Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn xuôi’ Category

Ngọc trong sách

Nguyễn Quang Quân

Nguyên Sinh người đất Tình, lớn lên trong cảnh mẹ góa con côi nơi ngôi nhà rách nát bên dòng sông Tình đẹp như một dải lụa. Mẹ lam lũ bòn đất, làm mướn, chịu khổ cực trăm bề cố nuôi con khôn lớn. Lúc nhỏ, Sinh tuy có vẻ đen đúa còi cọc, nhưng sáng láng, thông minh, học đâu nhớ đó, thường được thầy giáo ngợi khen. Học hết trường làng, Sinh lên tỉnh học. Ở đây, phố xá đông vui, nhiều nhà giàu có, con gái ăn mặc trang sức lộng lẫy, tuy có lạ, nhưng cũng chỉ là cái đẹp của son phấn. Lúc này Sinh đã trổ mã, nước da như bớt đen, thân hình dong dỏng cao, khỏe mạnh. Nhưng là thân học trò nhà quê mặc áo vá đi học, bữa no bữa đói, gặp con gái đẹp Sinh thường xấu hổ không dám nhìn thẳng mặt. Sinh chỉ biết cố công học tập, miệt mài đọc sách, mong có ngày bảng hổ đề danh, không phụ lòng mong ước của mẹ. Một hôm, đọc sách thấy câu “ Thư trung hữu ngọc”, rồi “ Thư trung hữu nữ nhan như ngọc”, Sinh thích lắm. Trong lòng phơi phới, Sinh xếp sách ngẫm ngợi. Ngọc ở trong sách, người con gái đẹp có trong sách. Tất cả ước mơ, thành tựu một đời là đây! Từ đó, Sinh càng chăm đọc sách. Tứ thư ngũ kinh, gần như thuộc làu. Đọc Tứ thư, Sinh học được cách cư xử ở đời, để lớn lên  gánh vác việc nước. Đạo quân tử, trước hết phải sửa cái đức của mình cho sáng, sao cho đến chỗ chí thiện. Sinh học được cái đạo trung dung, cách giữ cho ý nghĩ và việc làm luôn luôn ở mức trung hòa, và phải cố gắng ở đời theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Ngũ Kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu) cũng là sự bàn rộng, đào sâu những tư tưởng trên. Nghiền ngẫm sách, Sinh thấy được những lý tưởng cao siêu. Đó là sự học coi trọng  luân thường đạo lý, chủ trương biến hóa tùy thời, sự vụ thực tế, không bàn đến những cái viễn vông ngoài sinh hoạt của con người nơi trần thế.

Sinh đọc miết, chờ đợi hoài cũng chẳng thấy “ngọc”, “nữ nhan như ngọc” đâu. Thơ Kinh Thi có nhiều bài nói về tình yêu. Có những bài tả tình yêu trong sáng , hồn nhiên, chân thật. Có những bài dí dỏm nghịch ngợm, nhưng nhiều hơn vẫn là lời than thở của những mối tình éo le, đầy nước mắt. Sinh đọc, mơ tưởng cũng đâu thấy gì!

Hết Thư, Kinh, Sinh lại tìm trong sách truyện. Thủy Hử, rồi Kim Bình Mai. Ở lúa tuổi thanh niên, Sinh đọc truyện cũng thấy thích, nhưng đó chỉ là cuộc sống hưởng lạc, chuyện ăn chơi đồi trụy. Có nhiều người đẹp đó (Phan Kim Liên, Lý Bình NhiBàng Xuân Mai…), nhưng chỉ là những người lẳng lơ, mong chi chuyện họ từ trang sách bước ra cuộc đời với Sinh! Hồng lâu mộng rất hay, đó là sự thể hiện tinh thần dân chủ, đòi tự do yêu đương và mưu cầu hạnh phúc, khao khát tự do bình đẳng…. Tây sương kí, Mẫu đơn đình, Liêu trai chí dị,… là những tác phẩm miêu tả tình yêu, những số phận, những buồn vui cá nhân… Có lẽ thích nhất là Liêu trai chí dị. Đọc nhiều truyện trong đó, Sinh thích thú với những cuộc găp gỡ giữa những chàng trai thư sinh trạc tuổi Sinh và những cô gái đẹp là ma, hồ. Chuyện tình của họ khá bất ngờ và kỳ dị.

Đọc truyện Liên Tỏa, Sinh cảm khái với mối tình của nàng với Dương Vu Úy. Hôm ấy, đêm đã khuya, Sinh ngồi đọc sách, mệt quá gục đầu ngủ trên án thư, bỗng nghe có tiếng ngâm thơ và một người con gái đẹp hiện ra. “Thiếp là Liên Tỏa đây, chàng có yêu thiếp không?” Đọc xong Hương Ngọc, Sinh thẩn thờ bước ra vườn ngắm hoa trong canh tàn trăng lạnh, mơ màng trông thấy hai cô gái, một áo trắng, một xiêm hồng thấp thoáng trong bụi hoa, tới gần thì họ biến mất. Đó phải chăng là Hương Ngọc và Giáng Tuyết, những thần hoa trong truyện mà chàng mơ tưởng? Vài lần như vậy! Có khi chàng đi vào những giấc mơ ký thú. Những cô gái đẹp tuyệt trần đến với chàng, cùng chàng âu yếm, ái ân. Tỉnh dậy, mới biết mình đọc Liêu Trai, mơ tưởng quá, tạo ra những giấc mơ quái lạ vậy thôi. Đã là truyện, tất phải có hư cấu. Các ông viết truyện, là để nói chuyện đời đó thôi! Chuyện đời trước mắt, sao Sinh không nhìn đi, nghĩ đi! Người đẹp có thực vẫn đi lại và Sinh thường thấy hằng ngày sao không ngắm đi, tìm cách có họ, mà lại tơ tưởng không đâu, để rồi mộng mị thế này! Ngẫm nghĩ kỹ, Sinh thấy cứ thế này thì hại cho xác phàm quá. Những người đẹp dù là người, hay ma, hồ đi vào giấc mơ tình ái của chàng chỉ là điều huyễn hoặc. Xác định thế, Sinh cố đè nén dục tình, dứt bỏ mơ mộng, chăm chỉ học tập, cố công dùi mài kinh sử. Từ đó, chàng trở thành một thư sinh văn hay chữ tốt nức tiếng gần xa. Những nhà hào phú trong vùng ngấp nghé muốn gả con gái cho chàng, vì tin rằng chàng trai đó chắc chắn sẽ công thành danh toại và con gái mình sẽ có chỗ dựa vững chắc trong mai hậu.

Mùa xuân năm ấy, có kỳ thi hương, Sinh đậu cử nhân. Lúc này, chàng vừa hai mươi. Có vài nơi đánh tiếng gả con cho chàng, nhưng chàng chẳng chịu ai. Vả lại mấy cô con gái nhà giàu, cô thì đỏng đảnh, cô thì kiêu bạc, nhan sắc tầm thường. Lúc này mẹ yếu rồi, cũng muốn con mình có nơi có chốn, cho vui một đời lam lũ. Nhưng Sinh chưa chịu lập gia đình, chàng vẫn nghĩ đến một người con gái “nhan như ngọc”, mà chàng bao lần bắt gặp trong sách. Chàng quyết tâm tiếp tục học hành, chuẩn bị cho kỳ thi hội sắp tới. Và để đỡ đần cho mẹ, chàng tạm thời làm thầy đồ, kèm cặp cho các trẻ trong làng, cũng có lương ăn. Chuyện nam nữ, tuy cũng có vài cô nhòm ngó, nhưng Sinh vẫn dốc lòng đọc sách, chuẩn bị cho kỳ thi. Dù cố công học hành, văn tài nổi tiếng, nhưng vận số khó lường, kỳ thi hội năm ấy, Sinh hỏng tuột!

Vài năm đi qua, nhìn mẹ mỗi ngày một già yếu, nhìn mình với gia cảnh quẫn bách, Sinh bắt đầu thấy nản với mộng công danh. Hôm ấy, nhân tiết thanh minh, Sinh đi viếng mộ cha. Cũng chỉ là một ngôi mộ đất thấp lè tè, cây cỏ hoang dại mọc tràn xung quanh. Vừa thắp hương cho mộ cha xong, Sinh bần thần đứng nhìn những ngôi mộ lớn xa xa trong trời chiều mát dịu, rồi ngồi bệt xuống mở sách mang theo để đọc. Bỗng có tiếng nói thoảng đưa trong gió:

– Có người ngồi trên mộ đọc sách hay quá ta!

Chàng giật mình ngó lên và sửng sốt nhìn ra một cô gái đẹp rực rỡ đang đi tới. Cô ăn mặc giản dị, nhưng thân hình mảnh mai, cao ráo, khuôn mặt trái xoan rạng rỡ dưới chiếc nón che nghiêng. Đến bên chàng, cô gái e lệ cúi chào và nói:

– Xin lỗi đã vô ý, làm kinh động tới chàng!

Chàng lúng túng đáp lời:

– Không sao! Cô ở đâu tới vậy?

Nàng mỉm cười tinh nghịch:

– Em vừa từ trang sách của chàng bước ra đấy!

Sinh giật mình! Trang sách chàng đang đọc, đúng là đang nói về chuyện tình một cô gái đẹp. Chả lẽ cũng như những lần mộng mị khác đã làm khổ chàng bao đêm?

Nhìn dáng bối rối của chàng, cô gái nhẹ nhàng nói tiếp:

– Đùa chút vậy thôi, em đi thăm mộ mẹ đây!

Cũng vẫn nụ cười đấy, cô gái bước đến ngôi mộ không xa trước mặt. Đó là một ngôi mộ đã xây dựng khá kiên cố, vẻ bề thế hơn hẳn nhưng ngôi mộ ở đây. Cô thắp hương khấn vái và cũng săm soi quét dọn. Chàng thẫn thờ nhìn ngắm, tự nhiên trong lòng dâng lên một nỗi niềm cảm xúc khôn nguôi.

Hôm ấy, khi cô gái ra về, chàng âm thầm đi theo, và sau đó dò hỏi về gia cảnh của nàng. Té ra, nàng là con quan phủ về hưu ở làng bên, nức tiếng xinh đẹp và giỏi giang, cả về chữ nghĩa thi phú và quán xuyến việc nhà. Mẹ mất sớm, ông phủ nhớ vợ thương con cũng không tục huyền, nàng thay mẹ chăm sóc cha già và đứa em trai đang độ tuổi mười lăm. Cũng có vài lần hai người gặp nhau sau đó, nhưng cả hai đều giữ phép, có chăng là cái gật đầu nhẹ chào nhau. Lòng chàng từ đấy luôn nghĩ nhớ cô gái. Mấy tháng sau, Sinh thưa với mẹ nhờ mai mối đến hỏi nàng làm vợ. Cả ông phủ và nàng đều biết tiếng danh sĩ của chàng, nên đồng ý ngay. Đó là một giai sự nổi tiếng cả vùng.

Một năm sau, Sinh được bổ dụng làm giáo thụ ở ngay huyện nhà. Sinh thỏa lòng với cuộc sống êm đẹp nhỏ nhoi của mình.

Một đêm chàng đọc sách và ngâm nga câu thơ cũ: “Thư trung hữu ngọc”, “Thư trung hữu nữ nhan như ngọc”, rồi hỏi vợ:

– Em cũng là người biết chữ, vậy có hiểu câu này không?

Nàng mỉm cười âu yếm:

– Chữ  thì dễ hiểu, nhưng ý nghĩa thì có người phải chiêm nghiệm cả đời mới hiểu được đấy!

Chàng hồ hởi phụ họa:

– Đúng vậy! Đến giờ anh mới hiểu hết cái nghĩa thâm thúy của câu thơ! Nhờ học hành, đọc sách mà anh có được những thứ quý báu như ngọc: từ nhận thức, đến hành vi, cách sống ở đời. Nhờ học hành, mà anh có được cuộc sống êm đẹp hôm nay. Nhờ đọc sách mà anh có được cô vợ xinh đẹp và hiền thục như em. Đó là chất ngọc chiết ra từ sách chứ đâu!

Read Full Post »

Những cơn mưa đầu hè

Đào Thanh Hòa

1313051275
Một bông hồng trắng gửi H...

Ngự mất rồi!
Trước kia, Miên chưa bao giờ nghĩ có ngày Miên  lại mang chuyện mình ra ghi lại. Nếu Ngự biết, Ngự có giận Miên không?
Khi Ngự và Miên chia tay ở cuối đường Võ Tánh thì phố đã lên đèn. Sau cơn mưa chiều , những con đường trở nên ướt át, mát mẻ dưới chân Miên! Cô luôn thích những ngày mùa hè đêm xuống chậm, nắng vương vải lười biếng giăng chiếc lưới cuối cùng lên buổi chiều tà. Đêm đủng đình không chút vội vàng, phủ nhẹ màu xanh đậm đã dần ngã sang tím sẫm bao trùm khắp phố thị. Và những đợt mưa ngắn mùa hè cũng đủ làm dịu đi một chút hanh nồng của đất trời sau một ngày gắt gao phả nắng.
Tối ấy, về tới nhà, Miên mệt mỏi ném chiếc ba lô bụi bặm  lên nóc tủ. Buông người xuống chiếc giường nhỏ thân thuộc, Miên khẻ nhắm mắt, cảm giác mới dễ chịu làm sao! Dù cơn buồn ngủ đã kéo đến đè nặng lên mi, nhưng Miên cũng phải ngồi dậy bước vào phòng tắm…Những hạt nước bung tóe chảy lùa lên tóc, lên mặt, lên khắp người Miên. Miên bỗng chốc tỉnh hẳn, cơn buồn ngủ bị đẩy lùi lúc nào không hay. Tiếng mẹ gọi nhắc Miên nhớ Miên đang đói bụng. Lau sơ mái tóc còn sủng nước, Miên ngồi vào bàn ăn cơm. Nhìn con nhai uể oải trong buổi cơm tối sau cả tuần đi trại về, mẹ Miên lại cằn nhằn.
Miên ăn cơm lúc nào cũng vậy, mặc dù hôm nay biết Miên về, mẹ làm cho Miên món sườn kho và rau muống xào mà Miên Thích, Miên vẫn cứ nuốt như …mèo.
Ăn xong, Miên đến trước quạt máy ngồi hong tóc. Gió quạt lùa làm  tóc Miên bay tung. Mùi hương thơm dầu gội thoảng nhẹ vào mũi Miên. Mở ngăn kéo tìm cuốn nhật kí, Miên mường tượng lại một tuần trại vừa trôi qua thật nhanh.
Đà lạt vào hè với những con đường thênh thang phủ nắng nhẹ, khác với phố biển nơi Miên ở nắng khô nồng, cả không gian nơi đây rắc đầy những hạt mưa bụi li ti. Rời trại vào sáng sớm, Ngự rủ Miên, hai đứa lang thang quanh khu chợ Đầm giữa tiết trời lạnh giá. Trong chiếc áo lạnh và cái mũ bằng tic- kê nhung đỏ, Ngự nói Miên cứ như là “ông già Noel gầy không râu” vậy! Nhìn những con gà ốm o tội nghiệp đứng run rẩy vì rét buốt trong lồng bày trước cổng chợ, những hàng rau củ quả tươi mơn mởn chất cao nghệu, những người bán hàng mặc quần áo dày cộm và tất cả đều mang giày, đó là điều làm Miên thật sự ngạc nhiên. Đường phố Miên qua nhà nào  cũng nghe vọng lên tiếng nhạc dịu êm. Âm thanh trầm bổng ấy chừng như làm tăng thêm sự lãng mạn mơ màng cho thành phố mờ sương này. Ghé vào một cửa tiệm bên hông chợ, Ngự đặt cho Miên một tấm bảng dán tên Miên bằng gỗ thông, sản phẩm đặc biệt của miền cao mà Miên rất yêu thích. Hai đứa rời chợ và Miên lại tròn mắt nhìn những bậc tam cấp dẫn lên những con đường khác  lạ lẫm – chắc chỉ  nơi này mới có.
Trên dốc cao, gần khách sạn Palace. Ngự và Miên chọn một góc nhỏ trong cái quán  cà phê đơn độc, hai đứa ngồi co ro bên hai tách cà phê sữa đã đóng váng vì lạnh, Ở đó, Miên có thể chống cằm thỏa sức ngắm nhìn hàng thông lừng lững, những cành lá  rậm rì xòe tay đung đưa  trong làn gió nhẹ bao quanh mặt nước phẳng lặng, im lìm của  Hồ Xuân Hương thơ mộng. Ngự ít khi ngồi cạnh Miên, Ngự thích ngồi đối diện, nhìn Miên cho gần, rõ và lâu. Trông cô thật gầy, hai bàn tay nhỏ bé và mỏng manh thò ra ngoài tay áo lạnh dài. Ngự nhìn Miên chăm chăm. Ngự hay nhìn vào đôi mắt Miên, thích mái tóc xì tôn ôm lấy gương mặt cô, thích nhìn Miên cười phô chiếc răng lệch và tất cả điều gì thuộc về Miên đều khiến Ngự sẽ rất nhớ khi xa cô. Những suy nghĩ đó,, chưa lần nào Ngự nói  với Miên, tất cả đều được ghi lại trên những mẩu giấy nhỏ Ngự trao cho và Miên đã cất thật kĩ.
Buổi chiều cùng đoàn đi du ngoạn, Ngự,Miên và các trại viên nghe hồn phách như chơi vơi khi đứng nhìn thác Camli tuôn nước như sôi vào vách đá. Thời gian tưởng chừng ngừng trôi trước cảnh đẹp kì vĩ của tạo hóa. Những dòng chảy tuôn đỗ  bốc khói luồn lách êm ái nhẹ nhàng qua từng khe đá. từng bụi cây cỏ mọc đầy hoa dại ven bờ. Cảm giác như mây trời được kéo xuống trên đầu làm Miên ngỡ mình đang lạc vào cõi thiên thai nào.
Bây giờ Ngự không còn nữa…Ngự đã quay lưng đi về phía núi bên kia, về một miền nào thật xa lạ, quạnh hiu. Ngự đã để lại đằng sau những ngày nắng nhạt, những chiều mưa dầm dề lê thê…Những lúc đưa Miên về thầm lặng chẳng nói với nhau một lời. Nếu biết việc Miên làm hôm nay, Ngự chắc cũng không hờn trách Miên đâu! Ngày xưa chỉ có mình Miên là hay giận Ngự thôi. Hờn Miên? Ngự chưa bao giờ, dù chỉ một lần, trong một thoáng…
Những đêm trại kết thân với thanh niên Đà lạt thường kéo dài đến tận khuya…Lửa trại đã làm  bừng lên những gương mặt bạn bè cũ mới rạng ngời. Những đôi mắt con gái sáng long lanh chan chứa, đám con trai tinh nghịch ngữa cổ hát vang những bài hát ngộ nghĩnh, Những điệu nhảy lửa kì bí, những nụ cười  chất ngất niềm vui của tuổi trẻ. Ngự và Miên đã cùng các bạn tan chảy vào những khoảnh khắc tuyệt vời đó! Và lời bài hát, từ lâu Miên vẫn cho là lạ lùng, khó hiểu -nhưng rất nhộn làm ấm không gian lạnh đến tê cứng cả người lại được cất lên trong tiếng vỗ tay nhịp nhàng:
– Ghìn găng gô lí gố oa ghìn gắn gô ghìn gắn gô…ê là ê lá xê là…
Miên nhớ một đêm tạm nghỉ sinh hoạt lửa trại, Ngự  lặng lẽ một mình mang cây kèn harmonica ra thổi trong  vắng lặng. Dưới chiếc lều nhỏ bên trại con gái, Miên kéo mền lên tận cổ nghe Ngự thổi mải miết bản nhạc “Trở về mái nhà xưa” vang lên giữa khuya buồn não nuột. Dũng -anh trai Miên- có vẻ không hạp với Ngự, thế nhưng khi biết Miên quen với Ngự anh cũng không nói gì. Đôi khi  Miên nhớ anh còn đàn đệm cho Ngự thổi kèn…và còn nhắc Miên mang cây đàn mandolin- anh đã chỉ Miên- ra cùng đàn với Ngự.
Ngưng sinh hoạt và chia tay Ngự một khoảng thời gian dài, Miên đi lấy chồng. Con cái và bận bịu, Miên sau này chẳng còn nhớ chút gì những nốt nhạc trên cây đàn mà hai đứa đã cùng chọn mua ở tiệm nhạc Khánh Hưng hồi đó. Miên có lẽ rồi cũng sẽ quên hết, quên cả cái lần cãi nhau cuối cùng và  chấm dứt những gặp gỡ…Cho đến khi  người  hàng xóm của Ngự báo với  Miên: Ngự không còn nữa!
Miên nghe nói ở giai đoạn cuối của cơn bệnh trầm kha, vợ chồng Ngự đi Đà lạt. Miên thật lẩn thẩn khi tự hỏi: Ngự lúc ấy có nhìn xuống dưới chân  đèo Ngoạn mục để thấy những hàng thông đồ sộ thẳng tắp trên nền cỏ thênh thang mượt mà  bao quanh, mà ngày trước Miên đã không ngớt trầm trồ? Ngự có còn sức đưa tay hái  những nhánh phong lan tím biếc vươn nhánh vào cửa xe? Và Ngự có nhớ ghé cái quán cà phê đơn lẻ trên đồi xưa nhìn xuống Hồ Xuân Hương, ngắm mặt hồ ngày nào có còn xanh ngắt màu kỉ niệm?
Giờ đây, những cơn mưa mùa hè thỉnh thoảng lại chợt đến chợt đi vào đêm…Đường phố nơi ta ở khi đã lên đèn lại ướt đẫm những dòng nước mát.
Miên biết: Dòng thác Camli thủa nào đã nhuốm bệnh ngưng tuôn chảy, Ngọn lửa trại trên đồi xưa đã tàn lụi từ lâu. Những ngôi biệt mang đầy dáng dấp cổ tích mà Ngự và Miên đã đếm bước chân qua giờ bị lãng quên trong rêu phong hoang phế. Bao hoài ức cũ cùng với những bông hoa, những phiến lá ép khô của Ngự rồi Miên cũng sẽ xếp thầm lặng dấu kín vào ngăn kéo của trái  tim mình.Và dẫu biết rằng cho đến cuối đời, Ngự và Miên không là hai nửa của nhau, nhưng Miên vẫn sẽ nhớ cả hai đã có những tháng ngày  rất đẹp và có một thời họ đã rất yêu thương…
Đào Thanh Hòa
(10/8/2011)

Read Full Post »

Quyển sách

 

                                                                                    Trương Văn Dân

Có lẽ cho đến khi nhắm mắt tôi cũng không thể nào tha thứ cho mình. Dù đã bao lần cố tình biện hộ, nhưng chưa bao giờ tôi tìm ra một lý do chính đáng để tự trấn an.Tôi biết mình không phải vô ơn, cũng chẳng bạc tình, nhưng không hiểu sao lại vô tình mắc phải những lỗi lầm  như thế để niềm  ân hận cứ bám  theo và ray rứt không thôi.

Bao  năm qua, cuộc đời đã trải nhiều thăng trầm dâu bể, tôi đã cố tìm quên. Nhưng mỗi khi ký ức lắng đọng tìm về, tôi lại thấy lòng mình quặn thắt. Nỗi niềm đó ít khi tôi kể lại cho ai, ngay cả với những người thân nhất, nhưng hôm nay không hiểu sao tôi lại viết ra đây. Có thể trong tiềm thức, viết là để giải toả những ẩn ức chìm lắng trong một góc kín đáo nào đó của tâm tư, nhưng  cũng có thể  khởi đi từ một ước mong khiêm tốn là có người đọc nó, để niềm đau của tôi không đến nỗi thành vô ích.

*

Khi anh Quang theo học năm đầu khoa báo chí Vạn Hạnh thì đất nước đổi thay. Trong biến loạn 1975, gia đình mất hẳn tin anh. Cả mấy tháng sau đó cũng chẳng ai biết thêm gì. Dù mong manh ý nghĩ là có một điều bất thường nào đó đã đến với anh, nhưng không ai dám nghĩ là mất  anh vĩnh viễn.

Kinh tế đổi thay, tôi phải bỏ học đi làm để phụ giúp gia đình.Thời gian sau tôi lấy chồng, sinh con đẻ cái. Cuộc sống khá chật vật và khó khăn, nhưng tôi vẫn bền gan phấn đấu, rồi sau đó cũng dần dần ổn định.Thủa ấy không lúc nào là tôi không nghĩ đến Quang, người anh trai mê sách, mê đến nỗi những khi cúp điện lúc nào anh cũng có sẵn một mớ đèn cầy để đốt và đọc thâu đêm. Nhiều hôm bị ba tôi bắt gặp, bảo tắt đèn đi ngủ, anh lại trùm chăn che ánh sáng và đọc tiếp nên có lần bị cháy xém một mảng tóc mà ngày thường anh rất nâng niu. Cuối cùng phải cạo trọc, bị  các bạn gọi là “ đầu đà thi sĩ ”, anh chỉ mỉm cười, không giận, nhưng  suốt mấy tháng liền trên đầu anh lúc nào cũng dán chặt  chiếc mũ vải.

Anh Quang vui tính và rất hay kể chuyện nên tôi thường quấn quít bên anh. Giọng anh trầm trầm, chậm rãi bắt từ chuyện này sang chuyện khác, chứng tỏ một kiến thức rất dồi dào, thu lượm được qua hàng nghìn trang sách .Thỉnh thoảng anh chen vào những nhận xét tế nhị hoặc nói vài câu pha trò làm tôi cười lên vui vẻ. Nhưng những kỷ niệm  tươi đẹp ấy giờ đã tan rồi. Anh Quang của tôi  đã biến mất như bóng chim tăm cá. Chẳng biết anh lưu lạc về đâu hay có một bất hạnh kinh khủng nào đã đến với anh ?

Nhưng khi niềm tin và đợi chờ của gia đình sắp kiệt thì lại có thư về. Anh không nói rõ bằng lý do nào đã thoát ra ngoại quốc, chỉ kể là thời gian đầu có qua Mỹ nhưng sau vài tháng anh lại xin chuyển hồ sơ qua Pháp.Trên phong bì có đóng con dấu bưu điện Nice, một thành phố miền nam nước Pháp, nằm trên bờ biển Côte d’Azur, gần vương quốc Monaco. Hôm đó nhà tôi tưng bừng mở hội. Phép lạ đến bất ngờ như một sự hồi sinh.

*

*     *

Những gói quà và tiền bạc sau đó do anh thường xuyên gửi về đã làm thay đổi cuộc sống của gia đình tôi. Nhờ tháo vát và bén nhạy với tình hình tôi đã mau chóng tạo vốn và bắt đầu thành lập một cơ sở kinh doanh nhỏ. Gặp nhiều may mắn và thuận lợi nên công việc làm ăn của tôi phát triển đều.

Lúc đầu tôi cũng rất  ái ngại vì công sức của Quang. Tôi định bàn với gia đình khuyên anh ấy nên dành dụm để lo cho mình vì bên ấy đâu có ai thân thích. Nhưng suy đi, tính lại tôi lại thôi. Thời điểm đó cũng chính là lúc người ta vượt biên rất nhiều, ai định cư ở nước ngòai có vài tháng cũng đều gửi hình về, chụp bên cạnh những chiếc xe hơi bóng lộn. Người ta đua nhau kể chuyện dễ  thành công trong xã hội Tây phương, ai cũng có công ăn việc làm và hái ra tiền.

Thực ra trong thâm tâm tôi cũng chẳng tin những chuyện này. Ba tôi cũng thường bảo là trong xã hội vật chất Âu Tây, muốn có tiền phải trả giá đắt chứ không sao dễ được. Nhưng chồng tôi thì lại nói : “  Anh ấy có trình độ nên chắc dễ thành công hơn người khác- vả lại bên đó bỏ vài trăm quan mỗi tháng thì có nhằm nhò gì ! ”. Em dâu tôi cũng bảo : ”Lo gì, Anh ấy tự động gửi chứ chúng ta có đòi hỏi gì đâu! Vả lại, nếu không dư dả thì chắc anh ấy  đã không gửi đều đều như thế ”. Bà chị họ tá túc trong gia đình góp ý : ” Cậu ấy biết liệu cơm gắp mắm chứ ! Dì đừng lo hão ! ” Em trai tôi không nói gì. Mẹ tôi chỉ than “ Tội nghiệp thân nó !” . Còn tôi dù chưa thật an tâm, nhưng những lời của chồng và của em dâu, chị họ đã giúp tôi trấn áp được nỗi lo.

Đúng ra thì qua những bức thư anh Quang chưa bao giờ than thân trách phận.Thư anh chỉ nói chung chung, còn thì khuyên vợ chồng tôi ăn ở với mẹ cha sao cho có tình có nghĩa, yêu thương nhau,cố gắng làm ăn nhưng phải dành thì giờ để dạy cho con cái học hành, hướng dẫn chúng đi vào con đường tốt. Anh thường nhắc, cái đầu tư lớn nhất là tạo kiến thức và khả năng cho con cái. Dẫu thời thế có đổi thay, tiền bạc địa vị có thể mong manh, đảo lộn, nhưng nếu chúng còn sống thì bản lãnh có được sẽ không bao giờ mất. Nhưng máu kinh doanh đã làm tôi lạc vào mê hồn trận. Nhìn đâu đâu cũng  cảm thấy bị ám ảnh bỡi bạc tiền và danh vọng.Tôi xem những lời khuyên của Quang như là những lời nói hão huyền, không thực tế .

Anh Quang ít nói về mình, về những công việc đang làm. Chỉ thỉnh thoảng, và chỉ thỉnh thoảng thôi, anh mới than buồn vì không có bạn bè để đàm luận văn chương hay tán gẫu chuyện đời. Người Việt nơi anh sống quá ít, sách vở Tây phương anh đọc khá nhiều nhưng rất thèm sách tiếng Việt mà lại khó kiếm, có tiền cũng không dễ gì mua được. Anh ví von như người đã ăn đủ thứ cao lương mỹ vị, nhưng cuối cùng dưa muối quen thuộc đầu đời vẫn là món ưa thích nhất.

Những dịp tết tôi vẫn thường gửi thiệp chúc mừng anh. Nhiều lần tôi có ý mua vài số báo xuân, bài vở phong phú mà ngày xưa anh rất thích…nhưng cuối năm công việc rất nhiều, chuyện bán buôn, sổ sách, nợ nần vay mượn dập dồn…tôi không có thời gian nên cuối cùng lại quên đi mất . Sau đó nếu có nhớ, thì chỉ đành chép miệng thở dài. “Thôi, chờ dịp khác !” .

Công việc kinh doanh của tôi mỗi ngày một thêm phát triển nhưng tiền bạc và quà cáp anh Quang vẫn thi thoảng gửi về. Lúc này những món quà ấy không còn cần thiết cho cuộc sống của tôi như xưa nữa,nhưng nhiều năm qua nhận nó đã trở thành một thói quen. Vả lại có mất gì đâu ! Tôi mặc nhiên chấp nhận và gần như xem đó là một bổn phận không thoái thoát được của Quang. Thật thế, sau này nghẫm lại tôi vỡ lẽ ra là tất cả những ân huệ ban đầu, những ơn nghĩa thường xuyên, với thời gian người nhận vô tình bạc nghĩa như tôi thường  xem đó chỉ là những điều bắt buộc.

Tôi sung sướng thả đầu óc mình ngụp lặn trong những toan tính làm ăn và tự hào về những thành đạt của mình. Tôi hãnh diện thấy chồng mình uy nghi trên những chiếc xe đời mới, luôn  cập nhật để nở mặt với đời. Thời buổi này có tiền mà không chưng ra cho thiên hạ lé mắt thì thà không có còn hơn. Tôi không còn thì giờ để lo cho con cái nữa. Chồng tôi thì tương đối rảnh rang. Anh có thừa thì giờ để đi tắm biển,chơi bi da, tennis… và phó thác mọi việc lên vai tôi. Không hiểu sao anh Quang lại biết chuyện này,và có lần khuyên tôi nên sắp xếp cho hợp lý nhưng tôi thấy ở Việt Nam chuyện vợ làm chồng chơi là một chuyện bình thường. Ai cũng thế  mà ! Mình cam phận phục tùng chứ có ai bắt buộc đâu. Tuy thế  cũng có lần, trong một bức thư, anh Quang viết bóng gió là tại sao lại có  người  không biết tự ái  và vô trách nhiệm  với vợ con đến thế.

Mấy năm trước, có lẽ do một chuyện không vừa ý trong gia đình, tôi chợt nhớ đến anh.Nhớ da diết.Tôi bùi ngùi hồi tưởng đến những kỷ niệm  ngày xưa, rồi thấm thía với nỗi buồn ly biệt. Những câu chuyện cũ anh kể cho tôi lại lờ mờ hiện đến,đoạn nhớ đoạn không. Tôi lang thang trên bờ biển một mình rồi chợt nhớ là từ ngày xa cách đến nay tôi chưa hề gửi một món quà dù rất nhỏ cho anh. Cuống cuồng, tôi bươn bả chạy vào hiệu sách, nhưng không biết mua gì. Lâu nay tôi nào có thì giờ rớ vào sách vở nên biết đâu mà chọn. May có cô  bán sách là một tay mê truyện, đã chọn hộ cho tôi bộ tiểu thuyết hai quyển và một tuyển tập truyện ngắn. Tôi hối hả mang về . Đang định viết cho anh một bức thư dài  để gửi kèm thì nhà lại có khách.

Bẵng đi mấy tháng, khi tình cờ kiểm lại các sổ kinh doanh tôi lại thấy ba quyển sách vẫn nằm yên trong hộc tủ.Tôi vừa định lôi ra bao bì để đi bưu điện thì chuông cửa reo vang. Khi ra mở cửa thì thấy ông Vĩnh Phát. Ông  là một thương gia lớn bậc nhất thị xã, đến thăm và để đề nghị một áp phe. Suốt đêm ấy tôi không tài nào chợp mắt, lòng miên man nghĩ đến những mưu kế làm ăn.

Cứ thế việc kinh doanh của tôi cứ tiến triển đều và công việc phát triển bao nhiêu tôi lại càng bận rộn bấy nhiêu.Tôi dành hết thì giờ cho công việc và đầu óc không còn chỗ cho những điều vặt vãnh khác. Cơm nước và các việc gia chánh tôi đều phó thác cho người làm. Còn con cái thì năm khi mười hoạ tôi mới ngó ngàng đến và nếu tình cờ thấy chúng xớ rớ thì cũng chỉ hỏi qua loa về chuyện học hành, nhiều khi chưa kịp nghe các câu trả lời nhát gừng của chúng tôi đã thả hồn vào những chuyện làm ăn. Chồng tôi thì vắng mặt suốt ngày. Mới đầu tôi cũng có hỏi nhưng sau cho đó là một thói quen, một chuyện tự nhiên… mà dẫu có cho là bất thường đi chăng nữa thì tôi cũng đâu có thì giờ để quan tâm đến.

Anh Quang vẫn gửi quà và tiền bạc liên tục cho tất cả mọi người trong gia đình. Chồng tôi khen : ”Anh Quang tình cảm thật. Đáng phục! Đâu phải như mấy đứa em nhà anh qua Đức mấy năm mà chả có thư từ gì “. Em trai tôi thường hay im lặng, tính nó ít nói nhưng đứa em dâu và bà chị họ thì cũng khen không tiếc lời :” Anh ấy thật chu đáo, không bỏ sót một ai “ ; “Người tình cảm như vậy thật hiếm. Hy vọng cậu ấy sẽ kiếm được một cô vợ đảm đang “.

Phải, cô vợ đảm đang. Quái thật, anh Quang khá lớn tuổi, nhưng anh chưa bao giờ đề cập đến chuyện tình cảm của mình.Và chúng tôi cũng ít khi nhắc nhở, nếu có cũng chỉ hỏi qua loa vì tò mò thôi.Thì giờ đâu ! Chuyện mình lo chưa hết, hơi sức đâu lo chuyện bên Tây. Sau này, khi tất cả mọi chuyện đã qua, xét lại lòng mình tôi thấy vô cùng hổ thẹn. Có lẽ có một giai đoạn nào đó trong đời chúng tôi đã có lần thầm mong là anh cứ ở vậy, đừng lập gia đình để có thì giờ lo cho tất cả chúng tôi trong đại gia đình còn kẹt lại bên này.

Bỡi quà cáp và tiền bạc gửi về đều đặn quá nên chúng tôi cứ nghĩ là anh Quang có cơ sở kinh doanh hái ra tiền.Và có lẽ do vậy nên anh không bao giờ dám đề cập đến ? Nhưng ba tôi thường trầm ngâm và gạt phăng giả thuyết này : ”Thằng Quang là thằng thông minh và tháo vát nhưng không có máu làm ăn. Nó nặng tình  nên hết lòng chứ không có cơ sở gì đâu. Ba nghĩ đó là mồ hôi của nó “. Người ta hay nói “biết con không ai bằng cha” và dù không ai dám cãi vì kính trọng cha, nhưng lũ chị em chúng tôi không đứa nào tin. Lẽ dễ hiểu là chúng tôi không muốn tin điều đó. Vả chăng phải có lý do thầm kín gì nên anh mới giấu kín chuyện làm ăn của mình chứ. Trong các bức thư ngắn ngủi gửi cho anh, chồng tôi còn chỉ cho tôi gợi ý một cách khéo léo là cần nhiều vốn để kinh doanh.

Thời gian sau, cũng là dịp gần Tết, tôi lại tình cờ thấy ba quyển sách nằm chình ình hứng bụi trên góc tủ. Lần này tôi không định viết thư nữa, thôi thì viết vài hàng trên buu thiếp để gửi kèm cho anh cũng được. Tôi đóng gói và cột dây cẩn thận, nhưng vừa  ghi tên   người gửi thì  thình lình có khách đến thăm. Bác Tường, giám đốc sở thuế. Công việc làm ăn của tôi xưa nay tiến triển cũng là nhờ công ơn bác.

Gần năm sau, ba tôi mất bất ngờ sau một cơn bạo bệnh. Anh Quang không về kịp. Lúc đó những người vượt biên chưa được phép về rộng rãi. Anh viết một bức thư thật dài nói lên những bi thương và đau đớn của mình.Trong đó có một câu mà có lẽ suốt đời tôi cũng sẽ không sao quên nổi  “ Nếu phải đổi mười năm tuổi thọ của anh để một lần từ biệt với  ba anh cũng sẵn lòng” . Rồi sau đó gia đình gần như bặt tin anh.Tôi biết anh đau xót lắm.Trong gia đình anh gắn bó với ba tôi nhất và hay tâm sự với ba như một người tri kỷ. Vắng ba, anh không còn ai để tâm sự nữa. Những vấn đề mà anh quan tâm,về triết lý cao xa, chúng tôi không ai tha thiết nên không biết viết gì cho anh. Anh đã không còn ai để kể lể tâm tình. Điểm tựa vững nhất để anh  bám vào quê hương đã không còn nữa. Thư anh có viết thì cũng chỉ vài hàng ngắn ngủi, gượng ép kể chuyện vặt vãnh khác hẳn nội dung sâu xa như trước. Chỉ một lần duy nhất là anh có than buồn và đề cập đến chuyện nhờ tôi mua giùm một mảnh đất, hay một ngôi nhà thật nhỏ, để lúc già anh có thể được về chết trên quê hương. Anh nói lá rụng phải về cội. Lần ấy tôi xót xa và thương anh vô hạn.Tôi mường tượng hiểu là cái chết của ba đã xáo động cái mặt hồ yên tĩnh như tấm lòng nhạy cảm của anh.

Rồi những bí ẩn về cuộc đời tình cảm cuả anh cũng được phơi bày. Một hôm, thu xếp lại những giấy tờ của ba, tôi bắt gặp một phong thư anh viết khá dài. Có lẽ ba tôi đã ngấm ngầm dọ hỏi và như mọi lần, anh đã không ngần ngại tỏ bày với ba những suy tư thầm kín trong ruột gan mình.

Anh cho biết là anh chưa bao giờ dám nghĩ đến chuyện lập gia đình. Anh không muốn vướng bận vào những ràng buộc nào khác, bỡi anh còn có bổn phận phải lo cho những người thân còn kẹt lại Việt Nam. Đời sống bên nhà khó khăn, hiện tại anh là người duy nhất có khả năng  phụ giúp. Anh xem đó như là món nợ tinh thần đối với những người thân, bỡi trong lòng không lúc nào xoá bỏ được cái mặc cảm tội lỗi đã bỏ rơi gia đình trong lúc gian nan và biến động kinh khủng nhất. Hãng xưởng bị kiểm kê, nhà cưả, tài sản bị trưng thu, cha già bị giam hãm… chỉ còn  anh là con trai trưởng, chưa dính dấp gì đến chính trị, không tham gia vào chính quyền cũ, bạn bè đông…có thể xoay xở và an ủi gia đình thì lúc đó lại cao chạy xa bay, phó mặc cho mọi người chịu trận. Anh viết cho ba là sẽ không bao giờ dám tạo cho mình một mái gia đình, vì một khi đã quyết định chia ngọt xẻ bùi với người bạn trăm năm, anh không thể đã không mang được gì cho người ta mà lại còn buộc người ta phải trả món nợ của riêng mình…Tôi rơi nước mắt. Quái! Cuộc sống đầy những lọc lừa, lường đảo  – đời tôi chỉ thấy người ta quịt nợ chứ chưa thấy ai tình nguyện nhận nợ như anh ! Tôi giữ kín tâm sự này và chỉ kể lại với đứa em trai mà thôi. Khi nghe chuyện anh, nó chỉ yên lặng không nói gì. Nhưng nét buồn hiện lên trên khuôn mặt hiền từ của cậu ấy còn khổ đau hơn những lời bi thiết nhất.

Việc làm ăn của tôi vẫn tiến triển khả quan. Chẳng mấy chốc cơ sở làm ăn của tôi đã trở thành một trong những công ty lớn nhất thành phố. Bạn bè của tôi toàn những kẻ tai to mặt lớn, loại có máu mặt, đầy quyền thế, nhất hô bá ứng. Tôi bận rộn vô cùng. Liên lạc đầu này, giao tế đầu kia, tổ chức việc đầu tư này,thi hành kế hoạch nọ. Tôi làm việc đầu tắt mặt tối mới lo cho xuể những sáng kiến hái ra tiền. Người tôi gầy rạc đi nhưng tôi thật vô cùng mãn nguyện.Tiền vô như nước. Xung quanh tôi bao nhiêu người quanh quẩn,như những vệ tinh bay vòng quỹ đạo. Họ sẵn sàng chờ lệnh tôi và răm rắp tuân hành.

Dạo đó, đôi khi tôi cũng có nghe một vài tin gián tiếp về Quang. Một người quen sống ở Paris , trong dịp tháng tám đi nghỉ hè ở miền nam có gặp anh Quang. Ông ta nói  lúc này anh  gầy lắm vì phải làm hai việc, vừa tan sở nơi này lại tranh thủ làm thêm buổi tối ở một cơ quan khác. Anh bận bù đầu . Ông ta có mời anh đi ăn cơm nhưng anh không hứa chắc và cuối cùng không đến. Chồng tôi không tin, cho là ông ta ghét nên nói xấu và rủa anh Quang. “ Chắc chắn anh ấy có cơ sở làm ăn  chứ đi làm công cho người ta thì sao có thể dư dả để gửi nhiều tiền như thế”. Em dâu tôi cũng cùng một nhận định. Mặc dù thời gian gần đây ở Việt Nam người ta cũng bắt đầu biết những khó nhọc của những đồng hương sống ở nước ngoài, nên tôi nghĩ số tiền anh thường gửi đâu phải là ít ỏi . Nhưng chồng tôi quả quyết :” Khả năng gửi tiền như vậy không thể là của một người  đi làm công. Thằng cha Thanh láo khoét ”. Cô em dâu tôi cũng tán đồng : ” Miệng đời thiệt  độc địa ! Lâu nay anh ấy cố tình  không tiết lộ  công việc chắc cũng có lý do riêng…”. Tôi thật phân vân.

Rồi một hôm khi tình cờ xếp lại những hồ sơ, giấy má, tôi bắt gặp một gói giấy rơi sau bộ luật pháp kinh doanh trên kệ sách. Gói giấy màu vàng hình chữ nhật, có cột dây gai thành chữ thập. Bên góc trái có ghi tên người gửi.Tên tôi. Lạ quá. Có lẽ tôi đã định gửi mẫu hàng gì cho ai đây rồi bận việc, quên đi. Tôi cố tình moi óc và nghĩ mãi mà không biết mình định gửi cho nhà buôn nào.

Khi lấy kéo cắt dây thì bên trong hiện ra ba quyển sách. Trời ơi ! Tôi bàng hoàng vì cho đến lúc ấy  tôi vẫn chưa gửi  3 quyển sách cho Quang.

Suốt buổi chiều hôm ấy tôi thẫn thờ như người mất trí. Một chút lương tri còn sót lại và nỗi ân hận đang âm thầm dày xéo lòng tôi. Thôi, thà muộn còn hơn không.Tôi đập đập một góc sách bị mối ăn nham nhở  lên cạnh bàn rồi thay giấy gói lại. Suốt đêm tôi không tài nào chợp mắt, lòng tôi nóng như lửa đốt, chỉ mong đến sáng để gửi sách cho anh. Sáng hôm sau chưa kịp điểm tâm tôi đã đích thân ra bưu điện. Mãi đến khi làm xong thủ tục gửi bảo đảm, lúc về nhà lòng tôi mới hân hoan trở lại.

Rồi những ngày sau đó, công việc dập dồn đã đưa tôi trở lại cường độ cũ. Tôi quay cuồng trong nhịp điệu đam mê của bạc tiền, danh vọng.Tôi lại quên Quang đi. Nhưng lương tâm của tôi cũng đã ổn rồi, tôi đã gửi sách cho anh và như thế là món nợ tinh thần với anh coi như đã trả xong.

Cuối năm đó, những may mắn của đời tôi bỗng nhiên xoay lưng lại. Sau những đợt đầu tư thất bại vì tình hình thay đổi, cơ sở làm ăn của tôi bắt đầu xuống dốc. Nhưng vố đau đớn nhất của tôi là số lớn vốn liếng dành dụm được lâu nay đã bị chồng tôi lén lút đem nướng  trên chiếu bạc đỏ đen. Lúc  tối cần để xoay xở gỡ gạc tôi lại không còn một xu dự trử. Hạnh phúc gia đình tôi có nguy cơ bị lung lay. Bất hoà và lo nghĩ như một mảng lưới đen ngòm phủ  chụp xuống gia đình tôi.

Anh Quang lúc này lại bặt tin. Quái ! Mấy tháng gửi sách chắc đã đến tay rồi sao anh ấy lại không viết vài hàng để báo cho tôi biết.

Công việc làm  ăn của tôi  mỗi ngày mỗi thêm bết bát. Gỡ nhỏ, thua nhỏ; gỡ lớn,mất lớn… Chẳng bao lâu cơ sở chỉ còn có nợ. Bạn bè kinh doanh ngày xưa, kẻ xa lánh, người rút vốn, kẻ đòi lại phần hùn.Thậm chí có kẻ còn lợi dụng sự bối rối của tôi để quịt nợ và lường gạt nữa. Còn những tay chân thân tín, như những vệ tinh thình lình mất đi hấp lực, rơi lả tả như lá mùa thu. Tôi bơ vơ và trơ trọi ngay trên chính quê hương mình.

Đến lúc này tôi mới tha thiết nghĩ đến Quang. Chỉ có anh là điểm tưạ duy nhất còn sót lại của tôi. Vợ chồng tôi bàn tính rồi hội ý viết một bức thư thật lâm ly cầu cứu, mượn anh một số tiền để gầy dựng lại. Nhưng thư đi mà chẳng có tin về. Sốt ruột, chồng tôi nổi cáu :” Bộ thằng chả mất hết cả lương tâm rồi sao ? Hai mươi năm sống bên đó chắc đã thành Tây lai rồi. Người gì đâu mà bạc bẽo ! “. Lòng tôi nhói đau lên, nhưng tôi vẫn im lặng, không một lời biện hộ cho Quang.

Rồi một hôm tôi nhận được một bưu phẩm từ thành phố Nice. Mừng rú lên. Đó là một gói giấy có cột dây gai. Nhưng lạ quá, tên người gửi lại đề tên tôi. Khi đọc mảnh giấy gửi kèm  của bưu  điện tôi mới biết điạ chỉ gửi cho Quang không còn người nhận nữa.

Thế là thế nào ?

Tôi không biết làm gì hơn là chờ đợi. Nhưng tin Quang một lần nữa lại bặt vô âm tín. Chồng tôi nóng ruột, nổi khùng :” Nhất định là thằng chả làm ăn khấm khá nên đi mua villa rồi . Mới  nghe hỏi tiền nên  làm bộ trả sách về để  dàn cảnh cho dễ trốn đó thôi.Bộ chả tưởng lấy vải thưa mà che mắt thánh được à  ? Đúng là đồ ích kỷ và vô trách nhiệm  !“  Lòng tôi  hoang mang và vô cùng  bối rối.

*

Người đàn bà dừng lại như để lấy giọng, nhưng mãi thật lâu vẫn không thấy bà lên tiếng.Tôi sốt ruột nhưng không dám giục, kiên nhẫn chờ bà đọc nốt phần cuối câu chuyện.

– Thú thật viết đến đây chị như không còn đủ can đảm để viết thêm. Bao nhiêu năm dâu bể đã qua, nhưng cứ mỗi lần ngẫm lại, lòng chị lại buốt đau như có ai vừa cắt từng khúc ruột. Chị đã muốn đốt đi những trang giấy và chôn kín tâm sự trong lòng, nhưng thời gian đâu có phải là dòng suối giảm  đau.

“Sau đó thì tôi nhận được tin Quang. Nhưng lần này lại không do anh viết. Tin đó qua trung gian một người bạn Pháp mà tôi nghĩ là một người bạn gái rất yêu anh. Trên trang thư có lấm tấm những vòng tròn bằng đồng xu có lẽ đó là những giọt nước mắt giờ đã khô giòn. Người mà tôi nhờ  phiên dịch  khó khăn lắm  mới đọc được những  dòng  chữ nguệch ngoạc  và  run rẩy trên trang giấy mỏng :

Đầu mùa đông năm ấy anh Quang bị sưng phổi nên phải vào bệnh viện. Tháng sau khi đã tạm bình phục, bác sĩ khuyên anh nên ăn uống và nghỉ ngơi điều độ, cấm hẳn việc làm ban đêm, sợ đi khuya về lạnh có thể làm bệnh tình tái phát.

Nhưng anh vẫn bướng bỉnh không nghe. Ra viện, anh phải thuê một căn nhà nhỏ  và thiếu tiện nghi hơn vì vốn liếng dành dụm đã chi phí thuốc men, nên không thể trang trải tiền thuê căn nhà cũ vốn không lấy gì sang cả lắm.  Anh vẫn tiếp tục đi làm hai việc để  gửi tiền về phụ giúp chúng tôi. Sức khoẻ anh suy sụp  và vơi  dần như cái chai bị nứt . Một đêm tháng giêng, khi tan việc thì đã khuya, anh lái xe về nhà, phần mệt  mỏi, phần sương mù , trong một  cơn buồn ngủ xe lao vào cột điện, lăn mấy vòng rồi bốc lửa. Bị cột thắt bỡi dây an toàn, xác anh bị cháy thành than. “

Đọc đến đây bà Trâm cuốn tròn quyển nhật ký cho vào túi xách rồi  đăm đăm nhìn vào khoảng không trước mặt. Dưới những lọn tóc chớm bạc đang bay bay loà xoà trên trán  là đôi mắt vô hồn, sâu thăm thẳm. Tôi yên lặng cảm thông nỗi thống khổ của bà. Lòng tôi xót xa trước những cảnh ngộ trớ trêu của những kiếp người. Thời gian mong manh hữu hạn nhưng hình như chúng ta không dành cho cuộc sống, cứ mãi chạy theo những ảo ảnh hão huyền và lầm lạc. Rồi đến khi mất mát, dẫu  ân hận vô bờ cũng không làm sao kéo lại.

Sau  tiếng thở dài , tôi tò mò hỏi :

-Vậy quyển sách gửi đi cuối cùng chị vẫn còn giữ ?

-Vâng, chị sẽ  giữ mãi, để tự nhủ lòng mình.

-Thưa chị , quyển tiểu thuyết  đó tên gì  ?

– “ Một tấm lòng vàng”

Tôi thấy bà lấy khăn chặm hai dòng nước mắt vừa ứa ra hai bên má, rồi sau tiếng thở dài bà chép miệng : “Dù sau này có ai thông cảm và tha thứ cho tôi,nhưng chính tôi không bao giờ có thể tự tha cho mình được.”

TRƯƠNG VĂN DÂN                                                                                                                                                                             Milano 01-1998

Vài hàng cuối truyện :

Thưa chị…, câu chuyện mà chị chỉ “viết cho riêng mình”,không muốn cho người đời thóc mách, 8 năm sau “bị” em biên tập lại. Dĩ nhiên là em có thay đổi tính danh và chỉnh lại một vài chi tiết .Nhớ lời chị dặn trong chuyến về thăm Vũng Tàu năm 1990 , nên dù hòan  tất đã lâu nhưng em vẫn để yên bản thảo trong hộc tủ.“ Chị “phải” đọc cho em nghe, nếu không chắc sê nổi điên. Nhưng xin em đừng kể lại cho ai .”

Bây giờ dưới lớp bụi thời gian,15 năm qua đã là chứng nhân biết bao thay đổi :  Bác gái và chị đều đã qua đời vì bạo bệnh và những người liên quan đã không còn ai sống ở VN nữ a: Chồng chị và các cháu được gia đình bảo lãnh qua Canada, gia đình người em trai sinh sống ỏ Na Uy còn người chị họ về sau lấy một việt kiều và hiện giờ định cư ở Mỹ…

Dù không quên lời dặn và không muốn phản bội niềm tin mà chị đã gứi gắm cho mình, nhưng lúc này thì em  lại nghĩ rằng câu chuyện trên trang nhật ký đó, trên thực té nó chẳng phải là của riêng ai, mà là một cách sống có thực  của một thời, của một giai đọan khó khăn và tình người đảo lộn, nên quyết định gửi bản thảo cho một tạp chí văn chương. Em hy vọng là ở bên  kia thế giới chị cũng sẵn sàng chia sẻ với suy nghĩ của em , còn nếu không thì em ngàn lần xin linh hồn chị thiêng liêng thứ lỗi. (Tháng 8-2006)

Read Full Post »

Nàng Apsara Đang Yêu

NAM THI

Đêm hôm ấy…

Hắn thức dậy lúc 2 giờ 15 sáng sau giấc mơ kỳ diệu . Điện cúp lúc hắn đang ngủ nên máy lạnh của khách sạn ngưng hoạt động tự khi nào. Căn phòng tối nhờ nhờ. Mồ hôi vã ra, ướt nhèm nhẹp chiếc áo thun, khiến hắn có cảm giác lưng hắn bị dán chặt trên nệm. Hắn uể oải ngồi dậy, mò mẫm vào toilet rửa ráy rồi tìm quẹt ga bật lửa châm điếu thuốc. Hắn mở cửa phòng ra hành lang. Trăng mười tám bàng bạc. Gió mát từ biển làm hắn tỉnh hẳn, mặc dầu đầu vẫn lâng lâng vì dư vị của giấc mơ và nằng nặng vì trận nhậu đầu hôm. Hút hết điếu thuốc hắn cảm thấy tỉnh táo hơn và quyết định đi xuống bãi biển.

Người bảo vệ nhắc hắn không nên dạo chơi xa khách sạn vì đã khuya rồi. Hắn mời anh ta một điếu thuốc rồi theo lối đi nhỏ xuyên qua đám dương liễu cổ thụ ra bãi biển. Biển êm, chập chờn vô số đèn câu tít tắp ngoài khơi xa. Bãi biển không một bóng người. Hắn đi dọc mép nước về hướng Nam, nơi có những tảng đá lớn nối biển với núi  Đá Chồng. Hắn ngồi xuống chính tảng đá mà hắn đã ngồi với nàng. Hắn cũng nhận ra vạt cát trắng khô ráo sau tảng đá mà hắn và nàng đã trải qua những phút giây hoan lạc. Nước thủy triều đã xóa mọi dấu vết, hắn nghĩ vậy khi nhận ra mặt cát phẳng lỳ, trơ trụi.

Rõ ràng, nàng đã đứng trên tảng đá kia, lồng lộng . Gió cuốn tấm voan mỏng nàng khoát hờ trên vai, thấp thoáng dưới ánh trăng tấm thân nõn nà, căng tròn. Những ngón tay cong vút mềm mại như ngọn cỏ trước gió Xuân, xòe ra như đóa sen nở đầu Hạ. Nhịp chân lả lướt như sóng gợn lăn tăn…Bỗng nàng bay vút lên về hướng vầng trăng và biến mất sau đỉnh Hòn Chồng.

“ Cũng chỉ là một giấc mơ…”. Hắn tự bảo mình và quay về khách sạn. Nhưng kể từ ấy, Apsara, nàng tiên trong giấc mơ, luôn ám ảnh hắn.

 

Hắn ước áo được gặp lại nàng…

Hắn, 29 tuổi, khỏe mạnh, khá đẹp trai và lịch lãm – lợi thế giúp hắn được nhiều cô gái để ý. Tuy vậy, hắn thường bị bạn gái chia tay bất ngờ khiến có người đồn đoán rằng hắn thuộc loại “tốt mã rã đám”. Bị bạn bè trêu chọc, hắn chỉ cười nửa đùa nửa thật: “ em nào nghi ngờ cái sự đàn ông của tớ, cứ thử thì biết liền…”. Làm sao biết được có cô nào đã “thử” hắn chưa .

Sau khi tốt nghiệp cử nhân Anh văn, hắn lêu bêu thất nghiệp mấy năm vì ngoại ngữ là phương tiện giao tiếp chứ không phải nghề nghiệp chuyên môn. Hắn nhận ra điều đó và quyết định “tái đào tạo” mình bằng cách học một khóa sáu tháng và trở thành hướng dẫn viên du lịch. Hắn xin được việc ở công ty lữ hành Happy Dragon Travel, Ltd. Suốt hai năm hắn là tour guide hàng trăm đoàn du khách nước ngoài thuộc mọi quốc tịch. Hắn đã chọn đúng nghề.

Do nhu cầu công việc, hắn nghiên cứu văn hóa, tín ngưỡng Chăm để thuyết trình cho du khách tham quan các đền tháp dọc duyên hải miền Trung. Mở rộng hơn, hắn tìm hiểu đôi điều về Ấn giáo. Apsara  là nữ thần gần gũi hình ảnh con người nhất với nụ cười chúm chím trên đôi môi mọng, bộ ngực căng tròn, những ngón tay biết nói, đôi chân thon dài mời mọc. Apsara là nữ thần tình ái với tài ca múa tuyệt vời . Hắn say mê Apsara là vì thế.

Hắn hy vọng trong số những cô gái mà hắn gặp trong đời thường, có ai đó mang bóng dáng Apsara. Nhiều cô có ngoại hình Apsara nhưng hầu hết họ không biết múa hát, thậm chí không có chút máu “văn nghệ”. Một vài cô giỏi ca múa, ngoại hình đẹp nhưng hắn lại thất vọng vì bên trong trống rỗng, vô duyên. Đó là nguyên nhân hắn chủ động chia tay với nhiều cô gái chứ không phải hắn bị bỏ rơi như những kẻ xấu miệng đồn đoán.

Rồi một hôm…

Mọi người ngạc nhiên nhận được thiệp hồng của hắn. Vợ sắp cưới của hắn là cô sinh viên thực tập mà hắn hướng dẫn làm luận văn tốt nghiệp một năm trước. Với mọi người, đó là một cô gái bình thường không hát hay, múa giỏi, không có ngoại hình khiêu gợi nhưng là Apsara mà hắn  tìm kiếm bấy lâu.

Hắn chọn cô gái ấy làm vợ bởi vì trước khi chia tay hắn trong giấc mơ đêm nào, Apsara đã thủ thỉ : “ Em cảm tấm lòng ái mộ của chàng nên liều đến với chàng lần này và cũng là lần cuối. Tuy chỉ một lần gần chàng nhưng em rất toại nguyện: một lần hạnh phúc còn hơn bị lãng quên nghìn năm. Vì em là nô lệ của thần Indra, nên nếu chuyện nầy lộ ra em sẽ bị trừng phạt, mặc dầu thần có vô số apsara như em. Tuy em không được gần chàng mãi mãi nhưng em sẽ hóa thân vào một người đàn bà thực lòng yêu chàng. Sau nầy, trên thế gian chỉ còn tượng đá Apsara vô tri vô giác, sẽ mai một cùng  với các đền đài hoang phế…”*

* Nam Thi

(06-8-2011)

Read Full Post »

Dì Lucia

Truyện ngắn

MANG VIÊN LONG

Ông xã trưởng đang nói với đồng bào ấp L.N. về tình hình đất nước, vấn đề hòa bình và ngưng bắn, và lập đi lập lại lập trường của chính phủ. Tôi đứng trên bục gỗ (chỗ tụ họp nói chuyện, học tập, thảo luận là một ngôi trường sơ cấp hai lớp, một phòng bị ngã sập, mái tôn thủng nhiều lỗ đạn loại lớn) tay chắp sau lưng, ngó ra ngoài khung cửa sổ lớn. Đây là lần thứ tư hay thứ năm gì đó, tôi quay mặt ra ngoài, qua khung cửa sổ.

Tôi nhìn ra vùng nắng chiều ngoài cánh đồng, có mấy con trâu đang đi dạo theo bờ ruộng hẹp. Tôi muốn nghĩ tới một chuyện khác hơn là cứ để sự bực dọc ray rứt. Tôi chăm chú nhìn vào luồng nắng, nắng vàng, êm ả và mong manh quá. Tôi chợt nghĩ là từ khi vào lính, mặc vào người bộ áo quần dầy cộm nầy, tôi chưa có được một dịp nào, để nhìn một chút nắng êm đềm như vậy, mà mơ tưởng tới một ước mơ nhỏ nhắn tầm thường cho đời sống mình. Tôi bận rộn, tôi ngơ ngác. Tôi bồn chồn. Bấy nhiêu tình cảm đó cũng đủ khiến tôi mệt đừ trong hai mươi bốn giờ của một ngày.

Bóng nắng hình như mỗi lúc một vàng võ, yếu ớt hơn. Tôi đoán có lẽ trời đầy mây. Mùa đông – tháng mười, nắng vẫn đượm một màu vàng bạc buồn bã như vậy. Nếu là một người bệnh, nhìn màu nắng nầy, chắc hẳn sẽ thấy nôn mửa, hay chếnh choáng. Chiều hôm qua dì Lucia hình như cũng đã nói một cảm tưởng tương tự như thế với tôi khi tôi tới thăm dì. Lúc tôi đẩy cánh cửa sổ sát chỗ dì nằm, dì đã kêu chóng mặt vì ánh nắng chiều chếch xuống. 

Tôi nhớ dì Lucia bị bệnh từ thứ hai tuần trước. Buổi chiều chúng tôi di chuyển từ chỗ công tác tới nhà thờ T.A. để nghỉ đêm, dì còn đứng ở cổng Cô nhi viện, nhìn bâng quơ ra cánh đồng, bầu trời lờ lững mây trước mặt. Tôi tìm một chỗ để cởi bỏ súng đạn, ba lô xong, tiến lại phía dì. Tôi không ngờ tôi đã gặp một người nữ tu trẻ, và đẹp như dì Lucia. Chắc là tôi khó có thể tả lại được một vẻ đẹp như vẻ đẹp của dì Lucia, nhưng tôi có thể nói chắc một điều, xưa nay tôi chưa hề được gặp một người nữ nào có một vẻ đẹp, vừa quyến rũ, vừa thánh thiện như thế.Có lẽ nét hồn hậu, điềm tĩnh của dì, khiến tôi về sau này, thấy nhớ dì hơn.

Tôi dừng lại trước mặt dì Lucia – gợi chuyện :

-Thưa dì, buổi chiều chắc dì rảnh? Dì Lucia nhìn tôi hơi ngạc nhiên.

-Chúng tôi ít khi rảnh lắm, hơn nữa, chúng tôi không muốn được rảnh rổi làm gì.

Tôi cười:

-Có lẽ dì khác ở với anh em chúng tôi nhiều. Chúng tôi mong được nghỉ, cũng không được. Đi công tác thế này, buổi chiều, sau năm giờ, coi như được thư thả đôi chút.

Dì cười:

-Phải khác chứ!

Dì Lucia nhìn tôi thật chậm sau câu nói. Tôi thấy đôi mắt dì có nhiều điều thích thú. Tôi hút một hơi thuốc dài, nhìn xuống chút khói mỏng ở đầu điếu thuốc : “Thưa dì, phải khác, nhưng có lẽ cũng có một điểm nào đó giống nhau chứ dì?”

-Ông ví dụ như điểm nào?

-Chẳng hạn như chiều nay, dì cũng có một tình cảm buồn như tôi… dầu cho là mỗi người có một cái buồn khác.

-Không được. Tại sao ông biết tôi buồn ?

-Tôi biết nhưng không thể nói được. Dì có đồng ý là có nhiều điều chúng ta biết, mà không thể diễn đạt, nói ra không?

Đôi mắt dì mở lớn:

-Tại sao vậy?

Tôi im lặng. Tiếng một đứa trẻ gọi dì Lucia ở dãy hành lang đầu. Dì vén tay áo, xem giờ, rồi hỏi : “Ông đóng ở đâu?”.

-Thưa dì, tối nay chắc phải ngủ nhờ tại nhà thờ. Ngủ quanh hiên. Mấy đêm rồi ngủ canh đồn Đại Hàn bên kia, đêm đêm chúng bắn đại bác gọi la ơi ới, ngủ không được.

Dì cười:

-Lúc nào rảnh, mời ông tới chơi, giờ tôi phải đi chích thuốc, rồi lo tắm rửa, coi sóc chỗ ngủ cho lũ nhỏ.

Dì Lucia quay vào cổng viện. Bước đi vội vàng. Bước đi thoăn thoắt. Những bước chân dì dầu có vội vã, nó vẫn là những bước êm ái nhẹ nhàng như những bước chân chim. Chim sẻ. Thực sự là tôi ngơ ngẩn vì những bước chân dịu dàng đó. Tôi nhớ: “Lúc nào rảnh, mời ông tới chơi”. Lời dì Lucia thốt lên tự nhiên ngọt ngào quá. Bây giờ tôi đã được rỗi rảnh đây, tôi muốn được đi theo dì vào viện, tôi muốn được nhìn lại nụ cười ánh mắt ấm cúng hồn hậu của dì lúc này. Tôi búng mẩu thuốc xuống đất, quay nhìn vào phía trong viện, những bóng áo chùng đen, những bóng áo dài trắng, thấp thoáng trong các dãy hành lang sâu lòa nhòa bóng tối. Tự nhiên tôi đi ngược trở lại ngôi nhà thờ. Buổi chiều âm u. Có lẽ đêm nay sẽ có một cơn mưa lớn…

*

Qua hệ thống liên lạc của trung đội nghĩa quân trú đóng gần căn nhà được mượn tạm dùng làm trụ sở xã, tôi nói chuyện với ông Loan Bích. Tôi trình bày cùng ông tình hình an ninh của xã, về mấy ông nhân dân tự vệ, về phương tiện và sức khỏe của toán công tác và xin được tạm nghỉ đêm ở một tọa độ khác. Ông ta vui vẻ chấp thuận lời đề nghị của tôi, kêu tôi cho một tọa độ chính xác, để có thể yểm trợ nếu có việc gì xảy ra. Tôi giở bản đồ, đọc tọa độ mới, tọa độ của ngôi nhà thờ chúng tôi đã nghỉ tối hôm trước. Ông Loan Bích hỏi: “Báo cáo trong ngày anh có gặp trở ngại nào không?”. Tôi đáp : “Thưa Thiếu tá, không có gì”, và đặt ống liên hợp xuống.

Suốt ngày nay, chúng tôi đã theo trung đội nghĩa quân, nhân dân tự vệ, cảnh sát xã, đến ấp X.M – một ấp được ghi nhận tình trạng an ninh yếu kém nhất của xã. Theo sự lưu ý của ông cuộc trưởng, tôi nhìn thấy bất cứ ngôi nhà nào của ấp này cũng có một chiếc bàn thờ, nhang đèn nghi ngút. Dân cư thưa thớt, từng ngôi nhà rải rác, vườn tược hoang vắng, tôi chỉ gặp được toàn đàn bà, con nít và ông già. Tất cả họ đều có vẻ sợ hãi, nghèo khó, và tội nghiệp. Sống ở đây, tôi biết họ phải gánh lấy nhiều điều đau lòng, nhưng tôi biết làm sao hơn, khi tôi chỉ ở lại với họ một ngày, chỉ có nhiệm vụ giải thích, loan báo cho họ về một ngày ngưng  bắn hay hòa bình sắp tới. Tôi không được làm gì khác, và tôi cũng không có đủ quyền để làm khác. Tôi cũng đã cầu nguyện hòa bình, yên ổn như họ. Tôi chỉ biết cùng họ ước mong rằng thù hận, và máu lửa, thôi không còn kéo dài, tiếp diễn trên quê hương này nữa mà thôi. Hình ảnh kham khổ của họ đã cho tôi nhìn thấy rõ chiến tranh, thù hận, là một điều đáng ghê tởm, và đáng nguyền rủa nhất. Có bao giờ, những người chủ chiến nhìn thấy được những nét mặt, những đời sống cùng khổ này không?

Tôi được Souer Thérèse cho hay, dì Lucia đang nằm trong phòng, cuối dãy nhà, vì bệnh nặng. Tôi xin phép Soeur được tới thăm di Lucia. Soeur do dự một lúc, nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên, rồi cười khỏa lấp: “Ông vào xin Bề Trên. Có lẽ Bề Trên sẽ cho phép”. Tôi ngập ngừng, chưa nói được gì thì Soeur đã bước đi. Tiếng lũ trẻ ồn ào cười nói phía sau khu nhà giữa. Tôi bước dần ra phía sau, nghĩ tôi có thể lén Bề Trên tới thăm dì Lucia một chút cũng không hề gì. Tôi chắc tôi sẽ không làm một điều gì có tội khi thăm một người bệnh.

Dì Lucia kêu lên:

-Ông, làm sao ông biết tôi nằm ở đây?

Tôi cười:

-Hỏi thăm, thưa dì.

Dì ngồi dậy, hai chân xếp trên nệm, dáng bình thản;

-Ông hỏi thăm ai ?

-Thưa , dì Thérèse.

Tôi thoáng thấy trên nét mặt dì Lucia hiện lên một chút lo lắng, hay một chút gì bàng hoàng. Dì cúi đầu nhìn xuống tấm drap trắng phủ nệm, im lặng, khó xử. Tôi đẩy cánh cửa sổ cạnh giường của dì, ánh nắng chiều chiếu chếch vào chỗ dì ngồi. Dì Lucia ngẩng lên, nói nắng chiều buồn quá. Nó làm người bệnh chóng mặt. Lúc tôi định kéo khép cánh cửa lại, thì dì cười, nói thôi, để vậy cho sáng sủa. Tôi khuyên dì nên để cửa cho quen, đau bệnh mà thiếu ánh sáng, có lẽ dì sẽ khó khỏi. Dì cho tôi hay dì bị sốt đột ngột, từ nửa đêm hôm qua. Cơn sốt nóng kéo dài tới ba, bốn giờ sáng, rồi dì bị rét. Bây giờ, đã khỏe rồi, nhưng Bề Trên chưa cho phép rời khỏi phòng. Tôi cũng kể cho dì Lucia nghe mấy ngày công tác vừa qua của tôi, những chiếc bàn thờ hương khói nghi ngút, những chiếc hầm bí mật, những nét mặt nhăn nhó của đám người tôi được gặp, và sau cùng là ước mơ của tôi về một ngày hòa bình được trở về dạy học, được vun xới một mảnh vườn, được viết những điều muốn viết.

Dì Lucia tươi cười:

-Ông ước mơ nhiều quá.

Tôi hút một hơi thuốc, cười theo dì:

-Đâu có gì là nhiều, thưa dì. Sống như tôi mà không có hy vọng, ước mơ, thì khổ chết. Đời lính ngắn ngủi và buồn lắm – không biết “ra đi” lúc nào!

Dì hỏi:

-Vậy ông có tin được như vậy không?

Tôi đáp:

-Dĩ nhiên là phải tin. Tôi cầu nguyện luôn…

-Tôi cũng cầu nguyện cho ông!

-Được vậy thì diễm phúc cho tôi quá – Xin dì hãy cầu nguyện cho tôi.

Dì nhìn tôi xúc động. Đôi mắt dì chợt sáng lạ thường. Trong tia sáng của đôi mắt dì Lucia, tôi mơ hồ đã gặp, đã thấy được ở đâu đó. Tôi nhìn dì, im lặng. Chúng tôi ngồi im lặng. Tôi nghe rõ tiếng chim sẻ kêu dọc theo mái hiên ngói, phía ngoài hành lang. Buổi chiều đã xuống thật thấp bên ngoài…

*

Tiếng vỗ tay nổi lên. Tôi quay phắt lại, thấy mọi người nhìn tôi – Ông xã trưởng nhường lời cho tôi. Tôi tiếp tục kêu gọi bà con nêu ý kiến, thắc mắc. Tôi lập lại lời hứa là sẽ lấy sự thành thực, lấy sự suy nghĩ chân xác để trả lời. Tôi không thích chiến tranh. Tôi không là cán bộ tuyên truyền. Nhưng là một người trẻ biết trách nhiệm với quê hương, còn tin tưởng và hy vọng để xây dựng. Chính chúng ta phải xây dựng xứ sở của chúng ta chớ không ai khác, sau ngày ngưng bắn và hòa bình.

Chúng tôi đi từ giã mấy gia đình cạnh đó, rồi trở về xã. Đây là ngày công tác cuối cùng của chúng tôi, ngày mai sẽ trở lại chi khu, nhận lãnh công tác ở xã khác. Tôi nôn nao chờ xe để trở lại ngôi nhà thờ. Trong đầu tôi, hình ảnh dì Lucia đứng ở cổng Cô nhi viện, bóng áo trắng lẻ loi, đôi mắt xa vời buồn bã, như lúc nào cũng khiến tôi nao nức, hoang mang. Trong giấc ngủ muộn màng đêm khuya, tôi vẫn thường mơ thấy dì Lucia đứng đó, trước cánh cửa sắt, bờ tường rêu đen chạy dài theo con lộ vắng vẻ. Từ ngày gặp dì Lucia, tôi thường tự hỏi, tôi có còn dịp nào gặp lại được dì sau này chăng? Dì đã nói: “Xa đây, chắc ông không còn dịp nào gặp tôi nữa đâu. Tôi cũng sắp đi nơi khác rồi”.

Tôi đến nhà thờ thì anh em đã treo võng nằm hút thuốc, nói chuyện, rải rác dọc bờ rào. Tôi vội vã cởi bỏ súng đạn, nói với mấy người bạn là đi thăm dì Lucia lần chót. Họ cười : “Còn ngày nào ở đây, ông còn nói đi thăm dì Lucia ngày đó mà”, một người bạn nói.

Tôi cười:

-Ở đây hay ở đâu, chắc tôi phải đi thăm dì Lucia mỗi ngày.

Tôi rời họ ngay để tránh những câu nói đùa cợt, khó lòng ngăn cản. Thực sự là họ đoán đúng: Tôi đã yêu dì Lucia. Điều đó hẳn dì Lucia cũng nghiệm thấy. Phần tôi, tôi chưa thể đoán biết rằng dì có nghĩ gì về tôi, có giống như tôi đã yêu và nhớ dì ngay trong những giấc ngủ. Tôi chỉ thấy dì thực vui khi gần tôi, nói chuyện, và dì trầm lặng khi nghe tôi từ giã. Tôi đọc được ở đôi mắt dì nhiều hơn là lời nói. Đôi mắt ấy thực tinh khiết và nồng nàn.

Dì Lucia hỏi:

-Như vậy là sáng sớm ngày mai ông đi rồi phải không?

Tôi lập lại:

-Thưa dì, sáng sớm ngày mai.

Dì cười :

-Mấy ông khổ nhỉ?

Tôi ngước nhìn dì:

-Khổ nhiều chuyện lắm dì ạ.

-Tôi biết.

-Dì có buồn không?

Dì Lucia ngập ngừng:

-Tôi cũng là một con người…

Chúng tôi đi dọc theo bờ tường, phía trong, dưới những hàng bạc hà cao. Cánh đồng phía trước im vắng. Khu nhà nguyện chưa có bóng người. Dì Lucia lặng lẽ hơn sau câu nói, như một lời tự thú, một câu giải bày giản dị nhưng quá khó với dì lúc này. Tôi nghe tôi bàng hoàng. Nếu dì Lucia không cầm xâu chuỗi trên tay, không mặc bộ áo chùng trắng, không còn vướng bận tới những lời khấn trước đức Chúa để hiến dâng trọn đời dì, thì tôi đã nói thực với dì rằng tôi đã yêu dì như một mệnh số. Tôi không thể quên dì. Và ước mơ của tôi, sau cùng, là được gần dì mãi như chiều nay. Nhưng dì Lucia đã quay lại hỏi : “Giáng sinh này ông ở đâu?”

-Thưa dì chưa rõ được.

Dì Lucia cười:

-Tôi hỏi để coi ông có thể tới vui với mấy em ở đây được không?

Tôi quả quyết:

-Tôi sẽ tới, thưa dì. Chắc là ở đâu tôi cũng sẽ về đây ngày Giáng Sinh… Dì hãy cầu nguyện cho tôi còn sống để trở lại.
MANG VIÊN LONG

 (1) Tạp chí Bách Khoa-số384 tháng 11.1973)

 Tuần báo Văn Nghệ – Hội Nhà Văn VN – Hà Nội đăng lại/ 2008

Read Full Post »

Võ Phiến

Tranh Khánh Trường

Thỉnh thoảng chúng ta gặp ở tiệm một vài người Mỹ ngồi ăn phở. Có người cầm đũa khá thạo. Trong số một đôi triệu người Mỹ luân phiên đến xứ này rồi ra đi, những kẻ tò mò tiến xa vào nếp sống Việt Nam tới mức ấy chắc không lấy gì làm nhiều. Các kẻ ấy trở về nước, giữa dăm ba câu chuyện ly kỳ về đất Việt xa xôi kể với bạn bè, có thể múa biểu diễn cặp đũa, có thể nói đến cái mùi lạ lùng của rau quế vừa ăn vừa ngắt từng lá bỏ vào tô phở, đến cái vị ngộ nghĩnh của những tép củ hành nhúng trong nước dùng vớt ra với chỏm lá xanh xanh v.v… Như thế là vượt xa quá những khuôn sáo, những chỗ gặp gỡ thông thường của các du khách rồi. Du khách Tây phương nói về món ăn Việt, bất quá gặp nhau ở món nước mắm, rồi thôi.

Vậy những người Mỹ hiếm hoi nọ đáng khen, về sự hiểu biết rộng rãi.

Tuy nhiên từ chỗ biết ăn phở cho đến cái trình độ am hiểu các đặc điểm, các sở trường sở đoản của từng thứ phở bò, phở gà, phở nước, phở áp chảo, phở tái, phở chín, phở nạm, phở gầu, phở sụn v.v…, còn nhiều cách biệt. Rồi từ chỗ thạo phở cho đến cái tâm tình về phở như của Nguyễn Tuân, lại còn một tầng cách biệt nữa. “Nắm vững” một món ăn — chỉ một món thôi — đâu phải dễ.

Thật vậy, không cứ là khách ngoại quốc, ngay đến người Việt Nam không phải ai cũng bưng tô phở mà ăn như nhau, với những cảm tưởng giống nhau. Một nông dân ở thôn ấp nào đó ngoài Phú Yên, Quảng Ngãi v.v… ăn phở Bắc cũng như ăn hủ tiếu Mỹ Tho, cũng như ăn mì Tàu, nghĩa là hững hờ. Còn người nông dân ở Cà Mau, Rạch Giá v.v… chẳng hạn có thể có sự thiên vị bất lợi cho phở. Người Việt miền Nam chỉ hoan hỉ chấp nhận món phở sau một vài canh cải, tức sau khi đã trút vào tô phở được non nửa dĩa giá sống.

Phở là món ăn phổ biến hết sức rộng rãi từ Bắc chí Nam mà còn thế, huống hồ là những món ăn khác. Mỗi món ăn thường chỉ được sủng ái ở một vùng, hoặc rộng hoặc hẹp. Xơi nó thì ai cũng xơi được, nhưng gọi là tri kỷ, biết đến tận cùng cái ngon của nó, chỉ có thể là người một địa phương. Chả cá, bún thang, là những thứ quí của đất Bắc; từ ngày vào Nam dường như nó lạc lõng, ít ai thấu triệt ý vị của nó. Bún bò, bánh lá, ngày nay lưu lạc khắp nơi; nhưng tôi tưởng tượng ở một góc chợ Trương Minh Giảng, ở một hẻm Bàn Cờ, thỉnh thoảng miếng bánh lá mỏng mà gặp lại một cái lưỡi Huế có phảng phất mùi thuốc Cẩm Lệ nó sẽ mừng rơn. Bỏ một miếng bánh, húp một muỗng bún vào mồm, có phải ai cũng thưởng thức như ai đâu. Giữa món ăn với người ăn phải có sự tương đắc. Khi đã tương đắc, đã cảm thông sâu xa với nhau, người Nam ăn ba khía, ô môi, người Huế ăn cơm hến, người Bình Định ăn mắm cua chua chan bún thấy thấm thía, nồng nàn. Cái mùi vị nồng nàn ấy, kẻ khác không chịu được.

Mỗi món ăn chỉ có một số người thực sự hiểu nó, số người ấy là của một địa phương. Vậy món ăn có liên hệ đến khí hậu địa phương chăng?

Ở xứ lạnh dễ thấy cái ngon trong trong chất mỡ béo, ở xứ nóng dễ rành về các thứ rau, canh. Người Huế ăn cay, một phần hình như cũng vì khí trời ẩm ướt của những mùa mưa dai dẳng. Người miền Nam thích giá sống vì nó giải nhiệt?

Khi đã chuyên ăn một món nào đó, người ta càng ngày càng thành thạo trong việc chọn lựa, sử dụng, người ta tìm thấy ở nó những đặc điểm mà kẻ khác không để ý đến; do đó người ta vượt bỏ, tách rời khỏi quần chúng. Về quả ớt chẳng hạn, chắc chắn đồng bào ở các nơi ít ai theo kịp người Huế trong cách thưởng thức: kẻ yêu ớt không chỉ yêu nó vì cái vị cay, mà còn vì mùi hăng nồng, vì cái tiếng kêu giòn phát ra dưới răng khi cắn nó, lại yêu vì trông nó sướng mắt, cầm nó sướng tay trong giây phút mân mê trước khi đưa lên mồm… Người Huế ngoài cách ăn ớt bột, ớt tương, ớt xắt, ớt giã v.v…, còn thích lối ăn cầm cả trái ớt tươi rắn chắc mà cắn kêu đánh bụp trong miệng thật ngon lành; để cắn, họ chọn ớt xanh.

Nhưng một chuyện khí hậu nhất định không đủ. Cái ăn còn tùy thuộc ở sản phẩm sẵn có của địa phương, ở lịch sử v.v… Ở lịch sử? Nghe thì to chuyện, nhưng chính tại lịch sử mà người Bình Định quen ăn bánh tráng. Thứ bánh tráng Bình Định tìm mua ở Sài Gòn rất khó, vì không thấy bán ở các chợ, chỉ gặp tại một vài nơi ngoại ô hẻo lánh; người Bình Định có những bữa ăn dùng toàn bánh tráng thay cơm, cho nên bánh tráng ở đây có địa vị quan trọng hơn ở các địa phương khác. Đi xa, người Bình Định nhớ bánh tráng như người Việt sang Âu châu nhớ cơm, nhớ bánh cuốn. Như thế có phải vì bánh tráng từng là lương khô dùng trong quân đội Nguyễn Huệ, xuất phát từ Bình Định?

Món ăn còn quan hệ với lịch sử theo cách khác. Thiết nghĩ người Việt Nam đời Trần dùng món thịt cầy không đối diện với dĩa rau thơm giống dĩa rau thơm chúng ta có trước mặt ngày nay. Không phải đột nhiên tự lúc đầu lá mơ đã đi với thịt cầy, rau om đã tìm đến thịt cầy. Tôi chắc thế. Các đấng tổ tiên phải có một thời kỳ mò mẫm, thí nghiệm; có thể các ngài đã thử dùng lá chanh và rau răm ăn với thịt heo chẳng hạn, dùng rau om với thịt gà, dùng lá lốt với thịt cầy chẳng hạn v.v… Cả tập thể tham gia vào cuộc tuyển trạch, mọi người đều có quyền tự do khen chê. Những cái không thích hợp dần dà bị đào thải, các lầm lẫn được sửa chữa, các thiếu sót được bổ túc. Cứ thế, từ thế kỷ nọ sang thế kỷ kia, hết thế hệ này đến thế hệ khác kế tiếp nhau canh tân, rốt cuộc mới đến chỗ toàn mỹ.

Nhưng đã toàn mỹ chưa? Chưa chắc. Hôm nay ta nhắm nháp chả cá, lấy làm đắc ý và hãnh diện về nghệ thuật nấu nướng của dân tộc; tam bách dư niên hậu, có thể cách ấy sẽ bị xem là quá thô sơ. Trước đây năm bảy thế hệ, trên mâm chả cá có thể thiếu thìa là, có thể thiếu chén đậu phụng rang, mắm tôm có thể thiếu giọt cà cuống… Sau đây năm bảy thế hệ người Việt nữa, ai ngờ được sẽ xảy ra thêm những phát kiến gì mới?

Một món ăn, nó cần có thời gian để tự cải tiến; mỗi địa phương cần có thời gian để hoàn thiện các món ăn của mình. Lâm Ngữ Đường chê bai món ăn Tây phương nghèo nàn: nó nghèo nàn như vậy phải chăng vì lịch sử văn minh của Tây phương ngắn ngủi hơn của Trung Hoa? Lịch sử dần dà làm phát triển văn chương, khoa học; nó cũng làm phát triển các món ăn nữa. Nhưng trong khi các kế hoạch gia hy vọng đốt giai đoạn để sản xuất gấp bom nguyên tử, không ai đốt được giai đoạn để cải thiện món phó-mát, để sản xuất gấp một thứ phó-mát mới ngon hơn các thứ cũ. Nghệ thuật khoan thai đủng đỉnh hơn khoa học; nó không chịu sự thúc bách giục giã. Phải chờ đợi. Phải có thời gian cho nó.

Sự hình thành của một món ăn cũng như của một câu ca dao, của một điệu dân ca. Ấy là những công trình tập thể, trong đó mỗi cá nhân đều có sự đóng góp. Thật dân chủ, bình đẳng: mỗi người một lá phiếu. Lá phiếu ở đây là cái lưỡi. Và sự chọn lựa của mỗi người không có lý do gì để thiếu chân thành. Mỗi người chọn lựa bằng cả các tạng phủ của mình, bằng tất cả các đặc điểm thể chất của mình, để cùng nhau đi đến cái kết quả chung trong đó mỗi người của địa phương đều có trách nhiệm: người Huế tìm ra cái hay ho của ruốc, người Nam thấm thía ý vị của nước cốt dừa v.v… Tại sao vậy? Người ta không tìm được câu trả lời dễ dàng. Sự chọn lựa ấy, căn nguyên của nó bắt nguồn từ những cội rễ nào thâm thiết sâu xa trong kiến trúc sinh lý của con người mỗi nơi. Người của mỗi địa phương có một cá tính riêng về tâm lý: có nơi hào hùng, có nơi keo kiệt, có nơi ưu du nhàn dật… Mỗi địa phương cũng có thể có một cá tính sinh lý chăng? Sự dị biệt trong thứ cá tính ấy hẳn là mong manh, tế nhị, tinh vi lắm; khó lòng mà biện biệt phân minh. Tuy nhiên rõ ràng nó đã nêu ra những đòi hỏi khác nhau, những sở thích khác nhau.

Như vậy người ta không chỉ ăn bằng mồm. Con người ăn là ăn bằng cả gốc gác quê hương, bằng phong tục tập quán của mình, bằng cái khí chất riêng biệt của cơ thể mình, cũng như bằng lịch sử, bằng trình độ văn hóa của xứ sở mình. Trong một dĩa đồ ăn, có phản ảnh của khí hậu một miền, của những đặc điểm sinh lý con người địa phương… Và giả sử nói có cả phản ảnh của một phần nào những đặc điểm tâm hồn trong đó có quá chăng? Cái vị ngọt rất thanh của các thứ chè ở Huế gợi nhớ đến nét dịu dàng trong giọng nói và trong tính tình người Huế. Nhất là nếu so sánh thứ nước chấm pha chế rất dịu ở Thừa Thiên với thứ nước mắm thường dùng giữa khoảng đèo Hải Vân cho đến đèo Đại Lãnh, người ta không khỏi nghĩ đến cái tâm lý xẳng xớm bộc trực của người dân Việt từ Quảng Nam Quảng Ngãi trở vào…

Từ chút nước mắm chấm rau chấm thịt mà nói đến tâm hồn con người, e đã quá xa. Tưởng không nên tiếp tục chuyện ăn uống nữa, nếu không muốn lạc vào chỗ viển vông lố bịch.

Nhưng văn chương nghệ thuật lại cũng không khác cái ăn là mấy. Ca dao, dân ca là sản phẩm của một địa phương; và thưởng thức đến tận cùng cái hay ho của nó hình như cũng chỉ có thể là người của địa phương. Nghe một điệu ru à ơi trong đêm khuya chúng ta rung cảm thấm thía đến đáy lòng, tưởng trên thế giới khó có một giống dân nào nghe điệu hát ấy mà cùng có được cái rung động của chúng ta. Họ có nghe chăng bất quá là nghe bằng lỗ tai thẩm âm tinh tế; còn chúng ta nghe bằng cả quãng đời thơ ấu của riêng mình, bằng truyền thống của dân tộc mà mỗi chúng ta thừa tiếp nơi mình…

Hiểu một câu ca dao, một bài thơ cũng vậy. Ngôn ngữ dùng để làm ra thơ văn không thể là cái ngôn ngữ chỉ có nghĩa mà thôi. Tiếng Espéranto không có hy vọng dùng vào thi ca. Nó chỉ có nghĩa, nó không có hồn.

Hồn của ngôn ngữ là cái quái gì?

Mỗi tiếng nói: non sông, ruột thịt, xanh, vàng v.v…, ngoài cái nghĩa nó ra, còn có khả năng khơi động nơi mỗi chúng ta một rung cảm nào đó. Liên quan giữa rung cảm nọ với ý nghĩa của mỗi tiếng nói thật xa xôi mơ hồ. Bởi vì cùng một tiếng có một nghĩa nhất định, lại có thể gợi lên những xúc động khác nhau tùy mỗi người, mỗi dân tộc. Cái nội dung tình cảm mơ hồ nọ do cuộc sống của tập thể gửi vào ngôn ngữ. Có dự vào cuộc sống của tập thể nào mới cảm thông với cái hồn của ngôn ngữ nấy. Chủ trương thơ thuần túy chính căn cứ vào sức tác động bí ẩn của ngôn ngữ, chứ không phải vào ý nghĩa minh bạch của nó; bởi vậy cái hay mà thơ thuần túy nhằm đạt tới là ở ngoài phạm vi ý nghĩa. Và như thế một kẻ trí thức ngoại quốc, sống ngoài cộng đồng dân tộc Pháp, một kẻ mà những buồn vui sướng khổ trong đời không liên hệ gì đến tiếng nói Pháp, mà hàng ngày những tai nghe mắt thấy cùng xúc cảm trong lòng không dính líu gì đến tiếng nói Pháp…, một kẻ như thế có thể thưởng thức được gì ở thơ Valéry, Mallarmé? có thể thưởng thức sao được như một người Pháp?

Cũng như ăn không chỉ bằng mồm, người đọc không chỉ đọc bằng khối óc suy xét. Người ta thưởng thức cái đẹp của một văn phẩm nước nào bằng cả cái kinh nghiệm chung chạ cùng tiếng nói nước ấy, bằng cả sự gần gũi với nếp sống đã từng phát sinh và không ngớt bồi đắp cái tiếng nói ấy… Nếp sinh hoạt nọ đã thổi sinh khí vào ngôn ngữ kia, làm sao hiểu hết một công trình mỹ thuật xây dựng trên ngôn ngữ kia mà không cần biết đến nếp sinh hoạt nọ?

Nguyên một tiếng nói để sử dụng đã thế, những công trình xây dựng bằng tiếng nói ấy lại còn mang thêm nhiều nét cá tính của từng xứ sở, từng dân tộc.

Âm thanh và cuồng nộ của Faulkner là một tuyệt phẩm của Mỹ. Con người Việt Nam chúng ta biết tìm ở chỗ xó xỉnh nào trong tâm hồn mình cho ra cái “cuồng nộ” tương tự? Sách đọc mà thực tình thấy khoái là khi nào người đọc cảm thấy giữa mình với tác giả có chỗ đồng thanh đồng khí. Đàng này cái “cuồng nộ” nọ chỉ làm ta kinh ngạc.

Người Mỹ, qua các nhân vật của Steinbeck, của Hemingway, của Caldwell v.v…, thấy quả thấp thoáng họ có cái bạo liệt dữ tợn riêng. Những anh chàng mê say vuốt lông chuột, ham đấm đá, đấu bò rừng, những ông cha trông thấy đứa con trai độc nhất vừa tự tử chết lại tiến đến bắn thêm cho nó một phát vào đầu, trông thấy thằng rể da đỏ liền quạt cho nó một loạt đạn dưới chân v.v…, những nhân vật ấy đã mang sẵn ít nhiều cuồng nộ nơi mình; tâm hồn của họ tương ứng với nhau. Gặp nhau họ thích thú, họ khoái trá. Còn chúng ta, không phải là cá mà đòi vui cái vui của cá sao được!

Trái lại, một vài tác giả Việt Nam như Nguyễn Tuân chẳng hạn làm sao được thưởng thức ở một dân tộc hiếu động? Nguyễn Tuân tiền chiến có cái ề à dềnh dang, chuyển ra ngoại ngữ có lẽ là vô duyên mà đối với chúng ta thì là hấp dẫn. Bút pháp ấy biểu hiện một phong thái đặc biệt, quen thuộc ở một lớp người trong xã hội ta, nhắc nhở đến nếp sống của dân tộc ta trong một thời đã qua; ta thấy nó đẹp, người ngoài có thể chỉ thấy là lạ, nếu không là kỳ cục.

Như vậy bảo rằng nhân loại giống nhau quả có giống, nhưng chú ý đến chỗ khác nhau thì cái khác cũng sâu xa lắm lắm.

Hơn ba mươi năm trước, khi những cuốn truyện của Pearl S. Buck ra đời, Âu Mỹ lấy làm ngạc nhiên. Trong bài tựa cuốn Người mẹ, Louis Gillet cho rằng Pearl Buck đã trình bày được chỗ lạ lùng nhất của người Tàu, ấy là họ rất giống người Âu Mỹ.

Xưa kia, phương tiện giao thông hiếm hoi, xứ xứ cách nhau, người người xa nhau, vì vậy dân Tàu cho dân Âu là quiû, dân Âu cho dân Tàu cổ quái: tục lệ kỳ dị, ăn mặc lố lăng, ngôn ngữ líu lo. Cái bề ngoài dị biệt làm cho các dân tộc không hiểu nhau. Sau bước đầu tiên kết thân, người ta thở ra nhẹ nhõm: Thì ra Tàu với Tây cùng là người cả, không ai là quỉ. Cũng hỉ, nộ, ai, lạc… Giống nhau đáo để! Hay nhỉ.

Nhưng rồi gần gũi lâu dài hơn chút nữa, đi sâu vào các hỉ nộ ai lạc ấy, mới lại thấy muôn vàn khía cạnh khác nhau.

Như thế có một thời kỳ để chúng ta phát giác ra chỗ giống, và một thời kỳ nữa để nhận định ra các chỗ khác của nhau.

Một cuốn sách về cơ học, dịch ra tiếng nước nào cũng hiểu được cùng một cách; nhưng một tác phẩm văn nghệ phải tìm đến những tâm hồn đồng điệu. Bạn đồng điệu, tôi ngờ rằng không thể cách ta quá xa trong không gian.

Thỉnh thoảng gặp những người không thích ứng được với những món ăn của đồng bào khác địa phương ở ngay trong nước mình, mà lại tiếp đón niềm nở tấm tắc ngợi khen ngay các hình thức văn nghệ mới lạ từ xa đến, các trường hợp đó đôi khi đáng ngờ.

Cơ thể chọn món ăn riêng cho nó và có những yêu ghét rõ rệt; tâm hồn chọn cái đọc lại dễ dàng hơn sao?

(Đăng trên tạp chí Tân Văn số 4. — Xuất bản trong cuốn Tạp luận năm 1973, tại Sài Gòn.)

Read Full Post »

Cuộc sống không cùng

 

Truyện Ngắn

Trần Minh Nguyệt

Ông Thịnh chống tay, nhích người nhỏm dậy liếc nhìn đồng hồ ở trên tường, đã hơn hai giờ sáng rồi – vậy là chỉ còn ba tiếng đồng hồ nữa thôi là một ngày mới lại bắt đầu. Trước khi vợ ông – bà Lan, bị bệnh ung thư phổi đi dần vào giai đoạn cuối, ông không bao giờ nghĩ rằng đêm lại dài đến thế. Nó dài dằng dặc, như vô tận, triền miên – bóng tối và sự tĩnh lặng của trời đêm càng làm cho lòng ông trở nên cô độc, và sợ hãi hơn bao giờ hết. Ông cố tình dỗ giấc ngủ, nhưng chỉ có những giấc ngủ ngắn ngủi nặng nề chợt đến chợt đi với ông mà thôi. Tiếng ho khan và kéo dài như xé tung buồng phổi của bà Lan là tiếng động duy nhất mà ông nghe được những lúc như thế này…

 

Bà Lan thời sinh viên là hoa khôi của trường Đại học Kinh tế, còn ông là chàng sinh viên Bách Khoa năng nổ, học giỏi, đàn hay và có tài giao tiếp. Hai người yêu nhau và quyết định đến với nhau không bị bất kì một sự cản trở nào. Tình Yêu đến với họ thật nhẹ nhàng, trơn láng, như cùng bước đi trên thảm hoa. Gia đình hai bên đều giàu có, cộng thêm vợ chồng ông biết cách làm ăn khoa học và thận trọng, khôn khéo – nên chẳng mấy chốc ông bà  đã có một tài sản kếch xù mà ai cũng mơ ước.

Dòng đời giống nước sông có khi hiền hòa chảy xuôi vào biển khơi, mà cũng có lúc cuồn cuộn, hung dữ như dòng nước lũ tàn phá, cuốn trôi theo mọi thứ. Dòng đời của ông bà Thịnh cũng na ná như thế: Cưới nhau đã tám năm mà không sinh được con, cả hai vợ chồng đều phải vào bệnh viện Từ Dũ xin khám nghiệm. Kết quả : ông Thịnh mạnh khỏe là vậy mà lại bị măc phải bệnh “ Vô sinh “. Bác sĩ bảo ông bị bệnh tự miễn dịch: “Các kháng thể của hệ miễn dịch tấn công những tế bào bình thường của cơ thể; những kháng thể này làm yếu hay vô hiệu hóa tinh trùng.”. Tuy vậy, ông Thịnh vẫn luôn nghe ngóng tìm thầy chạy chữa, kể cả những cách chữa tri dân gian, gia truyền được quảng cáo hay người thân giới thiệu dù phải ra tận Hà nội, biên giới Việt Trung hay bay qua Thái lan. Tất cả đều “ tiền mất mà bệnh vẫn còn mang” . Và, sau nhiều lần thụ tinh nhân tạo không thành công, ông, bà không còn hi vọng gì có con nữa.

Nhiều lần ông đề nghị bà Lan chia tay, không muốn bà vì ông mà phải chịu buồn khổ suốt đời.Ông  cảm thấy sợ hãi ánh mắt thèm khát của bà khi nhìn những đứa bé con của người khác. Những lần như vậy, bà giận dỗi, hờn khóc và không nói chuyện với ông cả tuần.  Đã có lần bà Lan đã hỏi thẳng trước lời đề nghị xa nhau của ông Thịnh : “ Nếu không phải là anh vô sinh, mà là em, anh có bỏ em để đi tìm hạnh phúc khác không?. Số vợ chồng ta vậy, mình phải chịu chứ, hay là anh không còn thương em nữa rồi? Hà tất có con mới được sống hạnh phúc sao? ”.

Ông xoay qua đề nghị bà xin con nuôi, bà cũng nhất định không chấp nhận. Có lẽ vì bà bị ảnh hưởng khi nhìn thấy hai người con nuôi hung dữ của người cô ruột .( Sau khi dượng mất, chúng ăn chơi, bài bạc rồi nợ nần chồng chất. Tài sản trong nhà bị chúng đem đi sạch, kể cả ngôi nhà che nắng che mưa chúng cũng lập mưu bày kế bán đi nốt. Rồi một đứa phải vào tù, một đứa đi biệt không biết đi đâu? . Người cô ruột đành phải về nương náu với  cha, mẹ của bà và suốt đời chỉ biết khóc than cho số phận…)

Ngôi nhà rộng thênh của ông Thịnh ở trung tâm Quận Nhất chỉ có hai vợ chồng, với người giúp việc – không có một tiếng cười đùa của trẻ con – nhưng suốt ngày ngoài đường người người  nhộn nhịp, tiếng nói cười, xe cộ ầm ầm tới khuya, nên ông bà không có dịp thấy được nỗi cô đơn  và trống vắng đang hiện hữu bên đời mình . Nhiều lúc, họ cảm thấy rất thoải mái, an bình sau những giờ làm việc căng thẳng ở công ty trong ngôi nhà sang trọng đầy đủ tiện nghi hiện đại này . Ngôi nhà được thiết kế rất mỹ thuật và thơ mộng. Đó là sự kết hợp  giữa nét rêu phong, cổ kính ở bên ngoài với nội thất tinh tế ở bên trong đậm nét Á Đông. Có cây cảnh, hồ bơi ở sân thượng, và những bể cá được xây trong nhà, với những con cá vàng đỏ xanh đủ màu tung tăng vô tư bơi lượn.  Vợ chồng ông Thịnh đã sống rất đầm ấm, hạnh phúc. trong ngôi nhà thân yêu của mình. Ngày tháng vẫn trôi qua…

 

Rồi một ngày cách đây gần một năm, bà Lan tự dưng thường bi cơn ho làm đau tức ở ngực. Uống thuốc không giảm bớt, mà ngày càng ho nhiều. Người gầy dần cùng lúc làn da cứ tái nhợt đi. Khám ở phòng mạch tư của nhiều bác sĩ nổi tiếng, uống thuốc cà tuần lễ mà chứng ho kèm sốt nhẹ của bà vẫn không khỏi mà ngày càng trầm trọng hơn.

          Ông Thịnh đưa bà đến bênh viện Chợ Rẩy xin khám tổng quát, hy vọng sẽ chữa trị dứt được bệnh nhanh chóng. Sau  khi siêu âm, xét nghiệm và chụp phim, các Bác sĩ chuyên ngành đã hội chẩn và đưa ra kết luận: Bà Lan đã bị ung thư phổi giai đoạn ba, giai đoạn “U phổi  lan đến những cơ quan gần kề, lồng ngực, cơ hoành, các mạch lớn và các u huyết cùng phía hoặc đối diện với khối u.”.

Từ khi biết mình đang đối diện gần kề với cái chết, bà Lan trở nên hoảng loạn – bà khóc lóc, bỏ ăn và mất ngủ cả đêm. Nhưng rồi những ngày bị áp lực khó khăn nhất đó cũng dần đi qua – bà trở nên quen dần với hai chữ ” ung thư”, và đôi lúc cảm thấy mình chẳng có bệnh tật gì cả.  Bà hiểu là bà đang sống chung và đang chiến đấu với nó. Bà vẫn gắng giữ sinh hoạt bình thường, thản nhiên nói cười vui vẻ để an ủi chồng, để  giảm bớt đi nỗi buồn lo đang đè nặng lên người  thân yêu nhất còn lại của đời bà. Cùng lúc, bà cũng cảm nhận được rằng, chính những giây phút hiện tại được gần kề bên chồng. thật là quý báu biết bao! Chưa bao giờ bà có được cảm giác yêu thương tràn đầy và quý báu đến thế vào mỗi sớm mai thức dậy nhìn thấy được mặt chồng…

 

Tôi là một người bạn thân của gia đình anh, chị Thịnh. Trước kia, cứ vào những ngày cuối tuần là chúng tôi tổ chức đi chơi, đi ăn uống, hát hò cùng nhau. Lúc chị đau không thể đi ra ngoài được nữa, nhà anh chị trở nên vắng vẻ.  Vào những ngày được nghỉ, tôi hay rủ đám bạn tới thăm anh chị và tổ chức những cuộc ca hát, hay đánh bài, chơi cờ vua, nấu ăn cho vui suốt buổi. Có lần chị Lan đã nói : “ Những lúc chị đau đớn, thậm chí đau nhiều đi nữa, nhưng nhìn thấy em và các bạn vui đùa, chị cũng đỡ đau nhiều lắm, Em và các bạn như tiếp thêm sức mạnh cho chị đó”. Nghe chị nói mà lòng tôi bổng ngậm ngùi, thương cảm.

Một buổi sáng chủ nhật, đang ngồi chuyện vãn với anh chị, thì điện thoại của tôi reo lên – đó là số điện thoại của cô em gái. Cô ấy  chẳng phải là em ruột, nhưng tôi luôn xem cô ấy như là một người em  ruột thịt. Cô ấy ốm đau từ nhỏ, và dường như bị chứng bệnh trầm cảm –  sống khép mình, ít tiếp xúc với ai. Không biết ngày nay cô em tôi có chuyện gì, mà nhắn tin than buồn, đòi chết đòi sống như vậy?

Tiếng cô em ở đầu dây bên kia: “ Anh ơi! Ngày nay em buồn quá, em sống không có mục đích, một cuộc sống vô dụng, em muốn chết đi cho xong. Vì chết đi là chấm dứt hết nỗi đau ở đời rồi phải không anh? ”. Tôi cảm thấy hơi khó chịu một chút, nhưng cũng nhẹ nhàng trả lời : “ Sao vậy em? Có chuyện gì vậy? Sao em bảo mình vô dụng chứ? Em là một kỉ sư giỏi, có công ăn việc làm ổn định và được mọi người yêu mến vậy mà ! ”. Tiếng cô em vẫn rền rĩ: “ Nhưng em đau nhiều quá, em rất mệt anh ơi, sống như thế này mà sống làm gì chứ anh? ”. Tôi biết  dù có nói gì lúc này thì cô em cũng không nghe, cách tốt nhất là để cô ấy bình tâm lại, nên tôi kiếm cớ cắt máy: “ Em ơi! Bây giờ anh đang phải tiếp chuyện với khách hàng – có chút việc đột xuất, tý nữa anh sẽ gọi lại cho em nhé !”.

Chị Lan ngồi yên lặng lắng nghe cuộc nói chuyện của anh, em chúng tôi. Thấy không cần thiết phải giấu chị, tôi kể với chị mọi chuyện mà tôi biết về cô em của mình. Suy nghĩ một lúc – chị nói nhỏ: “ Cô ấy cũng tội quá phải không em? Kiếp người không có ai là may mắn  hoàn toàn hết. Em gọi điện để chị nói chuyện với cô ấy được không? Chị nghĩ mình sẽ an ủi, chia sẻ được những nỗi đau của cô ấy ”. Tôi cảm thấy ngạc nhiên, nhưng chìu ý chị, cũng bấm máy gọi ….

Chị tự giới thiệu về mình và nói chuyện với em gái tôi khá lâu, rất tâm đắc – chị bảo : “ Cuộc sống này đáng quý biết bao nhiêu, em không nên bỏ cuộc khi em vẫn còn hơi thở, còn nhịp đập của con tim, không có gì là hoàn toàn bế tắc, sự việc chỉ thật sự trở nên bế tắc khi em thôi không cố gắng nữa. Đừng làm như vậy em nhé”. Ngừng lại một lát để ho và để thở, chị lại thều thào  : ” Chị hiện giờ chỉ có hai điều ước mơ, em có biết đó là gì không? “ Không biết em tôi trả lời thế nào, nhưng chị khẽ khàng nói với em mà cũng như nói với chính mình vậy : “ Chị mơ ước sống thêm hai năm nữa, năm nay chị đã 48 tuổi rồi, chỉ cần đạt đến tuổi “ Tri thiên mệnh” thôi em à. Còn mơ ước thứ hai là đó là :  Chị ước một ngày không có ho, cơ thể không bị cắn xé, quằn quại bỡi cơn ho, và chồng chị cũng không buồn và mất ngủ vì những cơn ho của chị nữa!”.  Tôi là một người quen nghề kinh doanh, luôn giấu đi cảm xúc thật của mình, luôn giữ vẻ trầm tĩnh trên nét mặt; vậy mà tôi phải quay đi để giấu đôi mắt đang đỏ hoe và rưng rưng của mình vì xúc động. Hai mơ ước đó, đối với mọi người, và ngay cả em gái tôi cũng rất đỗi bình thường – có gì đâu, nó rất nhỏ nhoi với mọi người, mà cũng là một ước mơ khó đạt dược mà chị Lan đang ngày đêm hy vọng….

Sáng nay, khi tôi đang ngồi uống cà phê cùng đám bạn thời phổ thông ở góc dường Phạm Ngọc Thạch, thì anh Thịnh gọi điện bảo tôi đến chơi, và dọn nhà giúp anh chị. Đến chơi là chuyện thường rồi, còn dọn nhà, sao phải dọn chứ?  Nhà cửa bề thế, khang trang vậy không ở -mà phải dọn đi đâu khi chị bị bệnh như thế này nhỉ?. Vội vã đến nơi, tôi thấy hai anh chị ngồi ở trên giường xếp đồ bỏ vào va li. Không để cho tôi ngạc nhiên lâu, anh cười buồn, giọng phân trần :“ Sống ở ngôi biệt thự rộng lớn này buồn quá em ơi, chị em muốn về sống ở nơi nào có tiếng cười nói của mọi người, đi ra – đi vào gặp mặt nhau… Chị muốn hàng ngày có thể nghe những âm thanh chát chúa của đời thường. Trước kia anh, chị thiết kế ngôi nhà này để tìm sự yên tĩnh sau những ngày làm việc kiếm tiền, mà giờ đây anh chị lại đâm ra sợ sự yên tĩnh em thấy có nực cười không?.” Anh cho biết, sẽ dọn đến ở ngôi nhà chung cư Thịnh Phát vừa mới mua, nhà 48 m2, như vậy là đủ với anh chị rồi. Liếc nhìn chị – anh trầm giọng: “ Anh rất sợ tiếng ho của chị hàng đêm, tiếng ho như xé lồng ngực của cô ấy làm cho ruột, gan anh cứ bồn chồn. Mà em biết đấy, cô ấy ho liên tục, thuốc uống không còn có tác dụng nhiều nữa, ho xong là cô ấy dường như ngất xỉu trên tay anh, anh không chịu nỗi em ơi”. Tôi  thật sự bàng hoàng, cũng không biết phải khuyên anh chị điều gì cho phải nữa. Đành hỏi một câu không ăn nhập vào đâu : “ Anh, chị dọn đi rồi, nhà này đóng cửa sao? ”. Anh vừa lấy thuốc cho chị uống, vừa nói : “ Đành vậy chứ biết sao hả em?  Lâu lâu  anh chạy về coi ngó thôi . Chị em lại không muốn cho ai thuê mướn gì cả!  ”.

Tôi thoáng nghĩ:  Không biết về ở nơi mới đó, anh chị có được thoải mái, yên lành hơn không? Chị có giảm bớt những cơn ho quằn quại đau đớn đã bao đêm hành hạ chị không? Nhưng tôi lại nghĩ : “ Niềm tin là một sức mạnh có thể biến chuyển điều không thể thành điều có thể trong đời người như một phép mầu! ”.  Tự nhiên, tôi nhớ đến hai điều ước mơ của chị đã tâm sự vối cô em tôi hôm nào – hi vọng chị sẽ thực hiện được hai điều ước mơ bình thường ấy cho đời mình…

Và khi rời nhà chị quay về, tôi cũng nhận ra thêm một điều rằng, trong cuộc sống –  có nhiều điều chúng ta không thể nào làm theo ý muốn của mình, vì nó ở ngoài tầm tay hữu hạn của ta. Nhưng chúng ta không được buông xuôi tất cả mà hãy dùng hai tay nắm chặt lấy những gì mà chúng ta còn có thể vươn tới, nắm được ở đây – ngay lúc này!. Hãy tự tin để tiến lên phía trước – dù con đường phía trước có ngổn ngang chông gai, trắc trở – đó cũng là con đường duy nhất mà chúng ta phải bước tới để sống cho chính mình  hôm nay và cho mọi người ngày mai…

 

Read Full Post »

Nguyễn Thị Phụng

Gọi là nửa vầng trăng vì đêm nay là thứ bảy, mùng bảy, tháng bảy, năm Tân Mão(2011), còn đến tuần nữa trăng tròn, mà tròn mới đẹp. Thế nhưng giữa đầm mênh mông chẳng biết đâu là bờ là bến. Khi tiếng máy nổ nhỏ dần, chiếc xuồng chầm chậm, giờ nhận ra đã gần bờ lắm, bởi những lùm câu đen ngòm hiện ra trước mắt. Chiếc đèn pin đủ soi rõ thêm từng bước chân chúng tôi rời khỏi xuồng máy rồi bước lên bờ. Chỉ có gió lùa, nước vỗ vào bờ và tiếng người rộn ràng chuẩn bị thả lưới bắt cá, bắt tôm. Còn lại mình tôi với cháu Thanh ngồi trên sạp lều có bốn cái trụ kiên cố, bên trên che chắn tấm bạc xanh, có lẽ cũng không chịu nổi những con gió hồn nhiên từng đợt ùa về trong đêm cũng như ngày, mưa cũng như nắng, đã tả tơi cứ phần phật phần phật mỗi lúc như mạnh hơn. Mặt trước lều hướng ra phía đông, làm sao có thể xác định được kích thước diện tích lớn nhỏ của ao tôm như thế nào…

https://i0.wp.com/farm3.anhso.net/upload/20110809/20/o/anhso-201502_DSC02320.jpg

Trên cao kia, nửa vầng trăng đã chênh chếch về phía tây cũng cố ngoi ra khỏi những tảng mây trắng muốn giăng kín bầu trời. Tôi nhớ từ lúc chiều gởi xe máy trên bờ, xuống xuồng khoảng ba mươi phút mới tới làng Huỳnh Giản*. Tất cả với tôi vừa xa lạ nhưng cũng thật thân quen bằng những nụ cười thăm hỏi chân tình gần gũi biết mấy. Những con tôm chín đỏ au trong cái đĩa, những con cua khoe sắc hồng nằm im ắng trong cái tô thơm nức đang mời chúng tôi thưởng thức vị ngọt tươi có sẵn từ ao hồ vừa vớt lên. Nhưng quý nhất là sự tiếp đãi chu đáo ân cần mến khách của gia đình chú năm, chú bảy, chú chín của cháu Minh đã báo trước làm chúng tôi vô cùng cảm động… Tôi nào đã đi thăm hết từng nhà khi chiều xuống vội, chỉ thương những em học sinh phổ thông đến trường ngày hai lượt đi và về bằng xuồng máy, có lúc mắc mưa ướt  áo quần phải ngồi suốt cả buổi học. Còn mùa mưa bão lũ thì coi như phải ở nhà… Và niềm hạnh phúc nhất với người dân ở đây kể từ khi cầu Thị Nại bắc qua đầm Thị Nại, họ lại yên tâm hơn có thể đi lại bằng phương tiện xe đạp, xe máy bất cứ lúc nào khi vào thành phố Quy Nhơn…

-Cá tôm nhiều lắm cô ơi!… Reo lên cùng một lúc của Kim, Văn, Dư, Thống,… đã cắt dòng suy nghĩ nơi tôi. Cả một tấm lưới to dưới ánh đèn pin chỉ dính được một com tôm đất khá lớn, một con cua bắng nắm tay em bé và một con cá chai từ đầu tới đuôi ước chừng mươi lăm centimet. Tôi nói đùa hình như chỉ cử đại diện lên báo rõ là họ hàng nhà tôm ,cua, cá,… còn bận đi dạo mát chưa về tập trung thếch đãi thêm chúng tôi được. Cùng lúc đó cháu Lan và Tuấn từ xa đi lại bẽn lẽn dấu nụ cười trong ánh mắt khát khao. Rồi tất cả hòa bữa tiệc văn nghệ văn gừng rôm rã từ đơn ca nam của chú năm, chú bảy, cùng cháu Dư với những bản nhạc hùng hồn một thời kháng chiến. Nào là hợp ca Năm anh em trên một chiếc xe tăng như năm bông hoa nở cùng một cội, như năm ngón tay trên một bàn tay đã xung trận là năm người như một à á… Rồi kết thúc Nối vòng tay lớn giữa biển trời bao la hào hứng…

https://i0.wp.com/farm3.anhso.net/upload/20110809/20/o/anhso-201630_DSC02398.jpg

https://i0.wp.com/farm3.anhso.net/upload/20110809/20/o/anhso-201744_DSC02405.jpg

Khi nửa vầng trăng ngả hẳn là chúng tôi bước xuống chiếc xuồng máy yên tâm ra về, chị Minh xốc xáo nhanh nhẹn từ trong việc bếp núc ở nhà, đến lúc tham gia karaoke tại bờ tôm mà dàn nhạc là những đôi đũa gõ trên nắp xoang của chú bảy, còn chị một tay cầm khúc củi gõ lên  đáy thùng nhựa đựng nước được úp lại khi tôi cao hứng xổ một câu hát tuồng: Như ta đây là… thì chị mạnh tay: thùng thùng/ thùng… được thể cả nhóm thanh niên ôm bụng ngặt nghẽo bò lăn ra trên sàn gỗ suýt rớt xuống hồ nước rồi! Và có ai nghĩ rằng người phụ nữ ấy lại một tay kéo máy nổ, điều khiển chiếc xuồng  trong đêm đen đưa bốn cô cháu chúng tôi trở về. Tôi ngã mình trên mũi xuồng ngắm trời mây xa kia, nhưng không thể, tiếng máy xịch xịch xịch…dội vào tai lúc đầu nghe chưa quen, tôi ngồi ngay ngắn trở lại đưa mắt ra định hướng phía bắc là Tùng Giản- Gò Bồi, phía đông nam là Nhơn Lí, Nhơn Hội, còn phía trước mặt là làng Huỳnh Giản quen thuộc từ lúc chiều đặt chân đến. Tất cả hiện ra qua những ánh đèn đêm đủ sắc màu lung linh ngỡ như ánh sao trời đêm ba mươi tháng sáu giăng mắc khắp bốn bề. Còn mình đang lênh đênh trong nửa vầng trăng của đêm mùng bảy hôm nay theo con sóng nhẹ trôi tận hưởng ngọn gió mát lành của quê hương như chưa từng có bao giờ!..

https://i0.wp.com/farm3.anhso.net/upload/20110809/20/o/anhso-201904_DSC02413.jpg

Bước lên bờ tôi lại nhớ quá và yêu hơn tiếng máy nổ xịch xịch xịch…từ chiếc xuồng của chị Minh dội về giữa đêm khuya.

Read Full Post »

  Nguyễn Hữu Duyên

Sài Gòn về đêm hoa lệ và quyến rũ. Cảm giác ấy như thấm sâu vào trong tôi khi ngày mai tôi sẽ rời xa sau gần một năm gắn bó với bao chuyện buồn vui. Và, dù như thế nào, tôi nhất định không cho Nhàn biết, bởi tôi biết mình sẽ không đủ can đảm để chia tay.
Cái phòng sau nho nhỏ của căn nhà số 17 Phan Đăng  Lưu chỉ còn mình tôi. Ánh đèn như soi vào tôi, như muốn đọc trái tim tôi đang ở cung bậc nào. Cái cảm giác mông lung thật khó tả. Khoảng 9 giờ đêm, cửa phòng  không đóng, Nhàn bất ngờ đứng trước mặt tôi.
– Mai anh về Bình Định
Tôi không dám nhìn thẳng vào mắt Nhàn, miệng lí nhí : Đâu có!
Nhàn ngồi xuống đi-văng, gỡ điếu thuốc đang cháy dở trong tay tôi, mắt đỏ hoe :
-Anh nói dối em làm gì? Vì sao anh âm thầm không cho em biết?
Tôi im lặng. Và, như để giải tỏa câu chuyện, tôi đưa Nhàn ra quán  Ngân trên đường Phan Đăng Lưu, gần trụ sở Ủy ban nhân dân phường 4, quận Bình Thạnh. Hai ly cà phê chảy từ nhanh đến chậm, chậm dần. Nhàn chỉ khóc, nói trong nước mắt, mong sao tôi ở lại không về Bình Định nữa. Không biết hai đứa ngồi với nhau đựợc bao lâu, chỉ biết rằng đường phố gần như không còn tiếng ồn, tôi đưa Nhàn về nhà ở con hẻm 21 đường Vạn Kiếp. Nhàn ôm hôn tôi thật nồng nàn, đắm say, cháy bỏng như là nụ hôn cuối để rồi chia tay mãi mãi, như để kéo lại một chút mong manh trong vô vọng, hụt hẩng… nụ hôn không còn khái niệm thời gian. Và, sau 34 năm, tôi nhận ra rằng đó là nụ hôn duy nhất có được của đời mình, nụ hôn tuyệt vời, trong vắt, thấm đẫm tình yêu lãng mạn của thời trai trẻ mà tôi nhận được.
Và rồi đêm cũng qua. 4 giờ sáng. Tôi bước lên chiếc xe lam 3 bánh, không chịu lên chiếc xe honda của Nhàn để vào bến xe An Đông về Bình Định. Chiếc xe honda của Nhàn luôn ở khoảng cách với chiếc xe lam từ 3 đến 5 mét. Tôi không đủ can đảm nhìn vào đôi mắt Nhàn. Nhàn lại khóc, khóc suốt dù trời sáng dần, có thể nhìn thấy rất rõ những giọt nước mắt của Nhàn. Hình như Nhàn không để ý một chút gì cả về ngoại cảnh. Còn tôi thì như bấn loạn, miên man trong suy nghĩ, quyết định ở lại hay đi về, bởi vì tôi không chịu nổi những giọt nước mắt của Nhàn. Nhưng có lẽ nghiệt ngã nhất vẫn là cái nắm tay sau cùng của cuộc chia tay.
Bàn tay tôi tuột khỏi Nhàn khi chiếc xe đò lăn bánh, và Nhàn đứng lặng, nghẹn ngào! Đến bây giờ khi có dịp suy ngẫm, tôi vẫn thấy đó là cuộc chia tay thật lãng mạn và thấm đẫm tình yêu của Nhàn giành cho tôi. Và, chính vì điều đó nên nó vẫn đeo đẳng tôi dù bao tháng năm đi qua, và có lẽ đến hết cuộc đời. Đó là buổi sáng ngày 17 tháng 12 năm 1976, tôi 22, Nhàn 21 tuổi. Tôi còn nhớ lúc ấy Nhàn nói trong vô vọng:

– Em rất muốn anh ở lại một tuần nữa rồi về, để 2 đứa cùng đi chơi trong dịp lễ Giáng sinh, anh nhé! 
Tôi lại im lặng. Tất cả các phao Nhàn sử dụng để giữ tôi lại đều bất thành. Lúc ấy tôi chỉ nghĩ phải về quê để học cao đẳng sư phạm thì được ưu tiên như báo chí đã đăng. Cho đến bây giờ tôi vẫn không khẳng định được mình quyết định như vậy là đúng hay sai, nhưng có điều bao nhiêu năm đi qua tôi thấy mình có lỗi rất lớn với tình yêu của Nhàn. Tôi đã phụ Nhàn, đã nợ một món nợ không có khả năng trả. Năm 2001, có dịp trở lại Sài Gòn, khi đến con hẻm 21 Vạn Kiếp, tôi mới biết Nhàn đã định cư ở Thụy Sĩ cùng với gia đình.
Nhàn ơi, dù có muộn màng nhưng xin gửi đến em một lời xin lỗi chân thành về tình yêu của em, xin lỗi về tất cả những gì anh đã làm em buồn của những ngày hai đứa yêu nhau. 35  năm đã đi qua, anh càng hiểu là anh đã đánh mất một cuộc tình đẹp nhất của đời mình!.
·

Read Full Post »

Tiếng Việt trên đất Mỹ

 

Thân gửi đến các bạn một câu chuyện châm biếm về ngôn ngữ Việt-Mỹ trong danh xưng không thể thiếu trong văn chương Việt-Mỹ

Đáng tiếc là không biết tác giả là ai?

Hãy thử đọc bài này xem có  nhịn được cười hay không.Cười ra nước mắt luôn chứ

Thiên Bồng

 

Cũng như đêm cuối cùng của Đường Tăng trằn trọc không sao ngủ được, chờ ngày mai vào yết kiến Như Lai để lên kiếp Phật. , Cụ Phúc đêm nay cũng vậy. Ngày mai cụ tuyên thệ vào quốc tịch Mỹ. Cụ nằm trăn trở nghĩ đến cả mười năm trời dằng dẵng, từ khi đủ năm để hợp lệ nạp đơn đến những đêm đứa con trai đi làm về chở cụ đi học lớp luyện thi vào quốc tịch ở văn phòng USCC . Cụ nghĩ nó như con thoi giữa 2 thế hệ. Trong tuần đưa cụ đi học tiếng Anh, bắt cụ phải trả lời điện thoại ” hello ” chứ nói ” tôi nghe đây ” làm sao Mỹ hiểu được . Cuối tuần đưa con đi học tiếng Việt, mắng con gọi xe ” fire truck” là ” xe lửa ” , phải nói là ” xe cứu hỏa ” hay ” xe chữa lửa ” chứ. Nhiều lúc cụ thấy phải chi mà thằng chắt đi học tiếng Anh, còn cụ đi học tiếng Việt thì mới đúng theo lý tự nhiên của trời đất.

Thoạt đầu cụ tưởng cả lớp luyện thi vào quốc tịch này , đầy những cụ tuổi gần đất xa trời , học để giết thì giờ, cho bớt nỗi buồn xa xứ. Vậy mà ngày bà cụ Ngà thi rớt , cả lớp xôn xao lên như ngày Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam. Thực ra thì bà này rớt cũng đáng đời lắm . Đời thuở nào ông quan tòa hỏi tổng thống Mỹ là ai, bà cụ lại trả lời là Nguyễn văn Thiệu thì đậu làm sao được .

Sinh nhật người nào trong lớp, bà cũng làm cho một cái bánh gà-tồ rồi bắt các cụ vây quanh hát ” Happy Birthday “. Cụ không biết đến ngày chết thì người ta có hát “Happy Deathday ” không, bởi vì cụ nhớ bên quê nhà những ngày kỵ giỗ mới thật là quan trọng . Con cháu tụ họp ăn uống 2, 3 ngày liền. Chứ ngày bước vào trần thế khổ ải này, người ta phải dày công tu hành để thoát ra khỏi vòng luân hồi, thì mừng rỡ ngày sinh để làm gì ?

Vậy mà thời gian thấm thoát qua đi, rồi cũng đến ngày cả lớp đi thi. Các cụ sáng sớm đã ngồi đầy ra ngoài phòng đợi của sở di trú trong tòa đô sảnh thành phố . Cụ nghĩ ngày xưa đi thi Hương , thi đình cũng chỉ nhộn nhịp đến thế là cùng . Con cháu đem theo cho nào là bánh trái, nước uống , cả ghế xếp để ngả lưng , như thi vào quốc tịch đến mấy ngày trờị Bây giờ trí nhớ các cụ kém cỏi , học được tiếng Mỹ chữ nào , vài bữa lại quên hẳn đi không biết phát âm làm sao . Cho nên đi thi, cụ nào cũng viết chi chít , như xâm mình trên tay , các câu trả lời phiên âm ra tiếng việt. Thằng cháu cụ Tốc thì cứ nhắc đi , nhắc lại ngoại nhớ ngày lễ quan trọng nhất của Mỹ không phải là Tết, mà là ngày Độc Lập . Cụ lại kéo tay áo lên lẩm bẩm kiếm chữ IN ĐẺ BÊN ĐÀNG . Bà cụ Ngà hỏi với qua ” có phải là ngày Tây về nước không , cụ Phúc ? “. Cụ đành thở dài, biết ông tòa muốn đánh rớt thí sinh nào thì chỉ cần bắt hát bài quốc ca Mỹ là thí sinh đó rớt ngaỵ .

Vậy mà Giời phù hộ, cả lớp đậu hết . Cụ còn nhớ ngày ăn mừng tân khoa , cụ nào cũng hí hửng như những đứa trẻ con vừa lên lớp, cầm vẫy lá cờ Mỹ để chụp hình lưu niệm. Bà cụ Ngà hôm ấy đẹp hẳn ra, mặc cái váy đầm thay cái quần đen vừa nói “Con gà tui lội sông” (congratulations), vừa high-five , vừa “hug” mọi người . Cụ thấy mọi người như trẻ ra dến cả chục tuổi. Có thể là vì cái ôm nồng nàn da thịt của bà cụ Ngà làm cụ thấy trong người đổi thay như cả một mùa xuân hừng hực kéo nhau về. Có thể là vào quốc tịch mới, làm người ta tưởng như đổi thành một kiếp người khác , trở lại cái tuổi tập ăn tập noí, nên hồn nhiên như một đứa trẻ thơ .

Thế mà đêm nay cụ lại trằn trọc . Một phần là vì cụ cứ nghĩ đến ngày mai ở tòa đô chính , ông thị trưởng thành phố tổ chức nghi lễ tuyên thệ vào quốc tịch riêng cho cộng đồng người Việt , để đánh dấu một chặng đường gần phần tư thế kỷ tàn cuộc chiến tranh của người Mỹ tại Việt Nam . Ông chủ tịch mấy hôm nay hăm hở nhắc nhở bà con mặc đồ cho đẹp để lên truyền hình . Mọi người học thuộc lòng câu “I am proud to be American ” để khi báo chí radio người Mỹ phỏng vấn thì tỏ ra cộng đồng người Việt mình mau hội nhập hơn các cộng đồng sắc tộc khác .

Cụ cứ nghĩ tới lúc trước cử tọa cả nghìn người, có thống đốc tiểu bang, nghị sĩ , dân biểu quốc hội, quan chức các ngành , người ta gọi tên cụ lên khán đài nhận bằng công dân Mỹ , là cụ lại xốn xang trong người. Chả vì cụ ngang bướng giữ cái tên cúng cơm của cụ. Tên họ trong tờ khai sinh cụ là Dư Quí Phúc . Ỏ trại tỵ nạn, cụ đã bao nhiêu lần cãi gàn cãi bướng với mấy người thông dịch viên là tên cụ phải có dấu mới là tên của cụ Tiếng Việt một chữ có hằng chục nghĩa nếu không bỏ dấu. Thí dụ như LO có thể là lờ, lợ, lờ, lơ, lộ, lô, lố, lồ, lồ, lo, lọ ,lò, ló, lõ .. . Vậy mà có ai nghe cụ đâu , người ta cứ điền vào tên trước họ sau .

Cho đến hôm cụ còn nhớ mãi ngày nhà thờ First Bapstist Church bảo trợ gia đình cụ đến thành phố này . Hôm ấy chủ nhật, nhà thờ đông đảo chật cứng đến nỗi người ta phải đứng lan ra ngoài hành lang. Ông mục sư trịnh trọng giới thiệu gia đình cụ mới dịnh cư . Cứ mỗi lần tả cảnh gian khổ gia đình cụ trải qua, cả nhà thờ lại xướng ầm lên Alleluja có nghĩa là ngợi khen chúa. Cuối cùng ông mục sư nói dõng dạc giới thiệu cụ: Please welcome , Mr. Phuc Du Cái giọng ông oang oang lên “Phuc Du !” Cả nhà thờ đang xôn xao bỗng im lặng như chiếc xe lủa thắng gấp lại rồi lấy trớn lao tới cười nghiêng, cười ngửa . Ông mục sư ngơ ngác sửa lại gọng kiến, nhìn xuống tờ giấy viết tay rồi đọc lại tên cụ lần nữa Phuc Du Lần này đến phiên ông mục sư gấp người lại làm đôi, cười sặc sụa chảy cả nước mắt nước mũi ra . Cụ Phúc chân ướt chân ráo, tưởng đó là phong tục địa phương chào đón mình đứng bụm hai tay đưa lên trán bái tứ hướng để cảm ơn sự ưu ái của nhà thờ .

Sau này ông mục sư cho người đến đề nghị cụ đổi tên gọi để lấy lại sự nghiêm trang . Một là cụ lấy hẳn tên Mỹ như John, Peter, Larrỵ..cho dễ gọi Hoặc phiên âm tên cụ tiếng Việt Ông Phúc Dư ra tiếng Mỹ là Mr. Foot Joy . Cụ bực lắm , tên cụ từ Việt Nam là Quí Phúc , nghĩa là ơn phước quí báu của trời phật ban cho , sang đến đây thì lại thành Túc Hân , là bàn chân hân hoan. Cụ bỏ xứ sở ra đi, mất hết chỉ còn một cái tên Việt là cái di sản gốc gác của cụ mà đành phải mất luôn sao . Từ đó cụ không đi nhà thờ Tin Lành nữa, nhưng tên cụ thì cứ tạm thời giữ vậỵ Cụ đi tỵ nạn vài bữa, khi nào quốc gia thanh bình thì cụ lại dắt các con cháu về. Thà làm cụ Phúc nước Việt , hơn làm cụ Túc nước Huê Kỳ.

Ngày mai cụ tuyên thệ vào quốc tịch Mỹ. Thế mà cụ Phúc lại trằn trọc đêm nay không sao ngủ được. Cũng bởi vì mấy hôm trước các cụ tân khoa bàn về chuyện tiếp tân mừng ngày nhập tịch Mỹ. Bế tắc từ đầu chỉ vì các cụ phải chọn món ăn cho buổi tiệc . Món ăn nào đãi khách vừa thích hợp với quốc tịch mới , vừa có bản sắc dân tộc .

Ông Hai Bò lên tiếng ngaỵ Ông này tên việt nam là Cao Văn Tự, trong giấy tờ viết là Tu Cao. Mỹ đọc là ” two cows ” nghĩa là 2 con bò . Từ đó có tên Hai Bò . Vốn là dân thông dịch viên cho Mỹ ở căn cứ Long Bình , sang bên này ông bán bảo hiểm nhân thọ Cụ nào mà được ông kéo riêng ra góc phòng đều sợ run lên như tử thần đến, vì ông Hai Bò cứ thúc dục luôn “cụ thử nghĩ coi cụ còn sống được bao lâu, trời gọi ai người nấy dạ . Thú chết để da, người ta chết để tiếng . Mấy cụ qua đây ăn phút tem thì có tiếng gì mà để, chi bằng mua cái bảo hiểm nhân thọ , đến khi chết để lại cả bạc triệu cho người ta xây một cái chùa hay nhà thờ có phải là tên tuổi mình khắc vào bia đá nghìn năm, bất tử với đời không “. Tưởng ông dọa chết thì cóc ai thèm mua, thế mà từ ngày cụ Hanh mua cái bảo hiểm nhân thọ đầu tiên, Hai Bò bỗng đắt khách như tôm tươi.

Chả vì cụ Hanh mới đoàn tụ gia đình vài năm nay. Mấy đứa con qua từ năm 75 , nhà cao cửa rộng , ngày cụ đến phi trường không thấy đứa nào ra đón . Thằng Tư thì đùn cho chị Ba , vợ thằng Bảy thì nói nhà nó có lầu cao , sợ ổng già đi chỏng gọng, té bể đầu . Hôm ấy, cụ Hanh lủi thủi đi với bà Mỹ USCC về ở cái phòng trong khu housing Mỹ đen. Hôm nghe Hai Bò dụ mua bảo hiểm nhân thọ, lại chịu lấy bằng phút-tem, cụ Hanh mua ngay . Vài hôm tin đồn cụ có cái bảo hiểm bạc triệu, mấy đứa con bỗng có hiếu hẳn ra , tranh nhau mời cụ về nhà ở. Chồng con Năm Thúy đánh lộn với thằng Tư chỉ vì tội không để cho nó báo hiếu nuôi ông già vợ . Ngày nào cụ muốn ăn thức gì , đám con rối rít đi mua về ăn không hết . Có điều hơi lạ là không đứa nào mua sâm cao-ly để cụ uống cho khoẻ người , sống thọ thêm ra.

Thỉnh thoảng trái gió trở trời , cụ mới ho hen cảm cúm nằm trên giương vài ngày là cả nhà xúm lại bàn chuyện làm cái di chúc sao cho hợp lệ với thủ tục tiểu bang , để lãnh tiền bảo hiểm mà không phải đóng nhiều thuế.

Thấy cụ Hanh chỉ mua cái bảo hiểm nhân thọ mà được con cái hậu đãi, đi học mặc áo vest, tay cầm mô bai thì các cụ ngộ ra rằng tội gì ở xứ cờ hoa này mà không làm triệu phú . Sống trên đời mà không mua bảo hiểm nhân thọ, xuống âm phủ biết có hay không, bèn ùn ùn theo năn nỉ Hai Bò để được giá rẻ. Chết được bonus một cái hòm cẩm lai của nhà táng xác tặng quảng cáo .

Hai Bò bỗng dưng trở thành ân nhân của hội bô lão , nên khi Hai Bò nói bất cứ cái gì , mọi người đều lắng nghẹ Hai Bò trịnh trọng xoa 2 tay vào nhau . ” Cái tradition của người Mỹ từ trước đến nay, party mà có tính cách dân tộc là phải có barbecue . Barbecue là chữ ghép bởi 2 chữ “Barbaric” and “cuisine” có nghĩa là cách nấu ăn cách mọi rợ . Ám chỉ một sinh hoạt văn hóa bán khai của người da đỏ ngày trước . Họ mới là người Mỹ chính hiệu con nai vàng. Tuy những người da trắng đến đây, dùng vũ lực cướp hết đất đai của người da đỏ để lập nên Hiệp Chủng Quốc , người Mỹ luôn luôn nhắc nhở con cháu họ ông tổ Mỹ là người da đỏ bằng cách ăn barbecue . Do đó chúng ta trở thành công dân Mỹ, uống nước nhớ nguồn , drinking water remember origin hole . Tôi xin đề nghị món ăn barbecue “

Cụ Can’t Do đứng lên khua tay phản đối . Tên thật cụ là Đỗ Thành Cẩn. Viết theo lối Mỹ thì họ tên lẫn tên đệm là Can T. Do . Bà cô dậy Anh ngữ thấy cụ chả bao giờ chịu làm homework , bèn đọc luôn là “Can’t Do”. Cụ là người duy nhất không mua bảo hiểm của Hai Bò vì bà xã cụ còn sồn sồn. Cụ chỉ sợ có bảo hiểm nhân thọ thì nhiều khi chết sớm vì lâu nay cụ Can’t Do không còn hăng hái trong chuyện phòng the, mà vợ cụ còn xuân xanh lắm. Ngày xưa bán bánh cuốn ngoài chợ Thị Nghè, vợ cụ ngồi xổm nhiều nên cái bàn mông mẩy ra tròn trịa to như hai cái lồng bàn. Ở Việt Nam thì cái quần đen với cái áo bà ba che hết đi, qua Mỹ mặc cái quần jean vào nó lồ lộ , khêu gợi làm sao . Thế mà cụ Can’t Do lại cứ cố tình phớt lờ như thể cụ là một nhà hiền triết đạo mạo. Ngày nào cụ cũng tập Tai Chi cho cứng gân cứng cốt , mà hễ cứ gần vợ cả người cụ rủ nhau mềm nhũn ra như bún . Lần nào vợ cụ cũng thở dài thườn thượt , bảo cụ chết quách cho xong. Nói vậy thì cụ mua bảo hiểm nhân thọ để làm quái gì . Nghe Hai Bò trình bày món ăn barbecue, cụ Can’t Do gạt phắt đi . “

Miếng thịt Barbecue là biểu tượng cái đầu óc thực dân, kỳ thị của người da trắng . Họ coi sự chinh phục những người bản xứ da đỏ là một chiến thắng vĩ đại trong lịch sử Hoa Kỳ. Món barbecue của người Mỹ thường là do các đấng mày râu đứng nướng để biểu lộ hùng tính và cương vị thủ lãnh của phái nam, nhắc nhở chúng ta hình ảnh các chiến sĩ xẻo thịt rồi xóc vào gươm mà nướng để khao thưởng sau các trận mạc. Nước mỹ là nơi melting pot, hợp chủng quốc .Món ăn tiêu biểu phải là hamburger , món thịt bằm hầm bà lằng . Người Mỹ ăn hamburger còn để nhắc nhở con cháu họ về cuộc chiến Nam Bắc phân tranh tương tàn của họ Tôi xin đề nghị món thịt băm hamburger “.

Bà Loan To , tên Việt là Tô thị Loan, Mỹ lại đọc là Lôn To, đưọc dịp đứng lên phát biểu . Bà này lại có chồng Mỹ da đen Frank Quaker , hoả đầu quân của lính bộ binh Mỹ tham chiến thời trước. Nên tên bà nay có thêm họ Mỹ là Loan To Quaker. Mấy cụ trong lớp thì Việt Nam hoá tên bà là Lôn-To-Quá-Cỡ. Bà Lôn To phát biểu ” Dạ tui không biết nhiều về lịch sử Mỹ, chỉ biết ngày đầu tiên về nhà chồng được ông xã tôi cho ăn món Hot Dog . Tui thấy hot dog mới là biểu tượng đúng cho chức vị siêu cường quốc , hùng mạnh của nước Mỹ. Tui xin đề nghi Hot Dog, mà size loại Jumbo à nghen “.
Bà cụ Ngà ngồi bên đắc ý hùa theo “Cùng là bò mà thịt bò Mỹ nó khác thịt bò Việt Nam chị ạ . Để cả tuần trong tủ lạnh , bỏ ra nó cứ đỏ ửng lên. Còn thịt bò việt nam mình để từ sáng đến trưa nó tái hẳn đi như thịt trâu ấy ” .

Các cụ ông lấm lét nhìn nhau không biết bà cụ Ngà đang bàn về văn hóa của những miếng thịt hay nói xéo qua về những đồ gia dụng hàng ngày của các cụ ông .

Cụ Quýnh trưởng ban tổ chức thấy mọi người nhao nhao lên , nên theo tinh thần dân chủ của Mỹ đề nghị là sẽ có cả 3 món barbecue, hamburger và hot dog. Ông Hai Bò lại có thêm ý kiến để có tinh thần Mỹ Việt đề huề, các món ăn trong thực đơn phải dịch ra tiếng việt . Cụ Quýnh sẽ cho ghi bên cạnh là barbecue (thịt nướng kiểu mọi), hamburger (thịt bằm dập), hot dog ( thịt chó nóng) .

Đã gần nửa đêm mà Cụ Phúc chưa thấy ai lên tiếng về phần món ăn việt nam. Có thể là vì người việt mình ở Tây phương trong những xã hội tự do nhất hoàn cầu lại cảm thấy mình như côi cút, lạc lối , xa lạ cả với chính tình tự quê hương của mình. Từ xưa đến nay cụ vẫn tự hào về bản sắc văn hóa riêng biệt của người Việt . Ra ngoại quốc cụ thấy rằng cái mà xưa nay ta vẫn tưởng là Việt tính, nay chỉ còn lại chẳng bao nhiêu là Việt, mà tính cũng chẳng còn là bao ; cái mà xưa nay ta vẫn tưởng là của ta , ngờ đâu chỉ là cái đàn cha, đàn chú, đàn anh của ta vay mượn từ lâu của ngoại nhân . Với cái hoang mang đo , cụ nghĩ đến câu văn hào Paul Valry ” Muốn biết văn hóa của giống dân nào thì cứ nhìn vào sinh hoạt hàng ngày của giống dân đó ” . Cụ nghĩ nếu đãi khách bằng một món ăn có bản sắc dân tộc, biểu tượng cho người Việt thì phải chọn là món ăn gì . Không gì Pháp bằng crêpe, không gì Mỹ bằng hamburger, không gì Ý bằng pizza ,không gì Đức bằng bratwurst, không gì Mễ bằng taco , không gì Nhật bằng sushi . Còn Việt nam là phở ư ?
Ở bên này Cụ thấy hầu hết những đám cưới, đám hỏi người ta giữ đủ phong tục nghi lễ cổ truyền mà có đám nào đãi ăn phở đâu mà gọi là món ăn dân tộc ? Hay là tại sao mình không tổ chức tiếp tân tại nhà hàng Tàu cho tiện . Chỉ có thế thôi mà giông bảo nổi lên trong phòng hội chỉ vì sự khủng hoảng về hiện tượng bám víu thê thảm vào cái tính đồng nhất riêng biệt của hành trang ý thức và tình cảm quê cha đất tổ .

Trời đã quá đêm. Ánh trăng còn lại một chút trên khung cửa ẩm uớt hơi sương. Cụ Phúc vẫn còn nằm trăn trở không sao ngủ được …

 Nguyễn Văn Trư sưu tầm

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »