Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn xuôi’ Category

Dino   Buzzati

TRƯƠNG  VĂN   DÂN   Chuyển   ngữ

Bồng đứa cháu gái trên tay, mình  đầy máu, tôi hấp tấp lách qua chiếc cổng phụ khép hờ để vào bệnh viện. Tôi không biết có lão gát gan hay anh bảo vệ nào không, cũng chẳng biết là có ai nhìn thấy mình hay đang la mắng gì không. Trong lúc hốt hoảng vì cần làm gấp, tai tôi như ù đi và chẳng nghe thấy gì.

Có nhiều khu điều trị sừng sững giữa một khuôn viên rộng.Vừa chạy tôi vừa tiến đến một dãy lầu gần nhất, leo vội mấy bậc thang, tôi bước  ngay vào tiền sảnh. Có một người y tá hay gì gì đấy mặc áo choàng trắng vừa đi ngang qua, dường như ông ta cũng có vẻ vội.

“Thưa ông”, tôi ngập ngừng và rụt rè hỏi thăm. Nhưng gã ta  không cho tôi nói hết câu.        ” Ông không biết đọc à ? Đây là  khu lâm sàng, và thứ này đâu phải chuyện làm ở đây” vừa nói ông  vừa lấy cằm ra hiệu về phía bé gái đang nằm trên cánh tay tôi, coi như đó là một thứ hàng hoá hay một con bò, một  bé gái đang trong tình trạng nguy cấp và có lẽ sắp chết.

Tôi van  vỉ : ” Vậy chỗ nào? Tôi phải đi đâu?”. “Thì vào cổng chính đó ” gã y tá lớn tiếng một cách khó chịu. ” Ông phải vào  khu nhập viện” ( gã ta  phát âm chữ nhập viện bằng một giọng rất là nghi thức), cuối đường, nằm  bên trái đó .”

Tôi hấp tấp  chạy ra đường chính. Sự mệt mỏi làm hai cánh tay tôi như tê liệt. Cái đầu của bé gái lắc lư theo từng bước chân, đánh qua đánh lại như ngầm ý bảo là  hãy bỏ cuộc đi, tất cả đã vô ích.

Tôi đọc thấy mấy chữ “Khu giải phẩu ” viết bằng chữ lớn trên một tấm bảng trước một dãy nhà cao. Không chần chừ. Nhưng trên bục  kệ có một bà sơ mặc áo trắng đang đứng, khuôn mặt có vẻ hiền từ. ” Thưa ma sơ, làm ơn xem…” Nhưng giọng nói thật dịu dàng của bà ta đang ngăn không cho tôi nói hết câu: ” Xin lỗi ông, thế này là không được ” bà sơ nói với lòng bác ái của chúa ” Nếu ông  chưa  có giấy…chưa có giấy nhập viện…thì không vào đây được”. ” Nhưng sơ không thấy là cháu bé bị thương nặng lắm sao? Vết thương vẫn còn tiếp tục chảy máu ” tôi xuống giọng năn nỉ ” làm ơn băng bó vết thương giùm cháu, tôi van sơ mà “. ” Ông ơi, việc này đâu phải tuỳ thuộc ở tôi” bà ta trả lời, và giọng của bà ta bỗng trở nên lạnh lùng và rất hành chánh ” Không thể cho nhập viện một bệnh nhân như vậy! Ông đừng mất thời giờ nữa. Hãy đến làm thủ tục ở khu nhập viện!” Nằm ở đâu?” tôi ấm ức hỏi lại.” Cuối đường kia nè, ông thấy chứ? Dãy lầu sơn màu đỏ .” Trong làn nước mắt, tôi nhìn theo tay chỉ, thấy ở cuối  khu vuờn có một dãy nhà sơn đỏ, trông hơi nhỏ vì tôi đang đứng từ xa. Tôi đứng chết lặng, ngỡ ngàng. ” Thật tội nghiệp ” bà sơ vuốt ve, giọng bà ta lúc này đã trở nên dịu dàng, và vừa xoa cái đầu đầy máu của cháu bé bà vừa lắc đầu nhè nhẹ ” Tội nghiệp con bé quá”

Tôi tiếp tục bước đi, trong tuyệt vọng. Giờ thì tôi không còn sức để mà chạy nữa. Tôi vừa đi vừa nhìn chăm chăm vào cái bóng màu đỏ nằm đàng xa.  Còn bao lâu nữa tôi mới đến được nơi đó?

May quá, đang có một người đang đi về hướng tôi. Đó là một người đàn ông khoảng chừng 40 tuổi, cũng mặc áo choàng trắng, có để râu. Có lẽ ông ta là một bác sĩ, tôi nghĩ thế.

” Đi đâu với kiểu này vậy? Ai cho ông vào đây?” Ông ta chặn tôi lại và hình như đang chăm chăm nhìn vào những  vết màu đỏ tươi  trên con đường lát sỏi trắng mà tôi vừa bỏ lại  sau lưng mình. Tia nhìn đầy khiển trách và  như đang buộc tội.

“Bác sĩ ơi, ông không thấy hay sao?” tôi hốt hoảng “Ông làm ơn giúp tôi, ông cứu giùm cháu bé đi, tôi van ông!”

“Nhưng ông vào từ lối nào? Nói đi, từ lối nào” Ông ta lãnh đạm, hỏi vặn tiếp.

” Vào cổng” tôi trả lời ” Tôi đã  bước qua một chiếc cổng ”

“Ôi Chuá ơi! Khuôn mặt ông ta nhăn nhúm lên vì giận dữ “À, bọn bảo vệ làm ăn như vậy hả? Đồ ăn hại! Lại còn không đóng cổng nữa chứ. Hừm…rồi chúng mày sẽ biết… này, ông nói đi, ông vào đây bằng cổng nào?”

“Làm sao mà tôi biết cổng nào!” Tôi nóng tiết trả lời ; Nhưng ngay lập tức tôi sợ là trả lời như vậy có thể làm cho ông ta phật ý, vì tôi còn cần phải nhờ vào sự cứu giúp của ông ta “Từ cổng đó đó, cổng mở mà “. Rồi tôi dợm người định bước đi.

Nhưng ông ta chụp lấy vai tôi, giữ lại.” à không, đây là việc cần phải làm cho rõ. Trước khi bỏ đi, ông phải giải thích một cách chính xác là ông đã vào cổng bằng cách nào.”

Nghe tiếng tranh cãi, có một người đàn ông khác đang tiến lại. Nhìn vào dáng dấp, tôi nghĩ rằng ông ta cũng là một bác sĩ. Cũng có thể là người có thẩm quyền.

“Ông có muốn nghe một chuyện hài không?” Ông bác sĩ để râu, phẫn nộ, thông tin cho người vừa tới. ” Cái  cha này  đi vào đây qua cổng phụ! Hừm,  Bây giờ người ta đi vào đây như vào một cái chợ!  Bây giờ người ta mang bệnh  nhân đi lòng vòng như đi trong nhà mình!”

Người vừa đến, mỉm cười thích thú một cách thật quái lạ. Ông ta gật gật đầu nhưng không đánh mất vẻ bình tĩnh. Sau đó, ông đưa một ngón tay ra sờ lên màng tang bé gái, lúc này đã bất tỉnh, rồi nhấn mạnh vào vòng ngoài vết loét. Tôi thụt lùi, như bị người ta dụi vào một que củi đang cháy đỏ. Nụ cười của người đàn ông lúc này  như mở rộng hơn. Tôi nghe ông ta lẩm bẩm : ” phần…. bị nguy rồi” chữ thứ hai là một  danh từ chuyên môn rất khó mà tôi không nghe rõ.

“Phần… nào bị nguy, thưa giáo sư?” Tôi vội hỏi ông ta. “Nhờ ông giúp cho cháu, tôi xin ông…làm ơn giúp cháu trước khi quá trễ.”

“Nhưng đây là bệnh viện” ông ta trả lời, bằng giọng điệu của một người ý thức rất rõ về quyền hạn của mình.” Cậu có biết  nơi đây là bệnh viện không, cậu bé ! Bệnh viện, chứ đâu phải là khách sạn… Nhưng thôi,  đi lẹ lên, nhanh lên. Cậu phải đi về cuối khu vườn đó! ”

Tôi bước đi, một cách máy móc. “Ê ! Ông chưa nói cho tôi biết là ông đã vào đây bằng cổng nào! Ông cần phải báo cáo cho tôi biết chứ! Bộ tính đi luôn hã?” Tôi nghe từ phía sau lưng mình tiếng nói  lớn giọng của ông bác sĩ có râu, đang nằng nặc đòi mở cuộc điều tra. Tôi còn nghe thêm một câu nữa ” Đồ vô ý thức!”. Nhưng lúc này thì tôi đã cách xa rồi. Tôi chạy, không biết bằng cách nào mà tôi chạy, trên hai cánh tay vẫn bồng cháu gái, khắp người thấm đầy máu. ” Quỉ sứ sẽ xé thịt bọn bay” tôi gào lên, chửi mắng bọn bác sĩ, ma sơ, y tá. ” Một lũ mắc dịch”. Nhưng, tôi biết, dựa vào thủ tục thì họ có lý. ” Dịch hạch ! ” tôi gào lên, gào lên.” Quỉ sa tăng sẽ xé xác chúng mày!”

Nguyên  tác : Questioni ospedaliere

TRƯƠNG VĂN DÂN Chuyển ngữ

Read Full Post »

Võ Phiến

 

Ðề tựa một cuốn sách của ông Nguyễn Ðình Tư, ông Nguyễn Hiến Lê cho biết đã từng muốn kiếm một khu vườn ở tại vũng Lắm hay Xuân Đài.

Vị học giả từ đất Bắc vào toan mua vườn làm nhà ở Phú Yên vì ông “thương” cảnh đẹp Phú Yên, muốn thưởng ngoạn cho thỏa thích. (Thương là chữ của ông Nguyễn, nhại một tiếng trong ca dao địa phương). Làm dân Bình Định, tôi có hơn ông Nguyễn thêm một lý do nữa để lưu luyến Phú Yên: ở đây, người ta “thương” trai Bình định. “Người ta” là con gái, thế mới càng thú vị. Thú vị và hiếm có. Bởi vì trong văn chương bình dân của từng địa phương không dễ tìm ra một câu thắm thiết tình tứ của miền này hướng về miền kia như câu hát của gái Phú yên:

Anh về Bình Định chi lâu

Chiều chiều em đứng hàng dâu ngó chừng.

Hai hàng nước mắt rưng rưng,

Chàng xa cách thiếp dậm chưn kêu trời.

Tìm đâu cho được những câu như thế? Câu hát về trai Quảng gái Huế chăng?

Học trò trong Quảng ra thi

Thấy cô gái Huế chân đi không đành.

Thực ra ở đây chỉ có chàng trai xứ Quảng bị “chọc quê”, chứ không hề có tình cảm của cô gái Huế.

Còn về cô gái Phú Yên thì cái tình cảm của cô không còn có thể ngờ vực gì nữa: câu hát trên đây không phải là ngẫu nhiên, là trường hợp duy nhất. Người ta bắt gặp nhiều câu tương tự: hoặc cô dặn “anh” mua cho cô một chiếc nón lá dày làm quà Bình Định, hoặc cô trách “anh” bỏ cô kéo vải hái dâu một mình hơi lâu v.v… Tình cảm quí báu nọ được xác nhận đi xác nhận lại nhiều lần.

Vì gái Phú Yên đa tình chăng?

Sự thực gái Phú Yên chỉ mới mang tiếng đa tình từ khi bị Tản Ðà xem tướng (1). Nhưng con mắt Phú yên dù có đa tình, mắt ấy cũng chưa từng “ngó chừng” theo ông Tản Ðà. Chỉ có câu chuyện “đứng hàng dâu ngó chừng” theo anh Bình định!

Vì anh Bình Định gần gũi, vì lửa gần rơm chăng?

– Không phải thế. Tỉnh Phú Yên còn một mặt giáp giới tỉnh Phú Bổn, một mặt giáp giới tỉnh Khánh Hòa: Những gần gũi ấy chưa lưu một dấu vết tình cảm nào, ít ra là trong văn chương truyền khẩu. Gái Phú Yên không tỏ ra đa tình với một ai khác, chỉ đa tình với trai Bình Định mà thôi.

Vả lại, Bình Định còn một mặt giáp giới Pleiku, một mặt giáp giới Quảng Ngãi: Ca dao ở cả Quảng Ngãi lẫn Bình Định đều không đề cập đến một liên hệ tình cảm nào giữa bên này và bên kia đèo Bình Đê. Cái tình của gái Phú Yên đã là tình chuyên nhất lại là tình lâu bền, trải qua nhiều thế hệ. Tại Khánh Hòa có câu hát:

Anh về Bình Định thăm cha,

Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em.

Từ thế hệ trước, cha Bình Định đã gặp mẹ Phú Yên! Làm sao cắt nghĩa được mối duyên nợ truyền kiếp này?

Cắt nghĩa là chuyện khó. Trong khi chờ đợi, tạm có vài suy đoán vu vơ.

Dân tộc mở rộng bờ cõi về phương Nam làm nhiều đợt, chúng ta dừng lại ở Thanh Hóa thật lâu từ đầu Công nguyên; đến thế kỷ thứ VII thứ VIII tiến vào Nghệ An, Hà Tĩnh; đến thế kỷ thứ XI, vào Quảng Bình, Quảng Trị; thế kỷ thứ XV, tiến vào Bình Định; thế kỷ thứ XVI, XVII thanh toán đất Chiêm Thành; sau cùng, sang thế kỷ XVIII, thì chiếm luôn Chân Lạp.

Cứ tiến lên một chặng lại nghỉ ít lâu, rồi tiến chặng nữa. Kể ra là sáu chặng; nhưng sáu chặng ấy có thể phân làm hai thời kỳ khác nhau: Thứ nhất, từ đèo Cù Mông trở ra, cuộc chinh phục và mở mang thuộc công lao các triều vua đóng đô ở ngoài Bắc. Thứ nhì, từ đèo Cù Mông trở vào, thuộc công lao các vua chúa nhà Nguyễn.

Năm 1470, vua Lê Thánh Tôn đánh chiếm Ðồ bàn, tiến tận đèo Ðại Lãnh, nhưng rồi chỉ giữ lại để cai trị phần đất từ đèo Cù Mông trở ra. Năm 1611, Nguyễn Hoàng đánh Chiêm thành, lập đất Phú Yên. Vào giữa khoảng thời gian hơn trăm năm ấy xảy ra việc Nguyễn Hoàng vào trấn đóng Thuận Hóa năm 1558 với ý định chia đôi sơn hà, gián đoạn sự liên lạc Nam Bắc.

Trong thời kỳ Nam tiến thứ nhất, cứ mỗi lần chinh phục được đất mới, thì triều đình ngoài Bắc đưa người từ các tỉnh ngoài đó vào mở mang; cứ thế đến tận thế kỷ XVI. Vì vậy dân Quảng nam, Quảng ngãi, Bình định, trong buổi đầu phần đông có nguồn gốc trực tiếp ở Bắc, hay ở bắc Trung phần. Nhiều nhân vật đã lập nên nghiệp lớn ở Bình định vốn là gốc người đàng ngoài: Ðào Duy Từ, Nguyễn Hữu Tấn (gốc Thanh hóa), Lê Ðại Cương, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ (gốc Nghệ an) v.v…

Trong thời kỳ thứ hai, vào đến Phú yên, không còn tình trạng ấy nữa. Khi Nguyễn Hoàng lấy được Phú yên thì Nam Bắc đã chia biệt, không còn lấy được người Bắc đưa vào Phú yên. Những đợt di dân đầu, chúa Nguyễn có thể đưa người Thuận Quảng vào; nhưng sau đó, liên tiếp trong mấy trăm năm, hầu hết có lẽ là việc di dân tự động của người Bình định. Nhân vật Phú yên được lưu danh, ngoài vị thành hoàng mở đất (Lương Văn Chánh), không có ai là gốc ở Ðàng Ngoài. Có chăng chỉ những người từ Bình định vào, như Châu Văn Tiếp, như Võ Trứ…

Phải chăng vì vậy mà có cái tình khắng khít giữa Phú yên với Bình định?

Di dân ở thời kỳ trước, từ Thanh Nghệ vào Quảng nam, Quảng ngãi, Bình định, không gây nên cái tình cảm ràng buộc hai miền như di dân ở thời kỳ sau từ Bình định vào Phú yên; nói cách khác, không có ái tình Thanh Quảng hay Nghệ Quảng trong ca dao mà chỉ có ái tình Bình Phú trong ca dao, như thế là vì lối di dân mỗi thời mỗi khác.

Thời trước, từ Bắc vào đất mới quá xa. Dân Thanh Nghệ vào Thăng Hoa (Quảng Nam ngày nay), Tư Nghĩa (Quảng Ngãi), Hoài Nhơn (Bình Định) hoặc tuân theo chiếu vua kêu gọi, hoặc vì mang án lưu hình v.v… đã đi là đi luôn, đi để lập nghiệp ở các miền đất mới, không tính ngày về. Thậm chí đời nhà Hồ, di dân phải thích hai chữ tên châu mình lên cánh tay. Ra đi như thế là từ bỏ một quê hương để nhận lấy cho mình một quê hương mới. Trước chuyến đi là dân Nghệ, dân Thanh; sau chuyến đi tức khắc thành hẳn một thành phần của dân Quảng, dân Bình Định.

Trái lại, vào thời sau, trong những cuộc di dân tự động, “anh Bình Định” vào Phú Yên làm ăn, “thương” cảnh Phú Yên, “thương” người Phú Yên, ăn ở với em Phú Yên nhưng vẫn không rời bỏ quê hương Bình định sát kề. Ngoài đó còn có cha mẹ, có mồ mả tổ tiên, có cả những dính líu về tài sản ruộng đất nữa. Ngày giỗ, ngày kỵ, những dịp chia ruộng bán nhà v.v…, anh không thể vắng mặt. Một bổn hai quê, anh Bình Định đi đi về về mãi, khiến em Phú Yên phải giậm chân kêu trời. Như thế cho đến một ngày kia, khi anh đã con đàn cháu lũ đùm đề, gánh gia đình cũng như sản nghiệp tạo dựng của anh ở quê vợ đã quá nặng quá lớn, đủ thu hút tất cả thì giờ, tâm trí, cùng sự hoạt động của anh, khi tuổi anh đã cao, sức anh đã suy sút, bấy giờ anh mới đành chịu định cư hẳn ở Phú Yên, lấy quê vợ làm quê mình. (Nhưng bây giờ lại đến lượt đứa con trai của anh, theo tiếng gọi phương Nam, nó lên đường vào Khánh Hòa làm ăn và lại gặp một em ở trong đó. Cha Bình Định, mẹ Phú Yên, vợ Khánh Hòa: cuộc Nam tiến cứ thế tiếp diễn…)

Thành thử anh Bình Định hấp dẫn, đầu đuôi chỉ vì một lối di dân nhì nhằng.

(1) “Ða tình con mắt Phú Yên” (Tản Ðà)

(Giai phẩm TÂY SƠN Xuân Ất Hợi ).

Read Full Post »

Vất vả xứ người

Chỉ vài hôm, sau cái ngày bước chân đến xứ người, một anh bạn ở cùng trại tỵ nạn đã định cư trước chúng tôi chừng vài tháng, có nhã ý mời gia đình chúng tôi cùng đến dự buổi họp mặt cuối tuần tại nhà của một người quen, vừa mới gặp nơi sở làm. Chúng tôi thuộc diện “ con bà phước ”, không thân nhân tại xứ người cho nên cũng thấy vui vui khi được mời dự tiệc .


Thật ra, đó là những buổi “nhậu” của những người đến trước , đã có công ăn việc làm tạm ổn định .

Ngồi vào bàn tiệc, anh bạn cùng trại đã giới thiệu tôi với những người cùng bàn. Có lẽ do chưa quên cái thói quen, như lúc ở trại tỵ nạn cho nên anh đã nhắc đến danh xưng trước cái tên, khiến cho tôi hơi ngượng !
Một người trong bàn tiệc bổng nói lớn :

–         “Sĩ” gì ở VN , chứ qua đây thì ai cũng bị “lòi xỉ” hết !

Theo sau đó là những tràng cười lớn trong lúc mọi người cùng nâng ly chúc mừng buổi hội ngộ. Người bạn nhìn tôi với vẻ e ngại . Tôi vẫn ráng giữ bình tĩnh trong suốt buổi tiệc, nhưng lòng tôi cứ như bị cắt ra từng mảnh nhỏ. Mặc dù khi ra đi, tôi đã chấp nhận bỏ lại tất cả và biết rằng câu nói của ai đó không hề sai. Nhưng nó đã gợi nhắc cho tôi hiểu được cuộc sống của mình sẽ bắt đầu rất chông gai !!
Và suốt những đêm sau đó tôi không tài nào ngủ được .

Vợ chồng tôi có cái may mắn là được một Hội Nhà Thờ bảo trợ, cho nên mọi thứ cần thiết trong cuộc sống khi mới tới đều có đủ. Cũng chính vì vậy mà chúng tôi đã ở một vùng khá xa người Việt định cư. Chúng tôi chọn lối sống “cô lập” và dành nhiều thì giờ tìm hiểu thông tin rồi quyết định theo học các khóa Anh ngữ , để chuẩn bị định hướng cho cuộc sống riêng mình. Chúng tôi cảm thấy thoải mái với cuộc sống đang có mà không một chút gì băn khoăn .

Một hôm chúng tôi thử làm một chuyến đi xa, tìm đến khu phố có đông người mình sinh sống . Lần đó chúng tôi gặp lại vài người quen lúc còn ở trại tỵ nạn, mới vỡ lẽ ra rằng những người cùng chuyến bay đến Úc đều đã sắm “xế hộp” và mọi thứ trong nhà có vẻ “ cập nhật ”…
Chúng tôi thì chẳng có xe , TV thì không màu, bàn ghế tủ giường thì đều là đồ “Hội” (không phải là đồ hiệu đâu nhé). Chúng tôi được thuyết phục và cũng đã xiêu lòng nên quyết định dọn về ở gần vùng người Việt, mong kiếm được việc làm , tăng thêm ngân sách để “nâng cấp” cho cuộc sống gia đình .

Ban sáng thì tới lớp học Anh ngữ, chiều tan trường về thì vào xin làm (tạm thời) ở một xí nghiệp dây chuyền , nơi mà người phải chạy đua với máy . Công việc không khó nếu mình biết nhanh tay , nhanh trí mà lại có đồng lương cao .
Tôi làm việc rất siêng năng, vì muốn giữ chỗ làm và quyết chí tậu cho được một cái “xế hộp” cho thỏa lòng mơ ước . Người đứng coi máy là một thanh niên trẻ gốc Hoa , không khó mà cũng không dễ cho nên tôi cũng ít bị khủng hoảng tinh thần trong lúc làm việc .

Một hôm, dây chuyền bị ứ đọng mà anh chàng đứng coi máy thì lại phản ứng hơi chậm cho nên máy bị hỏng. Anh đã mạt sát tôi bằng những từ rất khiếm nhã và chửi tôi là thằng ngu đần. Có lẽ vì sợ trách nhiệm cho nên anh ta đổ hết lỗi cho tôi khi trình với ông sếp.
Tôi đã khóc, có lẽ tôi khóc không phải vì tủi thân khi nghe những câu chửi giận dữ từ họ. Nhưng mà tôi đã khóc chỉ vì sợ rằng giấc mơ ngồi xế hộp sẽ khó thành hiện thực. Một lúc sau tôi vơ vội cái túi xách và đến gặp ông sếp để nói vài lời xin lỗi. Cũng không quên cám ơn ông , đã giúp đỡ để tôi có việc làm trong mấy tuần qua. Rồi chào “vĩnh biệt” ra về .

Ông  ngạc nhiên quay lại nhìn tôi rồi hỏi , bằng giọng nói dịu dàng hơn lúc nãy :

–         Tại sao lại về, chưa hết ca làm mà sao lại đòi về . Mầy giận tao hả ?

Tôi không biết trả lời làm sao. Tôi cố dấu hai dòng lệ chảy dài nhưng chắc ông đã thấy. Ông vỗ vai tôi và chỉ tay về phía cái máy bên cạnh, rồi nói :

–         Từ rày trở đi mầy chỉ làm tại cái máy nầy thôi đấy nhé (dĩ nhiên là khác người điều khiển máy)

Công việc tại cái hãng nầy thì không khó nhưng phải làm dài giờ. Tôi không có thời gian rảnh để hoàn tất bài tập tại nhà , của lớp học Anh ngữ. Sức học tôi bị sa sút và bị cô giáo nhắc nhở. Thế là tôi lại bị mất ngủ nhiều đêm sau đó. Tôi đang đứng trước ngã 3 đường mà không biết phải chọn đường nào để đi :

–         Tiếp tục theo đuổi việc làm để đạt được giấc mơ “nâng cấp ” ?

–         Tiếp tục theo đuổi việc học để mong kiếm được một mảnh bằng tại xứ người ?

Cái khó là tôi không biết nên chọn đường nào cho đúng. Nhớ lại người mình có câu : “sai một ly, đi một dặm”, khiến cho tôi càng khủng hoảng tinh thần hơn nữa.

Cuối cùng, tôi đã phải quyết định từ bỏ công việc đang làm để tìm một việc làm ngắn hạn hơn. Và rất may tôi đã nhận được một công việc, vài giờ vào mỗi buổi tối trong tuần. Công việc thì thoải mái vì không có ai “dòm ngó” mà tiền lương thì khá cao .
Nếu lúc đó có ai hỏi, đang làm nghề gì thì tôi sẽ tự hào mà nói rằng : “tôi đang làm công việc văn phòng ”. Vâng, thưa các bạn đó là cái công việc dọn dẹp vệ sinh (hút bụi sàn nhà , lau bàn , đổ rác , lau cầu tiêu .. cho văn phòng làm việc của một công ty rất lớn , có nhiều tầng). Tôi cứ đánh lận con đen như thế, nhỡ có ai mà biết được thì tôi sẽ bảo :

–         Ờ .. đó là công việc dọn dẹp vệ sinh văn phòng, nói cho gọn là làm văn phòng, cũng vậy thôi !

Thời gian đã giúp tôi quen dần với những công việc như thế . Cũng nhờ đó mà có một ngày tôi đã viết thư gởi về VN, cho Mẹ. Tôi đã viết :

–         Mẹ ơi, con đã tìm lại được những gì mà con đã mất ..

Và Mẹ tôi đã khóc , lần nầy thì khóc cho một niềm vui !

Người gốc Nẫu

Read Full Post »

Sen

                           Bút ký của Huỳnh Kim Bửu

              

      Ở vùng quê tôi có nhiều đầm sen. Người quê tôi lời ăn tiếng nói khá phong phú. Cũng cái vũng trồng sen thôi, nhưng vũng trồng sen mênh mông ở giữa đồng thì gọi là đầm sen hay bàu sen, vũng trồng sen ở trước đình chùa thì gọi là hồ sen, còn cái vũng trồng sen nho nhỏ ở bên nhà, bên đường cái quan gọi là ao sen. Hoa sen có sen hồng, sen trắng, sen vàng và sen nào cũng ngát hương. Trong đầm sen thường mọc lẫn hoa súng, cùng họ hàng với hoa sen. Có người vì yêu quá đã gọi hoa sen là hoa ”quân tử”, hoa súng là hoa ”tiên tử”.

(more…)

Read Full Post »

K H I GIAMAHAVU . . . “I U”.

Thuận Nghĩa.

 
Tôi thường nhận được những tài liệu về tuổi già viết bằng tiếng Việt, Anh, Pháp với bản dịch tiếng Việt từ bạn già khắp nơi trong và ngoài nước. Khi thì những chỉ dẫn về những dấu hiệu của chứng đột quỵ, đau khớp, đau tim,…; những phương pháp tập luyện, dưỡng sinh, vân vân và vân vân. Nếu dùng công cụ tìm kiếm của google với những từ khóa “ lão khoa, bịnh người cao tuổi…” bạn sẽ có núi tài liệu, phải sống 200 năm mới đọc hết. Nếu có chí học các phương pháp tập luyện, nào là dịch cân kinh, yoga, thiền …mỗi ngày phải có 48 giờ mới đủ thời gian thực hành, không khéo sẽ bị tẩu hỏa nhập ma.
Một số bạn già của tôi mách cho nhau những bài thuốc “cải lão hoàn đồng “, bài nào cũng “hay lắm”; hoặc tìm ăn các thứ đặc sản như rắn, rết, bọ cạp, kỳ đà, cắt ké,…con gì cũng bảo “ep-phê”. Phổ biến nhất là các thứ rượu thuốc, ngâm đủ thứ cây con, để càng lâu càng “tốt”. Một bác sỹ danh tiếng bảo với tôi rằng dựa theo kết quả phân tích trong phòng thí nghiệm những thứ cây con ấy lâu ngày bị phân hủy khiến rượu thuốc không khác gì nước cống, chỉ khác nhau mùi vị. Chắc là phải tham khảo ý kiến nhà văn Trương Văn Dân, vốn là chuyên gia hóa dược làm việc lâu năm ở Ý, để biết thực hư thế nào. Ớn nhất là các loại rượu pha máu tươi, tim, mật của thú hoang dã như rắn, gấu, bò tót,…Các chuyên gia y tế cho rằng trong các loại máu động vật có những loài ký sinh, vi trùng, vi khuẩn có thể cộng sinh với loài vật nhưng rất nguy hiểm cho người.
Có lẽ, những thức ăn đặc sản, rượu thuốc ấy là những thứ doping, có tác dụng sinh lý thì chưa chắc nhưng tâm lý thì nhiều – liệu pháp tâm lý đôi khi cũng cần để người già có cảm giác …không già hoặc ít già so với tuổi tác thật.
Mới đây, một ông bạn là bác sỹ hưu trí, gửi cho tôi “Mười lời khuyên dành cho người cao tuổi”, tóm tắt như sau:
(1) Hãy vui vẻ với mọi người, (2) Làm chương trình xài hết tiền mình có, đừng tìm vui trong việc làm tiền, tích cóp của cải, (3) Hãy sống với thực tại vì “ Ngày hôm qua thì đã qua. Ngày mai thì chưa đến, thậm chí không bao giờ đến”, (4) Hãy vui vẻ với cháu nội-ngoại nhưng đừng tự nguyện làm người giữ trẻ trọn thời gian, (5) Chấp nhận già, yếu, bệnh tật…và cái chết vì đó là quy luật sinh, lão, bịnh, tử. (6) Vừa lòng với những gì bạn có, đừng nhọc sức tìm kiếm những gì bạn không/chưa có vì thời gian không còn nhiều nữa, đã trễ rồi, (7) Vui với người phối ngẫu ( vợ/chồng), con cháu, bạn bè. (8) Giả có ai yêu bạn, người đó phải yêu chính bạn chứ không phải những gì bạn có, (9) Tha thứ cho  người và cho mình, và (10) Làm quen với cái chết vì chết là một phần của cuộc đời. Đừng sợ.
Những lời “khuyên” đại loại như trên có lẽ phổ biến, bất kể đến từ Tây hay Đông. Những ai đang cố gắng vô ích với rắn, rết, bò cạp,…giống như Tần Thỉ Hoàng tìm thuốc trường sinh bất tử thì tham khảo điều (5), (6), và (10). Những ai đang sống với con cháu chú ý điều (4), tuy nhiên nếu bạn không có khả năng độc lập về tài chính, phải sống nhờ con thì đành chấp nhập là babysitter, thậm chí làm “o sin”vậy. Tục ngữ có câu “mẹ già bằng ba con ở”, chứng tỏ chuyện mẹ già làm o-sin đã có từ xửa từ xưa. Thế nên ông Đặng Tiểu Bình có lời khuyên nên dành dụm chút tiền cho tuổi già có thể “tự lực cánh sinh” là vì vậy. Cũng có người, nhất là ở nông thôn, chia của cải cho con cái, không giữ lại chút tài sản nào để “dưỡng già”, thành trắng tay, phải ăn nhờ, ở nhờ con cái ngay trong nhà của mình. Cho nên bạn cần tham khảo điều (2), phần nào để dưỡng già, phần nào để lại cho con cháu. Tục ngữ có câu: “Đời cua cua máy; đời cáy cáy đào”. Ngay cả Bill Gates, ông chủ Microsoft, tiền rừng bạc biển mà chỉ dành cho con 10 triệu dollars, một số tiền nhỏ trong khoảng 40 tỷ  tài sản. Còn những lão vẫn còn ham chạy theo tiền bạc, kiếm danh vọng…thì miễn bàn. Mười lời khuyên nầy có lẽ xuất xứ từ phương Tây, nhưng xem ra nội dung các điều (3), (9) và (10) cũng tương tự nhân sinh quan phương Đông- nhất là Phật – ở chỗ “sống với hiện tại”, “Tha thứ cho người và cho mình” va “ làm quen với cái chết vì cái chết là một phần của cuộc đời”( tức sinh-lão-bệnh-tử).
 
Tôi thì quan tâm đặc biệt điều (8):“ Giả có ai yêu bạn, người đó phải yêu chính bạn chứ không phải yêu những gì bạn có”. Đúng rồi, không thể bỏ sót mục nầy vì chẳng lẽ người già không yêu ai và không được ai yêu – yêu ở đây là tình yêu trai-gái. Quả vậy, trên xunau.org và những trang khác có vô số thơ, văn về đề tài iu iu mà đa số tác giả là các ông bà U 60, 70, đã đành hầu hết là những hoài niệm nhưng biết đâu trong đó vẫn có iu theo thì hiện tại. Tại sao không? Tình Yêu đâu có tuổi.
Trở lại lời khuyên ở Điều (1) “Hãy vui vẻ với mọi người”. và Điều (3) “Hãy sống với thực tại”. Tình yêu trong thì hiện tại giúp cho ta “sống với thực tại” (Đ.3) và được“vui vẻ” (Đ.1), NẾU…Thế đấy, cuộc đời luôn lè kè chữ “nếu”. “Nếu” là điều kiện cần và đủ. Chẳng hạn, nếu bạn được phép iu, đủ sức iu, …và trước hết nếu có ai đó iu bạn. Nhưng cái “Nếu” tối quan trọng là ai đó “phải yêu chính bạn chứ không yêu những gí bạn có”. Nhân vật người Úc gốc Việt trong truyện “Sống để trả nghiệp” của Đinh Tấn Khương  (trên xunau.org) khôn ba năm dại một giờ giao trái tim và hốt tiền vợ con cho cô sinh viên bạch cốt tinh đến nỗi thân bại danh liệt theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen, sống dở chết dở để “trả nghiệp”. Nếu anh ta cảnh giác đặt câu hỏi “ cô ta yêu tiền hay yêu người” thì có lẽ đã không bị rơi vào bẫy tình, giả có lỡ rơi vào thì cũng biết bỏ của chạy lấy người, đâu đến nỗi bị thằng tình địch trẻ khỏe ném xuống lầu đến chấn thương sọ não. Nói thì dễ nhưng cái bẫy nào cũng được ngụy trang khéo léo, khi đã “mù con mắt” rồi làm sao nhận ra nó. Xét cho cùng, trong thời buổi nầy cái gì cũng có giá, chẳng ai cho không cái gì, kể cả cái gọi là “tình yêu”. Sự thật đôi khi phũ phàng nhưng dẫu phũ phàng cũng là sự thật.
 
Thà rằng cứ yêu “lặng lẽ” như Nguyễn Quy hoặc “ lặng thầm” như Nguyễn Thị Tiết cho chắc ăn. An toàn là trên hết. Nhớ nhé các GIAMAHAVU…iu*
Thuận Nghĩa.
19-9-2011

Read Full Post »

Truyện Ngắn

Trần Minh Nguyệt

 

 

Hai người đàn ông đang ngồi lai rai ở quán bà Tâm, họ ngồi ở đấy chén chú, chén anh từ sáng tới bây giờ. Hai khuôn mặt đỏ ửng lên , sần sần – giọng nói đã nhão nhẹt, nghe có câu lè nhè nhừa nhựa tiếng được tiếng mất. Ở phía góc đường gần đó, cô Ngọ đang chào mời những vị khách đi đường để bán những gói xôi ế còn lại. Một số khách phất tay bước vôi – ra hiệu không mua; một số khác tỏ vẻ khó chịu ra mặt. Tuy vậy cuối cùng cô cũng bán xong gói xôi cuối cùng. Cô dọn đồ đạc, xoong, nồi vào hai quang gánh và đi  khuất dần vào trong con hẽm nhỏ.

Một gã bất chợt nói: “ Ông có biết con mụ Ngọ đó không? Mụ ta đúng là một con đàn bà trắc nết, lẳng lơ, vậy mà không biết thằng nào nó làm cho mụ có thai mà sinh con nữa? Nhìn thây mụ như vậy tôi bắt rùng mình !”. Người đàn ông kia mắt long lên với tia nhìn dữ tợn: “ Mụ ấy là một con đĩ, thì biết thằng nào là cha đứa bé đâu ông? ”. Ngừng lại một lúc, hít một hơi thuốc dài rất thỏa mãn – ông tiếp : “ Ông mới về đây, nên ông chưa biết đó thôi, thời trẻ mụ ấy cũng dể nhìn, vậy mà cũng chỉ vì mụ ấy hư hỏng quá nên không kiếm nổi một tấm chồng cho tử tế.”. Bà Tâm  – chủ quán nhậu, đang đứng ở quầy bên cạnh – liếc hai người đàn ông với tia nhìn sắc lạnh. Bà nín lặng. Khẻ lắc đầu, buồn bã….

Căn nhà tranh lụp xụp, xiêu vẹo, ẩm thấp – rộng khoảng 9m2 nằm ở cuối góc vườn đầy cỏ dại của Đình An Nam. Hai con người chui rúc vào đó để tránh mưa, tránh nắng. Lúc Ngọ 8 tuổi gia đình cô cũng có một ngôi nhà nhỏ cạnh bến sông An Hòa, nhưng từ khi mẹ cô bị chứng bệnh nan y, của cải trong nhà lần lượt ra đi, và đến khi mẹ cô mất, ba cô phải bán nhà để trả nợ. Ba Ngọ bị mù vì làm thuê, đập vỏ đạn lấy thuốc và đồng cho chủ vựa mua bán đồ phế liệu. Cảnh nhà suy sụp, cùng đường –  hai cha con xin làng về tá túc tạm ở mảnh đất sau Đình này. Những ngày nắng thì tạm yên cho dầu với cái nắng hè gay gắt gió Lào đến ngộp thở. Ngọ sợ nhất mỗi khi mùa mưa bão đến, hai cha con ngày đêm nơm nớp lo sợ túp lều có thể sập  ngã bất cứ lúc nào. Những cơn gió thốc, những trận mưa ào ạt – khiến túp lều rung rinh như chực bay lên hay ngã qụy xuống đất. Những ngày mưa to  gió lớn, hai cha con cùng nhau chen chúc vào chổ khô duy nhất còn lại trong góc nhà. Cả đêm  hai cha con lão mất ngủ vì mưa dột khắp nơi. Nghề mà cha con Ngọ nương tựa để có cái ăn ngày hai buổi là xin sự bố thí của thiên hạ khắp vùng. Từ ngả chợ, đến bến xe. Hôm nào đi xin gần nhà, tối – cha, con về lại căn nhà của mình – lúc phải đi xin ở xa, cha con Ngọ ngủ ở lều chợ, vỉa hè hay gầm cầu. Cuộc sống của hai con người lầm lũi, mò mẫm – không tìm đâu ra nẻo sáng.

Mười sáu tuổi, Ngọ dần trở thành thiếu nữ, và mọi người trong cái xóm nhỏ này ai cũng bảo là cô rất xinh. Ngọ không cùng cha mình ăn xin nữa, mà lên thị trấn xim làm tiếp viên cho một quán cà phê. Vẻ nhút nhát, nhu mì và nét mặt hoang dại của Ngọ thu hút bao khách đến quán. Và Ngọ đã sa ngã vì những vẻ hào nhoáng, quyến rủ bao vây chung quanh. Cô làm được rất nhiều tiền, dành dụm mua được ngôi nhà cấp bốn cho hai cha con. Từ đó, hai cha con không còn cảnh chui đục trong túp lều xiêu vẹo ở góc đình  mà nhịn đói để đi ngủ nữa.

Cô có thêm vài cái tên mới  “ Ngọ ca ve”. Có người còn ác ý hơn bảo cô là “ Ngọ ăn sương- gái bán hoa ” . Nếu cứ sống chung với hết người đàn ông này đến người đàn ông khác chỉ vì tiền thì người ta gọi cô là “con đĩ” cũng không sai chút nào. Ngọ cũng không sai, cô không biết chữ nào, nghề nghiệp cũng không có, mà cha thì nay ốm, mai đau – cô biết làm sao để tìm ra tiền chăm lo cho cha,  cho con cô bớt khổ đây? Cô chỉ còn tấm thân mình – còn chút nhan sắc, là “ vốn liếng “ duy nhất có thể xoay ra tiền mà thôi. Tiền bạc không dễ kiếm và cũng chẳng ai cho không – nếu không có sự trao đổi?

Cuộc sống không ngột ngạt. chật vật như trước, nhưng cha của Ngọ thì buồn hơn.  Cả ngày ông không nói gì với cô cả – chỉ lầm lũi vào ra như một cái bóng lờ lững vô hồn và có khi còn thở dài bỏ bữa. Ngọ thương cha, nhưng không thể nghe theo lời ông được, Ngọ không muốn mình đang được sống sung sướng, nuông chìu, dư thùa như thế này lại trở về cuộc sống lam lũ trước kia. Đôi lúc, Ngọ cũng băn khoăn tự hỏi : “  Danh dự là cái gì nhỉ? Trước kia cha, con cô nghèo quá, suốt ngày đi ăn xin. gặp người tốt bụng thì chẳng sao nhưng gặp phải kẻ xấu bụng thì bị xua đuổi, còn nghi ngờ là người ăn cắp –  lúc đó cha, con cô còn có danh dự  nữa không? Danh dự của người nghèo khổ cùng tột như cha con cô có còn trên đời này không? ” .  Ngọ cũng thường thì thầm tự an ủi mình : “ Xét cho cùng mình có trộm cắp của ai đâu? Mình bán dần danh dự, đổi sự trong sạch của bản thân, đổi luôn hạnh phúc của tuổi trẻ để có đồng bạc nhét vào túi cơ mà? “

Có vài lần Ngọ bị những người vợ của những kẻ no xôi, rững mở kia chận đánh tơi bời, và cắt tóc làm nhục cô ngoài đường. nhưng cô chỉ cảm thấy đau  đớn ê ẩm ở thân xác thôi, cũng không mấy xấu hổ. Ngọ nghĩ đơn giản : “ Mình làm chuyện đó vì tiền và những lần như vậy chỉ là tai nạn nghề nghiệp mà thôi. Có gì mà xấu hổ? “ .

Ngày Ngọ có thai bé Khang, cô cũng định đi phá bỏ nó như bao lần, nhưng bác sĩ bảo nếu cô phá thai nữa cô sẽ vĩnh viễn không có con. Bác sĩ cho cô một tuần để suy nghĩ, từ ngày sống bạc mạng đến giờ, đây là lần đầu tiên làm cô dằn vặt khổ đau.  Nằm đêm – Ngọ suy tính : “ Bỏ đứa con này đi thì trong cuộc đời mình sẽ không còn có con được nữa, còn giữ lại nó thì đời mình chắc sẽ chịu thêm bao nỗi khổ đau? “

Ba Ngọ gặn hỏi khi nghe tiếng khóc bất chợt của cô trong đêm – biết chuyện, ông kiên quyết bảo cô phải giữ lại đứa bé, nếu cô không làm vậy thì ông sẽ  bỏ nhà , không nhận cô là con, và lang thang đi xin ăn như trước cho đến khi chết ở  đầu đường xó chợ nào đó.

Và bé Khang đã ra đời. Khi nó còn tượng hình trong bụng Ngọ do dự, không muốn giữ nó lại, nhưng khi nó ra đời, nhìn thấy măt con –  tự dưng cô cảm thấy yêu thương nó vô hạn. Nó trở thành niềm hạnh phúc cho cả hai cha, con cô. Cô quyết định rời bỏ nghề  “ gái cave “, về nhà làm đủ mọi việc để nuôi con. Ngọ không muốn con mình khi lớn lên phải bị tủi nhục, hổ thẹn vì cái quá khứ tội lỗi, nhơ nhuốc của mẹ.

Này cô kia! Cô đổ rác trước mặt nhà tôi vậy sao? Ngọ hét to.

Cô Lan – nhân viên của doanh nghiệp tư nhân mỹ phảm Tiến Đạt giật mình quay lại: “ Trước nhà cô hồi nào? Mà ai trong cái ngõ này cũng đổ ở đây, chứ có phải mình tôi đâu? Nhà cô nằm kẹt trong xó  xỉnh vậy phải rán mà chịu chứ? ”.

Ngọ xấn lại khiến Lan giật mình quay lui nhưng cô vẫn còn nghe giọng nói đầy giận dữ của Ngọ vọng theo : “ Mấy người cũng vừa vừa thôi chứ, sao mà chỉ biết có mình không vậy? Nhà cao cửa lớn thì mặc mấy người, đem rác đổ trước nhà tôi là không yên với tôi đâu? Nếu không muốn tôi đem rác, và đồ dơ dáy này hất lại vào nhà thì ra mà hốt lại đi? ”

Lan cũng không vừa : “ Cô dám thì làm đi, tôi thách cô đó. Ai mà không biết cô là dân chợ búa, hàm hồ, lẳng lơ, hư hỏng chứ ? ”. Nói xong Lan vào nhà đóng sầm cánh cửa cổng lại. Ngọ hùng hổ vào nhà lấy cái mê hốt rác ra định bụng xúc rác đem đổ lại nhà của Lan,  nhưng thằng Khang đi học về – chạy ào vào nhà gặp cô. nó khoe: “ Má ơi! Hôm nay con được cô giáo khen đó. Con viết bài văn tả má, vì con thương má nhiều nhất nên con tả rất hay ”. Ngọ ôm con vào lòng – nước mắt bổng rưng rưng. Cô lặng lẽ cầm hộp quẹt ra đống rác và nhóm lửa đốt nó. Mọi nỗi hờn giận trước kia đều cháy tan theo ngọn lửa …

 

Phía bên kia đường, đoàn người ăn mặc sang trọng tay cầm bó  nhang to, và túi trái cây,  bánh kẹo nặng trĩu – họ rẽ theo con đường tiến sâu ra nghĩa trang thị trấn. Ngọ  vội bảo cu Khang ngồi ở cửa trông nhà, cô lầm lũi theo sau đoàn người. Những người thăm mộ hôm nay có vẻ giàu sang lắm . Họ đem chưng ra trước mộ những hộp bánh đắt tiền, trái cây nhiều loại và còn có cả vài ba lốc nước yến nữa. Ngọ cảm thấy hồi hộp nhưng thầm nghĩ lễ vật mà người ta dùng để yếm trừ, trẻ chăn bò sợ không dám ăn nên cô tin chắc chắn là của mình. ( còn đồ cúng mả bình thường thì cứ phải tranh giành mới có được)

Những người đi thăm mộ dường như cũng biết được điều đó, nên họ ở nán lại rất lâu, chờ lúc tàn  hết cây nhang mới về.  Khi họ vừa quay lưng rời khỏi, cả đám trẻ chăn bò đã nhảy ào vào lấy những gì họ để lại, Ngọ vội chen vào và  đúng như  cô nghĩ – cô đã có được một lốc nước yến, và một hộp bánh. Ngọ bổng thấy lòng rộn lên niềm vui như chính mình được cho quà. Ngọ nghĩ đến nụ cười của cu Khang, và câu hỏi thường ngày của cha: “ Con cho cha thứ gì vậy? “

 

Bà Hường đang mạnh khỏe vậy mà bổng dưng bị tai biến rồi phài ngồi một chỗ. Trước kia, bà Hường cũng có chồng, có con đàng hoàng – nhưng  bị nhà chồng sắc bạc quá không ở được đành bỏ chồng con trôi dạt về con hẻm này. Bà cũng là một người bán hàng rong, đụng đâu bán đó dọc phố ngoài chợ như Ngọ, và cũng cùng chung cảnh nghèo hèn trong cái xóm được đặt tên là “ Xóm Lá “..

Lúc bà Hường còn khỏe mạnh, Ngọ với bà không thuận, cải và ẩu đả với nhau suốt ngày với một lí do duy nhất là giành giật bán từng bó rau, trái bí mà vài khách hàng tình cờ gọi mua giữa phố chợ. Ban quản lí chợ và trưởng thôn đã bao phen đưa họ ra kiểm điểm , nhưng rồi đâu cũng vào đấy.    Từ ngày bà Hường bị tai biến, không đi được nữa – ai cũng ngạc nhiên thấy chính Ngọ lại sang đỡ đần bà trong lúc trưa hoặc tối chứ không có người nào khác – kể cả hai đứa con của bà!  Ngọ bảo thẳng với bà Hường khi nhìn được vẻ bối rối và biết ơn trong ánh mắt của bà : “ Chị đừng lo, tôi không rảnh để giúp chị ban ngày đâu. Đằng nào trưa, với tối tôi cũng rảnh mà, giúp chị một chút để trả ơn chị vậy. Dạo này không có chị, dọc phố, ngoài chợ tôi cũng bán đắt hàng hơn… ”. Thỉnh thoảng, Ngọ còn giúi vào tay bà Hường một ít tiền ăn sáng nữa. Tuy bà Hường đau nằm một chổ,  di chuyễn khó khăn – nhưng nhà cửa vẫn sạch sẽ, ngăn nắp, gọn gàng nhờ bàn tay của Ngọ.

Nhờ sư thầy ở tịnh thất Ngọc Lễ mỗi sáng đều ghé châm cứu và săc thuốc nam cho uống –  ba tháng sau, bà Hường bắt đầu đi lại được. Bà tập đi dần ra chợ, và có thể buôn bán kiếm sống như trước. Nhưng lần này cả bà Hường và Ngọ đều đồng lòng nhường nhịn. thương yêu nhau – như hai chị em ruột vậy!

Nghe những tiếng ồn ào náo nhiệt từ quán nhậu đầu con hẽm vọng vào – Ngọ và vội miếng cơm, và tất tả chạy ra phụ việc rửa chén bát cho bà Tâm kiếm thêm tiền cho cu Khang đi học thêm vào thứ bày và chủ nhật như đã hứa với nó tuần trước.  Ở  vùng này ai cũng biết tiếng “ con Ngọ ca ve, con Ngọ hung dữ, con Ngọ trắc nết “ – nên cô không dám ló mặt lên phía trước quán như một người bị bệnh truyền nhiễm.  Với Ngọ – cô quen nghe những lời như vậy rồi, cũng không mấy xấu hổ nhưng chỉ sợ bà Tâm mất khách, sẽ không nhận cho cô làm thêm nữa mà thôi!. Ngoài tiền lương hằng tháng, Ngọ còn được bà Tâm cho thức ăn thừa của khách để tối về cho Khang và cha cô ăn thêm trước khi ngủ.. Hôm nào quán đông khách, hôm đó gia đình của Ngọ còn có được thêm bữa  ăn sáng ngon lành….

Dù mang nhiều tiếng xấu từ cửa miệng của lắm kẻ ngồi lê đôi mách ác tâm –  nhưng những câu nói ngộ nghĩnh, ngây thơ của bé Khang, lời thì thầm dặn dò thân thiết của cha – Ngọ đã dần tìm thấy được niềm tin yêu trong cuộc sống và luôn nuôi nấng hi vọng về một tương lai tươi sáng sẽ đến với bé Khang – không xa …

 

Tháng 9 -2011

TRẦN MINH NGUYỆT

 

Read Full Post »


 


MANG VIÊN LONG

Tôi mượn ý thơ của thi sĩ Tản Đà để làm cái tựa cho bài tiểu luận nầy, đồng thời, cũng nhìn từ đó, để đề cập, dẫn chứng cho cái quan niệm riêng tư của mình, về tính chất đa tình, lãng mạn, hay gì gì đó của người con gái Phú Yên, đã được xác nhận (bằng thơ Tản Đà, ca dao, phong dao, hay thơ của Quách Tấn, Lam Giang, Huy Lực) nhưng hoặc chỉ là cái ca ngợi, cái nồng nhiệt riêng tư ; hoặc được ngắm nhìn, và phát biểu với sự lừa dối (vô tình, hay hữu ý) khiến cái khía cạnh rực rỡ nhất, chói sáng nhất trở nên lu mờ, hoen ố.

Cho tới nay tôi cũng chưa tìm thấy một tài liệu chính xác nào cho biết thi sĩ Tản Đà đã ghé lại Phú Yên vào năm tháng nào trong mấy chuyến xuôi ngược Bắc Nam của ông từ năm 1926 (sau khi làm được 10 số báo An Nam tạp chí, số đầu tiên ra ngày 1/7/1926) ở lại Phú Yên bao lâu, để được hưởng mùi vị của cước cá và sò hào ” lấy chi vui với thu tàn, Phú câu cước cá, Ô Loan miếng hào”. Theo tôi, ngoài cái tiếng về rượu, và ăn nhậu, Tản Đà còn có một đặc tính tuyệt vời khác: Đó là cái con mắt đa tình của ông. Con mắt có đa tình, mới nhìn thấy đôi mắt khác đa tình. Đôi mắt có lãng mạn, thơ mộng, mới nhìn thấy đôi mắt khác lãng mạn, mơ mộng. Bởi vậy, tôi đã bỏ ra trên bốn năm, chỉ tìm hiểu coi Tản Đà đã ở lại Phú Yên bao lâu, ghé lại vào dịp nào, để mới có thể hiểu được đôi mắt Tản Đà đa tình tới bực nào, đồng thời, cũng giúp cho bài nghiên cứu được dễ dàng trong việc dẫn chứng ví dụ, hay có một khoảng không gian giới hạn nào đó (trong cái bao la, biền biệt của ca dao) mà tra cứu.

Phạm Văn Diêu (trong Việt Nam Văn Học giảng bình Hoàng Sơn in lần thứ 3, Saigon 1970) cho biết “…Trên đường viễn du, ông (Tản Đà) ghé Hà Tĩnh thăm núi Sót,  xuống Huế đến Thuận An, ngậm ngùi trước cảnh Trấn Hải Đài tàn phế, tìm gặp Phan Bội Châu ngày 20/04/1927, rồi đi Đà Nẵng qua chơi Ngũ Hành Sơn, Đồng Dương, rồi thẳng vào Quy Nhơn, Nha Trang và Saigon“. Một đoạn khác, trong cùng tác phẩm nói trên, ông Phạm Văn Diêu kể: “…Ngày 14 tháng 2 năm 1928 Tản Đà lại xin thôi (Đông Pháp Thời Báo) về Bắc, và ra đi hai hôm sau đó, trong túi chỉ còn 7 đồng giống như lúc vào Nam. Trên đường về, Tản Đà có ghé Bình Định vài ngày thăm mả Nguyễn Huệ”.

Trong báo Tao Đàn số 9 và 10 ngày 16 Juillet 1939, nhà văn Lan Khai đã thuật lại kỷ niệm với Tản Đà, cũng phát họa dáng điệu tâm tính của Tản Đà, ông đã có nhắc tới một chuyến vào Trung của thi sĩ: ” Năm 1930, giữa lúc xứ Trung kỳ đương nín thở dưới cơn giông khủng bố, thi sĩ (Tản Đà) tự nhiên một mình vào tận quê hương vị anh hùng Nguyễn Huệ…”

Gần đây báo Văn số 175 ra ngày 1/4/1971, Ông Quách Tấn có viết một bài hồi ký, có tựa ” kỷ niệm với Tản Đà“, cũng đề cập tới chuyến Nam du của Tản Đà, nhưng lại mập mờ: “Nhân cuộc Nam du (tôi không nhớ rõ năm nào, chừng vào năm 1924-1925, đi ngang qua Bình Định, Tản Đà tiên sinh ghé lại đình (ghi chú của người viết: “Đình thờ ba vua ây Sơn ờ làng Kiên Mỹ, quận Bình Khê, tỉnh Bình Định)”.

Như vậy, dầu có nhiều tài liệu khác khau nói tới các chuyến vào Trung, và Nam của Tản Đà, nhưng không có nói tới việc Tản Đà ghé Phú Yên vào tháng năm nào, trong bao lâu. Tôi có thể ước đoán, ông ta tới Phú Yên, vào Thu, chớm Đông, thời gian nhiều nhất là 1 tháng. Trong 30 ngày, ở một chỗ, Tản Đà  (hay bất cứ ai nếu có sẵn tiền) cũng có thể tìm thấy các món ăn đặc biệt ở nơi đó; nhưng chỉ một câu thơ Tản Đà nói tới con gái Phú Yên, làm tôi bàng hoàng, kính nể. không phải dễ nhìn thấy cái đặc tính độc đáo của người con gái một miền nào, cho dầu thời gian có kéo dài tới đôi ba năm. Tôi đã sống ở Phú Yên trên tám năm, đã nghĩ tới câu thơ Tản Đà trên mười năm (lúc chưa tới nơi đây), hôm nay mới có thể đặt bút viết bài lý luận nho nhỏ này.

Như đã nói ở trên, đôi mắt có đa tình, lãng mạng mới nhìn thấy đôi mắt khác đa tình, lãng mạn giờ có thể nói thêm, tâm hồn có phóng khoáng, như nhiên, mới biết được tâm hồn khác phóng khoáng như nhiên. Tôi viết những giòng này, sau khi đã dọn mình sẵn sàng để lòng được thành, và trí được sàng. Bởi vậy, tôi đã nhìn thấy cái dấu giếm, cái ác ý trong hai câu ca dao sau:

Chớ lấy vợ Gò Cà

Chớ mua gà Mỹ Phú

Bởi vì, tôi đã nhìn thấy cái buồn cười, giả nhân giả nghĩa, của người đời –  qua hai câu sau:

Nhất gái La Hai

Nhì trai Đồng Nghệ

Bởi vì, tôi đã nhìn thấy cái lố bịch, cái hài hước của hai câu sau đây nữa:

Trai Ngã Thạch

Cái Bàu Hương

Tôi đã sống rất khắc khe với chính tôi, và rất bao dung tha thiết với Phú Yên, trong 6 câu ca dao mà tôi vừa trích nêu, trong tám năm trời. những chữ “Vợ Gò Cà” ” Gái La Hai” và “Gái Bàu Hương“, đã ám ảnh, ray rức tôi không ngớt, từ ngày tôi đặt chân vào Phú Yên. Trong một vài bài viết ngắn, nói tới Phú Yên, gởi cho mấy tờ báo ở Saigon (hay tại Tuy Hòa) tôi dầu tỏ lộ vẻ bồn chồn, khổ sở vì cái ám ảnh của các chữ đó. Tôi còn nhớ ba bài viết có đề cập thẳng tới tính chất ” Vợ Gò cà”, “Gái La Hai”,  “Gái Bầu Hương” nên tuần báo Khởi Hành, nhật báo Tự Do, và trang Văn Học Nghệ Thuật Tiền Tuyến. Ngoài ra, trong tất cả các nhân vật nữ (dầu là bà già) của các truyện tôi viết tại Phú Yên, không khí và khung cảnh Phú Yên, tôi đều bộc bạch tâm sự, và cảm nghĩ sâu kín nhất của tôi, đối với các chữ đó: ” Vợ Gò cà, Gái La Hai, Gái Bầu Hương“.

Ở đây, nơi bài này, tôi sẽ nói dứt khoát và thẳng thắn, nói thành thực, và sau cùng, về vấn đề chung ” Đa tình con Mắt Phú Yên“- hay riêng về các người  nữ ở Gò cà, La Hai và Bầu Hương. Tất cả mọi người đều hỏi: “Gò cà, vợ Gò cà là vợ ở đâu? Tại sao là Gò Cà?”. Xin đáp: Xã An Hiệp, quận Tuy An có 7 thôn (Mỹ Huận, Mỹ Thạnh, Tuy Dương, Hội Đức, Phước Hậu, Mỹ Phú, Phong Phú), diện tích 3.460 ha, Gò Cà thuộc thôn Tuy Dương.

Người ta cũng đã nói: ” Nhất Gái La Hai, gái La Hai là gái ở đâu, tai sao nhất, nhất cái gì?”. Xin đáp La Hai thuộc xã Xuân Long, quận Đồng Xuân. Từ Chí Thạnh, theo liên tỉnh lộ số 6, ( tỉnh lộ dài 36 km dẫn tới Mục Thịnh ranh giới tỉnh Bình Định), qua Phong Viên, tới La Hai. Xã Xuân Long có 2 thôn là Phước Long và Hà Trung, diện tích 2.270 ha. La Hai là tên chợ quận lỵ.

Sau chót, người ta đã sốt sắng và niềm nở hỏi: ” Gái Bàu Hương ở đâu?” Xin đáp: Bầu Hương thuộc xã Hòa Phong, quận Hiến Xương. Xã Hòa Phong có 10 thôn (Phước Thành, Mỹ Thạnh Đông, Mỹ Thạnh Tây, Mỹ Thạnh Trung, Tân Mỹ, Lương Phước, Thạch Bàn, Liên Thạch, Nam Bình và Lạc Mỹ); Bầu Hương nằm ở thôn Mỹ Thạnh Trung (và 1 phần  Hòa Mỹ) dưới chân núi Hương (cao 132 m), gần chùa Hương Tích.

Theo nguyên nghĩa: ” Chớ lấy vợ Gò Cà“, bởi vì ở vùng này con gái có thể giết chết chồng (bằng cách này hay cách khác) để theo người đan ông khác. Hoặc có thể bỏ chồng con, gia đình, theo người đàn ông khác. Nói tóm, ” Vợ Gò cà” không ” thủy chung“, nguy hiểm, giống như…gà ở Phú Mỹ (cũng thuộc xã An Hiệp). Xã An Hiệp, được chê về… con gái và gà!

Con gái La Hai cũng được chê trách về phẩm hạnh: Lẳng lơ, lãng mạn, theo trai. Con gái La Hai cũng được coi là dễ sợ, nguy hiểm, không chuyên chính đứng đắn giống như các chàng trai xứ Đồng Nghệ (cùng quận Đồng Xuân, xã Xuân Sơn).

Ở Phú Yên, người ta khen “Gái Bàu Hương“, đã xinh đẹp thơ mộng như thằng tích ở đó, mà phẩm hạnh cũng vẹn toàn.

Vậy Tản Đà (hay gần đây Huy Lực, Trần Huiền Ân, Phạm Cao Hoàng, Hoàng Đình Huy Quan, Khánh Linh, Đỗ Chu Thăng, v.v…) đã nhìn thấy “Con mắt đa tình” Phú Yên, ở vùng nào? Không có tài liệu nào cho biết Tản Đà đã lên chơi núi Hương, viếng chủa Hương Tích, ngâm vịnh ở Bàu Hương, trong lúc phát  biểu về “Con mắt đa tình Phú Yên“. Như thế, tôi có thể kết luận, Tản Đà (và các thi sĩ khác) đã nhìn thấy “đôi mắt ấy” bàng bạc khắp nơi, ở đây. Theo kinh nghiệm (đã có trên tám năm), cộng với việc suy nghĩ, nghiên cứu, tôi cũng đồng ý như vậy: con mắt Phú Yên rất đa tình. Rất thơ mộng và như nhiên.

Trở lại vấn đề cũ: Tại sao lại vợ Gò Cà? Tại sao gái La Hai là nhất?

Chúng ta phải sống trở lại với các vùng này về hoàn cảnh địa lý, thiên nhiên, đời sống của họ. Nhất là cái xã hội của các câu ca dao, phong dao trên kia ra đời. Sau đó, truy tầm tác giả và nguyên do.

Sống trở lại đời sống của xã hội An Hiệp, tôi dễ dàng nhìn thấy các chi tiết sau đây: Ở An Hiệp sản xuất rất nhiều mật ong và đường. Ở La Hai, hai sản phẩm kể rên lại nhiều hơn nữa:

Nếp màng màng

Đàng Tân Lập”

Hoặc :

“Tiếng đồn chợ xổm nhiều khoai

Đất đỏ nhiều bắp, La Hai nhiều đường”

“Hôm nay ăn mía Triệu Tường

Đợi mắm Nam Ổ, đợi đường Phú Yên”.

Ở An Hiệp (Tuy An) và La Hai (Đồng Xuân) cũng nổi tiếng về trái cây (tôi không chú ý tới : Bông vải, đậu nành, đậu phụng, thuốc):

“Cam Đa Lộc

Thuốc Lỗ Dưng”

Tuy An có ba danh nhân đáng lưu ý: Liễu Quán Hòa Thượng (xã An Thạch), nhà ái quốc Lê Thành Phương (xã An Hiệp), và Đại đức Thích Quãng Hương (xã An Ninh). Đồng Xuân có : Nhà ái quốc anh hùng Nguyễn Hào Sự (xã Xuân Phước), Võ Trứ (di cư ở La Hai). Đô Đốc Chương, Phủ Sự Đào Trí, Thống Chế Nguyễn Nhàn. Riêng Đồng Xuân cũng đã nổi tiếng về các bậc hiếu tử đã được ghi vào sử sách.

Khi tìm hiểu các đặc biệt của An Hiệp (Tuy An) và La Hai (Đồng Xuân), tôi nhận thấy có hai điểm giống nhau: Hai vùng này đều phong phú về đường, mía, mật ong và trái cây. Sự trùng hợp này khiến ta nghĩ tới sự trùng hợp ở trên: Con gái bị mang tiếng xấu, lãng mạn, lẳng lơ.

Điều đáng lưu ý thêm nữa, ở Bàu Hương (Hòa Phong), sản phẩm phong phú, đặc biệt cũng là: đường , mía và mật ong. Nhưng tại sao là “Gái Bàu Hương” mà không là :

Nhất gái La Hai

Nhì gái Bàu Hương?

Xin đáp : Núi Hương thơ mộng; chùa Hương Tích hấp dẫn du khích, đạo hữu; sau cùng là cái bàu tên Hương với huyền thoại có con rùa khổng lồ nổi lên làm bàn thạch cho chư Tiên hiện xuống uống rượu, đánh cờ, ngâm thơ, vân vân. Đã có sẵn khung cảnh hữu tình, lại được “che chở” bởi cái lý do mầu nhiệm Thần Thánh; Bàu Hương luôn luôn phải được ca ngợi, dầu là con gái, hay bà già. Ở Bàu Hương, chùa Hương Tích có rất nhiều thi nhân, hay khách tài hoa, giàu sang, đến viếng, đề thơ và khen ngợi.

Còn Tuy An và Đồng Xuân (hay nói riêng Gò Gà và La Hai) có chi? Xin đáp: Chỉ có đường mía, mật ong và trái cây. Khi người ta cần những thứ đó, người ta chỉ tới chợ (hay nhờ người đi) mua rồi về. Gò Cà và La Hai không có thiên nhiên, và nhất là Thánh Thần che chở ! Trong lúc đó, ở Bàu Hương, với thiên nhiên và đời sống đặc biệt của nó, con gái có nhiều tính chất lãng mạn, lẳng lơ hơn.

Các dữ kiện vừa nêu trên, ai cũng dễ dàng trông thấy cả. Tuy nhiên, truy tầm tác giả của 3 câu ca dao đã trích không phải dễ. Ca dao là gì? Là bài hát ngắn, được đọc từ miệng người này tới miệng người khác, tồn tại là do truyền khẩu. Ca đao có nhiều tính chất, khía cạnh. Và, tác giả của ca dao được ghi là “vô danh“. Vậy, ở đây, tôi chỉ tạm ấn định cho tác giả của 3 câu ca dao trên chung một hạng “Lớp nho sĩ phong kiến“. Thời gian xuất hiện cũng vì thế mà ấn định được: Xa chúng ta (1974) ít nhất cũng trên 150 năm (ông Lương Văn Chánh được Nguyễn Hoàng cử vào đánh Thành Hồ, đuổi quân Chiêm Thành, lấy lại đất Phú Yên đã được vua Lê Thánh Tông chinh phục năm 1470. Khoảng năm Mậu Dần = 1578).

Như thế, chúng ta có thêm hai yếu tố mới để truy tìm nguyên do nói tới “Vợ Gò Cà, gái La Hai, gái Bàu Hương“: 1). Tác giả là lớp nho sĩ phong kiến (đổ đạt hay không), hoặc giả, ở lớp người đã chịu ảnh hưởng sâu đậm, bị ràng buộc khe khắt vào cái quan niệm lễ nghĩa, đạo đức Nho giáo một cách hẹp hòi, sai lệch. 2). Thời gian thực xa xưa, mờ mịt, như cái giai đoạn đạo Nho đang cực thịnh trong dân chúng. Cực thịnh đến nỗi khe khắc, giả tạo, và không nhìn thấy chính mình, hoặc xa hơn một chút.

Nhận chân được vài điểm đại cương như trên, chúng ta có thể kết luận, rất vắn tắt: Những ý tưởng, nhận xét qua 3 câu ca dao đó, đã được đưa ra từ một tư tưởng, một đôi mắt (hay nhiều đôi mắt, thời đó), không phải thực là của chính mình (không dám là mình): Nó bị dòm ngó, lệ thuộc, ảnh hưởng bởi một nền luân lý đạo đức cố chấp, hẹp hòi, sai lệch. Ý tưởng đã bắt nguồn từ một sự thiếu sót, sai lệch, cổ hủ như thế, thì cái giá trị của nó cần phải đặt ngược trở lại. Đó là chuyện dĩ nhiên. Cái thời, cách nay hai ba trăm năm, và các thời chúng ta đang sống, có vô số thay đổi, tiến bộ, phong phú (nhìn về phía những ưu điểm). Đôi mắt chúng ta nhìn, tâm hồn chúng ta xúc động, ý tưởng chúng ta phát biểu, hẳn nhiên là khác xưa. Không ai ngờ nghệch, thiển cận nhìn “vợ Gò Cà, con gái La Hai, con gái Bàu Hươong” với cái tâm địa kín mít và đôi mắt lù mù kia nữa.

Tiếp theo, tôi muốn định  nghĩa và xác định giá trị trở  lại các tính chất của những chữ “lãng mạn, đa tình chung thủy, lẳng lơ, trắc nết“. Định nghĩa và xác định, là tôi muốn so sánh cái quan niệm cũ (thời có các câu ca dao kia xuất hiện), với sự đổi thay, tiến bộ đang đi tới. Theo cũ, những chữ trên đều gán cho cái nghĩa xấu, tồi tệ, ngay cả chữ vô tội nhất là “lãng mạn” và “đa tình“. Các chữ “chung thủy, lẳng lơ, trắc nết” cũng bị bóp méo, thu nhỏ sao cho vừa với cái đôi mắt, cái tâm hồn nhỏ xíu kia. Sự “chung thủy” lúc xưa, khác với sự “chung thủy” bây giờ. Cái chuyện “lẳng lơ” lúc các cụ học “Nam nữ  thọ thọ bất thân” cũng khác với quan niệm “lẳng lơ” chúng ta đang sống. Hồi đó , hôn nhân là một sự sắp đặt, hay tệ hơn là đổi chác, mua bán của các bậc sinh thành (ông bà, cha mẹ ,v.v.). Chữ “Tình yêu” không có. Phủ nhận “Tình yêu” là giết chết tâm hồn, sự rung động của con người. Đời sống luôn luôn bị gò bó, thu mình ép buộc. Không coi đời sống của tâm hồn có giá trị (trong tình yêu), vì thế, họ lên án những người dám (hay liều lĩnh, ngây thơ, thành thật) sống với sự xúc động, khao khát của lòng mình; bởi vì con người đã là người khi hiện hữu. Ở vào cái khung cảnh tối tăm đó, cái ngục tù ác nghiệt đó, người con gái Gò Cà đã hành động theo tâm hồn mình. Đã là người với trọn vẹn tính chất khả hữu của nó. Đó là một hành động quả cảm, đáng được thán phục, yêu quý. Người con gái La Hai dám coi thường những lề thói hẹp hòi, những đôi mắt quái lạ kia, để “theo trai“. Chữ “theo trai” phải hiểu: Theo tình yêu, theo khát vọng trung thực, sâu thẵm của tim mình. Sống vào thời đó, chung quanh có vô số sợi dây ràng buộc mà bỏ đi được (dám sống là người), quả họ đã suy nghĩ, đã chân thành quá mức rồi. Tôi nghĩ tới những tù nhân khao khát tự do. Tuy vậy, việc phá vỡ những ràng buộc như thế, đối với thời xưa, là một việc hệ trọng. Đáng … đem vào ca dao, tục ngữ ! Xét hiện tại, ai cũng nghĩ là cái việc “như thế” ở đâu cũng có, và không có gì phải sợ hãi. Nhiều chuyện “động trời” , còn có thể hiểu, cắt nghĩa, và bao dung được. Tôi nghĩ: “Giá còn tác giả của mấy câu ca dao trên sống tới nay, có lẽ họ đã ngã ngửa ra mà chết” . Hoặc : “Họ sẽ hối hận mà sửa lại“. Nói thế, không có nghĩa tôi phủ nhận sự có mặt cần thiết và đáng ca ngợi của quý chữ “Thủy chung, lẳng lơ, trắc nết“, mà đòi hỏi chúng ta phải hiểu chúng, bằng sự tiến bộ, bằng cái sâu thẳm nhất của tâm hồn, của con người.

Thiên nhiên và đời sống có ảnh hưởng tới con người, đó là điều dĩ nhiên. Ở Phú Yên, thiên nhiên đầy đủ và hữu tình quá: Rừng núi sông biển, đồng ruộng, thành hồ, hào rạch, đồi tháp ở cùng khắp. Phú Yên ở giữa hai ngọn đèo, hai cái ải, là Đèo Cả (cao trên 500m) và Đèo Cù Mông (cao 245m ) nên đời sống cũng bị giới hạn, khép lại trong khung cảnh, đất đai của mình. Bởi vậy, tính chất “lãng mạn” và “đa tình” dễ tìm thấy trong những đôi mắt thiếu nữ, nếu có sẵn “một đôi mắt đa tình” để nhìn ngắm.

Tản Đà (hay Huy Lực, Trần Huiền Ân, Hoàng Đình Huy Quan, Phạm Cao Hoàng, Đỗ Chu Thăng, Khánh Linh, v.v…) đã xác nhận với tôi điều đó, trong các thi phẩm của họ. Như thế, vấn đề “vợ Gò Cà, gái La Hai, gái Bàu Hương” còn là một điều đáng chú ý nữa thôi?

Riêng tôi, viết xong mấy dòng này, tôi đã gột sạch tất cả những ám ảnh. Đã dứt khoát một quan niệm về những người nữ Phú Yên. Và, để kết luận cho bài lý luận nho nhỏ này, tôi coi cái tính chất “Đa tình và lãng mạn” của Phú Yên là một ưu diểm, một đặc tính hồn hậu, chân thành, tự nhiên như hoa nở, trăng mọc, mưa rơi …/.


Read Full Post »

Phòng trọ

Hồ Ngạc Ngữ

Tranh Bùi Xuân Phái

Cảnh chen lấn, xô đẩy nhau ở quầy nhận bệnh nhân của Viện X làm anh muốn ngạt thở. Anh chọn một chiếc ghế trống ngồi nghỉ xem thử cô gái đi theo mình đang ngồi ở đâu. Cô ấy đang ngủ gục trước tờ báo vừa mượn được của ai đó, ở hàng ghế phía sau. Chuyến xe buổi sớm đưa hai người lên thành phố làm cô gái có vẻ mệt mỏi. “Cháu không quen đi xe đò, nên dễ bị say. Với lại, ngày hôm qua cháu phải đi cắt cỏ cho bò ăn ở khu Mả Lạng”. Gương mặt trái xoan, mái tóc dài, đôi mắt lim dim với hàng mi cong, trông cô gái như đang đọc báo. Có lẽ, cô gái đã quen với cái thế ngồi vừa ngủ trong lớp học mà không bị thầy, cô phát hiện.

Anh chợt nghe từ chiếc loa phóng thanh có tiếng gọi tên mình. Anh cố chen chân giữa đám người hỗn độn, đến quầy nhận phiếu đi chụp X.quang. Cô gái đã tỉnh ngủ, đi theo anh.

Ở phòng chụp X.quang ra, ngồi chờ nhận được tấm phim chụp hình phổi thì đã trưa. Anh nói với cô gái:

–         Mình đi ăn rồi đến chỗ Kim hỏi vụ học bổng cho cháu. Kim biết rõ hoàn cảnh gia đình cháu quá khó khăn nên may ra… Buổi chiều còn phải đo điện tâm đồ, siêu âm tim… chưa chắc đã xong trong ngày hôm nay.

–         Như vậy buổi tối mình ngủ ở đâu hở chú? Cô gái có vẻ lo lắng hỏi.

–         Thiếu gì chỗ! Có thể ở chỗ công ty của Kim hoặc thuê phòng trọ. Cháu đừng lo!

Cô gái im lặng suy nghĩ. Dù sao cô đã xấp xỉ tuổi hai mươi, ở chung phòng với một người đàn ông thật bất tiện. Cuối cùng, cô gái nói:

–         Thôi để đến đó rồi hãy tính. Cháu mới lên thành phố lần đầu nên cứ như là Hai lúa! Mẹ cháu có dặn: Chú đi đâu thì cháu phải theo đó. Đừng nên đi một mình.

–         Đi với chú cháu đừng sợ. Dù sao, chú đã quen với cuộc sống ở thành phố. Nhưng ở đâu, cũng có người tốt, kẻ xấu.

Hai người vào quán ăn bình dân bên vệ đường trước viện X. dùng cơm trưa. Thời tiết nóng nực làm anh toát đầy mồ hôi. Anh chỉ ăn lưng phần đĩa cơm sườn rồi uống lấy uống để ly trà đá. Cô gái dáng người khỏe mạnh, ăn một loáng đã hết đĩa cơm.

–         Cháu dùng thêm?

–         Không, cháu đủ rồi. Cảm ơn chú.

Công ty của Kim nằm cách viện X. khoảng hai mươi phút đi bằng xe ôm. Đường đi khá ngoằn ngoèo trong các ngõ hẻm vì phải chở hai.

Cửa văn phòng công ty đóng kín. Anh bấm chuông và chờ đợi. Sốt ruột, cô gái bấm chuông lần thứ hai. Một người đàn bà nhỏ thó mở hé cửa, thò đầu ra, với gương mặt ngái ngủ, nói lầm bầm:

–         Chỉ nên bấm chuông một lần rồi chờ người ta ra mở. Con người chớ đâu phải cái máy mà ra mở liền. À, mà hai người tìm ai?

–         Tôi tìm ông Kim, giám đốc: Ông Kim có hẹn với tôi hôm nay lên gặp. Vì đường xa nên giờ này mới đến. Xin lỗi, mong chị thông cảm, ở quê nên chúng tôi ít dùng chuông điện.

Người đàn bà giúp việc nhìn hai người từ đầu đến chân từ chân lên đầu rồi nói:

–         Vào đi! Để tôi lên gọi ông Kim xuống. Ông ấy đang nghỉ trưa.

Cánh cửa kính được mở ra thêm một khoảng để anh và cô gái bước vào. Ánh mắt cô gái có vẻ khó chịu nhìn theo cái dáng đi tất tả của người đàn bà. Anh nói với cô gái:

–         Cháu đừng để ý tới họ. Ai cũng cho mình là người quan trọng.

–         Không, cháu chỉ hơi buồn cười!

Căn phòng toát ra mùi máy lạnh, không khí mát mẻ nhưng ngột ngạt. Công ty của ông Kim kinh doanh máy móc, thuốc men và đủ loại lặt vặt. Sản phẩm lấy về từ Hàn Quốc.

Cả hai ngồi chờ ở bàn sa lông tiếp khách. Anh nói nhỏ:

–         Ở thành phố, cháu đừng nghe những gì người ta nói mà hãy nhìn những gì người ta hành động. Họ sống bằng miệng lưỡi hơn là thực lòng.

–         Dạ, cháu hiểu. Cảm ơn chú.

Kim từ lầu một bước xuống, dáng người bệ vệ, tướng đi chững chạc, không  hợp với một vị giám đốc còn trẻ. Kim cười chào rồi đưa tay bắt, ngồi phịch xuống ghế nệm đối diện. Kim nói:

–         Tuần rồi xuống anh, về bà xã ghen cứ vặn hỏi tại sao ông xuống đó hoài, chắc là thăm con nào. Chán thật! À, mà anh và cô bé ăn uống gì chưa?

–         Xong rồi! Anh nói. Cháu nó lên đây để nhờ Kim xin cho cái học bổng mà Kim đã hứa. Gần đi học rồi nên mẹ cháu cũng hơi lo, vì gia đình cháu quá khó khăn.

Giọng Kim có vẻ lưỡng lự:

–         Em hiểu. Nhưng ông chủ người Hàn Quốc lại đi công tác xa, tối mới về. Đêm nay, anh và cô bé có thể ở lại công ty được không? Khi nào xếp về, em sẽ chở cô bé đến đó giới thiệu:

Cô gái linh cảm có một điều gì đó không ổn nên nói với anh:

–         Buổi chiếu chú còn phải đi khám bệnh, sợ về không kịp. Để mai gặp có được không?

Anh nói với Kim:

–         Để xem! Nếu được, sau khi khám bệnh xong, tối nay, anh và cháu sẽ về ngủ ở công ty. Thôi, chào Kim nhé! Đã đến giờ, anh phải đi.

Khi trở lại viện X., cô gái nói:

–         Đêm nay chú và cháu chắc phải thuê phòng trọ.

Bà chủ phòng trọ có dáng người ốm yếu nhưng nụ cười luôn nở trên môi, dẫn anh và cô gái lên tận lầu hai, mở cửa, chỉ vào một căn phòng nói:

–         Bữa nay khách nhiều nên chỉ còn phòng này, rộng rãi, sạch sẽ. Hai bố con cứ ở thoải mái.

Anh nhìn cô gái dò hỏi bằng ánh mắt. Cô gái gật đầu. Anh lấy giấy tờ và tiền phòng đưa cho bà chủ phòng trọ, nhận lại ổ khóa và chìa.

Khi người đàn bà ốm yếu đi khuất xuống dưới, anh nói với cô gái:

–         Nếu cháu ngại, chú có thể ngủ dưới nền còn cháu cứ ngủ ở trên giường.

Cô gái nhìn anh, cười:

–         Sao lại thế? Chú đang bị bệnh mà! Cứ nằm vuông góc là ổn.

–         Nằm vuông góc?

–         Chú nằm bình thường, cháu nằm ở dưới chân, tạo thành một góc vuông chín mươi độ.

Anh hơi ngạc nhiên nhìn gương mặt ửng đỏ của cô gái. Nhưng có lẽ, do thời tiết buổi chiều khá nóng.

–         Cháu mang đồ vào rồi đi tắm và ngủ đi! Chú còn phải đi siêu âm. Ra vào nhớ khóa cửa cẩn thận.

–         Dạ, cháu biết rồi. Chú đi nhé!

Anh trở lại viện X., thấy đám người ngồi chờ trước các cửa phòng đã thưa thớt. Theo hướng dẫn, anh đi đo điện tâm đồ, siêu âm tim rồi đến phòng khám bệnh số 3.

Trong phòng, có hai vị bác sĩ đang khám cho bệnh nhân. Đến lượt anh, vị bác sĩ có dáng người nhỏ thó, gương mặt choắt mang kính gọng bạc, giở hồ sơ bệnh án xem lướt qua rồi hỏi anh:

–         Ông có biết ông bị bệnh gì không?

–         Có. Suy tim.

–         Sao ông biết?

–         Có đi cấp cứu ở bệnh viện địa phương nhiều lần.

–         Giấy xuất viện và toa thuốc đâu?

Anh móc giấy tờ từ túi quần đưa cho vị bác sĩ. Ông ta cầm lấy, xem lướt qua rồi thẩm vấn tiếp:

–         Từ sáng tới giờ, ông có uống thuốc của bệnh viện địa phương không?

–         Vì đi đường xa nên tôi có uống:

–         Tôi hỏi, ông chỉ cần trả lời “có” hoặc “không” thôi, đừng nói ngoài lề!

–         …!

–         Ông làm nghề gì?

–         Làm thinh!

–         Ông trả lời cho nghiêm túc, tôi không đùa.

–         Viết văn.

Vị bác sĩ giương đôi mắt kính gọng bạc nhìn anh. Ông ghi vào đơn thuốc: Lasix 1 viên, rồi nói:

–         Ông cầm tấm phiếu này, sáng mai đến xét nghiệm máu.

Rời khỏi phòng khám số 3, anh đến quầy mua thuốc. Cô bán thuốc nhìn vào đơn thuốc, nói:

–         Một viên thuốc lợi tiểu giá hai trăm đồng, cho anh luôn!

Từ sáng đến giờ, anh đóng các khoản khá bộn tiền, nhưng đây là lần đầu tiên mua thuốc khỏi tốn tiền, nên cười chào cô bán thuốc:

–         Cảm ơn cô!

Và anh nhặt viên thuốc tung hê vào khoảng không gian u ám. Anh đi về phòng trọ với ý nghĩa đêm nay bầu trời thành phố sẽ mưa.

Căn phòng trọ có một khoảng cửa sổ mở rộng trông xuống mái nhà thấp và một góc phố đang tỏa sáng ánh điện. Bên ngoài là một cái ban công nhỏ để khách trọ ra đứng hóng mát hoặc trò chuyện. Bên kia đường, một dãy hàng rong bán đủ loại thức ăn dành cho những người ăn đêm.

Cô gái có thêm người bạn mới là một cô gái trẻ học dưới cô hai lớp, người cùng quê với anh. Cô gái trẻ bị hở van tim, nhờ người nhà dẫn đi tái khám. Cô xin phép anh rồi cùng cô gái trẻ dẫn đi chơi đâu đó. Hình như cô gái muốn rút ngắn bớt khoảng thời gian ở chung phòng với anh.

Anh đóng kín cửa, nằm trong phòng hút thuốc. Bệnh tim, bác sĩ cấm hút thuốc nhưng anh không bỏ được. Có lẽ vì vậy nên căn bệnh cứ kéo dài dai dẳng cùng với nỗi buồn của anh. Anh là một người viết văn nhưng đã hai năm rồi anh không viết được một điều gì cho ra hồn. Anh biết, anh không viết được không phải vì bệnh tật mà vì thiếu một tình yêu.

Khi cô gái trở về, ngôi nhà trọ chuẩn bị đóng cửa. Anh xem đồng hồ, đã gần chín rưỡi đêm. Cô gõ khe khẽ vào cánh cửa phòng, chờ đợi. Anh mở cửa, bắt gặp nụ cười tươi tắn.

–         Chú chờ cháu có lâu không? Nhỏ bạn cứ rủ đi vòng vòng ngoài phố, cho biết, thành phố ban đêm mà đông người quá! Còn trên quê mình giờ này không thấy ai ngoài đường. Chú chưa ngủ à?

–         Chưa. Chờ cháu về.

–         Chi vậy? Cháu còn trẻ, dễ lấy lại sức. Còn chú, sau một ngày vất vả, chú cần ngủ sớm. Thôi, cháu đi tắm đây. Trời nóng quá, chắc sắp mưa.

Mưa trút lộp độp trên mái tôn thấp, hắt vào phòng cái không khí oi bức của một ngày nắng gắt. Anh ra ngoài tìm nút công tắc số 13 bật chiếc quạt trần trong phòng. Những căn phòng trọ im ắng, mọi người dường như đã ngủ, chỉ còn nghe tiếng mưa rơi như trút nước.

Khi cả hai đã nằm trên chiếc giường rộng theo tư thế góc vuông, anh vẫn cảm thấy có điều gì đó không ổn trong mối liên hệ của anh và cô gái.

Một cô học trò ở nông thôn, nhà gặp hoàn cảnh bất hạnh nhưng cô vẫn cố gắng đi học, theo anh lên thành phố với hy vọng mong manh sẽ nhận được một học bổng từ thiện của một người quen anh. Một người đàn ông đứng tuổi, có gia đình nhưng không có con cái và tình yêu, lên thành phố chữa bệnh. Họ gặp nhau và ở chung trong một căn phòng trọ dành cho những người đau tim. Điều gì đã làm họ đến với nhau? Điều gì đã làm cô gái tin vào một người đàn ông như anh?

Cô gái có dáng ngủ thật đẹp. Mái tóc dài xõa quanh gối, gương mặt trái xoan trắng trẻo, bộ ngực nhô cao phập phồng, cặp đùi dài trong làn vải jean săn chắc. Nhìn cô gái ngủ, anh có cảm giác như mình vừa nhìn một người đàn bà hơn là một đứa trẻ. Anh cảm thấy xấu hổ vì mình đã nhìn trộm cô gái.

–         Chú không ngủ à? Cô gái chợt mở to đôi mắt quay về phía anh, hỏi.

–         Đêm nay có lẽ chú không ngủ được.

–         Sao vậy?

–         Chú không quen với thế nằm co chân.

–         Chú cứ nằm thoải mái, có sao đâu!

–         Sợ đụng chân cháu mất ngủ.

–         Thôi, để cháu quay lên cho.

Cô gái nhỏm dậy, mang gối đặt lên phía trên, nằm sát vào trong vách ván.

–         Chú có thích nghe kể chuyện mối tình đầu của cháu không?

–         Chắc là đẹp và buồn.

–         Sao chú biết?

–         Những mối tình đầu thường là như vậy!

Cô gái nói huyên thuyên về một người đàn ông nào đó, quen cả chị và cô, rồi anh ta bỏ đi lấy vợ.

–         Lúc ấy cháu bao nhiêu tuổi?

–         Mười sáu.

–         Buồn nhỉ!

Im lặng một lúc, anh tưởng cô gái đã ngủ nhưng cô bỗng hỏi:

–         Có phải những người đàn ông đều có tính phản bội?

–         Không hẳn là như vậy. Chú biết, có nhiều người rất chung thủy trong tình yêu. Trường hợp của cháu, người ấy không yêu cháu. Anh ta chỉ thích nét đẹp lúc mới lớn của cháu. Hình như đây là cái thời không có tình yêu.

–         Chú nói đúng. Đây là cái thời không có tình yêu!

Cô gái thở dài thườn thượt rồi quay mặt vào vách ván ngủ. Anh cũng nằm xoay ra hướng cửa sổ, nhắm mắt cố giỗ giấc ngủ. Giữa hai người là một khoảng trống mênh mông.

Vị bác sĩ ở phòng khám bệnh số 5 hỏi:

–         Trường hợp nào ông hay bị mệt? Ví dụ, đi lên lầu mấy thì ông bị mệt?

–         Lầu ba, lầu tư…

–         Ông biết rõ bệnh của ông chưa?

–         Chưa.

–         Trái tim ông co bóp yếu lắm! Tôi cho ông uống thử thuốc theo đơn rồi tuần sau lên tái khám.

–         Dạ. Cảm ơn bác sĩ!

Khi anh mua thuốc xong, mang về phòng trọ thì trời đã sâm sẩm tối. Cửa phòng mở, cô gái đang nằm trên giường đọc báo. Thấy anh về, cô hỏi:

–         Đã xong chưa chú?

–         Xong rồi! Nhưng tối nay mình phải ở lại đây một đêm nữa. Về ngủ chỗ công ty của Kim, chú hơi ngại cho cháu. Cháu thấy sao?

–         Cũng được. Và cô gái nói đùa – Dân chơi đâu sợ mưa rơi!

Anh cười, cảm thấy trái tim đập mạnh.

–         Để chú uống thuốc xong, mình đi ăn tối. Sáng mai, chú và cháu sẽ quay lại chỗ Kim rồi về.

–         Lại một đêm xa nhà. Buồn quá, má ơi!

Đêm thứ hai ở lại phòng trọ, có lẽ cái khoảng các giữa hai người được thu ngắn lại. Cô gái đã không còn giữ ý với anh. Cô mặc áo thun, quần sọoc, để lộ cặp đùi trắng nõn và săn chắc. Còn anh, không muốn làm phiền những người ở trọ với cuộc trò chuyện trong đêm nên mua một quyển vở và hai cây bút để cùng cô gái “bút đàm”.

Sau đây là những lời trích từ cuộc bút đàm trong quyển vở:

“Chú có khỏe không? Chú nghĩ về cháu thế nào? Nói thật lòng nhé!”

“Một cô gái đẹp, dễ thương, siêng năng nhưng chưa hiểu chính mình”

“Cháu còn trẻ, làm sao để hiểu chính mình?”

“Phải biết mình là ai, đang ở đâu, muốn gì và sẽ đi về đâu? Còn cháu, nghĩ thế nào về chú?”

“Một nhà văn hơn là một người đàn ông”

“Đây là một lời khen hay chê?”

“Không biết! Chú đang yêu ai!”

“Không biết! Đoán thử xem!”

“A phải không?”

“Không!”

“B phải không?”

“Không!”. “Như vậy là cô C rồi!”

“Cũng không”.

“Chú có yêu cháu không?”

“…”

Cô gái đặt bút vào quyển vở, nhìn người đàn ông, nói nhỏ:

–         Cháu đoán biết điều này từ lúc đi theo chú. Cháu hỏi để xác định lại điều cháu cảm nhận thôi. Nhưng, để làm gì, chú nhỉ! Khoảng cách giữa hai thế hệ khá xa. Nếu không có sự chênh lệch này, cháu sẽ nhận lời…

Căn phòng trọ bỗng như một phòng giam ngột ngạt. Anh cảm thấy khó thở trước ánh mắt của cô gái. Anh đốt thuốc, hít một hơi dài, rồi nói:

–         Cho chú xin lỗi! Chú xin rút lại tình yêu đối với cháu, như người ta rút lại lá đơn khi xin việc. Có điều, nếu cháu không hỏi, chú cũng không bao giờ tiết lộ bí mật này. Cháu đồng ý không?

–         Không!

–         Sao thế!

–         Tình yêu đâu có phải là một công việc hoặc những gì trao đổi lẫn nhau, theo kiểu bánh đúc trao đi, bánh quy trao lại. Chú đâu biết là cháu cũng rất thương chú. Khi chú ngủ, cháu rất muốn nắm bàn tay của chú, nhưng cứ rụt rè không dám. Khi chú toát mồ hôi vật vã vì cơn bệnh, cháu cũng thấy lòng mình quặn đau. Khi chú rời phòng trọ đi khám bệnh, cháu vẫn cảm thấy nhớ chú. Chú luôn quan tâm và tử tế đối với cháu. Nhưng, tình cảm dành cho chú có phải là tình yêu không thì cháu chưa biết.

Căn phòng trọ bỗng trở nên rộng thênh thang. Anh xúc động khi nghe những lời cô gái nói. Anh bỗng hỏi cô gái:

–         Cho chú hôn, được không?

Cô gái lắc đầu. Anh nói:

–         Chú hỏi để biết những lời cháu nói vừa rồi có thậy hay không thôi.

Cô gái im lặng một lúc, nhìn anh rồi gật đầu.

Trái tim đập dữ dội nhưng anh không thấy mệt. Anh cuối xuống hôn lên đôi môi tươi mọng của cô gái với nụ hôn mằn mặn nước mắt.

Suốt cả quãng đời còn lại, anh không hiểu vì sao lúc ấy, cô gái đã khóc.

24/9/2005

Read Full Post »

Áo xưa dù nhầu

Đầu thập niên 70, dân Sàigòn xôn xao với bộ phim “Doctor Zhivago”. Tôi đã đọc truyện và xem phim. Hồi đó tôi không hiểu vì sao ông bác sĩ này lại yêu  một lúc đến hai bà, mà yêu thiệt tình chứ không phải chơi. Nói theo ngôn ngữ thời đại, đó là “tình yêu chất lượng cao”. Có cao, thì có cái ít cao hơn.  Ai cao, ai ít cao hơn?  Hai chữ “thủy chung” coi bộ dễ hiểu mà sao rắc rối quá chừng!

 Vũ Thế Thành

Báo Dân Việt cuối năm 2010 kể lại câu chuyện của ông Bàn Văn Bảng, ở Bản Thảo, xã Ma Le, Hà Giang. Sống với nhau 45 năm, vợ chồng ông chưa hề to tiếng dù họ không con cái. Bà mắc bệnh nan y. Những ngày cuối đời, tinh thần bấn loạn, bà nhớ đến mối tình tình đầu, mê sảng gọi tên người tình cũ. Ông Bảng nhắn tin trên báo đài, bắt xe về Nam Định tìm người tình cũ cho vợ. Không kết quả.  Bà mất, ông ray rứt  vì chưa giúp vợ  toại nguyện mong ước sau cùng.

Hồi trẻ, tôi thấy tình yêu đâu có gì khó hiểu, mà sao thiên hạ cứ than thở : “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu?”, hay như Lý Mặc Thu trong “Thần Điêu Đại Hiệp” suốt ngày ngâm nga “…Hỏi người dưới thế tình là vật chi? /Hẹn nhau sinh tử cùng đi…”. Tình yêu là gì? Dễ ẹc! Tình yêu là..chịu lấy nhau, mà chịu lấy nhau chưa chắc đã là tình yêu. Triết lý phết! nhưng đó là thứ triết lý của thằng nhãi, điếc không sợ súng. Theo thời gian, mỗi giai đoạn của cuộc đời, tôi hiểu tình yêu khác đi một chút, rộng lượng hơn một chút. Bước vào tuổi “tri thiên mệnh” thì chẳng còn hiểu nổi tình yêu là cái thứ gì nữa. Thôi, để lại hai chữ đó cho thế nhân bàn luận.

Một trường hợp khác, đôi trẻ yêu nhau hồi còn…trung học, tưởng như trời gầm không nhả.  Vậy mà xa nhau vì chuyện hờn giận lảng nhách nào đó. Sau 75, hai đứa hai nơi, chàng ở Canada, nàng bên Úc… Mỗi khi gặp chuyện gia đình riêng tư muộn phiền, cả hai lại hồi tưởng “ngày xưa tươi đẹp” mà hối tiếc. Ba mươi bốn năm sau, họ gặp lại nhau tại Sài gòn. Thôi thì những gì ấm ức, chuyện lớn chuyện nhỏ, chuyện xưa chuyện mới xả ra hết… Ba mươi bốn ngày mưa ngâu, lô cốt ngập nước.  Họ chia tay nhau, email, chát chít, hàng ngày, hàng ngày,… rồi thưa dần. Cả hai nhận ra rằng, cái “bất hạnh” riêng tư của mỗi người, tuy cay đắng nhưng chưa đến nỗi…phũ phàng. Nếu họ xáp lại, có khi phũ phàng, dù không cay đắng. Họ đã thanh toán xong cái quá khứ đầy hối tiếc.

Nói thiệt, tôi mê nhạc…sến, mà cũng chỉ mới “ngộ” ra đây thôi. Nghe nó…sến, nhưng lại thấy gần, bay xa chịu không nổi. Những dòng nhạc trữ tình với ca từ đầy tính ẩn dụ, giàu hình tượng, triết lý cao, chỉ cần một hai câu cũng tạo ra sự đồng cảm với  tâm trạng “khó nói nên lời” nơi  người nghe. Sướng là ở chỗ đó! Nhưng nhiều khi ca từ điệu nhạc hay quá lại đẩy người ta bay bổng vào thế giới mộng mị, và không chừng lại hoang tưởng với “chữ nghĩa” cũng nên.

Nhiều người lấy nhau do cha mẹ đặt đâu ngồi đó, do mai mối, có khi coi mắt một lần, chịu đèn là tới…luôn. Vậy mà họ đẻ con lia lịa. Có bà, áo chưa nhầu, tóc chưa bạc, chồng đã qua đời. Họ ở vậy nuôi con. Thằng con đang tuổi lớn, quậy phá. Bà vợ thắp nhang, ngồi bệt trước bàn thờ chồng than thở, trách móc, rồi lại khóc, rồi lại thấy không có chồng bên cạnh là sự mất mát hơn bao giờ hết.  Đâu cần phải “gọi mùa thu tới”, hay nhờ tới  “sỏi đá”.  Tình yêu lẩn đi chỗ nào rồi?

Tình và Nghĩa liệu có gì khác nhau? Nói theo “Ngũ Thường” (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín), Mạnh Tử cho rằng, “Nhân là trái tim, Nghĩa là cách sống”. Nghĩa trong Nho giáo, hiểu rộng là cách hành xử trong mối quan hệ giữa người và người, trong đó có nghĩa phu thê. Cái Nghĩa ràng buộc và thấm sâu đến độ nhiều khi người ta hờ hững với những cái gọi là lãng mạn ái tình. Mức ly lị ở Tây cao chắc một phần là do Tình nhiều Nghĩa ít, hay họ đã sống đời thực dụng một cách văn minh?

Bà Bảng đã sống hầu như trọn nghĩa với chồng. Nếu thời gian có lùi lại vài chục năm, chưa chắc bà đã dám đổi Nghĩa lấy Tình. Cái sâu thẳm của niềm tin qua trải nghiệm bền vững hơn nhiều so với khoảng khắc “đột biến”.  Phải có gì ray rứt lắm bà mới đem theo một góc trái tim về bên kia thế giới. Bà mặc hai áo: một áo phẳng phiu, một áo đã nhầu. Tôi không biết  bà mặc áo nào vào trong, áo nào ra ngoài, nhưng dù thế nào, tôi vẫn tôn trọng và thương cảm cho bà.

Nếu xem bằng cấp (tính luôn bằng giả thứ thiệt và bằng thiệt học giả) là thước đo trí tuệ, thì ông Bảng có cái trí quá nhỏ. Nói theo Kant, “bổn phận là mệnh lệnh của lý trí”, thì ông Bảng lại thực hành bổn phận theo mệnh lệnh của trái tim. Một trái tim đơn sơ quá! Một tâm tình hiến dâng mà ông không hề biết (mà cũng chẳng cần biết) mình đã dâng hiến. Trái tim của ông là bản nhạc không cần ca từ.

Thưa ông Bàn Văn Bảng, tôi ngả mũ kính phục ông.

Vũ Thế Thành

Read Full Post »

đinh tấn khương

1.    CHUYỆN TÌNH TRÊN MẠNG

 

Cũng như vài gia đình khác, gia đình anh được đưa đến định cư tại Thụy Điển sau khi được tàu nước nầy cứu vớt, trong lúc chiếc thuyền con vượt biên đang chết máy và lênh đênh trên biển cả nhiều ngày.

Những ngày mới đến, vợ chồng và 2 đứa con sống rất hạnh phúc, nhờ nhận được những giúp đỡ ban đầu của chính quyền và người dân bản xứ. Dần dà thì cuộc sống cũng tạm đi vào ổn định.

Thời gian trôi nhanh, hai đứa con cũng đã trưởng thành và có gia đình riêng tư. Nhưng công việc sinh nhai thì cũng chỉ tàm tạm chứ không mấy khá giả cho lắm, nên chẳng giúp gì cho anh chị.

Anh có đi làm một thời gian nhưng sức khỏe đã hạn chế công việc, cho nên lúc sau nầy anh đành phải nằm nhà. Có lẽ sự eo hẹp về tài chánh là nguyên nhân thầm kín đã dẫn đến sự đổ vỡ của vợ chồng anh, trong độ tuổi ngũ tuần!?
Tiền bạc không nhiều nhưng lại nằm trong tầm kiểm soát của người vợ. Nhất cử nhất động anh đều phải báo cáo mọi chi phí tài chánh. Cuộc sống của anh bị lệ thuộc hoàn toàn vào người vợ của mình. Anh buồn lắm, cho dù nhiều lần chị đã cố giải thích cho anh hiểu:

–         Cần phải biết tém khéo mới lo được cho đời sống. Vợ giữ tiền là giữ cho gia đình, chồng mà nắm tiền thì có ngày lại cho người ngoài ăn đấy.

Nghe vậy, nhưng anh không hiểu là chị muốn nói cái gì? Cho người ngoài là ai, đôi lúc anh cũng muốn gởi chút quà tết về cho mấy đứa cháu rất nghèo, còn bỏ lại bên VN mà anh không dám hỏi vợ.

Nói phải tội, có nhiều khi anh nghi rằng, vợ mình đã lén gởi tiền giúp cho bà con bên ngoại của các con anh. Nhưng không có bằng chứng gì cho nên anh chỉ biết ôm lấy một nỗi buồn!

Sự đổ vở kiểu nửa vời. Hai người vẫn sống chung trong một căn hộ để bớt tiền thuê nhà, cũng như giảm bớt tiền điện.. những thứ mà họ có thể dùng chung và chia sẻ với nhau. Ngoài mấy thứ ấy ra, thì cả hai, mạnh ai nấy giữ những gì mà mình đang có, chẳng chịu chia sẻ hay là cho người kia được dùng, mặc dù thật sự có cần đến.

Thời gian cũng trở nên thừa thãi với anh. Anh bèn  dành hết thì giờ lướt mạng, để tìm người tán gẫu cho vơi đi thời gian và nỗi buồn. Thế rồi một hôm anh gặp được người “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, một người phụ nữ đang sống cách anh nửa vòng trái đất. Chị nầy đã ly dị chồng cách đó không lâu, sau khi biết được chồng mình ôm tiền về VN làm ăn và “rước cầm mới lên thuyền cũ”.

Hai người nói rõ hoàn cảnh gia đình cho nhau nghe.. có lẽ tìm được sự cảm thông, cho nên tình cảm đã dần lớn thêm nhiều hơn, giữa hai người.

Chị hẹn gặp anh tại quê nhà. Anh thú thật là không đủ tiền mua vé máy bay. Chị mua vé trên mạng và gởi mã số code cho anh. Căn dặn là đến ngày giờ G.. cứ ra phi trường Z, tới quầy check- in của hãng hàng không XY,  nói số code là mọi thủ tục lên máy bay sẽ được tiến hành.

Anh sắp xếp hành lý, nhưng trong túi lại trống trơn khiến anh lo lắng. Anh gọi người chị gái đang định cư tại Úc mượn đỡ vài ngàn dằn túi. Tình trạng tài chánh bị cô lập của đứa em đã được báo cáo từ lâu nên người chị cũng cảm thông đứa em trai của mình.

Chị gởi hai ngàn dollars, chuyển thẳng về người bạn tại Sài Gòn và nhắn anh về đến đó mà lấy.

Mang cái túi hành lý nhỏ, nói với vợ con là anh cần về thăm nhà vì có việc gấp.
Chị và các con cũng đã quen cái cảnh “có anh cũng như không” trong cái căn nhà nầy từ lâu cho nên cũng chẳng có ý kiến đồng tình hay ngăn cản gì cả.
Không nghe ai hỏi:

–         Bên nhà  có chuyện gì gấp, có ai ốm, ai đau hay là có ai hấp hối mà lại phải về gấp như vậy!?
–          Có cần một ít tiền đi đường hay không!?

Thái độ dửng dưng, lạnh nhạt của vợ con đã làm nhẹ đi cảm giác tội lỗi. Vì anh đã nghĩ rằng, chừng tuổi nầy mà lại bỏ bê gia đình để đi tìm một người tình trên thế giới ảo, trên mạng. Cảm giác ấy đã ray rức anh rất nhiều, trước đó không lâu!

Về đến VN, hai người găp nhau. Mối tình trong thế giới thật đã tiến rất nhanh, nhanh hơn cả cái mối tình khi còn ở trong cái thế giới ảo suốt mấy tháng vừa qua. Có lẽ, những nỗi buồn của từng người đã kéo họ lại gần nhau hơn.
Anh theo chị về Mỹ, phụ chị trong một cái thương vụ nhỏ. Nhờ thế cũng tạm đủ sống và anh cảm thấy thật vui vì không bị lệ thuộc cũng như không còn bị “phong tỏa tài chánh” như trước kia nữa.

Nhờ có tiền, hai năm sau anh quyết định quay về thăm lại người thân, nhìn lại xứ nẫu, nơi mà anh được sinh ra và lớn lên với nhiều kỷ niệm gắn bó trong khu nhà nghèo, nhưng rất thân thiện.

Niềm vui nào cũng qua mau. Hết thời hạn thăm quê anh tính quay về Thụy Điển, hoàn tất giấy tờ ly dị và sẽ bay qua Mỹ để sống trọn khoảng đời còn lại với người yêu.

Bất hạnh thay, anh bị tai biến mạch máu não, gục ngã trong phòng tắm. Rất lâu sau đó, mấy đứa con mới phát giác và đưa anh vào bệnh viện. Nhưng đã trễ!?

Anh chỉ còn sống thực vật và bác sĩ cần gia đình cho quyết định để rút ống dưỡng khí.
Mặc dù người chị của anh tại Úc cũng như người tình bên Mỹ, đã xin cho anh được sống thêm một thời gian nhằm hoàn tất thủ tục mang “tro” của anh về Mỹ, với người tình mới.

Nhưng bà vợ cũ và các con đã đưa ra quyết định thật sớm, không chần chờ mặc dù đã có lời yêu cầu khẩn thiết từ người nhà và người tình của anh!

Cuối cùng, thân xác anh đã vĩnh viễn nằm lại cái vùng đất mà anh đã từng chạy trốn.
Chẳng có ai biết, bây giờ linh hồn anh đang ở chốn nào!??

 

2.     SỐNG ĐỂ TRẢ NGHIỆP!?

Gia đình anh chị định cư tại Úc cũng khá lâu. Nhờ vào tính chuyên cần và chịu khổ chịu khó cho nên công việc kinh doanh của anh chị cũng khá thành công. Các cháu thì học hành lại giỏi và tạo được những thành quả tốt đẹp.
Nhờ thế mà hầu hết mọi người biết đến, đều truyền tụng rằng, gia đình của anh chị quả là một gia đình kiểu mẫu trong số những gia đình người Việt tỵ nạn, tại đây.
Anh chị rất vui vì những lời khen ngợi không ngớt ấy.
Chị mừng, vì có được một người chồng năng nổ, hoạt bát và biết lo cho con cái, biết yêu thương vợ mình.
Ngoài công việc ra, anh không bao giờ la cà với bạn bè, không thuốc lá, không rượu bia… Tiền bạc làm ra thì anh cũng không cần để ý đến, kiếm được bao nhiêu là đưa cho vợ cất. Anh thường nói đùa với vợ:

–         Giữ tiền làm chi cho thêm phiền, tiêu mà quên báo cáo thì lại khổ thân tôi!?

Dưới cặp mắt của chị, anh quả thật là một người đàn ông đáng tin và rất có uy tín. Nhiều lần chị đã đề nghị với anh là, cùng về thăm lại quê hương sau nhiều năm xa cách. Anh thường gạt ngang:

–         Em cần thăm nhà thì cứ đi một mình cũng được. Anh có đi thì cũng chẳng ích gì mà lại còn bỏ bê công ăn việc làm nữa. Chỉ sợ em buồn khi thiếu anh vậy thôi, nếu thế thì anh đành xin lỗi, em nhé!

Lần nào cũng vậy, anh luôn từ chối cái cơ hội mà rất nhiều người trong độ tuổi như anh, mãi ước ao có được! Chính vì thế mà chị rất yên tâm!?
Một vài người bạn đã kể cho chị nghe những mẫu chuyện đổ vỡ gia đình trong độ tuổi ngũ tuần, xảy ra nhan nhản lúc gần đây. Nhất là mấy ông cứ nại cớ là về thăm bố mẹ bệnh nặng, làm mộ cho song thân.., nhưng thật tình là đang bị dính bùa bên ấy!

Những lúc gần đây, các con đã ra riêng. Công việc làm ăn cũng khá ổn định. Chị cũng muốn nghỉ ngơi chút ít, bởi sức khỏe của chị không còn được như xưa. Chứng đau lưng kinh niên cứ hành hạ như tra tấn chị hằng đêm, nhất là vào những ngày của mùa đông.
Về Việt Nam để tránh cái lạnh ở Úc, đã giúp giảm nhẹ cái đau của chứng thần kinh tọa. Chứng bịnh mà bác sĩ đã nói với chị rằng, không có cách nào chữa dứt.
Vả lại, cuộc sống tại Việt Nam đã cho chị chút ít niềm vui. Vui với người thân, với bạn bè xưa cũ.. Tất cả, đã khiến chị dành nhiều thì giờ bên đó hơn là tại Úc.

Không có gì để chị phải lo vì chồng chị cũng chẳng than phiền. Chị thầm cám tạ ơn trên đã cho chị một người chồng tốt, với một gia đình rất hạnh phúc.

Nhưng chị đâu có ngờ…

Khoảng thời gian chị về thăm Việt Nam. Một lần anh ghé lại tiệm bán thức ăn nhanh, gặp một cô gái đang đứng xếp hàng trước mình, chờ đến lượt order. Cái hàng dài chờ đợi ấy đã giúp cho họ có dịp để trao đổi, chỉ là những lời hỏi thăm có tính xã giao.
Rồi họ cùng ngồi vào bàn ăn và lắm chuyện được mang ra bàn tán, về đời sống tại Việt Nam bây giờ và những khó khăn gặp phải tại xứ người, coi bộ hai người “tâm đầu ý hợp”lắm.
Qua mấy câu chuyện ấy, anh biết được rằng cô là một du học sinh đến từ Việt Nam, không có thân nhân và đang gặp nhiều khó khăn về tài chánh.

Họ trao cho nhau số điện thoại và hẹn cơ hội được gặp lại.
Thời gian và hoàn cảnh cô đơn đã giúp cho cả hai xích lại gần nhau thật nhanh chóng, như để làm giảm bớt cái lạnh trong lòng cũng như xua tan khí lạnh ngoài trời, trong những ngày của mùa đông xứ Úc.

Không hề nghi ngờ gì về sự thay đổi của chồng mình, cho đến khi chị phát giác ra được, người chồng  mà chị luôn tin tưởng đã mượn một số tiền khá lớn từ ngân hàng, qua việc thế chấp một trong những bất động sản mà anh đang đứng tên làm chủ.

Kể từ đó, chiến tranh đã bùng nổ, ngay trong căn nhà mà trước kia luôn tĩnh lặng. Anh đòi ly dị, chia tài sản nhưng chị và các con chưa dứt khoát.

Cuộc sống gia đình đã trải qua một khúc quanh đầy nỗi khổ niềm đau. Chị và các con đã khóc thật nhiều nhưng anh đã quyết định cho mình một ngã rẽ..

Anh theo về Việt Nam với người yêu mới. Bỏ một số tiền lớn, xây tổ ấm uyên ương cho cả hai và anh đã hứa là sẽ hoàn tất thủ tục ly hôn để cùng nhau vui hưởng hạnh phúc, trong khoảng đời còn lại.

Anh quay về Úc để hoàn tất ý nguyện đó. Vài hôm sau, nhận được điện thoại của người bạn cũ, người mà anh vừa gặp lại trong lần về mới đây. Người bạn tri kỷ đã được anh mời đến dự buổi tiệc khánh thành cái tổ ấm, cũng như ra mắt người vợ trẻ của mình.

Người bạn gọi anh về lại Việt Nam gấp, vì có vài chuyện cần bàn. Gặn hỏi mãi thì được cho biết, người vợ mới của anh vừa đưa một người đàn ông khác về sống ngay trong cái căn nhà của anh, mới bỏ tiền ra xây.

Bán tín bán nghi, anh mua vé ngay và hôm sau bay thẳng về Sài Gòn. Anh tính tìm gặp thằng bạn nhưng quá nóng lòng, nên thôi. Đi thẳng về tổ ấm, mở cửa vào nhà (vì anh cũng giữ chìa khóa riêng, có lẽ cô người tình đã không nghĩ là anh sẽ trở lại sớm, nên lơ đãng?).

Nghe tiếng cười khúc khích trong phòng ngủ, anh đẩy mạnh cánh cửa khép hờ và nhìn thấy một cảnh tượng, khiến máu trong người anh như sôi sục.
Anh hét toáng lên, đập phá mấy thứ đang ở trong tầm tay mình. Như chưa hả giận, anh vớ lấy cái bình bông gần đó tiến nhanh lại người thanh niên xa lạ, đang cố mặc lại quần áo.

Xung đột bắt đầu, hai người trao nhau những cú đấm. Nhưng chắc chắn là, sức anh không hơn được cái sức đang trong độ tuổi thanh niên kia. Anh bị dồn ra khỏi cánh cửa, lối ra hành lang. Rồi bất ngờ, anh hứng trọn cái xô đẩy rất mạnh của người thanh niên, khiến anh rơi từ tầng một xuống đất.

Nhằm lúc đó, người bạn của anh đang đi ngang qua (như để theo dõi, giống mọi lần) phát hiện sự việc. Người bạn kêu xe chở anh vào bệnh viện để chẩn đoán và điều trị những tổn thương. Anh được cho biết là chỉ gãy một cánh tay mặt và cần băng bột. Vài vết trầy khác không có gì đáng quan tâm, anh được cho xuất viện cùng ngày.
Hôm sau, theo lời khuyên của người bạn anh đã trở về lại Úc. Anh tính sẽ nhờ luật sư mang sự vụ ra tòa xét xử.

Vài ngày sau, bổng dưng cơn nhức đầu bộc phát đột ngột xảy đến với anh. Vợ anh không có nhà, anh gọi điện thoại nhờ con đưa anh đến gặp bác sĩ vì tay đang bó bột, cho nên anh không tự lái xe được như mọi khi.
Mấy đứa con cho biết là đang bận, hẹn chiều sẽ về. Nhắc ba nó lấy đỡ hai viên panadol mà uống cho vơi bớt cơn đau. Anh đoán có lẽ chúng nó giận mà không thèm về sớm, chứ chẳng phải bận rộn chuyện chi!?

Anh đi dần vào hôn mê.

Chiều đến, đứa con gái trở về thấy bố mình nằm yên, sóng sượt trên nền nhà. Vội vàng gọi xe cứu thương và được chở thẳng vào một bệnh viện gần nhất. Được chẩn đoán, anh bị chấn thương sọ não, máu tụ nhiều và đã để quá trễ cho nên phần não chết không thể phục hồi.

Anh đã được cứu sống, nhưng chỉ là “sống thực vật” mà thôi!.
Bác sĩ xin ý của vợ anh (vì vẫn còn là vợ chính thức) cùng các con, để quyết định rút ống thở, cho anh được ra đi trong bình yên.
Nhưng bà vợ đã quyết định, hãy cho anh phải sống:

–         Sống để trả nghiệp và làm gương cho người đời!?

Mấy đứa con cũng không dám đưa ra quyết định nào khác. Có lẽ chúng nghĩ, mẹ mình có lý!?

Ngày cuối đông 2011

đinh tấn khương

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »