽ mặt trời

Diệu Thảo

Bức tranh "Ấn tượng mặt trời mọc" của Monet,

Mặt trời đi lạc

Ngoài khoản tiền tiết kiệm trong tài khoản, tòa biệt thự này là tài sản cuối cùng hai người để lại cho An. Còn cô, họ để lại cho ai?
Người họa sỹ già đón An ngay đầu con dốc. Trông nom ngôi biệt thự này từ lúc An còn là một cô bé con kiễng chân vẽ ông mặt trời trên bức tường gạch sau nhà, ông không khỏi nhói lòng trước một biến cố quá đau lòng và một sự thật quá lớn như thế. Ông biết nó đã vượt ngưỡng chịu đựng của An.
Hai hàng cây nối dài từ cửa sổ phòng An ra xưởng vẽ cuối vườn đã nở đầy hoa. Tím và trắng. Hai hàng cây đi bên cô cả đoạn đường dài. Màu tím. Hình như đâu đó trên thế giới, màu tím là màu của tang tóc. Có thời cô đã nắm tay mẹ hỏi màu hồng là màu gì, màu hồng là màu đám cưới, màu tím là gì. Cô còn nhớ mẹ đã bảo thế. Màu tím là màu đám ma. Có phải cô đang đưa tang cho tuổi 20 của mình không? Ngày cô đi, ngoại còm cõi đứng nhìn theo, già nua cả con đường phía trước. Cô biết mình chẳng thể làm ngoại cằn cỗi thêm. Quyết định lên đây ít ra cũng làm yên lòng ngoại.
Xưởng vẽ nâu cũ với những ô cửa sổ mở toang không có chấn song làm cô khẽ co người lại khi bị bủa vây bởi ánh sáng và những đợt gió lùa vào. Chiếc áo len mỏng không thể làm nơi trú ngụ an toàn để có thể rụt cổ vào, An đưa tay lên quấn lại khăn quàng cổ. Vô tình, hai chiếc vòng nhựa va vào nhau tạo ra một âm thanh trầm đục làm người con trai khẽ quay lại. Đó là Huy, học trò của người nghệ sỹ già trông nom vườn tược. Cô thích nụ cười của Huy. Trong những kỳ nghỉ cùng ba mẹ, An từng vài lần đi dạo với Huy, làm mẫu cho Huy vẽ, hay chỉ đơn giản là mỉm cười đáp lại nụ cười mặt trời của anh. Huy gắn với con đường hoa dẫn từ phòng cô lên xưởng vẽ cũng như ông họa sỹ già gắn với ngôi biệt thự. Nhưng tất cả dường như chỉ có thế. Hạt mầm không đủ điều kiện để nảy mầm thành một cái cây tươi tốt, nói gì đến việc đơm hoa kết quả. Cô đối diện với Huy một cách khó khăn bằng đôi mắt mở to, đen thẫm. Huy không dám nhìn sâu vào đôi mắt An, chỉ muốn ôm lấy bờ vai gầy guộc ấy mà truyền hết hơi ấm của mình sang.
Thầy kể, như những mẩu vụn của ký ức.
-Ngày đó… Ông chủ không thể có con… Con bé về đây lúc chập chững tập đứng.
-Công ty gặp sự cố… Ông bà ấy sắp xếp cho An một một con đường ổn thỏa. Còn cả cuộc đời dài… Đâu thể làm nhàu nhĩ. Mọi việc xảy ra quá đột ngột.

Câu chuyện dài

Cả năm trời theo dõi dự án biệt thự trên này, đi đi về về Đà Lạt- Sài Gòn, Huy chuyển qua ở với thầy cho đỡ buồn. Cái lạnh xứ này làm người ta khó sống một mình. Hơn nữa, những lời khuyên của một người dày dạn kinh nghiệm trong nghề như thầy cũng giúp anh sáng suốt hơn. Khu vườn, xưởng vẽ, tòa biệt thự còn là nơi có hình ảnh một người, người con gái trong khung cửa sổ xòe tay ra đón lấy những chùm hoa rơi. Đó là một ngày mùa đông đầy nắng.
Một năm học thầy để luyện thi cộng với năm cái đồ án nhân cho năm năm đại học đủ để anh hiểu, thương và gắn bó với thầy như một người thân thuộc. Ngày còn ở trường Đại học, tuần đồ án nào Huy cũng lên thầy. Ấm trà nóng, bóng thầy lui cui chăm chút khu vườn cùng những con đường hoa và những ngôi nhà xinh xắn của nơi này bao giờ cũng giúp anh hoàn thành đồ án theo cách nhẹ nhàng nhất. Huy là một trong số rất ít những sinh viên có đồ án đạt điểm cao mà không phải ấm ức vì : “chỉ làm theo ý thầy cô mới được chừng đó điểm.” Với anh, thầy còn hơn cả một người thầy, một người cha, một người bạn. Thầy hiểu anh như hiểu thấu đứa con trai nhỏ mình sinh ra. Còn Huy, anh chỉ biết về thầy qua những hiểu biết góp nhặt từ những thói quen, những lời khuyên, những tình cảm mà thầy dành cho anh, Huy chỉ có được một chân dung thầy của hôm nay. Huy là đứa học trò cuối cùng trong số những đứa học trò ít ỏi của thầy.
-Thầy muốn giữ lại chút gì đó cho riêng mình con à.
Có lần thầy nói với Huy như vậy.
Khoản tiền bán tranh ít ỏi cộng với khoản tiền công chăm sóc nhà vườn cũng đủ để thầy sống qua ngày. Không vợ con, không nhà cửa. Huy không biết thầy đã ở đây từ khi nào. Vừa gần gụi, vừa xa cách, Huy chưa bao giờ dám vượt qua cái khoảng mong manh còn lại để đi vào đời thầy. Có lẽ đó là một câu chuyện dài.

Nàng công chúa sau khung tranh

Những lúc không lên công trình, Huy thường vẽ. Khung cửa sổ nhìn ra con đường hoa lúc nào cũng có bóng dáng An. Những lớp áo len, chiếc váy dài và chiếc khăn quàng cổ to sụ không che được sự gầy guộc. Hai chiếc vòng nhựa to bản trôi tụt xuống gần giữa bàn tay và chiếc lắc bạc nhỏ xíu đeo ở cổ chân làm Hân càng trở nên bé nhỏ giữa lớp quần áo dày cộm. Giữa buổi chiều muộn nắng tắt, Huy chưa thấy hình ảnh nào buồn hơn thế.
An chưa bao giờ ngước nhìn lên để những bức tranh có một bố cục khác. Cô cứ đi vô định như thế đến khi nào không đi nổi nữa thì ngồi xuống thềm gạch lạnh giá. Có lúc An cảm thấy như mình đang đông cứng lại. Cuộc sống ngừng trôi trong tòa lâu đài của nàng công chúa bị bỏ quên. Giấc ngủ không đến nữa, An mộng mị trôi vào những cơn mơ đứt quãng và đổ nát.

Những bức tranh kỳ lạ

Sau lần gặp Huy, đây là lần thứ hai An lên lại xưởng vẽ. Ông già bảo An lên đây vẽ.
-Vẽ đi. Cọ, màu và giấy vẽ ta để sẵn trên ấy hết rồi. Con lên đó đi.
An im lặng cúi đầu. Cô không biết vẽ. Dù đã bao lần ước ao được tung tẩy những cây cọ màu, Hân vẫn bất lực nhìn chúng rơi ngổn ngang trên sàn. Có lẽ bức tranh duy nhất mà An vẽ được là bức tranh một ngôi nhà ngói đỏ có hàng rào gỗ trắng bao quanh, ông mặt trời đỏ chói trên mái nhà với những tia nắng màu vàng, được vẽ bằng cây màu gỗ ngòi cứng ba mua ngày đầu năm mẫu giáo. Bên cạnh nhà là một cái cây thẳng đứng với tán lá hình tròn có những chấm vàng li ti. Đó là bức tranh An đã vẽ đi vẽ lại suốt những năm tiểu học. Không phải là tòa biệt thự giữa những con đường hoa mà chỉ là ngôi nhà bé tí với cái cây bé tí, chỉ có ông mặt trời là bự nhất. An không hiểu sao cô lại nghĩ ra một bức tranh kỳ lạ như vậy và cần mẫn vẽ nó trong suốt những năm dài mà không biết chán. Như người họa sỹ già, ông cũng vẽ những bức tranh hệt nhau trong suốt một mùa hè dài. An nhớ đó là mùa hè thứ năm. Lần duy nhất An thấy mẹ khóc cũng là vào mùa hè đó. Vẫn là những lặng im. Xác hoa tím rơi đầy trên tóc An, tóc mẹ.

Mặt trời trở về

Khung cửa sổ mở ra phía xa xa mặt hồ trơ khốc, nứt nẻ bụi mù. Gió thốc vào thổi tung tóc An. Khẽ co mình lại, An ngồi xuống pha màu và cầm cọ. Cô vẽ thật. Vì ngoài vẽ ra, An còn biết làm gì ở đây, trên cái xưởng vẽ chiều về lạnh cóng này. Cô cũng muốn vẽ lại bức tranh ấy.
Ông mặt trời vẫn là bự nhất, ngôi nhà bé tí, cái cây còn bé hơn nữa. Trên tán cây vẫn là những chấm li ti màu vàng. Hoa vàng sẽ rơi xuống và cài vào tóc cô, mái tóc rối xù như vậy thì hoa không thể trượt qua được, hẳn là vậy. Hình ảnh những chấm hoa vàng trên mái tóc bù xù gió thổi làm Hân khẽ mỉm cười khi nhớ về con búp bê mặc váy đỏ tóc xù cậu bạn hàng xóm tặng hôm cô đi, hẳn nó phải ghen tị lắm khi thấy mái tóc đầy hoa vàng của An, chiếc cài nơ màu đỏ của búp bê rồi cũng phai màu, hoa vàng thì chỉ héo khô, rồi biến mất, rồi lại có lớp hoa vàng khác phủ lên tóc, chẳng phải cùng nhau chịu nỗi tàn tạ, cứ thế ra đi và cứ thế trở lại. Đó cũng là lần cuối cùng cô ở trong ngôi nhà quen thuộc. Những điều sau đó An chưa kịp nhớ, và cũng chẳng dám nhớ lại. Cô mong thời gian sẽ xóa sạch tất cả, xóa như xóa trắng một đoạn băng để trả giấc ngủ về cho cô. Ngôi nhà xiêu vẹo, bức tranh chưa kịp khô thì giá vẽ đã ngã khụy. Hân nhào tới chụp lại nhưng đã tất cả đã nhem nhuốc mất rồi. Bức tranh đổ ụp xuống sàn gỗ, trơ ra những thanh gỗ ở mặt sau. Chiếc giá vẽ chỏng chơ. Khay màu văng tung tóe. Cọ rơi, in lên chiếc váy trắng những vệt màu cuối cùng trước khi kịp khô lại. Mặt trời đã trốn đi từ rất lâu rồi thì phải. Còn mặt trời của cô, mặt trời đi đâu rồi? An lật bức tranh dính bệt dưới sàn lên và ôm vào lòng. Những mảng màu loang lổ gồ ghề nóng hổi hứng lấy những giọt nước mắt. An khóc. Tức tưởi. Dữ dội. Như lần ba quên đón để cô đứng đợi trước cổng trường từ chiều đến tối mịt. Đôi vai xuôi gầy run lên bần bật những tiếng nấc cộng với những cơn gió từ cửa sổ lùa vào làm An chao đảo muốn ngã. Trong ánh chiều nhập nhoạng, có một vòng tay giữ cô lại. An tựa đầu vào lòng Huy nấc lên từng tiếng. Người họa sĩ già lặng lẽ đi về phía chân đồi.
Nắm lấy bàn tay ướt mèm của An, Huy đưa cô về. Bàn tay gầy làm lòng anh xác xơ. Không có lời cho những lặng yên. Nhìn xuống những mảng màu đã khô cứng trên áo, trên khăn quàng cổ, An nghĩ về ông mặt trời nhem nhuốc nằm chỏng chơ giữa sàn. Có lẽ đây là bức tranh xấu nhất trong những bức tranh cô đã vẽ. Giấc ngủ đến nhanh. Trong giấc mơ, ông mặt trời to bự loang lổ màu vẽ vẫn ở trên cao, chiếu xuống mái nhà những tia nắng vàng bằng ngòi chì cứng ngắt.

Ông mặt trời rất tròn. Cái cây thì bé tí. Còn ngôi nhà thì sẽ có anh và em…

An trở lên xưởng vẽ. Cánh cửa nâu xù xì cài hoa rực rỡ. Cọ, màu và giá vẽ nằm ngay ngắn trong góc nhưng bức tranh ướt mèm của An không còn ở đó nữa. Chỉ còn những vệt màu loang lổ trên sàn. Xung quanh có rất nhiều bức tranh vẽ con đường hoa bên dưới khung cửa sổ phòng tranh. Những bức vẽ có bố cục giống hệt nhau. An thấy mình bé nhỏ quá chừng.  “ Cho anh giữ lại buổi hoàng hôn có mùi nước mắt em. Ông mặt trời rất tròn. Cái cây thì bé tí. Còn ngôi nhà thì sẽ có anh và em.”
-Nó đi đêm qua.
Ông đứng sau An từ khi nào.
Huy phải về thành phố để làm xong những việc cuối cùng của dự án. An theo người họa sĩ già ra ngọn đồi phía sau xưởng vẽ. Hoa nở nhiều. Những thảm cỏ xanh mướt lấm chấm hoa vàng.
-Ta sẽ chẳng nói với con về Huy nữa, hãy để trái tim con tự trả lời.
Yên lặng, An không thể đoán được điều gì sau đôi mắt đầy bóng chiều vàng vọt ấy.
-Mẹ con là mối tình đầu của ta, nói đúng hơn, chúng ta là mối tình đầu của nhau. Nhưng rồi những ước vọng tuổi trẻ đã đẩy ta đi xa. Ta đã bằng lòng đánh đổi tình yêu ấy bằng những đam mê phù phiếm. Ba con đến sau nhưng tình yêu của ông ấy đủ trọn vẹn để giữ chân mẹ con, cho đến bây giờ. Cuộc sống cần lắm sự bình yên con à. Ta về ngôi biệt thự này như sống bằng nỗi đau và niềm hạnh phúc cả đời mình.
Hình ảnh ngày nào dưới hàng phượng tím đã làm An nghĩ đến những điều hệt như vậy. Không ngờ có một ngày, bác ấy lại kể với cô điều này, kể bằng sự an nhiên tuyệt đối. Bơ vơ chia đôi mãi trở thành những mẩu vụn nhẹ hẫng. Ngày Huy ôm cô vào lòng và giữ chặt lấy đôi vai run rẩy của cô giữa bóng chiều mờ mịt. Ngày ông họa sỹ già dạy cô bài học đầu tiên của cuộc sống. Ngày cô bỗng muốn gọi ông là thầy, như Huy. Ngày cô học cách chấp nhận. Ngày ấy, ngày cô biết mình sẽ trở về, và sẽ quay lại. Ngoại đang đợi cô. Và ông mặt trời to bự lem luốc nữa. Tất cả đang đợi An về.

Read Full Post »

Tết Ta trong hãng Mỹ

Lê Huy


Sau một thời gian làm “thợ đụng” — tức là đụng gì làm nấy, cũng đồng nghiã với thất nghiệp luôn — nhờ một người bạn thân bày đưòng chỉ nẻo, tôi được vô làm hãng này, một hãng chuyên sản xuất máy card reader và check reader — tức là đọc thẻ, đọc chi phiếu đó. Xoay lui xoay tới vậy mà tôi “bắt ốc vặn vít” ở đây — làm assembler đó mà — cũng tròm trèm chục năm rồi, lẹ thiệt! Một chục năm ở trong cái assembly line — dây chuyền lắp ráp — với chỉ một động tác thiệt là đơn điệu, nếu tôi không chịu “khắc phục” chắc là phải nổi điên lên từ lâu rồi lắm; bởi tôi là một thằng hiếu động có “hoa chân hoa tay” ưa giang hồ vặt, hai tay thì không chịu ở yên. Nếu không phải vì gần kề cái “xế chiều” của mình thì làm sao tôi có thể chịu đựng nổi cái cảnh quá boring như thế này được. Hồi mới vô làm, hỏi mấy người bên cạnh, ai cũng nói đã làm ở đây bốn năm năm rồi. Nghe thế tôi le lưỡi rồi nuốt nước bọt mà thấy thương cho cái tương lai của mình cũng sẽ thế thôi.
Nói tới dây chuyền lắp ráp, thỉnh thoảng tôi nhớ lại cuốn phim cũ trắng đen có tựa đề Thời Kỳ Khủng Hoảng do Vua Hề Charlot Charlie Chaplin đóng mà tức cười. Cái anh chàng thợ lắp ráp Charlot này suốt mấy năm trời chỉ có một động tác là hai tay cầm hai cái cờ-lê mà bắt ốc vặn vít, riết rồi thành cái “thói quen nghề nghiệp theo phản xạ”. Một hôm ra đường, thấy có bà mặc áo pa-đờ-xuy trên ngực có đính hai hột nút bự, thế là anh thợ Charlot nhà ta nhào đến, dùng hai cái cờ-lê cố vặn cho được… hai hột nút bự kia. Hoảng quá, bà ấy chạy trốn trối chết; nhưng chàng ta đâu có tha, rượt theo bén gót cố vặn cho bằng được. Thiệt là… thiện tai… thiện tai!
* * *
Kể lể về dây chuyền lắp ráp thì cũng có lắm chuyện cười ra nước mắt lắm, thôi để khi khác tôi kể tiếp. Giờ thì tôi kể về chuyện Tết Ta trong hãng Mỹ của tôi đây. Chừng nửa tháng qua, anh chị em người Hoa người Việt mình chộn rộn lắm, cứ ngong ngóng cái Tết gần kề. Bao nhiêu chuyện Tết Nhứt từ năm xửa năm xưa nay như được dịp tuôn ra ào ào, rôm rả vui tai lắm. Có đủ thứ chuyện để “nhìu chiện” lắm. “Nhìu chiện” một cách say sưa, nghe ấm lòng vô cùng.

Nào là chuyện mua sắm áo quần đẹp cho sấp nhỏ để chúng đi khoe chòm xóm. Mình là bậc cha mẹ thấy con cái nó vui mình cũng vui theo, nhất là khỏi phải tủi hổ với hàng xóm vì mình “hẻo” quá. Gia cảnh mình lỡ có thiếu hụt thì chớ có cho ai hay ai biết. Cũng đừng cho con cái biết làm chi, chúng buồn chúng tủi tội nghiệp.

Nào là chuyện sắm sửa bánh mứt, bánh in bánh tét bánh chưng… , bông hoa nữa, cho xôm tụ. Đánh bóng bộ lư và cặp đèn thờ bằng đồng tới mức soi mặt được mới thôi. Để rồi Tết đến, ông bà trên trước và thân nhân đã khuất về chơi với con cháu khỏi phải buồn lòng vì thấy gia cảnh mình… “không đến nỗi nào”. À, còn phải dựng cây nêu treo lá phướng ngoài sân nữa chớ.

Nhà ai có vườn tược thì lo chăm chút mấy chậu bông cho rực rỡ tươi tắn. Đầu năm mới mà rực rỡ tươi tắn thì suốt năm mọi sự mới được hanh thông, ăn nên làm ra, gia đạo êm ấm vô cùng.

Nào là chuyện cúng Ông Táo, phải nhớ “lo lót” sao cho vừa ý ổng mới được việc mình nếu lỡ năm qua mình có chuyện gì “không phải” thì ổng lơ cho, không “mét” Ngọc Hoàng làm chi, vì ổng đã “ngậm” của mình.

Rồi ra nghiã trang sửa sang, quét vôi nhổ cỏ, làm sáng sủa lại mộ phần thân nhân đã khuất.

Chiều ba-mươi thì cúng rước ông bà về vui chơi với mình ba bữa Tết cho vui nhà ấm cửa.

Đêm giao thừa thì đốt pháo tưng bừng. Đủ loại pháo — pháo tre, pháo điển, pháo bông, pháo chà, pháo chuột, pháo xì, pháo xẹt, pháo thăng thiên (chớ không phải pháo… “lên thẳng” như “máy bay lên thẳng” đâu, trời ạ… !). Đó là nói về những năm thanh bình thôi. Chớ đến những năm chiến tranh ác liệt, súng ống hai bên đì đùng “cắc bùm” nhau từ thôn quê đến thành thị, khắp hang cùng ngõ hẻm thì xin miễn đốt pháo vì có ai phân biệt được tiếng súng với tiếng pháo đâu. Thì cái “Tết Mậu Thân 1968″ đó, làm sao mà quên được!

Sáng Mồng Một thì con cháu mừng tuổi ông bà cha mẹ để được lì xì mà lấy hên đầu năm.

Nhớ lâu lắm rồi, thuở thanh bình hồi còn ở bên nhà thì “Tháng Giêng là tháng ăn chơi, tháng Hai trồng đậu, tháng Ba trồng cà… “. Dòng họ ông bà nội ngoại ba má và anh chị em tôi là vậy, con nhà nông chính cống mà. Ngày nay, do bối cảnh xã hội đổi khác, nên người ta mới nói trại đi là “Tháng Giêng là tháng ăn chơi, tháng Hai… cờ bạc, tháng Ba… bán nhà…” . Thiệt… hết biết!

Trong nỗi hoài niệm thật nồng nàn này, tôi nhớ lại bao điều rất thân thương từ khi tôi còn là cậu bé tóc húi cua đá banh bằng nùi giẻ, quanh quẩn trong sân trước vườn sau, lúc thúc bên chân ba má tôi một cách vô tích sự… mà đến giờ chúng vẫn còn đậm nét trong tâm khảm tôi đó.

Nhớ tới ông ngoại tôi, ông là một nông dân vạm vỡ chất phác. Một chiều cuối năm, ông vác cái câu liêm cắt lúa giống như mảnh trăng non hình lưỡi liềm có cái cán dài, với vài động tác thuần thục và chính xác ông phát tém thật gọn gàng thẳng thuốm cái mái nhà của cổng phía sân trước được bắt lượn công phu từ mấy lọn chè dúi săn chắc; từ đó tỏa ngang qua hai bên là hàng rào quanh sân cũng bằng mấy lọn chè dúi xanh um tươi mát, trông đẹp mắt làm sao.

Má tôi kể, hồi đó làng tôi bị một tên trộm “tài danh” từ tỉnh bên cạnh đến “kiếm chác”. Trộm “tài danh” là một loại trộm võ nghệ cao cường, nhảy chuyền từ nóc nhà này qua nóc nhà kia mau lẹ nhẹ nhàng như mèo. Ấy vậy mà ngoại tôi đã tính kế lập mưu bắt gọn nó bỏ vô bao bố vác lên nạp cho làng xã sau gần mười hiệp tỉ thí với nó. Từ đó làng tôi yên ổn, tiếng tăm ngoại tôi bắt gọn tên trộm “tài danh” đó nổi như cồn.

Tôi cũng nhớ tới ông nội tôi, ông là một thị dân lanh lợi, nói năng nho nhã. Cứ mỗi Mồng Bốn / Mồng Năm Tết là ông đi làm trọng tài cho những cuộc tranh tài đánh cờ tướng bằng người thật. Ông ngồi trên chòi cao trông xuống sân cờ tướng rộng lớn được kẻ bằng những lằn vôi trắng. Quan quân hai phe tướng sĩ đều mặc quân phục cổ xưa, trước ngực và sau lưng có mang tên quân cờ, tay cầm gươm giáo. Hai kỳ thủ cũng ngồi trên hai cái chòi cao đối diện nhau mà điều binh khiển tướng bằng những câu thơ Hán Nôm nghe rất dõng dạc hùng hồn. Quân sĩ hai bên cứ múa võ tỉ thí với nhau theo lệnh của “chủ soái” mình. Tôi mê đi coi đánh cờ người đến quên cả ăn quên cả việc.

Lại cũng nhớ tới dì Út của tôi. Hồi đó, đến tám chín tuổi, tôi mới biết là mình có cái răng khểnh, tức là cái răng chó đó. Tôi biết được là nhờ dì tôi cứ khen lấy khen để:
– Cái thằng Cu Cùi của dì có cái răng khểnh “ăn tiền” lắm đó! Cùi cứ cười wài đi cho dì ngắm nghen, dì thích lắm! Mai sau lớn lên cái răng khểnh của Cùi sẽ làm… chết nhiều em lắm đó nghen!
Tôi lắng tai cu nghe, rồi tròn mắt hỏi dì:
– Ủa sao lạ dzị! Mắc mớ gì cái răng đó nó làm chết nhiều em, mà nhiều em là gì, hả dì?
Dì ký nựng đầu tôi một cái cốc:
– Để năm bảy năm nữa mới biết, con!
Tôi thở dài vì cái thắc mắc của mình chưa được dì giải thích ngay. Nhưng tôi không còn cơ hội để chờ đến năm bảy năm nữa; vì năm sau, nghe lời ai không biết, má tôi nói nếu cứ để cái răng đó thêm vài năm nữa nó sẽ mọc dài ra rồi đâm lủng cái môi, giống như mấy người bị sứt môi đó, xấu lắm! Rồi má mướn ông Năm Lượm hành nghề nhổ răng dạo nhổ phắt cái răng khểnh đó đi. Ổng mát tay lắm nhe, nhổ êm ru hà. Tôi mới nhắm mắt hả miệng là cái răng khểnh đó đã theo cái kềm của ổng mà chia tay mấy cái răng kia rồi, chẳng nghe đau đớn gì hết. Tôi có biết gì đâu, chỉ hơi tiêng tiếc thôi – “Sao má hổng chịu chờ sau năm bảy năm nữa mà nhổ cũng được?”. Còn dì Út thì cứ tiếc hùi hụi hà! Chú Xuân thợ chụp hình cạnh nhà cứ lẻo đẻo theo sau làm… “cái đuôi” của dì, cũng hùa theo mà tiếc giùm cho tôi.

Ôi thôi, kể ra thì dài dòng văn tự lắm. Nói sao cho hết, nói sao cho vừa nỗi nhớ, nhớ da nhớ diết của mình về Quê Cha Đất Tổ mà hàng triệu người Việt mình đã đứt ruột ra đi, lòng đau nhứ cắt trên ba-mươi năm rồi. Nhớ lại cái Tết đầu tiên xa xứ cách đây mười mấy năm, vợ chồng tôi đã khóc, khóc âm thầm khi hai đứa con đã đi ngủ sớm trong đêm giao thừa. Tụi nó có biết đón giao thừa là cái gì đâu. Gia đình tôi lại ở xa khu có đông người Việt nên chẳng thấy cái không khí Tết đâu cả.
* * *
Năm nào cũng vậy, cứ đến Tết Ta thì hãng tôi có tổ chức mừng Năm Mới cho nhân viên được vui. Cũng như các hãng khác, hãng tôi có nhiều nhân viên thuộc các sắc tộc khác nhau, nên tất cả đều chung vui chung mừng với nhau về ngày Tết cổ truyền của mình. Nhờ vậy nên không khí sinh hoạt và giao tiếp hằng ngày của nhân viên với nhau thiệt là thân mật vui vẻ và hiểu nhau thêm.

Cuối tuần qua, ông manager họp nhân viên lại, cho biết đầu tuần tới sẽ có tiệc Tất Niên và Mừng Năm Mới luôn — Happy Chinese New Year! Nghe ổng dùng nhóm từ Chinese New Year, tôi không hài lòng chút nào; tôi nói với một bạn đồng nghiệp là, hôm nào ổng vui vui mình nói với ổng là nên dùng nhóm từ Lunar New Year thì phải hơn, dung hòa hơn. Cái cục “tự ái dân tộc” của tôi to lắm đó, vì một ngàn năm bị người Hoa phong kiến đô hộ đã qua từ lâu rồi, sao giờ lại còn cái Tết Tàu đối với người Việt mình, phải không? Thì là do người Hoa sang nước Mỹ này trước người Việt mình rất lâu, nên người bản xứ cứ quen gọi các sắc dân từ châu Á đến là Chinese… Chinese… — Thế thôi!

Rồi thì phòng ăn và phòng làm việc của bộ phận sản xuất (production department) được trang hoàng một cách gọn ghẽ, xinh xắn. Những dây pháo, dây hoa có hàng chữ “Cúng Hỷ Phát Xồi” với hai màu đỏ vàng tượng trưng cho “An Khang — Thịnh Vượng” được treo lủng lẳng trên trần, được gắn quanh vách tường trông thật vui mắt, ngó như một góc nhà riêng của mình ở đây vậy.
Năm con giáp nào thì treo hình con giáp đó. Năm nay là năm Đinh Hợi nên hình mấy chú “Trư” mập mạp phốp pháp tốt tướng được treo lên, trông thật ngộ nghĩnh. Cứ nhìn mặt mấy chú là phát cười rồi. Còn nữa, không thể thiếu được, quanh quẩn dưới chân mấy “Nàng Trư” là một lứa “Trư Nhí” đỏ hỏn, thấy phát thèm. Cái nhóm “Mẹ Con Trư” này thì tượng trưng cho sự “mắn con”. Mà cái sự “mắn con” đó chỉ xài ở bên nhà thôi, chớ ở bên này có cho vàng cũng không dám “mắn” đâu.
Hồi vợ chồng tôi mới sang đây, qua điện thoại ba tôi nói:
– Hai con ráng cho ba một đứa cháu nội mang quốc tịch Mỹ nha!
Tụi tôi thưa:
– Hỏng dám đâu ba!
Ba nói:
– Sợ gì! Trời sinh voi sinh cỏ mà con!
Tụi tôi thưa lại:
– Nhưng tụi con không thể… ăn cỏ được, ba à!
Ba ráng thuyết phục:
– Đa tử đa tôn đa phú quý mà con!
Tụi tôi thưa tiếp:
– Mà bên này thì đa tử đa tôn là đa… homeless đó ba.
Ba tôi hiểu ý, rồi thôi luôn tới giờ.
* * *
Buổi sáng ngày Mừng Năm Mới thì vẫn làm việc như thường, đến mười giờ rưỡi mới được nghỉ làm để vui chơi. Ngoài bãi đậu xe đã rộn rã tiếng trống múa lân. Tất cả nhân viên từ các phòng túa ra coi. Cặp lân múa tới múa lui, vờn nhau theo điệu võ trong tiếng trống tiếng chập chõa thiệt là sống động với tiếng pháo nổ vang giòn giã một góc sân. Mùi thuốc pháo khét nồng gợi cho tôi nhớ quê nhớ nhà vô cùng.

Nhớ hồi nhỏ tôi theo mấy nhóc bạn đi coi múa lân, rồi lượm pháo đẹt chưa nổ đựng đầy lon sữa bò về nhà đốt chơi. Có lần “làm le” — tức là làm dóc đó — tôi cầm miếng pháo trên tay mà đốt cho tụi nó “nể” chơi. Bất ngờ tiếng pháo nổ ngay trên tay, tôi quăng không kịp. Đau điếng, tôi bóp chặt tay mình, người quằn lại như con giun, nhưng ráng không khóc vì sợ… “mất le”. Từ đó tôi tởn tới già luôn.

Mấy tay múa lân biểu diễn các trạng thái hỷ nộ ái ố của cặp lân thật điêu luyện và có hồn. Nhân viên Hoa và Việt mình mê đã đành, nhân viên các sắc dân khác cũng mê không kém. Bà chủ hãng rất trẻ trung cùng ban giám đốc hòa mình sinh hoạt với nhân viên thật tự nhiên vui vẻ. Cặp lân biết đó là bà chủ, nên múa chúc bả kỹ lắm, chắc cũng được khá bộn tiền lì xì. Rồi cặp lân đến từng phòng múa chúc mừng năm mới. Phòng nào cũng có treo lèo lì xì cho lân, treo dưới thấp tượng trưng thôi. Mọi người ai cũng chuẩn bị trước mấy phong bì lì xì cho lân ăn để lấy hên đầu năm.

Đến giờ ăn trưa “self-service” — tự xúc mà ăn. Bà chủ cùng ban giám đốc xếp hàng chung với nhân viên; ai đến trước đứng trước — “first come first serve” — chớ không có cái kiểu “quan trước, lính sau”. Xúc xong, ngồi đâu cũng được, đứng đâu cũng được. Bà chủ cầm dĩa thức ăn của mình sà đại vô ngồi xuống bàn mấy “thợ quèn” gợi chuyện nói cười vui vẻ lắm. Đó là bả chơi đòn “tâm lý chiến” gần gũi thân mật với nhân viên — vậy mới gọi là “khéo ăn khéo ở” chớ. Mấy cô mấy chị mình thiệt chu đáo, đem bánh trái từ nhà đến mời mọc chung vui. Nào bánh chưng bánh tét, nào mứt gừng mứt dừa… Đa phần là những món ăn cổ truyền ba ngày Tết của Hoa của Việt. Đó cũng là dịp để giới thiệu những đặc sản của nước mình đến các sắc dân bạn luôn. Bà chủ có đôi lời ngắn gọn chúc mừng năm mới và nhắn nhủ nhân viên vài điều với quyết tâm trong năm tới.

Đến phần vui chơi văn nghệ văn gừng thiệt là tưng bừng. Nhân viên hát hò “tự biên tự diễn” rôm rả nhộn nhịp cả lên. Có người đem giàn karaoke từ nhà đến với đầy đủ các bộ phận kỷ thuật âm thanh. Hãng tôi cũng có những giọng hát “vàng” hay lắm, ngọt ngào lắm. Đơn ca thì có Peter Trần, Nam Nguyễn, Linh Nguyễn, Jane Ngô… Song ca thì có cặp Kim Chi Hà – Phi Đặng, cặp Khoa Trần – Mai Nguyễn. Còn hợp ca thì tổ nào cũng có góp giọng hết, vui lắm. Lại có ban nhạc guitar điện của tổ technician với ba tay đàn Bob, Tony, Patty điêu luyện không kém, chuyên chơi nhạc disco. Hai MC Tina Hồng “Duyên Dáng” và Nam Trịnh “Vui Tếu” thay phiên nhau “quậy” cho không khí sôi động liên tục hẳn lên. Dịp này, chúng tôi được nghe lại những bản nhạc xuân vui tươi rộn rã và buồn nhớ quê nhà một thời thiệt là ấm lòng. Mở đầu chương trình là đồng ca bài Đón Xuân của nhạc sĩ Phạm Đình Chương:

Xuân đã đến rồi,
reo rắc ngàn hồn hoa xuống đời.
Vui trong bình minh,
muôn loài chim hót vang mọi nơi.
Đẹp trong tiếng cười,
cho kiếp người tình thêm đắm đuối.
Ánh Xuân đem vui với đời

Đặc biệt, Linh Nguyễn ca tân cổ bài “Câu Chuyện Đầu Năm” hay không kém Phi Nhung, nghe mùi mẫn thấm thía làm sao:

Mong đầu năm cuối năm gặp may,
Gia đình luôn hạnh phúc sum vầy.
Trên bước đường danh lợi rồng mây,
Duyên vừa đẹp ý đắm say
Ôm nàng Xuân đẹp vào tay

Xen kẽ vào chương trình là những trò chơi thiệt vui. Dính kem xanh đỏ vàng tím tùm lum trên mặt, coi tếu vô cùng, vậy mà bà chủ trẻ trung không “care” chút nào, cũng nhào vô chơi hết mình. Cả hãng được dịp cười xả láng.
Tôi nói đùa với anh bạn vui tính ngồi bên cạnh:

– Hãng mình làm văn nghệ hay như dzầy, chắc mấy trung tâm ca nhạc phải… dẹp tiệm quá, bồ há!

Cuộc vui chơi Tất Niên và Mừng Năm Mới kéo dài tới gần hết giờ làm việc mới dứt, nhân viên được về sớm hơn thường lệ một tiếng đồng hồ; nhưng vẫn được tính đủ giờ làm việc một ngày.

Đó, cái không khí thân mật và cái tình đồng nghiệp của hãng tôi là vậy, thành ra doanh thu của hãng ngày càng đi lên là phải lắm rồi. Mà hãng có sống thì nhân viên mới được sống theo chớ, phải không!?

Lê Huy
(Los Angeles, Feb. 20, 2007)

Read Full Post »

Nguyễn Hữu Duyên

Đất trời đang rạo rực bước vào thềm xuân. Nỗi nhớ quê sao mà da diết nặng lòng! Nhớ hết, nhớ đến xót xa! Với tôi, cảm giác ấy lại đến khi mình đã gần sáu mươi tuổi đầu phải ăn tết xa quê gần bảy trăm cây số. Cái làng Cây Bông ( Nhơn Khánh, An Nhơn, Bình Định) nằm giữa hai nhánh sông Côn, nơi tôi đươc sinh ra và lớn lên mãi mãi là nơi đẹp nhất, ân tình sâu nặng nhất của đời tôi, dù tôi có rày đây mai đó trôi dạt đến phương trời nào cũng thế. Bởi nơi đó là nơi chôn nhau cắt rốn của tôi, có mẹ cha tôi lam lũ, tảo tần, vất vả nuôi chín anh em tôi ăn học theo chiều dài năm tháng cuộc đời. Và, làm sao có thể quên được những đêm giao thừa, bạn bè chúng tôi tụ hội về một ngôi nhà nhỏ ngả ba chợ Cây Bông với những cây đèn bạch lạp sáng lung linh, nào rượu, nào đàn, nào bánh tét, bánh in…đàn hát, ngâm thơ cho đến gần sáng mới về nhà. Và như thế, mỗi độ xuân về, chúng tôi lại khát khao được gần bên nhau, kể cho nhau nghe bao chuyện buồn vui sau những ngày lo toan của cuộc sống. Rồi, trong những ngày xuân, lại dắt dìu nhau trên con đường làng, đến thăm bà con lối xóm, uống ly rượu xuân ngọt nồng tình nghĩa quê hương. Ăn tết xa quê vì cuộc mưu sinh mới thấy thèm thấy nhớ một đòn bánh tét, một cái bánh chưng, một miếng gừng cay của gia đình gửi cho, mới thấy nó quý đến dường nào cái hương vị quê ngày tết, làm cho ta không còn cảm thấy lạnh lòng.

Tết quê ơi, ta mãi nhớ những chuyến xe ngựa đầu năm được trang trí đủ sắc màu của các chùm bong bóng từ Cây Bông xuôi về thị trấn Bình Định rủ nhau chơi hội chợ xuân, đánh cổ nhơn, xem đánh cờ người…Có thể nói, dù là kéo xe nhưng phần lớn những chú ngựa đó đều có tên tuổi trong làng đua, và làng tôi nổi tiếng là làng xe ngựa. Không phải riêng chúng tôi mà nhiều thế hệ ở Cây Bông đều lớn lên từ hạt gạo xe ngựa. Ba tôi từng là quán quân trong một cuộc thi đua ngựa ở tỉnh. Những tay đua ngựa trong và ngoài huyện gọi ông là “ tráng sĩ”, bởi ông rất giỏi khi lên lưng ngựa, và dù con ngựa đó chứng cỡ nào ông cũng trị được. Tết này ông vào tuổi tám mươi lăm. Ông rất cần có tôi vì tôi là con trai trưởng. Ông thương tôi vì đời tôi quá lận đận và quá nghèo. Những ngày giáp tết, ông không nỡ hỏi, tết này con lại không về sao, bởi ông không muốn làm tôi bị tổn thương, không muốn khơi nỗi đau thèm khát vì không được hưởng cái tết quê yên bình. Riêng tôi luôn nhớ, kính trọng ông cùng người phụ nữ đã gần sáu mươi năm chung thủy với ông, nuôi chín đứa con lớn lên từng ngày, đó là má tôi. Là con gái đất Thành, xinh đẹp- nhưng phải nói rằng bà rất chịu thương chịu khó và rất giỏi từ chuyện đồng ruộng cho đến bán buôn, nhất là bà chuẩn bị những món ăn ngày tết.
Sài Gòn không thiếu gì đặc sản các vùng miền và của nhiều nước trên thế giới, nhưng tôi vẫn thèm cái món bì hay còn gọi là tré do má tôi làm, ngon đến mức đâm ghiền. Tôi được biết là nó được làm từ tai mũi heo đem luộc, lấy hạt mè, hạt tiêu củ riềng làm gia vị chính, lấy lá ổi bọc lại, ngoài cùng là rạ, lấy lạt tre buộc như đòn bánh tét, khoảng ba ngày là ăn được. Mấy anh em tôi ăn sáng vào những ngày tết, đứa nào cũng thích món này, nhất là dùng bánh tráng cuốn nó với rau sống, dưa leo và củ kiệu. Ngó đi ngó lại, mới đó mà đã gần đến tết rồi! Làng Cây Bông của tôi ơi, sao mà tôi nhớ, nhớ đến nao lòng! …Một chút se lạnh của những ngày cuối đông. Thành phố Hồ Chí Minh rộn rã, tưng bừng như mùa xuân đang đến sớm với bao sắc màu quyến rũ, nhưng không hiểu vì sao trong tôi vẫn đắm chìm cái nỗi nhớ tết quê của làng tôi, cái làng Cây Bông nhỏ bé rất đỗi thân thương của cuộc đời mình

 
Nguyễn Hữu Duyên

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »