Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Nghiên cứu và phê bình văn học’ Category

Có một lần ở tại nhà trọ của Lư ở phố Hàm Long, tôi cười hỏi Lưu Trọng Lư: -Lư ơi, bài thơ Tiếng thu có phải thật của cậu không? Có Nguyễn Xuân Huy ngồi đấy, Lư ”cười như nắc nẻ”: -Thằng này mơ mộng thật! Mi tưởng bài đó của Thế Lữ à? -Thế Lữ làm gì nổi 1 bài thơ như thế. Nhưng tao có đọc 1 bài thơ của 1 thi sĩ Nhật Bổn, giống hệt bài thơ của mày, và bài thơ Nhật cũng tựa đề là Tiếng thu. Lưu Trọng Lư ngó Xuân Huy: -Huy, mầy thấy thằng Vỹ nó điên không? Huy bảo tôi: -Mầy muốn chép tao đọc cho chép. Đây là 1 bài tanka nổi tiếng: Oku yama ni Monoji fumi wake Naku zhika no Koe kiku toki zo Aki wa kanashiki Tác giả là Sarumaru, thế kỷ VIII. Bài thơ này, Michel Revon có dịch ra Pháp văn trong quyển Anthologie des poètes japonais (Ed-Hachette) Combien triste est l’automne Quand j’entends la voix Du cerf qui brame En foulant et dispersant les feuilles des érables Dans les profondeurs de la Montagne. Karl Petit, trong quyển La poésie japonaise (Ed-Seghers) lại dịch đảo ngược lại, nhưng đúng theo nguyên văn bài thơ Nhật: Aux profondeurs de la Montagne Ecartant et foulant les feuilles d’érables Le cerf brame Et à l’entendre ainsi Ah! Que l’automne m’est lourdement triste! Dịch đúng nghĩa ra Việt văn: Trong núi rừng sâu Ta nghe tiếng xào xạc Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá bàng khô Ôi buồn làm sao! Lưu Trọng Lư cãi liền: -Bài tao còn đoạn trên: Hình ảnh kẻ chinh phu/ Trong lòng người cô phụ. Tôi cười: -Cậu làm bài thơ này hồi năm nào? -Mới đây. -Mới đây, và mấy năm nay trong nước mình làm gì có cuộc chiến tranh, có ”kẻ chinh phu”, có ”người cô phụ”? Tôi cho rằng việc cậu ghép thêm 3-4 câu đó vào bài thơ của Saramaru để thay đổi đôi chút, nhưng cậu lại lấy trọn vẹn bản chính của Saramaru. Lưu Trọng Lư không cãi nữa, nhưng Nguyễn Xuân Huy cười: -Kết luận: Les grands esprits se rencontrent! (từ ”Nguyễn Vỹ-Văn thi sĩ tiền chiến”, NXB Hội Nhà văn in lại, 1994)

muathu3lr0

TRÂN ĐĂNG KHOA: CÓ PHẢI BÀI THƠ TIẾNG THU, LƯU TRỌNG LƯ SAO CÓP CỦA NƯỚC NGOÀI?

Người đầu tiên vu cho Lưu Trọng Lư cái việc làm rất không lấy gì làm đẹp này là ô.Nguyễn Vỹ trong cuốn “Văn thi sĩ tiền chiến”. Cứ như ô.Nguyễn Vỹ thì Tiếng thu chính là bài tanka của thi sĩ Nhật bản nổi tiếng Sarumaru ở thế kỷ VII. Nguyên văn bài tanka thế này: Oku yama ni/ Monoji fumi wake/ Naku shika no/ Koe kiku zo/ Aki wa kanashiki Cũng theo Nguyễn Vỹ, bài thơ này được 2 nhà thơ Pháp dịch sang tiếng Pháp. Bản của Michel Revon in trong cuốn Anthologie des poètes japonais (Ed.Hachette) nguyên văn như sau: Combien triste est l’automne/Quand j’entends la voix/ Du serf qui brame/En foulant et dispersant les feuilles des érables/Dans les profondeurs de la Montagne Mùa thu buồn làm sao/ Khi tôi nghe tiếng/ Của con hươu đực thé lên (rền rĩ, kêu trong mùa giao phối)/ Làm tung tóe và dẫm lên những chiếc lá thích/ Trong những nơi sâu thẳm của núi. Bản dịch thứ 2 là của nhà thơ Karl Petit, in trong cuốn La poésie japonaise (Ed.Seghers) mà theo ô.Nguyễn Vỹ là đã dịch đảo ngược, nhưng lại đúng với nguyên văn bản tiếng Nhật: Aux profondeurs de la Montagne/Ecartant et foulant les feuilles d’érables/Le cerf qui brame/Et à l’entendre ainsi/ Ah! que l’automne m’est lourdement triste! Ở những nơi sâu thẳm của Núi/ Làm tung tóe và dẫm lên những chiếc lá thích/ Con hươu đực thé lên (rền rĩ, kêu trong mùa giao phối)/Và nghe thấy điều đó như thế/ Chao ôi, mùa thu với tôi buồn nặng trĩu. Còn bài Tiếng thu của Lưu Trọng Lư thì nguyên văn như thế này: Em không nghe mùa thu/ Dưới trăng mờ thổn thức/ Em không nghe rạo rực/ Hình ảnh kẻ chinh phu/ Trong lòng người cô phụ/ Em không nghe rừng thu/Lá thu kêu xào xạc/ Con nai vàng ngơ ngác/Đạp trên lá vàng khô. Tất cả là như vậy đấy. Mới hay Tiếng thu của Lưu Trọng Lư và bài tanka Nhật của Sarumaru là 2 tác phẩm hoàn toàn khác nhau. Chúng chẳng có họ hàng gì với nhau cả. Vậy mà suốt nửa thế kỷ nay, người ta cứ a dua nhau, người nọ nói theo người kia, cho rằng Lưu Trọng Lư đã sao chép của nước ngoài. Cái nghi án văn chương rất oan khuất ấy cứ bám riết lấy Lưu Trọng Lư cả cho đến khi ông đã nằm dưới 3 thước đất. Người khảo sát văn bản này, nhà phê bình trẻ Hoàng Xuân Tuyền, dù có giỏi tiếng Nga và biết tiếng Pháp, nhưng để thận trọng hơn, anh đã tìm đến nhà thơ Tế Hanh nhờ thẩm định lại. Tế Hanh rất giỏi tiếng Pháp, ông đã dịch nhiều thơ thế giới qua tiếng Pháp, cũng là người cùng thời với Lưu Trọng Lư. Tế Hanh đã kinh ngạc kêu lên: “Ô lạ nhỉ. Bài thơ này chẳng có liên quan gì đến Tiếng thu. Sao lại đổ vấy cho anh Lư sao cóp?”. Sở dĩ có nghi án ấy là vì Nguyễn Vỹ. Sau khi phê phán Lưu Trọng Lư lấy thơ Nhật bản, Nguyễn Vỹ đã đưa ra bằng cớ là bản dịch của mình, nhưng thực ra Nguyễn Vỹ đâu có dịch, ông lấy luôn bài thơ Tiếng thu tráo vào rồi kêu ầm lên là bắt được kẻ gian, những người nhẹ da, u mê tin theo thì chúng ta chả trách làm gì, nhưng những nhà thơ từng giỏi tiếng Pháp, những nhà phê bình nghiên cứu có tiếng là uyên thâm, cũng tin theo, rồi lẵng nhẵng nói theo, mà cứ nói đi nói lại mãi. Đấy mới thực sự là chuyện lạ ở thời đại bùng nổ thông tin này. (VNQĐ 12/2002)

Goi-mua-thu-ve-117275-1

NGUYỄN NAM TRÂN: TIẾNG THU

Riêng tặng anh Đinh Văn Thạnh, người bạn chưa quen.

Một người thân ở Paris, gần đây có viết Mail hỏi tôi xem bài Tiếng Thu (1939) nổi tiếng của Lưu Trọng Lư (1912-1991) có lấy cảm hứng từ một bài thơ xưa của Nhật không? Anh ấy đã đọc ở tờ báo Kỹ Nguyên Mới ở Mỹ cho biết nhà văn Nguyễn Vỹ có lần hỏi bạn ông là Lưu Trọng Lư về điều đó. Lưu Trọng Lư trả lời không là không nhưng Nguyễn Vỹ vẫn chưa hết mối ngờ và đem theo nó vào tận Sài Gòn . Thực tình nếu trí nhớ chưa phản bội tôi thì chính tôi cũng đã có cơ hội đọc điều nầy trong mục Mình Ơi của báo Phổ Thông do cô Diệu Huyền (một biệt hiệu của Nguyễn Vỹ) phụ trách. Báo Phổ Thông thời đó có vài cựu sinh viên Việt Nam tại Nhật Bản đóng góp khá thường xuyên và được quần chúng, trong số đó có tôi, khá yêu chuộng và lòng mến mộ nước Nhật của tôi cũng bắt nguồn từ đó.Giai thoại Tiếng Thu được kể ra qua cuộc đối thoại giữa Ông Tú và Bà Tú. Ông bà Tú không phải là những nhân vật hư cấu, có chăng là ..cô hàng bán vịt lộn đôi khi xuất hiện trong đó. Bà Tú là nhân vật có thực ngoài đời, em gái ông Vỹ. Ông Trần Tú, chồng bà, gốc ngoài Quảng như ông Vỹ, là một người bạn của cha tôi hồi còn ở Đơn Dương gần Đà Lạt. Một người con của hai ông bà, chị Kim Thoa, là bạn học với tôi năm lớp nhì tiểu học. Theo nội dung của bài báo trên Phổ Thông thì Lưu Trọng Lư có thể đã mượn ý của một bài thơ cổ của người Nhật nhưng qua một bản dịch tiếng Pháp vì ông Lư không biết tiếng Nhật. Tôi bèn suy ra thơ cổ của Nhật Bản thì chỉ có tanka và tập thơ tanka căn bản phải là Kokin Waka-Shuu (Cổ Kim Hòa Ca Tập). Nhân một ngày thứ bảy rỗi việc, tôi mới ra quán sách trong supermarket ở Tôkyô đọc cọp bản của nhà Chuô Kôron và tình cờ có thêm một số ít tin tức về bài tanka liên quan xa gần đến Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư. Trước hết phải nói là những thông tin của Nguyễn Vỹ rất chính xác vì ông có chua âm Nhật của bài thơ bên cạnh bài báo xuất bản ở Mỹ mà người thân của tôi ở Paris đã đọc. Nguyên tác : Okuyama ni (Trong núi sâu) (5) Momiji fumiwake (Đạp lên lá phong đỏ rẽ lối đi) (7) Naku shika no (Của nai kêu) (5) Koe kiku toki zo (Chính là khi nghe tiếng) (7) Aki ga kanashiki (Mùa thu buồn làm sao) (7) Chúng ta đều biết người Nhật thích thể thơ 5 chữ 7 chữ như Việt Nam thích 6,8. Những bài hát Nhật ăn tiền bây giờ cũng theo thể 5,7. Đọc thơ Nhật như bài nầy thì nên đi ngược từ câu cuối thì mới rõ nghĩa. Vâng, bài nầy đã tìm thấy trong phần Thu Ca của tập Kokin Waka Shuu (Cổ Kim Hòa Ca Tập), một tuyển tập thơ quốc âm Tanka (Đoản Ca) của Nhật. Vào đầu thời Hei-an, văn chương chữ Hán chiếm địa vị độc tôn và thơ quốc âm Waka bị đẩy lùi vào bóng tối. Thế nhưng, Waka không vì thế mà mai một hẳn, nó chỉ trở thành một hình thức thơ để tỏ tình cảm riêng tư, sinh hoạt luyến ái nam nữ hay tình tự dân gian. Tập Kokin Waka Shuu (Cổ Kim Hòa Ca Tập) là tập thơ quốc âm đầu tiên đã được soạn để tiến lên vua theo sắc chiếu, còn được lược xưng là Kokin Shuu (Cổ Kim Tập). Do bọn các ông Ki-no-Tsurayuki (Kỷ, Quán Chi), Ki-no-Tomonori (Kỷ, Hữu Trắc), Ôshikôchi-no-Mitsune (Phàm Hà Nội, Cung Hằng), Mibu-no-Tadamine (Nhiệm Sinh, Trung Lĩnh) soạn khoảng năm Engi (Diên Hỷ) thứ 5 (905) theo sắc lệnh của thiên hoàng (thứ 60) Daigô (Đề Hồ, trị vì 897-930). Đây là tập thi tuyển Waka đầu tiên được soạn theo chiếu chỉ và là qui phạm cho những tập soạn theo chiếu chỉ các đời sau.Thi tập nầy gồm 12 quyển, thu thập ước chừng trên 1100 bài thơ, có kèm hai bài tựa (Jo), một viết bằng Kana (tức bài Kanajo) do Ki-no-Tsurayuki và bài kia bằng chữ Hán (Manajo) do Ki-no-Yoshimochi (Kỷ, Thục Vọng) viết. Đặc biệt trong bài tựa viết bằng Kana, không những thuyết về sự hoà điệu giữa cái Tâm và thi Từ mà còn chủ trương về vai trò đối đầu của Waka với thơ chữ Hán, nói lên được ý thức dân tộc của người soạn ra nó. Kokin Waka Shuu chia thành nhiều bộ (bộ lập=budate) tùy theo chủ đề: Xuân (thượng, hạ), Hạ, Thu (thượng, hạ), Đông, Hạ (chúc tụng), Ly Biệt, Ki Lữ (lữ hành), Vật Danh, Luyến (Tình Yêu), Ai Thương, Tạp (thượng, hạ), Tạp Thể (thượng, hạ) Đại Ca Sở Ngự Ca.Về thể điệu, phần lớn là những bài ngắn (Tanka), có một ít bài dài (Chôka hay Naga-uta) và thơ đối đáp (Sedôka). Như đã nói, bài thơ chúng ta đang bàn đến có chép trong phần chủ đề về mùa thu (Thu Ca). Về tác giả, sách cho biết “không biết là ai” nhưng chua thêm ”Trong tập Hyakunin Isshuu (Bách Nhân Nhất Thủ, tức một tập chọn mỗi người nổi tiếng một bài ) thì bảo tác giả là Sarumaru Dayu (Viên Hoàn Đại Phu) một nhân vật truyền thuyết có tên trong 36 nhà thơ thời cổ (Tam Thập Lục Ca Tiên) đã soạn”. Hyakunin Isshuu được nhiều người cho là công trình biên soạn của Fujiwara Sadaie (còn đọc là Teika, tức Đằng Nguyên Định Gia) vào khoảng năm 1235 và thơ dựa trên Hyakunin Shuuka (Bách Nhân Tú Ca) tức thơ hay của trăm nhà mà ông đã chọn để viết trên giấy họa để trang trí dinh thự một vương hầu. Hyakunin Isshu (quen gọi tắt là Hyakuninshu) chọn của 100 tác giả mỗi người một bài thơ và lấy những bài đó ở các thi tập soạn theo sắc chiếu, tính từ Kokin-Waka-Shuu (Cổ Kim Hòa Ca Tập) cho đến Shoku-Gosen-Shuu (Tục-Hậu Tuyển Tập). Những bài thơ trong tập sách nầy đều đặc sắc nên được truyền bá rộng rãi về sau dưới mọi hình thức nghệ thuật. Chẳng hạn vào đầu thời Edo, có trò chơi Utagaruta (Ca Gia Lưu Đa) tức trò chơi “ai nhanh tay” bốc những quân bài ( Uta=thơ ca; karuta = Carte ) có in câu dưới của bài thơ trong Hyakunin Isshu là thắng cuộc. Người Nhật hầu như ai cũng biết bài (tạm gọi là) Thu Ca nầy vì nó có trên một trong 100 quân bài của trò chơi đó. Khi giám khảo ngâm câu trên trong yomifuda tức quân bài để đọc thì phải biết mà bốc quân bài có ghi câu dưới trong torifuda tức là quân để bốc. Đây là một trò chơi tao nhã rất phổ biến trong quần chúng vào dịp Tết nhất cho đến tận giờ. Sách đã dẫn (Kokin Waka Shuu, bản Chuô Kôron) cho rằng câu đầu và câu thứ hai không xác định nai hay là người đạp trên lá (đỏ chứ không phải vàng vì Momiji chữ Hán viết là Hồng Diệp tức là lá màu đỏ của cây phong vào thu). Có lẽ là cá hai nhưng cái mơ hồ đó làm tăng thi vị.Hơn nữa, nai của ông Lư nên thơ hơn vì không kêu để gọi nai cái (hay gọi đàn) như nai Nhật mà chỉ im lặng, ngơ ngác đạp lá vàng khô. Không riêng Lưu Trọng Lư, Huy Cận cũng đã viết: Nai con gót lẩn trong mù, Xuống rừng nẽo thuộc nhìn thu mới về. Nai và mùa thu là một chủ đề thường thấy trong tập Kokin Waka-Shuu nầy nhưng bên Tàu thời ấy (Đường) cũng có những bài thi vị dính líu xa gần với nai và núi vắng như Lộc Sài của Vương Duy : Không sơn bất kiến nhân Đản văn nhân ngữ hưởng Phản cảnh nhập thâm lâm Phục chiếu thanh đài thượng Theo người thân tôi ở Paris cho biết thì sau khi nghe Nguyễn Vỹ « kết tội », Lưu Trọng Lư đã giẫy nẫy lên « Nhưng bài thơ tao còn có chinh phu, cô phụ kia mà » vv…Người bạn Paris cho biết thêm là một thân nhân của ông Lư bảo rằng ông ta làm bài thơ nói trên sau khi xem một bức sơn mài có cảnh nai ở trong rừng. Ngoài ra, theo nguồn tin thân cận khác, nhà phê bình văn học Đặng Tiến nói ông Lư đã chịu ảnh hưởng Thu Thanh Phú của Âu Dương Tu. Điều này làm tôi tự hỏi phải chăng một bài thơ thu rất hay của một nhà thơ triều Nguyễn là Thu Dạ Lữ Hoài Ngâm của cụ Đinh Nhật Thận, còn có thể là gạch nối giữa Âu Dương Tu và Lưu Trọng Lư chăng ? Vẫn người thân của tôi ở Paris lại nhắc đến Chanson d’Automne, một tác phẩm trứ danh của Pháp mà ai cũng nằm lòng từ lúc ngồi trên ghế trường trung học.Thơ viết về mùa thu nhiều lắm. Thế thì, ông Lư sanh sau đẻ muộn nầy lấy cảm hứng ở đâu để viết Tiếng Thu đây ? Khi tôi có dịp may gặp nhà thơ Xuân Diệu ở Paris một vài năm trước khi ông mất và có hỏi : Thế bác viết : Tuổi học trời xa, Huế cũng đi, Mấy bài thơ cũ thật tiên tri. Bạn vàng thuở trước nên ông cả, Gái nhỏ khi nao thoắt dậy thì. Có lấy cảm hứng từ hai câu : Đồng học thiếu niên đa bất tiện Ngũ Lăng cừu mã tự khinh phì không ? (vì Xuân Diệu rất sành thơ Đường: con ông đồ Nghệ, đã viết những bài như Nhị Hồ, đã dịch và vác ba lô đi nói chuyện về thơ Đường khắp nơi) thì được ông trả lời « Không. Có thể đó là cái hồn thơ nho nhỏ của « thằng » Xuân Diệu đã gặp được cái hồn thơ vĩ đại của cụ Đổ Phủ ở chổ nào đó thôi ». Cho nên chuyện ông Lưu Trọng Lư có biết bài thơ Nhật kia không thì không quan trọng. Trước hết ông Lư có đủ tài để làm thơ hay như khi ông viết về mùa hạ : Tôi nhớ mẹ tôi thuở thiếu thời, Lúc người con sống tôi lên mười. Mỗi lần nắng mới gieo ngoài nội, Áo đỏ người đem trước dậu phơi. Hay mùa đông : Em chỉ là người em gái thôi, Người em sầu mộng của muôn đời Tình em như tuyết giăng đầu núi, Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời. thì có gì mà chẳng làm được một bài thơ hay về mùa thu, cũng hay như Vần Thơ Sầu Rụng nói về mùa xuân với “những ngày lạnh rớt gió vèo trong cây”. Cái quan trọng ở đây là ông Lư đã đẻ ra được cái hình ảnh « con nai vàng ngơ ngác ».Nếu ông lấy cảm hứng từ thơ Nhật thì thi nhân Waka nào đó phải còn phải cảm ơn Lưu Trọng Lư nữa, vì dù có mô phỏng cổ nhân, ông đã đưa hồn thơ Nhật Bản đến cho người Việt Nam. Cũng như Nguyễn Khuyến đã đem Thu Hứng của Đổ Phủ vào thơ Việt khéo đến nổi người ta khó lập ra quan hệ “liên văn bản” giữa: Mấy chùm trước dậu hoa năm ngoái (Nguyễn Khuyến) Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ (Đổ Phủ) Phải tinh ý lắm mới nhận ra. Hơn nữa, ông Lư cũng đã đem vào bài thơ nầy một chủ đề mùa thu khác như mùa thu của chờ mong thường thấy trong văn học Trung Hoa, Việt Nam và cả Nhật Bản (rạo rực, chinh phu, cô phụ) như ông đã nói rất đúng. Ngoài ra, cái độc đáo của ông là lối đặt câu hỏi (không nghe?), tiếng động mùa thu (thổn thức, xào xạc) như tiếng thu mà Âu Dương Tu, văn nhân đời Tống đã bắt gặp giữa một đêm mất ngủ trong Thu Thanh Phú, hay linh hồn réo rắt của làn gió thu nghe như tiếng vĩ cầm trong Chanson d’Automne của Paul Verlaine (1844-1896): Les sangots longs Des violons De l’automne Blessent mon coeur D’une langueur monotone… Chưa hết. Tôi nghĩ mùa thu đã nhập vào hồn thơ nhân loại. Thi ca toàn cầu hóa trước khi kinh tế bắt đầu vượt biên giới quốc gia. Mới đây, tôi lại thấy người Trung Quốc dịch bài Waka chủ đề Thu Ca nầy sang tiếng Trung và một giáo sư Nhật Bản dịch thơ Lưu Trọng Lư sang tiếng Nhật. Vậy xin chép lại cả hai bài thơ dịch để quý độc giả thưởng thức. Bài Waka dịch ra tiếng Trung với nhan đề Thâm Sơn Hồng Diệp, Đàn Khả dịch (Nhật Bản Cổ Thi Nhất Bách Thủ (Riben Gushi Yibai Shou) do nhà Xuất Bản Văn Học Ngoại Quốc, Bắc Kinh in năm 1985. Theo Đàn Khả, dựa trên bài tựa bằng chữ Hán của Kokin Shuu do Ki no Yoshimochi (Kỷ Thục Vọng), bài thơ nầy do Ôtomo no Kuronushi (Đại Hữu Hắc Chủ), thi nhân khoảng tiền bán thời Heian (794-1188) viết theo một bài thơ trước đó của Sarumaru Dayu (Viên Hoàn Đại Phu), như đã nói trên, là một nhân vật chưa chắc đã có thực: Thâm sơn hồng diệp mãn địa phiêu Túc đạp hồng diệp lộ điều điều Văn đạo lộc minh thanh ai khổ Bi cảm phong hàn thu khí cao Núi sâu lá đỏ rụng đầy Chân khua xác lá dặm dài về đâu Nai kêu ai oán gieo sầu Hơi thu lạnh buốt tầng cao ngập lòng (Nguyễn Nam Trân dịch) Dịch giả giải thích đây là tâm sự của một người đang ở giữa đường đời, như đứng giữa rừng sâu lá đỏ, dưới trời thu lạnh lẽo, tiền lộ mịt mùng, lạc lõng không biết về đâu.Theo lối dịch nầy, chỉ có người đạp trên lá đỏ và chỉ nghe tiếng nai vọng đến từ xa.Lối dịch thế nầy không trung thành với nguyên tác cho lắm, nhưng xem ra cũng có một thi vị riêng. Ngoài ra, vào một buổi chiều trong thư viện, tôi nhân tò mò đọc vài trang của quyển sách nhan đề Lối Vào Văn Học Đông Nam Á (Tônan-Azia Bungaku no Shôtai, Sei-unsha, Tôkyo, 2001), thấy trong phần thi văn Việt Nam, giáo sư Kawaguchi Ken-ichi đã dịch Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư ra Nhật Ngữ như sau: Urumu tsuki no shita ni Kimi wa kikazuya Susurinaite iru aki wo Ura wakitsuma no kokoro ni Kimi wa kikazuya Senjô ni yukishi otto no omokage e no Yamigataki omoi wo Aki no mori ni Kimi wa kikazuya Samayou shika ga kareba wo fumu Sono kasokeki oto wo (Aki no oto) Tuy bản dịch chưa đạt như ý chúng ta muốn nhưng phải nói ông giáo Nhật nầy là người có trình độ và phải rõ về cả hai nền văn học vì ít nhất ông là giáo sư Việt Ngữ Đại Học Ngoại Ngữ Đông Kinh, chuyên gia văn học. Thế mà chẳng nghe ông gợi ra một câu hỏi nhỏ về khả năng của nguồn cội Waka bài Tiếng Thu khi ông dịch nó qua tiếng nước ông. Điều đó chứng tỏ Lưu Trọng Lư, nói dại là có chịu ảnh hưởng bài Waka chăng nữa, đã thành công vì “che mắt” được cả giáo sư văn chương kia. Để kết luận, tuy phân tích của Nguyễn Vỹ rất cần cho nghiên cứu văn học nhất là văn học đối chiếu nhưng nếu thế, lập luận của ông cần phải có thêm chứng cứ có tính khoa học và khách quan hơn, nhất là khi luận điểm đó đã bị chính tác giả phủ nhận. Riêng ở cương vị một người thưởng thức, tôi lại muốn đồng ý với Xuân Diệu khi họ Ngô viết (lâu ngày quên đích xác thế nào): Ai đi phân tích một làn hương Hay bản cầm ca, Tôi chỉ mơ, tôi chỉ thương, chỉ chuồi theo dòng ảo tưởng Như thuyền ngư phủ lạc trong sương. mà tôi nghĩ thích hợp cho bài Tiếng Thu nầy. Tôkyô, 4/2004, một ngày nắng nhưng nhiều gió. Nguyễn Nam Trâniếng thu: Nguyễn Vỹ-Trần Đăng Khoa-Nguyễn Nam Trân Đăng bởi cavenui on Tháng Chín 20, 2009 Nai mua thu NGUYỄN VỸ Có một lần ở tại nhà trọ của Lư ở phố Hàm Long, tôi cười hỏi Lưu Trọng Lư: -Lư ơi, bài thơ Tiếng thu có phải thật của cậu không? Có Nguyễn Xuân Huy ngồi đấy, Lư ”cười như nắc nẻ”: -Thằng này mơ mộng thật! Mi tưởng bài đó của Thế Lữ à? -Thế Lữ làm gì nổi 1 bài thơ như thế. Nhưng tao có đọc 1 bài thơ của 1 thi sĩ Nhật Bổn, giống hệt bài thơ của mày, và bài thơ Nhật cũng tựa đề là Tiếng thu. Lưu Trọng Lư ngó Xuân Huy: -Huy, mầy thấy thằng Vỹ nó điên không? Huy bảo tôi: -Mầy muốn chép tao đọc cho chép. Đây là 1 bài tanka nổi tiếng: Oku yama ni Monoji fumi wake Naku zhika no Koe kiku toki zo Aki wa kanashiki Tác giả là Sarumaru, thế kỷ VIII. Bài thơ này, Michel Revon có dịch ra Pháp văn trong quyển Anthologie des poètes japonais (Ed-Hachette) Combien triste est l’automne Quand j’entends la voix Du cerf qui brame En foulant et dispersant les feuilles des érables Dans les profondeurs de la Montagne. Karl Petit, trong quyển La poésie japonaise (Ed-Seghers) lại dịch đảo ngược lại, nhưng đúng theo nguyên văn bài thơ Nhật: Aux profondeurs de la Montagne Ecartant et foulant les feuilles d’érables Le cerf brame Et à l’entendre ainsi Ah! Que l’automne m’est lourdement triste! Dịch đúng nghĩa ra Việt văn: Trong núi rừng sâu Ta nghe tiếng xào xạc Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá bàng khô Ôi buồn làm sao! Lưu Trọng Lư cãi liền: -Bài tao còn đoạn trên: Hình ảnh kẻ chinh phu/ Trong lòng người cô phụ. Tôi cười: -Cậu làm bài thơ này hồi năm nào? -Mới đây. -Mới đây, và mấy năm nay trong nước mình làm gì có cuộc chiến tranh, có ”kẻ chinh phu”, có ”người cô phụ”? Tôi cho rằng việc cậu ghép thêm 3-4 câu đó vào bài thơ của Saramaru để thay đổi đôi chút, nhưng cậu lại lấy trọn vẹn bản chính của Saramaru. Lưu Trọng Lư không cãi nữa, nhưng Nguyễn Xuân Huy cười: -Kết luận: Les grands esprits se rencontrent! (từ ”Nguyễn Vỹ-Văn thi sĩ tiền chiến”, NXB Hội Nhà văn in lại, 1994) TRÂN ĐĂNG KHOA: CÓ PHẢI BÀI THƠ TIẾNG THU, LƯU TRỌNG LƯ SAO CÓP CỦA NƯỚC NGOÀI? Người đầu tiên vu cho Lưu Trọng Lư cái việc làm rất không lấy gì làm đẹp này là ô.Nguyễn Vỹ trong cuốn “Văn thi sĩ tiền chiến”. Cứ như ô.Nguyễn Vỹ thì Tiếng thu chính là bài tanka của thi sĩ Nhật bản nổi tiếng Sarumaru ở thế kỷ VII. Nguyên văn bài tanka thế này: Oku yama ni/ Monoji fumi wake/ Naku shika no/ Koe kiku zo/ Aki wa kanashiki Cũng theo Nguyễn Vỹ, bài thơ này được 2 nhà thơ Pháp dịch sang tiếng Pháp. Bản của Michel Revon in trong cuốn Anthologie des poètes japonais (Ed.Hachette) nguyên văn như sau: Combien triste est l’automne/Quand j’entends la voix/ Du serf qui brame/En foulant et dispersant les feuilles des érables/Dans les profondeurs de la Montagne Mùa thu buồn làm sao/ Khi tôi nghe tiếng/ Của con hươu đực thé lên (rền rĩ, kêu trong mùa giao phối)/ Làm tung tóe và dẫm lên những chiếc lá thích/ Trong những nơi sâu thẳm của núi. Bản dịch thứ 2 là của nhà thơ Karl Petit, in trong cuốn La poésie japonaise (Ed.Seghers) mà theo ô.Nguyễn Vỹ là đã dịch đảo ngược, nhưng lại đúng với nguyên văn bản tiếng Nhật: Aux profondeurs de la Montagne/Ecartant et foulant les feuilles d’érables/Le cerf qui brame/Et à l’entendre ainsi/ Ah! que l’automne m’est lourdement triste! Ở những nơi sâu thẳm của Núi/ Làm tung tóe và dẫm lên những chiếc lá thích/ Con hươu đực thé lên (rền rĩ, kêu trong mùa giao phối)/Và nghe thấy điều đó như thế/ Chao ôi, mùa thu với tôi buồn nặng trĩu. Còn bài Tiếng thu của Lưu Trọng Lư thì nguyên văn như thế này: Em không nghe mùa thu/ Dưới trăng mờ thổn thức/ Em không nghe rạo rực/ Hình ảnh kẻ chinh phu/ Trong lòng người cô phụ/ Em không nghe rừng thu/Lá thu kêu xào xạc/ Con nai vàng ngơ ngác/Đạp trên lá vàng khô. Tất cả là như vậy đấy. Mới hay Tiếng thu của Lưu Trọng Lư và bài tanka Nhật của Sarumaru là 2 tác phẩm hoàn toàn khác nhau. Chúng chẳng có họ hàng gì với nhau cả. Vậy mà suốt nửa thế kỷ nay, người ta cứ a dua nhau, người nọ nói theo người kia, cho rằng Lưu Trọng Lư đã sao chép của nước ngoài. Cái nghi án văn chương rất oan khuất ấy cứ bám riết lấy Lưu Trọng Lư cả cho đến khi ông đã nằm dưới 3 thước đất. Người khảo sát văn bản này, nhà phê bình trẻ Hoàng Xuân Tuyền, dù có giỏi tiếng Nga và biết tiếng Pháp, nhưng để thận trọng hơn, anh đã tìm đến nhà thơ Tế Hanh nhờ thẩm định lại. Tế Hanh rất giỏi tiếng Pháp, ông đã dịch nhiều thơ thế giới qua tiếng Pháp, cũng là người cùng thời với Lưu Trọng Lư. Tế Hanh đã kinh ngạc kêu lên: “Ô lạ nhỉ. Bài thơ này chẳng có liên quan gì đến Tiếng thu. Sao lại đổ vấy cho anh Lư sao cóp?”. Sở dĩ có nghi án ấy là vì Nguyễn Vỹ. Sau khi phê phán Lưu Trọng Lư lấy thơ Nhật bản, Nguyễn Vỹ đã đưa ra bằng cớ là bản dịch của mình, nhưng thực ra Nguyễn Vỹ đâu có dịch, ông lấy luôn bài thơ Tiếng thu tráo vào rồi kêu ầm lên là bắt được kẻ gian, những người nhẹ da, u mê tin theo thì chúng ta chả trách làm gì, nhưng những nhà thơ từng giỏi tiếng Pháp, những nhà phê bình nghiên cứu có tiếng là uyên thâm, cũng tin theo, rồi lẵng nhẵng nói theo, mà cứ nói đi nói lại mãi. Đấy mới thực sự là chuyện lạ ở thời đại bùng nổ thông tin này. (VNQĐ 12/2002) NGUYỄN NAM TRÂN: TIẾNG THU Riêng tặng anh Đinh Văn Thạnh, người bạn chưa quen Một người thân ở Paris, gần đây có viết Mail hỏi tôi xem bài Tiếng Thu (1939) nổi tiếng của Lưu Trọng Lư (1912-1991) có lấy cảm hứng từ một bài thơ xưa của Nhật không? Anh ấy đã đọc ở tờ báo Kỹ Nguyên Mới ở Mỹ cho biết nhà văn Nguyễn Vỹ có lần hỏi bạn ông là Lưu Trọng Lư về điều đó. Lưu Trọng Lư trả lời không là không nhưng Nguyễn Vỹ vẫn chưa hết mối ngờ và đem theo nó vào tận Sài Gòn . Thực tình nếu trí nhớ chưa phản bội tôi thì chính tôi cũng đã có cơ hội đọc điều nầy trong mục Mình Ơi của báo Phổ Thông do cô Diệu Huyền (một biệt hiệu của Nguyễn Vỹ) phụ trách. Báo Phổ Thông thời đó có vài cựu sinh viên Việt Nam tại Nhật Bản đóng góp khá thường xuyên và được quần chúng, trong số đó có tôi, khá yêu chuộng và lòng mến mộ nước Nhật của tôi cũng bắt nguồn từ đó.Giai thoại Tiếng Thu được kể ra qua cuộc đối thoại giữa Ông Tú và Bà Tú. Ông bà Tú không phải là những nhân vật hư cấu, có chăng là ..cô hàng bán vịt lộn đôi khi xuất hiện trong đó. Bà Tú là nhân vật có thực ngoài đời, em gái ông Vỹ. Ông Trần Tú, chồng bà, gốc ngoài Quảng như ông Vỹ, là một người bạn của cha tôi hồi còn ở Đơn Dương gần Đà Lạt. Một người con của hai ông bà, chị Kim Thoa, là bạn học với tôi năm lớp nhì tiểu học. Theo nội dung của bài báo trên Phổ Thông thì Lưu Trọng Lư có thể đã mượn ý của một bài thơ cổ của người Nhật nhưng qua một bản dịch tiếng Pháp vì ông Lư không biết tiếng Nhật. Tôi bèn suy ra thơ cổ của Nhật Bản thì chỉ có tanka và tập thơ tanka căn bản phải là Kokin Waka-Shuu (Cổ Kim Hòa Ca Tập). Nhân một ngày thứ bảy rỗi việc, tôi mới ra quán sách trong supermarket ở Tôkyô đọc cọp bản của nhà Chuô Kôron và tình cờ có thêm một số ít tin tức về bài tanka liên quan xa gần đến Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư. Trước hết phải nói là những thông tin của Nguyễn Vỹ rất chính xác vì ông có chua âm Nhật của bài thơ bên cạnh bài báo xuất bản ở Mỹ mà người thân của tôi ở Paris đã đọc. Nguyên tác : Okuyama ni (Trong núi sâu) (5) Momiji fumiwake (Đạp lên lá phong đỏ rẽ lối đi) (7) Naku shika no (Của nai kêu) (5) Koe kiku toki zo (Chính là khi nghe tiếng) (7) Aki ga kanashiki (Mùa thu buồn làm sao) (7) Chúng ta đều biết người Nhật thích thể thơ 5 chữ 7 chữ như Việt Nam thích 6,8. Những bài hát Nhật ăn tiền bây giờ cũng theo thể 5,7. Đọc thơ Nhật như bài nầy thì nên đi ngược từ câu cuối thì mới rõ nghĩa. Vâng, bài nầy đã tìm thấy trong phần Thu Ca của tập Kokin Waka Shuu (Cổ Kim Hòa Ca Tập), một tuyển tập thơ quốc âm Tanka (Đoản Ca) của Nhật. Vào đầu thời Hei-an, văn chương chữ Hán chiếm địa vị độc tôn và thơ quốc âm Waka bị đẩy lùi vào bóng tối. Thế nhưng, Waka không vì thế mà mai một hẳn, nó chỉ trở thành một hình thức thơ để tỏ tình cảm riêng tư, sinh hoạt luyến ái nam nữ hay tình tự dân gian. Tập Kokin Waka Shuu (Cổ Kim Hòa Ca Tập) là tập thơ quốc âm đầu tiên đã được soạn để tiến lên vua theo sắc chiếu, còn được lược xưng là Kokin Shuu (Cổ Kim Tập). Do bọn các ông Ki-no-Tsurayuki (Kỷ, Quán Chi), Ki-no-Tomonori (Kỷ, Hữu Trắc), Ôshikôchi-no-Mitsune (Phàm Hà Nội, Cung Hằng), Mibu-no-Tadamine (Nhiệm Sinh, Trung Lĩnh) soạn khoảng năm Engi (Diên Hỷ) thứ 5 (905) theo sắc lệnh của thiên hoàng (thứ 60) Daigô (Đề Hồ, trị vì 897-930). Đây là tập thi tuyển Waka đầu tiên được soạn theo chiếu chỉ và là qui phạm cho những tập soạn theo chiếu chỉ các đời sau.Thi tập nầy gồm 12 quyển, thu thập ước chừng trên 1100 bài thơ, có kèm hai bài tựa (Jo), một viết bằng Kana (tức bài Kanajo) do Ki-no-Tsurayuki và bài kia bằng chữ Hán (Manajo) do Ki-no-Yoshimochi (Kỷ, Thục Vọng) viết. Đặc biệt trong bài tựa viết bằng Kana, không những thuyết về sự hoà điệu giữa cái Tâm và thi Từ mà còn chủ trương về vai trò đối đầu của Waka với thơ chữ Hán, nói lên được ý thức dân tộc của người soạn ra nó. Kokin Waka Shuu chia thành nhiều bộ (bộ lập=budate) tùy theo chủ đề: Xuân (thượng, hạ), Hạ, Thu (thượng, hạ), Đông, Hạ (chúc tụng), Ly Biệt, Ki Lữ (lữ hành), Vật Danh, Luyến (Tình Yêu), Ai Thương, Tạp (thượng, hạ), Tạp Thể (thượng, hạ) Đại Ca Sở Ngự Ca.Về thể điệu, phần lớn là những bài ngắn (Tanka), có một ít bài dài (Chôka hay Naga-uta) và thơ đối đáp (Sedôka). Như đã nói, bài thơ chúng ta đang bàn đến có chép trong phần chủ đề về mùa thu (Thu Ca). Về tác giả, sách cho biết “không biết là ai” nhưng chua thêm ”Trong tập Hyakunin Isshuu (Bách Nhân Nhất Thủ, tức một tập chọn mỗi người nổi tiếng một bài ) thì bảo tác giả là Sarumaru Dayu (Viên Hoàn Đại Phu) một nhân vật truyền thuyết có tên trong 36 nhà thơ thời cổ (Tam Thập Lục Ca Tiên) đã soạn”. Hyakunin Isshuu được nhiều người cho là công trình biên soạn của Fujiwara Sadaie (còn đọc là Teika, tức Đằng Nguyên Định Gia) vào khoảng năm 1235 và thơ dựa trên Hyakunin Shuuka (Bách Nhân Tú Ca) tức thơ hay của trăm nhà mà ông đã chọn để viết trên giấy họa để trang trí dinh thự một vương hầu. Hyakunin Isshu (quen gọi tắt là Hyakuninshu) chọn của 100 tác giả mỗi người một bài thơ và lấy những bài đó ở các thi tập soạn theo sắc chiếu, tính từ Kokin-Waka-Shuu (Cổ Kim Hòa Ca Tập) cho đến Shoku-Gosen-Shuu (Tục-Hậu Tuyển Tập). Những bài thơ trong tập sách nầy đều đặc sắc nên được truyền bá rộng rãi về sau dưới mọi hình thức nghệ thuật. Chẳng hạn vào đầu thời Edo, có trò chơi Utagaruta (Ca Gia Lưu Đa) tức trò chơi “ai nhanh tay” bốc những quân bài ( Uta=thơ ca; karuta = Carte ) có in câu dưới của bài thơ trong Hyakunin Isshu là thắng cuộc. Người Nhật hầu như ai cũng biết bài (tạm gọi là) Thu Ca nầy vì nó có trên một trong 100 quân bài của trò chơi đó. Khi giám khảo ngâm câu trên trong yomifuda tức quân bài để đọc thì phải biết mà bốc quân bài có ghi câu dưới trong torifuda tức là quân để bốc. Đây là một trò chơi tao nhã rất phổ biến trong quần chúng vào dịp Tết nhất cho đến tận giờ. Sách đã dẫn (Kokin Waka Shuu, bản Chuô Kôron) cho rằng câu đầu và câu thứ hai không xác định nai hay là người đạp trên lá (đỏ chứ không phải vàng vì Momiji chữ Hán viết là Hồng Diệp tức là lá màu đỏ của cây phong vào thu). Có lẽ là cá hai nhưng cái mơ hồ đó làm tăng thi vị.Hơn nữa, nai của ông Lư nên thơ hơn vì không kêu để gọi nai cái (hay gọi đàn) như nai Nhật mà chỉ im lặng, ngơ ngác đạp lá vàng khô. Không riêng Lưu Trọng Lư, Huy Cận cũng đã viết: Nai con gót lẩn trong mù, Xuống rừng nẽo thuộc nhìn thu mới về. Nai và mùa thu là một chủ đề thường thấy trong tập Kokin Waka-Shuu nầy nhưng bên Tàu thời ấy (Đường) cũng có những bài thi vị dính líu xa gần với nai và núi vắng như Lộc Sài của Vương Duy : Không sơn bất kiến nhân Đản văn nhân ngữ hưởng Phản cảnh nhập thâm lâm Phục chiếu thanh đài thượng Theo người thân tôi ở Paris cho biết thì sau khi nghe Nguyễn Vỹ « kết tội », Lưu Trọng Lư đã giẫy nẫy lên « Nhưng bài thơ tao còn có chinh phu, cô phụ kia mà » vv…Người bạn Paris cho biết thêm là một thân nhân của ông Lư bảo rằng ông ta làm bài thơ nói trên sau khi xem một bức sơn mài có cảnh nai ở trong rừng. Ngoài ra, theo nguồn tin thân cận khác, nhà phê bình văn học Đặng Tiến nói ông Lư đã chịu ảnh hưởng Thu Thanh Phú của Âu Dương Tu. Điều này làm tôi tự hỏi phải chăng một bài thơ thu rất hay của một nhà thơ triều Nguyễn là Thu Dạ Lữ Hoài Ngâm của cụ Đinh Nhật Thận, còn có thể là gạch nối giữa Âu Dương Tu và Lưu Trọng Lư chăng ? Vẫn người thân của tôi ở Paris lại nhắc đến Chanson d’Automne, một tác phẩm trứ danh của Pháp mà ai cũng nằm lòng từ lúc ngồi trên ghế trường trung học.Thơ viết về mùa thu nhiều lắm. Thế thì, ông Lư sanh sau đẻ muộn nầy lấy cảm hứng ở đâu để viết Tiếng Thu đây ? Khi tôi có dịp may gặp nhà thơ Xuân Diệu ở Paris một vài năm trước khi ông mất và có hỏi : Thế bác viết : Tuổi học trời xa, Huế cũng đi, Mấy bài thơ cũ thật tiên tri. Bạn vàng thuở trước nên ông cả, Gái nhỏ khi nao thoắt dậy thì. Có lấy cảm hứng từ hai câu : Đồng học thiếu niên đa bất tiện Ngũ Lăng cừu mã tự khinh phì không ? (vì Xuân Diệu rất sành thơ Đường: con ông đồ Nghệ, đã viết những bài như Nhị Hồ, đã dịch và vác ba lô đi nói chuyện về thơ Đường khắp nơi) thì được ông trả lời « Không. Có thể đó là cái hồn thơ nho nhỏ của « thằng » Xuân Diệu đã gặp được cái hồn thơ vĩ đại của cụ Đổ Phủ ở chổ nào đó thôi ». Cho nên chuyện ông Lưu Trọng Lư có biết bài thơ Nhật kia không thì không quan trọng. Trước hết ông Lư có đủ tài để làm thơ hay như khi ông viết về mùa hạ : Tôi nhớ mẹ tôi thuở thiếu thời, Lúc người con sống tôi lên mười. Mỗi lần nắng mới gieo ngoài nội, Áo đỏ người đem trước dậu phơi. Hay mùa đông : Em chỉ là người em gái thôi, Người em sầu mộng của muôn đời Tình em như tuyết giăng đầu núi, Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời. thì có gì mà chẳng làm được một bài thơ hay về mùa thu, cũng hay như Vần Thơ Sầu Rụng nói về mùa xuân với “những ngày lạnh rớt gió vèo trong cây”. Cái quan trọng ở đây là ông Lư đã đẻ ra được cái hình ảnh « con nai vàng ngơ ngác ».Nếu ông lấy cảm hứng từ thơ Nhật thì thi nhân Waka nào đó phải còn phải cảm ơn Lưu Trọng Lư nữa, vì dù có mô phỏng cổ nhân, ông đã đưa hồn thơ Nhật Bản đến cho người Việt Nam. Cũng như Nguyễn Khuyến đã đem Thu Hứng của Đổ Phủ vào thơ Việt khéo đến nổi người ta khó lập ra quan hệ “liên văn bản” giữa: Mấy chùm trước dậu hoa năm ngoái (Nguyễn Khuyến) Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ (Đổ Phủ) Phải tinh ý lắm mới nhận ra. Hơn nữa, ông Lư cũng đã đem vào bài thơ nầy một chủ đề mùa thu khác như mùa thu của chờ mong thường thấy trong văn học Trung Hoa, Việt Nam và cả Nhật Bản (rạo rực, chinh phu, cô phụ) như ông đã nói rất đúng. Ngoài ra, cái độc đáo của ông là lối đặt câu hỏi (không nghe?), tiếng động mùa thu (thổn thức, xào xạc) như tiếng thu mà Âu Dương Tu, văn nhân đời Tống đã bắt gặp giữa một đêm mất ngủ trong Thu Thanh Phú, hay linh hồn réo rắt của làn gió thu nghe như tiếng vĩ cầm trong Chanson d’Automne của Paul Verlaine (1844-1896): Les sangots longs Des violons De l’automne Blessent mon coeur D’une langueur monotone… Chưa hết. Tôi nghĩ mùa thu đã nhập vào hồn thơ nhân loại. Thi ca toàn cầu hóa trước khi kinh tế bắt đầu vượt biên giới quốc gia. Mới đây, tôi lại thấy người Trung Quốc dịch bài Waka chủ đề Thu Ca nầy sang tiếng Trung và một giáo sư Nhật Bản dịch thơ Lưu Trọng Lư sang tiếng Nhật. Vậy xin chép lại cả hai bài thơ dịch để quý độc giả thưởng thức. Bài Waka dịch ra tiếng Trung với nhan đề Thâm Sơn Hồng Diệp, Đàn Khả dịch (Nhật Bản Cổ Thi Nhất Bách Thủ (Riben Gushi Yibai Shou) do nhà Xuất Bản Văn Học Ngoại Quốc, Bắc Kinh in năm 1985. Theo Đàn Khả, dựa trên bài tựa bằng chữ Hán của Kokin Shuu do Ki no Yoshimochi (Kỷ Thục Vọng), bài thơ nầy do Ôtomo no Kuronushi (Đại Hữu Hắc Chủ), thi nhân khoảng tiền bán thời Heian (794-1188) viết theo một bài thơ trước đó của Sarumaru Dayu (Viên Hoàn Đại Phu), như đã nói trên, là một nhân vật chưa chắc đã có thực: Thâm sơn hồng diệp mãn địa phiêu Túc đạp hồng diệp lộ điều điều Văn đạo lộc minh thanh ai khổ Bi cảm phong hàn thu khí cao Núi sâu lá đỏ rụng đầy Chân khua xác lá dặm dài về đâu Nai kêu ai oán gieo sầu Hơi thu lạnh buốt tầng cao ngập lòng (Nguyễn Nam Trân dịch) Dịch giả giải thích đây là tâm sự của một người đang ở giữa đường đời, như đứng giữa rừng sâu lá đỏ, dưới trời thu lạnh lẽo, tiền lộ mịt mùng, lạc lõng không biết về đâu.Theo lối dịch nầy, chỉ có người đạp trên lá đỏ và chỉ nghe tiếng nai vọng đến từ xa.Lối dịch thế nầy không trung thành với nguyên tác cho lắm, nhưng xem ra cũng có một thi vị riêng. Ngoài ra, vào một buổi chiều trong thư viện, tôi nhân tò mò đọc vài trang của quyển sách nhan đề Lối Vào Văn Học Đông Nam Á (Tônan-Azia Bungaku no Shôtai, Sei-unsha, Tôkyo, 2001), thấy trong phần thi văn Việt Nam, giáo sư Kawaguchi Ken-ichi đã dịch Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư ra Nhật Ngữ như sau: Urumu tsuki no shita ni Kimi wa kikazuya Susurinaite iru aki wo Ura wakitsuma no kokoro ni Kimi wa kikazuya Senjô ni yukishi otto no omokage e no Yamigataki omoi wo Aki no mori ni Kimi wa kikazuya Samayou shika ga kareba wo fumu Sono kasokeki oto wo (Aki no oto) Tuy bản dịch chưa đạt như ý chúng ta muốn nhưng phải nói ông giáo Nhật nầy là người có trình độ và phải rõ về cả hai nền văn học vì ít nhất ông là giáo sư Việt Ngữ Đại Học Ngoại Ngữ Đông Kinh, chuyên gia văn học. Thế mà chẳng nghe ông gợi ra một câu hỏi nhỏ về khả năng của nguồn cội Waka bài Tiếng Thu khi ông dịch nó qua tiếng nước ông. Điều đó chứng tỏ Lưu Trọng Lư, nói dại là có chịu ảnh hưởng bài Waka chăng nữa, đã thành công vì “che mắt” được cả giáo sư văn chương kia. Để kết luận, tuy phân tích của Nguyễn Vỹ rất cần cho nghiên cứu văn học nhất là văn học đối chiếu nhưng nếu thế, lập luận của ông cần phải có thêm chứng cứ có tính khoa học và khách quan hơn, nhất là khi luận điểm đó đã bị chính tác giả phủ nhận. Riêng ở cương vị một người thưởng thức, tôi lại muốn đồng ý với Xuân Diệu khi họ Ngô viết (lâu ngày quên đích xác thế nào): Ai đi phân tích một làn hương Hay bản cầm ca, Tôi chỉ mơ, tôi chỉ thương, chỉ chuồi theo dòng ảo tưởng Như thuyền ngư phủ lạc trong sương. mà tôi nghĩ thích hợp cho bài Tiếng Thu nầy. Tôkyô, 4/2004, một ngày nắng nhưng nhiều gió.

Nguyễn Nam Trân

Read Full Post »

Cuộc tọa đàm về thơ Trần Dần do Ðại sứ quán Pháp tại VN và Công ty Văn hóa và truyền thông Nhã Nam tổ chức (tối 1-3-2010 tại L’Espace) có sự điềm đạm và sâu lắng của một cuộc tưởng niệm.

Một minh họa của Trần Dần cho bài thơ Ngã tư xưa: Anh muốn rao lên cho làng nước biết/Hôm nay em bạc đãi một người/Nhưng em ơi! Anh chỉ đến ngã tư xưa/Anh đứng dưới một ngôi đèn bỏ

Nhưng khi đã bàn sâu vào thơ và những vấn đề cách tân thơ, Trần Dần hiện lên không phải chỉ với tư cách một nhân vật để tưởng niệm. Ông và thơ ông đang sống như một nhà thơ cách tân, như một người thơ yêu nước (cũng là tên của buổi tọa đàm).

Vẫn còn một chút dè dặt và ngại ngùng sau bao nhiêu biến cố đã qua, sau nhiều điều từng chứng kiến, biết, đọc và nghe nói về Trần Dần và thơ của ông, nhưng những diễn giả trong cuộc tọa đàm thơ Trần Dần: dịch giả, nhà thơ và là người bạn thân Dương Tường, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, nhà thơ Hữu Việt, thạc sĩ vừa bảo vệ luận văn về thơ Trần Dần Hà Thị Hạnh, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, nhà thơ Nguyễn Duy… đều nồng nhiệt và quả quyết khẳng định vai trò”nhà cách tân số 1″của thi ca VN của Trần Dần.

Người bạn từng chia sẻ những tháng ngày lận đận của ông, nhà thơ Dương Tường nói:”Trần Dần từng viết trong Nhật ký thơ :”Phải có gan bỏ rẻ một cuộc đời cho một thử nghiệm thơ”. Và cuộc đời ông là minh chứng thực tế nhất cho quan niệm ấy.

Trong hoạn nạn, trong bóng tối, trong im lặng, ông âm thầm, kiên quyết và đau đớn theo đuổi những giấc mơ cách tân thơ của mình. Thoát khỏi ảnh hưởng thơ bậc thang của Maiakovski, ông lầm lụi độc hành tìm ra những Mùa sạch, Jờ Joạcx, 177 cảnh…

Nhà thơ Trần Dần (1926-1997) được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007. Tuyển tập Thơ Trần Dần (Nhã Nam và NXB Đà Nẵng) được trao giải thành tựu trọn đời về thơ của Hội Nhà văn Hà Nội 2008, và là tác phẩm duy nhất giành giải thưởng văn học nghệ thuật thủ đô năm 2008 dành cho văn học.

Khác với hình dung lâu nay của số đông về những điều chỉ”nghe nói”quanh số phận và thơ Trần Dần, bè bạn, các nhà nghiên cứu, gia đình… đều khẳng định ông là một nhà thơ chiến sĩ với tất cả ý nghĩa tốt đẹp của nó.

Sau giai đoạn làm thơ bí hiểm với nhóm”Dạ đài”thời trai trẻ, từ 1946-1954, Trần Dần nhập ngũ, trở thành một người lính làm thơ, ông đi suốt cuộc kháng chiến chống Pháp với những trận chiến và những tác phẩm đầy tinh thần xung trận: Người người lớp lớp; Ði, đây Việt Bắc

Sự quyết liệt trong cá tính của ông theo ông mãi đến ngày cuối cùng của cuộc đời, trong những câu thơ cuối cùng, nhưng không còn với tính chất đơn thuần là ý nghĩa của câu chữ, mà là sự quyết liệt trong việc tìm kiếm những hình thức thể hiện mới, đẩy tiếng Việt đến chân tường để nó bật ra những nghĩa mới.

Có lẽ với số đông, Trần Dần và thơ ông vẫn còn là một cái gì đó mơ hồ, bí ẩn, khó hiểu. Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân cũng rất thẳng thắn và chân tình chỉ ra những sai sót của ban tổ chức khi giới thiệu”Trần Dần là nhà thơ có ảnh hưởng nhiều nhất trong thơ ca VN hiện đại”- không ai, dù yêu Trần Dần đến đâu, có thể nói thơ ông được nhiều người biết, nhiều người đọc đến độ trở nên phổ biến, có ảnh hưởng xã hội.

Nhưng như cách tiếp cận rất chân thành và gần gũi của nhà thơ Hữu Việt:”Bên cạnh những thử nghiệm, có cả thành công và chưa thành công, bên cạnh những câu thơ tuyệt bút, bên cạnh những nỗi đau đời, bất cứ ai cũng có thể tìm thấy mình trong những câu thơ bình thường của ông, sự bình thường, giản dị của một bậc”đại cao thủ”chữ nghĩa: Bài thơ hôm nay tôi viết/ Ðã giống lưỡi lê: đâm/giống viên đạn: xé/ giống bão mưa: gào/giống tình yêu: thắm .

Tại cuộc tọa đàm, nhiều người đã nhắc lại câu thơ bất hủ của Trần Dần:” Tôi yêu đất mẹ đây/có cỏ hoa làm chứng/Tôi yêu chủ nghĩa này/cờ đỏ cãi cho tôi “để cùng lặng người vì cảm phục và thương nhớ Trần Dần.

THU HÀ

Read Full Post »

Hơn mười năm trước đây trong chuyến xe từ Nha Trang về Sài Gòn, giữa những câu chuyện văn chương miên man, đột ngột nhà văn NKP hỏi tôi rằng : “ Cây bút viết tùy bút số một ở Việt Nam là ai? ”. Trả lời một cách hết sức sách vở, tôi không ngần ngại nói rằng đó chính là Nguyễn Tuân. Anh trầm ngâm không nói gì. Lát sau anh mới khẽ bảo: “Người viết tùy bút hàng đầu trong văn học Việt Nam đương đại chính là Võ Phiến, người Bình Định”. Lời khẳng định của một nhà văn không nhỏ về một nhà văn lớn cách đây nhiều năm đã làm thay đổi suy nghĩ của tôi về văn học đô thị miền Nam những năm trước 1975, thôi thúc tôi đi tìm tư liệu về Võ Phiến vốn khá hiếm hoi trong giai đoạn những năm trước đây. Bài viết của Thụy Khuê mà chúng tôi giới thiệu với bạn đọc mặc dù có thể có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau, nhưng đó là công trình nghiên cứu công phu về cuộc đời và sự nghiệp của một nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu, nhà phê bình văn học sinh ra  lớn lên và khởi đầu sự nghiệp từ trên quê hương Bình Định.

NQH

——————————————–

Tiểu sử

Võ Phiến tên thật là Đoàn Thế Nhơn, bút hiệu khác: Tràng Thiên. Ông sinh ngày 20/10/1925 tại làng Trà Bình, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Cha là Đoàn Thế Cần làm giáo học, mẹ là Ngô Thị Cương. Võ Phiến có người em ruột là Đoàn Thế Hối, sinh năm 1932, sau này ra Bắc tập kết, cũng là nhà văn bút hiệu Lê Vĩnh Hoà. Khoảng 1933, cha mẹ xuống Rạch Giá lập nghiệp đem Đoàn Thế Hối theo; Võ Phiến ở lại Bình Định, sống với bà nội, học trường làng, trung học ở Quy Nhơn. 1942 ra Huế học trường Thuận Hóa và bắt đầu viết văn. Bài tùy bút đầu tiên tựa đề Những đêm đông viết năm 1943 đăng trên báo Trung Bắc Chủ Nhật, ký tên Đắc Lang.

1945, Võ Phiến gia nhập bộ đội trong một thời gian ngắn, sang 1946 ra Hà Nội học trường Văn Lang; đến tháng 12/ 1946, trở về Bình Định tham gia kháng chiến, sang năm 1947 về làm thuế quan tại Gò Bồi. Năm 1948, ông kết hôn với cô Võ Thị Viễn Phố (Võ Phiến là Viễn Phố nói lái) và ông dạy học ở trường trung học bình dân Liên Khu V. Cuối năm 1954, ông ra Huế làm việc tại Nha Thông Tin ít lâu rồi xin chuyển vào Quy Nhơn, tại đây ông tự xuất bản hai tác phẩm đầu Chữ tình (1956) và Người tù (1957), gửi bài đăng trên hai tạp chí Sáng Tạo và Bách Khoa. Từ tác phẩm thứ ba Mưa đêm cuối năm (in năm 1958, tại Sàigòn), Võ Phiến bắt đầu nổi tiếng, ông xin đổi vào làm việc tại Sài Gòn, cộng tác thường xuyên với các báo Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Văn, Khởi Hành, Mai, Tân Văn … và trở thành một trong những cây bút chính của tờ Bách Khoa, cùng với Nguyễn Hiến Lê, Vũ Hạnh v.v… 1962, Võ Phiến lập nhà xuất bản Thời Mới.

Rời nước một tuần trước ngày 30/4/1975, một thời gian sau ông định cư tại Los Angeles, làm công chức thuế vụ.

Võ Phiến là một trong những người đầu tiên có công xây dựng nền văn học Việt Nam Hải Ngoại, chủ trương tập san Văn Học Nghệ Thuật từ 1978 đến 1979, rồi từ 1985 đến 1986. Tờ Văn Học Nghệ Thuật của Võ Phiến là nguyệt san văn học có uy tín đầu tiên tại hải ngoại, là tiền thân của tờ Văn Học mà sau này Nguyễn Mộng Giác tiếp nối. Văn Học Nghệ Thuật đã mở dầu cho một trào lưu văn học đích thực mà sau này trở thành Văn Học Việt Nam Hải Ngoại, hội tụ những cây bút cũ và mới, tạo ra một lớp người viết và người đọc tham dự vào văn chương tiếng Việt.

Từ tháng 7/1994, Võ Phiến nghỉ hưu nhưng vẫn viết, hiện ông sống tại Quận Cam, California, Hoa Kỳ.

Ông là tác giả của trên dưới 30 tác phẩm gồm đủ mọi thể loại: thơ, truyện ngắn, truyện dài, tùy bút, tiểu luận, tạp luận, biên khảo, phê bình, dịch thuật.

Tác phẩm đã in:

Tiểu thuyết: Giã từ (Bách Khoa, Sài-gòn, 1962), Một mình (Thời Mới, 1965), Đàn ông (Thời Mới, 1966), Nguyên vẹn (Người Việt, California, 1978).

Truyện ngắn: Chữ tình (Bình Minh, Quy Nhơn, 1956), Người tù (Bình Minh, 1957), Mưa đêm cuối năm (Tự Do, Sài-gòn, 1958), Đêm xuân trăng sáng (Nguyễn Đình Vượng, 1961), Thương hoài ngàn năm (Bút Nghiên, 1962), Về một xóm quê (Thời Mới, 1965), Truyện thật ngắn (Văn Nghệ, California, 1991).

Tùy bút: Thư nhà (Thời Mới, 1962), Ảo ảnh (Thời Mới, 1967), Phù thế (Thời Mới, 1969), Đất nước quê hương (Lửa Thiêng, 1973), Thư gửi bạn (Người Việt, California, 1976), Ly hương (in chung với Lê Tất Điều, Người Việt, California, 1977), Lại thư gửi bạn (Người Việt, 1979), Quê (Văn Nghệ, 1992).

Tiểu luận: Tiểu thuyết hiện đại (bút hiệu Tràng Thiên, Thời Mới, 1963), Văn học Nga Xô hiện đại (Thời Mới, 1965). Tạp bút, ba tập (Thời Mới, 1965-66), Tạp luận (Trí Đăng, 1973), Chúng ta qua cách viết (Giao Điểm, 1973), Viết (Văn Nghệ, 1993), Đối thoại (Văn Nghệ, 1993).

Biên khảo: Văn học miền Nam tổng quan (Văn Nghệ, 1986), Văn học miền Nam, 6 tập, gồm 3 tập về truyện, 1 tập ký, 1 tập kịch – tùy bút và 1 tập thơ (Văn Nghệ, 1999).

Dịch thuật: Hăm bốn giờ trong đời một người đàn bà (Stéfan Zweig) (Thời Mới, 1963), Các trào lưu lớn của tư tưởng hiện đại (André Maurois) (Thời Mới, 1964), Truyện hay các nước, 2 tập, cùng dịch với Nguyễn Minh Hoàng (Thời Mới, 1965), Ông chồng muôn thuở (Dostoïevski) (1973).

Toàn bộ tác phẩm Võ Phiến được in lại trong Võ Phiến toàn tập, 9 cuốn (Văn Nghệ, 1993).

Võ Phiến không phân biệt rõ ràng giữa tiểu thuyết và truyện ngắn, giữa truyện ngắn và tùy bút. Truyện ngắn của ông thường là truyện dài viết ngắn. Có những truyện ngắn lại được ông xếp vào loại tùy bút. Cho nên việc phân chia thể loại trong tác phẩm của Võ Phiến chỉ có tính cách tương đối.

Tuy viết nhiều thể loại, nhưng sở trường của Võ Phiến là truyện ngắn, truyện dài và tạp văn (tiếng chúng tôi tạm gọi chung cho tùy bút, tạp bút và tạp luận của Võ Phiến). Thơ ông không quan trọng so với văn và ông cũng không chuyên về biên khảo phê bình.

*

Là một trong những nhà văn hàng đầu của miền Nam, Võ Phiến có chỗ đứng và lối sống biệt lập, không theo thời thượng. Nề nếp công chức, chừng mực, ít tham dự các phong trào đổi mới, không theo nhịp sống hoa lệ của Sài gòn ban đêm, ông viết: “Không có xi nê, đánh bài, bơi lội, cải lương… gì hết. Quanh năm tôi ít trông thấy Sàigòn ban đêm. Chỉ có đọc, và thỉnh thoảng thấy cần len lỏi, vu vơ trong các ngõ hẻm” (Tạp bút, trang 407).

Thời 55-60, những trào lưu mới của văn học Tây phương rất thịnh hành ở miền Nam, Võ Phiến đọc nhiều, ông nghiên cứu tiểu thuyết hiện đại và viết cả một cuốn tiểu luận về vấn đề này, nhưng trong sáng tác, ông không chịu ảnh hưởng rõ ràng một ai hoặc trường phái nào. Giữ phong cách một nhà văn độc lập, gần như cổ điển: ở truyện ngắn, truyện dài, giọng cân nhắc, chặt chẽ, mô tả tỷ mỉ, đôi chỗ tỏ ra quê mùa, khề khà thô vụng. Trong tùy bút ông buông thả hơn, giọng hóm hỉnh pha trò, có chỗ mỉa mai cay độc.

Ở miền Nam những năm 60, khi lớp trẻ đọc thơ Nguyên Sa, hát Tiễn em của Phạm Duy, Cung Trầm Tưởng… thì Võ Phiến đưa ra những nhân vật quê mùa, tầm thường, như anh Bốn Thôi, ông Ba Thê Đồng Thời, chị Bốn Tản, Bốn Chìa Vôi, những thân phận lạc loài, không hẫp dẫn, chẳng ai bận tâm, mất thì giờ mô tả. Đó là những mảnh vụn, thừa thẹo của xã hội, sống âm thầm như chưa hề có mặt. Võ Phiến chiếu xuống từng mảng thân xác và tâm hồn ấy, ông banh bét ra, ông đi vòng vo quan sát, nhẩn nha trò truyện. Người nóng tính bực mình, chờ đợi một cái gì ghê gớm xẩy ra thì chẳng bao giờ thấy. Cho nên thời 55-75, ở trong nước, Võ Phiến không phải là một nhà văn ăn khách.

1975, di tản sang Hoa Kỳ, uy thế văn học của ông đổi khác. Người ta tìm đọc Võ Phiến. Trước hết, vì Võ Phiến là người tiên phong khơi lại nền văn học đang bị xoá sổ ở quê nhà; thêm nữa, nhà xuất bản Văn Nghệ của Võ Thắng Tiết in lại toàn tập Võ Phiến, trường hợp duy nhất tại hải ngoại, lần này sách bán chạy, nhiều người cầm bút hết lời ca ngợi. Nhưng lý do sâu xa nhất của sự biến đổi tâm lý trong lòng người đọc đối với tác phẩm của Võ Phiến là khi đã bị tróc rễ, đắm thuyền, mất hết cả, chỉ còn lại độc một chiếc áo vá trên vai, người ta mới thấy quý mến và trân trọng nó. Tác phẩm của Võ Phiến đối với người Việt di tản, như manh áo rách cuối cùng còn lại trên thân sau cuộc đổi đời, như bữa cơm đầu sau những ngày đói khát trên biển. Lạc loài, bơ vơ trên đất khách, không thể bám víu vào nguồn cội nào, những cụ già bị bấn ra khỏi nước đứng xếp hàng trước một tiệm chạp phô ở Paris để mua vài miếng trầu, miếng vỏ bỏ mồm. Trong cơn thèm khát quê hương thấu suốt thịt da, người ta chỉ còn biết bám vào hũ mắm cua chua, vào quả ổi tầu, vào chiếc bánh tráng Bình Định để ăn lai rai, ăn hàm thụ, mỗi ngày một miếng qua tác phẩm của Võ Phiến.

Tác phẩm của Võ Phiến chiếu vào phần u uẩn, khuất lấp trong tâm hồn những người dân tầm thường, quê mùa như ông Bốn Tản (Lẽ sống) chị Bốn Chìa Vôi (Chim và rắn), anh Bốn Thôi (Lại thư nhà), ông Ba Thê Đồng Thời (Giã từ), những thân phận lạc lõng, thừa thẹo, rách rưới, sống ngoài lề xã hội, trong một quê hương mà chiến tranh có thể tàn phá được tất cả, trừ những hũ mắm, những hạt trà… Đó là phần tinh túy nhất trong nước cốt quê hương, là mùi dân tộc mà nhà văn cất ra được dưới giọng văn khề khà, thô lậu, với nghệ thuật miêu tả tinh vi.

Những nhân vật của Võ Phiến khởi đi từ ký ức tuổi thơ của một cậu bé lớn lên trong thế giới đàn bà, bà nội và các cô, ở miền quê Bình Định; rồi từ Bình Định, phiêu bạt đi nơi khác, trôi dạt như chính bản thân ông trong các chuyến đi, chuyển nhà, chuyển ở.

Tác phẩm của Võ Phiến thầm kín nói lên những chua xót không nói ra được, làm bật những nín thinh của kẻ suốt đời tìm kiếm những mất mát của chính mình qua độc thoại mà không ai đối thoại. Tác phẩm của ông chiếu vào sự vong thân của con người khi phải bứt khỏi nguồn cội.

Ở những truyện thật hay như Người tù (1955), Dung (1956), Lỡ làng (1956), Anh em (1957), Thác đổ sau nhà, Lẽ sống (1958), Chim và rắn (1967), … ông có cái nhìn soi mói vào những chỗ hiểm hóc nhất về tâm lý và dục tính của con người. Nghệ thuật của Võ Phiến chủ yếu nằm trong sự mô tả.

Ở những truyện Lỡ làng, Anh em, Thác đổ sau nhà, Lẽ sống, chân dung con người được hình thành qua những ẩn ức dục tính. Trong truyện Dung, ông mô tả những động tác của một nhân vật trong bữa ăn, và qua cách gắp, cách nhìn, cách lựa món, Võ Phiến làm bộc lộ cái bản năng sâu kín nhất của con người. Trong truyện Người tù, ông mô tả một thanh niên biết mình sắp chết nhưng chưa được hưởng lạc thú thể xác, kể ra những fantasme, những tưởng tượng, để lừa người nghe và lừa mình. Truyện Chim và rắn mổ xẻ sự xuống cấp dần dần của một người đàn bà quê mùa tốt bụng ngây thơ như chim, sau nửa thế kỷ lặn lội trong chiến tranh và thù hận, trở thành rắn.

Con người luôn luôn muốn che đậy sự thật về mình, giấu mình dưới vỏ bề ngoài. Võ Phiến có khả năng lật tẩy cái bên trong con người bằng cách chỉ nhìn và ghi những gì phát tiết ra ngoài. Những ám ảnh nội tâm, những mặc cảm, những bản năng, những khát vọng… chẳng qua chỉ là phần chìm của tảng băng mà bề nổi có thể chụp bắt được. Nhưng phải làm sao chụp đúng lúc, phải bắt quả tang. Võ Phiến luôn luôn bắt quả tang đúng lúc cái giây phút con người sơ hở để lộ mặt thật của mình. Người ta thường nói Võ Phiến sắc sảo: sự sắc sảo của ông chính là ở chỗ đó: Ông bắt trúng, bắt quả tang, trong khi người khác cũng rình mà đôi khi không bắt được gì cả.

Nhà văn duy vật, vô thần

Sự mô tả chi li và ẩn ức tính dục

Truyện của Võ Phiến chiếu vào nội tâm u uẩn của con người, bằng nhiều cách, qua hai lối viết khác nhau: Giai đoạn đầu, truyện viết theo lối cổ điển, nhà văn đứng ngoài mô tả. Giai đoạn sau, ông vào trong da thịt của nhân vật.

Tâm lý là phần sâu nhất trong tác phẩm của Võ Phiến, nhưng ông không phân tích tâm lý theo lối truyền thống, mà trình bày theo lối hiện đại, tức là tâm lý được phát hiện qua cử chỉ, qua cách ăn nói, qua hành động và thái độ sống, tất cả nghệ thuật này được thực hiện qua sự mô tả chi li.

Tìm hiểu Võ Phiến là tìm hiểu về sự chi li này. Võ Phiến đọc nhiều và nghiên cứu khá kỹ về văn học hiện đại thế giới. Tuy ông cho rằng ông chịu ảnh hưởng Marcel Proust, nhưng đọc kỹ, thì cái chi li trong văn ông không giống cái chi li tìm thấy trong ký ức thơ mộng của  Proust mà gần với cái chi li hiện thực Hồ Biểu Chánh cộng thêm những yếu tính tiểu thuyết mới và những ẩn ức dục tính của Freud. Nói cách khác, văn phong Marcel Proust dựa trên tâm tưởng và đầy chất thi ca, Proust nghiêng về nghệ thuật và đời sống tinh thần, trong khi Võ Phiến chiếu vào hiện thực sinh tồn, vào cử chỉ đích thị, vào đời sống thể xác, vật dục.

Võ Phiến ảnh hưởng ai và ảnh hưởng như thế nào? Đó là những câu hỏi lý thú.

Có thể nói văn ông, ngoài những nét đặc thù Võ Phiến mà chúng ta sẽ xác định sau, còn có những yếu tố khác: có Freud trong cách trình bày ẩn ức tính dục. Có Nhất Linh trong việc đặt tên nhân vật, những Bốn Thôi, những Ba Thê Đồng Thời của Võ Phiến rất bà con với những ông Năm Bụng, Ông Giáo Đông Công Đức Tin Lành của Nhất Linh trong Xóm Cầu Mới, và cách lấy một phần của thân thể làm biểu tượng cho toàn diện, cũng rất Nhất Linh. Có Hồ Biểu Chánh trong lối mô tả chi tiết và sử dụng tiếng Việt. Có ảnh hưởng hiện sinh qua cách dùng hành động để xác định tâm lý và bản chất của nhân vật. Có Nathalie Sarraute trong cách mô tả hiện tượng trong tiểu thuyết mới, nhưng Sarraute chỉ nhắm vào hiện tượng bằng cái nhìn khách quan để ghi lại toàn diện sự thể mà không muốn «nói lên» một cái gì. Trong khi Võ Phiến soi tỏ hiện tượng để nói lên ẩn ức tính dục, ẩn ức tham lam trong nội tâm nhân vật. Tất cả những yếu tố tạm gọi là ảnh hưởng này, Võ Phiến đã nghiền nát trong tác phẩm, chúng đã bị Võ Phiến hoá, chúng đã trở thành bản chất của Võ Phiến, cho nên phải dùng kính hiển vi mới thấy được.

Trọng tâm các truyện hay của Võ Phiến luôn luôn chiếu vào nội tâm con người: con người bị hoành hành, bị dằn vặt bởi những yếu tố ở trong và ở ngoài mình. Yếu tố ở ngoài là hoàn cảnh, là môi trường: môi trường chiến tranh, hoàn cảnh bị bật rễ ra khỏi quê hương. Yếu tố bên trong, mới thực sự quan trọng, tức là phần thân xác, phần đòi hỏi của các cơ năng, các nhu cầu vật chất, đưa đến những hành động và cách sống, đưa đến sự sa đọa.

Trái ngược với những người chủ trương tinh thần làm chủ vật chất, những nhân vật của Võ Phiến bộc lộ phần bản năng, phần cơ thể, và chính phần đó mới làm chủ mọi sinh hoạt của con người. Và đó cũng là nền tảng tư tưởng của Võ Phiến.

Vì vậy, có thể nói Võ Phiến là nhà văn duy vật đầu tiên của Việt Nam, thực sự duy vật. Ông trình bày bản tính thâm sâu của con người qua những cử chỉ ăn uống bài tiết, tiêu hoá, sinh lý mà không hề bận tâm lo lắng đến phần tâm linh, tâm hồn, thường được coi là linh thiêng, cao cả, đối với người Việt. Không ai còn lạ gì sự chống Cộng triệt để của Võ Phiến, nhưng lại cũng không ai nhận ra tính chất duy vật gần như tuyệt đối trong tác phẩm của Võ Phiến. Và đó chính là cái mâu thuẫn sâu xa nhất trong tư tưởng của con người, nó nằm trong vô thức như một sự chống lại chính mình mà nhà văn không hề hay biết.

Ngay trong truyện ngắn Dung, in năm 1956, đã xuất hiện những yếu tính đặc thù này.

Nhận xét đầu tiên: trong Dung, Võ Phiến đã dùng hoán dụ như một thủ pháp tài tình. Nghiã là ông lấy một phần rất nhỏ của cơ thể để biểu dương toàn diện. Việc này trong thuật ngữ văn chương người ta gọi là làm một phép hoán dụ, thí dụ trong câu Chinh phụ ngâm: “Khách má hồng nhiều nỗi chuân chuyên”, tác giả lấy hai chữ “má hồng” để chỉ toàn diện người đàn bà đẹp. Thủ pháp này Tolstoï hay dùng trong văn, ví dụ khi tả cái chết của Anna Karénine, Tolstoï chỉ cho thấy chiếc ví tay của nàng rơi vãi tung toé. Nhất Linh rất thích phương pháp này của Tolstoï và ông cũng đã áp dụng tài tình khi tả Thu nằm ngủ hở cánh tay trong Bướm trắng. Đến Võ Phiến sức biến ảo lại khác lạ hơn nữa. Chúng ta thử xem cách ông giới thiệu cánh tay như một toàn thể quyến rũ như thế nào, ông viết:

“Bức hình lớn đàng xa kia vẽ thái tử Sĩ-đạt-ta bước vào phòng nhìn vợ một lần cuối cùng trước khi từ giã kinh thành ra đi. Trong phòng không có ngọn đèn nào, người đàn bà nằm ngủ thiêm thiếp dưới ánh sáng của ban ngày. Tiếp theo đó là bức hình vẽ đức Phật trầm tư dưới gốc bồ đề. Rồi trên tấm hình lóe sáng này là thái tử đưa lưỡi gươm lên tự cắt món tóc trên đầu mình trong lúc hai kẻ gia nhân đang xuống ngựa quỳ trước mặt xin rước người về. Mới nhìn lần đầu vào bức tranh này Phương đã chú ý đến hai cánh tay của đức Phật và cho đến bây giờ, mỗi lần quay về phiá ấy là anh lại nhớ đến hai cánh tay mềm mại, tròn nung núc và đỏ hồng hồng, hai cánh tay con gái quá đẹp. Trông thấy cánh tay ấy huơ lên chỉ có thể nghĩ là trong một điệu múa, có ai ngờ là vung gươm trong một cử chỉ dứt khoát, đoạn tuyệt với cõi đời phàm tục.” (Dung, trong tập Truyện ngắn 1, trang 24)

Cánh tay của đức Phật, có lẽ là lần đầu tiên được đưa vào tiểu thuyết một cách «gợi cảm» như thế, được ngắm nghía kỹ càng và thấy toát ra mùi vị con gái «hấp dẫn» như thế. Nhưng chưa hết, cánh tay ấy lại dẫn Phương liên tưởng đến một cánh tay khác:

“Hôm ấy anh nhìn qua cửa sổ, thấy Dung đang chải tóc, mặc chiếc áo cánh trắng, để trần hai cánh tay. Hôm ấy mới cách hôm nay có một tuần lễ. Hình ảnh còn rõ rệt quá. Tiếng con ngỗng kêu, mùi lá ướt của bờ rào chè răng cưa, mùi lá mục, đất ẩm bên đường đi, hình chiếc áo căng thẳng ở sau lưng và những nét dun lại trên vai áo Dung khi hai tay vươn lên đầu chải tóc…, tất cả, anh vụt thấy, nghe, ngửi lại được tất cả buổi mai hôm đó” (trang 24).

Võ Phiến vừa buông ra thủ pháp nghệ thuật đầu tiên của ông, đồng thời cũng đưa ra những ý nghĩ táo bạo đầu tiên của một nhà văn vô thần, gần như phạm thượng đối với đức Phật. Tuy vậy những điều ông viết ra hoàn toàn có lý và dựa trên sự thật, không có gì bổ báng cả. Những ai tinh ý đều nhận thấy những bức tranh vẽ đức Phật Thích Ca, khi còn là thái tử, thường có những nét rất con gái. Điều này phù hợp với cách biểu hiện các vị thần linh, ở Ấn Độ. Thật vậy, các vị thần như Vishnou hay Shiva, dù là đàn ông, nhưng thường được vẽ dưới nét đàn bà. Nhưng sự táo bạo phi thường của Võ Phiến là ông không chỉ dừng ở chỗ nhận ra cánh tay đức Phật giống con gái, mà ông còn nối kết cánh tay “tròn nung núc và đỏ hồng hồng” của đức Phật, với “cánh tay trần của Dung”, khơi trong đầu Phương những thức động dục tình lúc anh ta thấy Dung ngồi lễ Phật. Ở đây, sự thức động dục tình đến từ một bức tranh, tranh… Phật.

Một đoạn khác, Võ Phiến viết về bữa ăn, như sau:

“Tôi chưa thấy ai có lối ăn uống tàn bạo và bủn xỉn như hắn. Tiếc rằng những nét ấy không biểu lộ trong cặp mắt.

Vừa đối diện với mâm cơm, bằng một cái liếc rất nhanh, hắn đã định ngay được giá trị từng món ăn, chọn ngay được món ăn ngon nhất. Và từ đầu đến cuối bữa ăn hắn tấn công vào trọng tâm một cách kiên nhẫn, tàn bạo, nhưng khôn ngoan lạ kỳ. Có nhiều người đang ăn vụt chú ý đến món mà mình thích nhất gắp liền năm bẩy miếng, ăn lia liạ. Những người ấy hoặc quá thật thà hoặc lơ đãng; đôi khi lại là những người chăm nói chuyện, mà ít quan tâm đến việc ăn. Có người gắp quàng xiên tùy hứng không suy nghĩ. Có người tình toán rất công bình. Những người già những người bác nhược ăn uống yếu đuối thường ngập ngừng đưa đôi đũa lưỡng lự giữa mâm. Hạng lớn tuổi có khi tự do, thân mật đến lẩm cẩm, phóng đôi đũa ra sát mâm rồi mới chọn lựa. Ngọn đũa của thanh niên quyết định nhanh chóng không dè dặt. Người tỉ mỉ hay sửa soạn, tém vén kỹ lưỡng miếng đồ ăn trước khi bưng chén lên và. Mỗi người có một lối ăn. Riêng hắn thì hắn không tham lam một cách thực thà, không bao giờ gắp liên tiếp đôi ba lần món ăn ngon nhất. Nhưng hắn không có một phút lơ đãng. Hắn tính toán chu đáo, gắp khắp các đĩa, nhưng tổng kết lại thì thế nào cũng gắp được món ngon nhiều hơn cả. Và hắn theo dõi ngọn đũa của tất cả các thực khách, không dung thứ cho một người nào hơn mình. Hắn cạnh tranh kín đáo nhưng ráo riết. Hắn bực mình nhất là gặp phải kẻ lơ đãng. Kẻ lơ đãng đôi khi thình lình tấn công liên tiếp vào món ăn ngon, như một cua-rơ tự nhiên bức phá, làm cho hắn phải ra sức đuổi theo kèm sát. Có để ý đến thái độ của hắn trong những trường hợp này mới thấy hắn khéo léo thần tình. Hắn lầm lì như không hề quan tâm chú ý đến đối phương nhưng hắn suy tính chín chắn và phản công trả đũa, chận đứng đối phương rất nhẫn tâm. Bình thường thì ngọn đũa trí trá của hắn thu lại đầy ý thức chuẩn bị, rồi đột nhiên vụt phóng ra nhanh nhẹn lạnh lùng như một con cò già lão luyện phóng mỏ bắt ruồi, trăm lần không sai đích một lần.” (Dung, trang 35-36)

Đoạn văn trên đây trình bày toàn diện thủ pháp nghệ thuật và chiều hướng tư tưởng của Võ Phiến: Con người bày tỏ bản ngã trong bữa ăn qua thủ đoạn và cách tấn công vào các món. Đôi đũa được coi như vũ khí chiến đấu. Cục diện bữa ăn được mô tả như một trận chiến mà các đối thủ tàn sát nhau trong ván cờ người. Cách tiến thủ của đôi đũa được bày bố như cách thối lui của các lưỡi gươm, các tay súng trận.

Nhà văn thường tách rời hai địa hạt mô tả và địa hạt bàn luận: đã mô tả thì không bàn luận và đang bàn luận thì tránh mô tả. Cách mô tả của Võ Phiến rất đặc biệt, ông vừa tả vừa luận. Rất ít nhà văn làm như thế bởi vì làm như vậy rất khó, pha trộn hai thể loại khác nhau, văn dễ bị sống, luận ra đằng luận, tả ra đằng tả. Đằng này Võ Phiến thành công một cách thần tình: Ông vừa buông ra câu tả cách gắp của người lớn tuổi, chen ngay sau đó là câu luận về cách gắp ấy để rút ra một nhận định về tính tình kẻ gắp.

Võ Phiến sử dụng tinh vi đôi mắt nhà văn qua hai yếu tố: cái nhìnlối nhìn. Nhưng ông không chỉ dừng lại ở đôi mắt nhà văn mà ông còn sử dụng tất cả những đôi mắt khác mà nhà văn bắt gặp trong các nhân vật. Nếu tiểu thuyết mới, còn được gọi là Ecole du regard, Trường phái cái nhìn thì đây, Võ Phiến cũng đã lập ra một trường phái nhìn riêng biệt của mình, ngay từ năm 1956, và ông dùng cái nhìn trong một dụng ý hoàn toàn khác với tiểu thuyết mới : Tiểu thuyết mới dùng cái nhìn để mô tả hiện tượng theo quan điểm triết học hiện sinh, tức là để chứng minh sự hiện hữu của thực thể, nó lù lù ra đấy, nó như thế đó, nó không đi từ một bản chất nào có sẵn, bởi hiện hữu có trước bản chất. Trong khi Võ Phiến dùng cái nhìn để soi mói vào bản chất tham lam, bản chất ghen tuông, đố kỵ của con người. Và theo ông tất cả những gì thúc đẩy hành động của con người, đều nằm trong hai đòi hỏi chính của thân xác, là ăn uống và sinh lý.

Võ Phiến cũng không chỉ dùng đôi mắt của mình để soi mói nhân vật mà ông còn bội phân đôi mắt ấy lên nhiều lần, tức là ông dùng mắt mình để theo dõi nhân vật, rồi ông dùng mắt của nhân vật này chiếu vào nhân vật khác. Sự chiếu qua chiếu lại giữa các nhân vật gây ra những ánh mắt phản hồi, tương tác, đối tác, cộng hưởng… do đó có thể nói Võ Phiến đã tìm cách thay đối thoại miệng bằng đối thoại mắt trong sinh hoạt của con người. Những gì sâu lắng thường không nói ra được, chỉ có thể cảm thấy và biểu thị bằng ánh mắt.

Tóm lại, hai yếu tố chính xây dựng nên nghệ thuật của Võ Phiến là con mắtchi tiết, và những chi tiết nào đáng chú ý nhất đối với ông? Đó là những điểm trên thân thể con người: từ cánh tay nõn nà của đức Phật, hay cánh tay trần của Dung, đến đôi mắt cú vọ của Bình xoáy vào mâm cơm, hoặc sợi lông mũi hay vết nẻ trên gan bàn chân của anh Bốn Thôi… tóm lại, những chi tiết tầm thường nhất trên thân thể con người, không mấy ai chú ý, đều được Võ Phiến chiếu kính hiển vi vào và ông đã làm nên truyện lớn.

Bốn tác phẩm cột trụ : Giã từ, Lại thư nhà, Một mình Đàn ông

Võ Phiến thật sự bước vào nghiệp văn sau 1954. Khoảng thời gian đầu từ 1955 đến 1959, ông còn ở Quy Nhơn, cũng là thời gian phát triển truyện ngắn, tác phẩm thường được xây dựng trong bầu khí tối sáng, tranh chấp giữa quốc gia và cộng sản. Tuy vậy, yếu tố chính trị chỉ là nền, mục đích chính của ông là làm lộ cá tính nhân vật, thể hiện sự giằng co giữa cá nhân và thân xác như trong các tác phẩm Người tù (1955), Dung (1956), Thác đổ sau nhà (1957) v.v ..

Giai đoạn hai, Võ Phiến chuyển nền chính trị sang nền ly hương, và trong thời gian này ông phát triển truyện dài. Tác phẩm Giã từ viết năm 1960, mở đầu cuộc ly hương của Võ Phiến: rời Bình Định vào Sài Gòn năm 1959. Ông mô tả cái đớn đau của những kẻ sống ngoài lề xã hội, những kẻ bị đánh bật rễ. Nhân vật Ba Thê Đồng Thời trong Giã từ sống như một ký sinh trùng, ăn nhờ vào kẻ khác, gió chiều nào cũng ngả, một kẻ mất gốc mang những u uất của con người trực diện với chiến tranh, tha hoá tột độ, tìm cách sống còn.

Giai đọan thứ ba: Phi thời gian. Từ 1965 trở đi, một số nhân vật tiểu thuyết của Võ Phiến thoát khỏi môi trường chiến tranh hoặc ly hương, để đứng riêng như những con người trần trụi, trực diện với nội tâm. Võ Phiến đã viết những tác phẩm giá trị như Một mình (1965) Đàn ông (1966). Trong Một mình lấp ló ảnh hưởng triết học hiện sinh, Một mình là một thứ Buồn nôn của Võ Phiến: Con người nhận diện chính mình trong sự cô đơn gần như tuyệt đối.

Ở hải ngoại, Võ Phiến viết truyện dài Nguyên vẹn in năm 1978 về cuộc ly hương thứ nhì: từ Sài Gòn sang Mỹ. Nhưng Nguyên vẹn không đạt được nghệ thuật ở những tác phẩm trước, Võ Phiến đã không tạo được “không khí” Sài Gòn sau 75, có lẽ vì lúc đó ông đã đi rồi; hơn nữa, Võ Phiến không thoải mái trong những bối cảnh rộng lớn với nhiều nhân vật.

*

Nghệ thuật của Võ Phiến bộc lộ trong những không gian nhỏ, khép kín, từ truyện ngắn đến truyện dài. Có thể nói, bốn tác phẩm Giã từ, Lại thư nhà, Một mình, và Đàn ông, đã tạo nên sườn chính của tư tưởng và nghệ thuật Võ Phiến. Mỗi tác phẩm mang một sắc thái, nhưng đều đạt đến đỉnh cao nghệ thuật, một nghệ thuật tỉ mỉ, sâu sắc. Ngòi bút ông xoáy sâu vào những cử chỉ nhỏ nhặt, vô nghĩa nhất để vẽ nên toàn bộ con người. Thế giới nhân vật của ông được hình thành qua những chân dung rõ nét, cá tính bộc lộ sâu sắc, luôn luôn bị dày vò trong ám ảnh nhục dục. Về mặt tư tưởng, Võ Phiến đi sâu hơn nữa về phía vô thần và duy vật. Về cách thể hiện, ông chuyển từ lối viết truyền thống, sang lối viết hiện đại hơn, tức là ông không còn đứng ở vị trí bên ngoài của người kể chuyện mà dần dần ông thâm nhập vào trong da thịt nhân vật để mô tả. Giã từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên, một truyện vừa, khoảng 80 trang, là sự bắc cầu giữa hai lối viết truyền thống và hiện đại. Lại thư nhà, hơn 60 trang, là tác phẩm chủ yếu, cô đọng không gian Võ Phiến, đưa chúng ta vào thế giới những nhân vật của ông. Đàn ông, chiếu vào những nhân vật ấy, nói đúng hơn là những người đàn ông ấy, qua con mắt của Chị Lê, người đàn bà làm điếm, nhìn khách hàng của mình dưới những khía cạnh trần trụi nhất. Chị Lê tìm ra “cái chung” của đàn ông: trong bất cứ hoàn cảnh nào, vẫn là nhục dục, chỉ là nhục dục, là cõi mà họ tự do nhất, cõi mà họ sống thật nhất với chính mình. Một mình phân tâm nỗi cô đơn bệnh hoạn của con người khi chỉ còn có mình đối diện với chính mình.

Võ Phiến dùng những nhận xét tế vi, lấy chi tiết làm nên đại sự, để thăm dò lòng người dưới nhiều hình thức: Bằng phân tâm của Freud chiếu vào nội tâm u uẩn, ẩn ức tính dục của nhân vật. Bằng biện pháp hoán dụ, ông chiếu rọi vào một phần của cơ thể, để nói lên ẩn ức dục tính toàn diện của con người, những người sống ngoài lề xã hội, từ người tù đến gái điếm, từ già đến trẻ. Nhờ ảnh hưởng triết học hiện sinh, con người nhìn lại chính mình, không ai thoát khỏi sự cô đơn. Với những chi tiết chằng chịt, Võ Phiến dệt nên cấu trúc nội tâm phức tạp và bi đát của con người.

*

Lại thư nhà tiêu biểu cho cấu trúc toàn bộ tiểu thuyết của Võ Phiến. Không hiểu sao ông lại xếp Lại thư nhà vào loại tùy bút. Thực ra, đây là một truyện vừa và cũng là tác phẩm nền móng, xây dựng nên vũ trụ tiểu thuyết của ông, với nhân vật Bốn Thôi. Lại thư nhà tạo ra không khí và bối cảnh Võ Phiến, thế giới của những kẻ ở ngoài lề. Bốn Thôi tuy ở trong xứ, nhưng đã bị cách ly với người khác, với thế giới chung quanh. Bốn Thôi là kẻ ly hương trong thân phận mình, là đại diện sâu xa nhất cho những kẻ sau này phải bỏ nguồn cội đi tha phương cầu thực

Lại thư nhà, tuy được tác giả xếp vào loại tùy bút, nhưng chỉ vài trang đầu tạm có tính tùy bút: ông bàn phiếm về vài câu ca dao Bình Định và giới thiệu món mắm cua chua, đặc sản Bình Định. Đó là những trang vào truyện, để giới thiệu anh Bốn Thôi và người vợ thứ hai có “bàn tay quý giá” biết làm mắm cua chua.

Thế giới Võ Phiến bắt đầu từ nhân vật Bốn Thôi, nhưng bắt nguồn từ người bà: Bà tôi. Hình ảnh bà nội Võ Phiến, người đã nuôi ông từ thuở nhỏ. Bà tôi với cái dĩ vãng “tối lờ mờ” mỗi lần kể lại một mảng chuyện cũ bao giờ cụ cũng bắt đầu bằng hai chữ “mọi lần”. Cứ mỗi lần có “mọi lần” là lại có chuyện. Và trong những “mọi lần” như thế một nhân vật mới lại xuất hiện, mỗi thứ có một bản sắc, một sự tích riêng. Chính ở những “mọi lần” đó, phát sinh Võ Phiến, nhà văn duy vật đích thực đầu tiên của Việt Nam. Bà là nguồn, cháu là động cơ phát xuất nhân vật.

Những nhân vật ấy là ai: Là ông bá hộ Thành, là bà cử Tạ, là ông tú Từ Liêm… nhưng còn có thể là những thứ khác hẳn, như mắm, chẳng hạn. Mắm cũng từ bà:

“Trong thuả “mọi lần” như thế, rập rình rất nhiều ông tú ông cử, những người từng làm vinh dự cho “gánh” họ Huỳnh của bà tôi. Tuy nhiên tôi chú ý nhất đến các món đồ ăn. Đồ ăn của “mọi lần” có những món kỳ quặc. Bà tôi kiêu hãnh kể rằng bà đã từng có thể dùng bột trắng pha màu rực rỡ bắt hình bánh cỗ đồ bát bửu: bầu rượu, cây bút, cái tù và…, đã từng luộc những con gà và sửa soạn cho chúng nó thành hình ngư, tiều, canh, mục…, đã làm những chiếc bánh tét nhân chữ hạnh, chữ thọ, màu đỏ màu xanh, đã gói những cuốn chả mà khi cắt ra mỗi lát đều có hoa đỏ hoa vàng v.v… (…)

Nhưng tại sao bên cạnh những cầu kỳ sang trọng như vậy, “mọi lần” cũng lại dung nạp rất nhiều mắm? Cảnh đói khổ với những điều xa xỉ của chỗ quyền quý kia làm cách nào mà tiếp xúc nhau mật thiết, dung hòa với nhau? Bà tôi làm sao có thể tưởng nhớ đến con gà Lã Vọng lại vừa có thể thông thạo và tha thiết với các món mắm mặn? Đó là chỗ mâu thuẫn (…)

Về già, đáng lẽ bà được hoàn toàn thảnh thơi, không phải lo lắng gì nữa về sự sinh sống trong gia đình, thì rốt cuộc bà tôi vẫn có hai mối bận rộn, đó là rác và mắm”. (Tùy bút 2, trang 66-67)

Bà chính là nguồn cội các sự thể và nhân vật. Bà cụ suốt đời chỉ chăm có hai chuyện: ăn uống và rác rưởi, như thể phần dạ dày và phần phế thải là hai lo toan chính của bà cụ. Bà cụ chính là mẹ đẻ của tâm hồn duy vật. Bởi bà cụ đã chú ý đến cái thiết yếu nhất của con người là cái dạ dày. Bà vừa là ngọn nguồn của mắm, làm ra mắm, vừa phản ảnh tâm hồn thực tiễn của người Bình Định nói riêng và người Việt Nam nói chung. Anh Bốn Thôi sở dĩ được bà cụ chú ý đến bởi vì trong sáu người vợ của Bốn Thôi chỉ có mỗi mình chị Lộc, người vợ thứ hai biết làm mắm.

Như thế có thể nói rằng, trong vũ trụ của Võ Phiến hai yếu tố quan trọng nhất là đàn bà và mắm. Và hai yếu tố này sẽ chi phối toàn bộ tác phẩm của ông, từ tùy bút đến truyện ngắn truyện dài. Và cũng chính ở tác phẩm Lại thư nhà mà chúng ta có thể nhìn thấy phát xuất đó. Trong giang sơn Võ Phiến, người cầm đầu, người cai trị là đàn bà chứ không phải là đàn ông: một vũ trụ mẫu hệ và duy vật, phát sinh từ người bà. Bà tôi.

Trong Lại thư nhà, bà tôi và các cô là thế giới của tác giả. Bên cạnh đó có thế giới Bốn Thôi, cũng lại là một thế giới đàn bà với sáu người vợ liên tiếp. Thế giới thứ nhất dưới quyền đô hộ của bà tôi. Thế giới thứ hai, nổi bật là chị Lộc, người vợ thứ nhì. Chị Lộc kẻ đứng mũi chịu sào cả về vật chất lẫn tinh thần và khi chị Lộc chết, Bốn Thôi trở thành kẻ bất lực hoàn toàn, cả thân xác lẫn tinh thần.

Trong Đàn ông, người lãnh đạo tinh thần là chị Lê và nhân vật sa đọa là ông tú Từ Lâm và những người đàn ông. Võ Phiến dùng cái nhìn của một người đàn bà giang hồ để vẽ chân dung những người đàn ông. Họ đều gặp nhau ở “chỗ ấy”. Từ trẻ (Tạo) đến già (cụ tú Từ Lâm), “mọi đau khổ, cảm xúc, rung động cao thượng hay ham muốn yếu hèn … đều đưa người đàn ông đến chỗ gặp gỡ ấy”. Như thể một khi đã mất hết, dường như đàn ông chỉ còn có sinh lý là cứu cánh. Võ Phiến đã đào sâu xuống những đau khổ, u uất trong những thân phận đàn ông sa cơ, thất vận, phiêu bạt, bị bứt khỏi cỗi rễ của mình. Ông xóa tiệt những ảo ảnh về người đàn ông, từ già đến trẻ, phơi họ trần truồng trực diện với những đớn đau và ham muốn không giải quyết được.

Trong Một mình, nhân vật Hữu là một gã mạnh khoẻ, có công ăn việc làm, nhưng dần dần Hữu đi vào tình trạng bệnh tưởng, suy nhược, mất mình trong một thứ sa đoạ tinh thần không thể nào cứu vãn nổi.

Võ Phiến đưa ra một vũ trụ mà đàn bà luôn luôn làm chủ tình thế ở bất cứ hoàn cảnh nào. Những người đàn bà này thường có đầu óc thực tiễn, họ làm chủ hũ mắm, làm chủ rác rưởi, làm chủ thân xác. Chính họ nắm bộ máy sinh hoạt và sinh dục của đàn ông. Cái thế giới thực tiễn bao gồm các hoạt động phần dưới của cơ thể này có tên là thế giới duy vật.

Võ Phiến hầu như không đả động gì đến các sinh hoạt tinh thần, hoặc khi ông nói đến chỉ là để miả mai châm biếm nội dung những lời bàn phiếm, những cãi vã vô bổ về thời sự của những người đàn ông.

Trong một đất nước chiến tranh, người ta chỉ quen bàn đến các đại sự, đến tổ quốc, đến những lý tưởng cao siêu, hùng khí ngùn ngụt. Nam tính và hùng tính được phô trương mãnh liệt ở cả hai miền đất nước. Võ Phiến đưa ra một thế giới đàn ông, vặt vãnh, ăn bám, bất lực, tê liệt và sa đoạ. Ông đã đi ngược với niềm tin thời đại, chống lại hùng khí chiến tranh và đó là giá trị nhân bản cao nhất mà Võ Phiến đạt được với bức chân dung bi đát của xã hội qua ngòi bút mỉa mai châm biếm chua xót cực cùng.

Sự vong thân của con người khi bị bứt khỏi nguồn cội.

Tiểu thuyết của Võ Phiến chiếu vào sự tha hoá của con người, qua bốn nhân vật tiêu biểu, phản ánh bốn giai cấp: anh Bốn Thôi, trong Lại thư nhà, giai cấp bần nông, ông Ba Thê Đồng Thời trong Giã từ, giai cấp trung lưu tiểu tư sản, ông tú Từ Lâm, trong Đàn ông, giai cấp nhà nho, và Hữu trong Một mình, giai cấp trí thức thành thị.

Nhân vật Ba Thê Đồng Thời trong truyện Giã từ, biểu hiện thành phần tiểu tư sản ăn bám. Ông Ba Thê Đồng Thời không làm cái gì cả, ông chỉ sống vào vốn cũ, tức là cái thời mập mờ chẳng biết theo kháng chiến hay theo Pháp. Cái quá khứ rắm rối của ông, không mấy ai biết rõ, và ông cũng để cho bí mật bao trùm lên cái quá khứ trù phú ấy, như một cái nhà băng riêng và từ đó ông rút tiền ra tiêu dần. Nhờ cái quá khứ nhà băng ấy mà ông có được nhiều người quen tương đối khá giả hoặc làm lớn và cả cuộc đời còn lại, ông viết thư cho những người quen cũ vay tiền, thư ông viết luôn luôn bắt đầu bằng chữ “se a mi” (cher ami). Ba Thê Đồng Thời là sự tha hoá của những người nhập nhoạng, biết dăm ba câu tiếng Pháp, hai mang, bên nào cũng theo, miễn sao trục lợi. Thành phần này có lẽ rất đông trong xã hội, và chính nó đục nước béo cò đã nuôi dưỡng chiến tranh.

Ông tú Từ Lâm trong truyện Đàn bà, biểu hiện môt thành phần khác, thành phần đã qua cửa Khổng sân Trình, biết đôi chữ thánh hiền, để cho người đời trọng vọng. Nhưng nay ông cũng theo thời mới, ông mặc Tây, đeo kính râm, khoác khăn phu la, ông phê bình thời sự, ông nói sử sách kim cổ. Chị Lê, cùng quê Bình Định với ông, là người định mệnh trôi dạt vào Sài gòn, làm điếm. Nếu ông Ba Thê Đồng Thời chỉ ăn bám vào những người có tiền có thế lực, thì ông tú Từ Lâm còn xuống dốc một mức nữa, ông ăn bám cả vào người đàn bà lỡ vận đáng tuổi con cháu ông. Chi Lê nuôi ông, cả cơm ăn lẫn thể xác. Ông tú Từ Lâm là một trong những nhân vật đớn đau nhất mà tiểu thuyết Việt Nam đã sản xuất ra. Một sự xuống dốc cốt cách, trang trọng, gần như trịch thượng của thành phần chữ nghiã thánh hiền. Và như thế Võ Phiến đã gần như tiên đoán được những gì xẩy ra cho thành phần trí thức trong thời điểm về sau.

Trong Một mình, nhân vật chính là Hữu, một công chức thuộc lớp người trung niên, tương đối tân tiến. Hữu khác hẳn hai người trước, anh ta có học, ở thị thành và đi làm trong vị trí xác định, lương bổng vững vàng. Nhưng Hữu cũng không hơn gì những người kia. Vì sao?

Một mình viết năm 1963, không biết ở thời điểm ấy, Võ Phiến tiếp cận triết học hiện sinh như thế nào, nhưng Hữu là nhân vật tiểu thuyết đầu tiên của ông có cái nhìn hiện sinh. Nếu trong cuốn La nausée-Buồn Nôn, Sartre mô tả Roquentin như một nhân vật không ngừng ý thức thấy thân xác mình và ý thức ấy càng rõ, thì anh ta càng cảm thấy ghê tởm. Cảm giác buồn nôn là trạng thái xẩy ra khi con người ý thức được sự hiện hữu của thân xác mình. Sartre thuật lại cái cảm tưởng buồn nôn đó, trong đầu một gã đàn ông, mà sự cô đơn và nhàn rỗi, khiến hắn chú ý đến những dữ kiện sống sượng nhất của đời sống.

Trong Một mình của Võ Phiến không thấy buồn nôn gì cả, nhưng Hữu cũng là một công chức sống dư giả, nhàn rỗi, vì nhàn rỗi nên càng ngày anh ta càng soi thêm vào cái cơ thể mình để xem nó hoạt động như thế nào, và Hữu luôn luôn thấy mình bệnh. Càng ngắm nhìn sờ mó, soi xét thể xác mình, Hữu càng thấy nỗi khó chịu gia tăng, và sự nhận thức của anh ta theo đà kéo sang người vợ và anh ta cũng thấy Quỳnh đáng ghét, nếu không muốn nói là “buồn nôn”, hiểu theo nghĩa của Sartre. Từ đó Hữu quyết định tạm thời ngừng hoạt động sinh lý với vợ trong hai tháng. Võ Phiến theo sát Hữu ngày đêm: từ những câu chuyện vô thưởng vô phạt ban ngày ở sở, ở nhà, đến những suy nghĩ, những động tác đêm hôm trên giường với vợ hay với cô gái điếm. Tất cả được ghi lại hết không bỏ sót mảy may. Hữu càng tiến sâu vào sự sa đọa tinh thần và thể xác, càng thấy rõ mình chỉ có “một mình”, không thể có một thứ “công-tắc” nào khác: không ai hiểu, không ai yêu. Quỳnh làm bổn phận người vợ. Nga cô gái điếm chung đụng với Hữu vì tiền. Sự cô đơn của Hữu, kẻ thấy mình chỉ có độc “một mình” trong thế giới hiện hữu xung quanh, là một thử nghiệm rất mới mà nhà văn đưa ra ở thời điểm 1963.

Nhân vật đặc biệt nhất là anh Bốn Thôi. Bốn Thôi vừa là những dư thừa cặn bã mà xã hội khinh bỉ thải ra, nhưng đồng thời Bốn Thôi cũng lại là căn cước, là linh hồn và thể xác của cái xã hội đó, thậm chí là thần tượng, là anh hùng của xã hội đó nữa. Một xã hội đạo đức giả trốn mình trong các giá trị bệnh hoạn, không tưởng, gọi chung là tổ quốc. Phải bảo vệ tổ quốc. Nhưng thật ra cả hai bên đều xâu xé tổ quốc, đều bắn phá tổ quốc, đều dày xéo tổ quốc bằng bom đạn ngoại bang, bằng chính bàn tay mình bóp cò súng người.

Những nét trầy trụa của tổ quốc khắc trên mặt Bốn Thôi: “Ngót hai mươi năm trời rồi, gần như hồi nào anh cũng phải cầm vũ khí trong tay: anh né viên đạn của bên này, tránh viên đạn của bên kia, đỡ ngọn roi của bên nọ… Và anh cũng lại đánh trả nữa. Và nét mặt anh thì lúc nào tuồng như cũng rầu rầu, nguội lạnh như một người ngoại cuộc.

Vậy mà những hoạt động của anh đã làm ra tình hình của xứ sở. Ở Hoa-thịnh-đốn, ở Mạc-tư-khoa, ở Bắc-kinh, Tân-đề-li, Vọng-các, Ba-lê v.v… ở khắp các nơi trên thế giới người ta theo dõi anh, bàn tán về anh. Người ta đem anh ra so sánh với người dân Đức ở Bá-linh, người dân Lào ở Vạn-tượng… người ta dòm ngó, dò xét cử chỉ của anh, cân nhắc, đánh giá sự can đảm của anh. Xung quanh hành động của anh chắc chắn có những cuộc mặc cả, những trù hoạch bố trí, những mưu mô âm thầm giữa nước này nước nọ. Và cũng có cả những lời hô hào, cổ võ, những tuyên bố lớn tiếng về nhiều vấn đề quan trọng, lý tưởng cao đẹp” (Tùy bút 2, trang 114-115).

Đấy là mặt tiền, mặt thấy được, mặt “quốc tế”. Về mặt hậu, Bốn Thôi hay tổ quốc hiện ra như một gã dớ dẩn, gã khùng trong làng. Anh có sáu đời vợ, nhưng anh ta lại là người bất lực, và cái thú duy nhất của Bốn Thôi là vặt lông mũi:

“Bốn Thôi tìm được cách tiêu khiển và mơ mộng trong việc vặt lông mũi. Đó là một cử chỉ nhỏ nhặt không ai để ý đến, nhưng rất quan hệ trong cuộc sống riêng của anh. Vì không phải là chuyện làm tốt, chuyện điểm trang gì, cho nên Bốn Thôi không bao giờ dùng đến cái gương. Hễ cứ lúc nào rảnh việc là anh đưa tay lên mũi, rờ rẫm, thăm dò, rình rập từng sợi lông mọc thò ra ngoài; vẻ mặt anh chăm chỉ đăm chiêu. Sự vặt nhổ như thế không phải không có lúc đau đớn, vì vậy có những khi anh nhăn nhíu mặt mày; những khi cho các ngón tay tìm kiếm, vẻ mặt anh khổ sở khó nhọc. Và đối với người ngoài thì cử chỉ đó còn có vẻ kỳ cục, tục tằn, khó coi, càng tăng thêm vẻ dớ dẩn của anh” (Tùy bút 2, trang 72-73).

Bốn Thôi là nhân vật tiểu thuyết kỳ lạ thứ ba sau A Q của Lỗ Tấn và Chí Phèo của Nam Cao. Nhưng trái hẳn với hai nhân vật kia, nếu Lỗ Tấn và Nam Cao đều chiếu vào những khiá cạnh bất bình thường của nhân vật, thì ngược lại Võ Phiến chiếu vào những khía cạnh bình thường nhất để tạo sự bất thường. Bởi không có người đàn ông nào là không một lần làm cử chỉ vặt lông mũi. Nhưng khi Võ Phiến chiếu kính hiển vi vào việc này, mô tả nó trên một trang sách, làm lộ tất cả bản ngã của nó ra, thì nó trở thành bất bình thường, thô lỗ, và kỳ cục. Nhổ lông mũi hoặc ngoáy tai, ngoáy mũi, khạc nhổ, là những cử chỉ mà bất cứ người nào cũng làm, nhưng là những cử chỉ không đẹp mắt, người ta chỉ làm khi một mình, bởi giáo dục xã hội dạy như vậy. Khi đứa nhỏ biết thò tay ngoáy mũi, thì cha mẹ nó bảo không được làm như thế, phải dùng mùi xoa hỉ mũi. Nhưng Bốn Thôi cứ khơi khơi làm cái việc khó coi này một cách công khai, chăm chỉ, hết sức tỉ mỉ, trước công chúng, là vì anh chưa được hưởng nền giáo dục nào cả. Nói khác đi Bốn Thôi là con người thuần túy trần truồng, con người người chưa bị xã hội hoá.

Nhưng điểm đặc biệt là nếu ta nhìn vào xã hội ta hiện nay, thì không chỉ có một Bốn Thôi mà chúng ta cũng lại thấy hằng hà sa số Bốn Thôi khác, ví dụ một vị chính khách đi công du nước ngoài, trong một buổi họp chính trị hay văn hoá cấp cao, thản nhiên ngồi ngoáy mũi trước bàn đàm thoại. Ấy là một vị Bốn Thôi thuần tuý.

Tất nhiên, để bào chữa, chúng ta có thể cãi đây là một phần của dân tộc tính, một cử chỉ tự nhiên, phơi bày bản chất con người trần trụi. Và thiên tài của Võ Phiến là ở chỗ đó: Chỉ cần mấy nét, Bốn Thôi đã phản ánh cái phần dân tộc tính xa xưa nhất, phần chưa được xã hội hoá ấy của dân tộc. Cử chỉ của Bốn Thôi, nếu nhìn từ phía con người xã hội hoá, là một cử chỉ bệ rạc. Nhưng nếu nhìn từ góc độ dân tộc tính, thì đó là cái gì đáng yêu, phải bảo tồn, không thể đụng chạm được, không thể thay đổi được. Mặc cho Việt kiều băn khoăn, ngượng ngập khi phải thông dịch cho một vị chính khách có những cử chỉ “chân chất” rất Bốn Thôi trong bàn họp quốc tế.

Khi Võ Phiến tạo ra nhân vật Bốn Thôi, cách đây nửa thế kỷ, chắc ông chưa tiên đoán được tình trạng Bốn Thôi “mở rộng” như bây giờ, mà ông cũng không muốn mỉa mai ai, ông chỉ chiếu kính hiển vi vào một cử chỉ tầm thường của một nhân vật quê mùa, một cá nhân chưa được xã hội hoá. Bốn Thôi biểu hiện thái độ người làng xã, chưa bước ra khỏi thôn mình, chỉ sống khoanh vùng trong không gian kín, chưa quen giao tiếp với người bên ngoài. Võ Phiến không có thái độ khôi hài, chế giễu mà ông muốn đưa ra cái bi đát nằm sau. Cử chỉ của Bốn Thôi, được ông phân tích như một hành động tự xoá mình trước công chúng, nghĩa là Bốn Thôi “vẫn ngồi trước mặt mọi người mà như không hề hiện diện trước một ai, vẫn có đó mà như không có, như là đang sống ở một thế giới nào xa cách tận đâu đâu, anh lặn chìm rất sâu khuất vào trong sự cô đơn của mình, dứt hết mọi liên hệ xung quanh mình và không buồn áy náy lo lắng gì về thái độ của mọi người” (trang 73).

Đối với Bốn Thôi, vặt lông mũi chỉ là một cách chữa bệnh bối rối và cô đơn. Để trốn cô đơn, Bốn Thôi thu mình trong một cử chỉ khó coi và bất cần thiên hạ. Nếu áp dụng tâm lý này vào vị chính khách chăm chỉ ngoáy mũi giữa một bàn tiệc, ở nước ngoài, thì cũng thấy ngay đó một cử chỉ cô đơn và bối rối. Ông cũng hệt như Bốn Thôi, là một người bình thường, làm những cử chỉ bình thường, với những cái đau bình thường.

Một ví dụ nữa: gan bàn chân Bốn Thôi bị nứt nẻ, nhất là về mùa rét, phải làm việc ngoài đồng, đất bùn nhét vào các vết nẻ làm anh đau đớn, nhưng thay vì chữa chạy, anh cứ ỳ ra. Khi người vợ thứ nhì là chị Lộc, nhìn thấy những vết nẻ, chị bèn lấy dầu rái dùng cái que, nhét vào các vết nứt ở gan bàn chân và anh đỡ đau. Chị Lộc là khía cạnh thứ nhì của dân tộc tính: cái gì cũng dầu rái, dầu rái chữa bách bệnh. Ở quê Bình Định, nguời ta dùng dầu rái, ở những nơi khác, người ta thay dầu rái bằng dầu cù là. Và đó là đặc tính thứ hai của người Việt.

Bốn Thôi bị bất lực mà anh không biết. Anh cưới cả thảy 6 người vợ, chỉ có chị Lộc là trung thành với anh suốt cuộc đời ngắn ngủi của chị. Còn bốn người đàn bà kia, mỗi người chỉ ở được ba bẩy hăm mốt ngày là bỏ đi. Người vợ cuối cùng lanh hơn, cho anh một bầy con và như thế là anh Bốn Thôi nuôi cả một gia đình con cái đầm ấm hạnh phúc.

Đọc Lại thư nhà, đọc đi đọc lại, lần nào chúng ta cảm thấy như có cái gì vừa xúc động, vừa rờn rợn, như Võ Phiến đã đi vào từng lỗ chân lông của nguời Việt, đi sâu vào dân tộc tính Việt, bởi phần đông người Việt đều thấy mình anh hùng, mà không biết mình bất lực. Bị lừa bịp mà không biết mình bị lừa bịp. Còn ở trong tình trạng làng xã, kể cả những người đi ra ngoại quốc đã lâu, mà vẫn không thấy mình chưa thoát khỏi tình trạng làng xã. Khư khư giữ thế đứng của Bốn Thôi, khép mình trong sự tự mãn, và do dó, bị tha hoá ngầm mà không biết.

Võ Phiến với bốn nhân vật tiểu thuyết đã trình bày sự tha hoá của bốn người đàn ông, bốn nền móng xã hội: nông dân, trung lưu, nho học và tây học, trong một giai đoạn giao thời, nhưng qua họ, ông đã vẽ nên sự trì trệ , sự tha hoá chung của dân tộc.

Tạp văn Võ Phiến

Võ Phiến tài tình trong tạp văn. Tập Đất nước quê hương hội tụ phần lớn những bài hay nhất của ông. Ý là một trong những sở trường của Võ Phiến: ông giầu ý và giầu liên tưởng. Tùy bút của Võ Phiến xây dựng trên hai yếu tố đó. Ông chụp lấy một sự, một ý bất kỳ, ví dụ như: mắm, bọt trà, bánh tráng, hay… Quang Trung làm khởi điểm. Bất kể những «vật» ấy có thể chất khác nhau: lỏng, đặc, cứng hoặc… vua. Rồi ông “cầm” lấy “cái vật” ấy như ta cầm một hòn đá ném xuống nước, từ điểm rơi sẽ có hằng hà sa số những vòng tròn đồng tâm loang ra trong liên tưởng: ông có thể đi từ chiếc bánh tráng, tiếng trống Bình-định đến vua Quang Trung …, từ hạt bọt trà đến sự khăng khít sống chung của hai người đàn ông cùng yêu một người đàn bà; từ hũ mắm cua chua đến vết chân chị Lộc, đến những bất hạnh của anh Bốn Thôi; từ giáng điệu “rụp rụp” của người chủ quán đến tính sởi lởi của người miền Nam, đến ngôn ngữ miền Nam… Cứ thế ông bàn đi, tán lại. Đôi khi ông nói phứa. Ông đem những kinh nghiệm sống, kinh nghiệm nhận xét, kinh nghiệm đọc, đem lịch sử, ngôn ngữ, ký ức vào tạp văn để vẽ nên bản sắc sâu xa và thầm kín của dân tộc. Ông vừa bàn, vừa tán, vừa luận… một cách dí dỏm, châm biếm, mỉa mai, không cần chính xác. Cái quyến rũ đến từ chỗ bất ngờ, ỡm ờ, khả nghi, tin cũng được mà chẳng tin cũng được.

Được hỏi về kinh nghiệm viết văn, Tchékhov cho biết: bất cứ một vật, một sự kiện gì, cũng có thể làm đề tài cho ông, ví dụ đang ngồi nói chuyện, mà bạn chỉ vào cái gạt tàn thuốc lá trên bàn, bạn bảo ông ấy viết về cái gạt tàn thuốc lá thì ngày hôm sau, bạn có thể đọc một truyện ngắn về cái gạt tàn thuốc lá. Võ Phiến có chỗ giống Tchékhov.

Về động lực nào thúc đẩy viết văn, Lâm Ngữ Đường có lối giải thích rất hóm hỉnh, ông bảo: người ta viết văn vì có con trùng nó đục khoét trong bụng, thành ra cứ phải viết, nếu không viết thì không thể chịu được. Võ Phiến có lần giải thích ông viết vì có yêu cầu đặt bài. Mỗi dịp bị chủ báo giục, là lại có bài. Tóm lại, viết văn là một chuyện vừa bị trùng ăn trong bụng, hay nói văn hoa hơn, là bị bức xúc, cắn rứt, vật vã, hoặc nói hoành tráng hơn, là vì sứ mệnh đòi hỏi. Nhưng có lẽ hai cái vụ trùng ăn và chủ báo thục giục là đúng hơn cả, bởi nếu không bị thúc thì chưa chắc anh đã nhả ngọc phun châu. Võ Phiến có chỗ giống Lâm Ngữ Đường.

Thử mường tượng cảnh: nhà văn nào trong bụng cũng đầy trùng như Lâm Ngữ Đường. Những con trùng ấy thoát ra bằng cách nào? Bằng cách phải có kẻ đặt bài. Vậy khi có động cơ đặt bài là các con trùng sửa soạn xuất hành. Và khi có chủ đề, do bất cứ ai đặt, như Tchékhov nói, là bọn trùng thừa dịp tẩu thoát, thế là có ngay một bài. Võ Phiến còn nghiệm thấy là cái thứ trùng ấy nó như cái giếng, càng múc lại càng đầy. Tạp văn của Võ Phiến là tổng hợp những yếu tố trên, cho nên tự thân, nó đã cho chúng ta cái cảm giác khinh khoát, bay nhẩy, tự nhiên, phóng khoáng, hoạt náo, chuyển động, không ngừng. Ví dụ, đề tài “chửi” là một trong những kiệt tác của ông, chúng ta thử tìm cách mổ xẻ xem tiến trình chửi này được hình thành như thế nào.

Tình cờ có sự nghĩ đến chủ đề “chửi”. Nghiã là có thể do chủ báo đặt bài, do đọc tác phẩm Ngôn ngữ và thân xác của Nguyễn Văn Trung, do đọc A.Q của Lỗ Tấn hay do đọc một cái tin trên báo nói về việc linh mục Trương Đình Hoè ở Pháp đang soạn một luận án tiến sĩ về ý nghiã cái chửi ở Việt Nam… Từ những do này, mới có bài chửi. Nhưng trong những do liệt kê trên thì có một do chính, đó là do đọc tác phẩm của Nguyễn Văn Trung. Trong cuốn “Ngôn ngữ và thân xác” của Nguyễn Văn Trung có một chương mổ xẻ cái chửi khá ngoạn mục trên bình diện triết học, tác giả phân tích và định loại một cách khoa học và sâu sắc về bản chất và ý nghiã của mỗi tình huống chửi. Vậy thủ phạm là Nguyễn Văn Trung.

Bài Chửi của Võ Phiến là một liên văn bản chửi, đi từ lập luận triết học về chửi, qua tác dụng trong ngôn ngữ A.Q, bằng phương pháp luận của Lâm Ngữ Đường. Tất nhiên Võ Phiến không đi theo con đường triết học, bởi ông rất ghét sự rắm rối. Ông chỉ dùng kết quả điều tra về bản chất và chủng loại chửi của Nguyễn Văn Trung để chiếu xuống trường hợp Lỗ Tấn bằng một lối luận hóm hỉnh rất Lâm Ngữ Đường. Qua ba thao tác ấy, ông đã sáng tạo ra tác phẩm chửi của Võ Phiến. Nghệ thuật tạp văn của Võ Phiến, do đó là một hợp chủng tài tình nhiều phong cách văn hoá trong một sự luận. Nền chính trong tạp văn là luận. Mỗi nhà tạp văn có một lối luận khác nhau.

Ví dụ Lâm Ngữ Đường có lối luận như thế này, về ẩm thực:

“Khổng Tử hiểu rõ thiên tính của con người, cho nên chỉ kể có hai thị dục lớn nhất là danh dưỡng và sinh dục, tức như nói nôm na thì là ăn uống và trai gái. Nhiều người đã khắc chế được sắc dục nhưng chưa có vị thánh nào khắc chế được ẩm thực quá bốn năm giờ liền. Cứ cách ít giờ thì trong óc ta nhất định nổi lên điệp khúc bất biến này: Bao giờ ăn đây?” (Sống đẹp, trang 47).

Vài trang sau ông viết tiếp:

“Muốn chiếm được lòng của người đàn ông thì nên theo con đường từ bao tử của họ. Khi nhục thể được thoả mãn rồi thì tinh thần bình tĩnh, khoan khoái hơn và người ta hoá ra đa tình, đa cảm hơn. Các bà thường phàn nàn rằng các đấng phu quân ít khi để ý đến những chiếc áo mới, giày mới hoặc kiểu tô lông mày mới của mình. Nhưng có bao giờ các bà phàn nàn rằng các ông không để ý đến món bíp-tếch ngon hoặc món trứng tráng ngon không? Lòng ái quốc là gì, nếu không phải là lòng yêu những món ngon mà mình được ăn hồi nhỏ” (Sống đẹp, trang 49).

Và trở về với kinh nghiệm của mình, ông viết:

“Mười năm trước tôi đã thử hoạt động chính trị, nhưng chỉ bốn tháng rồi tôi phải bỏ vì tự nhận ra ngay rằng mình không phải là hạng ăn thịt, mặc dầu vẫn thích món bíp-tếch. Đặc tính của loài ăn thịt là thích chiến đấu, mưu mô, lừa gạt, thao túng, đẩy lui kẻ thù; họ làm những việc đó một cách hào hứng, khéo léo, nhưng tôi thú thực rằng không tán thưởng thủ đoạn đó một chút nào cả.” (Sống đẹp, trang 53).

Trong những nhà viết tạp văn thì Võ Phiến gần gũi nhất với Lâm Ngữ Đường. Cả hai đều hóm hỉnh, đều chống cộng mà lại rất duy vật. Lấy tiếp ví dụ bài Chửi vì bài này tổng hợp tất cả thiên tài Võ Phiến trong sự luận. Trong bài Chửi, lập luận chia ra làm ba hồi, theo một chiến thuật rõ ràng:

1- Hồi một : so sánh và phân biệt hai tình huống khác nhau, giữa chửi và cãi :

“Chửi là một cách xung đột bằng lời. Và chỉ bằng lời thôi, chứ không phải bằng những lý luận do lời nói phô diễn ra. Do đó, chửi nhau khác với cãi nhau.

Hai kẻ cãi cọ cố thắng địch bằng lý lẽ. Dĩ nhiên khi đôi bên đã to tiếng, mặt mày đã sưng sỉa lên, thì giá trị luận lý của những câu cãi thường không xuất sắc. Lúc bấy giờ ở mỗi người chỉ có tình cảm sôi sục hoành hành, chứ lý trí không còn sáng suốt bình tĩnh để đi sâu vào những suy luận tinh tế nữa. Dù sao, nội dung một cuộc cãi nhau cũng là lý luận; kẻ thua cuộc là kẻ “bí”. Để khỏi bí, người cãi phải lắng nghe, theo dõi lời lẽ của đối phương, hầu tìm cách bắt bẻ.

Chửi nhau thì trái lại, không cần nghe gì ở đối phương cả. Cơ sự đã bùng nổ, mạnh bên nào nấy chửi, lấy hơn. Kết thúc cuộc chửi lộn không ai thua vì bí. Thua ở đây có nghĩa hoặc là không đủ hơi sức để tiếp tục nên phải ngừng lời trước, hoặc là phải lãnh những lời nặng của đối phương mà vốn liếng hiểu biết của mình ít oi không cho phép trả lại những đòn nặng tương đương.”

Sau khi đã phân biệt rõ ràng chửi và cãi khác nhau như thế nào. Kết luận của hồi một: cãi thiên về lý và chửi là thiên về đánh.

2- Hồi hai: mô tả nội dung và thực chất của tác động chửi:

“Như thế, một trận chửi lộn giống như một trận đánh lộn. Một đằng vung tay vung chân vung cây vung gậy đập loạn xạ xuống kẻ thù; một đằng đập loạn xạ bằng lời. Đồ nọ, đồ kia, quân súc sinh… Đó là những đòn quất xuống, mong cho kẻ địch bị đau, không mong kẻ địch phải bí. Việc thiết yếu trong trận chiến này là đánh thật mạnh và làm thế nào để chịu đựng nổi những cú đánh của đối phương. Đánh được mạnh hay không là tùy cái vốn kiến thức chuyên môn của kẻ chửi. Để chịu đòn người ta cố gắng để khỏi phải nghe tiếng nói kẻ thù: hoặc bịt tai lại, hoặc chửi to và liền hơi để lấp lóng. Trong trường hợp không chửi lại người ta làm bộ phớt tỉnh, làm lơ, tỏ vẻ như không hề nghe thấy tiếng chửi của đối phương, như những tiếng đó không ăn nhằm gì, không đụng chạm và làm tổn thương mình chút nào.

Phương thức tấn công cũng như phương thức phòng vệ của chửi lộn cho thấy nó gần với chiến tranh, mặc dù phương tiện của chửi lộn là lời nói vốn có công dụng giúp cho hiểu nhau (…)

Hồi hai phô bày tất cả những ưu điểm và nhược điểm của sự chửi.

3- Hồi ba : đào sâu vào tâm lý của hành động chửi.

Khi chửi, tình cảm trong lòng là thứ tình cảm ngùn ngụt của lúc lâm trận, tư thế bên ngoài là tư thế hầm hầm của chiến đấu, dự tính của hành động là những dự tính cực đoan ác liệt; tuy vậy rốt cuộc bạo động thực sự không xẩy ra, tổn thương cụ thể không hề có.

Bảo chửi là hành hung thì quá đáng: kẻ chửi chưa có hành động hung dữ. Nhưng bảo chửi chỉ là ước muốn điều dữ cho kẻ khác thì lại không đủ: kẻ chửi đã đi quá sự ước muốn suông. (…)

Bởi không ra tay làm được những điều mình mong muốn cho nên người chửi thường ước mong quá trớn. Trong một trận chửi, có thể nghe kê khai liên tiếp các việc, nào là bắt kẻ địch ăn cái này cái kia, nào là nhét cái này cái kia vào mồm kẻ địch… Giá có thể xông tới thực hiện lấy một chuyện thôi trong bấy nhiêu chuyện thì đã đủ hả giận rồi. Chính vì không làm một chuyện nào cả nên mới ao ước nhiều đến thế.

Một phần vì không phải đánh nhau bằng chân tay gậy gộc, không nhằm một cái đích xác thịt cụ thể; mà đánh nhau bằng lời nên được tha hồ vung vít vào những mục tiêu rộng lớn. Một phần khác, vì đánh bằng lời, bằng tưởng tượng, không thoả mãn được ước muốn, nên người chửi có khuynh hướng đi quá xa: sau khi dày xéo đối thủ, hắn còn xâm phạm tới tất cả những gì là quý trọng thân yêu nhất của đối thủ. Việc đụng chạm tới mồ mả, tổ tiên kẻ thù, có lẽ là do đó” (Chửi, Tùy bút 1, trang 90-93-94).

Như vậy bài chửi của Võ Phiến là rất công phu, bài bản, có nhập có xuất, chứ không phải là sự tình cờ, hú họa, tào lao; một thứ chửi chính luận, nghiêm trọng, có tính toán, có tiến thoái, có tâm lý, có phân tích, nói nôm na là chửi theo lối Bắc.

Một thứ chửi như vậy đòi hỏi ở độc giả một thái độ nghiêm chỉnh: Nếu đọc nó mà bạn muốn cười thì nụ cười ở đây cũng phải là chín chắn, bài bản, chính luận, nghiã là không được xô bồ lộ liễu, cười hô hố như khi nghe một người pha trò, mà là cái cười thầm, cười tủm tỉm, cười nụ, cười quay vào trong, một lúc mới cười, sau khi đã nghiền ngẫm, nói chung là cười… bác học, có đường lối, có suy nghĩ.

Một sự cười bình tĩnh như vậy đòi hỏi những phân tích sâu xa hơn: Nụ cười ở đây, phát sinh từ một sự tréo cẳng ngỗng toàn diện : tức là sự kiện thô tục nhất trong ngôn ngữ là chửi được mô tả bằng những lời lịch sự, sang trọng, trí giả, hàn lâm, lập luận đầy triết lý với những ngôn từ khoa học, chính xác, đại loại như: lý luận xuất sắc, tình cảm sôi sục, khuynh hướng đi quá xa, dự tính của hành động, vốn kiến thức chuyên môn, suy luận tinh tế, lý trí sáng suốt, v.v… Tóm lại, sự chửi và sự đánh đã được nâng lên hàng ngũ đối tác ở tầm cao nhất, hữu nghị nhất, đồng thời cũng được trình bày một cách nghiêm chỉnh nhất. Sự chửi được xếp ngang hàng với sự đánh, trở thành hai mục tiêu cao cả của đời sống. Tác giả dùng những phương pháp luận như khoa học so sánh để lý giải sự khác biệt giữa hai yếu tố phân lập: một bên là chửi thề, một bên là đánh lộn, được nâng cấp thành chửi đổng và chiến tranh. Một bên là bạo mồm, một bên là bạo lực, mỗi bên đều biểu dương cá tính dân tộc với niềm tự hào muôn thủa.

Cá tính dân tộc trổ lên trong những bức tự hoạ như thế, sau cái cười, là sự cay đắng, bi quan tuyệt đỉnh về con người qua ngôn ngữ.

Trong truyện, văn Võ Phiến trung hoà, neutre, giữ khoảng cách với những cảnh huống mô tả, ông không kéo độc giả về phe mình. Tuy đưa ra những nhân vật bi đát như anh Bốn Thôi, ông tú Từ Lâm, như ông Ba Thê Đồng Thời, như Hữu, nhưng Võ Phiến không hề bắt ta phải nhỏ lệ. Nếu độc giả có dư nước mắt thì đó là những giọt nước mắt chẩy vào trong, những giọt lệ không rơi ngoài tim mình như lời thơ Thanh Tâm Tuyền. Sự rơi vào trong ấy nhiều khi đau đớn hơn những giọt lệ ngoài Tương Phố.

Nếu trong truyện Võ Phiến, tính chất bi đát là vị cay cuối cùng còn đọng lại, thì trong tạp văn Võ Phiến, cái cười là dư vị. Và đằng sau cái cười, nếu độc giả còn muốn đi thêm bước nữa, mới thấy cái bi đát ẩn trong lòng giọt lệ cuối cùng.

Paris tháng 5/ 2008 – tháng 11/2008

Thụy Khuê

Read Full Post »

Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Mộng Giác là một tên tuổi lớn. Có hàng trăm bài viết về nhà văn  Nguyễn Mộng Giác được đăng rải rác trên các báo và tạp chí trong và ngoài nước, nhưng đây là bài viết thú vị và đầy ấn tượng, về cuộc đời và sự nghiệp của một nhà văn cũng là thầy cựu hiệu trưởng Cường Để giai đoạn những năm 1970 (NQH)

Có một thời tôi từng tưởng lầm và tưởng bở: bốn chữ Địa Linh Nhân Kiệt chỉ dành riêng để vinh danh quê hương nghèo khó của người Quảng Nam. Về sau tôi mới hiểu ra, bốn chữ cao quí này được dùng rất rộng rãi, và có thể nói bất cứ vùng đất nào trên lãnh thổ Việt Nam, đều có thể, đều xứng đáng mang trước ngực bốn chữ đã trở thành “phổ thông” này. Như vậy thật công bình. Bởi tính chất thiêng liêng của mỗi vùng đất (địa linh) là điều có thật, được từng vị thổ địa làm “công an khu vực”, “quản lý” một cách nghiệm ngặt. Về nhân kiệt, tuy có sự chênh lệch, nhưng ít nhiều gì mỗi vùng đều có. Quảng Nam và Bình Định là hai vùng sinh sản ra nhiều “anh kiệt”, đồng thời cũng sản xuất những con dân có óc địa phương, cục bộ vào bậc nhất. Nếu có sự ganh đua, so tài giữa hai vùng này, dù bất cứ ở lãnh vực nào, cũng thường xảy ra những căng thẳng, gay go. Ngày tôi còn đi học, những lần đội bóng của trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng, đụng đội bóng của trường Cường Để Bình Định vẫn thường là những cuộc so giày nảy lửa, nhiều lúc dẫn đến “thượng cẳng chân hạ cẳng tay”. Trong lãnh vực văn học, về nhân tài của Quảng Nam và Bình Định, chưa biết vùng nào lấn lướt hơn. Tôi có thể bị đồng hương quở là mất gốc, thiển cận với nhận xét: vào cuối thế kỷ 20, đội ngũ những người sinh hoạt văn học xuất thân từ Bình Định có lẽ nặng cân hơn Quảng Nam một chút. Nhân kiệt góp phần làm cho cán cân chênh lệch, tôi nghĩ, có lẽ không ai khác hơn là nhà văn Nguyễn Mộng Giác.

Căn cứ vào những sinh hoạt, Nguyễn Mộng Giác còn có thể được gọi là nhà báo, nhà biên khảo, nhà phê bình…nhưng tôi tin rằng ông Nguyễn Mộng Giác, không phải người ham mang trên mình quá nhiều loại “nhà”, như một số người đã làm, nên tôi chỉ gọi ông là nhà văn. Xét kỹ ra, hai tiếng “nhà văn” oai phong, lẫm liệt, được trọng vọng hơn hẳn nhà thơ, nhà báo, nhà biên khảo…rất nhiều.

Nhà văn Nguyễn Mộng Giác sinh năm 1940 tại  Theo một bài viết của nhà văn Nguyễn Mạnh An Dân, thời trung học, Nguyễn Mộng Giác là lứa học trò đầu tiên của trường trung học Cường Để, rồi lang thang đến trường Võ Tánh Nha Trang, làm sinh viên của Văn Khoa Sài Gòn. Cuối cùng con đường học vấn tại trường ốc của ông được kết thúc năm 1963 với mảnh bằng tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế, ban Việt Hán. Ông tân thủ khoa được bổ dụng giảng dạy tại trường Nữ Trung học Đồng Khánh Huế. Sau hai năm, ông xin thuyên chuyển về trường Cường Để. Có được với đất thần kinh trên dưới sáu năm, Nguyễn Mộng Giác có nhiều cơ hội “Xin Huế Một Người Tình” và cô nữ sinh áo trắng Nguyễn Khoa Diệu Chi của trường Đồng Khánh đã bắt dính anh chàng Bình Định, vốn là ông thầy đáng kính của mình. Chẳng rõ họ có đưa nhau “về dinh” ngay trong chuyến đổi vị trí công tác của ông Giác hay không?

Về đến Bình Định, Nguyễn Mộng Giác được bổ nhiệm chức Giám Học ngay niên khóa sau, và đến năm 1971, ông lên làm Hiệu Trưởng trong hai niên khóa, rồi giữ chức Chánh Sở Học Chánh Bình Định Qui Nhơn. (Sở Học Chánh hình như được thành lập trong thời Đệ nhị nền Cộng Hòa Việt Nam, và bành trướng mạnh trong giai đoạn đảng Dân Chủ của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phát động. Sở có nhiệm vụ trông coi việc giáo dục của cả hai bậc trung và tiểu học). Ông thầy Nguyễn Mộng Giác quả đã không có duyên cận kề nhiều với hơi hám đám thư sinh, nên cuối năm 1974, được chuyển luôn vào Sài Gòn, làm chuyên viên nghiên cứu tại Bộ Giáo Dục. Đứng trên bục giảng hay ngồi điều nghiên, sưu tầm tại Nha sở, nơi nào chắc cũng có cái thú riêng. Và có lẽ cái nghề tay trái đang có mưu toan lấn lướt cái “nghề bán cháo phổi”, nên tôi tin ông Nguyễn Mộng Giác bằng lòng với công việc mới của mình hơn. Nhưng cái nghĩa vụ công chức của thầy giáo Giác không kéo dài được lâu. Ông là người đầu tiên của Nha Nghiên Cứu Sưu Tầm Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa được chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa cho nghỉ việc. Và có lẽ ông cũng được mời tham dự nhiều lớp bổ túc chính trị. Những kinh nghiệm trong thời chống Pháp mà ông Nguyễn Khắc Phê nhắc trong bài “tản mạn nhân gặp lại nhà văn Nguyễn Mộng Giác” trên Talawas: “… Tuy còn nhỏ tuổi học sinh, chúng tôi đều được tổ chức cho học tập kiểm điểm tự thú những hành vi tư tưởng hủ bại ‘mất lập trường giai cấp’ ”, chắc chưa đủ để một ông ngụy quyền có văn bằng cấp Đại học thư thả trong cuộc đổi đời mới. Chính vì thế, ròng rã trong sáu năm, ông Nguyễn Mộng Giác xoay đời mình theo nhiều nghề lao động chân tay khác nhau. Ông đã vinh quang đi bán sách cũ ở chợ trời, rồi làm công nhân hẳn hoi trong tổ hợp mì sợi Dân Sinh ở Chợ Lớn. Cuối cùng ông chọn lối thoát vượt biên và sau bốn lần giỡn mặt với tử thần, ông và cậu con trai mới qua đến đảo Kulu, Galang Nam Dương vào cuối năm 1981. Đến tháng 11 năm 1982 cha con ông được nhận vào Hoa Kỳ. Trước đó không lâu, trưởng nữ của ông đã định cư tại Houston, Texas. Họ gặp nhau. Nhưng ba cha con ông không ở với thành phố nắng ấm này lâu. Họ dắt nhau về California, và bắt đầu cuộc sống mới từ năm 1983. Những năm đầu sống trên đất người được nhà văn Nguyễn Mộng Giác cho biết ngắn gọn:

“…Bốn năm đầu, tôi vừa học nghề thợ in vừa làm thuê cho báo Việt ngữ ở quận Cam. Công việc nhiều mà lương ít ỏi quá, không đủ gởi về cho nhà tôi và cháu út còn ở lại, nên từ năm 1987, tôi xin làm cho công ty ấn loát niên giám điện thoại GTE của Mỹ. Công việc ấy tôi giữ được lâu bền hơn mười năm qua, từ 1987 đến nay. Nhà tôi và cháu út qua Mỹ tháng 3 năm 1990 trong chương trình đoàn tụ gia đình (ODP)”

(Nguyễn Mộng Giác, trả lời phỏng vấn Đặc san Cường Để-1998)

Nhà văn Nguyễn Mộng Giác cho biết, ông khởi viết rất sớm, từ thời sinh viên. Nhưng khác với nhiều người, ông đã không gởi bài đến các tạp chí. Ông đã hủy bỏ khá nhiều bản thảo sau khi đọc những tác phẩm lỗi lạc của các văn hào thế giới. Sự thận trọng cầm chân ông khá lâu, cho đến dịp ông bén duyên cùng tạp chí Bách Khoa, năm 1971, lúc đó ông vừa vượt qua lứa tuổi “tam thập”.

Miền Nam, nhất là Sài Gòn, lúc bấy giờ truyện chưởng Kim Dung được đón nhận thành một phong trào rầm rộ. Truyện của cây bút người Trung Hoa vẫn còn đang ở nước Tàu này được dịch đăng từng kỳ, tràng giang đại hải trên các nhật báo, tuần báo…in thành sách, thu hút mạnh mẽ bạn đọc từ bình dân đến trí thức. Thuở thiếu thời, tôi đã bị bội thực loại truyện kiếm hiệp cấp thấp hơn, nên thoạt tiên không có nhiều thích thú đến với những Vi Tiểu Bảo, Vô Kỵ, Nhạc Bất Quần, Trương Tam Phong, Lão Ngoan Đồng, Kiều Phong, Lâm Bình Chi…Nhưng rồi Nỗi Băn Khoăn Của Kim Dung, từ suy nghĩ, phân giải của một nhà giáo, sừng sững thành sách năm 1972, đã cù rủ tôi trở lại với truyện chưởng và tức thì, tôi say mê những Triệu Minh, Doanh Doanh, Hoàng Dung, Chu Chỉ Nhược, Hân Tố Tố…Dù thật sự, tôi chưa được đọc trọn vẹn cuốn tiểu luận về Kim Dung của nhà văn Nguyễn Mộng Giác. Tôi chỉ đọc loáng thoáng đâu đó từng đoạn rời. Giá trị đích thực của cuốn tiểu luận đối với cá nhân tôi chính là cái uy tín của tác giả ngày một nổi bật giữa làng viết Sài Gòn. Tôi biết danh Nguyễn Mộng Giác từ dạo ấy. Tạp chí Bách Khoa cũng là tờ báo tôi thường se sua làm dáng với bạn bè, nên cái tên Nguyễn Mộng Giác, trụ dưới truyện dài Qua Cầu Gió Bay làm tôi cảm thấy mỗi ngày một thân quen hơn.

Từ Bách Khoa, ông Nguyễn Mộng Giác đã tự tin, đã vượt qua cái khớp trước những đàn anh lỗi lạc, ông viết đều tay một cách vững vàng. Những tác phẩm đầy đủ giá trị văn học nghệ thuật của ông tuần tự ra mắt bạn đọc. Năm 1973 với tập truyện ngắn Bão Rớt và cuốn truyện dài Tiếng Chim Vườn Cũ được nhà xuất bản Trí Đăng phát hành. Qua năm 1974, hai cuốn truyện dài ra đời, Qua Cầu Gió Bay do Văn Mới in và Đường Một Chiều, được ra mắt bạn đọc bởi nhà xuất bản Nam Giao. Tác phẩm Đường Một Chiều đã mang đến cho tác giả giải thưởng của Trung tâm Văn bút Việt Nam năm 1974.

Đường Một Chiều là một cuốn tiểu thuyết tình cảm, phản ảnh một góc nhỏ xã hội miền Nam trong thời chinh chiến. Nhân vật chính là một sĩ quan cấp tá của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông đồn trú xa nhà với chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng một tiểu đoàn tác chiến. Hành quân là “nghề của chàng”. Cho đến một hôm, tương tự như anh lính Hữu Loan, ông thiếu tá nhận được một điện tín với tin không vui: vợ ông qua đời. Gia đình ông gồm Thúy, vợ ông, bé Ly, 14 tuổi con riêng của bà Thúy. Ngoài ra, hạ sĩ Ninh, được vợ chồng ông xem như em, ở chung nhà, vừa làm nhiệm vụ tài xế vừa làm quản gia cho gia đình. Chính Ninh là người mở ra thảm kịch gia đình cho thiếu tá Lộc. Xa vắng gia đình lâu ngày và thường trực cận kề với cái chết, những người lính hay tạo cho mình những cơ hội để tạm “lãng quên đời” đó là cái thú uống ruợu. Hạ sĩ Ninh tốt số, được mang chữ thọ to tướng trên người, nhưng chàng thanh niên hai mươi tuổi này, có lẽ vì “lửa gần rơm” lâu ngày nên sinh tật. Gã mượn rượu để tỏ tình. Trong một lần “tới chỉ” với vài người bạn cùng đơn vị, gã bước thấp bước cao ra về và vô tình đi lạc vào tận phòng ngủ của bà Lộc. Chuyến gõ cửa tình dục của Ninh không nhằm giờ, gã bị Thiếu tá phu nhân chống cự. Trong giằng co, Ninh đã kết liễu cuộc đời người đàn bà xuất thân vũ nữ, bằng mười ngón tay thô bạo của gã . Tất cả hoạt cảnh này diễn ra trước mắt quan sát của Ly. Nhưng cô lolita, chẳng rõ lòng đã biết yêu, biết hận gì chưa mà đã không nói ra sự thật trước những viên điều tra của Quân cảnh tư pháp, cũng như trước phiên xử của Tòa án Quân sự. Án mạng có nhiều nghi vấn chưa được làm sáng tỏ. Giữa những tranh luận sôi nổi của Ủy viên chính phủ và Luật sư biện hộ, bỗng có thêm một nhân vật xuất hiện. Người đó là chồng cũ của Thúy, người mà bà Thiếu tá nói dối với chồng là đã chết. Và càng gay cấn, bất ngờ hơn, khi pháp luật chưa tìm được sự liên quan giữa cái chết của Thúy và người chồng cũ, thì Ninh đột ngột tự sát trong quân lao cùng sự bỏ nhà đi bụi của Ly.

Tôi ý thức được việc tóm lược một cốt truyện nặng tính cách văn học phải hoàn toàn chính xác và với giọng văn nghiêm chỉnh. Nhưng tôi đã không làm nổi điều đó, trí nhớ tôi đã quá cùn mòn. Nhưng không thuật đại khái lại tình tiết của câu chuyện thì tôi tự thấy thiếu thiếu một cái gì. Có lẽ vì tác phẩm trúng giải quan trọng của nhà văn Nguyễn Mộng Giác tôi không tìm thấy tại nơi tôi đang cư ngụ. Và trong nước, sau thời kỳ ông Tần Thủy Hoàng tái sinh lộn trên đất Việt Nam, chắc gì đã tìm ra được Đường Một Chiều. Tôi bạo gan vì vậy, dám mong tác giả và bạn đọc nhắc nhở, bổ sung. Đọc cốt truyện, dù chính xác trăm phần trăm cũng không tìm hiểu được văn phong, tư tưởng của tác giả. Chỉ biết đại khái về cốt truyện không thể lượng định được giá trị văn học của một tác phẩm. Hơn nữa, cùng một cốt truyện, nhưng nhiều người viết, hay dở khác nhau là chuyện thường. Cái tài của nhà văn, nằm trong suy nghĩ và diễn đạt riêng của mỗi người. Do đó, từ một cốt truyện có thể không có gì mới lạ, chỉ là những mẩu đời thường mà thể hiện thành tác phẩm có giá trị văn học, được nhiều người có uy tín công nhận, không phải là chuyện dễ. Tôi vẫn nghĩ, giải thưởng của Trung tâm Văn bút Việt Nam là một giải cao quí, và ban giám khảo là những người có cái tâm trong sáng với văn học. Có đến năm vị trong ban giám khảo: Nguyễn Thị Vinh, Tam Lang, Nhật Tiến, Sơn Nam, Phạm Việt Tuyền

Phát biểu về giá trị Đường Một Chiều, nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn viết:

“ Theo tôi, đó là một tác phẩm được sáng tác rất công phu. Say sưa mà vẫn thận trọng, đầy cảm hứng mà vẫn tiết chế, cô đọng bằng một kỹ thuật cao và khéo léo, nội dung chứa nhiều ý tưởng phong phú mà hình thức vẫn gọn gàng lôi cuốn. Những đặc điểm đó khiến Đường Một Chiều đích thực là một tác phẩm văn chương đúng nghĩa…Truyện của Nguyễn Mộng Giác thường đặt ra cho người đọc những câu hỏi, tác giả không trả lời, chính mỗi người chúng ta, nếu chúng ta là những độc giả không ngại phải băn khoăm suy nghĩ khi đọc sách thì chính mỗi người trong chúng ta sẽ tự tìm lấy câu trả lời riêng cho mình… Điểm đáng đề cao hơn nữa của truyện Đường Một Chiều, tác phẩm thứ năm của Nguyễn Mộng Giác, là thêm một lần nữa chứng tỏ cái ý hướng trách nhiệm của tác giả đối với xã hội. Truyện của Nguyễn Mộng Giác bao giờ cũng từ chối làm chiều long những kẻ trưởng giả giầu sang, ăn chơi phè phỡn, hưởng thụ chán chê rồi học đòi triết lý thời trang rằng cuộc đời là hư vô, phi lý, buồn nôn.”

(Văn Học số 233 tháng 9 và 10-2006)

Ý kiến hội của đồng giám khảo do nhà nghiên cứu văn học, ông Phạm Việt Tuyền đại diện, tiên đoán và khen ngợi:

“…Phần đông độc giả sau này chắc sẽ phải đọc một hơi từ đầu đến cuối cuốn tiểu thuyết như một số vị trong Hội Đồng Tuyển Trạch, bởi vì tình tiết rất hấp dẫn…Khi đã xảy ra thành sự kiện thực tế rồi thì vẫn còn tạo bâng khuâng triết lý như tách trà thơm, ly rượu ngon đượm thêm tình nghĩa nặng sâu…”

Đường Một Chiều bất ngờ mở vào Cul de Sac. Dấu chấm hết là quà tặng của chính quyền đất nước thống nhất dành cho những người cầm bút đã từng nặng lòng với miền Nam. Rất may những người có lòng với chữ nghĩa vẫn lặng lẽ sáng tác. Riêng nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã khởi hành trở lại vào năm 1977. Và lần này, có lẽ nhờ không bận tâm in ấn, phổ biến qua báo chí, chi phối thời gian, nên ông đi một đường thong dong. Bộ trường thiên tiểu thuyết đầu tiên mang tên Sông Côn Mùa Lũ được hoàn tất năm 1981. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã trình bày vắn tắt về tác phẩm kỳ vỹ này với các bạn sinh viên đại học Berkeley:

“…Nói chung, bộ trường thiên lấy khung cảnh thời Tây Sơn, thế kỷ 18 và khởi đầu là sự nghiệp của anh em nhà Tây Sơn, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ và chấm dứt khi Nguyễn Huệ mất. Đây là thời gian có nhiều biến động. Quan trọng là qua những biến động đó, cái thử thách dành cho người đương thời, nhất là những nho sĩ, những người viết lách, những người có trình độ trí thức cao phong phú lắm. Mỗi người một thái độ phản ứng khác nhau. Từ thái độ bất hợp tác với triều mới như Lý Trần Quán, đến thái độ hợp tác như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, đến người thuộc loại cơ hội như Nguyễn Hữu Chỉnh. Một thời đại mà tất cả biến động của lịch sử và cái phức tạp của đời sống hiện ra trọn vẹn, giống như những phức tạp hiện ra trong thời kỳ cộng sản ở Việt Nam vậy, giống nhau lắm. Và vì giống như vậy, thay vì trực tiếp viết về cộng sản, tôi chuyển qua hai thế kỷ trước viết về thời Tây Sơn. Có nhiều hoàn cảnh mà tôi suy từ thời mình bây giờ sang thời trước…”

Trước sự hứng thú lắng nghe của đám sinh viên, nhà văn Nguyễn Mông Giác cũng đã hào hứng nhắc lại những kỷ niệm trong khi hoàn thành tác phẩm:

“…Hoàn cảnh viết bộ truyện này là hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Sau năm 1975, tôi đang làm chuyên viên nghiên cứu tại Bộ Giáo dục Sài Gòn (BGDSG) thì bị cho nghỉ việc. Tôi bán sách cũ ngoài chợ trời hai năm, sau đó xin làm công cho một tổ hợp mì sợi. Các bạn có gia đình qua sau năm 1975 biết là cả nước Việt Nam trong giai đoạn thiếu gạo và phải ăn bo bo, nhập cảng bột mì rồi làm mì sợi để sống. Tôi làm công nhân cho một tổ hợp mì sợi từ năm 1978 đến năm 1981. Chương trình làm việc của tôi thời kỳ này là 6 giờ sáng đem một lon cơm, đạp xe từ Thị Nghè tới Phú Lâm làm việc. Làm việc từ 8 giờ sáng cho đến 12 giờ trưa. 12 giờ nghỉ ăn cơm, ăn cơm xong từ 12 giờ đến 2 giờ thì ngồi viết. Xong rồi, làm việc từ 2 giờ đến 8 giờ. Sau đó 8 giờ thì ra khỏi xưởng, chở mì sợi đi bán, về tới nhà khoảng 10 giờ tối, và ngồi viết từ 10 giờ cho đến 12 giờ. Viết trong tình trạng làm việc và viết như vậy trong bốn năm thì hoàn tất bộ trường thiên tiểu thuyết này, dày 2000 trang. Nói như vậy, không có nghĩa là tôi có khả năng viết trọn vẹn cả bộ truyện. Trong thời gian viết, bộ truyện này bị ngưng lại vì hai lần tôi ở tù. Lần đầu viết xong cuốn ba thì tổ hợp mì sợi bị đóng cửa rồi ban điều hành tổ hợp bị bắt. Năm 1979, các bạn nhớ đó là thời gian Việt Nam và Trung Quốc đánh nhau. Tổ hợp tôi làm việc là một tổ hợp của người Hoa. Công an Sài Gòn nghi ngờ tổ hợp làm gián điệp cho Trung Cộng nên tất cả ban điều hành đều bị bắt. Tôi bị kẹt trong đó 4 tháng, đang làm ăn bình thường thì bị bắt như vậy. Bốn tháng sau, được thả ra, tôi tiếp tục viết, đến gần xong phần kết từ ở cuốn thứ tư thì có mối vượt biên ở Vũng Tàu. Vượt biên không thành công, tôi bị bắt lần nữa và lần này bị giam bốn tháng. Sau khi được thả ra, tôi về viết xong phần kết. Tháng 10 năm 1981 thì hoàn tất bộ này, tôi đóng và để lại cho nhà tôi giữ và đi vượt biên. May mắn vượt biên lần này thành công…”

Công sức đáng phục của nhà văn Nguyễn Mộng Giác sẽ chỉ còn trong trí nhớ và niềm hồi tưởng, buồn tiếc của riêng ông, nếu ông không có một người bạn đời tuyệt vời. Tôi vẫn tự cho rằng mình có nhiều khả năng “nịnh đầm”, biết ngợi ca những người đẹp tài hoa, nhưng sao chợt vụng về, tìm không được một từ nào khả dĩ thích hợp, để tán thưởng cái tài bảo quản tác phẩm và đưa chúng đến được nơi chốn, chúng có thể chào đời của chị Nguyễn Khoa Diệu Chi. Từ chỗ xé lẻ để cất giữ đến mưu mẹo qua mắt sự kiểm soát gắt gao của an ninh phi trường là cả một nghệ thuật, đòi hỏi sự bình tĩnh và khôn khéo tuyệt hảo. Với tư cách một độc giả, tôi xin được cảm ơn người đi bên đời nhà văn Nguyễn Mộng Giác. Còn ông, xét ra không cần thiết, vì đó là chức phận thiêng liêng và tự nhiên của ông. Lẽ ra ông phải cảm ơn ngược những bạn đọc có lòng mới phải phép. Đùa vô duyên vậy thôi, xin đừng giận, ông nhà văn.

Vịn vào một thời đại đã qua để mô tả những biến động lịch sử cùng những diễn tiến hỗn tạp của xã hội đương thời là một dụng ý khá quan trọng của tác giả Sông Côn Mùa Lũ. Tôi không rõ những người điều hành, chỉ huy nền văn học nghệ thuật Xã Hội Chủ Nghĩa có đánh hơi ra được điểm này ? Chắc là có. Có nhưng họ vẫn biểu quyết để thông qua việc in và phát hành rộng rãi tác phẩm này trong nước, chỉ vì một lý do: giá trị đích thực về mặt văn học và nghệ thuật của tác phẩm. Từ rất lâu, vấn đề giao lưu văn hóa giữa trong và ngoài Việt Nam vẫn chỉ thập thò một chiều. Bàn tay đưa ra trước vốn của người rộng lượng, cởi mở. Trên những khán đài quyền thuật, đa số những võ sĩ thắng trận thường đến bắt tay, thân thiện với kẻ chiến bại. Những người cộng sản Việt Nam kể như đã thắng trong việc thống nhất lãnh thổ, nhưng họ vẫn sợ, chưa dám chấp nhận giao lưu văn hóa. Chẳng lẽ họ đã thua ở một bình diện nào đó ? Trên những tạp chí dưới đất hay trên mạng điện toán của Việt Nam, gần như không bao giờ dám nhắc đến những sinh hoạt văn học tại hải ngoại, trừ một vài tin về âm nhạc không thuộc “thế lực chống phá chế độ”. Những tạp chí Hợp Lưu, Văn Học, Việt… thỉnh thoảng có về được trong nước, hoặc được nhắc tên đâu đó một đôi lần, chắc cũng do một vài cá nhân còn giàu lãng mạn hoặc “điếc không sợ súng’. Trường hợp Sông Côn Mùa Lũ do đó trở thành một hiện tượng lạ. Dù sao cũng là điều đáng mừng.

Nhờ phát hành trong nước, Sông Côn Mùa Lũ được đón đọc rộng rãi. Những câu chữ sau đây của Hoàng Linh trên báo điện tử Tiền Vệ, cho chúng ta biết ít nhiều về giá trị của những sáng tác từ hải ngoại và tiếng vang không nhỏ của Sông Côn Mùa Lũ:

“…Có thể nói không cường điệu rằng, nếu năm 1998 là năm văn chương hải ngoại chiếm lĩnh sự chú ý của công luận trong nước, thì nửa năm đầu thuộc về tạp chí Văn Học (Mỹ) và nửa năm sau thuộc về Sông Côn Mùa Lũ và tạp chí Việt (Australia)…”

Ông Trần Độ, một quan chức cấp cao của chế độ xã hội chủ nghĩa, đã hồi hưu, cũng rất ưng ý với Sông Côn Mùa Lũ, ông viết:

“Sau khi viết thiên bút ký “Một cái nhìn trở lại “, tôi vẫn tiếp tục suy nghĩ và thấy ra rằng còn phải nhìn lại nhiều vấn đề lắm. Trong khi thấy như vậy thì lại đọc thêm một số sách về sử và vài cuốn tiểu thuyết. Trong có một cuốn mà tôi gặp trong đó nhiều ý nghĩ, nhiều tư tưởng có thể gợi cho tôi nhiều suy nghĩ. Đó là một bộ tiểu thuyết lịch sử tên là “Sông Côn Mùa Lũ “, tác giả là Nguyễn Mộng Giác nói về giai đoạn lịch sử nửa sau thể kỷ 18 ở miền Trung nước ta, về phong trào Tây Sơn của anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ. Tiểu thuyết dựng lại chân dung nhiều nhân vật lịch sử và cũng hư cấu chân dung một số nhân vật của thời đại đó, một cách sinh động, để làm nổi thêm các nhân vật lịch sử có thật. Qua sự việc và lời lẽ của các nhân vật, tác giả nêu lên những tư tưởng và những vấn đề của thời kỳ lịch sử đó mà cũng có nhiều ý nghĩa thời sự. ..”

Chẳng thể nào lượm hết những bày tỏ về Sông Côn Mùa Lũ, tôi xin nhắc lại một kỷ niệm riêng: Nhớ đã lâu, sau khi mượn từ thư viện Côte des Neiges về, tôi tạm để bộ trường thiên này bên bàn nước phòng khách, cậu út của tôi đi ngang, chợt đứng nhìn cái bìa một chặp, rồi thích thú với khám phá:

Sách in trật lất chính tả rồi, sông “con” mà có ô, thật…”

Cậu chưa nói hết câu, tôi đã mỉm cười sửa lưng:

Không phải sông con, sông cái đâu con. Đây là danh từ riêng, tên một dòng sông ở Bình Định như sông Hàn ngoài mình vậy…”

Cậu út tôi đứng ngẩn mấy giây rồi bước đi, không quên lầu bầu phỏng đoán:

Chắc con sông này qui tụ nhiều bọn côn đồ lắm!..”.

Tôi, thật sự cũng chưa thấy dòng sông Côn dài ngắn ra sao, hay không chừng đã thấy qua rồi mà khi nhìn chưa biết tên. Quê hương mình chẳng rộng là bao mà đi chưa hết, biết chưa tường quả thật đáng xấu hổ. Một ngày nào có dịp về Việt Nam, tôi sẽ đi thăm cho tận quê ông Phiến, quê ông Giác… để có dịp so sánh với đất Ngũ Phụng Tề Phi của tôi một cách công bằng.

Tịch thu, hoả thiêu sách báo, băng nhạc, họa phẩm…văn học nghệ thuật miền Nam vẫn âm thầm tồn tại. Ngoài lớp bạn đọc cũ, những người từ phương Bắc vào cũng háo hức tìm đọc, tìm hiểu. Những người sáng tác ở miền Nam, giai đoạn đầu cuộc đổi đời có khựng lại một thời gian ngắn, để rồi lặng lẽ viết, không kém hăng say như ngày trước. Những thay đổi, những qui định có tính cách ràng buộc, rào cản, vô tình trở thành cơ hội để thay đổi tư duy, đề tài. Cuộc chiến văn hoá, không “bày binh bố trận” nhưng dành từng phân chiến thắng lại ở trong tay những người vừa mất tự do. Điều này có thể nhìn vào lãnh vực âm nhạc mà suy ra. Nhạc tiền chiến, nhạc thời trang, qui chung vào một mối: nhạc vàng. Cấm. Nhạc đỏ hay nhạc phục vụ, ngợi ca chế độ, đương nhiên không phải bài nào cũng dưới trung bình, không thiếu những bài hay, những bài rất xuất sắc, nhưng theo thời gian những ca khúc đó nằm im trong một góc khuất. Không có nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ …nào chống đối việc thống nhất đất nước. Sự chấn chỉnh trong sáng tác đương nhiên cần có dưới một chính thể mới, nhưng sự vụng tay thô bạo đã đẩy những người làm công việc văn hóa nghệ thuật phải xa lánh chế độ. Đối với những người “nội công thâm hậu” như cỡ nhà văn Nguyễn Mộng Giác, thì việc cầm bút trở lại chỉ là vấn đề thời gian. Thời cơ thuận tiện đã đến với ông, ngay trong những ngày tị nạn khốn khổ trên những hòn đảo xứ người. Ông đã xác nhận:

“…Đây là thời kỳ độ viết lách sung mãn nhất trong đời viết của tôi”

Trong khung cảnh bao la màu xanh của biển của rừng, trên đầu mây che, chung quanh thú rừng, chim bướm, sâu bọ cùng thở, Nguyễn Mộng Giác mỗi ngày hoàn tất một truyện ngắn. Cái thời tạm dung ở Nam Dương của ông coi vậy mà hạnh phúc vô cùng. Càng hạnh phúc hơn, những sáng tác viết ban ngày, ban đêm đã có đám bạn đọc chuyền tay nhau san sẻ, thưởng thức. Những tác phẩm tốt số đó không bị tước đoạt, không bị đục bỏ một chữ nào. Chúng phương phi trở thành cuốn thứ nhất của bộ trường thiên Mùa Biển Động, và là từng phần da thịt của tập Ngựa Nản Chân Bon. Sự thành công trong cuộc sống cũng như trong sự nghiệp đến với Nguyễn Mộng Giác khá dễ dàng, nhờ ông có một tấm lòng rộng mở, biết lắng nghe, biết nhìn và đánh giá chính xác những người chung quanh. Trong bài nói chuyện với sinh viên đại học Berkeley, ông đã đưa ra vài ví dụ, có thể như là những bài học quí:

“…Các kinh nghiệm vượt biên tôi cố gắng ghi một cách trung thực, không tô điểm, nếu là người bi quan thì sẽ cho đó là những kinh nghiệm xấu, nhưng nếu là người lạc quan thì cho là chuyện bình thường. Chẳng hạn như khi tàu vượt biên bị chết máy, lênh đênh trên biển, hết nước, thì may mắn có trời mưa. Khi những giọt nước mưa chảy xuống cái tấm bạt trên ghe thì mấy ông già không chút do dự, đẩy bật những đứa trẻ ra để mà giành uống nước đó. Trong cảnh tranh tối tranh sáng, cảnh giành nhau để sống, con người rất tàn nhẫn. Nhưng cũng chính các cụ già này khi lên đến đảo thì lại hô hào mọi người làm vườn hoa cho các em chơi. Như vậy mình nói các cụ già giành nước với các em uống, và cụ già muốn làm vườn hoa cho các em chơi, cụ nào là thật? Khó trả lời lắm, rất khó trả lời. Một ví dụ nữa tôi lấy trong chuyến vượt biên: do hệ thống hút nước của ghe bị hư, ghe bị vô nước. Muốn cứu ghe thì phải tạt nước ra, nhưng không ai chịu làm cả. Nước đó dơ dáy lắm, gồm cả phân và nước tiểu, nên không ai chịu xuống tát ra cả. Tôi thấy vậy thì xung phong. Tôi nói tao già rồi nhưng mà tao xung phong để bọn trẻ bắt chước, hy vọng là bọn trẻ thấy mình làm thì sẽ thấy lòng ân hận mà xuống giúp mình, nhưng không ai giúp cả. Sau đó tôi nghe bọn trẻ nói chuyện với nhau, “Tội gì mình phải xuống làm. Phải giữ sức khỏe để lỡ ghe chìm còn sức mà bơi.” Đại khái như vậy. Nếu mình bi quan thì cho là những con người rất xấu trong cảnh tồn tại nguy hiểm. Nhưng nếu mình lạc quan, nhìn một cách dung dị hơn, thì mình cho họ đáng thương. Qua những kinh nghiệm đó, tôi nghĩ là tôi có lý. Không có người xấu, chỉ có người đáng thương. Và tôi dùng cái nhìn đó để tạo những nhân vật của bộ SCML và bộ MBĐ. Qua hai bộ trường thiên và tập truyện ngắn Xuôi Dòng, các bạn sẽ thấy tôi nhìn đời không tốt, không xấu, nó tự nhiên như vậy. Con người chỉ có hai loại, con người đáng yêu và con người đáng thương. Tôi không biết các bạn có đồng ý với tôi không…”

Ngựa Nản Chân Bon in đầu tiên vào năm 1984, năm tôi đang ở Sài Gòn.

Năm 1989, tôi gởi bản thảo một tập thơ, viết trong thời gian già ba năm sống tại thành phố Montréal cho nhà thơ Thái Tú Hạp, tìm cách in giúp. In truyện dễ dàng bao nhiêu thì in thơ khó khăn bấy nhiêu. “Con đường vương giả tiến lên đài vinh quang”, hình dung của nhà văn Võ Phiến dành cho thơ, cũng đã đúng như ông nhận xét tiếp… “nhưng đến đây thì tiếng nói thanh tao đành bị tiếng đại bác át hẳn”. Vậy mà tôi vẫn cố chơi cho kỳ được. Tập thơ của tôi có tên Chùn Bước Đời Ngựa Ô. Nhận được bản thảo, Thái Tú Hạp gọi ngay, đề nghị sửa lại tên sách. Lý do: không khác với Ngựa Nản Chân Bon là bao nhiêu. Tôi thuận theo ý kiến của anh Thái Tú Hạp, sửa tên tạp thơ thành Ngơ Ngác Cõi Người.

Ngựa Nản Chân Bon đã tái bản lần thứ 4 vào năm 2003, đây là tập truyện ngắn thứ hai của tác giả. Sách dày 260 trang với 13 truyện và một bài “thay lời tựa” của nhà văn Võ Phiến, dài 14 trang. Không thể phủ nhận mức độ tiêu thụ nói nên một phần giá trị tác phẩm. Tôi không dám đề cập đến văn chương, tác phẩm Nguyễn Mộng Giác. Ông là một nhà văn thành danh đã lâu và có uy tín lớn trong lẫn ngoài lãnh thổ Việt Nam. Mỗi sáng tác của ông là một công trình nghệ thuật văn học nghiêm túc. Chính vì thế, mỗi bạn đọc nên tìm thẳng đến tác phẩm để hiểu theo những cảm nhận, đánh giá riêng của mình. Bài thay lời tựa của nhà văn Võ Phiến, viết rất kỹ và rất khách quan. Nhà văn Võ Phiến không những giới thiệu chu đáo về người bạn văn của mình mà còn trưng ra rất rõ những điểm đặc sắc trong văn phong cũng như con người của một cây bút chân tài của văn chương Việt Nam. Tôi định trích dẫn vài đoạn bài viết này, nhưng lại thôi, vì nét nào Võ Phiến vẽ Nguyễn Mộng Giác cũng đáng mách cùng bạn đọc cả. Không lẽ dám trích hết nguyên bài ?

Ngựa Nản Chân Bon, là một tác phẩm nhà văn Nguyễn Mộng Giác đắc ý. Sáng thứ bảy ngày 28 tháng 2 năm 1987 trên đài VOA cho phổ biến bài điểm sách Ngựa Nản Chân Bon. Bài viết được thực hiện bởi ký giả Bùi Bảo Trúc, dưới bút hiệu Bảo Lâm, được in lại trên tạp chí Văn Học tại Hoa Kỳ số 16, phát hành trong tháng 5-1987.

Bài điểm sách được ông Bùi Bảo Trúc bố cục thành 4 phần, khá dài. Trong hai phần đầu ông khai triển những ý chính:

. Ngựa Nản Chân Bon (NNCB) cần nên đọc nhiều lần, vì “mỗi lần đọc, dường như lại một khiá cạnh mới của những câu truyện đó hiện ra”

. giới thiệu bối cảnh, thời gian và lý do viết của NNCB.

. mục đích viết, được Bùi Bảo Trúc khẳng định: “NNCB đã được viết cho chính tác giả”, không bị những ràng buộc bởi kiểm duyệt, chế độ phải tuân thủ, và cả nhà xuất bản.

. cuốn sách là gạch nối giữa hai thời kỳ cầm bút của Nguyễn Mộng Giác (trước 1975 và sau này tại hải ngoại)

Tôi xin trích dẫn nguyên văn phần kế tiếp:

“ trong số 13 truyện ngắn của tập NNCB thì có 6 truyện lấy khung cảnh Việt Nam. 7 truyện kia có bối cảnh là hòn đảo nhỏ nơi tác giả ỏ tạm sau chuyến đi kéo dài một tuần lễ khởi từ Việt Nam.

Nguyễn Mộng Giác là con người chừng mực trong lời ăn tiếng nói ngoài đời, nhưng trong văn chương, ông là người có đôi mắt ‘tinh tường không để thoát một chi tiết nhỏ nhặt nào’ như nhà văn Võ Phiến đã có lần nhận xét về ông. Trong truyện Tố Chân, truyện tình duy nhất trong cuốn NNCB, Nguyễn Mộng Giác viết về một cuộc tình không kết thúc của một mối tình đầy hệ lụy và nghịch cảnh. Mối tình đi từ hoa bướm của tuổi mới lớn, của đôi guốc cao gót đầu tiên đến một đoạn đời hắt hiu của một thiếu phụ không hạnh phúc trải dài ngang thời gian mười năm trời. Truyện Một Ngày Như Mọi Ngày, có lẽ độc giả thấy được con người thật nhất của Nguyễn Mộng Giác. Ẩn dưới khuôn mặt ít nói, ít nói đôi khi đến nỗi ta tưởng ông là người cả thẹn và bẽn lẽn đó, là một bộc óc hài hước rất khô, hài hước rất Ăng Lê của ông. Một Ngày Như Mọi Ngày vẽ lại cảnh sống của một nhà văn gốc nhà giáo, mà người đọc ngờ đó chính là ông, mặc dù anh đã cẩn thận dùng ngôi thứ ba số ít. Nhân vật này trong những băn khoăn , lo âu của cuộc sống đã xuất hiện với một khuôn mặt rất người, rất nhân bản, rất hài hước và rất triết lý, cho dù đó là lúc phân vân không biết bán món đồ nào trong nhà để lấy tiền, hay làm thế nào kiếm được cái áp-phe, hoặc đứng chen chân mua gạo ở một cửa hàng. Truyện Dốc Nhân Sinh là một truyện chỉ có thể xảy ra ở Việt Nam hay tại một quốc gia vừa tàn một trận nội chiến. Hai người phế binh của hai phe mà cũng là hai người bạn thời thơ ấu gặp nhau tại một quán nước. Một người cụt chân vì đạn AK, một người mù vì đường xá xôi, thiếu phương tiện tải thương cấp cứu. Hai cuộc đời tan nát ngồi nói về những ngày cũ trong một cảnh sống vô cùng bi đát, Một người héo như cành cây bị gãy, một người quắt queo như một trái chanh đã vắt hết nước vừa bị quăng đi. Câu chuyện trao đổi giữa hai người không mang một lời thù oán nào.

Những truyện viết về đời sống trên đảo Kuru nơi ông viết cuốn NNCB đã là những truyện sống nhất. Từ bức thư nét chữ nắn nót của cậu bé gởi về cho mẹ, dặn dò đứa em, đến bản tạ ơn của bốn thanh niên chất phác viết để lại dưới chân Phật đài ở một Niệm Phật đường trên đảo, những lời lẽ chân thật một cách tội nghiệp của những đời sống sắp bơ vơ trên những vùng đất lạ. Nguyễn Mộng Giác khéo léo vẽ lại được bằng những nhận xét tỉ mỉ của ông những mẫu người ông gặp trên đảo. Những nhân vật ấy trong những ngày chờ đợi dài đằng đẵng đã có dịp ngồi xuống, duyệt lại, nhìn lại đoạn đời trước đó của mình. Đó là những con ngựa đã nản chân bon mà chịu làm con ngựa gỗ. Đó là một ông già sống hồn nhiên như một em bé mà lại triết lý đầy người, nhân bản hết sức, một bà cụ chỉ lo con gái ở Việt Nam quên món nợ ở ngoài chợ…”

(BảoLâm,Voice of America)

Bài điểm sách NNCB của ông Bùi Bảo Trúc, quả thật quá đầy đủ. Nhưng tôi vẫn muốn viết vài dòng. Theo tôi, Ông Nguyễn Mộng Giác thành công trong tác phẩm truyện ngắn này qua các điểm sau:

. Thực hiện đúng câu “Phải viết cái gì trung trực” (trong Một Ngày Như Mọi Ngày)

. Sinh động trong những nét phác họa cuộc sống thường nhật chung quanh

. Tinh thần lạc quan và có tài trong việc biến một số câu chữ thành những hình ảnh hóm hỉnh, phát ra được tiếng cười ngay trong những trường hợp bi quan nhất.

. Có một tấm lòng trong sáng, không hận thù và hằn học với quá khứ. Sự vị tha làm cho ngòi bút trở nên thong dong, nhẹ nhàng.

. Những triết lý về sự sống, cuộc đời không quá xa vời. Nhờ đó trở thành những lời nhắn nhủ, gởi gắm chân tình, cũng như chia xẻ những vốn sống đã có của mình cùng mọi người.

. Dòng văn mang nhiều chất thơ,

Một tác phẩm quan trọng khác của nhà văn Nguyễn Mộng Giác là bộ trường thiên tiểu thuyết Mùa Biển Động. Toàn bộ dày 2000 trang viết đều đặn trong 7 năm, xen kẽ giữa thời gian đi làm thiết kế đồ hình (graphic designer) tại một công ty điện thoại Hoa Kỳ, ngày 8 tiếng. Để có kiên nhẫn và hứng thú cầm bút, nhà văn Nguyễn Mộng Giác cho biết đã vịn vào sự ngây thơ đi kèm với niềm đam mê. Thế nào là ngây thơ ? tác giả giải thích:

“…Nhưng để giải thích vì sao mình kiên nhẫn như vậy thì điều chính là thế này, mình chỉ bỏ công viết được những tác phẩm đòi hỏi sự kiên nhẫn khi nào mình ngây thơ. Cái đam mê đương nhiên là có rồi, nhưng phải ngây thơ nữa. Khi tôi viết bộ này, thì hoàn cảnh sống quá bi đát, cả phương diện vật chất và tinh thần. Tôi nghĩ rằng mình viết như viết di chúc vậy, viết xong chết cũng được. Nhưng may là viết xong… chưa chết. Hồi viết bộ này thì tôi cũng ngây thơ nữa, cứ cho là cái kinh nghiệm mình trải qua ở Việt Nam từ năm 1963 là năm Ngô Đình Diệm sụp đổ, cho đến năm 1981, qua nhiều chế độ, nhiều thăng trầm, nếu mình không viết thì sẽ không ai viết cả, và như vậy thì uổng lắm. Quá ngây thơ! Thật ra, nếu mình không viết thì sẽ có người viết và viết hay hơn mình. Do cái ngây thơ đó nên tôi ráng viết trong vòng bảy năm và hoàn tất bộ này”.

Nhà văn Nguyễn Mộng Giác cũng cho biết những khuyết điểm của công trình tâm huyết của ông:

“…Khi đọc lại, dĩ nhiên thấy không bằng lòng. Các bạn biết mình như người thợ hàn vậy thôi. Mình lấy miếng này mình hàn miếng kia, độc giả không thấy nhưng mình thấy. Tất cả các phần ghép nối, các phần giả tạo, phần tưởng tượng chưa tới, mình đều thấy cả. Đọc lại tôi thấy không bằng lòng. Nhưng may là, nếu hồi đó không viết thì bây giờ không viết nổi. Có người hỏi tôi, bây giờ anh rảnh, sao không viết cái gì đi. Tôi trả lời một cách triết lý là bây giờ mọi thứ không còn quan trọng nữa, viết làm gì. Mình biết mình không viết được thì cứ nói mình không viết được, đừng nói dối. Quả là khi mình không còn ngây thơ thì mình không thể viết được nữa. Chúc các bạn giữ được ngây thơ, nhờ ngây thơ đó mà các bạn làm được nhiều việc. Sau khi in bộ này, tôi không còn viết được gì nhiều ngoài một số bài luận về văn học như cuốn “Nghĩ Về Văn Học Hải Ngoại”.

Dù tác giả chưa thật sự bằng lòng với công trình của mình, Mùa Biển Động vẫn được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt. Tác phẩm gây được tiếng vang lớn, tạo ra hai thành phần chê, khen. Bên phía những người chỉ trích, hầu hết là những người chưa kịp điều chỉnh cho phù hợp tình yêu nước của mình trước những diễn biến chung của hai khối Quốc, Cộng. Quá khích, cứng ngắc và đố kỵ đã tạo nên những người phê bình văn học mà không cần đọc tác phẩm. Họ chỉ dựa theo một vài tin thiếu xác thực trên báo, hoặc nghe kể lại bởi những đánh giá hạn hẹp, thiếu trung trực để có cơ hội bôi bẩn, hạ uy tín một người có lòng với văn chương, với quê hương. Dĩ nhiên trong nhóm này không thiếu những người thông minh, đánh hơi được sự nguy hiểm của một ngòi bút đối với chế độ họ đang ngấm ngầm phục vụ, buộc họ cần lấy điểm. Những gì thiếu trung trực thường sớm được lặng lẽ kết thúc. Thành phần tán dương Mùa Biển Động không ít, nhưng rất may không quá ồn ào. Giá trị của tác phẩm cứ theo thời gian mà tăng thêm độ bền vững.

Với 2000 trang, Nhà văn Nguyễn Mộng Giác viết những gì ? trình bày được những gì ? Câu trả lời xin dành cho bạn đọc tùy nghi dành cho chính mình. Nếu vui tay mời gõ thành chữ cho bốn phương cùng đọc. Cá nhân tôi, hiểu mình, biết người, nên xin áp dụng đúng vế sau của câu này: “biết thì thưa thốt…”. Chỉ xin được giới thiệu bộ trường này gồm 5 tập:

1/ Những Đợt Sóng Ngầm, 392 trang, Văn Nghệ xuất bản năm 1984, tái bản 3 lần.

2/ Bão Nổi, 239 trang, Văn Nghệ xuất bản năm 1985, tái bản 6 lần.

3/ Mùa Biển Động, 332 trang, Văn Nghệ xuất bản năm 1986, tái bản 6 lần.

4/ Bèo Giạt, 433 trang, Văn Nghệ xuất bản năm 1988.

5/ Tha Hương, 644 trang , Văn Nghệ xuất bản năm 1989.

Một trong nhiều người, đã vui tay một cách tận tình khi gõ thành chữ những quan niệm và nhận xét của mình về Mùa Biển Động, là một vị thầy giáo trung học có bút danh rất yểu điệu thục nữ: Nguyễn Thị Sông Hương. Nếu tác giả Mùa Biển Động đã dùng 7 năm để hoàn tất bộ trường thiên hai ngàn trang, thì ông Nguyễn Thị Sông Hương, vừa đứng nghiệp chủ quán sách Trung Việt ở thành phố Montréal, Canada, vừa bỏ ra hai năm rưỡi để thực hiện tươm tất cuốn Phê Bình Mùa Biển Động. Một công trình nghiên cứu, nhận xét, đánh giá dày đến 332 trang, chữ nhỏ.

Là một nhà giáo Việt văn kỳ cựu trong nghề, hành nghiệp tại trường trung học Võ Tánh, Nha Trang, ông Nguyễn Thị Sông Hương đã bố cục rất chặt chẽ trong cuốn sách phê bình văn học của mình. Hình như ông là người đầu tiên và chờ trở thành người cuối cùng, rộng tay với chỉ một tác giả như vậy. Nếu nêu lên những ưu khuyết về cuốn sách phê bình của ông Trung Việt (anh em bạn văn chúng tôi ở Montréal thường gọi như thế) một cách cặn kẽ, thì tôi sẽ lạc đề. Nếu tôi dựa vào sách ông để viết ít nhiều về Mùa Biển Động, ví dụ như tóm tắt sơ lược cốt truyện, đưa ra những hoàn cảnh lịch sử dùng làm bối cảnh cho tác phẩm, hoặc giới thiệu quan niệm và chủ đích của tác giả, thì tôi là người thiếu lương thiện. Tôi đã có đọc Mùa Biển Động, nhưng chưa đọc một cách nghiêm chỉnh, nghĩa là đọc rời rạc làm nhiều lần, nhiều cơ hội khác nhau. Làm công việc điểm sách hay nhẹ nhàng hơn là giới thiệu sách, không những phải có kiến thức, khả năng trình bày những nhận xét khách quan của mình một cách rõ ràng, gọn nhẹ. Không thể nhờ bè bạn kể cho nghe về cốt truyện, giới thiệu nên đọc một số đoạn tiêu biểu, rồi bắt tay xuống bút, rồi tha vào bài viết những tư tưởng, những câu viết của những nhà văn thành danh nước ngoài để lòe bịp, gánh đỡ kiến thức của mình.

Giới thiệu Mùa Biển Động trong mớ chữ lạng quạng của tôi, không thể thiếu, nhưng chỉ có thế, dù những nhân vật, những biến động thời sự diễn tiến trong tác phẩm dài hơi của nhà văn Nguyễn Mộng Giác, rất gần với tôi, ngó lại như thấy rõ một thời. Bởi cá nhân tôi có mặt trong đám nhân vật của ông Giác. Không đốt nhà nhưng cũng từng từ khu Thanh Bồ hơ hải chạy trở ra. Không diễn thuyết, kích động, nhưng từng đứng trên lan can Tòa Thị Chính nhìn ra sông Hàn, nhìn đám đông hoan hô đả đảo dưới lòng đường Bạch Đằng. Không mang Phật ra đường nhưng đã từng cùng bè bạn thu vén giúp một số bàn thờ ấm hương khói trên đường Ông Ích Khiêm, Triệu Nữ Vương, Hoàng Diệu…ngậm ngùi trở vào hiên nhà. Hình như rất nhiều đoạn đời trong Mùa Biển Động đều phảng phất hình ảnh của chính tôi một thời. Tôi không lạ mặt với những tờ Lập Trường, Đứng Đầu Gió…Những tin nóng bỏng có máu, có nước mắt có cả sự giật giây, thổi phồng của những người anh em bên kia sông Bến Hải, của những bè bạn ăn cơm bên này thờ phụng bên nọ. Mùa Biển Động của Nguyễn Mộng Giác vật vã quá dài, đi từ nền Đệ Nhị Cộng Hòa với đầy đủ những biến cố lớn của lịch sử đến ngày hấp hối của một chế độ, một thời từng trưng dụng một ít máu của chính tôi. Sống lại một thời từ Mùa Biển Động, dĩ nhiên tôi không chỉ tìm ra tôi mà còn thấy rất nhiều bằng hữu. Tôi cũng ít nhiều cảm được chính tác giả sống ké vào những nhân vật nào. Chính tác giả đã sống thật qua những gì ông hàn nối, lắp ghép thành một công trình văn học để đời.

Ngoài Nguyễn Thị Sông Hương, không thiếu những ngòi bút phê bình uy tín phân tích Mùa Biển Động. Những Thụy Khuê, Nguyễn Hưng Quốc …đều dự phần chia vui cùng tác giả. Điều quan trọng, tuy dựa vào bối cảnh lịch sử, nhưng Mùa Biển Động không thuộc loại tiểu thuyết lịch sử, tác giả khẳng định trong “lời thưa trước với bạn đọc”:

“ Toàn bộ trường thiên tiểu thuyết Mùa Biển Động không phải là một bộ tiểu thuyết lịch sử. Tác giả không có khả năng, mà cũng không có ý định ghi lại các biến chuyển lịch sử Việt Nam từ 1963 đến nay. Tác giả chỉ mong ước ghi lại những biến chuyển tâm trạng của một thế hệ thanh niên trong giai đoạn đó mà thôi.

Cho nên dù tác phẩm có mô phỏng một số mẫu sống, một số nhân vật, một số sự kiện lịch sử có thật, nhưng Mùa Biển Động chỉ là sản phẩm của tưởng tượng. Những người từng tham dự vào các biến động lịch sử trong giai đoạn này chắc chắn thấy rõ điều đó.

Sỡ dĩ tôi có lời thưa này, là vì cho đến nay, vẫn còn rất nhiều bạn đọc không muốn phân biệt giữa sự thực lịch sử và sự thực tiểu thuyết.

Đâu là sự thực của đời sống ? Đó là điều tác giả quan tâm trước tiên khi dự định viết bộ trường thiên tiểu thuyết này”

(Nguyễn Mộng Giác)

Trước 1975, nhà văn Nguyễn Mộng Giác có bài trên các tạp chí Bách Khoa, Văn, Thời Tập, Ý Thức… nhưng ông chưa thật sự tham gia vào việc làm báo. Nhờ cũng có lai rai đôi ba bài thơ ở Bách Khoa, tôi làm quen với cái tên gọi Nguyễn Mộng Giác, bình thường như những bút danh khác Nguyễn Ngu Í, Xuân Hiến, Lê Ngộ Châu, Võ Phiến, Trần Huiền Ân, Vũ Quỳnh Bang, Minh Quân, Lữ Quỳnh, Trụ Vũ…Tôi là một anh “Hai Lúa” của miền Trung, nhưng đi đâu cũng sợ, đến đâu cũng ngại, phản ánh rất đúng câu: “…con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh” nên chuyện vào Sài Gòn trong thời kỳ tập viết của tôi rất xa vời. Chuyện ghé thăm các tòa soạn là một điều không tưởng. Tuy vậy tôi quen biết qua thư từ khá nhiều, nhưng trong đó không có nhà văn Nguyễn Mộng Giác. Tôi nhớ lại thời thỉnh thoảng có vài ba nhà văn Sài Gòn có dịp tạt ngang Đà Nẵng, đã vui chân ghé thăm tôi tại sở làm, trong đó có nhà văn Ngô Thế Vinh, nhà văn Dzoãn Dân (qua đời ngay sau đó không lâu) nhà thơ Phan Trước Viên (cũng đã qua đời vì bom đạn ít lâu sau)… và một người, không chắc có phải là ông Nguyễn Mộng Giác không ? Nhưng có điều lạ, đã từ lâu tôi hình dung trong đầu, tầm vóc của hai nhà văn Ngô Thế Vinh và Nguyễn Mộng Giác na ná như nhau. Vóc người không lùn, không cao. Tròn tròn, không ốm, không mập. Nước da không quá sáng cũng chẳng quá sậm, đủ độ vàng của một người vừa trí thức vừa chân chất bình dân. Nói không nhiều, cười không lớn tiếng. Nhưng tặng ngay cho người đối diện sự thân mật, tự nhiên. Riêng Nguyễn Mộng Giác, nhà văn Võ Phiến tô đậm thêm:

“…Ở Giác, tôi chắc chắn tất cả bạn bè Giác và những ai quen biết Giác đều nhận thấy cái hiện ra bề ngoài rõ ràng nhất là sự nghiêm chỉnh: nghiêm chỉnh ở nét mặt, cái nhìn, phong thái. Đó là cái tính cách hiển hiện nổi bật từ toàn bộ trước-tác của Nguyễn Mộng Giác…”

Nhà văn Nguyễn Mộng Giác không họa ra nhân dạng mình, nhưng ông cho biết con người nội tâm của ông:

“…Bản tính tôi nhút nhát, vụng về trước đám đông (điều này có lẽ ông khiêm nhường), không dễ tạo cảm tình nơi người khác lúc sơ giao. Những người có thiện cảm với tôi như nhà văn Võ Phiến thì rộng lượng cho rằng tôi ‘cẩn trọng từ tốn, không dàn trải mình ra bên ngoài, không bộc lộ náo nhiệt, cuộc sống thu lắng cả vào bên trong’. Những người có thành kiến xấu chắc chắn sẽ nghĩ tôi lãnh đạm, khó khăn. Bản tính vui buồn, nhanh chậm thuộc về bẩm sinh, tôi không can thiệp vào được. Tôi chịu nhiều thua thiệt do bản tính đó, nhưng đôi lúc nhờ ít nói cũng tránh được những lầm lẫn ngông cuồng. Càng ít nói càng đỡ lỡ lời…”

(Tha Hương, MBĐ 5)

Năm 1985, tôi qua Montréal vào tháng giêng. Chừng bốn, năm tháng sau, nhà văn Nguyễn Mộng Giác tiếp nối công sức của nhà văn Võ Phiến, chăm sóc tạp chí Văn Học. Tôi có dịp quen với bút danh của tác giả Sông Côn Mùa Lũ nhiều hơn. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác chắc cũng biết qua bút hiệu tôi chút chút, vì tôi thỉnh thoảng gởi bài cho tòa soạn chờ được chọn đăng. Thơ thẩn càng ngày càng trở thành chuyện ruồi bu. Buồn chán, vất vả sinh ra thi sĩ. Sung túc, trưởng giả sinh ra thi sĩ. Cứ vậy ngày một nhiều, ngày một đông những người chí tình làm thơ. Họ có cái thơ ngây lớn hơn tác giả Mùa Biển Động rất nhiều. Và vì thế tòa soạn bất cứ loại báo nào cũng thặng dư thi ca. Rất may cái thời “làm thơ gởi chạy nhật trình, đề tặng em để lừa mình đó thôi” (LH) của tôi đã đi qua. Tôi gởi thơ đăng báo để nuôi cầm chừng cái tên mình cũng có. Tôi gởi thơ đăng báo để tạ ơn các vị làm báo, nuôi báo, đã gởi cho mình báo đọc cũng có. Gởi bài nhưng gần như chẳng gởi thư, hoặc họa hoằn ghi vắn tắt bên dưới bài thơ vài dòng, cụ thể: “Anh thấy được thì ‘đi’ không thì vứt.”. Có một lần tôi viết nhiều chữ hơn cho ông chủ bút Văn Học: “ bài thơ có nhắc đến tên nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, anh thấy ngại, thì bỏ”

Nhà văn Nguyễn Mộng Giác gởi ngay cho cái hồi âm, đại ý: “sao lại ngại” và một vài câu ngắn gọn nữa, chân tình, thâm thúy lắm. Nhưng tôi nhớ không ra. Đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng tôi có được một vài chữ viết của một người tôi ngưỡng mộ, nhưng nay, mẩu giấy ấy lạc đâu mất. Thật tiếc. Mỗi lần in thơ, hình như tôi có đề tặng người cha đẻ của Tiếng Chim Vườn Cũ một tập, nhưng tôi chưa hân hạnh được ông cho một tác phẩm nào của ông để làm oai, khoe với đám con và cô vợ, cũng thỉnh thoảng đọc sách. Tác phẩm của Nguyễn Mộng Giác nặng ký ở nhiều phương diện, giá trị nghệ thuật, lẫn chi phí in ấn, đâu có thể thành xôi chuối của nhà chùa. Nhắc điều này, tôi tuyệt nhiên bình thản, không có ý nhắc khéo hay trách nhẹ gì, chỉ để chứng minh tôi hiện không có một thủ bút nào của ông, để scan bỏ vào bài viết (như những người khác), cho ấm thêm những dòng ba hoa. Và từ nay cho tới ngày về làm thơ ở ngục A tỳ, tôi chắc chắn sẽ không có được cái đang thiếu, vì nếu có liên lạc cũng chỉ gõ vào email. Tiếc.

Giữa tháng 6 năm 1992, nhà văn Nguyễn Mộng Giác cùng một số bạn văn khắp nơi ghé về thành phố Montréal, tham dự buổi sinh hoạt “Kỷ niệm 35 năm văn học hội họa Võ Đình”, Nhà văn Nguyễn Mộng Giác đến Montréal, dĩ nhiên, tôi có được bắt tay ông, nói với ông vài câu xã giao. Ông vẫn như thời tôi đã tưởng tượng trên. Tế nhị, hòa nhã và đứng đắn với nụ cười chúm chím trên môi. Những năm tháng tiếp theo, giữa chúng tôi vẫn vậy. Tôi vẫn được tặng tạp chí Văn Học dù năm ba số chưa thấy cái tên Luân Hoán xuất hiện một lần. Tình hình tiêu thụ báo chí có phần sút giảm. Lệ phí gởi báo lại tăng, Văn Học lên tiếng than phiền, tôi hơi chột dạ, chẳng giúp được anh em điều gì. Tôi vội ghi mươi chữ, kính gởi đàng hoàng, để xin thôi nhận báo biếu. Dĩ nhiên tôi được chấp thuận dễ dàng. Hết báo đọc, tôi rất ít biết tin sinh hoạt của văn thi sĩ bốn phương. Tin về nhà văn Nguyễn Mộng Giác cũng gần như mù luôn. Rất may, ở gần tôi có nhà văn Song Thao, anh cộng tác với Văn Học nên có báo tặng. Tôi siêng thì mượn đọc chơi. Chuyện lẩm cẩm làm thơ đăng báo của tôi, tuy không tuyên bố nhưng xem như chấm dứt, dù tôi vẫn mần thơ tùy hứng. Nhờ qua anh Song Thao, tôi biết nhà văn Nguyễn Mộng Giác có thêm một số tác phẩm nữa:

Tập tiểu luận Nghĩ Về Văn Học Hải Ngoại, xoay quanh các vấn đề như tên sách, với 19 tiểu mục, trong đó có ba bài Nguyễn Mộng Giác trả lời nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh, nhà văn Trần Doãn Nho và nhà văn Trần Long Hồ. Một bài thảo luận về tiểu thuyết lịch sử với nhà văn Nam Dao. Qua những câu trả lời phỏng vấn của Nguyễn Mộng Giác, tôi hiểu thêm được rất nhiều vấn đề. Nhà văn Trần Long Hồ đã mở ra cơ hội để nhà văn Nguyễn Mộng Giác nói về sự hình thành cùng diễn tiến sinh hoạt của tạp chí Văn Học tại Hoa Kỳ . Nhà văn Trần Doãn Nho nêu lên những câu hỏi có tính cách chuyên môn về vấn đề sáng tác. Nhờ thế, chúng ta có thể biết quan niệm văn chương, những yếu tố căn bản trong tác phẩm của Nguyễn Mộng Giác. Ta cũng biết thêm cách gầy dựng cốt truyện, cách sử dụng nhân vật và những điểm cần thiết, chuẩn bị trước khi bắt tay điều hành những con chữ. Nói chung, kỹ thuật viết văn được Nguyễn Mộng Giác trình bày trong những câu ông trả lời Trần Doãn Nho.

Một tác phẩm khác thuộc loại tạp luận, có tên Bạn Văn, Một Thuở… Mới nhìn cái đề, tôi có thêm một lần giật mình nữa. Tôi tự hỏi, hóa ra mình đang bắt chước? Rất may, nhà văn Nguyễn Mộng Giác không viết tầm phào như tôi. Tuy đề tài của ông cũng liên quan đến bạn bè, nhưng những gì ông viết toàn là chuyện văn chương chữ nghĩa cả. Nó thể hiện đúng tầm vóc và tác phong của ông. Muốn biết ông đọc tác phẩm của Miêng ra sao, ông giới thiệu Chân Mang Giày Số 6 của Song Thao thế nào, hoặc cùng ông “Đi Vào Cõi Thơ Khoa Hữu” v..v.. đều đọc thấy trong tác phẩm dày 260 trang này. Giá cũng chỉ 13 Mỹ kim. Người có khả năng viết cái gì cũng đạt. Câu này đem nghiệm với Nguyễn Mộng Giác rất chính xác.

Mùa hè năm 2006 tôi và gia đình bất ngờ đến thăm quận Cam California, nhưng không tình cờ khi ghé thăm nhà văn Võ Phiến và nhà văn Nguyễn Mộng Giác. Hai ông văn sĩ này là những ngọn đỉnh thu hút những người cầm bút dù mới, dù cũ, nếu có cơ hội, đều muốn gặp qua cho biết. Vợ chồng Thái Tú Hạp và vợ chồng Thành Tôn là những kẻ đưa đường, giới thiệu. Trên đường đi, tôi được các bạn cho biết sự vui tính của chi Nguyễn Khoa Diệu Chị. Quả nhiên khi xe vừa ngừng ngoài lộ, chúng tôi đã bắt gặp được những tiếng cười nhẹ nhàng bên cạnh những tiếng reo vui của cậu cháu ngoại măng sữa của anh chị Giác.

Tổ ấm mới của gia đình nhà văn Nguyễn Mộng Giác, khang trang rộng rãi, nằm trong thành phố Westminster, quận Cam, không xa trung tâm Little Sài Gòn là bao nhiêu, chỉ năm phút, ba phút hay sáu phút… tùy hứng của mỗi người lái xe, là có thể có mặt tại nơi đô hội này. Căn nhà của nhà văn Nguyễn Mộng Giác không to lớn như một villa sang trọng, nhưng là một nóc gia có phong cách rất Việt Nam. Từ đường lộ, lối vào lát đá có đủ chiều dài, để vừa thư thả bước đi, vừa ngắm tổng quát khu nhà đầy đủ sân, hiên, vườn cây, giàn nuôi hoa lá. Phòng khách rộng, thật lý tưởng cho những cuộc hội ngộ năm, mười bằng hữu, lai rai tán dóc chuyện đời, chuyện sách vở. Cuối phòng khách, cánh cửa sổ đủ sức mời những đôi mắt vô tình, lơ đãng nhất phải nhìn, phải ngắm vườn cây xanh bên ngoài. Cạnh cửa sổ là những tủ sách đứng chạm vai nhau trong dáng vẻ trầm lặng quan sát. Nhìn tủ sách, bạn đến chơi cảm thấy được sự mời gọi thật ấm áp. Những tác phẩm đủ loại đứng chen nhau như chờ đợi, như thăm hỏi. Cùng với sách những khung ảnh đủ cỡ, lồng chân dung nhiều khuôn mặt sáng mát, thân tình. Bàn viết, ghế ngồi không xa những tủ sách bao nhiêu. Người viết văn hẳn nhiên phải có một chỗ ngồi đàng hoàng, không thể tùy tiện như mấy chàng làm thơ. Nhưng trong phòng khách của nhà văn Nguyễn Mộng Giác không phải chỉ có vậy. Nhiều loại máy móc cần dùng, nhiều món đồ chơi của trẻ con được bày đặt rải rác và nhất là tràn đầy những tiếng cười lạc quan của một người đàn bà, biết thế nào là yêu chồng, yêu cuộc sống.

Tuy không thân tình, nhưng anh chị Giác (tôi xin thay đổi cách xưng hô ở đoạn này cho đúng với thực tế) đã dành cho tôi chừng nửa tiếng đồng hồ, nói chuyện khá vui vẻ. Đây là bản tính hiếu khách của anh chị. Tôi rút được một bài học trong chuyến thăm viếng đáng nhớ này là sự lạc quan. Bài học giản dị nhưng tôi chưa chắc thực hiện nổi, nếu cũng gặp khá nhiều trục trặc trong sức khoẻ như anh Nguyễn Mộng Giác. Sự lạc quan của anh đang chiến thắng những con vi trùng ung thư. Và chị Diệu Chi chứng minh được câu nói rất nhà binh “tiếng cười át tiếng bom”. Câu chuyện trong tương kính xã giao dần dần cởi mở hơn, nhất là sau lúc anh Giác gọi phone rủ nhà thơ Lữ Quỳnh đến chơi, Lữ Quỳnh thành danh từ đầu thập niên 60. Tôi biết danh anh từ lâu nhưng cũng chưa được gặp bao giờ.

Cách đây chừng một tuần, nhà văn Song Thao cho tôi biết sức khoẻ của nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã vô cùng khả quan. Căn bệnh họ Ung của ông đã thật sự bị thất thế, trước sự bình tĩnh của ông cộng thêm sự vui vẻ lạc quan của chị Nguyễn Khoa Diệu Chi. Người đời thường nói: Sống chết là chuyện thường tình. Tôi thấy khó bình thường được. Nếu chẳng may ông Nguyễn Mộng Giác không có được chị Diệu Chi, tôi không có được Trần Thị Lý, Song Thao không có được chị Diệu Hương, Phan Ni Tấn không có Châu Khả Khiếm… thì chắc rất là phiền. Nhà thơ Du Tử Lê đã kết hợp với nhạc sĩ Từ Công Phụng để tạ ơn em một đời. Nhà văn Thế Uyên và tôi cũng từng được đồn là ca ngợi vợ. Nhà văn Song Thao, trong trang đầu của cuốn truyện thứ sáu của anh, cuốn “Bên Lưng Những Con Chữ”, cũng đã bỏ nhỏ: “Cho em, ghi nhớ 30 năm bên nhau”. Còn ông Nguyễn Mộng Giác đương nhiên đã viết một trang “ghi ơn nhà tôi” ở cuối bộ truyện Sông Côn Mùa Lũ. “ Sông Côn Mùa Lũ in được trọn vẹn và tới tay quí bạn đọc, phần lớn cũng nhờ công lao của nhà tôi, từ lúc phác thảo cho tới khi thành sách. Xin phép được chia sẻ những lời riêng tư này với quí bạn đọc, dù biết đối với nhà tôi, những dòng chữ này không cần thiết lắm.” Chúng tôi là những người hít thở cùng chữ nghĩa, không có mấy bà hà hơi tiếp sức, cùng chia bớt khí lực thì ắt sẽ khó vượt đường dài.

Vui mừng trước tin Song Thao báo, tôi quên chuyện thân sơ, email thăm hỏi nhà văn Nguyễn Mộng Giác tức thì. Không phải nói thành lời, không phải đối diện, với đầu ngọn bút chì, tôi gõ thành chữ, đâu có chi ngại ngùng, nên luôn tiện tôi xin phép dựa hơi (mỗi lần muốn dựa hơi ai đều phải nhiêu khê như vậy, chứ không hề tùy nghi) . Dĩ nhiên với lịch sự, nhà văn phải cho phép. Tôi đã khéo léo đặt ông vào chỗ đã rồi. Thật ra tôi đã nông nổi bày một trò hơi liều, để rồi viết một cách hời hợt, nhạt nhẽo. Dù sao tôi cũng hy vọng, đây là cơ hội duy nhất để tôi mang tặng ông bà Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Khoa Diệu Chi, mỗi người một món quà rất chân tình.

Xin tặng nhà văn cơ hội làm lại nhà giáo ngày nào, để thoải mái ghi lại những chữ đã từng phê trên bài học sinh một thời: Rườm rà, Lạc đề, Luộm thuộm và Vụng về vv…

Xin tặng cô cựu nữ sinh Đồng Khánh Diệu Chi cái cơ hội để cười quên dứt. Và tiếp tục làm thêm chục câu thơ xuất thần, thâm thúy, như thơ chị đã sáng tác tốc hành, dành cho một nữ sĩ nào đó, tôi được nghe hôm nào. Đọc bài viết này của tôi chị sẽ làm thơ dễ dàng thôi, nhớ gởi cho tôi xin vài câu, vài đoạn, để cùng cười cho vui.

Luân Hoán

Read Full Post »

« Newer Posts