Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Nghiên cứu và phê bình văn học’ Category

Nguyễn Quang Thân

Chuyện 1: Thủ Độ tuy không có học vấn, nhưng tài lược hơn người, làm quan triều lý được mọi người suy tôn, quyền át cả vua. Bấy giờ có kẻ đàn hặc ông, vào gặp Thái Tông (Trần Cảnh) khóc mà nói rằng : ” Bệ Hạ còn thơ ấu mà Thủ Độ quyền át cả vua, xã tắc rồi sẽ ra sao”? Thái Tông lập tức ngự đến dinh Thủ Độ, bắt cả người đàn hặc ấy đem theo và nói hết những lời người ấy nói cho Thủ Độ biết. Thủ Độ trả lời: “Đúng như những lời hắn nói “. Rồi lấy ngay tiền lụa thưởng cho người ấy.

Chuyện 2: Linh từ quốc mẫu có lần ngồi kiệu đi qua thềm cấm, bị quân hiệu ngăn lại, về dinh khóc bảo Thủ Độ: ” Mụ này làm vợ ông, mà bị bọn quân hiệu khinh nhờn đến thế!” Thủ Độ tức giận, sai đi bắt, vặn hỏi trước mặt, người quân hiệu ấy cứ theo sự thực trả lời. Thủ Độ nói: “Ngươi ở chức thấp mà giữ được luật pháp, ta còn trách gì nữa”. Lấy vàng lụa thưởng rồi cho về.

Chuyện 3: Thủ Độ có lần duyệt định số hộ khẩu, quốc mẫu xin riêng cho một người (cháu) làm câu đương. Thủ Độ gật đầu, rồi ghi họ tên quê quán của người đó. Khi xét duyệt đến xã ấy, hỏi tên mỗ ở đâu, người đó mừng rỡ bảo hắn là người được quốc mẫu xin cho. Thủ Độ nói: “ Ngươi vì có quốc mẫu xin cho được làm câu đương (một chức cỡ trương tuần) không thể ví với những câu đương khác được, phải chặt một ngón chân để phân biệt”. Người đó kêu van xin thôi mãi mới tha cho. Từ đó không ai dám đến thăm xin xỏ việc riêng nữa.

Chuyện 4: Thái Tông có lần muốn cho người anh của Thủ Độ là An Quốc làm tể tướng. Thủ Độ tâu: “An Quốc là anh thần, nếu (Bệ hạ) cho là giỏi hơn thần thì thần xin trí sĩ, nếu cho thần giỏi hơn An Quốc thì không thể cử An Quốc. Nếu anh em đều làm tể tướng cả thì việc triều đình sẽ ra làm sao?”. Vua bèn thôi. ( Trích nguyên văn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)

Chuyện 1 là nói về tính thẳng thắn, minh bạch, ”nhìn thẳng vào sự thật”, đã làm gì thì chịu trách nhiệm với việc mình làm, không thèm chối dù có làm chuyện tầy đình như “lấn cả quyền vua” ( do Thái Tông còn thơ ấu). Chuyện 2 là nói về tinh thần tôn trọng pháp luật, nhất là cái pháp luật ấy lại do mình ban ra, “pháp bất vi thân”, không thể vì người thân mà vi phạm. Chuyện 3 là biện pháp trị những anh “con ông cháu cha” bất tài vô tướng, chỉ còn biết bám váy người nhà để tiến thân thì cách trị hay có lẽ là đổi bổng lộc lấy ít nhất một ngón chân, cách này Thủ Độ mới dọa thôi mà đã có hiệu quả. Nếu áp dụng thời nay thì chắc người bốn ngón đầy đường. Chuyện 4 là sự tự tin thẳng thắn về sử dụng người tài, không “gia đình trị”, giỏi thì nói giỏi, không câu nệ hay khiêm tốn giả vờ, âu cũng là bài học tốt cho nghề làm nhân sự.

Trần Thủ Độ là một nhân vật khổng lồ của lịch sử, tuy cũng bị các đời sử gia chê trách vì tàn bạo với Huệ Tông và tôn thất nhà Lý hay tội giết vua rồi lấy ngay vợ vua nên bị Ngô Sĩ Liên phê phán rất nặng nề. Nhưng ông có những phẩm chất lớn không thể thiếu của một chính khách thể hiện qua bốn câu chuyện nhỏ sử đã ghi trên.

Tiếc thay lịch sử không dạy khôn cho người thời nay được bao nhiêu!

Read Full Post »

Thái Minh Quang

 

Tạp chí “Xưa và Nay”, số 62B (2037), 1999

Người am hiểu khá sâu tiếng Việt, thường phàn nàn với bạn bè về việc đổi Qui Nhơn từ “i ngắn” thành “y dài”. Từ điển Larousse năm 1969 (in tại Ý) (Atlas moderne Larousse) xuất bản tại Paris, trang 24 phần Index des noms (tức phụ lục địa dư các địa danh trên thế giới) ở cột 4, dòng 2 tính từ dưới lên có ghi: Qui Nhơn. Người nước ngoài cần giao dịch, ký hợp đồng, chuyển gạo tiền nong hàng hóa… chỉ căn cứ vào từ điển Larousse. Nếu một đơn vị hành chính hay doanh nghiệp nào đấy chuyển tiền hay hàng hóa ghi chữ Quy Nhơn… tất đối tác nước ngoài không nhận được (Đúng hơn là không được nhận) và ngược lại. Biết bao phiền toái, tổn thất trong chuyện i ngắn với y dài này. Nếu có khách du lịch, cầm trong tay một từ điển danh tiếng Larousse (hay các từ điển, sách hướng dẫn du lịch các nước, chắc phải dựa vào từ điển người Pháp về Việt Nam) họ sẽ khó khăn thế nào khi cố gắng tìm đất Qui Nhơn mà có khi họ đang ở tại đất này! Họ sẽ không thể nào hiểu được khi hai chữ viết khác nhau mà lại là một trong đầu họ. Đấy là 2 địa danh, 2 nơi chốn khác nhau?

Trong bối cảnh ấy, tôi tìm đến các văn bản có liên quan đến hai chữ Qui Nhơn. Tôi đã đọc và ghi chép lại các từ điển sau đây:

Từ điển Việt-Pháp (J.F.M Genibrel NXB Tân Định, 1898)

Đây là từ điển lâu nhất mà tôi có. Từ điển này do các nhà ngôn ngữ học đã để ra 14 năm (1884-1898) để biên soạn: chuyển tiếng Việt từ tự dạng chữ Nôm sang tự dạng La tinh. Trang 639 ghi: Qui: lại, về… hội tụ… Cũng trang 639 ghi: Qui (con rùa – Tortue).

Như vậy, với từ điển này Qui với nghĩa là qui tụ hay qui theo nghĩa Hán tự (con rùa) cũng viết như nhau: “i ngắn”.

Hán Việt Tân tự điển (Nhà sách Khai Trí-Sài Gòn, tháng 4 – 1975).

Trang 558 ghi Quy Nhơn: quay về với điều nhân đức – tên một tỉnh ở trung phần Việt Nam.

Trong từ điển này không có chữ Qui (i ngắn)

Từ điển tiếng Việt (NXB Khoa học Xã hội Hà Nội – 1988)

Trang 839: Xem: qui, quỉ, quì, quĩ, quí, quị v.v.. như quy, quỳ, quỷ, quỹ, quý, quỵ… Tức i như y (nghĩa như nhau và song song tồn tại).

Từ điển Việt – Hán (NXB Giáo Dục-1996-GS Đinh Gia Khánh hiệu đính – in lần thứ 5 có sửa chữa và bổ sung) trang 896, 897 ghi qui là rùa và qui là quay trở lại (hồn qui, vinh qui)… Từ điển tiếng Việt (NXB Mũi Cà Mau, 1997 – Phan Canh).

Trang 929: Qui = rùa, và cách 3 dòng ghi: Qui = về, trở về (qui chính, qui định, qui hàng, qui hoạch, qui hướng, qui hồn…) không có chữ quy.

Từ điển tiếng Việt (Trung tâm tự điển – NXB Đà Nẵng – 1995)

Trang 784 không có chữ qui.

Từ điển Việt – Pháp (Dictionnaire Vietnamien- Francaise- NXB Thanh Hóa 1996 – Lê Phương Thanh).

Tất cả đều y (dài) (trang 644- 645)

Hán Việt từ điển (Đào Duy Anh – NXB TP Hồ Chí Minh- 1994)

Trang 163: Qui bản, Qui Nhơn (165) tỉnh lỵ tỉnh Bình Định.

Từ điển tiếng Việt thông dụng (NXB Trẻ –1997- Nguyễn Văn Xô).

Không có chữ Quy mà có (trang 363) Qui: (1) con rùa, (2) về (sinh ký tử qui), (3 )phép tắc định trước.

Những từ Việt Hoa thông dụng (NXB Đồng Nai- 1997- Vương Bình).

Qui: rùa (363)

Qui: về (394) không có chữ Quy.

Từ điển Hán thông dụng (NXB trẻ-1997, Lâm Hòa Chiến, Lý Thị Xuân Cúc, Xuân Huy)

Quy (1) rùa (2) về (trang 820)

Cũng tác giả Lâm Hòa Chiến trong từ điển Việt Hoa (NXB trẻ – 1998), không nói đến qui là rùa, trang 323 lại nói qui thuận (Như vậy, một tác giả hai cuốn từ điển viết khác nhau, có lẽ quan điểm tác giả thấy hai chữ có thể thay thế nhau tùy từng trường hợp cụ thể).

Nhìn lại 13 cuốn từ điển mà tôi đã mô tả ở trên ta thấy gì? Rõ ràng đấy là sự không thống nhất. Chưa có thể kết luận: khi viết qui (i ngắn) tức là rùa và quy (y dài) mới là quy tụ. Các nhà từ điển học khi viết sách đều có quan điểm riêng trước những hiện tượng ngôn ngữ còn tìm tòi, cải tiến, tranh luận. Hẳn họ quá biết, từ khi có “chữ quốc ngữ” bao nhiêu cuộc tranh luận với tinh thần khoa học và yêu đất nước đã xẩy ra. Trong đó không ít cuộc tranh luận và giấy mực bàn về i (ngắn), hay y (dài). Có ý kiến cho rằng từ nào có vần bằng thì i (ngắn), (so bì, lì xì, lui cui). Từ nào có vần trắc thì y (dài) (tỷ mỷ, sơn thủy, cô giáo Thúy…). Nhưng trên thực tế lại không đơn giản như vậy.

Tóm lại không thể đưa ra quan điểm dành riêng cho qui (i ngắn) là rùa và quy (y dài) là quy tụ. Tuy rằng trong chữ Hán, đồng âm nhưng tự dạng khác nhau. Trên thực tế không ai hiểu Qui Nhơn (i ngắn) tức là đất chỉ có rùa và người hay người như rùa! Cũng không có cơ sở khoa học để nói nếu viết i ngắn chữ qui sẽ đọc thành chữ (u…i…ui).

Trong sự không thống nhất ấy buộc ta phải thống nhất những điều cơ bản:

1- Đây là danh từ riêng. Không ai có quyền bắt nhà thơ Hồ Dzếnh phải bỏ chữ Z trong tên ông. Là danh từ riêng, khi mới ra đời thế nào, nay để vậy, “Nhất thành bất biến”.

Ông Đào Duy Anh trong đất nước Việt Nam qua các đời (NXB Thuận Hóa, 1994) trang 99 mục trấn Quảng Nam ghi: “Thái tổ Gia dụ Hoàng đế năm thứ 46 (1602) đổi phủ Hoài Nhơn làm phủ Qui Nhơn.” Hay tìm lại văn bản hành chính trước đây: đều ghi là Qui Nhơn (Collège de Qui Nhơn – trường Quốc Học Qui Nhơn) v.v..

Muốn thay đổi một địa danh phải :

+ Có hội thảo khoa học và sự nhất trí.

+ Phải thông báo chính thức (được Quốc Hội thông qua) trong và ngoài nước.

Không thể tùy tiện.

Chúng ta còn nhớ vụ kiện khắp thế giới đều biết: Nữ văn sĩ Pháp Françoise Sagan viết cuốn: Buồn ơi! Chào mi (Bonjour tristesse) bị một công dân kiện vì đã đưa họ, nói xấu họ trong cuốn sách nói trên. Tòa án gọi nữ văn sĩ. Nữ văn sĩ đã không hầu tòa vì chữ “Françoise” của tòa thiếu một nét: dấu Cédille ở dưới chữ C. Tòa đành chịu

2- Trong khi chờ đợi một quyết định khoa học, trên phương diện hành chính nên giữ nguyên chữ cũ: Qui Nhơn.

Bởi liên quan đến cuộc sống, giao dịch, ngoại giao… cần hết sức thận trọng.

THÁI MINH QUANG

Read Full Post »

Lâm Bích Thủy

Ngày tôi còn học ở Hải Phòng, lúc nào xuống  thăm, người cha thi sĩ này cũng đem cho tôi vài tập thơ mỏng, bìa có họa tiếc đơn giản trang nhã, như   “Nắng Ba Đình”, hay thơ viết cho thiếu nhi của chú Phạm Hổ và tập “Hướng Điền căm thù” của ông (tập thơ này không còn tồn tại). Tôi thích lắm. Quanh tôi, tràn ngập thơ là thơ.

Nhưng thập niên 80-90 của thế kỷ 20, tôi vào Sài Gòn; có mấy ai xem trang thơ trên báo. Họ chỉ chú ý   mục kinh tế và cách làm ra cái ăn, cái mặc. Khi có cái ăn rồi thì trước hết lo đủ lượng chứ không cần đủ chất; chẳng ai phí thời gian vàng ngọc để đọc mấy vần thơ của các thi sĩ nghèo. Họ bảo “nhà thơ nghèo là phải, suốt ngày chỉ thơ với thẩn làm sao ra tiền”. Và thế là tôi suy ra thời vàng son của thơ đã lùi vào dĩ vãng “nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông nhất nông nhì sĩ

Nhưng dù ở đâu, thời nào cũng vậy. Ba tôi lại vẫn trung thành với thơ. Trong không gian hẹp, tại một thị trấn hẻo lánh, ông yêu cuộc sống thể hiện qua thơ đến dường nào. Ông không chấp nhận sự an nhàn, Khổng Tử đã dạy “Nhàn cư vi bất thiện” Vì thế, dù dưới góc độ nào, cái đích cuối cùng ba tôi hướng tới là giá trị chân, thiện, mỹ của lẽ sống ông ghi lại vào thơ. Ông biết rằng “Chiến tranh con người sẽ mất đi, còn thơ sẽ sống mãi với đời”.

Chúng tôi cằn nhằn “Thời đại này mà ba còn làm thơ, ai xem! Nghĩ cho khỏe óc đi ba.”. Nghe vậy,  Huy Nhuận phản đối tôi “Cái bà Thủy này suốt ngày chỉ nói đến tiền, tiền. Chị biết gì về thơ mà nói.” Đúng! tôi đang lo cho cuộc sống của cái tổ ấm cỏn con của tôi tồn tại được ở thời cơ chế thị trường đã.

Vì vậy, nhiều nhà thơ, về hưu, tuổi cao sức kiệt, ít ai còn có cảm xúc để sáng tác. Còn ba tôi làm thơ cả khi trên giường bệnh.. Chẳng thế mà, có người nhận xét “Càng về già thơ Yến Lan càng hay:

Những bài thơ cuối đời của ông là những bài thơ hay, tìm nhiều phương diện của nghệ thuật thơ ca, chứa nhiều hình ảnh đẹp, giàu tưởng tượng. Chỉ có sự tinh tế của tâm hồn thì nhà thơ mới làm cho hiện thực ngoài đời trở nên sống động được như vậy

Tại sao có điều ngược như vậy nhỉ? Theo ba tôi, ông được sống trên mảnh đất ông tự chọn, ông không phải dè chừng, cẩn thận với người ở cạnh mình như trước. Ở đây, có những ngọn gió mang hương đồng cỏ nội từ cánh đồng lúa, ngô khoai thổi vào đời ông thật mát mẻ và trong lành. Hè về cỏ cây, hoa lá, con sông, con cá, con chim v.v..  tất cả miên man trong tầng sâu của bất tận, với tư cách là nhà thơ, trong cái nhìn sâu xa đã tìm ra những thông điệp mấu chốt để lại cho đời. Dù đời sống quê ông còn nhiều nỗi nặng lo, song, ông đã tìm được niềm vui trong cái giản dị của miền sơn cước, của những chứng tích ẩn chứa bao điều mà con người chưa giải mã được, để ông sống và sáng tác hay hơn .

Chiều qua Tháp Cánh Tiên

Nghi ngút mô hình ngọn khói lên

Mờ trong gờn gợn nếp sương in

Khá thương mảnh đất trần gian mỏi

Còn nán trên đời phẩm thiết tiên

12/1989

 

Trước đây, mẹ tôi đã làm cái việc “Kiến tha lâu đầy tổ” sưu tầm, giữ gìn kỷ vật của ba để lại. Giờ tôi học tập bà việc này. Tôi có may mắn hơn, bạn bè gần xa, hễ có tin gì liên quan đến người cha thi sĩ của tôi thì lập tức họ bỏ thư, gửi tặng. Nhà tôi đủ tư liệu có thể giúp cho sinh viên nào cần để làm luận văn về ông. Vì từ trước đến nay, ở các Thư viện của hai thành phố lớn, tư liệu về Yến Lan hầu như hiếm hoi vào bật nhất so với các nhà thơ cùng thời.

Trên thực tế, ba tôi được nhiều bạn đọc yêu mến, ngưỡng mộ. Nếu bất chợt gặp mà biết tôi là con gái Yến Lan, thì người hâm mộ bỗng như gặp hân hạnh. Thế rồi họ giải bày tâm sự bằng đọc ra những vần thơ của ba tôi mà họ tâm đắc nhất. Qua đó, tôi mới biết rằng ba tôi không mất đi trong lòng mọi người. Những lúc như thế tôi cảm thấy tự hào về cha mình. Bài thơ “Bến My Lăng” được nhiều người nhắc đến nhiều nhất. Tôi cảm nhận được tình cảm của họ qua cách hỏi ngọt ngào, tha thiết “Cô là con gái “ông lái buồn để gió lẻn mơn râu đấy ư ?”, hay có người hóm hĩnh lái ý nghĩa của câu “hàng rong gặp hàng rong/liếc nhìn nhau qua mẹt bánh”, tôi đã đọc được  cảm giác của anh bạn trẻ khi xướng bốn câu của bài  “Cầm chân em-cầm chân hoa”, “Khi chị đi lấy chồng” và “nàng Vân giả dại” v.v..

Nhờ vào những dịp tiếp xúc đó, tôi ý thức hơn đối với việc sáng tác và giá trị đích thực thơ của cha tôi.

Tôi tìm hiểu đời ba tôi qua thơ ông. Đúng là ông đã truyền cho tôi mầm mống của tình yêu: yêu đất nước, con người, cuộc sống, và niềm tự hào được sinh ra trên đất nước Việt Nam này. Ông cho tôi thấy đời là sợi dây ràng buộc giữa người và thiên nhiên. Con người không bơ vơ, trơ trọi khi nhìn ra ý nghĩa của mình giữa cuộc đời để chia bùi, sẽ ngọt.   

Ngọt và đắng

Ô môi vàng ruộm, khổ qua-xanh

Em hái nhờ trao, gọi đáp tình

Không dặn nhưng ta đà rõ ý

Ngọt bùi cho bạn, đắng cho anh.

Ông còn dạy tôi cách nhận ra nợ đời. Biết nợ để trả, để tự thanh lọc mình sống tốt hơn, ý nghĩa hơn.                             “Nợ”

Nhà không vườn, không gác, không sân

Tôi nợ đời rau trái tôi ăn

Nợ hàng xóm trưa hè bóng mát

Nợ em cài bên cửa một vầng trăng

Nhận xét của tôi trước đây “Người Sài Gòn không mặn mà với thơ”, giờ  đã thay đổi. Một ngày nọ, tôi phát hiện người Sài Gòn trở nên yêu thơ đến là lạ. Nhiều câu lạc bộ thơ ca ở các phường ra đời; các thi hữu gọi nhau bằng những từ rất kêu  “Nhà thơ” này , nhà thơ nọ v.v.  Thơ bỗng dưng đơm hoa kết trái. Các thi hữu làm thơ, tự bỏ tiền in, tặng bạn. Thơ lại trở về nguyên vẹn với chức năng của nó “Nhất sĩ nhì nông” Thơ là nơi sẻ chia vui, buồn là mạch nguồn cho những bài ca, là tiếng nói chung của con người…

Có dịp nhắc tới vở kịch thơ “Bóng giai nhân”. Đây cũng là một vấn đề nan giải. Vở kịch thơ này từ khi mới lọt lòng đã mang tên hai tác giả là Nguyễn Bính và Yến Lan. Nhưng thật ra người chắp bút chỉ là ba tôi. Nếu như không có sự hiểu lầm rằng tác giả chính là Nguyễn Bính thì không có vấn đề gì xảy ra.

    Trong hơn 60 năm theo nghiệp thi ca, ba tôi bị mất  rất nhiều những đứa con tinh thần. Một trong những cái mất đó là sự nhập nhằn tên tác giả của “Bóng giai nhân”. Tôi xin bày tỏ mối quan tâm về tác quyền của nó. Có thể nói, tôi cố gắng để để bản chất sự thật được giải tỏa, đem lại công bằng cho cha mình.  Trước đây, ba tôi không có ý tranh chấp, ông luôn tôn trọng những gì lịch sử ghi lại. Nhưng không thể được. Nhà thơ Hoàng Cầm đã cảnh báo cho ba tôi “Ngay bây giờ, anh Yến Lan nên tìm cách cho đôc giả biết anh là tác giả vở kịch thơ, kẻo về sau rầy rà, khó xử. Giờ đây còn chúng ta mà đã có sự nhập nhằng, sau này lớp người của chúng ta không còn thì càng khó xử hơn !

Thấy ba tôi cứ lần khân, nhà thơ Hoàng Cầm đã viết   “Ai là tác giả chính của vở kịch thơ Bóng giai nhân” để bạn đọc hiểu cặn kẻ vấn đề một cách đúng đắn. Với bài viết này cũng chẳng phân giải được vấn đề. Nơi để trút bầu tâm sự của ba tôi là chú Đinh Tấn Dung-nhà nghiên cứu văn học hiện tại.

(Chúng tôi xin chuyển đến quý bạn bức thư riêng của Nhà Thơ Yến Lan viết ngày 13/3/1988 gửi cho Anh Đinh Tấn Dung; sau bài viết của Nhà Thơ Hoàng Cầm (bản thảo viết tay chưa được công bố); để mong rằng giới hữu trách quan tâm, có “Ý kiến kết luận sau cùng” về sự “nhầm lẫn” khó nói ra này. Sự thiên vị, mờ ám, và không công bằng – trước sau gì cũng phải nhường chỗ cho “Sự Thật”. MVL)

 

  Bình Định, ngày 13- 3 -1988

Kính gửi : Anh Đinh Tấn Dung (Khổng Đức)

Bức thư bảo đảm của anh đến hôm 1/3/1988. Tôi đọc dẫn đến cuối ngày 2/3. Bài viết về “Thơ Yến Lan” của anh tự nhiên đặt nhiệm vụ tôi phải đọc kỹ và nghiêm túc cho xứng với tâm sức và thịnh tình anh đối với tôi. Có những lúc cần giở tập thơ ra đối chiếu, tình cờ thấy ở dưới nhiều bài có ghi “Nhân kỷ niệm sinh nhật”. Thì nhớ ra hôm ấy là ngày sinh nhật của tôi. Nói và viết thế, chứ từ trước đến nay tôi chưa thiết bày một ngày lễ nào sinh nhật của tôi cả. Cả hôm tôi đúng 70 tuổi, Hội cũng có dự định, nhưng cũng không làm được. Sau đó gửi quà. Nhớ ra là đang ngày sinh nhật – thực ra thì 2 – 3 là ngày của âm lịch năm Đinh Tỵ. Nhưng hồi ấy ông thân sinh tôi khai ở trường lúc xin tôi “nhập môn”, nhà trường ghi vào hồ sơ tính theo dương lịch, nên vẫn giữ như thế. Tra cứu kỹ, chắc ngày ấy nhằm đâu chừng khoảng 20.4 hay 22 gì dương lịch ấy. Thôi, chẳng có gì quan trọng. Tôi nói thế là để nói lên một sự trùng hợp lý thú: Gặp ngày sinh nhật, được đọc chương bình phẩm của cả một quá trình trở lui về trước cuộc đời làm thơ, do một người bạn đã hầu như quên lãng trong số bao nhiêu tri ngộ.

Dường như gặp nhau hôm ấy, tôi đã nói đến cái chuyện này với anh. Mà nào chúng ta có học thói vô tình!

 Gặp lại anh rồi, từ lúc ấy tôi cứ nhớ mãi, những kỷ niệm cũ được nâng tầm theo kỷ niệm mới, rõ nét dần lên . Thế rồi giữa cái ngày 2/3 này, tôi làm một số tuyệt cú. Xin chép anh đọc cho vui; mặc dù còn cần nhiều sửa chữa :

Bài chị

Tháng giêng âm lịch, tháng tư dương

Xáo trộn tâm tư biếng dõi chừng

Hỏi vợ mới hay sinh nhật đến

Lệ từ năm trước lại rưng rưng.

Bài em

Âm lịch còn giêng – dương, tháng ba

Bộn bề sách vở chửa phân ra

Lật nhằm thơ cũ mừng sinh nhật

Văng vẳng dường ai nhắc ở xa.

 

 Bây giờ xin tiếp tục câu chuyện vừa đứt quãng ở trên.  Xem xong “Đọc thơ Yến Lan” của anh, cảm xúc đầu tiên của tôi là : đó là một bài tiểu luận công phu vươn đến chỗ thấu đáo những gì còn tiềm tàng trong thơ của YL mà bao lâu nay những ai nói đến đều chưa đạt. Như đoạn nhắc đến Bến My Lăng, nhưng cái chính là dựa vào “tất định thuyết”.

 Ở đoạn: thơ tồn tại hay không… ngược lên trên, theo tôi nghĩ là cũng không cần thiết, vì muốn cho một tiểu luận nhằm hoàn toàn đề cập đến cái chân nghệ thuật của một hồn thơ – ở đây khiến người ta nghĩ đến một đời thơ – thì việc phát hiện và phân tích thơ cần gì đá động đến cái việc “tổ chức” thuộc về công tác quản lý của các giới chạy vòng ngoài của nghệ thuật. Chính trong công việc điều hành của nó nhiều khi lại làm vật cản cho tài năng – Cả đoạn kết thúc cũng thế. Khách quan đọc thấy nặng nề.

 Nói chung lại, những phát hiện của anh ở tập thơ, tôi đều tâm đắc. Chỉ còn một số chi tiết, tiếp tục đọc thêm sẽ bàn sau. Về khía cạnh ứng dụng thật có thừa sự hàm súc, nhưng văn ngôn, có cũ đi chăng?

À, kịch thơ “Gái Trữ La” tôi viết năm 1943 (sau “Bóng Giai Nhân” (quãng giữa 1941 – 1942) – Gái Trữ La diễn ở Thanh Hóa lần đầu – Và “Bóng Giai Nhân” ở Huế.

 Nhân nhắc đến “Bóng Giai Nhân” tự nhiên đối với anh, tôi không thể không nói. Hôm qua tôi đã viết cho Chế Lan Viên cả một bức thư dài về câu chuyện có liên quan. Nó là như thế này:

   Tình cờ tôi đọc trên số báo Nhân Dân ra ngày Chủ nhật 28/2/1988 – ở hàng cột cuối trang 4 có ghi một tin ngắn dưới cái titre: xuất bản tác phẩm của Nguyễn Bính, có ghi , đại khái như sau : Để kỷ niệm 70 năm ngày sinh của Nguyễn Bính, Sở Văn hóa và Hội Văn nghệ Hà Nam Ninh đã xuất bản… sẽ tiếp tục in những vở kịch thơ của Nguyễn Bính

  Điều này làm tôi tự nhiên bỗng nghĩ đến những cái không may thường xảy đến trong đời làm thơ của bản thân, khi nhớ đến đoạn tiểu sử về Nguyễn Bính và chỗ giới thiệu tác giả chính in lên trên lời tựa của Tô Hoài mở đầu “Tuyển tập thơ Nguyễn Bính” (do Nhà xuất bản Văn hóa và Nhà Xuất bản Long An tái bản năm 1986).

– Ở đoạn tiểu sử ghi: Vở kịch “Bóng Giai Nhân” Nguyễn Bính soạn theo phác thảo ban đầu của Yến Lan (1942)… Ở phần tác phẩm chính ghi chỉ một tên Nguyễn Bính.

  Trong việc sáng tác một tác phẩm, cái phác thảo ban đầu quyết định được gì trong việc hoàn thành tác phẩm ấy? Mà sao lại dám khẳng định ở ngay “tuyển tập”–một công trình dù thế nào đi nữa–vẫn cứ được mặc nhiên dành được ưu thế thuyết phục, thiếu gì kẻ lười nhác trong việc sưu tầm và giới thiệu tiếp sau, sẽ vin vào đó làm căn cứ tối hậu tổng kết. Tôi chưa rõ ngoài “Bóng Giai Nhân”, Nguyễn Bính có viết “được” và “nêu” một vở kịch thơ nào khác nữa không ? Vậy thì nay mai các nhà xuất bản trên kia in nó ra–tôi nghĩ còn có mục đích khác quan trọng nữa là lợi nhuận – vì sách sẽ chạy – thì các quyền lợi của tôi bị tước bỏ. Ngay cả quyền lợi thiêng liêng là cái danh nghĩa chính đáng làm tác giả. Từ trước đến nay “Bóng Giai Nhân” đã phải mang tên hai tác giả (là do lúc viết – ra ở Huế, tôi và Nguyễn Bính ở chung một nhà, cả Vũ Trọng Can) – để cho đủ tên 2 nhà thơ để cho hấp dẫn – Giá lúc ấy Vũ Trọng Can lại là nhà thơ nữa thì có khi có cả tên vào đó. Nhiều tài liệu đã nêu, như Từ điển Văn học  tập II của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội – Lịch sử kịch nói Việt Nam (trước cách mạng) Nhà xuất bản Văn học do Phan Kế Hoành và Huỳnh Lý (1978) – và nhiều tác phẩm, tiểu luận khác. Ngay hiện nay ở nhà, tôi vẫn còn giữ một tập đánh máy từ ngày viết xong để trình kiểm duyệt và rã cả vai–có đề tên cả 2 ngườ  tập ấy tôi gửi một bạn gái rất thân ở Hà Tiên nhân khi sắp diễn, và nhắn chị ấy chuyển cho anh Đông Hồ và chị Mộng Tuyết đọc. Sau này định diễn ở Thanh Hóa, tôi gửi thư vào mượn lại. Về Bình Định mang theo rồi gửi anh Quách Tấn giữ cho đến khi giải phóng trở về.

 Tôi đang có một dự định nhằm làm cho sáng tỏ – Báo cho các nhà xuất bản trên cần lưu ý vấn đề này.

 -Viết nhờ Báo Văn nghệ đăng mấy dòng cải chính, và báo cho Hội Nhà văn–Nhưng chỉ sợ họ cho là “đã có lửa đâu mà lo cháy” –Yến Lan chỉ xông khói lên thôi. Có thể lắm chứ.

 

-Viết một hồi ký về Huế (trong ấy xoay quanh những sự việc và xúc cảm về “Bóng Giai Nhân”,nhân đó mà nói rõ sự thật. Năm ngoái, Biên tập Sông Hương có mời tôi tham gia, giờ mà có bài thì họ đăng thôi. Và tôi đã viết một hồi ký gần 6.000 chữ. Mấy hôm nay đánh vật với nó và đọc lại thì cần điều chỉnh lại cho tế nhị, dịu dàng hơn. Thế là hiện giờ thì đang treo mà tôi đã mệt.

 

Tôi nghĩ, ngoài cái hồi ký ấy, giá có một nhà nghiên cứu nào viết theo chủ đề: đại khái như: Nhân cái tiểu sử ở đầu một tuyển tập, nghĩ đến trách nhiệm và tính chính xác, chính chân thật của việc nghiên cứu và giới thiệu.

Anh nghĩ “Bóng Giai Nhân” có thể là một vụ án Văn học không? Theo tôi thì có, nhưng già rồi, lực tận thế cô cũng đến bỏ cuộc thôi.

Thư viết lung tung, bút xấu mực nhạt, xin anh thông cảm. Chúc gia quyến anh vạn sự tốt lành.

Nay, ký tên

Đấy, đâu phải ba tôi không muốn mọi người hiểu được sự thật. Nhưng vấn đề này sao có vẻ khó khăn quá. Nghe đâu, Lâm Huy Nhuận, em trai tôi cũng đã có đặt vấn đề này với Hội Nhà Văn thì được trả lời “Thôi lịch sử văn học thế nào cứ để như thế”

Là con của tác giả, con có quyền tự hào những gì ông cha để lại. Có điều phải biết tôn trọng sự thật;  Má tôi cũng bực mình về chuyện này và bà mong ai đó nên hiểu vấn đề hơn.

Phải chăng, do bức xúc vấn đề này, bà Mộng Tuyết, khi gặp lại ba tôi, nghe dư luận tranh cải tác giả kịch thơ “Bóng Giai Nhân”. Bất luận là cả Nguyễn Bính và Yến Lan đều là chỗ thân tình, bà vẫn chân thành khuyên “Anh nên viết, nếu không nhiều thì cũng vài dòng cho mọi người biết rõ sự thật. Sự thật sẽ làm mất lòng người, nhưng mất lòng trước sẽ được lòng sau ”.

Ba tôi đã viết khoảng 6.000 từ với  tên “Chiều chiều mây kéo về kinh” kể tỉ mỉ quá trình sáng tác “Bóng giai nhân” của ông…

 

  Chiều chiều mây kéo về kinh

 

  Sau một chuyến đi dài vào mảnh đất tận miền Tây Tổ quốc, tôi trở về quê, lòng chưa ráo nỗi nhớ đường, nhớ sá, thì trời đã chớm sang thu. Khắp khu đất nội thành Bình Định mênh mông, mùa gòn đang tách vỏ. Những tiếng ve sầu còn sót lại, vẳng lên khí đìu hiu. Lòng tôi cũng lơ lửng như những múi bông gòn trên chớp nóc nhà dân xiu vẹo, trên những mái cong dinh thự rêu phong. Thư viết cho bè bạn, lúc nào cũng nói đến nỗi ray rứt muốn được tiếp tục đi xa.

Một buổi sáng tôi nhận được bức thư của người bạn gái, quen nhau hôm ở Hà Tiên, do chị Mộng Tuyết giới thiệu. Vì là bạn thân, chị biết tôi đang sống khó khăn, hàng ngày đối phó với một bà dì ghẻ khó tính, những sự vụn vặt ngày thường choán hết hứng khởi sáng tạo. Chị tán thành và khuyên tôi nên thay đổi không khí. Bức thư kèm theo giấy chuyển tiền đủ chi dùng cho một cuộc đi dài và nếu lâm vào cảnh lữ thứ, có thể sống trong vài tháng. Thế là tôi chuẩn bị một cuộc ra đi, cũng chưa rõ là đi đâu. Tiếp đến hôm sau thì tôi nhận được một bức của Vũ Trọng Can.

Lâu nay Can vẫn thường viết cho tôi, nhất là những ngày Can ở trong tòa soạn “Tiểu thuyết thứ năm”, từ Hà Nội. Bức thư này lại từ Huế, đại khái như sau: Báo chết rồi, bọn Can đang chuyển sang hoạt động sân khấu. Đang thành lập một Ban kịch với chương trình sẽ đi biểu diễn từ Bắc vào Nam. Hiện “Cập bến Bông Hương”. Nếu Yến Lan thích cuộc sống lưu động để tiêu sầu này, thì ra gia nhập với bọn mình…”

Đọc thư, tôi ngồi tưởng tượng… tưởng tượng… bao nhiêu kỳ thú, sôi động, hào nhoáng và mê ly… Cả một cuộc sống lan tỏa hoa đăng… cả một kho dự trữ và luyến ái và thi tứ. Và tôi quyết định nhập cuộc. Nhưng cũng phải đề phòng, nếu đó chỉ là câu chuyện bốc đồng? Nhưng lòng muốn ra đi luôn luôn thôi thúc, tự nhiên tôi nghĩ đến cái phương châm “đến đâu hay đó” khi nhỡ ra là những chuyến tàu suốt vào Nam ra Bắc hàng ngày đều tránh nhau ở ga Bình Định. Và tôi nghĩ: hãy lên ga cái đã – hễ tàu ra bán vé trước thì ta ra, và ngược lại…

Hôm ấy tàu ra đi trước, vừa khi lên tàu, tôi nhờ một người bạn đưa chân, đánh điện cho Can.

Tôi đến Huế vào khoảng hơn 8 giờ đêm. Cả “Ban kịch” đều ra đón tôi, gồm có Vũ Trọng Can, Nguyễn Bính và một chàng thanh niên. Sáng hôm sau tôi mới biết chàng trai này thuộc về loại đi theo điểu đóm. Ngoài ra, không còn gì nữa.

Lần đầu tiên mới gặp Nguyễn Bính – trước thì cũng chưa có thư từ, quan hệ gì. Chúng tôi nắm tay, bá cổ nhau, chào mừng rối rít. Và Huế… Huế, vừa mới chạm lên vài sải bước chân, sao đã nghe thấy dậy trong lòng nỗi êm dịu, ngọt ngào khó tả.

Bốn chiếc xe tay do Nguyễn Bính chỉ dẫn, đưa bốn người chúng tôi từ cửa ga đến tận Gia Hội, đỗ ở trước một hiệu ăn khá lớn. Cơm, rượu no nê, bốn chiếc xe lại đưa chúng tôi về nhà trọ ở bên kia cầu Tràng Tiền, cách Đập đá chẳng bao xa.

Ông chủ nhà trọ ra mở cửa, dáng điệu bực bội và khi nhìn thấy tôi, thốt những câu gì làu bàu, không rõ. Tôi tinh ý, biết ngay là có sự phiền hà.

Nhà trọ đây không phải là lữ quán chứa tạm khách lai vãng một vài hôm. Nó là một căn nhà thờ họ, người kế thừa nhận cho trọ lâu dài và nấu cơm tháng.

Phòng trọ chứa nửa của “Ban kịch”, nhưng khi có tôi thêm càng chật ních. Đêm ấy tôi nằm bên Vũ Trọng Can, thao thức mãi vì cứ nghĩ lan man.

Tôi đâm ra trách người rồi trách cảnh. Huế ơi, sao trước đây vài giờ, qua những bước đầu tiên tôi đặt xuống sân ga, Huế hồn nhiên, kiều lệ, dồn lên tâm hồn tôi bao nhiêu êm dịu, ngọt ngào, thế mà giờ đây, một không khí phiền hà, lãnh đạm đang chập chờn phủ tới.

Tôi đem nỗi dằn vặt ấy hỏi, Vũ Trọng Can thì thầm:

– Cũng là điều đáng quan tâm, nhưng không can gì cái việc thường tình ấy. Ngày mai chúng ta sẽ tìm cách giải quyết, chúng mình đang thiếu ông chủ nhà một tháng tiền cơm, giờ thấy có thêm cậu nữa. Ờ mà thôi, rồi sẽ có cách… khẩn trương đấy, chiều nay ông chủ trọ đã báo là ngày mai sẽ cắt và đề nghị bọn mình dọn đi.

Nhân đó, tôi hỏi: Thế thì Ban kịch của cậu đâu? Hoạt động ra sao rồi? Can cố dấu cái thở dài, nuốt nghẹn ở cổ:

– Ban bệ, kịch cợm gì đâu. Bọn mình chán Hà Nội, nên rủ nhau đi du ngoạn một chuyến với ý định sẽ thành lập một ban kịch để làm cứu cánh về mặt tài chánh. Nghĩ đến cậu đang nằm khoèo ở tỉnh lẻ, mình viết thư gọi cậu ra chơi cho đỡ buồn.

Nghe xong tôi cũng nghẹn ngào ở cổ. Biết tôi không thích liều lĩnh – Can trấn an bằng cả một thôi dài tâm sự: Can đã nghĩ ra nhiều biện pháp xoay sở cho ra tiền. Can đã có ý định diễn kịch đảm nhiệm phần dàn dựng, quảng cáo, bán vé và thu tiền rồi chi cho nhau chỉ tiêu phần trăm quy định. Can cho biết cụ thể, việc Can đã tìm gặp và trao đổi với Hà Xuân Tế thư ký riêng của Nam Phương Hoàng hậu (thay chân cho Nguyễn Tiến Lãng đã đi nhận chức phủ thừa). Hà Xuân Tế lại là chủ tịch của Hội A.A.A (gọi là hội 3 chữ A) tên gọi tắt của một hội hoạt động thể thao thể dục. Thực ra nó là của ông Hoàng bà Chúa chọn riêng một môn quần vợt, cùng giao hữu với hạng công chức cao cấp. Can còn phải làm sao cho ra kịch bản và diễn viên là phần được phân nhiệm. Cuối cùng Can hỏi:

– Cậu còn bao nhiêu?

– Vừa tiêu phí nội ngày hôm nay, chỉ còn đủ trả một tháng cơm bình dân.

– Thế thì tốt. Ngày mai ta sẽ lấy tiền ấy tạm ứng cho ông chủ. Rồi sẽ vui vẻ cả thôi.

Sáng hôm sau, với tâm trạng một người “lỡ bước” tôi bỏ cuộc đi chơi núi Ngự, đã hẹn với Nguyễn Bính lúc ở tiệm ăn Gia Hội đề nghị khẩn trương họp nhau lại bàn qua chuyện diễn kịch. Chúng tôi ngồi lại trên mấy cố vấn trần, nghiêm chỉnh thảo luận. Qua sự trình bày của Vũ Trọng Can về mấy phác thảo các vở kịch nói Can định viết từ hôm rời Hà Nội đi vào, thì còn xa với yêu cầu đang đặt ra. Bàn sâu, tính rộng mãi, chúng tôi đi đến nhất trí: diễn thuật mới mà Huế là nôi thể nghiệm đầu tiên. Thực ra đó chỉ là những lời khoác lác để cười với nhau, chứ mục tiêu chính là ở chỗ cố làm sao cho hấp dẫn để có được khoảng thu kha khá, trang trải nợ nần và còn ung dung thưởng ngoạn. Để cho thật hấp dẫn, chúng tôi nghĩ đến những câu chuyện ly kỳ ở các huyền thoại, nhất là ở “Đông chu liệt quốc”, dựa vào dã sử hoặc hư cấu ra cốt truyện theo không khí dã sử. Nhân vật sẽ là những con người cá biệt cực đoan, tình huống phải thật éo le, tâm tư luôn dằn vặt. Và cũng để cho vở kịch đưa ra một giải đề gì về mặt nội dung, chúng tôi nghĩ ngay đến cái tư tưởng hủ bại đang còn ngự trị trong tầng lớp thượng lưu, luôn luôn tôn sùng quyền thế, chạy theo danh vọng mưu cầu một cuộc sống “Võng long xênh xang” đang còn nhan nhản ở Huế. Một điển hình người sẽ hiện lên sân khấu, xách gươm báu đi săn đuổi giật lấy vinh quang, đã thủ tiêu ân tình, phản bác đạo lý và tiêu ma cái đẹp. Đó là phác thảo đầu tiên do tập thể ba người góp nhau trong một buổi sớm. Cơm xong, tranh thủ bỏ giấc trưa, bàn tiếp luôn các chi tiết: Bí quyết làm cho gươm thêm thiêng (cái điều kiện duy nhất đưa đến vinh quang của một tráng sĩ cuồng ngông) là phải tôi gươm lần nữa vào máu ba người tình cờ gặp trên đường đi–theo lời thần mộng. Việc phác thảo này như một cuộc múa gậy trong phòng–Nhân vật nhất thiết phải lệ thuộc số người có sẵn, mà ngoài chúng tôi thì chắc gì có thể nhờ vào được ai? Loại trừ em thanh niên sẽ chạy vòng ngoài, cả ba thằng nhà văn, nhà thơ chúng tôi phải lãnh vai mà đóng. Thế thì vở kịch chỉ có ba nhân vật sao? Và toàn là nam giới cả thì còn đâu cái nhưng cái nhị của sự hấp dẫn? Biểu tượng của cái đẹp bị tiêu ma trong kịch sẽ là nhan sắc của một người con gái thùy mị, đoan trang.

Nguyễn Bính tả và kể ra những em Đào, em Lý, cô Mừng, cô Thương với khá nhiều thiếu nữ, thiếu phụ mà anh từng gặp trên các nẽo đường phố của Huế…

Vũ Trọng Can cũng tả và kể ra những em Đào, em Lý, cô Mừng, cô Thương của mình, nhưng phải kết luận: có trời mà vận động cho các gia đình ở đây người ta đồng ý cho con, em mình tham gia lên sân khấu. Nhất là con gái. Thế là lâm vào thế kẹt.

Trước đó không lâu, Nguyễn Bính có sáng tác một bài thơ, nhan đề “Xóm Ngự viên”. Đó là bài thơ hay, được tán thưởng. Bính đã chép lại trên một tờ giấy nguyên khổ, giấy in báo, nét chữ to, bay bướm, treo trên tường trước mặt. Tình cờ tôi ngước lên, liền hỏi với một ý nghĩ bâng quơ:

– Xóm Ngự viên ở phía nào nhỉ. Hôm nào vào đấy xem cho biết.

Vũ Trọng Can bổng nhảy người lên

-Ngự viên, Ngự viên–đúng rồi. Ừ nhỉ, sao mình quên bẵng đi.

Rồi đột ngột Can đứng lên:

– Mình với Nguyễn Bính sẽ vào đó, có một cô gái lai Pháp, mồ côi từ nhỏ. Hiện bán chè rao nuôi mẹ. Nhất định sẽ thuyết phục được. Cô ta sẽ là nhân vật biểu tượng xứng đáng cho cái đẹp trong vở kịch.

Rồi hai người lội bộ ra đi. Mấy giờ sau tin về, phấn khổi, cô gái rất đẹp, không đề ra điều kiện khó khăn nào, duy có một điểm làm cho tôi ngẩn ngơ giây lát, là cô ta mù chữ. Sau việc báo tin đến việc bàn biện pháp khắc phục. Đành sử dụng sắc đẹp của cô gái thôi, và sắc đẹp cần gì phải thốt lên lời mới gây được đắm say, mới quyến rũ. Một vẻ buồn của Tây Thi xưa cũng đủ khiến nghiêng thành, nghiêng nước. Chính vì vậy mà vai người đẹp trong vở kịch không thốt một lời nào. Trong các luận bàn, tội là người hăng say nhất, vì mình thế thôi thúc: đã đến Huế rồi, phải tạo điều kiện để ở cùng Huế cho đã cơn khát Huế, dù chỉ là bằng những ngụm nước vốc lên từ mặt sông Hương. Không có sự phân công, không có cuộc tranh phần, mặc nhiên tôi thành người chấp bút.

Chẳng cần phải tra cứu, đối chiếu gì. Nó như được sắp xếp lớp lang sẵn ở một bản nháp, giờ chỉ có việc chép lại, nên vở kịch hoàn thành vào cuối buổi sáng hôm sau. Buổi chiều đưa bản thảo ra duyệt, bổ sung và có gì cần thì tập thể chỉnh lý. Vừa mới bắt đầu đã thấy Chu Ngọc bước vào. Ngọc là người am hiểu nhiều về sân khấu. Anh vốn là đạo diễn và từng làm trưởng Ban những ban kịch nói thỉnh thoảng xuất hiện vào mùa kịch ở Hà Nội, vở kịch được thông qua nhanh. Chỉ có đôi lúc nảy ra vài cuộc cãi cọ giữa tôi và Nguyễn Bính về phong cách và ngôn ngữ. Bính chê văn ngôn quá Tây bắt chữa lại mấy chỗ. Tôi tự ái, bỏ đi cùng Chu Ngọc ra hóng mát cầu Tràng Tiền. Chiều về, không có bàn cãi gì về vở kịch nữa. Vũ Trọng Can bàn với tôi là rủ đi ngay đến Hà Xuân Tế và được hẹn sáng mai sẽ trả lời, vì còn cần đọc.

– Vì có Hoàng Đế dự xem. Nếu vở kịch thêm một vài đoạn có tính cách tôn vinh thì nhất định sẽ nhiều đặc ân cho các hoạt động sau này. Các anh mang và bổ sung cho khéo léo một chút. Tôi biết đây là một xảo thuật trong nghề làm quan, vị thư ký riêng của Hoàng hậu này ứng dụng nhạy bén cho tiền đồ. Thì cứ để anh ta như nguyện, có gì xúc phạm đến nghệ thuật, đến mình đâu mà chối từ. Tôi liền vui vẻ nhận lời, nhưng không đợi đến lúc về nhà, tới ngay bàn làm việc, loáy hoáy một thôi, thêm được chục câu thơ mang tính cách tôn xưng chung chung, hướng về một ông minh quân đó.

Hai hôm sau thì giữa lòng Huế xôn xao lên vì những áp phích, những tờ quảng cáo cho vở kịch, dán ở các công trình công cộng và các mặt tường nhà thoáng rộng. Nhất là ở các ngã tư đại lộ, những biểu ngữ bằng nguyên súc vải trắng, được dán lên những hàng chữ đỏ viết bằng tiếng Pháp:

                Bóng giai nhân

Bi tráng kịch bằng thơ của Yến Lan và Nguyễn Bính

Sẽ trình diễn ở Accueil vào các đêm…

Dưới quyền chủ tọa của Hoàng đế Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu.

Mặc dù đã trải qua những cơn hồi hộp vì hạnh ngộ ban đầu khi được nêu dưới những bài thơ đăng trên báo chí, tôi vẫn cảm thấy phấn khổi đến dạt dào. Riêng Nguyễn Bính thì anh lại hồ hởi với những ý nghĩ cuồng nhiệt trong vẻ cợt đùa nói tếu:

– Vua ông đi xem, vua bà đi xem, thế thì tam cung lục viện cũng đi xem. Rồi sáu bộ cũng tháp tùng. Chà, chà, cả Huế đều đi xem tất. Thế thì tiền vé để đâu cho hết. Chuyến này phải thả lên sông Hương sáu con đò két lại làm một khách sạn nổi… Ba con làm phòng ngủ, ba con chở theo bàn đèn, bia, rượu, nem, chả, chè, cháo… tha hồ mà lạc hưởng

Đấy là chuyện đùa vui, không có sự bàn cãi.

Trong mấy ngày tập luyện, tôi vẫn đến nhà Lành đạo diễn cho đến thuần thục, dù sao tôi vẫn tiếc, giá như Lành biết chữ, thì nhất định tôi sẽ cố gắng viết lại màn kịch thành chương tuyệt tác, điều ấy đòi hỏi ở tôi một cố gắng vượt bậc, nhưng xứng đáng với Huế, với một nhan sắc yêu kiều.

Cuộc biểu diễn đêm đầu–và cũng là đêm kết thúc không thu được kết quả như lòng tôi mong muốn. Diễn xuất có vẻ vội, không đạt tới mức chứa và tầm nâng của lời thơ. Về mặt tổ chức, Hội A.A.A bỏ rơi diễn viên trong cái thế chơi vơi của một khoang đồ thủng đáy. Không có một bàn tay tháo vát xếp đặt, bỏ sân khấu trống trơ giữa bốn cánh gà và lá màn hậu, mặc dù chúng tôi yêu cầu trang trí hết sức giản đơn theo lối tượng trưng. Cả một chiếc hòm to đựng các đồ lễ, vũ khí, mũ giày mượn từ trong nội cung ra, cũng không đáp ứng được yêu cầu. May mà bọn diễn viên chúng tôi không hiện ra sân khấu với những trang phục quá cỡ, tả tơi, meo mốc, nhờ biết đề phòng đã chạy trước từ sáng hôm ấy, đến nhà Nguyễn Tiến Lãng, mượn các Kimônô anh mang từ Nhật Bản về, nhân lúc tháp tùng theo phái đoàn ngoại giao của tên toàn quyền khâm sai Yue Chatel. Nhất là khoảng tiền thu: một hội trường có sức chứa gần ba nghìn người đã chật ních – Giá vé thấp nhất, năm hào, mặc dù đêm ấy Bảo Đại không đến xem vì có sự kiện đột xuất, chuẩn bị Bắc tuần, cả Nam Phương, cả viên Khâm sứ Pháp đều theo, nhưng cũng gởi đến gọi là “Ban tứ” cho đêm diễn, mỗi vị 15 đồng, cộng với số tiền quảng cáo cho cuộc xổ số Đông pháp cũng chừng 15 đồng, tiền vé 20 đồng.

Sau này người ta đổ cho việc lạm phát giấy mời. Chúng tôi vở mộng–nhất là Nguyễn Bính với viễn cảnh sáu con đò… Nhưng có một điều an ủi mà cho đến bây giờ, mỗi lần nhắc đế, tôi vẫn không quên được từng chi tiết, dù là thoáng qua: Giữa lúc màn kịch cuối cùng hạ nhanh, khán giả sắp lưng vào phía sân khấu chen nhau cuồn cuộn như một dòng nước thoát ra phía cửa, thì các anh Lưu Trọng Lư, Đào Duy Anh và vài bạn nữa vượt lên sân khấu, đến cầm tay siết chặt từng người. Anh Lư nói bằng tiến Pháp “Tuyệt, tuyệt, tuyệt vời” không biết anh khen ngợi một pha nào trong lúc diễn xuất, hay khen vở kịch, về tình huống đầy kich tính, về bút pháp bay bướm văn chương, mà lúc ấy đang là những năm vừa mới thoát ra sự phôi thai của nền thơ mới Việt Nam.

Khi rạp đã trở lại vắng vẻ “Bóng giai nhân” đã biến đi lúc nào không hay, Nguyễn Bính cũng đi rồi. Tôi và Vũ Trọng Can thu nhặt hết các dụng cụ, đồ trang phục cho vào chiếc hòm gỗ to, và..

Mỗi người nâng lên một quai hòm, hai chúng tôi ì ạch kéo lê bốn cẳng chân rời rã, mỏi mệt, dầm dưới cơn mưa đêm cuối hạ của Huế, lần bước cho đến khuya mới đến cửa nhà trọ. Ông chủ ra mở cửa, thò tay nâng cho chiếc quan tôi đang xách, như đã cảm thông tất cả nỗi niềm đang đè nặng lòng tôi.

Sáng hôm sau, tôi ra An Cựu tìm gặp lại người bạn học cũ ở Bình Định, tình cờ gặp nhau giữa đường hôm nọ, tôi hỏi vay hai đồng bạc – số tiền vừa đủ cho xuất vé và đĩa cơm trong chuyến tàu suốt vào Nam, sẽ trả tôi về với cái không khí cô liêu cố hữu từ xưa, ngày ngày nghe vẳng lên một câu hát ru con, không biết do tình huống nào mà có, giờ lại nhằm đúng vào tâm trạng của tôi:

Chiều chiều mây kéo về kinh

Ếch kêu giếng loạn thảm tình đôi ta.


Read Full Post »

Bút ký của Huỳnh Kim Bửu

                 “Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt”

                                                                 (Thơ Nguyễn Khuyến)

(more…)

Read Full Post »

Chúng tôi tình cờ đọc được ở trang website newvietart.com – có bài viết của
nhà văn Mang Viên Long về bài thơ ” Còn Gặp Nhau ” một thời chúng tôi rất yêu thích.
Xin phép được trích nguồn từ newvietart.com để chia sẻ cùng thân hữu xunau.org…


 

 CÒN GẶP NHAU

 Tôn Nữ Hỷ Khương

Còn gặp nhau thì hãy cứ vui
Chuyện đời như nước chảy hoa trôi
Lợi danh như bóng mây chìm nổi
Chỉ có tình thương để lại đời

Còn gặp nhau thì hãy cứ thương
Tình người muôn thuở vẫn còn vương
Chắt chiu một chút tình thương ấy
Gửi khắp muôn phương, vạn nẽo đường

Còn gặp nhau thì hãy cứ chơi
Bao nhiêu thú vị ở trên đời
Vui chơi trong ý tình cao nhã
Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời

Còn gặp nhau thì hãy cứ cười
Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi
Cho hương thêm ngát, đời thêm vị
Cho đẹp lòng tất cả mọi người

Còn gặp nhau thì hãy cứ chào
Giữa miền đất rộng với trời cao
Vui câu nhân nghĩa tròn sau trước
Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau

Còn gặp nhau thì hãy cứ say
Say tình, say nghĩa bấy lâu nay
Say thơ, say nhạc , say bè bạn
Quên cả không gian lẫn tháng ngày

Còn gặp nhau thì hãy cứ đi
Đi tìm chân lý, lẽ huyền vi
An nhiên tự tại lòng thanh thản
Đời sống tâm linh thật diệu kì.

TNHK

        

Bài Thơ “ CÒN GẶP NHAU”  Của TÔN NỮ HỶ KHƯƠNG-

MỘT TRIẾT LÝ SỐNG GẦN GŨI, AN LẠC & THẮM ĐƯỢM ĐẠO VỊ. ..

 

Bài Viết : M a n g  V I ê n  L o n g

 

           Bài thơ “ Còn Gặp Nhau” ( trong tập thơ “ Hãy Cho Nhau” nhà XB Trẻ-XB lần đầu/ năm 2004)) được Nhà Thơ Tôn Nữ Hỷ Khương viết vào năm 1993-khi nữ sĩ bước vào tuổi 56. Hơn 17 năm qua, bài thơ đã được rất nhiều người biết đến như một bài thơ hay nhất của chị-vì đã chuyễn tải đến cho người đọc một triết lý sống rất gần gũi, an lạc và thắm đượm Đạo vị!

          Ngay tựa đề bài thơ-“ Còn Gặp Nhau” ,đã gợi lên một hiện thực đời sống rất đơn giàn, mà cũng rất đau xót :  Chúng ta còn sống được đến hôm nay-bây giờ, đã là một diễm phúc, vô cùng quý báu, so với bao người đã vắng mặt- đã ra đi…Nhà thơ Kahlil Gribran ( Liban)  cũng có niềm  đồng cảm  như vậy khi tha thiết thốt lên “ Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy/ Cho tôi thêm ngày nữa để Yêu Thương”.

         “Còn gặp nhau thì hãy cứ vui

          Chuyện đời như nước chảy hoa trôi

         Lợi danh như bóng  mây chìm nỗi

         Chỉ có tình thương để lại đời …”

 

          Mở đầu bài thơ nữ sĩ đã khẳng quyết  một điều tưởng  bình thường- nhưng thật  vô cùng  quan yếu cho nhận thức về cuộc sống :“ Chuyện đời như nứớc chảy hoa trôi”“ Chỉ có tình thương để lại đời”-đây là một nhận thức dựa trên kinh nghiệm trực tiếp từ đời sống chứ không phải là một điều gì mơ hồ. Chính tính xác thực của sự cảm nhận căn bản này, đã khởi đầu cho “ Còn Gặp Nhau” như một dòng chày tự nhiên, hồn nhiên – miên man trong lòng người đọc.  Chân lý mà Đức Phật đã khuyến dạy từ hơn 2500 năm trong “ tứ thánh đế” ( Khổ/ Không/ Vô Thường/ Vô Ngã)-đã là nguồn cảm xúc thẳm sâu như máu thit trong  tâm hồn người thơ và chợt  thốt lên  lời  nhắn gởi rất êm nhẹ, rất đơn giản: “Còn gặp nhau thì hãy cứ vui…”. Bởi vì “ Lợi danh như bóng mây chìm nỗi” – có gì mà phải khổ tâm nhọc  sức mà cố bám víu vào cái “ bóng mây chìm nổi” có/ không ấy?

          Để cho cuộc sống được an vui/ hạnh phúc đích thực thì chúng ta nên làm gì ?

         “Còn gặp nhau thì hãy cứ thương

           Tình người muôn thuở vẫn còn vương

           Chắt chiu một chút tình thương ấy

           Gửi khắp muôn phương, vạn nẽo đường…”

          Cuộc sống vốn dĩ chất chứa nhiều phiền não, khổ đau-phần lớn chính vì sự thù ghét, sân giận luôn có mặt trong đời. Cuộc đời ngắn ngủi, tạm bợ là thế-“ thân như điện ảnh hữu hoàn vô” ( Thiền sư Vạn hạnh) là thế-“ còn gặp nhau thì hãy cứ thương”-là một liều thuốc nhiệm mầu , là một triết lý sống thực tiễn đem lại niềm an lạc cho chính mình ( và cho người)-bời vì” Tình người muôn thuở vẫn còn vương”-Tình Người không bao giờ mất, còn mãi bên đời ( trong lúc mọi thứ- vạn hữu luôn quay theo cái vòng vô thường bất biến : Sinh/ Trưởng/ Hoại/ Diệt). Đây là một cảm nhận “ rất người”, rất chân thật-như một lời tâm sự tha thiết:

          “ Chắt chiu một chút tình thương ấy

             Gửi khắp muôn phương, vạn nẻo đường”

           Không cần nhiều-chỉ “ một chút “ thôi/ mà phải chắt chiu, phải gom góp, phải cẩn trọng, phải chân thành-thì cũng có thể  “ Gửi khắp muôn phuơng, vạn ngã dường”-để sẻ chia -xoa diu,  an ủi cho cuộc đời  lắm hệ lụy đau buồn này . Một chút thôi-một giọt nước nhiễu lâu ngày cũng đầy bình-“ Một chút tình thương ấy” là cả một tấm lòng thành của Người đến với Người.  “ Một chút” ấy thôi-mà đã có mấy ai còn nhớ ?

           “ Còn gặp nhau thì hãy cứ chơi

              Bao nhiêu thú vị ở trên đời

              Vui chơi trong ý tình cao nhã

              Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời “

             Cuộc sum vầy trong niềm vui, tiếng cười-trong tình thương yêu  gần gũi chân thành – đúng là một cuộc hội ngộ hạnh phúc của đời người. “ Hãy cứ chơi”-là một thái độ thong dong, tự  tại-biết tận hưởng cái phút giây hiện taị mầu nhiệm của đời sống. Vội vàng, bon chen-giành giựt  thì chỉ đắm chìm trong âu lo, đau khổ mà thôi!  Bởi vì “ Bao nhiêu thú vị ở trên đời/ Vui chơi trong ý tình cao nhã”  đang mở ra, chờ đón những tâm hồn biết sống/ biết đặt tình thương yêu lên trên mọi thứ ở đời. Ai đã làm đuợc điều ấy-thì hiển nhiên “ Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời”-hay là cõi an lạc vĩnh hằng ( nhà Phật gọi là Niết Bàn/ Cực Lạc) đang có mặt ở cõi trần gian này vậy.

               “ Còn gặp nhau thì hãy cứ cười

                  Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi

                  Cho hương thêm ngát, đời thêm vị

                  Cho đẹp lòng tất cả mọi người “

            Nụ cười là một biểu lộ tình cảm giữa người với ngừơi –là sợi dây thân ái nối kết  những tấm lòng –nhưng trong thực tế đời sống, lắm khi rất hiếm bắt gặp nụ cười! Vì đâu? Vì tâm đang  mãi đảo diên dong ruỗi theo dục vọng, tham sân-vì lòng chưa mở và tình chưa chớm! Vi vậy-ở đây-Nhà thơ đã thúc giục, đã  thống thiết kêu goi: “Còn gặp nhau thì hãy cứ cười” . Hãy cười lên đi! Cười thoải mái. Vì chúng ta có  diễm phúc đang  còn sống,  còn có mặt bên nhau, bên cuộc đời này-“ còn gặp nhau”! Bời vì nụ cười sẽ làm “ Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi/ Cho hương thêm ngát, đời thêm vị/ Cho đẹp lòng tất cả mọi người” !  Nụ cười cần thiết cho ta/ cho người và cho đời là vậy-thì sao  dại gì không “ cười” ?- lại  ưu sầu, đắn đo?

               “ Còn gặp nhau thì hãy cứ chào

                  Giũa miền đất rộng với trời cao

                  Vui câu nhân nghĩa tròn sau trước

                  Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau…”

           Người xưa đã có nói “ Tiếng chào cao hơn mâm cỗ”– nhưng mâm cỗ thì tốn tiền. còn tiếng chào đâu có mất mát gì? Vậy mà, lắm khi-chúng ta gặp nhau-lại tỏ ra rất  “hà tiện “ tiếng chào? , Vì e ngại điều gì? Hay vì phân biệt, sân giận, tỵ hiềm? Nhà thơ đã gạt bỏ ra tất cả những hệ lụy oan khiên của đời sống-với tâm rộng mở, trải lòng với đời- nhà thơ đã cổ vũ mọi người: “ Còn gặp nhau thì hãy cứ chào”. Hãy cứ chào nhau thân tình, chào nhau thương yêu-thì tất cả  mọi sự sẽ êm đẹp thôi! Giữa đất trời lồng lộng kia cũng sẽ đồng cảm, chia sẻ với người “ Vui câu nhân nghĩa tròn sau trước/ Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau”.  Cùng chào nhau/ cùng tặng nhau “ chân tình “ ( tình người chân thật) son sắc, thủy chung -thì cuộc sống sẽ tươi đẹp biết bao!

                   “ Còn gặp nhau thì hãy cứ say

                      Say tình, say nghĩa bấy lâu nay

                      Say thơ, say nhạc-say bè bạn

                      Quên cả không gian lẫn tháng ngày..”

               Lập lại đến 6 lần “ say” trong một khổ thơ-nữ sĩ mong muốn mọi người-trong giây phút hiện tại đây/ còn gặp nhau- đã là một niềm vui lớn-thì “ hãy cứ say”/ cứ vui-cứ thương- cứ chơi-cứ cười và cứ say/ đừng bận tâm đến sự ràng buột của toan tính, so đo, thù hận (…) nữa !

                   “ Say tình, say nghĩa bấy lâu nay

                      Say thơ, say nhạc-say bè bạn..”

                Trong đời ngừơi, đã có lúc nào chúng ta đã được  một lần thôi “ say tình, say nghĩa “ chưa?  Thật là diễm phúc ( và đáng trân trọng thay) cho những ai đã có được cái “ say” cao quý ấy! Đây là một cái “ say” nồng nàn nhất, ấm cúng nhất-và cũng khó quên nhất của đời người. “ Say thơ, say nhạc” thì có lẽ cũng thường có, nhưng “ say bè bạn” thì thật cũng rất hiếm! Bè bạn mà làm ta phải say ư? Có đó. Say nghĩa là “ quên” mọi thứ quanh đời để trải lòng với tri âm sau bao năm tháng cách xa-nay “ còn gặp nhau” -bên đời nhau như ngày nào, thì hỏi không “ say” sao được? Ôi! Những cái “ say” đầy ắp  tình người  trong sáng thiêng liêng như vậy thì sao ta lại bỏ quên?  Không gian và tháng ngày đâu còn ý nghĩa gì cho cuộc sống ta trong giây phút tuyệt vời hạnh phúc ấy? . “ Quên cả không gian lẫn tháng ngày” buồn bã, khổ đau để cùng nhau tận hường cái thời khắc “ còn gặp nhau” của sát na hiện tại nhiệm mầu này!

                     “  Còn gặp nhau thì hãy cứ đi

                         Đi tìm chân lý, lẽ huyền vi

                         An nhiên tự tại lòng thanh thản

                         Đời sống tâm linh thật diệu kì! “

                 “ Còn Gặp Nhau”-là vẫn còn hiện diện trên cõi tạm này-thời gian tồn tại của đời người không dài ( Đức Phật nói là chỉ dài trong một hơi thở/ thở ra mà không thở vào-là coi như  trở lại “ không”)-nên nhà thơ đã bày tỏ thêm  niềm ước mong cuối cùng của mình với người là “ Còn gặp nhau thì hãy cứ đi!”/ hãy cứ tinh tấn, dũng mãnh bước lên phía trước để “ Đi tìm chân lý lẽ huyền vi”. Chân lý lẽ huyền vi ở đây-chính là triết lý sống cao cả, mầu nhiệm  để giải thoát khỏi cuộc trầm luân, khổ đau, phièn não của kiếp nhân sinh- hướng đến chân trời mới  an lạc vĩnh hằng. Chân lý ấy sẽ đem lại cho tất cả  được “ An nhiên tự tại lòng thanh thản”-điều mà trong thâm tâm của chúng ta đều hoài vọng, ước mơ! Và khi đã đạt được niềm an vui tự tại, cảm nhận được niềm hỷ lạc nhiệm mầu của “ chân lý lẽ huyền vi”- có thể “ thõng tay vào chợ” thì ngay lúc ấy-chúng ta mới  hiểu được rằng “ Đời sống tâm linh thật diệu kì” – thật vi diệu, bất khả tư nghì-mà từ bấy lâu chúng ta  đã lãng quên, bỏ bê, xem thường “ đời sống tâm linh” – để  điên đảo chạy theo những cám dỗ vật chất tạm thời luôn luôn dính chặt với nỗi khổ đau và phiền não…Đây cũng là lời  “ cảnh báo” thống thiết trứoc một thực tại thực dụng của đời sống văn minh vật chất đã dần làm khô cằn, xói mòn-tiêu mất cái phần đời rất quan yếu ấy trong tâm mỗi con người…Đây cũng là một thãm họa  chung của nhân loại đang đứng trước bờ vực thẳm vì sư vắng mặt của một “ đời sống tâm linh diệu kì”!

              Tôi đã đọc bài thơ “ Còn Gặp Nhau” của  Tôn Nữ Hỷ Khương nhiều lần ngay  từ  khi chị mới công bố ( khoảng giữa năm 1993)  đến thuộc lòng ( khi ấy bài thơ chỉ có 6 khổ đầu ). Được nghe nhạc sĩ Võ Tá Hân phổ thành ca khúc. Sau này, tôi cũng vô cùng ngạc nhiên khi có dịp dự nhiều cuộc gặp gỡ vui  chơi của bạn bè-nhiều thế hệ, nhiều thành phần xã hội-lại được nghe nhiều người đọc  thuộc nó .  Tôi nghĩ,  chính vì  tình cảm quá chân thành, quá gần gũi thực tế của bài thơ nên nó đã được mọi giới yêu thích-từ cô bé học sinh, cậu sinh viên, đến người  có học vị, quan chức- hay người đi xe thồ, sữa xe gắn máy,cô thợ may-cũng đều cảm thấy  là tiếng lòng và niềm ao ước của chính mình? Tính phổ quát của bài thơ  vì thế là rất lớn. Sức chuyễn tải  của bài thơ cũng  thật mạnh. Theo tôi-một bài thơ đạt được hai yêu cầu ấy- là một bài thơ “để đời “- “ Còn Gặp Nhau” là  một bài thơ rất hay của nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương vậy!

            Điệp khúc “ Còn gặp nhau/ còn gặp nhau…”-được lập lại đến 7 lần trong bài thơ như âm vang bất tận- lời thì thầm khôn nguôi, lời nhắn gửi ân cần, và  là ứơc mơ của những tâm hồn rộng mở dào dạt yêu thương…

 

Quê nhà, tháng 8/2010

     

     

Read Full Post »

(NLĐO) – Viện Hàn lâm Thụy Điển hôm 6-10 đã quyết định trao giải Nobel Văn học 2011 cho nhà thơ nước chủ nhà Tomas Tranströmer sau khi ca ngợi ông đã “cho chúng ta một cách tiếp cận mới mẻ với thực tại thông qua những hình ảnh súc tích và tinh khôi”.

Kết quả này không gây nhiều ngạc nhiên vì nhà thơ Tranströmer được xem là một trong những ứng viên sáng giá nhất cho giải Nobel Văn chương 2011 trước khi giải thưởng này được công bố.
Ông Tranströmer trở thành người châu Âu thứ 8 giành giải Nobel Văn chương trong 10 năm qua.
Nhà thơ Tomas Tranströmer
Ảnh: The Guardian
Ông Tomas Tranströmer sinh tại Stockholm vào ngày 15-4-1931. Năm 1956, ông lấy bằng cử nhân nghệ thuật tại Đại học Stockholm, nơi ông theo học lịch sử văn chương và thơ, lịch sử tôn giáo và tâm lý học.
Tuyển tập thơ đầu tiên của ông – 17 Dikter –  được xuất bản vào năm 1954 khi ông còn học đại học. Các tuyển tập thơ sau đó, như Hemligheter på vägen (1958) và Klangar och spår (1966), phản ánh về những chuyến đi của ông đến bán đảo Balkan, Tây Ban Nha và châu Phi. Các bài thơ trong tuyển tập Östersjöar (1974) mô tả lịch sử của tôn giáo ở vùng Baltic thông qua cuộc xung đột giữa biển cả và đất liền.
Năm 1990, một cơn đột quỵ đã ảnh hưởng đến khả năng nói chuyện của ông nhưng vẫn không ngăn được ông sáng tác thơ. Tuyển tập thơ Sorgegondolen của ông đã bán được 30.000 bản trong lần xuất bản năm 1996.
Ông Tranströmer mô tả những bài thơ của mình như là “những nơi gặp gỡ”. Theo ông, “đó là nơi ánh sáng và bóng tối, nội tâm và ngoại cảnh va chạm vào nhau để tạo ra một kết nối đột ngột với thế giới, lịch sử và bản thân chúng ta”.
Các tác phẩm của ông Tranströmer đã được dịch sang 50 ngôn ngữ.
H.Phương (Theo Nobelprize.org, The Guardian)

Read Full Post »

Bình Định bấy giờ chỉ có một nhóm người mà các bạn yêu thơ do Trần Thống ở Kiên Mỹ đại diện, đặt tên là “Bàn Thành tứ hữu”. Nhóm thơ gồm có: Hàn – Chế – Yến – Quách. Bốn người này mang tên một con vật trong bộ Tứ linh. Hàn Mặc Tử là Rồng, Chế Lan Viên là Phượng, Yến Lan là Lân, Quách Tấn là Rùa.

Cửa Đông-thành Bình Định,

Bấy lâu nay, giới văn học thường nhắc đến nhóm thơ tiền chiến của Thành Đồ Bàn (tức Bình Định xưa). Vì biết tôi là con gái của “con Lân” trong nhóm “Tứ linh”, Có người hỏi: “Thế nào là Trường thơ Bình Định? Vì sao gọi các cụ ấy là Tứ linh?…”.

Theo sự hiểu biết hạn hẹp, qua những bức thư của bác Quách Tấn gửi cho ba tôi – nhà thơ Yến Lan – tôi xin phép thông tin lại để các bạn yêu thơ hiểu thêm về cái nôi thơ mà người đời thường tâm đắc “Bình Định là đất võ mà ẩn chứa trong mình những bí ẩn về văn chương”.

Trong bức thư đề  “Nha Trang lập xuân 88”, bác Quách bức xúc viết: “Rất tiếc là không có người có đủ tài, học, tâm, chí để cùng nhau khai thác kho tàng Văn hóa của Bình Định. Tôi nhận thấy phần đông anh em làm văn nghệ vì danh, vì lợi hơn là vì bổn phận thiêng liêng. An Nhơn có nhiều nhân vật văn học và lịch sử lắm, chú và anh em văn sĩ đừng phụ cổ nhân…”.

Theo bác Quách: “Không có Trường thơ Bình Định, chỉ có Trường thơ loạn gồm: Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Yến Lan. Trường thơ này không thể trở thành Trường thơ Bình Định được”.

Bình Định bấy giờ chỉ có một nhóm người mà các bạn yêu thơ do Trần Thống ở Kiên Mỹ đại diện, đặt tên là “Bàn Thành tứ hữu”. Nhóm thơ gồm có: Hàn – Chế – Yến – Quách. Bốn người này mang tên một con vật trong bộ Tứ linh. Hàn Mặc Tử là Rồng, Chế Lan Viên là Phượng, Yến Lan là Lân, Quách Tấn là Rùa.

Có câu thơ bằng tiếng Hán của Nguyễn Đức Sung:

Tấn bộ bồng lai lạc cảnh khoan
Hoan tình hội họp tứ thi lang
Trí hân khôi thỏa tâm hoài vọng
Lang phóng hương nồng nhập tiểu bang

Tạm dịch:

Tấn tới bồng lai vui cảnh tiên
Hoan tình họp mặt bốn hữu thi
Trí sáng đẹp lòng bao mong nhớ
Lan tỏa hương nồng nhập xứ men

(Ghi chú: Bốn chữ đầu của từng câu là tên của bốn nhà thơ nhắc tới trên. Hoan (Phan Ngọc Hoan) là tên thật của Chế Lan Viên, Trí (Nguyễn Trọng Trí) là tên thật của Hàn Mặc Tử).

Và người đầu tiên đưa tên của nhóm Tứ linh vào thi đàn thời bấy giờ là nhà phê bình văn học Hoài Thanh.

Còn tại sao ông Trí lấy bút danh Hàn Mặc Tử: Bút danh đầu tiên và cũng khá nổi tiếng của ông là Phong Trần. Nhưng nhiều người thấy dáng dấp thư sinh của ông nên trêu “người mảnh mai như cậu làm sao chịu đựng được phong trần, nó lại không hợp với vóc dáng của cậu”. Sau đó ông lại đổi là Hàn Mạc Tử (tức rèm lạnh).

Nhưng bác Tấn vẫn chưa chịu: “Đã có rèm thêm bóng trăng vào, hỏi còn cảnh nào nên thơ bằng”. Ông Trí ngẫm nghĩ rồi lấy bút ra vạch thêm vành trăng non vào đầu chữ A. Chỉ thêm một cái dấu mà nghĩa khác hẳn: Hàn Mạc Tử = Rèm Lạnh giờ thành Hàn Mặc Tử tức Bút Mực

Bút danh của chú Hoan ban đầu là Chế Bồng Hoan. Một hôm biết ba tôi sắp đi xuống Qui Nhơn để học, chú đến chùa Ông thăm, thấy trời tối mà ông nội tôi vẫn thắp đèn tưới cây, và ba tôi ngâm nga:

Rồi đây mỗi ngả một thân đơn
Con ngọn đèn xanh, cha mảnh vườn
Đêm lụi, đèn tàn ai gạt bấc
Vườn lan ai ấy tưới thay con.

Nghe xong chú Hoan cảm động quá nói: “Mình muốn làm một cái gì đó để kỷ niệm câu thơ của cậu”. Nghĩ một lát chú Hoan reo to: “À mình sẽ đổi bút danh thành Chế Lan Viên”. Ba tôi cũng thấy đó là ý hay nên đồng ý ngay. Và thế là từ đó trên thi đàn Việt Nam xuất hiện bút danh mới: Chế Lan Viên.

Về bút danh của ba tôi thì nhiều người biết rồi. Lúc đầu ông dùng bút danh có khi là Xuân Khai, có khi Thọ Lâm. Còn Yến Lan là tên ghép của hai giai nhân. Trong lớp ông dạy có hai cô gái trông khá xinh, chơi thân nhau, một tên là Yến, một là Lan. Họ thường thì thầm: “Tao, mày chơi thân với nhau như vầy sau này chỉ lấy một chồng”. Ba tôi nghe được thấy câu chuyện của hai người hay hay nên quyết định đổi bút danh Xuân Khai thành Yến Lan. 

Tuy xuất thân và trưởng thành từ Gò Bồi – Bình Định, nhưng nhà thơ Xuân Diệu ban đầu không nhập vào nhóm này. Bác Tấn nói vui: “Xuân Diệu đấm Hàn, thoi Yến, đá Quách, từ biệt quê hương để ra Hà Nội bắt tay với Huy Cận lập thành nhóm Huy – Xuân”.

Tại Thu Xà – Quảng Ngãi, nhà thơ Bích Khê lẻ loi, cô quạnh đành lui vào Bình Định cùng bốn chàng thi sĩ nọ lập thành nhóm Ngũ hành. Nhóm Ngũ hành tuy mới thành lập nhưng họ rất tâm đầu ý hợp. Chỉ có bác Tấn ở Nha Trang nhưng họ vẫn thường xuyên vào, ra để thăm nhau.

Ông cụ tôi tâm sự: “Bình Định là nơi phối hợp để thành quả trứng còn Nha Trang là lò ấp trứng. Tôi và các bạn đã gửi lại Nha Trang một thời tâm đắc và tuổi trẻ đam mê, làm sao quên được những ngày tháng cùng nhau học hỏi, vui chơi, nghiên cứu thơ đường, học chữ Hán”.

Một thời gian ngắn, Hàn Mặc Tử bị trọng bệnh rồi mất, ông hưởng dương 28 tuổi. Chẳng bao lâu sau Bích Khê lâm bệnh nặng (lao). Cả nhóm bàn đưa Bích Khê vào Nha Trang tìm cách nuôi nhau. Họ góp tiền thuê một nhà ở phường Củi cho Bích Khê ở.

Vì lòng tốt của bạn, được một thời gian Bích Khê lại lặng lẽ bỏ ra đi. Nhà thơ Nguyễn Đình đã tìm lại được Bích Khê. Sau khi bàn bạc kỹ, nhóm quyết định đưa ông ra Huế chữa trị và an dưỡng. Về kinh tế, tùy theo hoàn cảnh từng người mà góp tiền nuôi Bích Khê.

Chú Chế Lan Viên phải nuôi cha mẹ góp 10 đồng, bác Quách 20 đồng, chú Nguyễn Đình 20 đồng, vì không vướng bận gì nên ba tôi góp 30 đồng. Như vậy mỗi tháng nhà thơ Bích Khê nhận được 80 đồng, theo tôi biết đó là số tiền rất lớn, cơm tháng hồi đó chỉ có 4 đồng. Tất cả việc thu và gửi tiền ra Bệnh viện Paskiê cho chú Bích Khê đều do vợ bác Tấn đảm nhận.

Một thời gian sau ba tôi nhận được một lá thư viết bằng bút chì:

“Yến Lan

Mình rất cảm ơn cậu và các bạn đã chăm lo cho mình. Bây giờ mình không thể chịu đựng được nữa, mình đành vĩnh biệt cuộc sống, vĩnh biệt bạn bè”.

Thời gian sau, không biết năm nào nhà thơ Xuân Diệu trở về Bình Định, nhập vào nhóm Ngũ hành để thành nhóm Lục căn (Nhãn – Nhỉ – Tỷ – Thiệt – Thân – ý). Tôi không biết ai mang bí danh của những bộ phận này vì tên nhóm ít ai nhắc đến .

Trong nhóm này chú Xuân Diệu là khôn ngoan nhất, bác Quách Tấn thường trêu: “Thằng Diệu nó chẳng cho ai xem thứ gì khi chưa in thành chữ trên báo bao giờ”. Nhưng điều này bác lại cho là đúng và đó là kinh nghiệm quý báu trong sáng tác, vì thời gian sau này bác bị người khác đứng tên trong nhiều bài viết của mình!

Lâm Bích Thuỷ

Read Full Post »

(ĐVO) Trong lịch sử cận đại Việt Nam, hễ nói đến công chúa con vua mà lại lấy hai chồng làm vua là người ta nghĩ ngay đến công chúa Lê Ngọc Hân, con vua Lê Hiển tông, gả làm vợ vua Quang Trung. Nhưng sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi, Ngọc Hân được hoàng đế Gia Long lập làm Ðệ Tam cung…

Số đâu có số lạ đời
Con vua mà lại hai đời chồng vua.

Thực hư chuyện này là thế nào? Mặc dù có người đã giải thích nhân vật ám chỉ trong câu ca dao trên là Lê Ngọc Bình, em ruột của công chúa Ngọc Hân. Nhưng tội nghiệp, điều này vẫn không giải được án tình cho Ngọc Hân trong dư luận của người dân xứ Huế một thời.

Công chúa Ngọc Hân phải chịu án tình oan với vua Gia Long. Ảnh minh họa

Trang tình sử bi hùng…

Lê Ngọc Hân (1770-1799) còn gọi Ngọc Hân công chúa hay Bắc Cung Hoàng hậu ; là công chúa nhà Hậu Lê và hoàng hậu nhà Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam, vợ của vua Quang Trung (Nguyễn Huệ). Dân gian còn lưu truyền tên gọi bà là Bà Chúa Tiên khi bà ở Phú Xuân vì dinh phủ lập ở chùa Kim Tiên.

Dưới thời Tây Sơn, có hai phụ nữ nổi danh làm rạng rỡ cho truyền thống phụ nữ Việt Nam là nữ tướng Bùi Thị Xuân và nữ sĩ tài hoa Lê Ngọc Hân. Nhưng cuối cùng, cả hai bà và gia đình đều phải chịu cảnh đắng cay thê thảm hiếm có trong lịch sử.

Có thuyết cho rằng, vào năm Nhâm Tuất (1802), triều Tây Sơn bị diệt, Gia Long bắt được Ngọc Hân công chúa, thấy nàng có nhan sắc kiều diễm, có sức quyến rũ các bậc tu mi, đã không kìm được xúc động trong buổi sơ ngộ tại Phú Xuân. Gia Long đưa truyền nộp công chúa vào cung. Tả quân Lê Văn Duyệt can “không nên lấy vợ thừa của giặc” nhưng nhà vua không chịu nghe, lại đáp: “Tất cả giang sơn này, cái gì không lấy từ trong tay giặc, cứ gì một người đàn bà?”

Vào cung, Ngọc Hân sinh cho vua Gia Long hai con là Hoàng tử Thường Tín và Quảng Oai.

Như vậy, đây có thể xem là một trang tình sử bi hùng giữa công chúa Ngọc Hân và vua Gia Long – đã được thi vị hoá và hiện thực hoá – nên được nhiều người kể, nhiều người ưa nghe và có nhiều sách vở biên chép. Năm 1941, trong tập san B.A.V.H . (Đô thành hiếu cổ) xuất bản ở Huế có bài viết của Phạm Thường Việt, với nhan đề  Les caprices du génie des Mariages ou extraordinaire destinée de la princesse Ngọc Hân (Sự trớ trêu của ông tơ, bà Nguyệt hay duyên số kỳ lạ của Công chúa Ngọc Hân). Ở đây, ông Thường lần nữa lại cho rằng người lấy vua Gia Long là công chúa Lê Ngọc Hân. Tiếp đến, năm 1961, nhà sử học Nguyễn Thiệu Lâu vẫn cho rằng, Ngọc Hân công chúa đã lấy Gia Long là chuyện có thật.

… Hoàn toàn không phù hợp với sự thật lịch sử

Tất cả những câu chuyện về chung cục bi thương huyền hoặc của công chúa Lê Ngọc Hân là hoàn toàn không phù hợp với sự thật lịch sử.

Mộ Ngọc Hân Công Chúa hiện ở xã Ninh Hiệp (Gia Lâm, Hà Nội) .

Sau ngày đại thắng, Quang Trung về Phú Xuân tiến phong Ngọc Hân làm Bắc Cung Hoàng hậu. Ngọc Hân được hưởng những năm tháng tràn đầy hạnh phúc bên người chồng anh hùng. Bà sinh được hai người con, một gái là Nguyễn Thị Ngọc Bảo (SN 1788) và một trai là Nguyễn Quang Đức (SN 1790). Tuy nhiên, hạnh phúc đó không được bao lâu.

Tháng 9/1792, vua Quang Trung đột ngột từ trần. Mới 22 tuổi đầu, với hai đứa con thơ một lên 4 và một lên 2, Ngọc Hân trở thành goá bụa. Bà sống cô quạnh trong nỗi nhớ thương chồng. Tình cảm đau xót triền miên dần hút hết sinh lực của bà. Và  thế là 7 năm sau (năm 1799), Ngọc Hân từ trần khi mới 29 tuổi đời. Hai năm sau (1801), Nguyễn Ánh tấn công vào Phú Xuân, vua tôi Quang Toản bỏ kinh thành chạy ra Bắc Hà. Hai con của Ngọc Hân còn thơ ấu đều bị bắt.

Rõ là, công chúa Lê Ngọc Hân đã mất dưới triều vua Cảnh Thịnh, nghĩa là trước khi kinh thành Phú Xuân thất thủ 16 tháng thì làm gì có câu chuyện bà phải lâm cảnh bôn ba lưu lạc sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi, để rồi phải làm vợ của hoàng đế Gia Long. Bà đã được truy tặng là Như Ý Trang Thuận Trinh Nhất Vũ Hoàng Hậu; được ma chay tống táng tại kinh thành theo đúng nghi thức vương giả dành cho một bậc mẫu nghi thiên hạ. Bằng chứng hùng hồn là bài văn tế Vũ Hoàng Hậu tìm thấy trong Dụ Am Văn Tập của Phan Huy Ích, mà Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm đã công bố trên tạp chí Tri Tân vào năm 1943 tại Hà Nội.

Một sĩ quan Pháp là Barizy theo chân Gia Long Nguyễn Ánh vào Phú Xuân, có đến nhà tù giam những người con của vua Quang Trung, đã mô tả lại trong thư của ông viết vào ngày 16/7/1801: “… Họ ở trong một căn phòng hơi tối, có tất cả 5 công chúa, một cô 16 tuổi, theo tôi là một cô gái đẹp, một em bé 12 tuổi là con gái bà công chúa Bắc Kỳ (tức Ngọc Hân), em này cũng coi được… Ngoài ra, còn có 3 con trai, có một em độ 16 tuổi da nâu nhưng nét mặt tầm thường. Còn em trai kia độ 12 tuổi là con bà công chúa Bắc Kỳ thì diện mạo rất đáng yêu và có những cử chỉ rất dễ thương”.

Sách Đại Nam thực lục chính biên chép, cả con trai và con gái của Ngọc Hân đều bị bắt khi Nguyễn Ánh tấn công chiếm Phú Xuân vào tháng 5/1801 và sau đó, bị giết vào tháng 11/1801.

Tại sao Lê Ngọc Bình bị “biến” thành Ngọc Hân công chúa?

Lê Ngọc Bình (sinh năm 1783), công chúa con vua Hiển tông nhà Hậu Lê, em ruột công chúa Lê Ngọc Hân, là Chính cung Hoàng hậu vua Cảnh Thịnh (Quang Toản) nhà Nguyễn Tây Sơn và Ðệ Tam cung của vua Gia Long.

Theo Kể chuyện các vua Nguyễn, cuộc tình duyên của bà Lê thị Ngọc Bình với vua Gia Long khá lạ kỳ. Tháng 5/1801, khi Nguyễn Ánh đánh chiếm Phú Xuân, vua Quang Toản bỏ chạy ra Bắc Hà, Ngọc Bình và một số cung nữ bị kẹt lại Phú Xuân. Thấy nàng là một người con gái trẻ đẹp, ăn nói dịu dàng, dáng điệu thướt tha, Gia Long rất ưng ý. Mặc cho các cận thần nhà Nguyễn kịch liệt phản đối, Gia Long bỏ ngoài tai tất cả. Ngọc Bình được nạp làm phi và sau đó được phong làm Đệ tam cung Đức Phi (đứng thứ ba sau hai bà hoàng hậu là Thừa Thiên, mẹ hoàng tử Cảnh và Thuận Thiên, mẹ vua Minh Mạng).

Bà Ngọc Bình sinh được bốn người con. Hai hoàng tử là Quảng Oai công Nguyễn Phúc Quân (1809) và Thường Tín công Nguyễn Phúc Cự (1810). Hai công chúa là Mỹ Khê Ngọc Khuê và An Nghĩa Ngọc Ngôn. Đức phi Ngọc Bình mất vào năm 1810, sau khi sinh hoàng tử Phúc Cự. Năm ấy bà mới 27 tuổi.

Sách Quốc sử di biên và một số tư liệu khác cho hay, chị em Ngọc Hân và Ngọc Bình có nhiều điểm tương đồng rất căn bản. Hai bà đều là công chúa con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê, sinh trưởng ở ngoài Bắc; lớn lên hai bà đều lấy chồng là hoàng đế nhà Tây Sơn, nghĩa là cả hai bà đều là hoàng hậu Phú Xuân. Do đó, những câu chuyện truyền tụng về cuộc đời hai bà cứ đan kết vào nhau, theo không gian và thời gian mà dần dà thay đổi, để rồi lẫn lộn và cuối cùng, chuyện có thật về người này trở thành huyền thoại của người kia. Nói rõ hơn, công chúa Lê Ngọc Bình chính là người phụ nữ lạ thường “con vua lại lấy hai đời chồng vua”.

Read Full Post »

Võ Phiến

 

Ðề tựa một cuốn sách của ông Nguyễn Ðình Tư, ông Nguyễn Hiến Lê cho biết đã từng muốn kiếm một khu vườn ở tại vũng Lắm hay Xuân Đài.

Vị học giả từ đất Bắc vào toan mua vườn làm nhà ở Phú Yên vì ông “thương” cảnh đẹp Phú Yên, muốn thưởng ngoạn cho thỏa thích. (Thương là chữ của ông Nguyễn, nhại một tiếng trong ca dao địa phương). Làm dân Bình Định, tôi có hơn ông Nguyễn thêm một lý do nữa để lưu luyến Phú Yên: ở đây, người ta “thương” trai Bình định. “Người ta” là con gái, thế mới càng thú vị. Thú vị và hiếm có. Bởi vì trong văn chương bình dân của từng địa phương không dễ tìm ra một câu thắm thiết tình tứ của miền này hướng về miền kia như câu hát của gái Phú yên:

Anh về Bình Định chi lâu

Chiều chiều em đứng hàng dâu ngó chừng.

Hai hàng nước mắt rưng rưng,

Chàng xa cách thiếp dậm chưn kêu trời.

Tìm đâu cho được những câu như thế? Câu hát về trai Quảng gái Huế chăng?

Học trò trong Quảng ra thi

Thấy cô gái Huế chân đi không đành.

Thực ra ở đây chỉ có chàng trai xứ Quảng bị “chọc quê”, chứ không hề có tình cảm của cô gái Huế.

Còn về cô gái Phú Yên thì cái tình cảm của cô không còn có thể ngờ vực gì nữa: câu hát trên đây không phải là ngẫu nhiên, là trường hợp duy nhất. Người ta bắt gặp nhiều câu tương tự: hoặc cô dặn “anh” mua cho cô một chiếc nón lá dày làm quà Bình Định, hoặc cô trách “anh” bỏ cô kéo vải hái dâu một mình hơi lâu v.v… Tình cảm quí báu nọ được xác nhận đi xác nhận lại nhiều lần.

Vì gái Phú Yên đa tình chăng?

Sự thực gái Phú Yên chỉ mới mang tiếng đa tình từ khi bị Tản Ðà xem tướng (1). Nhưng con mắt Phú yên dù có đa tình, mắt ấy cũng chưa từng “ngó chừng” theo ông Tản Ðà. Chỉ có câu chuyện “đứng hàng dâu ngó chừng” theo anh Bình định!

Vì anh Bình Định gần gũi, vì lửa gần rơm chăng?

– Không phải thế. Tỉnh Phú Yên còn một mặt giáp giới tỉnh Phú Bổn, một mặt giáp giới tỉnh Khánh Hòa: Những gần gũi ấy chưa lưu một dấu vết tình cảm nào, ít ra là trong văn chương truyền khẩu. Gái Phú Yên không tỏ ra đa tình với một ai khác, chỉ đa tình với trai Bình Định mà thôi.

Vả lại, Bình Định còn một mặt giáp giới Pleiku, một mặt giáp giới Quảng Ngãi: Ca dao ở cả Quảng Ngãi lẫn Bình Định đều không đề cập đến một liên hệ tình cảm nào giữa bên này và bên kia đèo Bình Đê. Cái tình của gái Phú Yên đã là tình chuyên nhất lại là tình lâu bền, trải qua nhiều thế hệ. Tại Khánh Hòa có câu hát:

Anh về Bình Định thăm cha,

Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em.

Từ thế hệ trước, cha Bình Định đã gặp mẹ Phú Yên! Làm sao cắt nghĩa được mối duyên nợ truyền kiếp này?

Cắt nghĩa là chuyện khó. Trong khi chờ đợi, tạm có vài suy đoán vu vơ.

Dân tộc mở rộng bờ cõi về phương Nam làm nhiều đợt, chúng ta dừng lại ở Thanh Hóa thật lâu từ đầu Công nguyên; đến thế kỷ thứ VII thứ VIII tiến vào Nghệ An, Hà Tĩnh; đến thế kỷ thứ XI, vào Quảng Bình, Quảng Trị; thế kỷ thứ XV, tiến vào Bình Định; thế kỷ thứ XVI, XVII thanh toán đất Chiêm Thành; sau cùng, sang thế kỷ XVIII, thì chiếm luôn Chân Lạp.

Cứ tiến lên một chặng lại nghỉ ít lâu, rồi tiến chặng nữa. Kể ra là sáu chặng; nhưng sáu chặng ấy có thể phân làm hai thời kỳ khác nhau: Thứ nhất, từ đèo Cù Mông trở ra, cuộc chinh phục và mở mang thuộc công lao các triều vua đóng đô ở ngoài Bắc. Thứ nhì, từ đèo Cù Mông trở vào, thuộc công lao các vua chúa nhà Nguyễn.

Năm 1470, vua Lê Thánh Tôn đánh chiếm Ðồ bàn, tiến tận đèo Ðại Lãnh, nhưng rồi chỉ giữ lại để cai trị phần đất từ đèo Cù Mông trở ra. Năm 1611, Nguyễn Hoàng đánh Chiêm thành, lập đất Phú Yên. Vào giữa khoảng thời gian hơn trăm năm ấy xảy ra việc Nguyễn Hoàng vào trấn đóng Thuận Hóa năm 1558 với ý định chia đôi sơn hà, gián đoạn sự liên lạc Nam Bắc.

Trong thời kỳ Nam tiến thứ nhất, cứ mỗi lần chinh phục được đất mới, thì triều đình ngoài Bắc đưa người từ các tỉnh ngoài đó vào mở mang; cứ thế đến tận thế kỷ XVI. Vì vậy dân Quảng nam, Quảng ngãi, Bình định, trong buổi đầu phần đông có nguồn gốc trực tiếp ở Bắc, hay ở bắc Trung phần. Nhiều nhân vật đã lập nên nghiệp lớn ở Bình định vốn là gốc người đàng ngoài: Ðào Duy Từ, Nguyễn Hữu Tấn (gốc Thanh hóa), Lê Ðại Cương, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ (gốc Nghệ an) v.v…

Trong thời kỳ thứ hai, vào đến Phú yên, không còn tình trạng ấy nữa. Khi Nguyễn Hoàng lấy được Phú yên thì Nam Bắc đã chia biệt, không còn lấy được người Bắc đưa vào Phú yên. Những đợt di dân đầu, chúa Nguyễn có thể đưa người Thuận Quảng vào; nhưng sau đó, liên tiếp trong mấy trăm năm, hầu hết có lẽ là việc di dân tự động của người Bình định. Nhân vật Phú yên được lưu danh, ngoài vị thành hoàng mở đất (Lương Văn Chánh), không có ai là gốc ở Ðàng Ngoài. Có chăng chỉ những người từ Bình định vào, như Châu Văn Tiếp, như Võ Trứ…

Phải chăng vì vậy mà có cái tình khắng khít giữa Phú yên với Bình định?

Di dân ở thời kỳ trước, từ Thanh Nghệ vào Quảng nam, Quảng ngãi, Bình định, không gây nên cái tình cảm ràng buộc hai miền như di dân ở thời kỳ sau từ Bình định vào Phú yên; nói cách khác, không có ái tình Thanh Quảng hay Nghệ Quảng trong ca dao mà chỉ có ái tình Bình Phú trong ca dao, như thế là vì lối di dân mỗi thời mỗi khác.

Thời trước, từ Bắc vào đất mới quá xa. Dân Thanh Nghệ vào Thăng Hoa (Quảng Nam ngày nay), Tư Nghĩa (Quảng Ngãi), Hoài Nhơn (Bình Định) hoặc tuân theo chiếu vua kêu gọi, hoặc vì mang án lưu hình v.v… đã đi là đi luôn, đi để lập nghiệp ở các miền đất mới, không tính ngày về. Thậm chí đời nhà Hồ, di dân phải thích hai chữ tên châu mình lên cánh tay. Ra đi như thế là từ bỏ một quê hương để nhận lấy cho mình một quê hương mới. Trước chuyến đi là dân Nghệ, dân Thanh; sau chuyến đi tức khắc thành hẳn một thành phần của dân Quảng, dân Bình Định.

Trái lại, vào thời sau, trong những cuộc di dân tự động, “anh Bình Định” vào Phú Yên làm ăn, “thương” cảnh Phú Yên, “thương” người Phú Yên, ăn ở với em Phú Yên nhưng vẫn không rời bỏ quê hương Bình định sát kề. Ngoài đó còn có cha mẹ, có mồ mả tổ tiên, có cả những dính líu về tài sản ruộng đất nữa. Ngày giỗ, ngày kỵ, những dịp chia ruộng bán nhà v.v…, anh không thể vắng mặt. Một bổn hai quê, anh Bình Định đi đi về về mãi, khiến em Phú Yên phải giậm chân kêu trời. Như thế cho đến một ngày kia, khi anh đã con đàn cháu lũ đùm đề, gánh gia đình cũng như sản nghiệp tạo dựng của anh ở quê vợ đã quá nặng quá lớn, đủ thu hút tất cả thì giờ, tâm trí, cùng sự hoạt động của anh, khi tuổi anh đã cao, sức anh đã suy sút, bấy giờ anh mới đành chịu định cư hẳn ở Phú Yên, lấy quê vợ làm quê mình. (Nhưng bây giờ lại đến lượt đứa con trai của anh, theo tiếng gọi phương Nam, nó lên đường vào Khánh Hòa làm ăn và lại gặp một em ở trong đó. Cha Bình Định, mẹ Phú Yên, vợ Khánh Hòa: cuộc Nam tiến cứ thế tiếp diễn…)

Thành thử anh Bình Định hấp dẫn, đầu đuôi chỉ vì một lối di dân nhì nhằng.

(1) “Ða tình con mắt Phú Yên” (Tản Ðà)

(Giai phẩm TÂY SƠN Xuân Ất Hợi ).

Read Full Post »

(ĐVO) Một số tài liệu lịch sử xác nhận rằng, vua Quang Trung đã sai sứ thần tới Đại Thanh cầu hôn công chúa – con gái được cưng chiều nhất của hoàng đế Càn Long. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu hiện nay lại phủ nhận điều này.
Thực hư cuộc cầu hôn giữa nhà Tây Sơn với nhà Thanh là như thế nào? Sách Hoàng Lê nhất thông chí chép rằng: “Vua Quang Trung sau khi quyết định đánh Trung Quốc, bèn sai bầy tôi là Chiêu Viễn Vũ Văn Dũng sang nhà Thanh dâng biểu cầu hôn và đòi lại đất hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây”.

Sách Đại Nam chính biên liệt truyện cũng ghi: “Năm Nhâm Tý (1792), vua Quang Trung sai làm biểu văn sang nhà Thanh cầu hôn để dò ý vua Thanh và cũng để mượn cớ gây mối binh đao, nhưng vua bị bệnh không đi được”.

Vua Quang Trung. Ảnh minh họa

Theo hai tài liệu trên, việc Quang Trung xin cưới một công chúa của Càn Long mới chỉ trong dự định của một ý đồ liên quan đến vận nước của hai bên. Vua mong muốn bành trướng lãnh thổ Ðại Nam về phương Bắc và bằng mọi cách đòi lại cho được 2 tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây – vốn thuộc nước Nam Việt thời Triệu Ðà (năm 207 trước Tây lịch), mà nhà Hán đã thôn tính.

Sắc mệnh sai sứ thần sang nhà Thanh cầu hôn

Vào tháng 4 âm lịch năm 1791, vua Quang Trung gửi một sắc mệnh cho Chiêu Viễn Vũ Văn Dũng, có nội dung như sau:

“Sắc Hải Dương Chiêu Viễn Đại đô đốc Đại tướng quân Dực vận công thần Vũ Quốc Công tiên gia lĩnh Bắc sứ kiêm toàn ứng tấu thỉnh Đông, Tây lưỡng Quảng dĩ khuy kỳ tâm, công chúa nhất vị dĩ kích kỳ nộ.

Thận chi! Thận chi!

Kỳ dụng binh hình thế tận tại thử hành.

Tha nhất tiền phong, Khanh kỳ nhân dã, khâm tai sắc mệnh.

Quang Trung tứ niên, tứ nguyệt, thập ngũ nhật”.

Tạm dịch:

“Sắc sai Hải Dương, Chiêu Viễn Đại đô đốc Đại tướng quân Dực vận công thần Vũ Quốc Công được tiên phong làm Chánh sứ đi sứ nhà Thanh, kiêm lãnh toàn quyền trong việc tâu thưa để xin lại đất hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây để dò ý và cầu hôn công chúa để khiêu khích tự ái vua Thanh.

Cẩn thận! Cẩn thận!

Hình thế dụng binh là ở chuyến này cả. Ngày kia làm tiên phong chính là khanh.

Sắc mệnh nhà vua.

Ngày rằm tháng 4 năm Quang Trung thứ 4 (1791).

Như vậy, đoàn sứ của Vũ Văn Dũng lên đường sang Đại Thanh để bệ kiến vua Càn Long hai việc: xin cầu hôn và xin đất đóng đô. Thực chất, theo một số nhà nghiên cứu hiện nay, đó chỉ là cái cớ vì thực tâm, vua Quang Trung muốn dụng binh đánh Trung Quốc và Vũ Văn Dũng chính là vị tướng tiền phong trong tương lai.

Càn Long chuẩn thỉnh cầu… Quang Trung băng hà

Sau khi sứ thần Vũ Văn Dũng dâng tấu xin Càn Long ban cho hai yêu cầu nói trên, vua nhà Thanh đã chuẩn y lời cầu hôn của hoàng đế Quang Trung, sai bộ Lễ sửa soạn nghi thức cho việc cưới gả, định ngày cho công chúa sang nước Nam. Còn việc xin lại hai tỉnh, Càn Long ngoài mặt đồng ý, nhưng thực tế chỉ muốn trao cho Quảng Tây làm đất đóng đô, coi như “của hồi môn” cho con gái “rượu”.

Tuy nhiên, ở đời mấy ai học được chữ ngờ! Chỉ sau đó mấy hôm, Vũ Văn Dũng nhận được tin chẳng lành là vua Quang Trung đột ngột băng hà. Mọi việc trở nên dang dở… Lúc đó, Vũ Văn Dũng đã làm bài thơ viếng:

Năm năm dấy nghiệp tự thân nông
Thời trước thời sau khó sánh cùng
Trời để vua ta thêm chục tuổi
Anh hùng Đường, Tống hết khoe hùng.

Vua Càn Long cũng thảo một bài thơ viếng hoàng đế Quang Trung. Sứ nhà Thanh đã đến tận mộ ông ở Linh Đường (mộ giả) thuộc huyện Thanh Trì (Hà Nội) để viếng.

Cho đến nay, thời điểm mất của vua Quang Trung vẫn được các tài liệu cổ ghi khác nhau. Sách Đại Nam thực lục của nhà Nguyễn ghi ông mất tháng 7 âm lịch năm 1792. Hoàng Lê nhất thống chí chép ông mất tháng 8 âm lịch năm 1792. Theo lý giải của Hoàng Xuân Hãn trong La Sơn phu tử, cả hai sách ghi đều không sai. Quang Trung mất vào khoảng 11 h đêm ngày 29 tháng 7 âm lịch, khoảng đó là giờ tý, nghĩa là bắt đầu được tính sang hôm sau; mà tháng 7 năm đó là tháng thiếu, ngày 29 là ngày cuối tháng, nên sau 11h đêm đã chuyển sang tháng 8. Theo Hoàng Xuân Hãn: “Ghi tháng 7 hay tháng 8 thực ra chỉ chênh nhau khoảng nửa giờ”.

Ngay sau khi đại phá quân Thanh ở trận Ngọc Hồi – Đống Đa, vua Quang Trung tìm cách xóa bỏ thù hằn bằng việc chiêu hàng, nuôi dưỡng hàng vạn tù binh nhà Thanh và thu dọn, cúng tế chiêu hồn quân Thanh; thực thi chính sách hòa giải với cường quốc phương Bắc và triều cống, xin phong vương. Bằng một kế sách ngoại giao khôn khéo, mua chuộc được các cận thần nhà Thanh (Phúc Khang An, Hoà Thân…), Nguyễn Huệ đã được vua Thanh chấp nhận cầu phong để nhà Tây Sơn chính thức thay thế nhà Lê làm chủ Đại Việt.

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »