Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Yến Lan’

Lâm Bích Thủy

YenLan

 

Đối với nghiệp cầm bút của ba tôi, chỉ là vô tình, sao đời thơ ông lại tựa như ý tình trong “Bến My Lăng”. Ông  cặm cụi chèo trên bến sông thơ, thuyền ông đã chở nặng những dòng thơ cuộc đời, nhưng khách thơ tìm đến chỉ ngắm nghía qua loa rồi bỏ đi, bỡi đó chỉ là những bài nghiên cứu nhỏ mang tính chất cảm xúc là chính. (more…)

Advertisements

Read Full Post »

 

Lâm Bích Thủy

hinh ong

Trich hồi ký “ Về người cha thi sĩ”

Nhắc đến những người bạn thân thiết của ba tôi, nếu không nhắc tới cô Châu Thị Hạnh là thiếu sót lớn. Bởi lẽ người bạn gái này đã để lại trong lòng ba tôi những dấu ấn khó quên. Hơn nữa, cô là người tài trợ cho chuyến đi ra Huế, để rồi từ Huế ông viết vở kịch thơ đầu tiên của nền văn học Việt Nam – “Bóng giai nhân”. (more…)

Read Full Post »

Lâm Bích Thủy

YenLan

Ba tôi nghèo không được ông ngoại chấp nhận. Cuộc tình của ba mẹ rất trắc trở. Những cuối cùng hai người vẫn đến được và sống cùng nhau trên 60 năm để chia sẻ và khỏa lấp những khoảng trống cho nhau trên cõi đời. Vào những năm cuối đời, tay ba run không cầm được bút, nhưng ý ba qua tay mẹ, mà gần 500 bài thơ tứ tuyệt của ba đã đến được với bạn đọc. Những bài thơ tứ tuyệt này để lại cho đời những áng văn trác việt (more…)

Read Full Post »

Trong Hồi ký “Yến Lan- Nhớ mãi về anh” (NXB Văn học 2011), bà Nguyễn Thị Lan, phu nhân của nhà thơ Yến Lan đã kể rằng: “3 năm học từ lớp 5 đến lớp 3, kỳ nghỉ hè nào, tôi cũng đến anh để học thêm. Anh dạy rất nhiệt tình, giảng bài giọng rất hay, lại thấy anh ít rong chơi như các anh khác, nên tôi cũng có để ý. Thỉnh thoảng, xem báo, lại gặp tên anh, tôi và người bạn gái cùng tuổi tên Bạch Yến đều tấm tắc: anh nhà nghèo mà sao giỏi thế! Anh thường đứng bên bờ thành, thỉnh thoảng lại khẽ gọi và hỏi tôi những câu chuyện vu vơ. Đầu năm 1940, anh ghé lại chơi và nói là anh sẽ ra dạy ở Thanh Hóa. Tết, anh về quê, tôi ghé thăm rồi nhận lời yêu anh. Anh nói: “Anh coi em như mối tình đầu”… Nhưng cha mẹ tôi lại không đồng ý, có phần bởi cũng muốn con cái mình có chồng giàu có, sung sướng. Tôi rất buồn và lại bỏ nhà đi, vô một ngôi chùa ở Phan Thiết tu. Được ít lâu thì cha tôi sai anh tôi dẫn tôi về và đồng ý cho chúng tôi lo việc cưới xin. Đám cưới của chúng tôi tổ chức vào ngày 20.4.1944”.

  (more…)

Read Full Post »

Lâm Bích Thủy sưu tầm và giới thiệu

Vừa rồi, về thăm mẹ già đã 94 tuổi – vợ của cố thi sĩ Yến Lan, tôi nghe cô em nói là vô tình bật Ti vi kênh VTV1 thì nghe được cuộc nói chuyện về nhà thơ Nguyễn Bính nhân ngày sinh hay ngày mất gì đó. Hôm ấy ông nhà văn ca ngợi công lao của nhà thơ Nguyễn Bính đối với nền Văn học Việt Nam. Chính vì vô tình nên nghe được ông nhà văn có nhắc đến vở kịch thơ Bóng giai nhân- Phần tác giả chỉ nhắc đến Nguyễn Bính. (more…)

Read Full Post »

Lâm Bích Thủy

Âu yếm. Tranh sơn mài.Phạm Lực

Từ trước tới nay, nói về “thơ tình” hay “mùa xuân” thì người ta chỉ nhắc tới Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Xuân Quỳnh … chứ mấy ai biết đến tình và xuân trong thơ linh Lân tức Yến Lan của Bàn Thành tứ hữu của miền đất vang lừng thế võ.

Ai đâu biết, có bao nhiêu suối tình và xuân trong thơ của nhà thơ Yến Lan. Những con suối tình đã âm thầm chảy không ngừng nghĩ, bền bỉ, dạt dào cho tình yêu quê hương và mùa xuân của nhân loại trong thơ Yến Lan. Đầu năm đến với thơ tình và xuân của Yến Lan để rung động trước vẻ đẹp của non sông đất nước và tình người cũng là để nhà thơ dắt ta đi qua cuộc hành trình nhân thế với những nét tế vi của cuộc sống.
Đề tài về tình yêu văn học nhân loại “nhiều như sao trên trời, như cát dưới biển” Đặc biệt là thơ mới 1930-1945 luôn choáng ngợp trong mọi cung bậc của tình yêu. Người ta cho rằng “Thơ Yến Lan không nằm ngoài qui luật đó. Nhưng thơ tình Yến Lan với cái riêng trong phong cách đã cho ra đời nhiều bài thơ tuyệt tác.” Đóng góp của ông trong mảng đề tài này là cái chất riêng khó gặp ở phong cách thơ khác cùng thời. Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” từng đánh giá thơ Yến Lan “có cái không khí là lạ nhưng nhẹ nhàng dễ khiến người ta thích.”
Sắc xuân và tình yêu của linh Lân như những con suối âm thầm chảy cả một đời thơ:
Mây mãi sa đà đình núi cao
Chim say tổ ấm chẳng rời nhau
Nếu không ngọn suối ra sông lớn
Một chút tình quê biết gửi đâu”
Ơn suối

.

Thật vậy, nếu tình yêu trong thơ Xuân Diệu được nhận định “Vừa có cái cao khiết của tâm hồn vừa có cái cường tráng lành mạnh của nhục thể” thì tình yêu trong thơ Yến Lan rất chân thật trong cảm xúc bởi được bao phủ lớp sương khói bàng bạc, huyền diệu, thơ mộng. Cảnh vật, con người được ông tả hết sức bình thường nhưng được nhà thơ phủ lên không gian thơ một lớp sương khói của thời gian.
Ai về xóm Cửi năm năm trườc
Đều thấy em ngồi dệt đoạn tơ
Quanh em vàng tựa trời gieo xuống
Vàng ở trong màu xuân lắm thơ
Vàng
Hình ảnh đẹp của cô thôn nữ đang ngồi quay tơ, dệt vải bình thường nhưng hình ảnh bình thường ấy của cuộc sống được nhà thơ vẻ đậm nét huyền diệu. Người đọc được chìm trong không gian vàng huyền hoặc, nhẹ nhàng và thơ mộng
Không biết tự bao giờ, nỗi buồn đã đi vào thơ ca, trải dằng dặc theo cuộc sống nhân loại. Với Nguyễn Du đó là nỗi đau của đời: Trong “Kiều”
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
Còn nữ sĩ Xuân Hương là nỗi buồn, ngán ngẫm cho duyên phận không trọn vẹn như mong ước (Tự tình)
Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại
Mảnh tình san sẽ tí con con
Xuân Diệu thì ngẫn ngơ buồn vì cô đơn bơ vơ, ngay trên mảnh đất quê hương
Hôm nay trời nhẹ lên cao
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn
Hàn Mặc Tử thì tái tê:
Thân tàn ma dại đi rồi
Rầu rầu nước mắt bời bời ruột gan
(Muôn năm sầu thảm)

.
Với tính cách hiền hòa, kín đáo và tế nhị, thơ tình Yến Lan không thể hiện sự đòi hỏi của ham muống mãnh liệt. Cả với nỗi buồn phải chờ đợi mỏi mòn Yến Lan cũng trải nó ra man mát:
Lầm lũi em đi chẳng nói năng
Vắng em anh cũng thắt buồng gan
Gần nhau hay phải xa nhau mãi
Mặt biển tình ta dải thẳng băng
Cam chịu

.
Tình yêu trong thơ ông dù dang dở, song không phải “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở/Đời mất vui khi đã vẹn câu thề” (Hồ Dzếch), bởi cái triết lý rất nhẹ nhàng mà thâm thúy của ông về qui luật cuộc đời:
Cái triết lý về thời điểm hạnh phúc cứ theo mãi kiếp người, dằn vặt, trăn trở. Cảm nhận về tình yêu thì nhẹ nhàng, trong sáng nhưng lại khắc khoải khôn nguôi
Em đi, ngày tháng biệt mùi tăm
Kén đã luân sinh mấy kiếp tằm
Một mảnh hồn ta còn đọng mãi
Trên vành nong úa sắc thời gian
(Mùa xuân này lạnh lắm em ơi).

.

Viết về tình yêu, Yến Lan thường mượn hình ảnh ẩn dụ “Thuyền và bến”. Đó là hình ảnh trở đi trở lại như một bài ca dao, nhưng thơ Yến Lan vẫn rất mới, mới ở thể thơ, ở cảm hứng thơ. Không hoảng loạn như Hàn Mặc Tử, không đắm say, cuồng nhiệt như Xuân Diệu, không kỳ bí như Chế Lan Viên; Yến Lan cứ nhẹ nhàng, từ tốn, giản dị như cuộc sống. Nhưng cuộc sống vẫn luôn vận động, biến chuyển với cái triết lý riêng của nó. Đó là nỗi buồn về những cuộc tình dang dở, là nỗi khát khao được yêu âm thầm mà mãnh liệt, là niềm tự hào được sống, được là tinh hoa và được liên đới với bao kiếp người:
Ta đang sống vì có người đã chết
Hồn kết tinh bằng bao nhớ thương xưa
Đời lớn nhanh và mạnh như bẹ dừa
Tôi là cả tinh hoa muôn thế kỷ
Sống phút sống của hàng ngàn thi sĩ
Mơ giờ mơ của bao cửa không gian
Mơ hồn xuân như đã mở thiên đàng
Tôi sống khỏe và hoa hồn độ nở
Những giọt bông hường

.
Tình yêu đôi lứa trong thơ Yến Lan không dữ dội, cuồng nhiệt mà đằm thắm, thiết tha lắm!

.
Vì với tình tôi phải nhẹ nhàng
Phải là ý ngọc, phải tim vàng
Phải là trọn vẹn, là trong sáng
Là một bài thơ khắc chữ nàng
(Đồng nội hồn tôi)
Còn thứ tình nào mảnh liệt hơn thế khi dòng trường giang không còn cuộn sóng và lòng người trở thành một bến đò của dĩ vãng, của ngàn năm đợi:

.
Em đi bờ bãi cũng theo đi
Sóng lặng trường giang trải phẳng lì
Từ ấy lòng anh làm cố độ
Câu thơ chờ đợi hóa chòm si
(Cố độ)

.
Quê hương trong mỗi người là sự mặc định của số phận. Người ta có thể có nhiều vợ, nhiều chồng nhưng quê thỉ mỗi người chỉ một mà thôi. Chính vì triết lý rất đời ấy, tình quê của Yến Lan không bao giờ đổi thay, không bao giờ chối bỏ.
Sống đời nô lệ, bị áp bức thơ ông thể hiện trạng thái “đau, ngơ ngẩn, sầu muộn, quặn mình, nức nở” đến tái tê trong “Bình Định vào năm 1935”.

.
Nhánh tòng bá có đau vì xứ sở
Chớ quặn mình thêm nức nở hồn tôi
Không được sống xin cho cùng được thở
Vạn lý tình trong gió ngọt xa xôi

.

Bao đời nay, thi sĩ yêu trăng trong thế bị động, vầng trăng là đối tượng để yêu để được say đắm thở than. Không hiểu sao, chỉ riêng Bình Định quê tôi, vầng trăng lại phát ra thứ ánh sáng đến diệu kỳ, lạ lẫm, để các thi sĩ sinh ra trên dải đất này đều bị ám ảnh. Thứ ánh sáng kỳ ảo đó, với Hàn, trăng ở xa đến vậy mà ông đã sở hữu được  để rồi: “Ai mua trăng tôi bán trăng cho” Ông say ánh trăng như ma cà rồng say máu:
Gió rít tầng cao trăng ngã ngữa
Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô
Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra
Say trăng

.
Ánh trăng trong thơ Xuân Diệu, thường gợi một không gian rộng đến choáng ngợp như một sự đối lập với nỗi cô đơn, nhỏ bé của con người:
Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá
Ánh sáng tuôn đầy các lối đi
………
Trăng sáng , trăng xa, trăng rộng quá
Hai người, nhưng chẳng bớt bơ vơ
Với Yến Lan trăng là chủ động, trăng ấp ủ, nó như chất vi lượng bồi bổ cho cơ thể:

.
Trăng đi từ tóc đi vào máu
Như sữa tuôn dòng chảy khắp thân
Tôi yêu trăng quá, mê trăng quá
Như má yêu môi, đến đến gần
(trích)    Bệnh trăng
Bởi vì chỉ có mình ông được ánh trăng vây phủ, bao bọc nâng niu vỗ về khi ông vừa lọt lòng mẹ trên bãi cát vàng dưới ánh trăng “Tôi lọt lòng ra giữa bãi trăng.. Từ đó ánh trăng là tình yêu là cội nguồn  Cho nên có hệ lụy là:

.
Từ thuở lên hai đã yêu trăng
Đã bồng đã ấp, đã nâng niu
Ban ngày tôi ngủ trong lòng mẹ
Lại ngủ trong trăng lúc tắt chiều.
(trích)    Bệnh trăng

.
Yến Lan đã nhẹ nhàng, đỉnh đạt bước vào làng thơ cùng “Bến My Lăng” với hình ảnh ông lái đò u buồn đợi khách trên bến sông đầy trăng huyền ảo, ánh trăng chạy dọc theo thời gian và chiếu sáng lung linh như một nhân chứng lạnh lùng chờ đợi khắc khoải suốt bao năm, mãi đây vẫn còn ám ảnh lòng khách thơ.
Khi dòng thơ mới chiếm lĩnh trên văn đàn, các thi sĩ thi nhau làm thơ tình yêu. Thơ tình Xuân Diệu thật giản đơn và hời hợt “Đố ai định nghĩa được chữ yêu” Không ai trả lời nên ông giải bày tiếp “Có khó gì đâu một buổi chiều/Gặp người con gái ngây thơ ấy/Rồi thương, rồi nhớ thế là yêu” Có lẽ tình yêu quá đơn giản như thế nên cuối cùng cuộc tình của ông không trọn bề.
Tình yêu đôi lứa mấy ai đong, đo, đếm, diễn tả được, cho dù muôn vạn chiếc máy tính siêu hiện đại. Thời gian, mọi thứ trở nên bất lực nhưng tình yêu trong thơ Yến Lan thì không, nó trở thành vĩnh cữu……..

.
Dồn lên thành thạch nhũ
Lớp phấn -đá – tình – em
Cuồn cuộn như bão tố
Cơn gió lộng hồn anh
Thời gian vút mủi tên
Em kể gì năm tháng
Tảng thạch nhũ tan ra
Bên gối người sấp mặt
Cơn bảo cũng chan hòa
Con suối tình dào dạt
Tình yêu của nhà thơ thật giản dị, hạnh phúc khi cuộc sống thanh bình ở một vùng quê, lúc ông cháu dạo chợ ngày Tết cổ truyền khiến ông trở nên tươi trẻ hơn

Ta đến hàng đồ chơi
Ngựa gỗ chen gà đất
Xem nghệ nhân vẽ vời
Có đậm màu dân tộc
Ta đến hàng sứ, sành
Chọn bình hoa chậu kiểng
Vui còn chú môn sinh
Đem biếu chùm lan biển

.
Sắc màu mùa xuân, hương vị Tết tràn ngập trong thơ ông mặc dù xuân nhà ông đến muộn hơn:
Vụng sắm cành đào không kịp tết
Ra giêng chợt hé một vài bông
Xuân người lả tả bay đi hết
Ngoảnh lại xuân ta mới chớm hồng .
Xuân muộn

.

Ngoài sắc xuân, tình đời, tình người nhà thơ không ước mơ gì lớn, ông chỉ chọn cho mình cái quí hơn – đó là tình người :
Mơ một mùa xuân đẹp
Tình đời rộng bao la
Chớ vin nhà chật hẹp
Cổng khép người lại qua

.
Thơ tình của Yến Lan thể hiện sự mạnh mẽ, nhưng tha thiết và nồng nàn. Thế mà đến giờ tôi chưa nghe ai nhắc một câu thơ tình nào của ông. Tiếc thật!…

Read Full Post »

Lâm Bích Thủy

Ngày tôi còn học ở Hải Phòng, lúc nào xuống  thăm, người cha thi sĩ này cũng đem cho tôi vài tập thơ mỏng, bìa có họa tiếc đơn giản trang nhã, như   “Nắng Ba Đình”, hay thơ viết cho thiếu nhi của chú Phạm Hổ và tập “Hướng Điền căm thù” của ông (tập thơ này không còn tồn tại). Tôi thích lắm. Quanh tôi, tràn ngập thơ là thơ.

Nhưng thập niên 80-90 của thế kỷ 20, tôi vào Sài Gòn; có mấy ai xem trang thơ trên báo. Họ chỉ chú ý   mục kinh tế và cách làm ra cái ăn, cái mặc. Khi có cái ăn rồi thì trước hết lo đủ lượng chứ không cần đủ chất; chẳng ai phí thời gian vàng ngọc để đọc mấy vần thơ của các thi sĩ nghèo. Họ bảo “nhà thơ nghèo là phải, suốt ngày chỉ thơ với thẩn làm sao ra tiền”. Và thế là tôi suy ra thời vàng son của thơ đã lùi vào dĩ vãng “nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông nhất nông nhì sĩ

Nhưng dù ở đâu, thời nào cũng vậy. Ba tôi lại vẫn trung thành với thơ. Trong không gian hẹp, tại một thị trấn hẻo lánh, ông yêu cuộc sống thể hiện qua thơ đến dường nào. Ông không chấp nhận sự an nhàn, Khổng Tử đã dạy “Nhàn cư vi bất thiện” Vì thế, dù dưới góc độ nào, cái đích cuối cùng ba tôi hướng tới là giá trị chân, thiện, mỹ của lẽ sống ông ghi lại vào thơ. Ông biết rằng “Chiến tranh con người sẽ mất đi, còn thơ sẽ sống mãi với đời”.

Chúng tôi cằn nhằn “Thời đại này mà ba còn làm thơ, ai xem! Nghĩ cho khỏe óc đi ba.”. Nghe vậy,  Huy Nhuận phản đối tôi “Cái bà Thủy này suốt ngày chỉ nói đến tiền, tiền. Chị biết gì về thơ mà nói.” Đúng! tôi đang lo cho cuộc sống của cái tổ ấm cỏn con của tôi tồn tại được ở thời cơ chế thị trường đã.

Vì vậy, nhiều nhà thơ, về hưu, tuổi cao sức kiệt, ít ai còn có cảm xúc để sáng tác. Còn ba tôi làm thơ cả khi trên giường bệnh.. Chẳng thế mà, có người nhận xét “Càng về già thơ Yến Lan càng hay:

Những bài thơ cuối đời của ông là những bài thơ hay, tìm nhiều phương diện của nghệ thuật thơ ca, chứa nhiều hình ảnh đẹp, giàu tưởng tượng. Chỉ có sự tinh tế của tâm hồn thì nhà thơ mới làm cho hiện thực ngoài đời trở nên sống động được như vậy

Tại sao có điều ngược như vậy nhỉ? Theo ba tôi, ông được sống trên mảnh đất ông tự chọn, ông không phải dè chừng, cẩn thận với người ở cạnh mình như trước. Ở đây, có những ngọn gió mang hương đồng cỏ nội từ cánh đồng lúa, ngô khoai thổi vào đời ông thật mát mẻ và trong lành. Hè về cỏ cây, hoa lá, con sông, con cá, con chim v.v..  tất cả miên man trong tầng sâu của bất tận, với tư cách là nhà thơ, trong cái nhìn sâu xa đã tìm ra những thông điệp mấu chốt để lại cho đời. Dù đời sống quê ông còn nhiều nỗi nặng lo, song, ông đã tìm được niềm vui trong cái giản dị của miền sơn cước, của những chứng tích ẩn chứa bao điều mà con người chưa giải mã được, để ông sống và sáng tác hay hơn .

Chiều qua Tháp Cánh Tiên

Nghi ngút mô hình ngọn khói lên

Mờ trong gờn gợn nếp sương in

Khá thương mảnh đất trần gian mỏi

Còn nán trên đời phẩm thiết tiên

12/1989

 

Trước đây, mẹ tôi đã làm cái việc “Kiến tha lâu đầy tổ” sưu tầm, giữ gìn kỷ vật của ba để lại. Giờ tôi học tập bà việc này. Tôi có may mắn hơn, bạn bè gần xa, hễ có tin gì liên quan đến người cha thi sĩ của tôi thì lập tức họ bỏ thư, gửi tặng. Nhà tôi đủ tư liệu có thể giúp cho sinh viên nào cần để làm luận văn về ông. Vì từ trước đến nay, ở các Thư viện của hai thành phố lớn, tư liệu về Yến Lan hầu như hiếm hoi vào bật nhất so với các nhà thơ cùng thời.

Trên thực tế, ba tôi được nhiều bạn đọc yêu mến, ngưỡng mộ. Nếu bất chợt gặp mà biết tôi là con gái Yến Lan, thì người hâm mộ bỗng như gặp hân hạnh. Thế rồi họ giải bày tâm sự bằng đọc ra những vần thơ của ba tôi mà họ tâm đắc nhất. Qua đó, tôi mới biết rằng ba tôi không mất đi trong lòng mọi người. Những lúc như thế tôi cảm thấy tự hào về cha mình. Bài thơ “Bến My Lăng” được nhiều người nhắc đến nhiều nhất. Tôi cảm nhận được tình cảm của họ qua cách hỏi ngọt ngào, tha thiết “Cô là con gái “ông lái buồn để gió lẻn mơn râu đấy ư ?”, hay có người hóm hĩnh lái ý nghĩa của câu “hàng rong gặp hàng rong/liếc nhìn nhau qua mẹt bánh”, tôi đã đọc được  cảm giác của anh bạn trẻ khi xướng bốn câu của bài  “Cầm chân em-cầm chân hoa”, “Khi chị đi lấy chồng” và “nàng Vân giả dại” v.v..

Nhờ vào những dịp tiếp xúc đó, tôi ý thức hơn đối với việc sáng tác và giá trị đích thực thơ của cha tôi.

Tôi tìm hiểu đời ba tôi qua thơ ông. Đúng là ông đã truyền cho tôi mầm mống của tình yêu: yêu đất nước, con người, cuộc sống, và niềm tự hào được sinh ra trên đất nước Việt Nam này. Ông cho tôi thấy đời là sợi dây ràng buộc giữa người và thiên nhiên. Con người không bơ vơ, trơ trọi khi nhìn ra ý nghĩa của mình giữa cuộc đời để chia bùi, sẽ ngọt.   

Ngọt và đắng

Ô môi vàng ruộm, khổ qua-xanh

Em hái nhờ trao, gọi đáp tình

Không dặn nhưng ta đà rõ ý

Ngọt bùi cho bạn, đắng cho anh.

Ông còn dạy tôi cách nhận ra nợ đời. Biết nợ để trả, để tự thanh lọc mình sống tốt hơn, ý nghĩa hơn.                             “Nợ”

Nhà không vườn, không gác, không sân

Tôi nợ đời rau trái tôi ăn

Nợ hàng xóm trưa hè bóng mát

Nợ em cài bên cửa một vầng trăng

Nhận xét của tôi trước đây “Người Sài Gòn không mặn mà với thơ”, giờ  đã thay đổi. Một ngày nọ, tôi phát hiện người Sài Gòn trở nên yêu thơ đến là lạ. Nhiều câu lạc bộ thơ ca ở các phường ra đời; các thi hữu gọi nhau bằng những từ rất kêu  “Nhà thơ” này , nhà thơ nọ v.v.  Thơ bỗng dưng đơm hoa kết trái. Các thi hữu làm thơ, tự bỏ tiền in, tặng bạn. Thơ lại trở về nguyên vẹn với chức năng của nó “Nhất sĩ nhì nông” Thơ là nơi sẻ chia vui, buồn là mạch nguồn cho những bài ca, là tiếng nói chung của con người…

Có dịp nhắc tới vở kịch thơ “Bóng giai nhân”. Đây cũng là một vấn đề nan giải. Vở kịch thơ này từ khi mới lọt lòng đã mang tên hai tác giả là Nguyễn Bính và Yến Lan. Nhưng thật ra người chắp bút chỉ là ba tôi. Nếu như không có sự hiểu lầm rằng tác giả chính là Nguyễn Bính thì không có vấn đề gì xảy ra.

    Trong hơn 60 năm theo nghiệp thi ca, ba tôi bị mất  rất nhiều những đứa con tinh thần. Một trong những cái mất đó là sự nhập nhằn tên tác giả của “Bóng giai nhân”. Tôi xin bày tỏ mối quan tâm về tác quyền của nó. Có thể nói, tôi cố gắng để để bản chất sự thật được giải tỏa, đem lại công bằng cho cha mình.  Trước đây, ba tôi không có ý tranh chấp, ông luôn tôn trọng những gì lịch sử ghi lại. Nhưng không thể được. Nhà thơ Hoàng Cầm đã cảnh báo cho ba tôi “Ngay bây giờ, anh Yến Lan nên tìm cách cho đôc giả biết anh là tác giả vở kịch thơ, kẻo về sau rầy rà, khó xử. Giờ đây còn chúng ta mà đã có sự nhập nhằng, sau này lớp người của chúng ta không còn thì càng khó xử hơn !

Thấy ba tôi cứ lần khân, nhà thơ Hoàng Cầm đã viết   “Ai là tác giả chính của vở kịch thơ Bóng giai nhân” để bạn đọc hiểu cặn kẻ vấn đề một cách đúng đắn. Với bài viết này cũng chẳng phân giải được vấn đề. Nơi để trút bầu tâm sự của ba tôi là chú Đinh Tấn Dung-nhà nghiên cứu văn học hiện tại.

(Chúng tôi xin chuyển đến quý bạn bức thư riêng của Nhà Thơ Yến Lan viết ngày 13/3/1988 gửi cho Anh Đinh Tấn Dung; sau bài viết của Nhà Thơ Hoàng Cầm (bản thảo viết tay chưa được công bố); để mong rằng giới hữu trách quan tâm, có “Ý kiến kết luận sau cùng” về sự “nhầm lẫn” khó nói ra này. Sự thiên vị, mờ ám, và không công bằng – trước sau gì cũng phải nhường chỗ cho “Sự Thật”. MVL)

 

  Bình Định, ngày 13- 3 -1988

Kính gửi : Anh Đinh Tấn Dung (Khổng Đức)

Bức thư bảo đảm của anh đến hôm 1/3/1988. Tôi đọc dẫn đến cuối ngày 2/3. Bài viết về “Thơ Yến Lan” của anh tự nhiên đặt nhiệm vụ tôi phải đọc kỹ và nghiêm túc cho xứng với tâm sức và thịnh tình anh đối với tôi. Có những lúc cần giở tập thơ ra đối chiếu, tình cờ thấy ở dưới nhiều bài có ghi “Nhân kỷ niệm sinh nhật”. Thì nhớ ra hôm ấy là ngày sinh nhật của tôi. Nói và viết thế, chứ từ trước đến nay tôi chưa thiết bày một ngày lễ nào sinh nhật của tôi cả. Cả hôm tôi đúng 70 tuổi, Hội cũng có dự định, nhưng cũng không làm được. Sau đó gửi quà. Nhớ ra là đang ngày sinh nhật – thực ra thì 2 – 3 là ngày của âm lịch năm Đinh Tỵ. Nhưng hồi ấy ông thân sinh tôi khai ở trường lúc xin tôi “nhập môn”, nhà trường ghi vào hồ sơ tính theo dương lịch, nên vẫn giữ như thế. Tra cứu kỹ, chắc ngày ấy nhằm đâu chừng khoảng 20.4 hay 22 gì dương lịch ấy. Thôi, chẳng có gì quan trọng. Tôi nói thế là để nói lên một sự trùng hợp lý thú: Gặp ngày sinh nhật, được đọc chương bình phẩm của cả một quá trình trở lui về trước cuộc đời làm thơ, do một người bạn đã hầu như quên lãng trong số bao nhiêu tri ngộ.

Dường như gặp nhau hôm ấy, tôi đã nói đến cái chuyện này với anh. Mà nào chúng ta có học thói vô tình!

 Gặp lại anh rồi, từ lúc ấy tôi cứ nhớ mãi, những kỷ niệm cũ được nâng tầm theo kỷ niệm mới, rõ nét dần lên . Thế rồi giữa cái ngày 2/3 này, tôi làm một số tuyệt cú. Xin chép anh đọc cho vui; mặc dù còn cần nhiều sửa chữa :

Bài chị

Tháng giêng âm lịch, tháng tư dương

Xáo trộn tâm tư biếng dõi chừng

Hỏi vợ mới hay sinh nhật đến

Lệ từ năm trước lại rưng rưng.

Bài em

Âm lịch còn giêng – dương, tháng ba

Bộn bề sách vở chửa phân ra

Lật nhằm thơ cũ mừng sinh nhật

Văng vẳng dường ai nhắc ở xa.

 

 Bây giờ xin tiếp tục câu chuyện vừa đứt quãng ở trên.  Xem xong “Đọc thơ Yến Lan” của anh, cảm xúc đầu tiên của tôi là : đó là một bài tiểu luận công phu vươn đến chỗ thấu đáo những gì còn tiềm tàng trong thơ của YL mà bao lâu nay những ai nói đến đều chưa đạt. Như đoạn nhắc đến Bến My Lăng, nhưng cái chính là dựa vào “tất định thuyết”.

 Ở đoạn: thơ tồn tại hay không… ngược lên trên, theo tôi nghĩ là cũng không cần thiết, vì muốn cho một tiểu luận nhằm hoàn toàn đề cập đến cái chân nghệ thuật của một hồn thơ – ở đây khiến người ta nghĩ đến một đời thơ – thì việc phát hiện và phân tích thơ cần gì đá động đến cái việc “tổ chức” thuộc về công tác quản lý của các giới chạy vòng ngoài của nghệ thuật. Chính trong công việc điều hành của nó nhiều khi lại làm vật cản cho tài năng – Cả đoạn kết thúc cũng thế. Khách quan đọc thấy nặng nề.

 Nói chung lại, những phát hiện của anh ở tập thơ, tôi đều tâm đắc. Chỉ còn một số chi tiết, tiếp tục đọc thêm sẽ bàn sau. Về khía cạnh ứng dụng thật có thừa sự hàm súc, nhưng văn ngôn, có cũ đi chăng?

À, kịch thơ “Gái Trữ La” tôi viết năm 1943 (sau “Bóng Giai Nhân” (quãng giữa 1941 – 1942) – Gái Trữ La diễn ở Thanh Hóa lần đầu – Và “Bóng Giai Nhân” ở Huế.

 Nhân nhắc đến “Bóng Giai Nhân” tự nhiên đối với anh, tôi không thể không nói. Hôm qua tôi đã viết cho Chế Lan Viên cả một bức thư dài về câu chuyện có liên quan. Nó là như thế này:

   Tình cờ tôi đọc trên số báo Nhân Dân ra ngày Chủ nhật 28/2/1988 – ở hàng cột cuối trang 4 có ghi một tin ngắn dưới cái titre: xuất bản tác phẩm của Nguyễn Bính, có ghi , đại khái như sau : Để kỷ niệm 70 năm ngày sinh của Nguyễn Bính, Sở Văn hóa và Hội Văn nghệ Hà Nam Ninh đã xuất bản… sẽ tiếp tục in những vở kịch thơ của Nguyễn Bính

  Điều này làm tôi tự nhiên bỗng nghĩ đến những cái không may thường xảy đến trong đời làm thơ của bản thân, khi nhớ đến đoạn tiểu sử về Nguyễn Bính và chỗ giới thiệu tác giả chính in lên trên lời tựa của Tô Hoài mở đầu “Tuyển tập thơ Nguyễn Bính” (do Nhà xuất bản Văn hóa và Nhà Xuất bản Long An tái bản năm 1986).

– Ở đoạn tiểu sử ghi: Vở kịch “Bóng Giai Nhân” Nguyễn Bính soạn theo phác thảo ban đầu của Yến Lan (1942)… Ở phần tác phẩm chính ghi chỉ một tên Nguyễn Bính.

  Trong việc sáng tác một tác phẩm, cái phác thảo ban đầu quyết định được gì trong việc hoàn thành tác phẩm ấy? Mà sao lại dám khẳng định ở ngay “tuyển tập”–một công trình dù thế nào đi nữa–vẫn cứ được mặc nhiên dành được ưu thế thuyết phục, thiếu gì kẻ lười nhác trong việc sưu tầm và giới thiệu tiếp sau, sẽ vin vào đó làm căn cứ tối hậu tổng kết. Tôi chưa rõ ngoài “Bóng Giai Nhân”, Nguyễn Bính có viết “được” và “nêu” một vở kịch thơ nào khác nữa không ? Vậy thì nay mai các nhà xuất bản trên kia in nó ra–tôi nghĩ còn có mục đích khác quan trọng nữa là lợi nhuận – vì sách sẽ chạy – thì các quyền lợi của tôi bị tước bỏ. Ngay cả quyền lợi thiêng liêng là cái danh nghĩa chính đáng làm tác giả. Từ trước đến nay “Bóng Giai Nhân” đã phải mang tên hai tác giả (là do lúc viết – ra ở Huế, tôi và Nguyễn Bính ở chung một nhà, cả Vũ Trọng Can) – để cho đủ tên 2 nhà thơ để cho hấp dẫn – Giá lúc ấy Vũ Trọng Can lại là nhà thơ nữa thì có khi có cả tên vào đó. Nhiều tài liệu đã nêu, như Từ điển Văn học  tập II của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội – Lịch sử kịch nói Việt Nam (trước cách mạng) Nhà xuất bản Văn học do Phan Kế Hoành và Huỳnh Lý (1978) – và nhiều tác phẩm, tiểu luận khác. Ngay hiện nay ở nhà, tôi vẫn còn giữ một tập đánh máy từ ngày viết xong để trình kiểm duyệt và rã cả vai–có đề tên cả 2 ngườ  tập ấy tôi gửi một bạn gái rất thân ở Hà Tiên nhân khi sắp diễn, và nhắn chị ấy chuyển cho anh Đông Hồ và chị Mộng Tuyết đọc. Sau này định diễn ở Thanh Hóa, tôi gửi thư vào mượn lại. Về Bình Định mang theo rồi gửi anh Quách Tấn giữ cho đến khi giải phóng trở về.

 Tôi đang có một dự định nhằm làm cho sáng tỏ – Báo cho các nhà xuất bản trên cần lưu ý vấn đề này.

 -Viết nhờ Báo Văn nghệ đăng mấy dòng cải chính, và báo cho Hội Nhà văn–Nhưng chỉ sợ họ cho là “đã có lửa đâu mà lo cháy” –Yến Lan chỉ xông khói lên thôi. Có thể lắm chứ.

 

-Viết một hồi ký về Huế (trong ấy xoay quanh những sự việc và xúc cảm về “Bóng Giai Nhân”,nhân đó mà nói rõ sự thật. Năm ngoái, Biên tập Sông Hương có mời tôi tham gia, giờ mà có bài thì họ đăng thôi. Và tôi đã viết một hồi ký gần 6.000 chữ. Mấy hôm nay đánh vật với nó và đọc lại thì cần điều chỉnh lại cho tế nhị, dịu dàng hơn. Thế là hiện giờ thì đang treo mà tôi đã mệt.

 

Tôi nghĩ, ngoài cái hồi ký ấy, giá có một nhà nghiên cứu nào viết theo chủ đề: đại khái như: Nhân cái tiểu sử ở đầu một tuyển tập, nghĩ đến trách nhiệm và tính chính xác, chính chân thật của việc nghiên cứu và giới thiệu.

Anh nghĩ “Bóng Giai Nhân” có thể là một vụ án Văn học không? Theo tôi thì có, nhưng già rồi, lực tận thế cô cũng đến bỏ cuộc thôi.

Thư viết lung tung, bút xấu mực nhạt, xin anh thông cảm. Chúc gia quyến anh vạn sự tốt lành.

Nay, ký tên

Đấy, đâu phải ba tôi không muốn mọi người hiểu được sự thật. Nhưng vấn đề này sao có vẻ khó khăn quá. Nghe đâu, Lâm Huy Nhuận, em trai tôi cũng đã có đặt vấn đề này với Hội Nhà Văn thì được trả lời “Thôi lịch sử văn học thế nào cứ để như thế”

Là con của tác giả, con có quyền tự hào những gì ông cha để lại. Có điều phải biết tôn trọng sự thật;  Má tôi cũng bực mình về chuyện này và bà mong ai đó nên hiểu vấn đề hơn.

Phải chăng, do bức xúc vấn đề này, bà Mộng Tuyết, khi gặp lại ba tôi, nghe dư luận tranh cải tác giả kịch thơ “Bóng Giai Nhân”. Bất luận là cả Nguyễn Bính và Yến Lan đều là chỗ thân tình, bà vẫn chân thành khuyên “Anh nên viết, nếu không nhiều thì cũng vài dòng cho mọi người biết rõ sự thật. Sự thật sẽ làm mất lòng người, nhưng mất lòng trước sẽ được lòng sau ”.

Ba tôi đã viết khoảng 6.000 từ với  tên “Chiều chiều mây kéo về kinh” kể tỉ mỉ quá trình sáng tác “Bóng giai nhân” của ông…

 

  Chiều chiều mây kéo về kinh

 

  Sau một chuyến đi dài vào mảnh đất tận miền Tây Tổ quốc, tôi trở về quê, lòng chưa ráo nỗi nhớ đường, nhớ sá, thì trời đã chớm sang thu. Khắp khu đất nội thành Bình Định mênh mông, mùa gòn đang tách vỏ. Những tiếng ve sầu còn sót lại, vẳng lên khí đìu hiu. Lòng tôi cũng lơ lửng như những múi bông gòn trên chớp nóc nhà dân xiu vẹo, trên những mái cong dinh thự rêu phong. Thư viết cho bè bạn, lúc nào cũng nói đến nỗi ray rứt muốn được tiếp tục đi xa.

Một buổi sáng tôi nhận được bức thư của người bạn gái, quen nhau hôm ở Hà Tiên, do chị Mộng Tuyết giới thiệu. Vì là bạn thân, chị biết tôi đang sống khó khăn, hàng ngày đối phó với một bà dì ghẻ khó tính, những sự vụn vặt ngày thường choán hết hứng khởi sáng tạo. Chị tán thành và khuyên tôi nên thay đổi không khí. Bức thư kèm theo giấy chuyển tiền đủ chi dùng cho một cuộc đi dài và nếu lâm vào cảnh lữ thứ, có thể sống trong vài tháng. Thế là tôi chuẩn bị một cuộc ra đi, cũng chưa rõ là đi đâu. Tiếp đến hôm sau thì tôi nhận được một bức của Vũ Trọng Can.

Lâu nay Can vẫn thường viết cho tôi, nhất là những ngày Can ở trong tòa soạn “Tiểu thuyết thứ năm”, từ Hà Nội. Bức thư này lại từ Huế, đại khái như sau: Báo chết rồi, bọn Can đang chuyển sang hoạt động sân khấu. Đang thành lập một Ban kịch với chương trình sẽ đi biểu diễn từ Bắc vào Nam. Hiện “Cập bến Bông Hương”. Nếu Yến Lan thích cuộc sống lưu động để tiêu sầu này, thì ra gia nhập với bọn mình…”

Đọc thư, tôi ngồi tưởng tượng… tưởng tượng… bao nhiêu kỳ thú, sôi động, hào nhoáng và mê ly… Cả một cuộc sống lan tỏa hoa đăng… cả một kho dự trữ và luyến ái và thi tứ. Và tôi quyết định nhập cuộc. Nhưng cũng phải đề phòng, nếu đó chỉ là câu chuyện bốc đồng? Nhưng lòng muốn ra đi luôn luôn thôi thúc, tự nhiên tôi nghĩ đến cái phương châm “đến đâu hay đó” khi nhỡ ra là những chuyến tàu suốt vào Nam ra Bắc hàng ngày đều tránh nhau ở ga Bình Định. Và tôi nghĩ: hãy lên ga cái đã – hễ tàu ra bán vé trước thì ta ra, và ngược lại…

Hôm ấy tàu ra đi trước, vừa khi lên tàu, tôi nhờ một người bạn đưa chân, đánh điện cho Can.

Tôi đến Huế vào khoảng hơn 8 giờ đêm. Cả “Ban kịch” đều ra đón tôi, gồm có Vũ Trọng Can, Nguyễn Bính và một chàng thanh niên. Sáng hôm sau tôi mới biết chàng trai này thuộc về loại đi theo điểu đóm. Ngoài ra, không còn gì nữa.

Lần đầu tiên mới gặp Nguyễn Bính – trước thì cũng chưa có thư từ, quan hệ gì. Chúng tôi nắm tay, bá cổ nhau, chào mừng rối rít. Và Huế… Huế, vừa mới chạm lên vài sải bước chân, sao đã nghe thấy dậy trong lòng nỗi êm dịu, ngọt ngào khó tả.

Bốn chiếc xe tay do Nguyễn Bính chỉ dẫn, đưa bốn người chúng tôi từ cửa ga đến tận Gia Hội, đỗ ở trước một hiệu ăn khá lớn. Cơm, rượu no nê, bốn chiếc xe lại đưa chúng tôi về nhà trọ ở bên kia cầu Tràng Tiền, cách Đập đá chẳng bao xa.

Ông chủ nhà trọ ra mở cửa, dáng điệu bực bội và khi nhìn thấy tôi, thốt những câu gì làu bàu, không rõ. Tôi tinh ý, biết ngay là có sự phiền hà.

Nhà trọ đây không phải là lữ quán chứa tạm khách lai vãng một vài hôm. Nó là một căn nhà thờ họ, người kế thừa nhận cho trọ lâu dài và nấu cơm tháng.

Phòng trọ chứa nửa của “Ban kịch”, nhưng khi có tôi thêm càng chật ních. Đêm ấy tôi nằm bên Vũ Trọng Can, thao thức mãi vì cứ nghĩ lan man.

Tôi đâm ra trách người rồi trách cảnh. Huế ơi, sao trước đây vài giờ, qua những bước đầu tiên tôi đặt xuống sân ga, Huế hồn nhiên, kiều lệ, dồn lên tâm hồn tôi bao nhiêu êm dịu, ngọt ngào, thế mà giờ đây, một không khí phiền hà, lãnh đạm đang chập chờn phủ tới.

Tôi đem nỗi dằn vặt ấy hỏi, Vũ Trọng Can thì thầm:

– Cũng là điều đáng quan tâm, nhưng không can gì cái việc thường tình ấy. Ngày mai chúng ta sẽ tìm cách giải quyết, chúng mình đang thiếu ông chủ nhà một tháng tiền cơm, giờ thấy có thêm cậu nữa. Ờ mà thôi, rồi sẽ có cách… khẩn trương đấy, chiều nay ông chủ trọ đã báo là ngày mai sẽ cắt và đề nghị bọn mình dọn đi.

Nhân đó, tôi hỏi: Thế thì Ban kịch của cậu đâu? Hoạt động ra sao rồi? Can cố dấu cái thở dài, nuốt nghẹn ở cổ:

– Ban bệ, kịch cợm gì đâu. Bọn mình chán Hà Nội, nên rủ nhau đi du ngoạn một chuyến với ý định sẽ thành lập một ban kịch để làm cứu cánh về mặt tài chánh. Nghĩ đến cậu đang nằm khoèo ở tỉnh lẻ, mình viết thư gọi cậu ra chơi cho đỡ buồn.

Nghe xong tôi cũng nghẹn ngào ở cổ. Biết tôi không thích liều lĩnh – Can trấn an bằng cả một thôi dài tâm sự: Can đã nghĩ ra nhiều biện pháp xoay sở cho ra tiền. Can đã có ý định diễn kịch đảm nhiệm phần dàn dựng, quảng cáo, bán vé và thu tiền rồi chi cho nhau chỉ tiêu phần trăm quy định. Can cho biết cụ thể, việc Can đã tìm gặp và trao đổi với Hà Xuân Tế thư ký riêng của Nam Phương Hoàng hậu (thay chân cho Nguyễn Tiến Lãng đã đi nhận chức phủ thừa). Hà Xuân Tế lại là chủ tịch của Hội A.A.A (gọi là hội 3 chữ A) tên gọi tắt của một hội hoạt động thể thao thể dục. Thực ra nó là của ông Hoàng bà Chúa chọn riêng một môn quần vợt, cùng giao hữu với hạng công chức cao cấp. Can còn phải làm sao cho ra kịch bản và diễn viên là phần được phân nhiệm. Cuối cùng Can hỏi:

– Cậu còn bao nhiêu?

– Vừa tiêu phí nội ngày hôm nay, chỉ còn đủ trả một tháng cơm bình dân.

– Thế thì tốt. Ngày mai ta sẽ lấy tiền ấy tạm ứng cho ông chủ. Rồi sẽ vui vẻ cả thôi.

Sáng hôm sau, với tâm trạng một người “lỡ bước” tôi bỏ cuộc đi chơi núi Ngự, đã hẹn với Nguyễn Bính lúc ở tiệm ăn Gia Hội đề nghị khẩn trương họp nhau lại bàn qua chuyện diễn kịch. Chúng tôi ngồi lại trên mấy cố vấn trần, nghiêm chỉnh thảo luận. Qua sự trình bày của Vũ Trọng Can về mấy phác thảo các vở kịch nói Can định viết từ hôm rời Hà Nội đi vào, thì còn xa với yêu cầu đang đặt ra. Bàn sâu, tính rộng mãi, chúng tôi đi đến nhất trí: diễn thuật mới mà Huế là nôi thể nghiệm đầu tiên. Thực ra đó chỉ là những lời khoác lác để cười với nhau, chứ mục tiêu chính là ở chỗ cố làm sao cho hấp dẫn để có được khoảng thu kha khá, trang trải nợ nần và còn ung dung thưởng ngoạn. Để cho thật hấp dẫn, chúng tôi nghĩ đến những câu chuyện ly kỳ ở các huyền thoại, nhất là ở “Đông chu liệt quốc”, dựa vào dã sử hoặc hư cấu ra cốt truyện theo không khí dã sử. Nhân vật sẽ là những con người cá biệt cực đoan, tình huống phải thật éo le, tâm tư luôn dằn vặt. Và cũng để cho vở kịch đưa ra một giải đề gì về mặt nội dung, chúng tôi nghĩ ngay đến cái tư tưởng hủ bại đang còn ngự trị trong tầng lớp thượng lưu, luôn luôn tôn sùng quyền thế, chạy theo danh vọng mưu cầu một cuộc sống “Võng long xênh xang” đang còn nhan nhản ở Huế. Một điển hình người sẽ hiện lên sân khấu, xách gươm báu đi săn đuổi giật lấy vinh quang, đã thủ tiêu ân tình, phản bác đạo lý và tiêu ma cái đẹp. Đó là phác thảo đầu tiên do tập thể ba người góp nhau trong một buổi sớm. Cơm xong, tranh thủ bỏ giấc trưa, bàn tiếp luôn các chi tiết: Bí quyết làm cho gươm thêm thiêng (cái điều kiện duy nhất đưa đến vinh quang của một tráng sĩ cuồng ngông) là phải tôi gươm lần nữa vào máu ba người tình cờ gặp trên đường đi–theo lời thần mộng. Việc phác thảo này như một cuộc múa gậy trong phòng–Nhân vật nhất thiết phải lệ thuộc số người có sẵn, mà ngoài chúng tôi thì chắc gì có thể nhờ vào được ai? Loại trừ em thanh niên sẽ chạy vòng ngoài, cả ba thằng nhà văn, nhà thơ chúng tôi phải lãnh vai mà đóng. Thế thì vở kịch chỉ có ba nhân vật sao? Và toàn là nam giới cả thì còn đâu cái nhưng cái nhị của sự hấp dẫn? Biểu tượng của cái đẹp bị tiêu ma trong kịch sẽ là nhan sắc của một người con gái thùy mị, đoan trang.

Nguyễn Bính tả và kể ra những em Đào, em Lý, cô Mừng, cô Thương với khá nhiều thiếu nữ, thiếu phụ mà anh từng gặp trên các nẽo đường phố của Huế…

Vũ Trọng Can cũng tả và kể ra những em Đào, em Lý, cô Mừng, cô Thương của mình, nhưng phải kết luận: có trời mà vận động cho các gia đình ở đây người ta đồng ý cho con, em mình tham gia lên sân khấu. Nhất là con gái. Thế là lâm vào thế kẹt.

Trước đó không lâu, Nguyễn Bính có sáng tác một bài thơ, nhan đề “Xóm Ngự viên”. Đó là bài thơ hay, được tán thưởng. Bính đã chép lại trên một tờ giấy nguyên khổ, giấy in báo, nét chữ to, bay bướm, treo trên tường trước mặt. Tình cờ tôi ngước lên, liền hỏi với một ý nghĩ bâng quơ:

– Xóm Ngự viên ở phía nào nhỉ. Hôm nào vào đấy xem cho biết.

Vũ Trọng Can bổng nhảy người lên

-Ngự viên, Ngự viên–đúng rồi. Ừ nhỉ, sao mình quên bẵng đi.

Rồi đột ngột Can đứng lên:

– Mình với Nguyễn Bính sẽ vào đó, có một cô gái lai Pháp, mồ côi từ nhỏ. Hiện bán chè rao nuôi mẹ. Nhất định sẽ thuyết phục được. Cô ta sẽ là nhân vật biểu tượng xứng đáng cho cái đẹp trong vở kịch.

Rồi hai người lội bộ ra đi. Mấy giờ sau tin về, phấn khổi, cô gái rất đẹp, không đề ra điều kiện khó khăn nào, duy có một điểm làm cho tôi ngẩn ngơ giây lát, là cô ta mù chữ. Sau việc báo tin đến việc bàn biện pháp khắc phục. Đành sử dụng sắc đẹp của cô gái thôi, và sắc đẹp cần gì phải thốt lên lời mới gây được đắm say, mới quyến rũ. Một vẻ buồn của Tây Thi xưa cũng đủ khiến nghiêng thành, nghiêng nước. Chính vì vậy mà vai người đẹp trong vở kịch không thốt một lời nào. Trong các luận bàn, tội là người hăng say nhất, vì mình thế thôi thúc: đã đến Huế rồi, phải tạo điều kiện để ở cùng Huế cho đã cơn khát Huế, dù chỉ là bằng những ngụm nước vốc lên từ mặt sông Hương. Không có sự phân công, không có cuộc tranh phần, mặc nhiên tôi thành người chấp bút.

Chẳng cần phải tra cứu, đối chiếu gì. Nó như được sắp xếp lớp lang sẵn ở một bản nháp, giờ chỉ có việc chép lại, nên vở kịch hoàn thành vào cuối buổi sáng hôm sau. Buổi chiều đưa bản thảo ra duyệt, bổ sung và có gì cần thì tập thể chỉnh lý. Vừa mới bắt đầu đã thấy Chu Ngọc bước vào. Ngọc là người am hiểu nhiều về sân khấu. Anh vốn là đạo diễn và từng làm trưởng Ban những ban kịch nói thỉnh thoảng xuất hiện vào mùa kịch ở Hà Nội, vở kịch được thông qua nhanh. Chỉ có đôi lúc nảy ra vài cuộc cãi cọ giữa tôi và Nguyễn Bính về phong cách và ngôn ngữ. Bính chê văn ngôn quá Tây bắt chữa lại mấy chỗ. Tôi tự ái, bỏ đi cùng Chu Ngọc ra hóng mát cầu Tràng Tiền. Chiều về, không có bàn cãi gì về vở kịch nữa. Vũ Trọng Can bàn với tôi là rủ đi ngay đến Hà Xuân Tế và được hẹn sáng mai sẽ trả lời, vì còn cần đọc.

– Vì có Hoàng Đế dự xem. Nếu vở kịch thêm một vài đoạn có tính cách tôn vinh thì nhất định sẽ nhiều đặc ân cho các hoạt động sau này. Các anh mang và bổ sung cho khéo léo một chút. Tôi biết đây là một xảo thuật trong nghề làm quan, vị thư ký riêng của Hoàng hậu này ứng dụng nhạy bén cho tiền đồ. Thì cứ để anh ta như nguyện, có gì xúc phạm đến nghệ thuật, đến mình đâu mà chối từ. Tôi liền vui vẻ nhận lời, nhưng không đợi đến lúc về nhà, tới ngay bàn làm việc, loáy hoáy một thôi, thêm được chục câu thơ mang tính cách tôn xưng chung chung, hướng về một ông minh quân đó.

Hai hôm sau thì giữa lòng Huế xôn xao lên vì những áp phích, những tờ quảng cáo cho vở kịch, dán ở các công trình công cộng và các mặt tường nhà thoáng rộng. Nhất là ở các ngã tư đại lộ, những biểu ngữ bằng nguyên súc vải trắng, được dán lên những hàng chữ đỏ viết bằng tiếng Pháp:

                Bóng giai nhân

Bi tráng kịch bằng thơ của Yến Lan và Nguyễn Bính

Sẽ trình diễn ở Accueil vào các đêm…

Dưới quyền chủ tọa của Hoàng đế Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu.

Mặc dù đã trải qua những cơn hồi hộp vì hạnh ngộ ban đầu khi được nêu dưới những bài thơ đăng trên báo chí, tôi vẫn cảm thấy phấn khổi đến dạt dào. Riêng Nguyễn Bính thì anh lại hồ hởi với những ý nghĩ cuồng nhiệt trong vẻ cợt đùa nói tếu:

– Vua ông đi xem, vua bà đi xem, thế thì tam cung lục viện cũng đi xem. Rồi sáu bộ cũng tháp tùng. Chà, chà, cả Huế đều đi xem tất. Thế thì tiền vé để đâu cho hết. Chuyến này phải thả lên sông Hương sáu con đò két lại làm một khách sạn nổi… Ba con làm phòng ngủ, ba con chở theo bàn đèn, bia, rượu, nem, chả, chè, cháo… tha hồ mà lạc hưởng

Đấy là chuyện đùa vui, không có sự bàn cãi.

Trong mấy ngày tập luyện, tôi vẫn đến nhà Lành đạo diễn cho đến thuần thục, dù sao tôi vẫn tiếc, giá như Lành biết chữ, thì nhất định tôi sẽ cố gắng viết lại màn kịch thành chương tuyệt tác, điều ấy đòi hỏi ở tôi một cố gắng vượt bậc, nhưng xứng đáng với Huế, với một nhan sắc yêu kiều.

Cuộc biểu diễn đêm đầu–và cũng là đêm kết thúc không thu được kết quả như lòng tôi mong muốn. Diễn xuất có vẻ vội, không đạt tới mức chứa và tầm nâng của lời thơ. Về mặt tổ chức, Hội A.A.A bỏ rơi diễn viên trong cái thế chơi vơi của một khoang đồ thủng đáy. Không có một bàn tay tháo vát xếp đặt, bỏ sân khấu trống trơ giữa bốn cánh gà và lá màn hậu, mặc dù chúng tôi yêu cầu trang trí hết sức giản đơn theo lối tượng trưng. Cả một chiếc hòm to đựng các đồ lễ, vũ khí, mũ giày mượn từ trong nội cung ra, cũng không đáp ứng được yêu cầu. May mà bọn diễn viên chúng tôi không hiện ra sân khấu với những trang phục quá cỡ, tả tơi, meo mốc, nhờ biết đề phòng đã chạy trước từ sáng hôm ấy, đến nhà Nguyễn Tiến Lãng, mượn các Kimônô anh mang từ Nhật Bản về, nhân lúc tháp tùng theo phái đoàn ngoại giao của tên toàn quyền khâm sai Yue Chatel. Nhất là khoảng tiền thu: một hội trường có sức chứa gần ba nghìn người đã chật ních – Giá vé thấp nhất, năm hào, mặc dù đêm ấy Bảo Đại không đến xem vì có sự kiện đột xuất, chuẩn bị Bắc tuần, cả Nam Phương, cả viên Khâm sứ Pháp đều theo, nhưng cũng gởi đến gọi là “Ban tứ” cho đêm diễn, mỗi vị 15 đồng, cộng với số tiền quảng cáo cho cuộc xổ số Đông pháp cũng chừng 15 đồng, tiền vé 20 đồng.

Sau này người ta đổ cho việc lạm phát giấy mời. Chúng tôi vở mộng–nhất là Nguyễn Bính với viễn cảnh sáu con đò… Nhưng có một điều an ủi mà cho đến bây giờ, mỗi lần nhắc đế, tôi vẫn không quên được từng chi tiết, dù là thoáng qua: Giữa lúc màn kịch cuối cùng hạ nhanh, khán giả sắp lưng vào phía sân khấu chen nhau cuồn cuộn như một dòng nước thoát ra phía cửa, thì các anh Lưu Trọng Lư, Đào Duy Anh và vài bạn nữa vượt lên sân khấu, đến cầm tay siết chặt từng người. Anh Lư nói bằng tiến Pháp “Tuyệt, tuyệt, tuyệt vời” không biết anh khen ngợi một pha nào trong lúc diễn xuất, hay khen vở kịch, về tình huống đầy kich tính, về bút pháp bay bướm văn chương, mà lúc ấy đang là những năm vừa mới thoát ra sự phôi thai của nền thơ mới Việt Nam.

Khi rạp đã trở lại vắng vẻ “Bóng giai nhân” đã biến đi lúc nào không hay, Nguyễn Bính cũng đi rồi. Tôi và Vũ Trọng Can thu nhặt hết các dụng cụ, đồ trang phục cho vào chiếc hòm gỗ to, và..

Mỗi người nâng lên một quai hòm, hai chúng tôi ì ạch kéo lê bốn cẳng chân rời rã, mỏi mệt, dầm dưới cơn mưa đêm cuối hạ của Huế, lần bước cho đến khuya mới đến cửa nhà trọ. Ông chủ ra mở cửa, thò tay nâng cho chiếc quan tôi đang xách, như đã cảm thông tất cả nỗi niềm đang đè nặng lòng tôi.

Sáng hôm sau, tôi ra An Cựu tìm gặp lại người bạn học cũ ở Bình Định, tình cờ gặp nhau giữa đường hôm nọ, tôi hỏi vay hai đồng bạc – số tiền vừa đủ cho xuất vé và đĩa cơm trong chuyến tàu suốt vào Nam, sẽ trả tôi về với cái không khí cô liêu cố hữu từ xưa, ngày ngày nghe vẳng lên một câu hát ru con, không biết do tình huống nào mà có, giờ lại nhằm đúng vào tâm trạng của tôi:

Chiều chiều mây kéo về kinh

Ếch kêu giếng loạn thảm tình đôi ta.


Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »