Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Chín, 2011

Rong chơi

Lâm Cẩm Ái




Đôi khi ta thấy mình
Như một giọt sương tan
Trôi trong chiều vô hạn
Rồi cuốn vào hư không
*
Đôi khi ta thấy mình
Đang như trong cơn mộng
Trên môi nở nụ hồng
Hôn nhẹ vào đêm thâu
*
Đôi khi ta thấy mình
Về sông trăng tắm gội
Giữa mênh mông núi đồi
Áo rũ vàng mây trôi
*
Đôi khi ta thấy mình
Trên cỗ xe chạy quanh
Như cây đàn ngân lạnh
Những tiếng phù du âm
*
Soi nghiêng trời mặt nước
Soi bóng chẳng thấy hình
Hay ta lại với mình
Cùng về chốn thinh không

Read Full Post »

DS TRƯƠNG TẤT THỌ

Tình yêu là vật đẹp muôn màu, sống mà thiếu tình yêu thì cuộc sống sẽ cô đơn, trống vắng.

Họ yêu nhau, đó là chuyện bình thường. Họ cưới nhau, đó cũng là chuyện bình thường. Nhưng yêu nhau, cưới nhau ở lứa tuổi gió heo may đã về  cho thấy niềm mơ ước khát khao được sống trong yêu thương hạnh phúc ở những người thuộc lứa tuổi gừng càng già càng cay… Và tình yêu của họ phải vượt qua bao nhiêu khó khăn để có thể đến được với nhau.

CHUYỆN TÌNH ĐẸP NHƯ MƠ

Gặp nhau rồi yêu nhau

Danny Li, một giảng viên ngoại ngữ thuộc đaị học Y  gặp Yuan Dibao tại Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang rồi yêu nhau năm 1953. Tuy nhiên, số phận đã buộc cặp đôi này phải sống ở hai lục địa khác nhau suốt nửa thế kỷ. Thật kỳ diệu, vào tháng 5/2010, Danny Li và Yuan Dibao đã đoàn tụ và kết hôn vào tháng 9 cùng năm.

Chuyện tình của họ được đánh giá là “chuyện tình thanh tao nhất thế giới”. Hai nhân vật chính:

-Nàng-Danny Li-là con một phụ nữ Pháp với chồng người Trung Quốc là “ngôi sao” ở độ tuổi 24, là một trong những giáo viên trẻ nhất tại trường y Chiết Giang, lại thành thạo 4 ngoại ngữ, gồm Trung, Anh, Nga và Pháp.

-Chàng -Yuan Dibao-, diện mạo khôi ngô, là sinh viên trường Y xuất sắc nhất trong lớp tiếng Nga mà Li dạy, họ gặp nhau năm 1953. Li nhận định “Tất cả sinh viên lẫn giáo viên đều thích anh ấy”. Rồi họ yêu nhau, cả gia đình Li cũng đều quí mến chàng trai trẻ Yuan.

-Nghịch cảnh của cuộc tình đẹp về phía Li là những trở ngại tình cảm giữa cô giáo với sinh viên mình giảng dạy còn Yuan thì dấu Li việc mình đã có vợ ở quê-lấy em gái một người bạn-theo sắp xếp của gia đình trước khi vào đại học.

Năm 1954, trước khi cùng trường chuyển tới Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên ở tây nam Trung Quốc, Yuan cuối cùng đã có đủ dũng khí để nói với Li rằng mình đã có vợ, một người mà anh cảm thấy có nghĩa vụ phải quan tâm và chăm sóc tới khi cô ấy qua đời. Li choáng váng. Dù yêu Yuan, nhưng hai người đã chia tay. “Tôi không còn lựa chọn nào khác. Chúng tôi không thể xây dựng hạnh phúc trên sự đau khổ của một người phụ nữ vô tội khác”, Li nói. Kể từ đó, hai người không gặp lại nhau.

Chức Nữ chờ Ngưu Lang 55 năm

-Năm 1956, Li cùng mẹ về Pháp và viết thư báo cho Yuan biết và họ giữ liên lạc qua thư. Cuộc sống mới của cô vô cùng khó khăn. Li không những phải vật lộn để sống sót tại một xã hội xa lạ với cô, bằng cấp bị phủ nhận mà còn bị sốc văn hóa. , rồi cuối cùng tìm được công việc thư ký tại một công ty thương mại quốc tế. Trong khi đó, Yuan tốt nghiệp và bắt đầu làm việc tại Hạ Môn.Trong những bức thư gửi cho nhau, Yuan chia sẻ với Li về hạnh phúc được làm cha và Li gửi cho Yuan những gói sữa bột trẻ em, quần áo vì biết những món đồ này ở Trung Quốc lúc đó là rất hiếm.

-Khi cách mạng văn hóa nổ ra (1966-1979) tại Trung Hoa thì những lá thư của Li bắt đầu bị gửi trả lại. Để tránh gây rắc rối cho Yuan, Li ngừng viết thư. Tuy nhiên, cô không quên chàng trai mình yêu quý.”Tôi không thể bắt đầu một quan hệ mới dù nhiều người đã tìm đến tôi. Tôi cảm thấy tình yêu của Yuan với tôi là tha thiết nhất và không ai có thể sánh bằng anh ấy”.

-Năm 1976, khi chắc là mọi thứ đã an toàn, Li viết thư gửi về nơi làm của Yuan như trước kia. Tuy nhiên, lá thư này cũng lại bị gửi trả.do Yuan đã thay đổi nơi làm việc và có thông báo cho cô trong một lá thư gửi đi từ năm 1973 nhưng nó không tới được tay Li.

Gặp lại người xưa nhờ con dâu

Vào dịp Tết năm 2010. Ouyang Luying, con dâu thứ 3 của Yuan biết qua một người họ hàng (từng giúp Yuan giấu thư của Li) rằng cha chồng từng hẹn hò yêu đương một giáo viên dạy ngoại ngữ. “Khi ông kể cho tôi nghe chuyện, tôi cảm thấy rất xúc động. Mẹ chồng tôi đã qua đời từ năm 1994 vì vậy tôi khuyến khích ông viết thư”. Ouyang đã đánh thức những kỷ niệm sâu kín trong ông. Yuan đã thức khuya để viết 5 bức thư gởi cho Li và họ hàng với mong ước tìm biết hiện giờ Li đang ở đâu.Yuan sau đó mỗi ngày lại gửi một lá thư. Cuối cùng, một lá thư ghi nơi gửi là Pháp đã được gửi tới Yuan.Tay run run, Yuan mở thư. Nhìn nét chữ quen thuộc, Yuan nghĩ “tạ ơn trời, cô ấy còn sống”.Phong bì chứa một tấm ảnh của Li và bức thư dày 3 trang. Trong đó, Li đưa Yuan đi suốt những gì xảy ra trong cuộc đời cô.Năm 1974, chín năm sau lần thư từ cuối cùng, Li đạt học vị Thạc sĩ về tiếng Trung và làm giáo viên tiếng Trung tại Jean Moulin – đại học 3 ở Lyon với điều kiện cô phải có học vị Tiến sĩ trong vòng 10 năm, điều kiện mà cô đã đáp ứng được vào năm 1979. Năm 1992 Li về hưu và làm phó Chủ tịch của một tổ chức phi lợi nhuận chuyên giúp đỡ sinh viên Trung Quốc. Li vẫn độc thân và sống một mình trong căn nhà của ông bà để lại sau khi bố mẹ cô qua đời.

Ngày 1/5/2010, Li thấy lá thư của Yuan đã chờ sẵn cô ở nhà. “Tôi không trả lời ngay vì không tin đó là sự thật”. Li cầm lá thư của Yuan và ngồi trong sân từ chiều tới nửa đêm. Ngày hôm sau, bưu tá lại mang một lá thư khác tới, cuối cùng Li tin đây không phải là mơ.

KẾT HÔN SAU 55 NĂM CHIA LÌA: CHÀNG RỄ 82T, CÔ DÂU 83T

Hai người bắt đầu thư từ cho nhau như trước. Lần đầu tiên gọi điện cho Li, nàng dâu thứ ba Ouyang đã gọi “chào mẹ Danny”, điều mà Li chưa từng được nghe bao giờ khiến bà không diễn tả được cảm giác hạnh phúc lúc ấy rồi sau đó với sự giúp đỡ của Ouyang, họ nói chuyện điện thoại. Tuy nhiên, hai người vẫn viết thư vì Yuan hơi bị điếc tai. Một tháng sau, Yuan mời Li tới Hạ Môn và nói tùy thuộc vào Li muốn sống cùng ông tới cuối đời hay chỉ tới thăm cũng được. Khi Li bay tới Hạ Môn, Yuan và gia đình tới gặp Li ở sân bay. Yuan đem theo một bó hồng 55 bông.Li chấp nhận lời cầu hôn của Yuan và họ đăng ký kết hôn vào ngày 21/9/2010, một ngày trước trung thu, thời điểm đoàn tụ gia đình theo truyền thống ở Trung Quốc. Con trai Yuan tổ chức một hôn lễ lớn cho cha vào ngày 26/9.

Li và Yuan hiện sống trong nhà của con trai thứ 3. Mỗi sáng, họ lại nắm tay nhau đi dạo trên biển.”Cái gì đã qua thì cũng qua rồi, chúng tôi muốn ở bên nhau tới cuối đời. Tôi mắt kém, Yuan điếc tai. Tôi là tai của Yuan còn anh ấy là mắt của tôi”.

(Tổng hợp từ China Daily, Cultural China)

Read Full Post »

Đầu thế kỷ 20 đàn ông Nam bộ không còn búi tóc củ hành nên nghề cắt tóc ra đời; giày dép bắt đầu phổ biến làm xuất hiện nghề sửa giày… Ngày nay trên vỉa hè vẫn còn ông thợ hớt tóc dạo, người thợ sửa giày lâu năm…

Không còn hình ảnh lam lũ chân đất áo bà ba như xưa, nhưng trong mưu sinh người Sài Gòn ngày nay vẫn giữ những nét văn hóa cơ bản của đầu thế kỷ 20.

Từ những năm 1910-1930, nam giới đã không còn búi tóc củ hành mà bắt đầu cắt tóc ngắn. Theo đó, nghề hớt tóc dạo đường phố ra đời. Đến nay, các tiệm cắt tóc, salon tóc đã chuyên nghiệp hơn, tích hợp nhiều dịch vụ tiện ích, nhưng thỉnh thoảng đâu đó trên vỉa hè đường phố Sài Gòn, dưới những bóng cây mát vẫn còn những người thợ cắt tóc bình dị, với những dụng cụ hành nghề rất đơn giản, nhỏ gọn.
Là phương tiện vận chuyển tiện lợi, taxi bắt đầu xuất hiện ở Sài Gòn – Chợ Lớn vào khoảng cuối những năm 40 và thịnh hành những năm 50 của thế kỷ 20. Trong ảnh là chiếc taxi năm 1970 (ảnh trên) và hiện nay (ảnh dưới).
Sài Gòn xưa có hàng nước, quán cóc bán trà đá, trà chanh…thì trên phố Sài thành hiện nay cũng phổ biến gánh hàng, bàn giải khát với đủ loại nước có ga, nước chanh, sâm lạnh, nước dừa…
Nghề đưa thư ở Sài Gòn bắt đầu phát triển từ đầu thế kỷ 20, chủ yếu là bằng chân, do các đoàn người vận chuyển từ nơi này đến nơi khác, chỉ một số ít thư được vận chuyển bằng xe. Khi đó đất phương Nam còn nhiều rừng rậm thú dữ nên nghề đưa thư khá nguy hiểm. Ngày này nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin, máy móc thiết bị hiện đại nên việc thông tin liên lạc đã nhanh chóng, tiện lợi hơn nhiều lần.
Hình ảnh chiếc xe đẩy bán hủ tíu dạo gắn liền với văn hóa ẩm thực Sài Gòn hơn 100 năm nay. Những chiếc xe bán hủ tíu đến nay gần như vẫn còn giữ nguyên cách buôn bán lề đường, đặc biệt là là tiếng gõ “lách cách” đặc trưng. Ngày nay vẫn còn những tiệm bán hủ tíu trên 50 năm tuổi như các tiệm của người Hoa ở khu Chợ Lớn, trên đường Triệu Quang Phục (quận 5), đường Gia Phú (quận 6),…
Gánh hàng rong đã có từ rất lâu đời, và trở thành một nét văn hóa đặc trưng rất Sài thành. Trải bao thăng trầm dâu bể của thời cuộc, gánh hàng rong ngày nay không khác xưa là mấy, vẫn đơn sơ quà vặt, bình dị những tiếng rao.
Nghề sửa giày bắt đầu xuất hiện vào đầu thế kỷ 20, cho đến nay đã trở thành một trong những nghề thủ công lâu đời nhất tại Sài Gòn. Sửa giày được xem là một nghề khá nhàn nhã, thu nhập không cao nhưng ổn định, bất cứ khi nào cũng có việc để làm. Ngày nay, nghề sửa giày ít nhiều đã bị mai một, nhưng vẫn có thể bắt gặp những người thợ già đang miệt mài đóng giày trên hè phố, nhất là ở các đường Lê Thánh Tôn, Hai Bà Trưng (quận 1)…

Lê Phương – Mai Nhật
(Ảnh tư liệu Sài Gòn xưa tổng hợp từ nhiều nguồn

Read Full Post »

Mã phu

Trần Dzạ Lữ

Em đi đâu, còn lại con đường

Dấu ngựa về lòng anh thổ mộ?

Chiều xang nắng bên Thủ Dầu Một

Đăm đăm hoài con mắt người thương…

 

Như Mã phu anh dong nỗi buồn

Qua thị trấn bằng lời kinh nhớ

Tháng này vẫn còn hương sen đó

Anh về rồi ,em có chờ không ?

 

Làm mã phu chở một tâm hồn

Đường thiên lý mình em đó nhỏ

Gió thổi bao lần rồi em hở

Chiếc gương tình có lệch tri âm?

 

Em đi đâu lạnh một màu trăng

Đêm ngơ ngẩn bóng bằng lăng tím

Thơ đã dậy một trời xao xuyến

Ai hẹn lòng buộc chỉ trăm năm?

 

Em đi đâu để lại âm thầm

Anh lấy bóng mình ra đối ẩm

Ngọn thu phong bên trời vọng động

Mấy mùa rồi khao khát tình nhân…

 

Read Full Post »

Thơ rơi hoa nở cho đời

Phạm Viết Kha

( Thơ trong thơ)
xanh non mởn ngày xưa
Vàng theo ngày tháng ơ thờ vì ai
Ngập trong lệ rớt mi cay
Lối mơ đường mộng đọa đày cớ sao
Ai
gieo chi nỗi đớn đau
Về đâu… ai biết về đâu cuộc tình

Chụm đời trong tối u linh
Tay hờ hững bám biết mình về đâu
Vớt đời như đám bèo trôi
Nửa thân cõi sống, nửa đời cõi mê
Câu yêu tròn vạnh trăng thề
Thề xưa sao nỡ đi về cõi không
Trôi theo cơn lũ đổ dòng
Sông trào nước cuốn về đông mịt mờ

Mưa ào gió lạnh chơ vơ
Rơi bao giọt đắng lạnh bờ trần ai
Rơi cho ngập ngụa đắng cay
Vỡ lòng mộng tưởng sầu dày dày thêm
Giọt sầu rơi rụng từng đêm
Lòng sầu tan tác chênh vênh đong đầy

Ngăm lòng mong mối tình ai
Ngăm đời che lấp nỗi cay đắng tình
Giọt tràn u uất đời mình
Đắng cay đã lắm hãi kinh cũng nhiều
Nồng nàn lời ngỏ tình điêu
Nồng say ngon ngọt là điều trên môi
Giọt trinh nguyên lỡ than ôi
Cay chua mặn đắng tả tơi tháng ngày

Chênh vênh vực thẳm chân mây
Chao như cánh nhạn hãi này cánh cung
Một thân lạc giữa muôn trùng
Dáng sân si dại khật khùng men say
Hao gầy tan tác bỡi ai
Gầy mòn lốc bão mưa bay luân trầm

Lửng lơ chìm nổi nhân luân
mơ hư thực cõi trần gian đau
Dưới thâm u đến cõi nào
Ánh vàng vọt xoáy hanh hao thân tàn
Trăng xưa còn có ánh vàng
Say
mơ ước hảo bàng hoàng hôm nay
Muộn đời trắng nhách bàn tay
Màng chi nữa chuyện mơ bay chim trời

Hững
sao nghịch lý cuộc đời
Hờ
làm sao được bẫy người hại ta
Vạt thân vào cõi mù sa
Gió ngang thổi chướng đời hoa còn gì
Mùa nào khải vọng bước đi
Sang đâu chẳng biết thị phi ngập tràn

Nặng đau bẫy rập mưu toan
Lòng nào lòng vả lòng sung mơ hồ
tiền vì lợi mưu mô
Những toan giăng bẩy chụp vồ nai tơ
Riêng ai ai biết chữ ngờ
Mang đau tai kiếp chực chờ chim non
Ngập tràn hờn giận oán than
Lòng ai thấu cảnh hỗn mang lũ người

Thả câu lắp bẫy dụ đời
Mình gieo tục lụy đất trời tối đen
Vào trong một cõi oan khiên
Cõi đau cõi nhục triền miên tháng ngày
thực đòn phục sẵn bày
Không không có có ai hay chăng là

Một thân lạc nẻo phong ba
Tôi ta tội nợ kiếp hoa phong trần
Một thân lạc nẻo gian truân
Nửa mình đã chết nửa thần đã tan
Đếm đong mòn mõi thời gian
Đong đưa kiếp sống bàng hoàng mà đau
Nhịp thời gian hãy qua mau
Đời mong trở lại nhịp cầu xa xưa

Đàn mong rung khúc nhạc mơ
Ai oán cũng… chỉ nằm bờ vực sâu
Vẳng văng tiềm thức nhiệm mầu
Khúc ca tráng khí mưu cầu nhịp sinh
Xa mơ trở lại đời mình
Vợi vời cũng phải đấu tranh sinh tồn

Hồn thiêng đốt cháy lửa lòng
Tôi ta chung sức bẻ gông phá xiềng
Thổn thức bao nỗi niềm riêng
Thức tỉnh bao lớp triền miên đọa đày
Buông rơi phá bỏ đắng cay
Lời chân lý tay trong tay đáp lời
Thơ say vút hiện cao vời
Rơi đi oan nghiệt cho đời mơ hoa

Read Full Post »

“Chưa đi chưa biết Hoa Kỳ –
Đi rồi mới thấy… kỳ kỳ làm sao!”

“Chưa đi chưa biết Hoa Kỳ – Đi rồi mới thấy… kỳ kỳ làm sao!” – Phải, một trong những sự “kỳ kỳ” ở xứ Mỹ này là đạo luật “Pull Your Pants Up” hay “Kéo quần lên” mới được ban hành ngày 31 tháng 8 vừa rồi.

Đây là thành quả vĩ đại mà thượng nghị sĩ Gary Siplin thuộc đảng Dân Chủ ở Orlando, tiểu bang Florida đã gặt hái được sau hơn 6 năm vận động. Nhân mùa khai giảng niên học 2011-2012, các cậu đương kim sinh viên trở lại trường và các cựu nam học sinh vừa từ cấp trung học bước lên ngưỡng cửa đại học đã được “cụ thượng” Siplin hồ hởi phấn khởi chào mừng bằng việc phân phát miễn phí 200 dây nịt hay còn gọi là thắt lưng.
Món quà này không phải nhằm vận động các cậu nhớ bỏ phiếu cho ứng cử viên tổng thống của đảng Dân Chủ vào tháng 11 năm tới hoặc để các cậu diện cho bảnh hầu bắt mắt con gái – nhưng thông điệp rất rõ rệt: Dây nịt này dùng để giữ quần không bị xệ xuống mà lòi bộ mông của chủ nhân ra! Nói nhẹ thì như có vẻ khuyên bảo nhẹ nhàng, nhưng thật sự là nghiêm cấm đấy dù mông có đẹp, có trắng, có tròn, có nẩy nở hay phát triển khổng lồ hoặc sexy cỡ nào thì cũng không được triển lãm ra trong phạm vi học đường.

Đã gọi là đạo luật thì hẳn nhiên có phần qui định hình phạt. Theo đạo luật “Pull Your Pants Up”, kẻ nào không chịu thường xuyên “kéo quần lên” mà cứ “vô tư” để quần xệ khiến lòi cả mông ra cho mát mẻ hay vì một mục đích thầm kín nào đó thì lần đầu tiên được nhắc nhở; sau đó nếu còn ngoan cố tái phạm thì phạm nhân sẽ bị đuổi học “tối đa 3 ngày và lên đến 30 ngày cho các sinh hoạt ngoại khóa”.

Về phía nữ sinh viên, đạo luật này cấm “mặc áo hở ngực và váy quá ngắn”. Cô nào mặc quần thì cũng phải tuân thủ đạo luật mới này, nghĩa là không được mặc quần xệ, mà nếu nó lỡ xệ thì phải lo mà… kéo lên chứ không được nhân danh phái đẹp mà khoe mông ra. Khiếp, ngứa mắt lắm!
Trong chiến dịch “chống nạn sinh viên quần xệ” của thượng nghị sĩ Gary Siplin ở Florida, không nghe nói và không thấy báo chí viết, nữ sinh viên có được phân phát dây nịt không hay “cụ thượng” này cũng lại áp dụng quan niệm “trọng nam khinh nữ”.
Trong trường hợp này, “trọng” là làm hại, gây thiệt còn “khinh” thì lại mang lợi, sinh ích. Bởi con giai đã nhận được dây nịt mà còn để quần xệ ắt hết lý do để bào chữa cho hiện tượng lòi mông. Ngược lại, con gái mà có bị bắt về tội phơi mông, vẫn có thể chống án bằng cách viện lý không được “bố thí” dây nịt trong khi lại sống trong hoàn cảnh nghèo, có bao nhiêu tiền thì đã dốc vào mục đóng học phí, còn đâu nữa để mua dây nịt hay có tiền đấy, nhưng chưa kịp sắm thắt lưng hoặc chưa chọn được thứ đúng ý, hợp mốt. Đã gọi là ai cũng được bình đẳng trước luật pháp mà vẫn có cảnh “người ăn ốc, kẻ đổ vỏ”, nghĩa là bất công thì Hoa Kỳ vẫn chỉ là đất… “kỳ kỳ làm sao”!
Kể cũng lạ, giữa thời buổi kinh tế xuống dốc, giữa lúc hàng triệu người dân thất nghiệp khiến phải “chạy ăn từng bữa toát mồ hôi”, bỗng dưng QUẦN lại chiếm được một vị trí quan trọng trong luật pháp Hoa Kỳ. Mà quần là cái thá gì, bỗng có giá quá như thế? Đó chẳng qua theo định nghĩa thông dụng trong các tự điển Việt ngữ, là vật dùng để che phần dưới thân thể. Chữ “vật” ở đây quá ư mơ hồ, thứ gì miễn che được hạ thể mà chẳng là “vật” chứ đâu cứ phải là vải? Quay trở lại lịch sử loài người, ta thấy ngay.
Chẳng nhà khảo cứu cổ học nào có thể xác nhận quần có từ niên đại nào và ở đâu có đầu tiên. Thế nhưng, có điều chắc chắn bất khả chối cãi là trong tôn giáo, điển hình Thiên Chúa giáo, tổ tiên loài người “thuở ban đầu lưu luyến ấy” sống trần truồng, bởi chưa phạm tội nên không biết xấu hổ, mà đã không biết xấu hổ thì cần gì che với đậy.
Một bài đọc trong cuốn Cựu Ước kể rất rõ: Chỉ sau khi ăn trái cấm, ông A Dong và bà E Và mới nhận ra từ thuở tạo thiên lập địa đến giờ mình vẫn… trần như nhộng, bèn mắc cở – dù chỉ có hai người nhìn nhau và hai người này từ xưa vẫn là vợ chồng với nhau, tức là của người này cũng là của người kia, vậy mà nay nhìn lại những cái của nhau (cũng là vật sở hữu của chính mình) vẫn thấy… kỳ kỳ làm sao ấy.
Thế là… mắc cở. Sách không kể tiếp “mắc cở” hay “xấu hổ” rồi thì ông A Dong và bà E Và làm gì để chế ngự những cảm giác và nhận thức ấy, nhưng xem nhiều bức họa thì được thấy các họa sĩ đã lấy một chiếc lá – giống lá nho 3 cạnh – to hơn bàn tay mà che dùm cho ông A Dong; còn với bà E Và thì có họa sĩ cũng cung cấp cho bà một chiếc lá be bé – y chang lá tre – có họa sĩ lại để bà đứng núp sau một bụi cây. Nói là “che” cũng chỉ để nói cho có lệ, cho oai tí chút chứ thật sự chỉ làm khuất đại khái được rừng, núi còn thì những vùng hoang địa khác thì vẫn là phần thiên nhiên. Thế nhưng nhân đấy, ta vẫn có thể coi chiếc lá là “cái quần” đầu tiên của loài người.
Rồi chẳng hiểu cuộc sống tiến triển như thế nào mà rồi các thế hệ sau này cuối cùng chiếc lá che thân của “thuở ban đầu… mắc cở ấy” cũng không cánh mà bay đi đâu mất. Lại trần hơn nhộng. Có bộ lạc nào trong rừng sâu núi thẳm mang “quần” đâu. Cả nam lẫn nữ đều tô hô “bình đẳng bình quyền” nên “cả nút chẳng xấu hổ”. May mà phái nam sớm khám phá ra sự bất tiện, nhận diện được vật cản trở những bước tiến trong việc săn bắn hay lúc bị voi rượt, cọp đuổi… nên lấy dây cỏ cột “chướng ngại vật” này lại hoặc nhét nó vào một cái ống cho “an toàn trên xa lộ”. Vậy ta lại có lý do xem sợi dây hay cái ống ấy là một thứ “quần” sơ khởi của nam giới. Còn phái nữ, chắc cũng chỉ cái lá hẳn là “ắt có và đủ” chứ chẳng có thứ gì “vừa tiện lại vừa lợi” hơn thế nữa.
Xem lại: Cái bịt chim

Đến khi đời sống nhân loại được tổ chức thành xã hội, nghĩa là khởi sự có những hoạt động về kinh tế, quân sự, chính trị… – dĩ nhiên chỉ “qua loa rờ măng”, nhưng đã có chút ánh sáng văn minh – tổ tiên loài người dệt được vải. Cái khố ra đời. Dụng cụ này bọc được phía trước, che được phần giữa phía sau. Hiện nay trong rừng rậm còn rất đông bộ lạc đóng khố; ở nhà quê cũng không thiếu dân cư “thi đua” đóng khố.
Đã đóng khố thì có đóng… kịch đến cỡ nào cũng vẫn lòi cái nghèo ra. Bởi thế có câu: “Khố rách áo ôm”. Thảm hơn nữa khi gặp cảnh: “Con đóng khố bố cởi truồng”. Nhưng rồi theo thời gian mà cái khố được “phăng” rộng ra, kéo dài xuống để rồi thành cái quần chính hiệu. Thế nhưng cái quần lúc đầu chỉ cần đậy cho “chủ nhân” những phần được coi là “chiến trường”, dần dần ngoài công tác che chở, còn trở thành đồ trang sức cho loài người.
Nói tổng quát, quần cũng thay hình đổi dạng theo thời gian, nhưng nếu chiều dài từ thắt lưng xuống đến mu chân thì gọi là quần dài, nhưng nếu được cắt ngắn lửng lơ trên đầu gối lại mang tên là quần đùi (chỉ che đùi) hay sà-loỏng hoặc “soóc”. Tuy nhiên bài này không có ý tường thuật lý lịch của cái quần, cũng không nhằm sưu tầm các kiểu quần – dù chỉ là quần của nam giới, chứ chẳng dám sờ đến quần đàn bà vốn nhiêu khê và phức tạp vô cùng tận y như tâm lý của nữ giới vốn muôn đời là: “Sông sâu còn có kẻ dò, lòng người (nữ) nham hiểm ai đo cho cùng”.
Ấy vậy mà cái quần cũng góp phần vào việc qui định địa vị của chủ nhân của nó trong xã hội. Chẳng thế mà những ai mặc “quần chùng áo dài” là được thiên hạ đặt vào giai cấp giầu sang, luôn ăn mặc chỉnh tề, sống phong lưu nhàn hạ, không phải lam lũ, vất vả, nhưng lại chuyên “làm cha” tất cả “dân ngu khu đen”, chỉ huy những kẻ “cầy sâu cuốc bẫm” hay “buôn thúng bán mẹt” vốn là giới ngày đêm chỉ biết “quần manh áo vá” hay “quần manh áo vải”.
Thế nhưng, nhà giầu mà keo kiệt, ăn uống không bằng người nghèo thì dân gian chế là: “Quần dài thì ăn mắm thối – quần đến đầu gối thì xơi mắm thơm”.
Mà thôi, giờ xin trở về với chủ đề: “Kéo quần lên!” Quần đã xệ thì mông lòi ra. Đó là lẽ tự nhiên. Nhưng hình ảnh này đã làm thượng nghị sị Gary Siplin ở Orlando ngứa mắt thật sự nên ông không những đã soạn ra đạo luật “Pull Your Pants Up” mà sau khi đã được Quốc Hội thông qua, ông còn xuất quỹ (chắc là công quỹ hoặc quỹ tranh cử chứ không phải tiền túi của ông) để mua những 200 chiếc dây nịt để giúp các sinh viên chuyên mặc quần xệ lòi mông kéo quần lên. Ông Siplin tâm sự với hãng thông tấn Reuters rằng ông “mong muốn các bạn trẻ tin rằng họ đang cắp sách đến trường đại học với cung cách ăn mặc sao cho văn minh và lịch sự”. Nhân ngày phân phát dây nịt, “cụ thượng” Siplin khoe rằng các giáo chức cũng ủng hộ việc làm của ông, bởi thế có câu: “Kéo quần quá rốn mới hay – Lòi mông, hở ngực… các thày ớn ghê”!
Trong khi đó ở hầu hết nước Tây Phương, chính quyền chủ trương lột bớt y phục của các nữ tín đồ Hồi Giáo, đòi càng hớ hênh nhiều càng tốt, nhưng với ông Siplin thì khác, trai không lòi mông, gái chẳng hở ngực. Nhưng có dư luận đặt câu hỏi: Ông đã cung cấp dây nịt cho nam sinh viên, tại sao ông không cùng lúc ủng hộ “cái khiên đỡ đạn” để che ngực cho nữ sinh và phân phát vải cho các cô may thêm vào những chiếc “váy quá ngắn”? Hóa ra ông vẫn chưa công bằng hay ông chỉ ghét mông con giai còn chỉ giả vờ tấn công “ngực hở và váy ngắn” của con gái chứ ông không chịu đưa ra biện pháp và vật dụng cụ thể nào để triệt tiêu tệ trạng, phải chăng như ông muốn ngầm bảo “ừ, cứ như vậy nhé!”.

Xét ra thì việc ăn mặc ở học đường vốn thuộc phạm vi kỷ luật (discipline) mà thôi hay cùng lắm nằm trong các bài học “công dân giáo dục”, vậy mà “cụ thượng” Gary Siplin lại đưa lên tận hàng đạo luật tiểu bang thì kể cũng hơi… quá đà.

Chẳng thế mà “ông và các đồng viện đã phải thúc đẩy từ hơn 6 năm qua”, dự thảo luật mới được thông qua. Người ta tặng ông tấm phiếu thuận chắc phần lớn để tưởng thưởng đức tính kiên nhẫn của ông.
Sau hết, đạo luật mới này trừng phạt các cô, cậu sinh viên nào vẫn ngoan cố mặc quần xệ bằng cách đuổi học tối đa 3 ngày. Kẻ hèn này lại thắc mắc, “cụ thượng” Siplin mong muốn “các bạn trẻ cắp sách đến trường đại học” một cách đàng hoàng mà sao lại nỡ bắt tội nhân ở nhà những 3 ngày, mất biết bao bài vở cần thiết và quan trọng. Không những thế, mỗi phân khoa đại học lại phải thành lập một ủy ban chuyên môn đi săn lùng “các bạn trẻ nào mặc quần xệ”, bắt ngay về hoặc dùng cellphone chụp ngay tại trận cái mông đang lòi ra để làm tang chứng. Rồi lại phải thêm một ủy ban chuyên môn khác nữa xét định mức lòi mông như thế đã vi phạm đạo luật “Pull Your Pants Up” hay chưa. Theo tinh thần dân chủ, bị cáo có quyền đưa luật sư riêng tới, đấu khẩu với các ủy ban chuyên môn nói trên trước khi có phán quyết chung thẩm. Trời, đang khi đó ngân sách giáo dục bị cắt giảm thảm hại; giáo chức bị sa thải, học trò, sinh viên phải đóng thêm học phí chết bỏ. Không lý lại giao các công tác kiểm soát “mông lòi, ngực hở, quần xệ, váy ngắn” cho cảnh sát? Bộ ông Siplin chắc đã quên công dụng của cái mông rồi sao? Thưa ông, ngoài việc để ngồi, để khoe khoang hay để hấp dẫn, cái mông – tự mông đít – còn để quất roi vào. Cổ nhân Việt Nam đã dậy: “Yêu cho roi cho vọt” – lại còn căn dặn cẩn thận: “Cứ mông mà đét” hay “Cứ đít mà quật” – ắt mọi sự sẽ đâu vào đấy. Bố bảo “bạn trẻ” nào còn ngoan cố mặc quần xệ “để lòi mông ra” nữa. Roi đâu?!
Hoài Mỹ

Read Full Post »

Áo xưa dù nhầu

Đầu thập niên 70, dân Sàigòn xôn xao với bộ phim “Doctor Zhivago”. Tôi đã đọc truyện và xem phim. Hồi đó tôi không hiểu vì sao ông bác sĩ này lại yêu  một lúc đến hai bà, mà yêu thiệt tình chứ không phải chơi. Nói theo ngôn ngữ thời đại, đó là “tình yêu chất lượng cao”. Có cao, thì có cái ít cao hơn.  Ai cao, ai ít cao hơn?  Hai chữ “thủy chung” coi bộ dễ hiểu mà sao rắc rối quá chừng!

 Vũ Thế Thành

Báo Dân Việt cuối năm 2010 kể lại câu chuyện của ông Bàn Văn Bảng, ở Bản Thảo, xã Ma Le, Hà Giang. Sống với nhau 45 năm, vợ chồng ông chưa hề to tiếng dù họ không con cái. Bà mắc bệnh nan y. Những ngày cuối đời, tinh thần bấn loạn, bà nhớ đến mối tình tình đầu, mê sảng gọi tên người tình cũ. Ông Bảng nhắn tin trên báo đài, bắt xe về Nam Định tìm người tình cũ cho vợ. Không kết quả.  Bà mất, ông ray rứt  vì chưa giúp vợ  toại nguyện mong ước sau cùng.

Hồi trẻ, tôi thấy tình yêu đâu có gì khó hiểu, mà sao thiên hạ cứ than thở : “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu?”, hay như Lý Mặc Thu trong “Thần Điêu Đại Hiệp” suốt ngày ngâm nga “…Hỏi người dưới thế tình là vật chi? /Hẹn nhau sinh tử cùng đi…”. Tình yêu là gì? Dễ ẹc! Tình yêu là..chịu lấy nhau, mà chịu lấy nhau chưa chắc đã là tình yêu. Triết lý phết! nhưng đó là thứ triết lý của thằng nhãi, điếc không sợ súng. Theo thời gian, mỗi giai đoạn của cuộc đời, tôi hiểu tình yêu khác đi một chút, rộng lượng hơn một chút. Bước vào tuổi “tri thiên mệnh” thì chẳng còn hiểu nổi tình yêu là cái thứ gì nữa. Thôi, để lại hai chữ đó cho thế nhân bàn luận.

Một trường hợp khác, đôi trẻ yêu nhau hồi còn…trung học, tưởng như trời gầm không nhả.  Vậy mà xa nhau vì chuyện hờn giận lảng nhách nào đó. Sau 75, hai đứa hai nơi, chàng ở Canada, nàng bên Úc… Mỗi khi gặp chuyện gia đình riêng tư muộn phiền, cả hai lại hồi tưởng “ngày xưa tươi đẹp” mà hối tiếc. Ba mươi bốn năm sau, họ gặp lại nhau tại Sài gòn. Thôi thì những gì ấm ức, chuyện lớn chuyện nhỏ, chuyện xưa chuyện mới xả ra hết… Ba mươi bốn ngày mưa ngâu, lô cốt ngập nước.  Họ chia tay nhau, email, chát chít, hàng ngày, hàng ngày,… rồi thưa dần. Cả hai nhận ra rằng, cái “bất hạnh” riêng tư của mỗi người, tuy cay đắng nhưng chưa đến nỗi…phũ phàng. Nếu họ xáp lại, có khi phũ phàng, dù không cay đắng. Họ đã thanh toán xong cái quá khứ đầy hối tiếc.

Nói thiệt, tôi mê nhạc…sến, mà cũng chỉ mới “ngộ” ra đây thôi. Nghe nó…sến, nhưng lại thấy gần, bay xa chịu không nổi. Những dòng nhạc trữ tình với ca từ đầy tính ẩn dụ, giàu hình tượng, triết lý cao, chỉ cần một hai câu cũng tạo ra sự đồng cảm với  tâm trạng “khó nói nên lời” nơi  người nghe. Sướng là ở chỗ đó! Nhưng nhiều khi ca từ điệu nhạc hay quá lại đẩy người ta bay bổng vào thế giới mộng mị, và không chừng lại hoang tưởng với “chữ nghĩa” cũng nên.

Nhiều người lấy nhau do cha mẹ đặt đâu ngồi đó, do mai mối, có khi coi mắt một lần, chịu đèn là tới…luôn. Vậy mà họ đẻ con lia lịa. Có bà, áo chưa nhầu, tóc chưa bạc, chồng đã qua đời. Họ ở vậy nuôi con. Thằng con đang tuổi lớn, quậy phá. Bà vợ thắp nhang, ngồi bệt trước bàn thờ chồng than thở, trách móc, rồi lại khóc, rồi lại thấy không có chồng bên cạnh là sự mất mát hơn bao giờ hết.  Đâu cần phải “gọi mùa thu tới”, hay nhờ tới  “sỏi đá”.  Tình yêu lẩn đi chỗ nào rồi?

Tình và Nghĩa liệu có gì khác nhau? Nói theo “Ngũ Thường” (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín), Mạnh Tử cho rằng, “Nhân là trái tim, Nghĩa là cách sống”. Nghĩa trong Nho giáo, hiểu rộng là cách hành xử trong mối quan hệ giữa người và người, trong đó có nghĩa phu thê. Cái Nghĩa ràng buộc và thấm sâu đến độ nhiều khi người ta hờ hững với những cái gọi là lãng mạn ái tình. Mức ly lị ở Tây cao chắc một phần là do Tình nhiều Nghĩa ít, hay họ đã sống đời thực dụng một cách văn minh?

Bà Bảng đã sống hầu như trọn nghĩa với chồng. Nếu thời gian có lùi lại vài chục năm, chưa chắc bà đã dám đổi Nghĩa lấy Tình. Cái sâu thẳm của niềm tin qua trải nghiệm bền vững hơn nhiều so với khoảng khắc “đột biến”.  Phải có gì ray rứt lắm bà mới đem theo một góc trái tim về bên kia thế giới. Bà mặc hai áo: một áo phẳng phiu, một áo đã nhầu. Tôi không biết  bà mặc áo nào vào trong, áo nào ra ngoài, nhưng dù thế nào, tôi vẫn tôn trọng và thương cảm cho bà.

Nếu xem bằng cấp (tính luôn bằng giả thứ thiệt và bằng thiệt học giả) là thước đo trí tuệ, thì ông Bảng có cái trí quá nhỏ. Nói theo Kant, “bổn phận là mệnh lệnh của lý trí”, thì ông Bảng lại thực hành bổn phận theo mệnh lệnh của trái tim. Một trái tim đơn sơ quá! Một tâm tình hiến dâng mà ông không hề biết (mà cũng chẳng cần biết) mình đã dâng hiến. Trái tim của ông là bản nhạc không cần ca từ.

Thưa ông Bàn Văn Bảng, tôi ngả mũ kính phục ông.

Vũ Thế Thành

Read Full Post »

Không đề

Phan Minh Chính

Có phải không Em,

Chúng ta cũng đã có một thời hoa mộng

Thuở học trò,  tóc thắt bím hai đuôi

Anh vẫn nhớ những ngày Em mười tám

Giờ thơ ngây, lãng mạn đã qua rồi

Dù như thế,

Anh vẫn nhớ những chiều nghiêng dốc nắng

Đôi vòng xe lăn như đôi cánh thiên thần

Chở chúng ta cùng ước mơ ươm sẵn

Tóc thả dài, rối vài sợi bâng khuâng

Phải vậy không Em ?

Ngày xưa đã hết !

Quay quắt cuộc đời tình cảm chao nghiêng

Đời trộn lộn với sắc màu giấy bạc

Tóc ta phai – mắt thấm đẫm ưu phiền

Có phải chăng em ,

Đời là tiếng thở dài không dứt

Con dốc xưa mình đã cố qua rồi

Thế mà vẫn không ngừng mỏi mệt

Nhọc nhằn nào vẫn như mới tinh khôi.

Read Full Post »

đinh tấn khương

1.    CHUYỆN TÌNH TRÊN MẠNG

 

Cũng như vài gia đình khác, gia đình anh được đưa đến định cư tại Thụy Điển sau khi được tàu nước nầy cứu vớt, trong lúc chiếc thuyền con vượt biên đang chết máy và lênh đênh trên biển cả nhiều ngày.

Những ngày mới đến, vợ chồng và 2 đứa con sống rất hạnh phúc, nhờ nhận được những giúp đỡ ban đầu của chính quyền và người dân bản xứ. Dần dà thì cuộc sống cũng tạm đi vào ổn định.

Thời gian trôi nhanh, hai đứa con cũng đã trưởng thành và có gia đình riêng tư. Nhưng công việc sinh nhai thì cũng chỉ tàm tạm chứ không mấy khá giả cho lắm, nên chẳng giúp gì cho anh chị.

Anh có đi làm một thời gian nhưng sức khỏe đã hạn chế công việc, cho nên lúc sau nầy anh đành phải nằm nhà. Có lẽ sự eo hẹp về tài chánh là nguyên nhân thầm kín đã dẫn đến sự đổ vỡ của vợ chồng anh, trong độ tuổi ngũ tuần!?
Tiền bạc không nhiều nhưng lại nằm trong tầm kiểm soát của người vợ. Nhất cử nhất động anh đều phải báo cáo mọi chi phí tài chánh. Cuộc sống của anh bị lệ thuộc hoàn toàn vào người vợ của mình. Anh buồn lắm, cho dù nhiều lần chị đã cố giải thích cho anh hiểu:

–         Cần phải biết tém khéo mới lo được cho đời sống. Vợ giữ tiền là giữ cho gia đình, chồng mà nắm tiền thì có ngày lại cho người ngoài ăn đấy.

Nghe vậy, nhưng anh không hiểu là chị muốn nói cái gì? Cho người ngoài là ai, đôi lúc anh cũng muốn gởi chút quà tết về cho mấy đứa cháu rất nghèo, còn bỏ lại bên VN mà anh không dám hỏi vợ.

Nói phải tội, có nhiều khi anh nghi rằng, vợ mình đã lén gởi tiền giúp cho bà con bên ngoại của các con anh. Nhưng không có bằng chứng gì cho nên anh chỉ biết ôm lấy một nỗi buồn!

Sự đổ vở kiểu nửa vời. Hai người vẫn sống chung trong một căn hộ để bớt tiền thuê nhà, cũng như giảm bớt tiền điện.. những thứ mà họ có thể dùng chung và chia sẻ với nhau. Ngoài mấy thứ ấy ra, thì cả hai, mạnh ai nấy giữ những gì mà mình đang có, chẳng chịu chia sẻ hay là cho người kia được dùng, mặc dù thật sự có cần đến.

Thời gian cũng trở nên thừa thãi với anh. Anh bèn  dành hết thì giờ lướt mạng, để tìm người tán gẫu cho vơi đi thời gian và nỗi buồn. Thế rồi một hôm anh gặp được người “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, một người phụ nữ đang sống cách anh nửa vòng trái đất. Chị nầy đã ly dị chồng cách đó không lâu, sau khi biết được chồng mình ôm tiền về VN làm ăn và “rước cầm mới lên thuyền cũ”.

Hai người nói rõ hoàn cảnh gia đình cho nhau nghe.. có lẽ tìm được sự cảm thông, cho nên tình cảm đã dần lớn thêm nhiều hơn, giữa hai người.

Chị hẹn gặp anh tại quê nhà. Anh thú thật là không đủ tiền mua vé máy bay. Chị mua vé trên mạng và gởi mã số code cho anh. Căn dặn là đến ngày giờ G.. cứ ra phi trường Z, tới quầy check- in của hãng hàng không XY,  nói số code là mọi thủ tục lên máy bay sẽ được tiến hành.

Anh sắp xếp hành lý, nhưng trong túi lại trống trơn khiến anh lo lắng. Anh gọi người chị gái đang định cư tại Úc mượn đỡ vài ngàn dằn túi. Tình trạng tài chánh bị cô lập của đứa em đã được báo cáo từ lâu nên người chị cũng cảm thông đứa em trai của mình.

Chị gởi hai ngàn dollars, chuyển thẳng về người bạn tại Sài Gòn và nhắn anh về đến đó mà lấy.

Mang cái túi hành lý nhỏ, nói với vợ con là anh cần về thăm nhà vì có việc gấp.
Chị và các con cũng đã quen cái cảnh “có anh cũng như không” trong cái căn nhà nầy từ lâu cho nên cũng chẳng có ý kiến đồng tình hay ngăn cản gì cả.
Không nghe ai hỏi:

–         Bên nhà  có chuyện gì gấp, có ai ốm, ai đau hay là có ai hấp hối mà lại phải về gấp như vậy!?
–          Có cần một ít tiền đi đường hay không!?

Thái độ dửng dưng, lạnh nhạt của vợ con đã làm nhẹ đi cảm giác tội lỗi. Vì anh đã nghĩ rằng, chừng tuổi nầy mà lại bỏ bê gia đình để đi tìm một người tình trên thế giới ảo, trên mạng. Cảm giác ấy đã ray rức anh rất nhiều, trước đó không lâu!

Về đến VN, hai người găp nhau. Mối tình trong thế giới thật đã tiến rất nhanh, nhanh hơn cả cái mối tình khi còn ở trong cái thế giới ảo suốt mấy tháng vừa qua. Có lẽ, những nỗi buồn của từng người đã kéo họ lại gần nhau hơn.
Anh theo chị về Mỹ, phụ chị trong một cái thương vụ nhỏ. Nhờ thế cũng tạm đủ sống và anh cảm thấy thật vui vì không bị lệ thuộc cũng như không còn bị “phong tỏa tài chánh” như trước kia nữa.

Nhờ có tiền, hai năm sau anh quyết định quay về thăm lại người thân, nhìn lại xứ nẫu, nơi mà anh được sinh ra và lớn lên với nhiều kỷ niệm gắn bó trong khu nhà nghèo, nhưng rất thân thiện.

Niềm vui nào cũng qua mau. Hết thời hạn thăm quê anh tính quay về Thụy Điển, hoàn tất giấy tờ ly dị và sẽ bay qua Mỹ để sống trọn khoảng đời còn lại với người yêu.

Bất hạnh thay, anh bị tai biến mạch máu não, gục ngã trong phòng tắm. Rất lâu sau đó, mấy đứa con mới phát giác và đưa anh vào bệnh viện. Nhưng đã trễ!?

Anh chỉ còn sống thực vật và bác sĩ cần gia đình cho quyết định để rút ống dưỡng khí.
Mặc dù người chị của anh tại Úc cũng như người tình bên Mỹ, đã xin cho anh được sống thêm một thời gian nhằm hoàn tất thủ tục mang “tro” của anh về Mỹ, với người tình mới.

Nhưng bà vợ cũ và các con đã đưa ra quyết định thật sớm, không chần chờ mặc dù đã có lời yêu cầu khẩn thiết từ người nhà và người tình của anh!

Cuối cùng, thân xác anh đã vĩnh viễn nằm lại cái vùng đất mà anh đã từng chạy trốn.
Chẳng có ai biết, bây giờ linh hồn anh đang ở chốn nào!??

 

2.     SỐNG ĐỂ TRẢ NGHIỆP!?

Gia đình anh chị định cư tại Úc cũng khá lâu. Nhờ vào tính chuyên cần và chịu khổ chịu khó cho nên công việc kinh doanh của anh chị cũng khá thành công. Các cháu thì học hành lại giỏi và tạo được những thành quả tốt đẹp.
Nhờ thế mà hầu hết mọi người biết đến, đều truyền tụng rằng, gia đình của anh chị quả là một gia đình kiểu mẫu trong số những gia đình người Việt tỵ nạn, tại đây.
Anh chị rất vui vì những lời khen ngợi không ngớt ấy.
Chị mừng, vì có được một người chồng năng nổ, hoạt bát và biết lo cho con cái, biết yêu thương vợ mình.
Ngoài công việc ra, anh không bao giờ la cà với bạn bè, không thuốc lá, không rượu bia… Tiền bạc làm ra thì anh cũng không cần để ý đến, kiếm được bao nhiêu là đưa cho vợ cất. Anh thường nói đùa với vợ:

–         Giữ tiền làm chi cho thêm phiền, tiêu mà quên báo cáo thì lại khổ thân tôi!?

Dưới cặp mắt của chị, anh quả thật là một người đàn ông đáng tin và rất có uy tín. Nhiều lần chị đã đề nghị với anh là, cùng về thăm lại quê hương sau nhiều năm xa cách. Anh thường gạt ngang:

–         Em cần thăm nhà thì cứ đi một mình cũng được. Anh có đi thì cũng chẳng ích gì mà lại còn bỏ bê công ăn việc làm nữa. Chỉ sợ em buồn khi thiếu anh vậy thôi, nếu thế thì anh đành xin lỗi, em nhé!

Lần nào cũng vậy, anh luôn từ chối cái cơ hội mà rất nhiều người trong độ tuổi như anh, mãi ước ao có được! Chính vì thế mà chị rất yên tâm!?
Một vài người bạn đã kể cho chị nghe những mẫu chuyện đổ vỡ gia đình trong độ tuổi ngũ tuần, xảy ra nhan nhản lúc gần đây. Nhất là mấy ông cứ nại cớ là về thăm bố mẹ bệnh nặng, làm mộ cho song thân.., nhưng thật tình là đang bị dính bùa bên ấy!

Những lúc gần đây, các con đã ra riêng. Công việc làm ăn cũng khá ổn định. Chị cũng muốn nghỉ ngơi chút ít, bởi sức khỏe của chị không còn được như xưa. Chứng đau lưng kinh niên cứ hành hạ như tra tấn chị hằng đêm, nhất là vào những ngày của mùa đông.
Về Việt Nam để tránh cái lạnh ở Úc, đã giúp giảm nhẹ cái đau của chứng thần kinh tọa. Chứng bịnh mà bác sĩ đã nói với chị rằng, không có cách nào chữa dứt.
Vả lại, cuộc sống tại Việt Nam đã cho chị chút ít niềm vui. Vui với người thân, với bạn bè xưa cũ.. Tất cả, đã khiến chị dành nhiều thì giờ bên đó hơn là tại Úc.

Không có gì để chị phải lo vì chồng chị cũng chẳng than phiền. Chị thầm cám tạ ơn trên đã cho chị một người chồng tốt, với một gia đình rất hạnh phúc.

Nhưng chị đâu có ngờ…

Khoảng thời gian chị về thăm Việt Nam. Một lần anh ghé lại tiệm bán thức ăn nhanh, gặp một cô gái đang đứng xếp hàng trước mình, chờ đến lượt order. Cái hàng dài chờ đợi ấy đã giúp cho họ có dịp để trao đổi, chỉ là những lời hỏi thăm có tính xã giao.
Rồi họ cùng ngồi vào bàn ăn và lắm chuyện được mang ra bàn tán, về đời sống tại Việt Nam bây giờ và những khó khăn gặp phải tại xứ người, coi bộ hai người “tâm đầu ý hợp”lắm.
Qua mấy câu chuyện ấy, anh biết được rằng cô là một du học sinh đến từ Việt Nam, không có thân nhân và đang gặp nhiều khó khăn về tài chánh.

Họ trao cho nhau số điện thoại và hẹn cơ hội được gặp lại.
Thời gian và hoàn cảnh cô đơn đã giúp cho cả hai xích lại gần nhau thật nhanh chóng, như để làm giảm bớt cái lạnh trong lòng cũng như xua tan khí lạnh ngoài trời, trong những ngày của mùa đông xứ Úc.

Không hề nghi ngờ gì về sự thay đổi của chồng mình, cho đến khi chị phát giác ra được, người chồng  mà chị luôn tin tưởng đã mượn một số tiền khá lớn từ ngân hàng, qua việc thế chấp một trong những bất động sản mà anh đang đứng tên làm chủ.

Kể từ đó, chiến tranh đã bùng nổ, ngay trong căn nhà mà trước kia luôn tĩnh lặng. Anh đòi ly dị, chia tài sản nhưng chị và các con chưa dứt khoát.

Cuộc sống gia đình đã trải qua một khúc quanh đầy nỗi khổ niềm đau. Chị và các con đã khóc thật nhiều nhưng anh đã quyết định cho mình một ngã rẽ..

Anh theo về Việt Nam với người yêu mới. Bỏ một số tiền lớn, xây tổ ấm uyên ương cho cả hai và anh đã hứa là sẽ hoàn tất thủ tục ly hôn để cùng nhau vui hưởng hạnh phúc, trong khoảng đời còn lại.

Anh quay về Úc để hoàn tất ý nguyện đó. Vài hôm sau, nhận được điện thoại của người bạn cũ, người mà anh vừa gặp lại trong lần về mới đây. Người bạn tri kỷ đã được anh mời đến dự buổi tiệc khánh thành cái tổ ấm, cũng như ra mắt người vợ trẻ của mình.

Người bạn gọi anh về lại Việt Nam gấp, vì có vài chuyện cần bàn. Gặn hỏi mãi thì được cho biết, người vợ mới của anh vừa đưa một người đàn ông khác về sống ngay trong cái căn nhà của anh, mới bỏ tiền ra xây.

Bán tín bán nghi, anh mua vé ngay và hôm sau bay thẳng về Sài Gòn. Anh tính tìm gặp thằng bạn nhưng quá nóng lòng, nên thôi. Đi thẳng về tổ ấm, mở cửa vào nhà (vì anh cũng giữ chìa khóa riêng, có lẽ cô người tình đã không nghĩ là anh sẽ trở lại sớm, nên lơ đãng?).

Nghe tiếng cười khúc khích trong phòng ngủ, anh đẩy mạnh cánh cửa khép hờ và nhìn thấy một cảnh tượng, khiến máu trong người anh như sôi sục.
Anh hét toáng lên, đập phá mấy thứ đang ở trong tầm tay mình. Như chưa hả giận, anh vớ lấy cái bình bông gần đó tiến nhanh lại người thanh niên xa lạ, đang cố mặc lại quần áo.

Xung đột bắt đầu, hai người trao nhau những cú đấm. Nhưng chắc chắn là, sức anh không hơn được cái sức đang trong độ tuổi thanh niên kia. Anh bị dồn ra khỏi cánh cửa, lối ra hành lang. Rồi bất ngờ, anh hứng trọn cái xô đẩy rất mạnh của người thanh niên, khiến anh rơi từ tầng một xuống đất.

Nhằm lúc đó, người bạn của anh đang đi ngang qua (như để theo dõi, giống mọi lần) phát hiện sự việc. Người bạn kêu xe chở anh vào bệnh viện để chẩn đoán và điều trị những tổn thương. Anh được cho biết là chỉ gãy một cánh tay mặt và cần băng bột. Vài vết trầy khác không có gì đáng quan tâm, anh được cho xuất viện cùng ngày.
Hôm sau, theo lời khuyên của người bạn anh đã trở về lại Úc. Anh tính sẽ nhờ luật sư mang sự vụ ra tòa xét xử.

Vài ngày sau, bổng dưng cơn nhức đầu bộc phát đột ngột xảy đến với anh. Vợ anh không có nhà, anh gọi điện thoại nhờ con đưa anh đến gặp bác sĩ vì tay đang bó bột, cho nên anh không tự lái xe được như mọi khi.
Mấy đứa con cho biết là đang bận, hẹn chiều sẽ về. Nhắc ba nó lấy đỡ hai viên panadol mà uống cho vơi bớt cơn đau. Anh đoán có lẽ chúng nó giận mà không thèm về sớm, chứ chẳng phải bận rộn chuyện chi!?

Anh đi dần vào hôn mê.

Chiều đến, đứa con gái trở về thấy bố mình nằm yên, sóng sượt trên nền nhà. Vội vàng gọi xe cứu thương và được chở thẳng vào một bệnh viện gần nhất. Được chẩn đoán, anh bị chấn thương sọ não, máu tụ nhiều và đã để quá trễ cho nên phần não chết không thể phục hồi.

Anh đã được cứu sống, nhưng chỉ là “sống thực vật” mà thôi!.
Bác sĩ xin ý của vợ anh (vì vẫn còn là vợ chính thức) cùng các con, để quyết định rút ống thở, cho anh được ra đi trong bình yên.
Nhưng bà vợ đã quyết định, hãy cho anh phải sống:

–         Sống để trả nghiệp và làm gương cho người đời!?

Mấy đứa con cũng không dám đưa ra quyết định nào khác. Có lẽ chúng nghĩ, mẹ mình có lý!?

Ngày cuối đông 2011

đinh tấn khương

Read Full Post »

Thu đã về em ơi

Khê Kinh Kha

mùa thu nữa lại về rồi em ạ
cỏ cây buồn khoác aó lạnh vàng khô
trời xuống thấp nên hồn co ro lắm
lối anh về gío lạc bước tội ghê

em có thấy lá thu rơi đầy lối
không có em ai nhặt lá chiều nay
mây cũng đầy trong lòng anh hiu quạnh
tháng năm dài tình lạnh qúa em ơi

này em hỡi thu này anh đơn lẻ
hồn anh khô vì qúa nhớ thương em
tình anh lạnh vì mình còn xa cách
nhặt lá vàng  mà ngỡ môi em mềm

mùa thu nữa lại về rồi em ạ
ôi tương tư tựa cửa ngóng tình em
ôi hương em sao  đầy trong lá úa
thu đã về anh gọi khẻ tên em

thu đã về em ơi lá vẫn rụng
như lòng anh đang rụng bao nhớ nhung
biết bao giờ mình có nhau em hỡi
biết bao giờ em trong vòng tay ôm

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »